Phát triển các làng nghề là một trong những mục tiêu quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, nó không chỉ góp phầ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là một công trình nghiên cứu độc lập, do tôi tự nghiên cứu, không sao chép từ các tài liệu sẵn có Các số liệu thu thập được là hoàn toàn trung thực,
có nguồn gốc rõ ràng Tôi tự chịu trách nhiệm về những vấn đề đã được nêu ra trong nội dung luận văn
Tác giả luận văn
Trịnh Kim Thủy
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Tôi xin trân trọng cám ơn các thầy, cô của Trường Đại học Thủy lợi, đặc biệt là Thầy giáo PGS TS Nguyễn Trọng Hoan đã hướng dẫn tận tình, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn thạc sĩ Trân trọng cảm ơn các bạn học cùng lớp và các đồng chí, đồng nghiệp, các cơ quan đơn vị, các tổ chức cá nhân đã giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến để tôi hoàn thành Luận văn thạc sĩ này
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ 5
1.1 Khái quát về làng nghề 5
1.1.1 Khái niệm làng nghề 5
1.1.2 Đặc điểm của làng nghề 6
1.1.3 Phân loại làng nghề 9
1.2 Quản lý nhà nước đối với làng nghề 13
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước 13
1.2.2 Tiêu chí quản lý nhà nước về làng nghề 15
1.2.3 Mục tiêu và nguyên tắc quản lý nhà nước đối với phát triển các làng nghề 19
1.2.4 Nội dung quản lý của Nhà nước đối với với phát triển các làng nghề 24
1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với phát triển các làng nghề 33
1.3.1 Kinh Nghiệm quản lý với phát triển các làng nghề một số địa phương 33
1.3.2 Bài học rút ra đối với huyện Phú Lương 37
1.4 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 37
Kết luận chương 1 39
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN 40
2.1 Quá trình phát triển làng nghề huyện Phú Lương giai đoạn 2013 đến 2018 40
Trang 42.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội tự nhiên huyện Phú Lương, Thái
Nguyên 40
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của các làng nghề trên địa bàn Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 41
2.1.3 Đặc thù sản phẩm và thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 43
2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 46
2.2.1 Thực trạng nhu cầu thị trường đối với sản phẩm làng nghề huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 46
2.2.2 Thực trạng tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 48
2.2.3 Đánh giá kết quả hoạt động của làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 52
2.3 Thực trạng quản lý phát triển các làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 56
2.3.1 Tổ chức bộ máy quản lý của chính quyền huyện đối với các làng nghề huyện Phú Lương 56
2.3.2 Thực trạng thực hiện các nội dung và công cụ QLNN đối với làng nghề huyện Phú Lương 58
2.3.3 Thực trạng kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý các làng nghề của huyện Phú Lương 69
2.3.4 Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lý NN các làng nghề huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 70
2.3.5 Thực trạng các chính sách hỗ trợ đối với phát triển các làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương 72
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý phát triển các làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương 76
2.4.1 Những thành công 76
2.4.2 Những tồn tại hạn chế và nguyên nhân 76
Kết luận chương 2 79
Trang 5CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN 80
3.1 Định hướng và mục tiêu thúc đẩy phát triển các làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương 80
3.1.1 Phương hướng phát triển làng nghề huyện Phú Lương 80
3.1.2 Mục tiêu phát triển làng nghề huyện Phú Lương 80
3.2 Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước của chính quyền huyện đối với các làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương 81
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy và nhân sự quản lý làng nghề 81
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện các nội dung của QLNN đối với phát triển các làng nghề 82
3.2.3 Giải pháp hoàn thiện các công cụ quản lý đối với phát triển các làng nghề 87
3.2.4 Giải pháp về cơ chế chính sách đối với phát triển các làng nghề88 3.2.5 Giải pháp về phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề 94 3.2.6 Các giải pháp khác 95
Kết luận chương 3 100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về làng nghề 56 Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về làng nghề huyện Phú Lương 56
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các văn bản về chính sách phát triển đối với làng nghề 27
Bảng 2.1 Nhân khẩu và lao động huyện Phú Lương năm 2018 40
Bảng 2.2Tình hình phát triển làng nghề huyện Phú Lương năm 2018 42
Bảng 2.3 Quy mô vốn trung bình của một số làng nghề 48
Bảng 2.4Mức độ sử dụng công nghệ ở các cơ sở làng nghề trong tổng số 3.208 hộ 49 Bảng 2.5 Số hộ hoạt động trong các làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương 50
Bảng 2.6 Giá trị sản xuất làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương năm 2018 53
Bảng 2.7 Doanh thu của các làng nghề giai đoạn 2016-2018 53
Bảng 2.8 Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề năm 2018 54
Bảng 2.9 Đánh giá các nội dung QLNN về làng nghề 70
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Các làng nghề Việt Nam đã và đang đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn, giúp giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân, góp phần vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn Việt Nam Trong xu thế toàn cầu hoá cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, các làng nghề có những cơ hội để phát triển, nhưng cũng có không ít khó khăn, thách thức phải đối mặt Thách thức lớn nhất mà các làng nghề phải đối mặt là tìm ra một hướng đi đúng đắn để tồn tại và phát triển Bên cạnh đó, nhà nước cũng cần phải có những chính sách ưu đãi để tháo gỡ bớt những khó khăn nhằm tiếp sức thêm cho các làng nghề vượt qua những khó khăn trước mắt từ đó tạo đà phát triển đi lên góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, xây dựng nông thôn mới
Địa hình huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tương đối phức tạp, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 100m đến 400m Các xã ở vùng phía Bắc và Tây Bắc của huyện có nhiều núi cao, độ cao trung bình từ 300m đến 400m, độ dốc phần lớn trên 20%; thảm thực vật dầy, tán che phủ cao, phần nhiều lá rừng xanh quanh năm Các xã ở vùng phía Nam của huyện địa hình bằng phẳng hơn, có nhiều đồi và núi thấp, độ dốc thường Dưới 15% Đây là vùng địa hình mang tính chất của vùng trung du nhiều đồi, ít ruộng Từ phía Bắc xuống phía Nam huyện, độ cao giảm dần Nhìn chung địa hình của huyện thuận lợi cho việc phát triển mạng lưới giao thông, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới khu dân cư, các khu công nghiệp, TTCN Trong bối cảnh phát triển kinh tế mới đang đưa đến nhiều điều kiện thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện Để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nói chung và công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn nói riêng như đã đề ra UBND huyện xác định các làng nghề là tiềm năng, là thế mạnh của huyện trong phát triển kinh tế xã hội nói chung và tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn của huyện nói riêng
Trang 10Phát triển các làng nghề là một trong những mục tiêu quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, nó không chỉ góp phần tạo việc làm lúc nông nhàn mà còn tạo nên những dấu
ấn, bản sắc văn hoá của mỗi địa phương qua các sản phẩm văn hoá lưu giữ từ đời này sang đời khác Từ cuối năm 2015 đến nay, sản xuất của các làng nghề của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên gặp nhiều khó khăn Vấn đề đặt ra cho Đảng bộ, Chính quyền địa phương đó là cần nâng cao chất lượng trong công tác quản lý nhà nước đối với các làng nghề Vì vậy, nghiên cứu đề ra những giải pháp đổi mới quản lý nhà nước để thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương đang
là đòi hỏi khách quan và cấp thiết Xuất phát từ nhận thức đó, tác giả chọn đề tài:
“Giải pháp quản lý phát triển các làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” để nghiên cứu
Luận văn tập trung vào trả lời câu hỏi: “ Thực trạng phát triển và quản lý nhà nước đối với các làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên thời gian qua như thế nào? Giải pháp để hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý phát triển các làng trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế,
xã hội và nâng cao thu nhập cho người dân Đồng thời, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước đối với các Làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và đề xuất giải pháp hoàn thiện về công tác quản lý nhà nước đối với làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là hoạt động quản lý phát triển các làng nghề của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Trang 11- Về không gian: Nghiên cứu các làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra
- Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả luận văn có thể là tài liệu tham khảo tốt cho huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên trong công tác quản lý phát triển các làng nghề
6 Các kết quả đạt được của luận văn
- Hệ thống hóa và làm rõ các nội dung về cơ sở lý luận và thực tiễn việc quản lý phát triển các làng nghề
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc quản lý phát triển các làng nghề của huyện Phú
Trang 12Lương, tỉnh Thái Nguyên, nêu các tồn tại và nguyên nhân
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý phát triển các làng nghề của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
7 Nội dung, kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý và phát triển các làng nghề
Chương 2: Thực trạng quản lý phát triển các làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương,
tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý phát triển các làng nghề của huyện
Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ
Còn “nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội.” [1]
Ban đầu, trong một làng, phần lớn người dân đều làm nông nghiệp Càng về sau có những
bộ phận dân cư sống bằng nghề khác Họ liên kết chặt chẽ với nhau, khiến cho nông thôn
Việt Nam có thêm một tổ chức theo nghề nghiệp, tạo thành các phường hội như phường gốm, phường đúc đồng, phường dệt vải … Từ đó mà các nghề được lan truyền và phát triển thành làng nghề Bên cạnh những người chuyên làm nghề thì đa phần vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề (nghề phụ), nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hoá mà các nghề mang tính chuyên môn cao hơn và thường chỉ giới hạn trong qui mô nhỏ (làng) Các nghề mang tính chuyên môn cao dần tách khỏi nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công Càng về sau, xu thế người lao động tách khỏi nghề nông để chuyển sang làm nghề thủ công và sống bằng chính nghề đó ngày một tăng Những làng nghề phát triển mạnh, số hộ lao động làm nghề truyền thống tăng nhanh và sống bằng nghề đó ngày càng nhiều
Từ cách tiếp cận đó, các nhà nghiên cứu có đưa ra một số khái niệm về làng nghề: Trong cuốn “phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp - hóa hiện
đại hóa” của TS Mai Thế Hởn khái niệm về làng nghề được hiểu như sau: Làng nghề
là cụm dân cư sinh sống trong một thôn, có một hay một số nghề tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập Thu nhập từ các ngành đó chiếm tỷ lệ cao trong tổng số thu nhập.[2]
Cũng dựa trên khái niệm làng nghề của TS Mai Thế Hởn, TS Đỗ Quang Dũng đã phân
tích sâu hơn về mặt thu nhập từ đó đưa ra khái niệm: Làng nghề là làng ở nông thôn
Trang 14có một hay có một số nghề thủ công hầu như được tách hẳn khỏi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỷ lệ nhất định về lao động làm nghề cũng như mức thu nhập từ nghề so với tổng số thu nhập và lao động của làng nghề
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lại đưa ra khái niệm làng nghề như sau:
“Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” []
Như vậy, chúng ta thấy rằng: chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh và thống nhất về
“làng nghề” Theo tác giả, làng nghề được hiểu là khối dân cư ở nông thôn hình thành
nên một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt, có một hay một số nghề thủ công hầu
như được tách hẳn khỏi nông nghiệp, thu hút được tỷ lệ lao động nhất định từ đó tạo ra mức thu nhập chiếm phần lớn tổng thu nhập của làng nghề
Làng nghề bao gồm: làng nghề truyền thống và làng nghề mới
Làng nghề truyền thống: là những thôn, làng làm nghề thủ công truyền thống có từ lâu
đời, qua nhiều năm, nhiều thế kỷ và các bí quyết của nghề được giữ bí mật và lưu truyền từ đời này sang đời khác
Làng nghề mới: là những làng nghề được hình thành do nhu cầu phát triển kinh tế mà
một số đông các hộ tham gia chuyên sản xuất một mặt hàng nào đó [4]
Dù là làng nghề truyền thống hay làng nghề mới đều có vai trò quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp nông thôn; đồng thời thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của nước ta
1.1.2 Đặc điểm của làng nghề
Huyện Phú Lương là một trong 9 huyện, thành thị của tỉnh Thái Nguyên, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái Nguyên Phía Đông Bắc giáp huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn, phía Tây Bắc giáp với huyện Định Hóa, Phía Tây Nam giáp huyện Đại Từ, Phía Đông giáp huyện Đồng Hỷ, phía Nam giáp Thành phố Thái Nguyên Có diện tích tự nhiên là 350,72 km2, được chia thành 15 đơn vị hành chính (13 xã và 2 thị trấn) Huyện lỵ là Thị trấn Đu, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 22km [5]
Trang 15Là một huyện thuộc trung du miền núi phía Bắc có nhiều núi đá vôi xen kẽ núi đất nên các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu của Phú Lương là tài nguyên đất, tài nguyên làm vật liệu xây dựng, tài nguyên rừng, than đá ở Phấn Mễ, quặng Titan ở Động Đạt
và tài nguyên du lịch…
1.1.2.1 Hoạt động làng nghề gắn liền với làng quê và sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp gắn liền với đời sống của xã hội loài người từ thủa sơ khai Phương thức sản xuất sơ khai đầu tiên chủ yếu là săn bắt và hái lượm Cuộc sống con người ban đầu chủ yếu dựa vào xuất nông nghiệp và thường là các làng thuần nông Tuy nhiên, trong những lúc nông nhàn của thời vụ người nông dân đã biết tận dụng những nguyên liệu sẵn có (tre, nứa, mây, rơm ) tự tay làm ra một số loại sản phẩm Các sản phẩm này ban đầu chỉ để phục vụ cho những nhu cầu sinh hoạt hàng ngày (rổ, rá, nón, chổi, ) Về sau, khi lực lượng lao động tăng lên, một bộ phận đã tách dần ra làm và sống bằng nghề thủ công đó Lực lượng sản xuất phát triển tới một mức nào hình thành sự chuyên môn hóa sản xuất đối với từng sản phẩm cụ thể, ngành tiểu thủ công nghiệp ra đời và tách thành một ngành độc lập và trở thành ngành sản xuất chính ở một số làng và hình thành nên làng nghề Ở trong các làng nghề, đại bộ phận các hộ chuyên làm nghề tiểu thủ công nghiệp vẫn tham gia sản xuất nông nghiệp Như vậy, làng nghề và sản xuất nông nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Các làng nghề tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động lúc nông nhàn, đồng thời nó giải phóng bớt khỏi nông nghiệp sức lao động của các hộ nông dân và khai thác nguồn nguyên liệu tại chỗ từ sản phẩm nông nghiệp
Làng nghề ở Việt Nam có bề dày về lịch sử và đa dạng về sản phẩm Hiện nay, làng nghề Việt Nam có khoảng hơn 200 loại sản phẩm và phát triển hầu hết ở các tỉnh, thành phố trong cả nước Sản phẩm của làng nghề đa dạng về chủng loại và ngành nghề trong đó ngành nghề tiểu thủ công nghiệp không chỉ sản xuất hàng tiêu dùng mà còn sản xuất ra nhiều loại hàng hóa khác nhau nhằm cung cấp cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và cho xuất khẩu
1.1.2.2 Hình thức sản xuất của làng nghề ngày càng đa dạng
Ở giai đoạn mới hình thành, hình thức tổ chức sản xuất ở các làng nghề chủ yếu là hộ gia đình có quan hệ huyết thống gắn với các phường nghề như: phường gốm, phường vải, phường mộc, phường đúc đồng
Trang 16Trong thời kỳ bao cấp, các làng nghề được tổ chức thành “đội ngành nghề” của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp như: đội gốm, đội mộc, đội nề, đội làm sơn mài,… Địa phương nào tập trung nhiều thợ thủ công thì thành lập hợp tác xã thủ công nghiệp Trong giai đoạn hiện nay đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước là phát triển kinh tế nhiều thành phần, phát huy tối đa nội lực của các thành phần kinh tế Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách ưu đãi đầu tư khuyến khích phát triển các ngành nghề liên quan đến lĩnh vực phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nông thôn nên hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh ở các làng nghề cũng
có sự thay đổi Song song với sự tồn tại của hình thức sản xuất hộ gia đình theo kiểu truyền thống đã xuất hiện các hình thức mới như: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, các hình thức hợp tác và hợp tác xã,… Các hình thức tổ chức này được pháp luật thừa nhận nên sản xuất kinh doanh ở các làng nghề ngày càng đa dạng về quy
mô, phong phú về chủng loại sản phẩm Sản phẩm sản xuất ra không những đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn phục vụ xuất khẩu đặc biệt là các mặt hàng như: Thủ công mỹ nghệ, gốm sứ, đồ gỗ cao cấp, dệt,…
1.1.2.3 Đặc trưng sản phẩm làng nghề gắn liền địa phương
Mỗi sản phẩm làng nghề gắn với một làng nghề cụ thể, do đó mang đậm nét độc đáo của địa phương Sự khéo léo của đôi bàn tay cùng với óc thẩm mỹ của người nghệ nhân đã tạo
ra sản phẩm thủ công độc đáo Vì vậy, mỗi một sản phẩm làm ra không chỉ chứa đựng công sức, sự tài hoa của người nghệ nhân mà còn mang những nét bản sắc đặc trưng không thể thay thế của địa phương
Sản phẩm làng nghề thường có tính riêng biệt, mang đặc thù, có giá trị văn hóa lịch sử của địa phương được nhiều nơi biết đến
1.1.2.4 Lao động chủ yếu bằng thủ công
Thời kỳ ban đầu khi kỹ thuật công nghệ còn thô sơ, lạc hậu thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều do lao động thủ công đảm nhận Đặc trưng cơ bản của người thợ thủ công là tự định đoạt lấy mọi công việc kể cả cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ các sản phẩm làm ra Công việc có thể tiến hành độc lập hay cùng với một số người trong gia đình, dòng họ hoặc một số người học
Trang 17việc Lao động thủ công trong các công đoạn này quyết định chất lượng và đặc trưng của sản phẩm được sản xuất ra [20]
Ngày nay, nhiều làng nghề đã biết sử dụng máy móc và công nghệ trong sản xuất Tuy nhiên, một số công đoạn lao động thủ công vẫn được giữ gìn và chính công đoạn lao động thủ công mang lại đặc thù cho các sản phẩm làng nghề
Việc dạy nghề theo phương thức truyền nghề từ đời này sang đời khác, tuy nhiên việc đào tạo nghề hiện nay có sự kết hợp với phương thức mới, mở các trường, lớp đào tạo nghề nhưng đồng thời vừa học, vừa làm, có sự truyền nghề của các nghệ nhân, thợ cả đối với thợ phụ, thợ học việc
1.1.2.5 Thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề rộng rãi, đa dạng và được hình thành
từ nhu cầu tiêu dùng
Số lượng và chủng loại sản phẩm của làng nghề ngày càng đa dạng tỷ lệ thuận với sự
đa dạng về nhu cầu sử dụng Nhu cầu tiêu dùng thường được phân chia thành các nhóm sau:
+ Sản phẩm tiêu dùng dân dụng: Được tiêu dùng khá phổ biến ở các tầng lớp dân cư Đối với loại sản phẩm này, tiền công lao động thấp nên giá thành sản phẩm thấp, sản phẩm phù hợp với khả năng và điều kiện kinh tế, tâm lý và thói quen của đa số người tiêu dùng + Sản phẩm mỹ nghệ cao cấp: Khi cuộc sống nâng cao nên tiêu dùng sản phẩm cao cấp nhiều hơn Vì vậy nhu cầu về sản phẩm này ngày càng tăng, không chỉ về số lượng và chủng loại sản phẩm mà còn về chất lượng sản phẩm
+ Sản phẩm xuất khẩu: Bao gồm cả sản phẩm dân dụng và sản phẩm thủ công mỹ nghệ Sản phẩm gốm sứ, đồ mộc được tiêu thụ với khối lượng ngày càng lớn ở Đài Loan, Úc, Nhật Bản Sản phẩm mỹ nghệ khảm trai, ốc, mây tre đan được tiêu thụ rộng khắp ở châu Âu [21]
1.1.3 Phân loại làng nghề và vai trò của làng nghề trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn
Có nhiều tiêu chí để phân loại làng nghề
- Phân loại theo số lượng nghề
Trang 18+ Làng một nghề: Làng ngoài nghề nông ra chỉ có một nghề thủ công duy nhất
+ Làng nhiều nghề: Làng ngoài nghề nông ra còn có một số hoặc nhiều nghề khác
- Phân loại theo tính chất nghề
+ Làng nghề truyền thống: Làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay
+ Làng nghề mới: Làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của các làng nghề truyền thống hoặc được du nhập từ các địa phương khác Ngay các làng nghề truyền thống cũng
có sự đan xen giữa nghề mới và nghề truyền thống
- Phân loại theo đặc điểm sản phẩm làng nghề
+ Làng nghề chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ: Gốm, sứ, dệt tơ tằm, chạm khắc
* Các làng nghề tạo ra khối lượng hàng hóa phong phú và đa dạng phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Theo báo cáo của Tổng cục thống kê, hiện nay số lượng mặt hàng của các làng nghề ở Việt Nam đạt khoảng trên 200 mặt hàng, phần lớn sản phẩm được tiêu dùng nội địa và một phần xuất khẩu ra nước ngoài Tỷ lệ hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ngày càng tăng Sản phẩm của làng nghề đã có mặt ở khoảng 100 nước và vùng lãnh thổ, chưa kể
Trang 19số lượng khá lớn xuất khẩu trực tiếp qua đường tiểu ngạch Thị trường trong nước nay cũng được mở rộng và phát triển do chất lượng sản phẩm và mẫu mã luôn được đổi mới phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Việc mở rộng thị trường là nhân tố quyết định của sự phát triển và tồn tại của làng nghề
Với chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn được hình thành nhiều hơn trong quá trình phát triển làng nghề Xu hướng tất yếu mới trong các làng nghề là hướng vào những sản phẩm có
kỹ thuật cao, thị trường tiêu thụ rộng, đẩy mạnh hội nhập kinh tế trong khu vực và trên thế giới
* Làng nghề góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động ngành nông nghiệp
Sự phát triển của làng nghề tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động ở địa phương Cơ cấu lao động ở những vùng, làng, xã có nghề đã thực sự chuyển đổi mạnh
mẽ, phân công lao động hợp lý hơn do yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Sự phát triển của làng nghề gắn liền với sự đa dạng hóa sản phẩm, điều này đã tác động tích cực góp phần tăng tỷ trọng sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp
Sự phát triển của làng nghề thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển một bộ phận lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, từ lao động giản đơn sang lao động có kỹ thuật, từ lao động năng suất thấp thành lao động có năng suất cao [19]
* Làng nghề góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
Đặc điểm của lao động nông thôn ở Việt Nam phần lớn nằm trong khu vực kinh tế phi chính thức, tính ổn định không cao (95,7% không có hợp đồng lao động) Thu nhập của lao động nông thôn còn thấp, số lao động tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Trang 20không nhiều, rủi ro trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp rất lớn Khả năng tự tạo việc làm và xúc tiến việc làm của lao động nông thôn không cao Do vậy, tạo việc làm
và xúc tiến việc làm và đào tạo nghề cho lao động nông thôn chủ yếu dựa vào các chương trình đầu tư công của Chính phủ
Tình trạng thiếu việc làm đang là vấn đề thời sự đối với lao động nông thôn Khu vực nông thôn tập trung đại bộ phận lực lượng lao động của cả nước Tốc độ tăng khoảng hơn 2,5%/năm Thời gian lao động trung bình chưa sử dụng của cả nước có xu hướng giảm xuống, nếu năm 2004 là 29,2% thì năm 2006 còn 24,46% Với lực lượng lao động ở nông thôn năm 2006 là 40,98 triệu người và thời gian lao động chưa sử dụng trung bình cả nước là 24,46%, nếu quy đổi thì sẽ tương đương khoảng 7,5 triệu người không có việc làm (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội - Viện Khoa học lao động và Xã hội, 2008) [7] Giải quyết việc làm tại chỗ “Ly nông bất ly hương” đang là sách lược của Đảng và Nhà nước Phát triển làng nghề là một trong những công cụ then chốt để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, góp phần tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống cho lao động nông thôn
* Làng nghề góp phần nâng cao vật chất, đời sống tinh thần cho nhân dân và xây dựng nông thôn mới
Theo số liệu nghiên cứu, thu nhập trung bình của khu vực phi nông nghiệp cao hơn 3-4 lần so với khu vực nông nghiệp Thu nhập từ các hoạt động đa ngành nghề phi nông nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của hộ gia đình Điều đó càng khẳng định chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển làng nghề là hoàn toàn đúng đắn
Sự phát triển của làng nghề gắn liền với sự phát triển hạ tầng cơ sở phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề như điện, đường, trường, trạm,…; phát triển làng nghề là giải pháp đồng bộ trong gói các giải pháp để thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới
* Làng nghề góp phần bảo tồn và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Mỗi một làng nghề là một địa chỉ phản ánh nét văn hoá độc đáo của từng địa phương Nét văn hoá của làng nghề thể hiện qua các nét độc đáo của từng sản phẩm, các lễ hội,
Trang 21các phong tục tập quán của làng nghề Đặc biệt là ở các làng nghề truyền thống, các sản phẩm được làm bằng bàn tay tài hoa của các nghệ nhân với các nguyên liệu mang đậm dấu ấn địa phương và đất nước con người Việt Nam Ngoài ra, tại các làng nghề truyền thống thường tổ chức các nghi lễ tôn vinh và tưởng nhớ các vị tổ nghề Đây chính là hoạt động mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam Nói cách khác phát triển làng nghề góp phần duy trì các sản phẩm truyền thống và gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Hiện nay, theo thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, cả nước có 5.411 làng nghề và làng có nghề trong đó có gần 2000 làng nghề đã được công nhận, trên 400 làng nghề truyền thống với hơn 53 nhóm nghề Riêng Thủ đô Hà Nội có 1.350 làng nghề đã được công nhận, hàng trăm làng nghề, phố nghề truyền thống Việt Nam ước tính có khoảng hơn 200 loại sản phẩm thủ công khác nhau trong đó rất nhiều sản phẩm có lịch sử phát triển hàng trăm, hàng nghìn năm: Tơ lụa Vạn Phúc, The La khê, Đồng Ngũ Xã, gỗ mỹ nghệ Sơn Đồng, Thêu Quất Động, đúc Huế, Ý ên, Đại Bái, Ngũ Xã, Phước Kiều, Mây Tre đan Phú Vinh, Phú Túc, Chàng Sơn, Gốm Sứ Bát Tràng, Chu Đậu, Thổ Hà, Bầu Trúc, Kim Hoàn Định Công, Đồng Xâm, Châu Khê, Khảm Chuôn Ngọ, Mộc Kim Bồng, Thổ cẩm Mai Châu, Dừa Bến Tre, đồ chơi dân gian, nhạc cụ dân tộc…[8]
1.2 Quản lý nhà nước đối với làng nghề
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước
Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước, trước hết cần làm rõ khái niệm “quản lý” Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội
Theo quan niệm của C.Mác: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào
đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này
Trang 22khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng”
Tức theo C.Mác, quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất Ở đây Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc
Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu
Xuất phát từ khái niệm quản lý: Quản lý là một quá trình, trong đó chủ thể quản lý tổ chức, điều hành, tác động có định hướng, có chủ đích một cách khoa học và nghệ thuật vào khách thể quản lý nhằm đạt kết quả tối ưu theo mục tiêu đã đề ra thông qua việc sử dụng các phương pháp và công cụ thích hợp Quản lý Nhà nước được hiểu
là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước
Ngoài ra, quản lý Nhà nước còn được tiếp cận theo các lĩnh vực và các mặt cụ thể của quản lý Đó là một hệ thống tổng thể bao gồm các yếu tố: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, nguyên tắc tổ chức, cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ phục vụ cho công tác quản lý, môi trường hoạt động của các lĩnh vực trong đời sống kinh
tế - xã hội
Trang 231.2.2 Tiêu chí quản lý nhà nước về làng nghề
Căn cứ Nghị định số 52/2018/NĐ-CP, ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn: [9]
Tiêu chí quản lý nhà nước về làng nghề:
Theo quy định của nhà nước thì tiêu chí quản lý nhà nước về làng nghề để đánh giá thì: Ở Trung ương là các bộ ngành có liên quan chịu trách nhiệm giúp Chính phủ quản lý nhà nước về làng nghề và phát triển làng nghề Ở cấp tỉnh là các sở ngành có liên quan chịu trách nhiệm giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về làng nghề và phát triển làng nghề
Ở cấp huyện là các phòng, ban có liên quan chịu trách nhiệm giúp UBND cấp huyện quản
lý nhà nước về làng nghề và phát triển làng nghề Ở cấp xã là các các bộ chuhyeen môn chịu trách nhiệm trực tiếp giúp UBND cấp xã quản lý nhà nước về làng nghề và phát triển làng nghề
Thứ nhất, phải có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn
Thứ hai, hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận
Thứ ba, chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước
Quản lý phát triển làng nghề nông thôn trên các lĩnh vực:
- Mặt bằng sản xuất
- Về đầu tư, tín dụng
- Xúc tiến thương mại
- Khoa học công nghệ
- Đào tạo nhân lực
- Hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn
- Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề
Trang 24- Hỗ trợ phát triển làng nghề
Tổ chức thực hiện
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan quản lý nhà nước về làng nghề, ngành nghề nông thôn tại trung ương có quyền hạn, trách nhiệm:
- Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức chỉ đạo thực hiện quản lý nhà nước đối với làng nghề, ngành nghề nông thôn
- Xây dựng và ban hành các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn; bảo tồn và phát triển làng nghề
- Chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, đề án, dự án hỗ trợ phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn
- Hàng năm, xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí phát triển ngành nghề nông thôn gửi
cơ quan tài chính cùng cấp để tổng hợp vào phương án phân bổ ngân sách trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định của Luật ngân sách nhà nước
- Thanh tra, kiểm tra, đánh giá định kỳ hoặc đột xuất việc thực hiện chính sách, pháp luật, hiệu quả hoạt động của các làng nghề và các cơ sở ngành nghề nông thôn
Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Chỉ đạo, ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở ngành nghề nông thôn được giao đất, thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai
- Xây dựng và ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược, kế hoạch bảo vệ môi trường và quy chuẩn kỹ thuật về môi trường đối với làng nghề; nghiên cứu, ứng dụng và phổ biến công nghệ
xử lý môi trường phù hợp với làng nghề để khuyến khích phát triển các ngành nghề nông thôn sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường, hạn chế phát sinh chất thải và đảm bảo các điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, hạn chế hình thành và phát triển các loại hình có tiềm năng gây ô nhiễm môi trường cao
Trang 25- Chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các bộ, ngành và địa phương có liên quan ban hành danh mục làng nghề bị ô nhiễm môi trường cần xử lý
Bộ Công Thương
- Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chương trình, kế hoạch khuyến công; hướng dẫn, tổ chức triển khai thực hiện, kiểm tra, đánh giá định kỳ hoặc đột xuất việc thực hiện các
cơ chế, chính sách sau khi được ban hành
- Tổ chức thực hiện hoạt động phát triển cụm công nghiệp, chương trình hỗ trợ đầu tư
hạ tầng cụm công nghiệp theo quy định của pháp luật;
- Hàng năm xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí hoạt động khuyến công từ nguồn ngân sách trung ương, trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện theo quy định
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu, giới thiệu, phổ biến công nghệ sản xuất thân thiện môi trường đối với làng nghề, cơ sở ngành nghề nông thôn
Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các đơn vị có liên quan cân đối, bố trí vốn từ ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác để thực hiện các chính sách theo quy định tại Nghị định này
- Bộ Tài chính: Hướng dẫn, cân đối, bố trí nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác để hỗ trợ cho hoạt động phát triển ngành nghề nông thôn trong kế hoạch hằng năm theo quy định hiện hành và quy định tại Nghị định này
Trang 26- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Hướng dẫn chỉ đạo, kiểm tra, tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ về đào tạo nghề, giải quyết việc làm và thực hiện các quy định về lao động, an toàn vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội để phát triển ngành nghề nông thôn
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Chỉ đạo phát triển du lịch gắn với làng nghề; tổ chức các hoạt động xúc tiến du lịch, hỗ trợ phát triển hạ tầng du lịch làng nghề, khuyến khích phát triển dịch vụ và sản phẩm
du lịch làng nghề
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
- Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về làng nghề, ngành nghề nông thôn tại địa phương; rà soát các văn bản quy định của địa phương phù hợp với quy định tại Nghị định này; xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, quy định mức chi và bố trí nguồn vốn từ ngân sách địa phương hàng năm để hỗ trợ đầu tư phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn
- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các chính sách, quy hoạch phát triển, bảo vệ môi trường làng nghề, ngành nghề nông thôn và định hướng bảo tồn, phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn; định kỳ 5 năm một lần, rà soát, thống kê, phân loại, lập quy hoạch (hoặc kế hoạch quản lý) phát triển ngành nghề nông thôn tại địa phương cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn
- Chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước đối với làng nghề, ngành nghề nông thôn Hàng năm, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp huyện hướng dẫn xây dựng và tổng hợp kế hoạch phát triển ngành nghề nông thôn, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt trong kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn địa phương
- Chỉ đạo các sở, ban, ngành và địa phương quản lý việc công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống; hướng dẫn cụ thể về tiêu chí bản sắc văn hóa dân tộc đối với các nghề truyền thống, làng nghề truyền thống để xem xét, công nhận; rà
Trang 27soát, lập danh sách làng nghề được công nhận; thực hiện công tác bảo vệ môi trường làng nghề; đầu tư, nâng cấp các hạng mục công trình xử lý chất thải cho làng nghề, cơ
sở ngành nghề nông thôn
- Phổ biến, tuyên truyền chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn để các tổ chức, cá nhân có nhu cầu thực hiện các chương trình, đề án, dự án hoặc các hoạt động có liên quan đến phát triển ngành nghề nông thôn tiếp cận các nguồn lực, chính sách hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn
- Chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí phát triển ngành nghề nông thôn gửi cơ quan tài chính cùng cấp tổng hợp vào phương án phân bổ ngân sách, trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định của Luật ngân sách nhà nước
- Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng, tổng hợp dự toán kinh phí phát triển ngành nghề nông thôn vào dự toán ngân sách hàng năm của địa phương, trình cơ quan
có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật Ngoài nguồn kinh phí bố trí trực tiếp thực hiện chính sách này, các địa phương có trách nhiệm bố trí, cân đối thêm từ các nguồn kinh phí các chương trình, dự án khác và nguồn hỗ trợ từ các tổ chức quốc
tế để hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn
- Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về phát triển ngành nghề, làng nghề nông thôn
Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp
Tăng cường phối hợp với các cơ quan Nhà nước có liên quan, các tổ chức trong và ngoài nước thực hiện có hiệu quả việc bảo tồn và phát triển nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống thông qua các chương trình, dự án về phát triển ngành nghề nông thôn
1.2.3 Mục tiêu và nguyên tắc quản lý nhà nước đối với phát triển các làng nghề
1.2.3.1 Mục tiêu quản lý nhà nước đối với các làng nghề
Như trên đã trình bày ở trên, LN có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế khu vực nông thôn Chính vì thế, quản lý nhà nước không phải chỉ nhằm kiểm soát LN
Trang 28mà quan trọng hơn là nhằm phát triển LN và các cơ sở sản xuất kinh doanh trong LN theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, quốc gia Theo giác độ đó, có thể thấy, quản lý nhà nước đối với các LN nhằm các mục tiêu cụ thể sau:
a Tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư và phát triển làng nghề
LN có vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, cung cấp công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người nông dân từ đó góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn Vì thế, mục tiêu hàng đầu của Nhà nước khi thiết lập cơ chế quản lý LN là phải tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư bỏ vốn xây dựng và vận hành hiệu quả các doanh nghiệp, các cơ sở trong LN Để đạt được mục tiêu này, Nhà nước, ngoài ban hành
và thực hiện các chính sách ưu đãi cho các dự án quy hoạch, phát triển làng nghề, còn tích cực hỗ trợ DN, cơ sở sản xuất nghề về thủ tục hành chính, về cơ sở hạ tầng….[15]
b Sử dụng quỹ đất một cách hiệu quả
Đất xây dựng CCN LN thường là đất có giá trị kinh tế cao, có thể dung để kinh doanh các ngành phi NN hoặc là đất đô thị Trong điều kiện quỹ đất có giá trị kinh tế ngày càng hạn hẹp thì sử dụng đất để xây dựng CCN LN một cách hiệu quả là mục tiêu quan trọng thứ hai trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này Để sử dụng đất một cách hiệu quả, Nhà nước thường phải quy hoạch xây dựng các CCN LN có tính lâu dài, kết hợp được các yêu cầu về phát triển LN với các yêu cầu khác của phát triển kinh tế - xã hội
c Sử dụng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng một cách hiệu quả
Thường nhu cầu đầu tư vào cơ sở hạ tầng rất lớn mà khả năng của Nhà nước và tư nhân không thể đáp ứng đầy đủ Do đó, để sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư vào cơ
sở hạ tầng khu vực LN, một mặt, Nhà nước phải có kế hoạch, chương trình, dự án đầu
tư vốn nhà nước hiệu quả; mặt khác, Nhà nước phải có chính sách khuyến khích tư nhân đầu tư hiệu quả vào khu vực kinh tế làng nghề
d Bảo vệ môi trường sinh thái
Ưu tiên cho phát triển LN, nhưng quản lý nhà nước đối với LN còn có mục tiêu ngăn ngừa các hoạt động thái quá của các cơ sở sản xuất nghề làm ảnh hưởng đến môi
Trang 29trường Nếu không có các biện pháp buộc các cơ sở sản xuất phải đảm bảo yêu cầu xử
lý chất thải và áp dụng công nghệ bảo vệ môi trường thì các lợi ích ngắn hạn từ phát triển LN có thể không đủ bù đắp cho những thiệt hại môi trường về lâu dài Hơn nữa, các cơ sở sản xuất nghề, vì lợi nhuận, có thể tiết kiệm chi phí xử lý chất thải và tìm cách thải ra môi trường xung quanh Do trong khu vực LN các cơ sở sản xuất nghề tập trung với mật độ cao, nên nếu Nhà nước không có biện pháp răn đe và phòng ngừa hữu hiệu thì các cơ sở này có thể trốn tránh nghĩa vụ bảo vệ môi trường của họ Vì thế, ngày nay, bảo vệ môi trường trong và ngoài LN trở thành mục tiêu không kém phần quan trọng của quản lý nhà nước
e Tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Đây là mục tiêu quan trọng của quản lý nhà nước đối với LN Bởi vì, xét cho cùng, phát triển LN phải nhằm phục vụ tốt hơn cuộc sống của dân cư Một trong những điều kiện để dân cư sống tốt hơn là có việc làm và các quyền cơ bản được bảo vệ Do đó, ngoài chính sách khuyến khích các cơ sở sản xuất nghề trong làng nghề sử dụng lao động địa phương, Nhà nước còn ban hành các quy định pháp lý bảo vệ quyền của người lao động, nhất là về lương, bảo hộ lao động và giải quyết tranh chấp [16]
1.2.3.2 Các nguyên tắc quản lý nhà nước đối với các làng nghề
a Thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế (ưu tiên chính trị)
Thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế, đảm bảo quan hệ đúng đắn giữa kinh tế và chính trị và tạo được động lực cùng chiều cho mọi người dân trong xã hội là một trong những nguyên tắc cơ bản của quản lý kinh tế có căn cứ khoa học trong phạm vi quốc gia
b Tập trung dân chủ
Phải đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung dân chủ trong quản lý kinh
tế Tập trung phải trên cơ sở dân chủ, dân chủ phải thực hiện trong khuôn khổ tập trung Thông qua hệ thống kế hoạch; thông qua hệ thống pháp luật và chính sách quản
lý kinh tế; thực hiện chế độ một chủ chương ở tất cả các đơn vị, các cấp
Trang 30c Kết hợp hài hòa các lợi ích xã hội
Quản lý kinh tế trước hết là quản lý con người, là tổ chức mang tính tích cực trong lao động Con người có những lợi ích, những nguyện vọng và những nhu cầu nhất định
Do đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý phải chú ý đến lợi ích của con người để khuyến khích làm việc có hiệu quả phát huy tính tích cực trong lao động sản xuất của họ
d Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ
Nhà nước phải có một thể chế thống nhất Bộ máy Nhà nước được tổ chức hoạt động theo các cấp hành chính nhà nước và theo quy định là cấp dưới phải phục tùng cấp trên Địa phương phải phục tùng Trung ương, đó là quản lý lãnh thổ của chính quyền địa phương
đ Nguyên tắc phân định và kết hợp tốt chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp
Mục tiêu của Nhà nước là phát triển nền kinh tế quốc dân, ổn định chính trị, xã hội, tăng thu nhập quốc dân nên Nhà nước thực hiện vai trò kinh tế của mình không chỉ bằng việc quản lý khu vực kinh tế nhà nước mà quan trọng hơn là tổ chức và quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân Để quản lý nền kinh tế quốc dân, nhà nước với bộ máy quản lý của mình phải thực hiện rất nhiều loại công việc khác nhau, để quản lý kinh tế nhà nước Vậy chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là hình thức chỉ biểu hiện phương hướng và giai đoạn tác động có chủ đích của Nhà nước lên đối tượng và khách thể quản lý nhà nước về kinh tế
e Tiết kiệm và hiệu quả
Tiết kiệm và hiệu quả là hai mặt của cùng một vấn đề, đó là làm sao để với một cơ sở vật chất và kỹ thuật, một nguồn tài nguyên, một lực lượng lao động xã hội hiện có và
sẽ có trong một giai đoạn phát triển kinh tế nào đó, có thể sản xuất ra được một khối lượng của cải vật chất và tinh thần nhiều nhất, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và văn hóa của xã hội, chứng minh tính vượt trội so với hệ thống quản lý kinh tế
tư bản chủ nghĩa
Trang 31g Mở rộng hợp tác kinh tế đối ngoại với yêu cầu các bên cùng có lợi, không xâm phạm độc lập, chủ quyền và lãnh thổ của nhau
Đây là một nguyên tắc nhất quán và trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã ghi rõ:
Nhiệm vụ đối ngoại là tiếp tục giữ vững môi trường hòa bình và tạo các điều kiện quốc
tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo độc lập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
h Nguyên tắc gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa – xã hội, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển
Đây là nguyên tắc hết sức quan trọng nhằm duy trì và phát triển các đặc trưng phải có của chủ nghĩa xã hội
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định:
“Nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần:
Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và hình thức tổ chức kinh doanh ”
k Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước phải dựa trên cơ sở pháp luật của Nhà nước Nguyên tắc này không cho phép các cơ quan nhà nước thực hiện việc quản lý nhà nước một cách chủ quan, tùy tiện mà phải dựa vào pháp luật của Nhà nước
Trang 321.2.4 Nội dung quản lý của Nhà nước đối với với phát triển các làng nghề
1.2.4.1 Hệ thống pháp luật đối với làng nghề
Hệ thống pháp luật điều chỉnh khá đa dạng, bao phủ mọi mặt hoạt động của làng nghề với tư cách một thực thể sống, một bộ phận của nền kinh tế, của xã hội Có thể nêu ra một số luật và văn bản dưới luật sau: Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Lao động, Luật Bảo vệ môi trường, Luật chuyên ngành (Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm…)
Nghị định số 134/2004/NĐ-CP, ngày 09/6/2004 của Chính phủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn
Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn
Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn
Thông tư số 65/2004/TTLT/BTC-BLĐTBXH, ngày 02/7/2004 của Bộ Tài chính và Bộ Lao động TBXH hướng dẫn về việc hỗ trợ đào tạo nghề thủ công ở vùng nông thôn Quyết định số 184/2004/QĐ-TTg, ngày 22/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc
sử dụng tín dụng dành cho phát triển của nhà nước để nâng cấp cơ sở hạ tầng của các làng nghề giai đoạn 2004-2006
Thông tư số 113/2006/TT-BTC, ngày 28/12/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP
Quyết định 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế quản lý Cụm Công nghiệp
Nghị định số 45/2012/NĐ-CP ngày 21/05/2012 của Chính Phủ về Khuyến công
Quyết định 999/QĐ-BCT ngày 19/02/2013 của Bộ Công Thương quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Cục Công nghiệp địa phương
Trang 33Quyết định số 577/QĐ-TTg ngày 11/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tổng thể bảo vệ môi trường (BVMT) làng nghề đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
Chỉ thị số 12/CT-UBND ngày 24/12/1997 của UBND tỉnh Thái Nguyên về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Quyết định 128/QĐ-UB ngày 10/10/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy chế quản lý các khu công nghiệp nhỏ và vừa, các CCNLN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Quyết định 28/QĐ -UB ngày 11/4/2007 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy chế phân công phân cấp quản lý quy hoạch xây dựng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Quyết định 20/QĐ-UB ngày 20/6/20010 của UBND tỉnh Thái Nguyên về ban hành bản quy chế BVMT trên địa bàn tỉnh tỉnh Thái Nguyên
Quyết định 2145/QĐ-UB của UBND tỉnh Thái Nguyên Phê duyệt Đề án quy hoạch môi trường tỉnh Thái Nguyên thời kỳ 2011-2015 tầm nhìn đến năm 2020
Nghị quyết số 12-NQ/TU ngày 03/02/2010 của Ban thường vụ Tỉnh ủy Thái Nguyên
về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2015-2020 Nghị quyết số 02-NQ/TU khóa 17 ngày 04/5/2015 về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng
và phát triển các khu CN, CCN gắn với phát triển nông thôn, đô thị theo hướng hiện đại hóa
Quyết định số 13/2015/QĐ-UBND ngày 25/6/2015 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 35/2009//QĐ-UBND ngày 14/12/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành quy chế quản lý và phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 34Quyết định số 3358/QĐ-UBND ngày 17/02/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt quy hoạch phát triển làng nghề nông thôn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
Quyết định số 2804/2015/QĐ-UBND ngày 21/10/2015 của UBND tỉnh Thái Nguyên
về việc phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng Cụm công nghiệp Sơn Cẩm 1, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Quyết định số 2558/2016/QĐ-UBND ngày 03/10/2016 của UBND tỉnh Thái Nguyên
về việc ban hành Chương trình phát triển Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020
Quyết định số 31/2011/QĐ-UBND ngày 21/6/2011 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Phú Lương đến năm
2020
Quyết định số 162/2010/QĐ-UBND ngày 14/3/2010 của UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH huyện Phú Lương giai đoạn 2010-2015 tầm nhìn đến năm 2020
Nghị quyết số 06-NQ/ĐH, ngày 14/7/2015 Đại hội Đảng bộ huyện Phú Lương lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2011 – 2015
Quyết định số 166/2017/QĐ-UBND ngày 03/02/2017 của UBND huyện Phú Lương ban hành Đề án phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương giai đoạn 2010-2015
Quyết định số 1545/QĐ-UBND ngày 05/6/2018 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt đề án hỗ trợ phát triển làng nghề năm 2018
Văn bản số 539/CTr-UBND về việc “Tiếp tục thực hiện đề án phát triển Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và làng nghề huyện Phú Lương giai đoạn 2015-2020”
Hệ thống các Văn bản cơ bản đề cập đến cơ chế chính sách, quản lý về mọi mặt liên quan đến hoạt động của khu công nghiệp, làng nghề Thông qua hệ thống pháp luật, một mặt, Nhà nước tuyên bố các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể hoạt động trong
Trang 35làng nghề, đặc biệt là quyền và nghĩa vụ, chính sách của các cơ quan quản lý nhà nước đối với làng nghề Nếu hệ thống luật pháp tiến bộ và phù hợp, sẽ khuyến khích làng nghề phát triển Ngược lại, hệ thống luật pháp lạc hậu, bảo thủ sẽ cản trở, kìm hãm sự phát triển của làng nghề Đặc biệt là các chính sách phát triển làng nghề được quy định rõ tại Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, góp phần thúc đẩy làng nghề nông thôn ngày càng phát triển
Bảng 1.1 Các văn bản về chính sách phát triển đối với làng nghề
Tên văn bản
Cơ quan ban hành Của Trung ương
Nghị định số 134/2004/NĐ-CP, ngày 09/6/2004 của Chính phủ về khuyến khích phát triển công
Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề
Thông tư số 65/2004/TTLT/BTC-BLDTBXH, ngày 2/7/2004 của Bộ Tài chính
và Bộ Lao động TBXH hướng dẫn về việc hỗ trợ đào tạo nghề thủ công ở vùng nông thôn
Bộ Lao Động TBXH
Quyết định số 184/2004/QĐ-TTg, ngày 22/10/2004 của Thủ tướng chính phủ về việc sử dụng tín
dụng dành cho phát triển của nhà nước để nâng cấp cơ sở hạ tầng của các làng nghề giai đoạn
2004-2006
Chính Phủ
Thông tư số 113/2006/TT-BTC, ngày 28/12/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung
về ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn theo nghị định số 66/2006/NĐ-CP Bộ Tài chính Quyết định 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/08/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế quản lý
Nghị định số 45/2012/NĐ-CP ngày 21/05/2012 của Chính Phủ về Khuyến công Chính Phủ Quyết định 999/QĐ-BCT ngày 19/02/2013 của Bộ Công Thương quy định về chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Cục Công nghiệp địa phương
Bộ Công thương Quyết định số 577/QĐ-TTg ngày 11/04/2013 về việc phê duyệt Đề án tổng thể bảo vệ môi trường
(BVMT) làng nghề đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 Chính phủ
Trang 36Tên văn bản
Cơ quan ban hành Của Trung ương
Văn bản của tỉnh
Chỉ thị số 12/CT-UBND ngày 24/12/1997 về cấp giấy nhận quyền sử dụng đất, đo đạc bản đồ,
lập hồ sơ địa chính trên địa bàn tỉnh Thía Nguyên UBND tỉnh
Quyết định 128/2012/QĐ-UB ngày 10/10/2009 về việc ban hành quy chế quản lý các khu công
nghiệp nhỏ và vừa, các CCNLN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên UBND tỉnh
Quyết định 28/QĐ -UB ngày 11/4/2007 của UBND Tỉnh về việc ban hành quy chế phân công
phân cấp quản lý quy hoạch xây dựng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên UBND tỉnh
Quyết định 20/QĐ-UB ngày 20/6/20010 của UBND tỉnh Ban hành bản quy chế BVMT trên địa
Quyết định 2145/QĐ-UB Phê duyệt Đề án quy hoạch môi trường tỉnh Thái Nguyên thời kỳ
Nghị quyết số 12-NQ/TU ngày 03/02/2010 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về phát triển công nghiệp,
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2015-2020 HĐND tỉnh Nghị quyết số 02-NQ/TU khóa 17 ngày 04/05/2015 về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và phát triển
các khu CN, CCN gắn với phát triển nông thôn, đô thị theo hướng hiện đại hóa Tỉnh ủy Quyết định số 35/2009//QĐ-UBND ngày 14/12/2015 của UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành quy
chế quản lý và phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên UBND tỉnh Quyết định số 13/2013/QĐ-UBND ngày 25/6/2015 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của
Quyết định số 35/2009//QĐ-UBND ngày 14/12/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành quy
chế quản lý và phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
UBND tỉnh
Quyết định số 2804/2015/QĐ-UBND ngày 21/10/2015 về việc phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch
chi tiết xây dựng Cụm công nghiệp Sơn Cẩm 1, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên UBND tỉnh Quyết định số 2558/2016/QĐ-UBND ngày 03/10/2016 về việc ban hành Chương trình phát triển
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020 UBND tỉnh Quyết định số 1545/QĐ-UBND ngày 05/6/2018 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt
Trang 37Tên văn bản
Cơ quan ban hành Của Trung ương
Văn bản của huyện
- Quyết định số 162/2010/QĐ-UBND ngày 14/3/2010 ban hành Quy hoạch tổng thể phát triển
KT-XH huyện Phú Lương giai đoạn 2010-2015 tầm nhìn đến năm 2020;
- Nghị quyết số 06-NQ/ĐH, ngày 14/7/2015 Đại hội Đảng bộ huyện Phú Lương lần thứ XXII,
nhiệm kỳ 2011 – 2015
- Quyết định số 166/2017/QĐ-UBND ngày 03/02/2017 ban hành Đề án phát triển công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp, làng nghề trên địa bàn huyện Phú Lương giai đoạn 2010-2015
- Văn bản số 539/CTr-UBND về việc “Tiếp tục thực hiện đề án phát triển Công nghiệp - Tiểu thủ
công nghiệp và làng nghề huyện Phú Lương giai đoạn 2015-2020”
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) 1.2.4.2 Quy hoạch phát triển các làng nghề
Căn cứ Luật Quy hoạch và các nghị định, thông tư hướng dẫn về quy hoạch, quy hoạch ngành nghề, làng nghề Quyết định số 3358/QĐ-UBND ngày 17/02/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt quy hoạch phát triển làng nghề nông thôn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020; gắn với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và của huyện [10]
Căn cứ Quyết định số 31/2011/QĐ-UBND ngày 21/6/2011 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Phú Lương đến năm 2020 Ủy ban nhân dân huyện giao cho phòng Kinh tế và Hạ tầng chủ trì phối hợp với phòng Tài nguyên và môi trường, các ngành lập Quy hoạch sắp xếp,
bố trí các đối tượng quy hoạch vào một không gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu của kế hoạch đề ra Quy hoạch các khu, cụm công nghiệp, các làng nghề tập trung trên địa bàn gắn liền với quy hoạch đô thị - dịch vụ liên quan Tập trung quy hoạch di rời các làng nghề, các cơ sở sản xuất vào khu, cụm công nghiệp của huyện Đặc biệt chú trọng dành quỹ đất sạch, có chính sách hỗ trợ tích cực hiệu quả để xây dựng nhà ở và
Trang 38các công trình văn hóa xã hội cho các lao động làm việc trong các khu, cụm công nghiệp, các làng nghề
Việc quy hoạch phát triển làng nghề thực chất là tái cơ cấu lại các làng nghề Tuy quan điểm chung hiện nay là phải bảo tồn và phát triển các làng nghề nhưng đối với làng nghề sản xuất các mặt hàng mà hiện nay thị trường không có nhu cầu thì cần phải mạnh dạn xóa bỏ và thay thế bằng nghề mới, những làng nghề mà sản phẩm còn phù hợp nhưng bị suy giảm sẽ tập trung đầu tư, hỗ trợ để bảo tồn và khôi phục phát triển Đối với những ngành nghề có tiềm năng phát triển, đang mở rộng thị trường cũng cần
có hướng đầu tư phù hợp để nâng cao vị thế và sức cạnh tranh Việc quy hoạch các làng nghề còn xây dựng theo hướng quy hoạch những làng nghề nào chỉ phục vụ sản xuất, những làng nghề nào chỉ phục vụ du lịch và những làng nghề vừa sản xuất vừa phát triển du lịch Xây dựng quy hoạch tổng thể cho các làng nghề là rất quan trọng vì nó góp phần định hướng hướng phát triển phù hợp cho mỗi làng nghề Trong đó, tập trung thực hiện quy hoạch phát triển các ngành nghề như: Chế biến chè truyền thống, sản xuất lương thực thực phẩm, mỹ nghệ [17]
Căn cứ vào các quy định về phát triển làng nghề để tổ chức thực hiện tốt công tác lập quy hoạch phát triển làng nghề trình phê duyệt; công bố, triển khai thực hiện quy hoạch; gắn với công tác quản lý quy hoạch, kiểm tra giám sát việc triển khai thực hiện đảm bảo phát triển ngành nghề, làng nghề đúng theo quy hoạch đã được duyệt
1.2.4.3 Kế hoạch phát triển các làng nghề
Căn cứ Quyết định số 31/2011/QĐ-UBND ngày 21/6/2011 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Phú Lương đến năm 2020 Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Phú Lương giai đoạn 2015-2020 Huyện đã giao Phòng Kinh tế và Hạ tầng chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng Kế hoạch phát triển và thẩm định các làng nghề mới trên địa bàn huyện và tranh thủ tận dụng triệt để các tiềm năng, thế mạnh của địa phương, sử dụng hiệu quả các nguồn lực huy động được để phát triển nghề và làng nghề Trong đó:
- Kế hoạch thực hiện Đề án phát triển công nghiệp – TTCN và làng nghề giai đoạn
2011-2015 và giạ đoạn 2016 – 2020
Trang 39- Kế hoạch phát triển các ngành nghề và làng nghề nông thôn gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hằng năm được UBND tỉnh giao và UBND huyện ban hành và
tổ chức thực hiện
Phát triển nghề và làng nghề phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển KT- XH huyện Phú Lương và quy hoạch của các ngành; gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới Năm
2015 có 27 làng nghề, kế hoạch 2016 huyện công nhận thêm 4 làng nghề nâng tổng số làng nghề năm 2016 là 31 làng nghề, năm 2017 huyện công nhận thêm 4 làng nghề nâng tổng số làng nghề năm 2017 là 35 làng nghề, năm 2018 công nhận thêm 2 làng nghề nâng tổng số làng nghề năm 2018 là 37 làng nghề [11]
Phát triển nghề và làng nghề trên cơ sở phát triển hài hòa giữa sản xuất với bảo vệ môi trường và giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của từng địa phương, phát huy sự tham gia của cộng đồng gắn với sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức quốc tế, góp phần tạo việc làm tại chỗ, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn theo phương châm “ly nông bất ly hương”
1.2.4.4 Xây dựng chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề, phát triển làng nghề gắn với du lịch và làng nghề mới
Căn cứ Quyết định 2636/QĐ-BNN-CB, ngày 31/10/2011 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn phê duyệt Chương trình Bảo tồn và Phát triển làng nghề, gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới, nội dung của quyết định là ưu tiên cho phát triển làng nghề gắn với du lịch, phát triển làng nghề mới, mỗi làng một nghề Để xây dựng kế hoạch Bảo vệ, trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa cũng như khôi phục và phát triển các hoạt động văn hoá dân gian truyền thống trong khu vực làng nghề nhằm giữ gìn bản sắc văn hoá của làng nghề, tạo sức hút với du khách Năm 2015, UBND huyện
đề nghị Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận nhảy Tắc xình của dân tộc Sán Chay, hát Sấng cọ của dân tộc Sán Dìu thuộc làng nghề Đồng Tâm xã Tức Tranh và
được Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ký Quyết định công nhận 02 di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia này
Phòng Văn hóa và Thông tin huyện có trách nhiệm tham mưu xây dựng môi trường du lịch văn hoá tại làng nghề, gắn kết các tuyến du lịch sinh thái với các làng nghề thông
Trang 40qua một số hoạt động như: Giáo dục ý thức cho cộng đồng dân cư làng nghề có văn hoá giao tiếp với khách du lịch; phối hợp với các trường đào tạo về quản lý du lịch, mời các giảng viên, chuyên gia trong lĩnh vực quản lý du lịch về giảng dạy các khóa học, các lớp tập huấn ngắn hạn tại làng nghề nhằm trang bị cho cán bộ địa phương và nhân dân làng nghề những kiến thức, kỹ năng cơ bản trong hoạt động du lịch cho người dân khu vực làng nghề
1.2.4.5 Kiểm tra, giám sát hoạt động phát triển của các làng nghề
Việc kiểm tra, giám sát các hoạt động của các làng nghề cần được thực hiện thường xuyên và liên tục nhằm phát hiện những sai sót và kịp thời xử lý những vi phạm tại các
cơ sở sản xuất kinh doanh [18]
Hoạt động kiểm tra, giám sát có thể diễn ra định kỳ hoặc đột xuất tùy thuộc vào đối tượng và nội dung kiểm tra
Trong hoạt động kiểm tra, giám sát cần có sự phối hợp của các cơ quan, ban ngành có liên quan cùng phối hợp thực hiện
Thông qua giám sát, đã khẳng định được những nỗ lực tích cực của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể và nhân dân các dân tộc trong huyện, góp phần vào sự phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội của huyện Đồng thời đã phát hiện nhiều vấn đề bất cập, chỉ ra những hạn chế, thiếu sót, khuyết điểm của các đơn vị, địa phương trong khi thực hiện nhiệm vụ; có kiến nghị với các cấp, các ngành giải quyết, khắc phục thiếu sót; kiến nghị với Tỉnh ủy, UBND tỉnh có những điều chỉnh và bổ sung một số cơ chế chính sách cho phát triển kinh tế - xã hội và thu hút đầu tư Đặc biệt, những kiến nghị về công tác quản lý sử dụng đất tại các cụm điểm công nghiệp, đã được Tỉnh ủy, UBND tỉnh ghi nhận, để có chủ trương và biện pháp chỉ đạo giải quyết kịp thời
Có thể nói, các cuộc giám sát chuyên đề mà HĐND tỉnh, huyện tổ chức đã thực sự đem lại hiệu quả trong thực tế Đặc biệt, qua kiểm tra giám sát để đảm bảo quá trình triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển các làng nghề theo đúng quy hoạch, kế hoạch và định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương, từ đó thúc đẩy các làng nghề phát triển bền vững