Việc xây dựng sinh kế mới và đảm bảo sinh kế cho người dân là rất cấp thiết tại Hà Nội nói chung và các huyện ngoại thành nói riêng, chuyển đổi sinh kế và giảm nghèo cho cư dân ngoại thà
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THỊ HẢI VÂN
SINH KẾ BỀN VỮNG CỦA NGƯỜI NGHÈO
Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Hà Nội - 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THỊ HẢI VÂN
SINH KẾ BỀN VỮNG CỦA NGƯỜI NGHÈO
Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành:
Mã số:
Phát triển bền vững 8.31.03.13
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LƯƠNG THỊ THU HẰNG
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Hải Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các cán bộ, giảng viên tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn Lâm khoa học Xã hội Việt Nam, đặc biệt là Khoa Phát triển bền vững đã tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu, học tập trong suốt thời gian vừa qua
Tôi xin trân trọng cảm ơn các chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của TS Lương Thị Thu Hằng, người hướng dẫn khoa học cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Lãnh đạo, các đồng nghiệp tại cơ quan tôi đang công tác đã thông cảm, tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ thời gian, công việc và tài liệu tham khảo; tới gia đình và các bạn bè đã động viên, chia sẻ giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng, song hiểu biết và năng lực bản thân còn hạn chế nên chắc chắn luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự quan tâm và đóng góp ý kiến của các cá nhân, bạn bè quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Học viên
Đỗ Thị Hải Vân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHÈO VÀ SINH KẾ BỀN VỮNG 20
1.1 Các khái niệm cơ bản 20
1.2 Đo lường nghèo 24
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế bền vững của người nghèo 29
Chương 2: THỰC TRẠNG SINH KẾ BỀN VỮNG CỦA NGƯỜI NGHÈO Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC 34
2.1 Khái quát địa bàn tình hình phát triển kinh tế của huyện Hoài Đức 34
2.2 Thực trạng nghèo của huyện Hoài Đức 37
2.3 Thực trạng sinh kế bền vững của người nghèo huyện Hoài Đức 46
2.4 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế 48
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO SINH KẾ NGƯỜI NGHÈO HUYỆN HOÀI ĐỨC 58
3.1 Bối cảnh mới 58
3.2 Định hướng chung 62
3.3 Đề xuất giải pháp 64
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DFID: Department for International
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 1: Chuẩn nghèo theo quy định của UBND thành phố Hà Nội 29Bảng 2 1 Một vài nét về tình hình kinh tế - xã hội 36Bảng 2 2 Kế hoạch giảm nghèo giai đoạn 2016 – 2020 37Bảng 2 3 Thống kê số lượng hộ nghèo đầu năm của các xã thuộc huyện Hoài Đức trong 3 năm 40Bảng 2 4 Số lượng hộ nghèo giảm theo từng năm 41Bảng 2 5 Tổng hợp tỉ lệ hộ cận nghèo của các xã thuộc huyện Hoài Đức giai đoạn 2016 - 2020 44Bảng 2 6 Thống kê năm 2018 về nguyên nhân nghèo của các hộ dân 51Bảng 2 7 Nguyện vọng của các hộ nghèo 55
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Luận văn
Giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam Sau 3 thập kỷ nỗ lực giảm nghèo, Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể với tỷ lệ hộ nghèo
từ 58,2% vào năm 1992, xuống 37,4% vào năm 1998 [9, tr.289], 20,8% vào năm 2010 và tiếp tục giảm xuống còn 9,8% vào năm 2016 [42, tr.7]
Việt Nam có tỷ lệ khoảng 66,4% dân số sinh sống ở vùng nông thôn (UN, 2010) và nguồn sinh kế của họ, đặc biệt là hộ nghèo chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản nên cuộc sống của những người dân ở những khu vực này phụ thuộc nhiều vào khí hậu và điều kiện tự nhiên Điều này đặt ra thách thức trong việc xóa đói giảm nghèo và duy trì sinh kế bền vững
Sau nhiều lần tách nhập địa giới hành chính, từ ngày 1 tháng 8 năm 2008 huyện Hoài Đức được sát nhập và trở thành huyện ngoại thành của thành phố
Hà Nội Việc thay đổi về địa giới hành chính ít nhiều làm thay đổi cuộc sống của người dân nơi đây Nông thôn với các cơ chế quản lý mang tính làng xã sang thành phố với cơ chế quản lý mang dáng dấp đô thị Đô thị hóa tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân huyện Hoài Đức Mặc dù mang lại nhiều
cơ hội cho người dân nhưng không phải ai cũng nắm bắt được cơ hội này Với người nghèo ở huyện Hoài Đức trong quá trình đô thị hóa cũng không tránh khỏi những khó khăn trong việc chuyển đổi công việc
Giảm nghèo là mục tiêu quan trọng của địa phương, tuy nhiên vẫn còn tình trạng tái nghèo, giảm nghèo không bền vững do không đảm bảo được sinh kế cho người dân Việc xây dựng sinh kế mới và đảm bảo sinh kế cho người dân là rất cấp thiết tại Hà Nội nói chung và các huyện ngoại thành nói riêng, chuyển đổi sinh kế
và giảm nghèo cho cư dân ngoại thành nhằm chấm dứt tình trạng tái nghèo và đảm bảo sinh kế bền vững là vấn đề cần thiết được nghiên cứu góp phần đề xuất các giải pháp phát triển bền vững của thành phố Hà Nội
Trang 102
Luận văn này được thực hiện nhằm tìm hiểu, phân tích vấn đề Sinh kế bền vững của người nghèo ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra một số
gợi ý chính sách hạn chế tái nghèo và giảm nghèo bền vững tại địa phương
2 Tình hình nghiên cứu liên quan Luận văn
2.1 Nghiên cứu về nghèo
Tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới năm 1995 về phát triển xã hội tổ
chức tại Copenhagen (Đan Mạch) nghèo đói được hiểu là “tất cả những ai có thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la mỗi ngày, cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” Chương trình Phát triển Liên hợp quốc [52] cũng cho rằng: Nghèo là việc thiếu thốn thường xuyên các điều kiện vật chất để thỏa mãn tối thiểu có thể các nhu cầu thiết yếu, nhất là nhu cầu về lương thực, thực phẩm và tình trạng thiếu thốn là tình trạng không đạt được so với một mức chuẩn
Blanco, R.O (2002), đã tiếp tục mở rộng và cụ thể hơn trong định nghĩa
về nghèo đói đó là “sự thiếu hoàn toàn cơ hội, đi kèm với mức độ cao của nghèo đói là suy dinh dưỡng, mù chữ, thiếu giáo dục, các bệnh về thể chất và tinh thần, bất ổn về tình cảm và xã hội, bất hạnh, đau khổ và tuyệt vọng cho tương lai” Tác giả Blanco còn cho thấy, một trong những đặc trưng của
nghèo đói là thiếu hụt lâu dài sự tham gia kinh tế, xã hội và chính trị, đẩy các
cá nhân đến chỗ bị loại ra khỏi xã hội, cản trở đến sự tiếp cận với những lợi ích của phát triển kinh tế và xã hội và do đó hạn chế sự phát triển văn hóa của
họ [1]
Quan điểm khái quát hơn của Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, nghèo là sự thiếu hụt hạnh phúc (2005) “Hạnh phúc” có thể được xem xét
dưới nhiều góc độ Thứ nhất, nghèo được đo lường bằng cách so sánh thu
nhập hay tiêu dùng của cá nhân, hay hộ gia đình với một ngưỡng mà xã hội coi như là một mức chuẩn về mức sống Quan điểm này coi một cá nhân hay
Trang 113
hộ gia đình là nghèo nếu mức sống của họ thấp hơn ngưỡng mức sống mà xã hội đặt ra ở một thời điểm
Cách tiếp cận này dẫn đến hai phương thức phân loại nghèo điển hình
là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối Nghèo tuyệt đối, là tình trạng mà một
cá nhân hay hộ gia đình có thu nhập hay chi tiêu thấp hơn một ngưỡng nghèo được xác định đối với một xã hội tại một thời điểm Ngưỡng nghèo, là tổng
hợp giá trị các hàng hóa tiêu dùng bảo đảm một mức sống tối thiểu Trong khi
đó, cách tiếp cận nghèo tương đối xác định một mức sống so sánh với vị trí của các cá nhân hay hộ gia đình khác trong xã hội dựa trên phân phối thu nhập hay chi tiêu Cách tiếp cận này thường dẫn đến việc phân nhóm cá nhân
hay hộ gia đình theo ngũ phân vị dựa trên thu nhập hay chi tiêu
Thứ hai, “hạnh phúc” có thể được hiểu bằng cách mở rộng ý nghĩa của
thuật ngữ “nghèo về tiền bạc” thành những loại hình hàng hóa tiêu dùng hoặc dịch vụ khác như: lương thực, nhà ở, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và các thứ khác mà mỗi cá nhân hay hộ gia đình cần phải có Theo cách này, có thể có nhiều quan niệm khác nhau về nghèo, ví dụ, nghèo về dinh dưỡng, nghèo về giáo dục, Mặc dù có những khác biệt nhất định về khái niệm và đo lường, nhưng cả hai cách phân loại nghèo này đều dựa trên một chỉ báo duy nhất, do
đó được gọi là cách đo lường đơn chiều [47]
Cùng quan điểm này, song nhấn mạnh vào việc xem xét nhiều chiều cạnh trong đánh giá nghèo Martin Ravallion (2016) cho rằng rất cần phải lưu
ý đến các chỉ số đa chiều của nghèo đói, nhưng có thể sẽ không được rõ ràng nếu vẫn chỉ nghĩ tới một chiều Hai vấn đề rất đáng lưu ý cũng được Martin
đặt ra trong việc đánh giá đóng góp của các chỉ báo: Thứ nhất, một chỉ số tổng hợp liệu có thể đủ để phân tích về nghèo; Thứ hai, tập hợp một nhóm các
mục tiêu hướng tới việc sử dụng giá cả liệu có thể phù hợp hoặc xem xét
“những tước đoạt”, rồi sau đó sử dụng công cụ gia trọng để phân tích thì mới gọi là đủ Đây là sự tranh luận giữa việc nên hướng đến một bộ chỉ số đa dạng
Trang 124
có tính tin cậy, hay là chỉ một chỉ số đa chiều Tuy nhiên, đối với một tập hợp một nhóm các mục tiêu sẽ vẫn là một sự cần thiết, nhưng để lý tưởng nó thì nên cần có sự gia trọng số và cần phải được lựa chọn bởi những người nghèo mới có thể đảm bảo sự hoàn chỉnh đối với tập hợp đó [41]
Trong nhiều năm trở lại đây nghiên cứu về nghèo tại Việt Nam được gắn với những vấn đề liên quan đến việc xây dựng các chỉ báo nhằm đánh giá nghèo đa chiều của Việt Nam, biến đổi khí hậu với nghèo đói, sinh kế bền vững cho người nghèo
Về xây dựng chỉ báo đánh giá nghèo đa chiều
Ở Việt Nam, Chính phủ ban hành các chương trình giảm nghèo quốc gia cho mỗi giai đoạn 5 năm và ban hành các chuẩn nghèo đi kèm để đo lường sự thay đổi của tình trạng nghèo trong giai đoạn tương ứng Từ 2015 trở về trước, Việt Nam vẫn sử dụng phương pháp đo lường nghèo đơn chiều theo chuẩn nghèo thu nhập Chuẩn nghèo thu nhập của Chính phủ là mức thu nhập bình quân một người một tháng của hộ gia đình đảm bảo mức tiêu dùng lương thực, thực phẩm cung cấp một lượng calo 2100-2300 Kcal/người/ngày
và một lượng hàng hóa phi lương thực, thực phẩm tối thiểu (Bảng 1.1 1) Căn
cứ vào chuẩn nghèo này Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (Bộ TB&XH) xác định và lập danh sách hộ nghèo ở cấp xã và tính tỷ lệ hộ nghèo thông qua Tổng điều tra hộ nghèo được Bộ này tiến hành trước mỗi chương trình giảm nghèo quốc gia và khảo sát lập danh sách hộ nghèo hàng năm trong những năm của giai đoạn thực hiện chương trình giảm nghèo quốc gia
LĐ-Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nghèo đói
Các nghiên cứu theo hướng này chủ yếu tập trung làm rõ tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam đang diễn ra như thế nào? và mối quan hệ giữa biến đối khí hậu với tình trạng nghèo đói của Việt Nam Bên cạnh đó cũng có những nghiên cứu tập trung đánh giá khả năng ứng phó của người dân với tình hình biến đổi khí hậu
Trang 135
Sinh kế bền vững cho người nghèo
Các nghiên cứu theo hướng này tập trung vào làm rõ những thiếu hụt
về mặt sinh kế của người nghèo hiện nay và từ đó đưa ra khuyến nghị giải pháp phù hợp với từng nhóm nghèo ở từng địa phương khác nhau Đối với các nghiên cứu sinh kế bền vững cho người nghèo thì việc hướng người nghèo đến việc sử dụng các nguồn vốn tại địa phương đóng vai trò quan trọng Đặc biệt đối với những hộ gia đình nghèo do thiếu vốn nhân lực thì việc sử dụng các nguồn vốn tại chỗ có ý nghĩa trong việc giảm nghèo
2.2 Bối cảnh nghiên cứu sinh kế bền vững
Nghiên cứu về sinh kế đã được đề cập tới trong các tác phẩm nghiên cứu của R.Chamber những năm 1990 [46] trong đó sinh kế theo cách hiểu đơn giản là phương tiện để kiếm sống Về sau khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của F.Ellis [38], Barrett và Reardon [29]… Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên, có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình F.Ellis cho rằng một sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ [38] Năm
2001, Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khái niệm
về Sinh kế để hướng dẫn cho các hoạt động của mình thì Sinh kế còn được
mô tả tổng hợp của nguồn lực và năng lực liên quan tới các quyết định và hoạt động của một người nhằm cố gắng kiếm sống và đạt được các mục tiêu
và mơ ước của mình [33] Sinh kế có thể được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình, thôn, vùng phổ biến nhất là cấp hộ gia đình
Trang 146
Hình 1: Khung sinh kế bền vững của DFID
Nguồn: DFID (1999), Sustainable Livelihoods Guidance Sheets, DFID Report.
Sinh kế bền vững (sustainable livelihood) từ lâu đã là chủ đề được quan tâm trong các tranh luận về phát triển, giảm nghèo và quản lí môi trường cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn Cách tiếp cận sinh kế bền vững đã làm thay đổi cách tiếp cận đối với phát triển trong thời kỳ những năm 1980 và
1990 theo hướng tập trung vào phúc lợi của con người và tính bền vững nhiều hơn là phát triển kinh tế Theo Reardon và Taylor [45] một sinh kế được xem
là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của
nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên
Một sinh kế bền vững khi nó có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng nguồn lực tự nhiên Về
cơ bản, các khung sinh kế bền vững đều phân tích sự tác động qua lại của 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế là: 1) nguồn lực sinh kế, 2) chiến lược sinh kế, 3) kết quả sinh kế, 4) các qui trình về thể chế và chính sách, và 5) bối cảnh bên ngoài
Trang 157
Cách tiếp cận sinh kế bền vững đã được áp dụng một cách rộng rãi để phân tích sinh kế trên nhiều lĩnh vực, bao gồm nông nghiệp và thủy sản và các sinh kế nông thôn nói chung Khung sinh kế bền vững được sử dụng như một công cụ để phân tích các nguồn lực sinh kế được sử dụng, các chiến lược sinh kế được thực hiện từ việc sử dụng các nguồn lực sinh kế đó và các kết quả sinh kế đạt được từ việc thực hiện các chiến lược sinh kế, từ đó đề xuất các sinh kế bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường ở cấp hộ gia đình và cộng đồng Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các kết quả sinh kế đạt được
có thể là tiêu cực Do đó, khung sinh kế bền vững cũng có thể được sử dụng
để phân tích các mối quan hệ có thể dẫn đến các chiến lược và kết quả sinh kế không bền vững và đó cũng chính là điểm khởi đầu cho việc hỗ trợ sinh kế Trên thế giới, từ đầu những năm 1990, các tổ chức tài trợ quốc tế như CARE International, DANIDA, Oxfam, DFID, UNDP… đã áp dụng khung sinh kế bền vững để thiết kế các dự án và chương trình xóa đói giảm nghèo và quản
lý tài nguyên ở vùng nông thôn và ven biển ở châu Á và châu Phi theo cách tiếp cận hướng vào người nghèo và có sự tham gia Cũng có một số nghiên cứu áp dụng lý thuyết khung sinh kế bền vững để phân tích các cơ hội và thách thức về sinh kế của người dân ở khu vực nông thôn, ven biển và miền núi, từ đó đề xuất những hình thức hỗ trợ sinh kế phù hợp nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững
Về khái niệm sinh kế, các học giả trên thế giới đã đưa ra những quan điểm khác nhau liên quan đến khái niệm này Chẳng hạn, theo Ian Scoones,
“một sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản (bao gồm cả vật chất và các nguồn lực xã hội), và các hoạt động cần thiết cho một phương tiện sinh sống” [dẫn theo 40,1] Trong khi đó, DFID (Department for International Development - Bộ phát triển Quốc tế của Anh) trên cơ sở kế thừa định nghĩa của các tác giả đi trước, lại quan niệm rằng: “Sinh kế bao gồm các năng lực, tài sản (cả vật chất và các nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết để tạo
Trang 168
nên cách kiếm sống Một sinh kế bền vững khi nó có thể ứng phó với những căng thẳng, những cú sốc; cũng như phục hồi được từ những căng thẳng, những cú sốc này, và duy trì hoặc tăng cường năng lực và tài sản trong hiện tại và trong tương lai, trong khi không gây xói mòn nguồn lực tự nhiên” [dẫn theo 40, 3]
Chambers and Conway (1992) nhận định một sinh kế được hiểu là bao gồm những khả năng có thể có, các tài sản và các hoạt động cần thiết cho một
kế sinh nhai Theo định nghĩa này, các tài sản bao gồm “Vốn tự nhiên” - đất đai, nguồn nước, …; “Vốn vật chất”- công cụ sản xuất, giống, phân bón, cơ sở
hạ tầng phục vụ sản xuất,…; “Vốn tài chính” - tiền mặt, tín dụng, tiết kiệm, các khoản vay,…; “Vốn con người” - kiến thức, kỹ năng sản xuất, sức khỏe,…; và “Vốn xã hội” - các quan hệ và mạng lưới xã hội, được xem như
các nguồn sinh kế [30]
Hai thập kỷ vừa qua chứng kiến một số lượng ngày càng nhiều các nhà thực hành phát triển và một số học giả như Robert Chambers (1994) [29], Barbara Thomas-Slayter, Rachel Polestico, Andrea Esser và cộng sự (1995) [49] đã thử nghiệm các phương pháp nghiên cứu tham dự nhằm đạt được một nghiên cứu chính sách và hoạch định chính sách có hiệu qủa hơn đối với phát triển nông thôn và giảm nghèo ở cấp địa phương Trong số đó, các kỹ thuật hành động và phương pháp học hỏi tham dự cũng như đánh giá tham dự nhanh nông thôn được thừa nhận rộng rãi Các kỹ thuật đánh giá nhanh về đói nghèo và các nghiên cứu chẩn đoán về đói nghèo ở nông thôn Việt Nam thừa nhận quyền sử dụng đất đai, tiếp cận đất đai và xem xét khả năng tiếp cận vốn, dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, v.v (MARD and UNDP, 2003 [38]; Asian Development Bank, 2001 [27]) Khung sinh kế bền vững là một phương pháp tiếp cận toàn diện về các vấn đề phát triển thông qua việc nhấn mạnh đến thảo luận sinh kế của con người Nó có nguồn gốc từ phân tích của Amartya Sen về các quyền (entitlements) trong mối quan hệ với nạn đói và
Trang 179
đói nghèo (1981) và gần đây được Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) thúc đẩy [50] cũng như được các học giả cùng với các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi (Anthony Bebbington 1999 [26]; Koos Neefjes 2000 [36]; Frank Ellis
2000 [36]) Trên cơ sở đó, học viên kế thừa và sử dụng khung sinh kế bền vững của DFID để tìm hiểu và phân tích chủ đề giảm nghèo bền vững của luận văn
2.3 Sinh kế bền vững của người nghèo trong các bối cảnh khác nhau
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Theo Chambers và Conway (1992) sinh kế bền vững là sinh kế có thể đối phó và phục hồi từ các cú sốc, duy trì hoặc tăng cường năng lực và tài sản trong khi không làm suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên [30] Với nội hàm về sinh kế bền vững như của Chamber và Conway thì biến đổi khí hậu là một yếu tố chủ chốt liên quan đến khả năng bị tổn thương của sinh kế Các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (ví dụ như mực nước biển dâng và các điều kiện thời tiết khắc nghiệt) lên các nguồn lực tự nhiên (như đất, nước, thủy sản) và các nguồn lực vật chất (như đường sá, hệ thống thủy lợi, mạng lưới điện) là rất đáng kể Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng trở nên phức tạp cả ở hiện tại và tương lai, các sinh kế được đánh giá không chỉ dựa vào việc các sinh kế này có bền vững trên 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường hay không mà còn dựa vào việc các sinh kế này có thể giảm nhẹ biến đổi khí hậu hoặc thích ứng với biến đổi khí hậu hay không [5]
BĐKH đã trở thành thách thức lớn với mọi cộng đồng Bất kỳ thay đổi nào về khí hậu cũng dẫn đến sự mất ổn định về môi trường và xã hội Đối với những nơi khó khăn và sinh kế phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên thiên nhiên thì chính là nơi dễ bị tổn thương nhất do biến đổi khí hậu Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu không giống nhau giữa các nhóm đối tượng trong xã hội Nghiên cứu các nhóm dễ bị tổn thương và lý do tổn thương có ý nghĩa quan trọng trong việc đề xuất các giải pháp ứng phó phù hợp với tác động của biến
Trang 1810
đổi khí hậu Hộ nghèo hay người nghèo thường gắn với sản xuất nông nghiệp như là một nguồn thu nhập chính, trong khi đó sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực dễ bị tổn thương nhất bởi tác động của biến đổi khí hậu Hộ nghèo thường có nguồn lực hạn chế, như nguồn đất đai hạn hẹp, nhà cửa và tài sản mang tính thô sơ, do vậy họ sẽ dễ bị tổn thương hơn so với các loại hộ khác
Hộ nghèo cũng thường có các hoạt động sinh kế đơn điệu do vậy khả năng đa dạng hóa các nguồn thu nhập để hạn chế tác động của biến đổi khí hậu thường thấp; hơn thế nữa do hạn chế về nguồn lực nên khả năng phục hồi sau khi bị tác động bởi thiên tai của hộ nghèo thường chậm hơn so với các hộ khác trong cộng đồng
Trong các ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu thì nông nghiệp là đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các hiện tượng khí hậu cực đoan do tác động của BĐKH Trong nghiên cứu của Helal Ahammad đã đề cập tới “các vấn đề và thách thức của nông nghiệp Australia trong việc thích nghi với thay đổi thời tiết, đặc biệt là xem xét các ảnh hưởng của thay đổi khí hậu có thể xảy ra đối với ngành sản xuất nông nghiệp của Australia [2] Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng những khu vực (phụ thuộc lớn vào ngành nông nghiệp) có thể phải chịu những mất mát đáng kể do ảnh hưởng của việc thay đổi khí hậu Đối với vùng ven biển trong bối cảnh dễ bị tổn thương mà điển hình là tính mùa vụ và tính bất thường của thời tiết, là một trong những vấn
đề lớn mà vùng ven biển thường xuyên phải đối mặt Tính mùa vụ có ảnh hưởng lớn đến hoạt động đánh bắt, dịch vụ ngư nghiệp, nông nghiệp, xây dựng
và du lịch, từ đó ảnh hưởng đến công ăn việc làm, thu nhập và sự sẵn có của thực phẩm tại địa phương Bên cạnh tính mùa vụ, sự bất thường của thời tiết, đặc biệt là mưa bão thường xuyên xảy ra dọc bờ biển, cũng gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho cộng đồng ven biển về người, tài sản và cơ sở hạ tầng
Các công trình nghiên cứu tính dễ bị tổn thương (TDBTT) ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu từ những năm cuối của thế kỷ XX và được tiếp cận theo các
Trang 1911
lĩnh vực khác nhau của hệ thống tự nhiên, kinh tế - xã hội, cộng đồng dân cư
và các tài nguyên ven biển trên quy mô nghiên cứu từ vùng/khu vực đến cả đới ven biển Việt Nam Nghiên cứu TDBTT xã hội và khả năng phục hồi ở Việt Nam khi môi trường thay đổi của Adger và cộng sự đã đánh giá TDBTT
xã hội ở huyện ven biển miền Bắc Việt Nam (huyện Giao Thủy, Nam Định) Kết quả nghiên cứu cho thấy do sự đổi mới về kinh tế bắt đầu từ giữa thập kỉ
80 đã làm tăng tính bất công bằng trong thu nhập và phúc lợi địa phương gây ảnh hưởng tới năng lực thích nghi của người dân địa phương khi phải đối mặt với cả sự thay đổi tổ chức và những ảnh hưởng của thay đổi khí hậu
Từ năm 2007 đến nay cũng đã có nhiều dự án hợp tác giữa Việt Nam và quốc tế cũng đã có những tiếp cận tổng hợp đến việc nghiên cứu TDBTT do tác động của BĐKH Tổ chức Oxfam tại Việt Nam và Viện Sau đại học về nghiên cứu môi trường, Trường Đại học Kyoto, Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu những lựa chọn để giải quyết rủi ro do hạn hán ở Việt Nam Trong nghiên cứu này tập trung vào phân tích ảnh hưởng của tần suất hạn hán tới sinh kế của cộng đồng tại các khu vực thường xuyên bị hán hán của tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam Bên cạnh đó nghiên cứu cũng đề cập tới cộng đồng cảm nhận như thế nào với hạn hán và thay đổi khí hậu, chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ làm sao để có thể đối phó với thảm họa từ thiên nhiên, đặc biệt đối với hạn hán [7] Năm 2007, báo cáo về nghèo đói với BĐKH của Oxfam Quốc tế đã có những cảnh báo về sự suy tàn sinh kế của người nghèo; nêu rõ sự gia tăng các thảm họa khí hậu ảnh hưởng tới nhiều người, đặc biệt
là hộ nghèo, người nghèo không có sức mạnh để chống chịu lại các thảm họa Trong báo cáo “Thay đổi môi trường toàn cầu và an ninh con người” đề cập tới mối quan hệ giữa nghèo đói và thích ứng với biến đổi khí hậu, báo cáo cũng xem xét tới thực trạng thể chế trong việc kếp hợp giải pháp thích ứng với biến đối khí hậu của việc thực thi các chính sách hỗ trợ phát triển hiện nay
Trang 2012
Cuối năm 2010, dự án “Tiếp cận tổng hợp các đến các đối tượng dễ bị tổn thương nhằm ứng phó với các thảm họa tự nhiên tại miền Trung Việt Nam” được hợp tác giữa Đại học Nông lâm Huế - Đại học Huế và Viện GSGES – Đại học Kyoto, Nhật Bản dưới sự tài trợ của cơ quan hợp tác Quốc
tế Nhật Bản JICA Khu vực nghiên cứu của dự án gồm 4 xã: Hương Phong, Hương Vân, huyện Hương Trà, 1 xã thuộc huyện miền núi A Lưới và nhóm dân cư vạn đò định cư tại thành phố Huế Đây là những nơi thường xuyên gặp thiên tai và dễ bị tổn thương bởi những ảnh hưởng của thiên tai và cần có sự
hỗ trợ để nâng cao năng lực đối phó với thiên tai Dự án được thực hiện với mục tiêu làm rõ tính dễ bị tổn thương do thiên tai và hoàn cảnh của người dân
dễ bị tổn thương trong khu vực, nâng cao năng lực phòng chống thiên tai qua các lớp tập huấn cho người dân dễ bị tổn thương Biên soạn và phân phối các tập tài liệu kỹ thuật và tập huấn về đối phó thiên tai cũng như đa dạng hóa sinh kế Nâng cao kiến thức ứng phó thiên tai của chính quyền các cấp, và cộng đồng qua các lớp tập huấn, cấu trúc lại mạng lưới kết hợp nhằm đối phó thiên tai và đa dạng hóa sinh kế
Đặc biệt năm 2012 có nghiên cứu “Biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển”
của Trần Thọ Đạt dựa trên việc tổng hợp các nghiên cứu và kinh nghiệm của các quốc gia về chủ đề biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển trên các khía cạnh: tổng quan về biến đổi khí hậu, tác động của biến đổi khí hậu lên vùng ven biển, khả năng bị tổn thương của sinh kế ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu, năng lực thích ứng của sinh kế ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu, và hỗ trợ sinh kế để thích ứng với biến đổi khí hậu Nghiên cứu
đã chỉ ra rằng: đóng vai trò trọng tâm đối với sinh kế hộ gia đình là các nguồn lực sinh kế mà hộ gia đình nắm giữ vì nó quyết định việc lựa chọn các chiến lược sinh kế và đạt được các kết quả sinh kế mong muốn Trong khi biến đổi khí hậu - một trong những yếu tố của bối cảnh dễ bị tổn thương - gây ảnh hưởng đến các nguồn lực sinh kế và từ đó làm thay đổi các chiến lược sinh kế
Trang 21 Trong bối cảnh đất đai hạn hẹp
Tiếp cận sinh kế bền vững cũng thừa nhận rằng các chính sách, thể chế
và quá trình có ảnh hưởng đến sự tiếp cận và việc sử dụng các tài sản mà cuối cùng ảnh hưởng đến sinh kế [42, tr.3] Khung sinh kế bền vững coi đất đai là một tài sản tự nhiên rất quan trọng đối với sinh kế nông thôn Quyền đất đai đóng một vị trí quan trọng về nhiều mặt và tạo cơ sở để người nông dân tiếp cận các loại tài sản khác và những sự lựa chọn sinh kế thay thế [52] Chẳng hạn, đảm bảo an ninh tiếp đối với cận đất có thể là một mục tiêu sinh kế Đất đai cũng là một tài sản tự nhiên mà qua đó có thể đạt được các mục tiêu sinh
kế khác như bình đẳng giới và sử dụng bền vững các nguồn lực [42, tr.2] Ở một số quốc gia, việc thiếu tiếp cận đối với đất đai là một hạn chế quan trọng đối với sinh kế của nhiều người và những người không có đảm bảo quyền của mình đối với đất đai thì khi diễn ra thu hồi thường bị đền bù một cách không công bằng [33, tr.16] Ví dụ, tiếp cận một cách không đầy đủ đối với đất đai
là nhân tố cơ bản làm hạn chế khả năng cải thiện cuộc sống của hàng ngàn cư dân nông thôn như ở một số vùng của Cộng hòa Dân chủ Congo nơi có mật
độ dân số rất đông [31,tr.6-7] Ở Việt Nam, quyền sử dụng đất hàm chứa nhiều ý nghĩa và giá trị quan trọng, bao gồm ý nghĩa và giá trị của một phương tiện sản xuất, một nguồn thu nhập và một loại tài sản có giá trị [8] Đặc biệt là đối với những người sống ở các cộng đồng nông thôn và ven đô,
Trang 22 Trong bối cảnh đô thị hóa
Nghèo khu vực ven đô không giống như tình trạng nghèo ở các khu vực nông thôn, miền núi,…bởi tình trạng nghèo ven đô thị có những diễn biến đặc thù hơn so với nhiều khu vực khác Do là khu vực lưỡng cư, có quá trình
đô thị hóa mạnh, và có chức năng như một đô thị Quá trình phát triển kinh tế
- xã hội cũng có nhiều chuyển biến nhanh, và đa dạng theo lực kéo của quá trình phát triển kinh tế đô thị Người nghèo ở đây sống chủ yếu dựa vào nền kinh tế tiền mặt, kỹ năng, và năng lực cá nhân thấp, chịu ảnh hưởng mạnh của thị trường lao động, khó theo kịp được với nhịp chuyển biến từ một khu vực nông thôn sang khu vực có chức năng hết sức linh hoạt như một đô thị, và chịu tác động mạnh từ tốc độ phát triển nhanh của nền kinh tế đô thị Bởi vậy, người nghèo ven đô gặp nhiều khó khăn, bấp bênh để tìm kiếm một việc làm ổn định, đảm bảo sinh kế mới, tính tổn thương cao bởi những biến động
từ nền kinh tế có nhiều chuyển đổi mạnh mẽ (về giá cả, lạm phát, các tổ chức tội phạm…), môi trường sống ô nhiễm, dễ dịch bệnh, thiếu trợ giúp pháp lý,
và bất an ninh, vốn xã hội, và vốn con người thấp dẫn đến hạn chế quyền, và thiếu tiếng nói, thiếu sự tham gia trong các hoạt động mang tính cộng đồng…
Kết quả nghiên cứu tổng quan cho thấy nghiên cứu về sinh kế của người nghèo đã được tiến hành với ở Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây
Trang 2315
Tuy nhiên, huyện Hoài Đức với vị trí của vùng ven đô Hà Nội đối mặt với quá trình đô thị hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ vẫn còn tồn tại các hộ nghèo Chưa có nghiên cứu nào liên quan đến sinh kế người nghèo ở huyện Hoài Đức, đây được xem như là khoảng trống mà nghiên cứu này muốn thực hiện
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích làm rõ thực trạng sinh kế bền vững của người nghèo huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, luận văn đề xuất một số giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững của người nghèo ở huyện Hoài Đức và các huyện của thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
1 Hệ thống hóa một số vấn đề khái niệm có liên quan
2 Làm rõ được tình trạng nghèo hiện nay ở huyện Hoài Đức
3 Làm rõ thực trạng sinh kế bền vững của người nghèo ở huyện Hoài Đức
4 Đề xuất một số giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững của người nghèo ở huyện Hoài Đức
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là sinh kế bền vững của người nghèo huyện Hoài Đức, Hà Nội hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung phân tích thực
trạng sinh kế hiện nay của hộ nghèo thuộc huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, trong đó làm rõ thực trạng nghèo, và sinh kế bền vững của các hộ nghèo của huyện Hoài Đức
- Phạm vi không gian: địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
- Phạm vi thời gian: luận văn thu thập số liệu thống kê, các tài liệu thứ
cấp đánh giá tỷ lệ nghèo, cận nghèo, tỷ lệ giảm nghèo và các hoạt động sinh
Trang 2416
kế tại thành phố Hà Nội và huyện Hoài Đức trong 3 năm trở lại đây (từ năm
2016 đến năm 2018)
4.3 Câu hỏi nghiên cứu
1) Thực trạng sinh kế của nhóm người nghèo huyện Hoài Đức, Hà Nội hiện nay như thế nào?
2) Sinh kế của người nghèo ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội có bền vững không?
3) Giải pháp phù hợp để duy trì và gia tăng các hoạt động sinh kế bền vững ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội hiện này là gì?
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp tiếp cận
Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận từ lý thuyết phát triển sinh kế bền vững (khung sinh kế bền vững của Cơ quan phát triển Quốc tế Vương Quốc Anh DFID năm 2001) để phân tích cách thức sinh kế của hộ nghèo tại địa bàn nghiên cứu Khung phân tích của luận văn được trình bày ở Chương 1
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu định lượng và định tính
từ tài liệu thứ cấp và số liệu thực địa tại điểm nghiên cứu của đề tài
Phương pháp nghiên cứu này là nhằm phân tích, so sánh, đối chiếu thực trạng với các quy định chuẩn nghèo theo các cấp từ trung ương đến địa phương, đồng thời sử dụng Khung phân tích sinh kế của DFID để đưa ra cái nhìn toàn diện về người nghèo huyện Hoài Đức, Hà Nội
Ưu điểm của phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp là tiết kiệm chi phí, và thu thập được nhiều nguồn tài liệu khác nhau Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm mà phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp mang lại thì phương pháp này cũng bộc lộ hạn chế nhất định đó là kết quả phân tích của luận văn bị giới hạn trong các dữ liệu từ chính quyền địa phương cung cấp,
Trang 255.3 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu
Luận văn đã tiến hành thu thập và phân tích tài liệu đã có liên quan đến đề tài trong thời gian 3 năm trở lại đây nhằm đưa ra được một cái nhìn tổng quan về sinh kế, sinh kế bền vững của người nghèo và các phương pháp đánh giá sinh kế của người nghèo ở Việt Nam Cụ thể là các báo cáo đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu giảm nghèo tại Hà Nội các giai đoạn 2011 – 2015; tại Hoài Đức giai đoạn 2016 – 2020; các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội
huyện Hoài Đức từ năm 2016 đến năm 2018
Luận văn sử dụng chủ yếu các tài liệu thứ cấp như
Báo cáo Đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu giảm nghèo trên địa bàn
huyện Hoài Đức giai đoạn 2011 -2015,
Báo cáo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững
giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn huyện Hoài Đức,
Kế hoạch thực hiện mục tiêu giảm nghèo huyện Hoài Đức giai đoạn
2016-2020,
Kế hoạch thực hiện mục tiêu giảm nghèo huyện Hoài Đức năm 2016,
2017, 2018
Báo cáo Tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển Kinh tế- Xã
hội, Quốc phòng- An ninh năm 2016, 2017 và 2018
Thu thập số liệu thống kê thứ cấp
Tổng hợp kết quả điều tra, rà soát hộ cận nghèo theo chuẩn giai đoạn 2016-2020
Trang 2618
Tổng hợp kết quả rà soát hộ nghèo, cận nghèo cuối năm 2016, 2017, và cuối năm 2018
Tổng hợp kết quả rà soát hộ nghèo, cận nghèo 3 năm 2016, 2017, 2018
Phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp
Phân tích và khái quát hóa văn bản
Phân tích các báo cáo kinh tế xã hội về đời sống kinh tế nói chung của địa phương để từ đó đưa ra những phân tích cho số liệu thống kê về hộ nghèo.- Phân tích khái quát đời sống, việc làm của người dân đang sinh sống tại huyện Hoài Đức
Phương pháp phân tích thiếu hụt các chiều cạnh nghèo đa chiều
Phân tích thiếu hụt của hộ nghèo khi đối chiếu với các quy định về chuẩn nghèo của chính phủ và của thành phố Hà Nội để từ đó đưa ra đặc trưng cơ bản các hộ nghèo của huyện Hoài Đức
Phân tích và lập các bảng biểu các số liệu thống kê của huyện Hoài Đức về hộ nghèo trong 3 năm
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần bổ sung khoảng trống cho những nghiên cứu về sinh kế bền vững ở các huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nội Thông qua nghiên cứu này, luận văn cung cấp thêm bằng chứng thực tiễn cho nghiên cứu
về sinh kế bền vững của các hộ nghèo vùng ven đô
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Hiện nay các nghiên cứu về sinh kế bền vững cho người nghèo đang thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và phát triển bền vững Kết quả của nghiên cứu này nhằm bổ sung thêm
cơ sở khoa học cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách về sinh kế bền vững cho giảm nghèo, gợi ý cho việc hoạch định chính sách giảm nghèo bền vững ở thành phố Hà Nội sát với thực tiễn và mang tính khả thi trong việc
Trang 2719
thực hiện các mục tiêu giảm nghèo và phát triển bền vững thành phố Hà Nội hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu thành
3 chương
Chương 1: Một số vấn đề chung về lý thuyết sinh kế bền vững
Chương 2: Thực trạng sinh kế bền vững của người nghèo ở huyện Hoài Đức, thành phồ Hà Nội
Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo sinh kế người nghèo ở huyện Hoài Đức
Trang 2820
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHÈO VÀ
bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như: đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu
Các quan niệm và khái niệm cụ thể về nghèo đói được đưa ra khá nhiều Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thừa nhận một khái niệm chung về nghèo, được thống nhất tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương
tổ chức tại Thái Lan (1993): “nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội
và phong tục tập quán của địa phương” Đây có thể coi là một định nghĩa
chung nhất có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện những nét phổ biến chính về nghèo
Hiện có sự đồng thuận cao khi xem xét đánh giá nghèo trên nhiều chiều cạnh Các tình trạng nghèo được chỉ ra rõ ràng là mang tính đa chiều Nghèo không chỉ dừng lại ở yếu tố tiền tệ, mà nó còn liên quan mật thiết đến rất nhiều vấn đề mang tính đan xen giữa các chiều cạnh của kinh tế với xã hội và các vấn đề về môi trường, văn hóa Và cho thấy, dù tiếp cận theo quan điểm nào cũng đều phù hợp thay cho việc chỉ xem nghèo trên một khía cạnh tiền tệ, mặc dù bên cạnh vẫn còn một số tranh luận đối với việc áp dụng các chỉ số đa chiều trong nghiên cứu nghèo Điều quan trọng hơn cả, đến nay việc nghiên cứu nghèo trên nhiều chiều cạnh (đa chiều) thay thế phương pháp nghèo đơn
Trang 2921
chiều được đánh giá là một phương pháp luận hoàn hảo hơn, và hoàn toàn phù hợp để chỉ ra được đúng ai là người nghèo, người không nghèo và việc thiết kế các chỉ số đo lường nghèo sẽ đánh giá nghèo đúng với bản chất nghèo đang diễn ra hiện nay, trên cơ sở đó các giải pháp chính sách đưa ra sẽ hữu hiệu hơn với kỳ vọng thực hiện thành công chiến lược giảm nghèo bền vững
Luận văn này sử dụng khái niệm nghèo là tình trạng khó khăn bao gồm cả những khía cạnh kinh tế và xã hội, được thể hiện cụ thể về thu nhập không đảm bảo mức chuẩn tối thiểu theo quy định và những thiếu hụt về tiếp cận các dịch
vụ xã hội cơ bản để đảm bảo chất lượng sống theo một mức chuẩn nhất định
1.1.2 Nghèo đa chiều
Ngân hàng Thế giới (2000) cho rằng: Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực [6]
UNDP (2008) đã cho rằng: nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo không chỉ là không có đủ ăn,
đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có các tư liệu để sản xuất như đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng… Hơn thế, nghèo còn có nghĩa
là sự không an toàn, thiếu quyền và dễ bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh [25] Với quan điểm này, nghèo không chỉ đo lường bởi yếu tố tiền tệ
như trước đây, mà nghèo đã đề cập tới các yếu tố khác ngoài tiền tệ (phi tiền tệ) Các yếu tố phi tiền tệ đã được quan tâm rộng rãi hơn như: sự thiếu hụt về
cơ hội, nặng hơn sự thiếu ăn đó là tình trạng suy dinh dưỡng, bệnh tật, thất học, bất hạnh và tuyệt vọng Thiếu tiếng nói và sự tham gia vào các hoạt động
về kinh tế, xã hội, chính trị, sự thiếu hụt này sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng
Trang 30Sinh kế bền vững khi nó có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng nguồn lực tự nhiên [52] [34, tr.4]
Ngầm ẩn trong khung sinh kế bền vững là một lý thuyết cho rằng con người dựa vào năm loại tài sản vốn, hay hình thức vốn, để giảm nghèo và đảm bảo an ninh bảo sinh kế của mình, bao gồm: vốn vật chất (physical capital), vốn tài chính (financial capital), vốn xã hội (social capital), vốn con người (human capital) và vốn tự nhiên (natural capital), là những loại vốn đóng cả hai vai đầu vào và đầu ra1
Sinh kế hộ gia đình là sinh kế dựa trên các nguồn vốn con người, vốn
xã hội (mạng lưới xã hội ), vốn thiên nhiên hay tài nguyên (rừng, đất canh tác, đất phi nông nghiệp, đa dạng sinh học ), vốn vật chất (nhà ở, nhà xưởng,
1 DFID’s Sustainable Livelihoods Guidance Sheets định nghĩa năm loại vốn này nhưsau: (1) Vốn vật chất bao gồm cơ sởhạtầng và các loại hàng hóa mà người sản xuất cần đểhậu thuẫn sinh kế; (2) Vốn tài chính ngụý vềcác nguồn lực tài chính mà con người sửdụng để đạt được các mục tiêu sinh kếcủa mình; (3) Vốn xã hội nghĩa là các nguồn lực xã hội mà con người sửdụng đểtheo đuổi các mục tiêu sinh kếcủa mình, bao gồm quan
hệ, mạng lưới, thành viên nhóm, niềm tin, sựphụthuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp các mạng an ninh phi chính thống quan trọng; (4) Vốn con người đại diện cho các kỹnăng, tri thức, khảnăng làm việc và sức khỏe tốt, tất cảcộng lại tạo điều kiện giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kếkhác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế Ởcấp độhộgia đình, vốn con người là yếu tố vềsốlượng và chất lượng lao động của hộ; yếu tốnày khác nhau tùy thuộc vào kích cỡcủa hộ, trình độgiáo dục và kỹ năng nghềnghiệp, khảnăng quản lý, tình trạng sức khỏe, tri thức vềcác cấu trúc sởhữu chính thống và phi chính thống (nhưcác quyền, luật pháp, chuẩn mực, cấu trúc chính quyền, các thủtục); và (5) Vốn tựnhiên là tất cảnhững nguyên vật liệu tựnhiên đểtạo dựng sinh kế Có rất nhiểu nguồn lực tạo thành vốn tựnhiên bao gồm cảcác nguồn lực đất đai
Trang 3123
công cụ sản xuất, phương tiện vận chuyển, CSHT ), vốn tài chính (tiết kiệm, tín dụng, hàng hóa lưu chuyển ) Các nguồn lực này có quan hệ với nhau và
có thể làm gia tăng khả năng tiếp cận các nguồn lực khác, chẳng hạn như nếu
hộ có đất (có chứng nhận pháp lý về quyền sử dụng đất) có thể vay mượn, thế chấp, cầm cố để có nguồn vốn tài chính phục vụ cho một mục tiêu kinh tế hay đời sống nào đó
Từ tiếp thu lý thuyết về nghèo, nghèo đa chiều và khung sinh kế bền vững của DFID, luận văn đưa ra khung phân tích cách tiếp cận sinh kế hộ gia đình để phân tích dữ liệu trong đề tài theo khung dưới đây:
Hình 1 1 Khung phân tích của luận văn
Trang 3224
Vốn con người: tìm hiểu lực lượng tham gia lao động sản xuất của người dân huyện Hoài Đức nói chung và của người nghèo tại đây nói riêng;
Vốn tài chính: Luận văn xem xét khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay khác nhau tại địa phương của người nghèo huyện Hoài;
Vốn xã hội: Xem xét khả năng kết nối của người nghèo với các mạng lưới xã hội tại địa phương; sử dụng các mối quan hệ gia đình, bạn bè trong việc quá trình thoát nghèo
1.2 Đo lường nghèo
Năm 1997, các tác giả Anand và Sen tiếp tục chỉ ra sự cần thiết khi nhìn nhận tính đa chiều của nghèo đói và những thiếu thốn của nó sẽ cho thấy một chỉ báo đầy đủ về nghèo đói của con người, không như việc xác định nghèo đói chỉ dựa trên thu nhập Ngoài việc đo lường trên thu nhập/chi tiêu, các chỉ báo nghèo đa chiều được thể hiện thông qua khả năng tiếp cận một cách đồng thời về lương thực, nhà ở, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và các mức sống xã hội khác, kể cả các chỉ báo phi vật chất khác Nói cách khác, nghèo được phản ánh bởi sự thiếu hụt phúc lợi xã hội ở các chiều cạnh khác nhau và cần phải có một bộ các chỉ báo đại diện Tổng hòa các chỉ báo này phải phản ánh được chất lượng cuộc sống của người nghèo [24]
Thông thường để đánh giá nghèo, các quốc gia sử dụng bộ dữ liệu có được từ điều tra mức sống hộ gia đình ở tầm quốc gia, một dạng điều tra quy
mô lớn được chuẩn bị hết sức cẩn thận, và thường có sự hỗ trợ chuyên môn của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới và UNDP Công cụ điều tra chủ yếu là phiếu điều tra hộ gia đình được thiết kế để thu thập thông tin liên quan đến đặc điểm của hộ gia đình Các thông tin quan trọng thường được thu thập là cấu trúc hộ, chi tiêu lương thực và phi lương thực, tài sản bao gồm nhà
ở, đất đai và đồ dùng lâu bền, thu nhập và việc làm nông nghiệp, phi nông nghiệp, làm công làm thuê và công việc tự kinh doanh, giáo dục, y tế, di cư,
Trang 3325
sinh sản và các thông tin khác Việc đo lường nghèo dựa trên các thông tin được thu thập này nhưng còn tùy thuộc vào cách tiếp cận Cách tiếp cận phúc lợi kinh tế thường được áp dụng theo cách phân loại hộ theo tình trạng nghèo tương đối hay tuyệt đối dựa trên thu nhập hoặc chi tiêu Cách tiếp cận này có thể được mở rộng cho các phúc lợi phi kinh tế khác như tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong, tuổi thọ, cấu trúc chi tiêu cho lương thực, nhà ở và học hành của trẻ em [47]
Ở Việt Nam, cách tiếp cận đo lường nghèo về tiền được Tổng cục Thống
kê (GSO) áp dụng ở các cuộc Điều tra mức sống hộ gia đình (Vietnam Household Living Standards Survey - VHLSS) và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (MOLISA) áp dụng khi phân loại nghèo ở các địa phương Tuy nhiên, MOLISA luôn sử dụng cách tiếp cận đo lường nghèo tuyệt đối dựa trên thu nhập Ngưỡng nghèo này đã được Chính phủ Việt Nam xây dựng tách biệt giữa vùng nông thôn và đô thị, và có cập nhật theo thời gian cho các giai đoạn 2001-2005, 2006-2010 và từ 2011 Trong khi đó, GSO thường áp dụng cả hai cách đo lường nghèo tương đối và tuyệt đối dựa trên cả thu nhập
và chi tiêu Trong báo cáo đánh giá mới nhất, GSO (2010) sử dụng ngũ phân
vị dựa trên thu nhập bình quân đầu người Các hộ gia đình được so sánh với nhau về các đặc điểm kinh tế - xã hội, nhất là so sánh giữa hai nhóm có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất (nhóm nghèo) và cao nhất (nhóm giàu) Mặc dù có những khác biệt nhất định về tiếp cận đo lường nghèo, các báo cáo nghiên cứu nghèo đã cung cấp thông tin mô tả sâu sắc về tình trạng nghèo với các đặc trưng khác nhau ở các vùng miền hay dân tộc Tuy nhiên, thông tin về quan hệ giữa tình trạng nghèo về tiền và các chỉ báo kinh tế - xã hội khác không được chỉ ra [10]
Việt Nam đã áp dụng một số phương pháp đo lường nghèo khác nhau, và
có thể chia làm sáu loại dựa trên: 1) chi tiêu của hộ gia đình; 2) bản đồ nghèo; 3) thu nhập; 4) phân loại địa phương; 5) tự khai báo và 6) xếp hạng về phúc lợi Ngoại trừ hai phương pháp dựa trên thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình
Trang 34số khác nhau Phương pháp của Alkire và Foster được coi là có tính chất mềm dẻo và có thể áp dụng với nhiều chiều, nhiều chỉ báo và trọng số khác nhau để phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội cụ thể của địa phương [11] Báo cáo đánh giá nghèo đô thị ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có áp dụng chỉ số MPI dựa trên tám chiều đo lường và 21 chỉ báo với trọng số ngang bằng nhau (UBND TP Hà Nội, UBND TP Hồ Chí Minh & UNDP, 2010) Báo cáo Nghèo của Tổng cục Thống kê năm 2010 cũng có áp dụng chỉ số nghèo đa chiều cho trẻ em bao gồm các khía cạnh giáo dục, y tế, dinh dưỡng, nhà ở, nước sạch, vệ sinh, không làm việc trước tuổi lao động, vui chơi giải trí, hòa nhập xã hội và được xã hội bảo vệ Trẻ em không đạt được tối thiểu hai trong tám chiều đo lường được coi là nghèo đa chiều Cách tiếp cận này cho phép Tổng cục Thống kê tính tỷ lệ nghèo của trẻ em ở phạm vi vùng miền và toàn quốc Tuy nhiên, lý do vì sao chọn các chiều, các chỉ báo và quan hệ qua lại giữa các chỉ báo này không được giải thích trong các báo cáo trên [10].
Gần đây nhất, UNDP (2011) đã công bố Báo cáo quốc gia về phát triển con người năm 2011 cho Việt Nam Nghiên cứu của UNDP đã áp dụng so sánh ba phương pháp đo lường là nghèo tiền tệ, HPI và MPI Chỉ số nghèo đa chiều MPI được UNDP xây dựng dựa trên ba thước đo (chiều) là Y tế, Giáo dục và Mức sống, được đại diện bằng chín chỉ tiêu 1) hộ phải bán tài sản, vay
nợ để trả phí chăm sóc y tế hoặc ngưng chữa trị; 2) thành viên hộ chưa hoàn
Trang 3527
thành bậc tiểu học; 3) trẻ em trong độ tuổi đi học không đến trường; 4) sử dụng điện thắp sáng; 5) tiếp cận nước uống sạch; 6) tiếp cận vệ sinh; 7) tiếp cận nhà vệ sinh tiêu chuẩn; 8) sống ở nhà cố định; và 9) có sở hữu tài sản lâu bền Những người nghèo đa chiều là người chịu bất kỳ hai thiếu hụt nào trong chín chỉ số trên Tuy nhiên, tương tự như trên, báo cáo không đưa ra lý do chọn các thước đo và chỉ tiêu liên quan [46]
Tiêu chuẩn đo lường về người nghèo đa chiều của Việt Nam
Theo Quyết định chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 đến 2020 của Thủ tưởng Chính phủ ban hành ngày 19/11/2015 thì nghèo đa chiều được xem xét theo tiêu chí về thu nhập và tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ
xã hội cơ bản [12]
+ Hộ nghèo: (1) Khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí
sau: (i) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồngtrở xuống; (ii) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận
các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên (2) Khu vực thành thịlà hộ đáp ứng một
trong hai tiêu chí sau: (i) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; (ii) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000đồng và thiếu hụt từ 03 chỉsố đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
+ Hộ cận nghèo: (1) Khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉsốđo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (2) Khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng
đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
+ Hộ có mức sống trung bình: (1) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng (2) Khu
Trang 3628
vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.300.000
đồng đến 1.950.000 đồng
Ngày 14/6/2016 UBND thành phố Hà Nội ra quyết định số 12/2016 đưa
ra các quy định về chuẩn nghèo cho thành phố Theo quy định này có 3 chuẩn mức sống nhằm đánh giá mức sống của người dân thành phố Hà Nội bao gồm chuẩn nghèo, chuẩn cận nghèo và mức sống trung bình [23]
+ Hộ nghèo: (1) Khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu
chí Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 1.100.000 đồng trở xuống hoặc hộ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.100.000 đồng đến 1.500.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch
vụ xã hội cơ bản trở lên.(2) Khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai
tiêu chí Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 1.400.000 đồng trở xuống hoặc Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.400.000 đồng đến 1.950.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch
vụ xã hội cơ bản trở lên
+ Hộ cận nghèo: (1) Khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân
đầu người/tháng trên 1.100.000 đồng đến 1.500.000 đồng và thiếu hụt dưới 03
chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản.(2) Khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.400.000 đồng đến
1.950.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản
+ Hộ có mức sống trung bình: (1) Khu vực nông thôn là hộ có thu
nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.500.000 đồng đến 2.300.000 đồng (2) Khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên
1.950.000 đồng đến 3.000.000 đồng
Trang 3703 thiếu hụt dịch
vụ xã hội cơ bản
>1.400 -1.950 + thiếu hụt < 03 dịch
vụ xã hội cơ bản
Thu nhập trên 1.950 đến 3.000
Khu vực nông
thôn
a) =<1.100 b)>1.100-1.500 +
03 thiếu hụt dịch
vụ xã hội cơ bản
>1.100 - 1.500 + thiếu hụt dưới 03 dịch vụ xã hội cơ bản
Thu nhập trên 1.500 đến 2.300
Nguồn:Quyết định số 12/2016 của UBND thành phố Hà Nội về các quy định về chuẩn nghèo cho thành phố
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế bền vững của người nghèo
Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế bền vững trong chiến lược giảm nghèo ở từng Quốc gia, từng địa phương có thể thay đổi theo từng giai đoạn, nhưng cũng có thể là những tác động dài theo suốt quá trình phát triển kinh tế
- xã hội Các nhóm yếu tố chủ quan có ảnh hưởng tác động trực tiếp, và nhóm yếu tố khách quan ảnh hưởng gián tiếp tới quá trình giảm nghèo bền vững (GNBV) và tùy vào từng cá nhân, từng hộ gia đình, hay từng nhóm đối tượng nghèo sẽ chịu những mức độ tác động khác nhau từ những yếu tố này để có thể thoát nghèo bền vững, hoặc vẫn bị duy trì nghèo
Một số yếu tố có ảnh hưởng tới giảm nghèo bền vững của người nghèo sau đây:
Thứ nhất, nhóm yếu tố khách quan: bối cảnh hội nhập mở rộng sản xuất
công nghiệp làm cho quá trình đô thị hóa trở nên mạnh mẽ đối với các khu vực vùng ven đô Hà Nội Yếu tố đô thị hóa sẽ tạo, và mở ra nhiều cơ hội
Trang 3830
trong các lĩnh vực (thương mại, khoa học công nghệ, các trợ giúp về vốn, trợ giúp về xã hội, môi trường…), nhưng ngược lại cũng đặt ra nhiều thách thức (năng lực, nguồn lực cần đáp ứng, cam kết thực hiện,…) Những cơ hội từ bối cảnh hội nhập, quá trình đô thị hóa sẽ đem lại nhiều cơ hội phát triển cho mỗi quốc gia, các địa phương, các tổ chức, doanh nghiệp, người dân Tuy nhiên, người nghèo do thiếu trình độ, thiếu kỹ năng, thiếu tiếng nói trong xã hội nên khó tiếp cận được thông tin và các thị trường ổn định Mặc dù có nhiều cơ hội phát triển tuy nhiên người nghèo vẫn có nguy cơ duy trì nghèo, và tái nghèo cao, do thiếu năng lực bắt kịp với trình độ phát triển Đối với người nghèo những cơ hội trên có thể trở thành những thách thức, bất lợi
Những biến động của nền kinh tế toàn cầu, của mỗi quốc gia, hay của biến đổi khí hậu đều có những ảnh hưởng rất đáng kể tới các nền kinh tế sở tại hay các nền kinh tế liên quan Có thể nói, những tác động từ các biến động này chủ yếu mang lại nhiều thiệt hại đối với các nền kinh tế trực tiếp hoặc gián tiếp chịu ảnh hưởng Mức độ thiệt hại phụ thuộc vào những mức độ tác động, và phụ thuộc vào năng lực chống chịu của mỗi nền kinh tế Trong bối cảnh này, người dân ít, nhiều đều gánh chịu những ảnh hưởng đó, đặc biệt người nghèo, vì họ thiếu năng lực phòng chống, và khó bình ổn khi gặp phải các cú sốc từ những biến động trên
Đối với lĩnh vực phát triển khoa học - công nghệ, sự bùng nổ của làn sóng khoa học - công nghệ là cả một quá trình dài tích hợp những nguồn tri thức mới Ngoài việc tiếp nhận, tiếp cận, và học hỏi, khoa học - công nghệ còn giúp kích thích, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ trong nước, làm tăng năng suất; chất lượng, và đa dạng hóa sản phẩm… Tuy nhiên, với sự phát triển đa dạng của khoa học – công nghệ hiện nay, việc tiếp cận, lựa chọn,
và vận hành được một công nghệ phù hợp, hiệu quả sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố con người là rất quan trọng để làm chủ được công nghệ Như vậy, dù ở góc độ nào, con người luôn được đặt vào vị trí trọng tâm
Trang 3931
của mọi vấn đề Bởi thế, mỗi một giai đoạn phát triển, các chuẩn mực để đảm bảo chất lượng sống cho con người ngày càng có nhiều khía cạnh chú trọng, đặc biệt đối với người nghèo, người dễ bị tổn thương, được thể hiện thông qua các báo cáo như: Chỉ số phát triển triển con người (HDI), chỉ số nghèo con người (HPI),…
Mặc dù là những tác động gián tiếp đến người nghèo ở đô thị, nhưng những yếu tố của môi trường bên ngoài đều có những ảnh hưởng rất đáng kể đến công cuộc giảm nghèo nói chung, cho từng vùng, từng khu vực nói riêng Trong khi đó, đối với nhiều đô thị ngoài việc nắm giữ những vai trò chủ đạo
về chính trị, kinh tế - xã hội, còn mang lại những đóng góp đầu kéo về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu vực, và quốc gia Đồng thời là khu vực tiếp cận,
và lan tỏa nhanh nhất những cơ hội về khoa học - công nghệ, thông tin, những tiến bộ về phát triển xã hội, tạo ra nhiều cơ hội cho dân cư đô thị về giáo dục, việc làm… Vì vậy, giải quyết các tình trạng nghèo đô thị, nâng cao mức sống cho người nghèo, và đảm bảo chất lượng sống bình đẳng cho mọi người dân khu vực đô thị cần phải xây dựng được các giải pháp giảm nghèo phù hợp
Thứ hai, nhóm yếu tố về chính sách của Chính phủ và địa phương (các chính
sách và công tác tổ chức triển khai, thực hiện hỗ trợ từ chính sách): nghiên cứu không đi vào phân tích sâu ở đây, nhưng rõ ràng các chính sách là một yếu tố rất quan trọng, là một bộ công cụ hữu hiệu để hiện thực các hoạt động trợ giúp, tạo năng lực, thực hiện thành công các mục tiêu giảm nghèo Các chính sách, chương trình giảm nghèo được xây dựng có cơ sở khoa học từ thực tiễn đầy đủ, và toàn diện, các mục tiêu giảm nghèo có tính giải quyết lâu dài và thực thi, cùng với việc triển khai các hoạt động hỗ trợ nghiêm túc sẽ giúp cho người nghèo được tiếp cận đầy đủ các hoạt động trợ cấp, tiếp cận bình đẳng các nguồn lực phân phối của xã hội, tiếp cận được các phương thức xây dựng năng lực, phục hồi và phát triển sinh kế ổn định để thoát nghèo bền vững Đặc biệt, các chính sách của thành phố/địa phương, là những giải pháp
Trang 4032
cơ sở thiết thực nhất Việc triển khai chính sách được thực hiện chặt chẽ, khoa học ngay từ những khâu đầu tiên sẽ bám sát được đối tượng, và đánh giá các vấn đề của nghèo đúng bản chất, các đối tượng nghèo được tiếp cận trợ cấp đầy đủ, đúng quy định… Đây chính là một trong những giải pháp cơ sở hữu hiệu cho GNBV
Các yếu tố nguồn lực (tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất, thiết bị hỗ trợ, tài nguyên, ) là những điều kiện cần thiết, quan trọng giúp triển khai thuận lợi tất cả những kế hoạch, và thực hiện các chương trình giảm nghèo hiệu quả Tuy nhiên, trong thực tế các yếu tố nguồn lực của Chính phủ còn nhiều hạn hẹp so với số lượng người nghèo cần được trợ giúp Do vậy, việc xây dựng và phân bổ nguồn lực cho giảm nghèo cần đảm bảo tính tập trung, công bằng và không dàn trải…
Công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các chương trình giảm nghèo
có thể được coi là những công việc cuối cùng của một quá trình triển khai, và thực hiện các chính sách Nó cho phép nhìn thấy kết quả, và chất lượng của quá trình giảm nghèo, giúp cho quá trình tiếp nhận các phản hồi lại đầy đủ, đúng bản chất Nếu như việc kiểm tra, đánh giá được thực hiện khoa học, chặt chẽ và nghiêm ngặt, sẽ cho thấy những mặt đạt được và mặt còn hạn chế của chính sách và cách thức thực hiện… Đồng thời, giúp cho công việc sửa chữa, điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện chính sách kịp thời, phù hợp tình hình thực tế, cũng như việc thực hiện các kế hoạch giảm nghèo tiếp theo đạt kết quả thực thi
Thứ ba là nhóm yếu tố chủ quan: (i) Năng lực của người nghèo (giáo
dục, trình độ học vấn, các kỹ năng, vốn xã hội ): đây là nhóm các yếu tố rất căn bản, và cần thiết, giúp cho các cá nhân, và hộ nghèo tiếp cận được các cơ hội, xây dựng được phương thức phù hợp để phát triển kinh tế, ổn định sinh
kế vươn lên thoát nghèo bền vững