Tiếp đó, tác giả chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa tản văn và các thể loại khác: “Tản văn là một loại văn bản phổ biến hiện nay, không chỉ xuất hiện trên những ấn phẩm văn chương mà
Trang 1MỤC LỤC
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÔ THỊ VÂN
TẢN VĂN TÔ HOÀI
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM TUẤN VŨ
NGHỆ AN - 2012
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1 Tô Hoài sinh ngày 2 tháng 9 năm 1920 tại làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, nay là phờng Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội Tô Hoài là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại Những tác phẩm đầu tiên của ông đợc in cuối năm 1940 Tính đến nay nhà văn đã có liên tục bảy thập kỷ sáng tạo văn chơng, đã có hơn 150 tác phẩm thuộc nhiều thể loại Văn chơng của Tô Hoài không chỉ đợc độc giả trong nớc a thích mà còn đợc độc giả nớc ngoài đánh giá cao Những tác phẩm đó rất
đáng đợc nghiên cứu
2 Tản văn chỉ là một phần nhỏ của sự nghiệp văn chơng Tô Hoài Tuy nhiên Tô Hoài là một nhà văn chuyên nghiệp, một tài năng văn chơng lớn cùng với lao động nghiêm túc và cần mẫn, với một ý thức nghề nghiệp
và ý thức công dân cao độ nên tản văn của ông có những đặc sắc Những tác phẩm này rất đáng đợc nghiên cứu
3 Nghiên cứu tản văn Tô Hoài không chỉ góp phần vào việc hiểu thêm những sáng tác của ông mà còn để nhận thức những đóng góp của nhà văn cho loại tác phẩm ngày càng đợc sử dụng rộng rãi này
2 Lịch sử vấn đề
Tản văn Tụ Hoài được tập hợp trong tập Giấc mộng ụng thợ dỡu,
xuất bản năm 2006 Sự nghiờn cứu về tản văn Tụ Hoài cũn khiờm tốn
Bài viết của tỏc giả Phạm Tuấn Vũ trờn Tạp chớ Văn hoỏ Nghệ An
điện tử đi vào hai nội dung cơ bản của tản văn Tụ Hoài và phỏc thảo một vài đặc điểm của tản văn Tụ Hoài Tuy nhiờn, tỏc giả bài viết mới dừng lại ở những giới thiệu mang tớnh định hướng Luận văn kế thừa thành
Trang 4tựu từ bài giới thiệu mang tính định hướng này, trên cơ sở đó, chúng tôi
đi vào nghiên cứu cụ thể hơn
Tác giả giới thiệu sơ lược về Tô Hoài và cung cấp một số thông tin
về tập tản văn Giấc mộng ông thợ dìu: "Tô Hoài sinh ngày 27 tháng 9
năm 1920 Những sáng tác đầu tay của ông in từ cuối năm 1940 Chỉ
trong năm 1942 ông đã cho in các tập truyện O Chuột, Nhà nghèo và
Giăng thề (truyện vừa), Quê người (truyện dài), Xóm giếng (truyện dài)
Tính đến nay nhà văn đã có bảy thập kỷ liên tục sáng tạo với hơn 150 tác phẩm trong đó có nhiều tác phẩm được độc giả trong ngoài nước đánh giá cao Trong giới văn chương, nhiều người yêu mến gọi ông là bậc trưởng lão Có nhà phê bình hình dung ông như “con khủng long cuối cùng chưa hoá thạch” Hiển nhiên là trong sự nghiệp văn chương của Tô Hoài, tản văn được kể đến sau cùng Tuy nhiên, tản văn của Tô Hoài cũng được viết bằng một tài năng lớn, một cây bút chuyên nghiệp”
(Tạp chí Văn hoá Nghệ An, điện tử)
Tiếp đó, tác giả chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa tản văn và các thể loại khác: “Tản văn là một loại văn bản phổ biến hiện nay, không chỉ xuất hiện trên những ấn phẩm văn chương mà còn có ở nhiều
loại ấn phẩm khác Thuật ngữ này khác thuật ngữ tản văn trong văn học
Trung Quốc và văn học Việt Nam trung đại Xét theo cấu tạo ngôn ngữ, người ta chia văn học trước đây thành ba loại: tản văn (văn xuôi), vận văn (văn vần) và biền văn (văn biền ngẫu) Trong văn học hiện đại, tản văn là một tiểu loại của ký - một loại hình ở giữa văn chương và các loại văn bản báo chí, văn bản hành chính, công vụ Gần với tản văn còn có tạp văn Đối chiếu nhiều văn bản được các tác giả gọi là tản văn hoặc gọi là tạp văn thật khó nhận ra sự khác biệt”
Trang 5Tiếp theo, tác giả bài viết đi sâu vào hai đề tài lớn trong tản văn của Tô Hoài, là đề tài môi trường tự nhiên và đề tài môi trường xã hội Về môi trường tự nhiên tác giả viết: “ Tô Hoài nhiệt thành ngợi
ca tác dụng cao đẹp của thiên nhiên Thiên nhiên giúp con người tẩy rửa bớt bụi trần: “Ngoài đường bây giờ chỗ nào cũng nhốn nháo, chỉ chốc lát có ngồi trên bờ trông ra hồ, mặt nước hồ Thiền Quang hay hồ Tây cũng được, thì tai mắt và trong bụng có lẽ mới có thể yên yên Bởi vì chỉ có mặt nước, mặt nước sáng trong, mặt nước xa xa gần gần
mới như muôn thuở” (Loăng quăng) Đọc tản văn Tô Hoài, người ta
nhiều lần bắt gặp những minh triết về tự nhiên Chẳng hạn: “Có lần nghĩ về hồ Tây tôi đã tưởng như mình sống cả cuộc đời cũng chưa thể thấu hiểu được cuộc sống trước sau của người, của cảnh một vòng hồ
nhăng nhít (Đi câu; Cái quái thai nhà nghỉ), trò dựa vào người khác
để trục lợi (Nhái; Gia truyền, cổ truyền, đặc sản), nhất là bày tỏ sự dị ứng với những thói rởm mới (Chịu không đoán được; Dô! Dô! Bốp!
Bốp!), thói ăn uống “quái đản” (chữ dùng của tác giả trong Con ốc mút)… Còn nhớ những thập niên đầu của thế kỷ XX, khi văn minh
phương Tây du nhập mạnh, một nhà văn xuất thân Nho học đã cảnh báo về việc hễ văn minh tiến lên một bước thì đểu giả cũng tiến theo một bước Không rõ có đến nỗi chúng song hành như vậy hay không nhưng lời người xưa quả không viển vông, vu khoát
Trang 6Người ta phân biệt văn hoá với văn minh Là người đã sống qua nhiều giai đoạn xã hội, đã đi nhiều nơi trong ngoài nước, ở đâu và lúc nào cũng có sự quan sát tinh nhạy, Tô Hoài hiểu những lợi ích của văn minh Đồng thời phương diện khiến ông quan tâm là những giá trị văn hoá cũng phải được nâng lên tương ứng Quan niệm này được nhà văn
nói rõ trong tản văn Thành phố, gương mặt, con người: “Thành phố đổi
mới, đổi mới để gánh vác trách nhiệm của người Hà Nội mới Gương mặt thành phố và con người thành phố Tư thế con người thế nào, thành phố thế ấy”
Tiếp theo tác giả đi điểm qua một số đặc sắc trong tản văn Tô Hoài Tác giả chỉ ra tính đa dạng, sự phong phú về chất liệu và sự độc đáo trong cách lập ý
Tản văn Tô Hoài đa dạng Dễ thấy nhất là ở dung lượng văn bản
Có những văn bản dài như Hội làng, Hồ Tây, 36 phố phường, Những
quán cóc… Có những văn bản ngắn như Cái mâm chõng, Chuyện con chó, Kỷ lục thế giới… Chủ đề cũng đa dạng Chẳng hạn ở chủ đề ngợi ca
văn hoá cổ truyền, tác giả viết về vẻ đẹp của nhiều phong tục như tết
rằm (Tết rằm), những phong tục trong hội làng (Hội làng), tục nặn tò he (Con tò he)… Sự đa dạng cũng thấy ở cách trình bày sự vật và biểu hiện
tư tưởng tình cảm Có những bài tản văn như một thiên hồi ức dài, chứa
chan thi vị (Hội làng, Mưa mới), có những bài chỉ như nhật ký hành trình (cụm bài Qua miền Trung), có bài như một truyện ngắn mini (Tạnh
mưa, Cái cốc ba mươi năm).
Tản văn Tô Hoài giàu thông tin Có những văn bản giàu thông tin kiểu một văn bản văn chương, được viết với ký ức phong phú, với năng
lực hư cấu dồi dào, câu chữ đầy sức gợi (Tết rằm, Hồ Tây, Cây hồ
Trang 7Gươm, Tết năm ấy ở Tà Sùa ) Nhiều văn bản giàu thông tin kiểu văn
bản báo chí, tác giả trình bày rõ quan điểm của mình bằng các luận điểm
rõ ràng với các số liệu phong phú (Bảo tồn di sản phố cổ, Làng thuốc
nam, Nói lại mấy cái nhầm…) Tản văn Tô Hoài có những văn bản có
thuộc tính của văn chương đích thực và cũng có những văn bản cận văn chương
Người viết tản văn có nhiều cách để làm cho văn bản giàu thông tin Có người đưa vào nhiều kiến thức tra cứu từ nhiều nguồn Đây là một biểu hiện của lao động công phu Có lúc Tô Hoài cũng sử dụng
cách này Tác giả tra cứu từ điển Từ và ngữ của Nguyễn Lân, Từ điển
tiếng Việt miền Nam của Vương Hồng Sển, Dư địa chí của Nguyễn Trãi
để tìm những tri thức cần thiết Tuy nhiên kiểu này rất ít
Nhiều tản văn của Tô Hoài phong phú chất liệu, khiến cho tản văn gần gũi với những tác phẩm thuộc các thể loại khác của cùng tác giả Có cảm giác rằng trong khi có những tác giả phải đánh vật vất vả để huy động vốn sống cho một tản văn nào đó, thì ở Tô Hoài, ngược lại, phải tiết chế để vốn sống được sử dụng có chừng mực, nhất là khi đụng đến các loài cây cỏ, chim thú hay những phong tục truyền thống, đời sống dân nghèo ngoại ô… Đây không hề là chuyện ăn may hay tự nhiên nhi nhiên mà xuất phát từ ý thức sâu xa về nghề văn Theo ông, vốn sống là chuyện cả đời chứ không phải ăn đong cho từng tác phẩm Có những nghịch lý ở Tô Hoài Trong văn học Việt Nam hiện đại, ông là một trong những nhà văn chuyên nghiệp tiêu biểu, từ cách làm nghề đến chất lượng và số lượng tác phẩm Tuy nhiên, ông cũng lại là người ít đưa ra những tuyên ngôn văn học và không thần bí hoá nghề văn Là một người nổi tiếng trong và ngoài nước do thành tựu văn chương nhưng ông
Trang 8khụng nề hà, vẫn nhận cụng việc ở tổ khu phố, một việc mà ai cũng biết
là mất thỡ giờ và khụng ớt phiền phức, khú chịu Tuy nhiờn, bự lại, ụng thờm hiểu cuộc đời và con người
Tỏc giả cho rằng tản văn Tụ Hoài đa dạng trong cỏch lập ý Cú những văn bản chỉ qua mấy cõu mở đầu, thậm chớ chỉ cần đọc nhan đề
đó hỡnh dung được sự việc và tư tưởng tỡnh cảm của tỏc giả ( Cần
những hương ước đời nay, Qua miền Trung, Cỏi quỏi thai nhà nghỉ…)
Đương nhiờn, ở những văn bản này, tớnh chất bỏo chớ trội hơn Cú
những văn bản, đọc hết người ta mới lĩnh hội được ý tứ cơ bản ( Cỏi
cốc ba mươi năm, Tạnh mưa, Con khướu bạc mỏ…) Tớnh chất văn
chương rất nổi bật ở cỏc tản văn này Cũng cú thể coi đõy là những truyện ngắn hay
Bài viết của tỏc giả Phạm Tuấn Vũ là những gợi ý mang tớnh định hướng quan trọng cho luận văn này Trờn cơ sở này tỏc giả luận văn đi sõu thờm những luận điểm đó được gợi ý và bổ sung thờm một số vấn đề mà do khuụn khổ của một bài viết tỏc giả chưa cú điều kiện đi sõu bổ sung
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Nhận thức đợc những nội dung chủ yếu của tạp văn Tô Hoài3.2 Làm rõ những đặc điểm của tạp văn Tô Hoài
3.3 Chỉ ra ý nghĩa của việc nghiên cứu tản văn Tô Hoài đối với việc nghiên cứu một số tác phẩm khác của nhà văn
4 Phương phỏp nghiờn cứu
4.1 Nhỡn nhận tản văn của Tụ Hoài theo những thuộc tớnh của loại văn bản này để thấy những đặc điểm phổ biến và những đặc điểm cỏ biệt.4.2 Đặt tản văn của Tụ Hoài trong quan hệ với một số tỏc phẩm khỏc cú quan hệ về nội dung của cựng tỏc giả để hiểu rừ hơn
Trang 94.3 Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn học như phân tích - tổng hợp, thống kê - phân loại, so sánh…
5 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tản văn của Tô Hoài được tập hợp trong cuốn
Tản văn Tô Hoài Giấc mộng ông thợ dìu, Nhà xuất bản Hội Nhà văn,
2006
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu, luận văn cũng tham khảo thêm một số tác phẩm khác của Tô Hoài và tản văn của nhà văn hiện đại khác nhằm làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn có ba
chương:
Chương 1 Sơ lược tiểu sử, sự nghiệp của Tô Hoài Tản văn trong
sự nghiệp sáng tác của nhà văn
Chương 2 Tản văn Tô Hoài viết về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
Chương 3 Một số đặc điểm của tản văn Tô Hoài
Trang 10Chương 1
SƠ LƯỢC TIỂU SỬ, SỰ NGHIỆP CỦA TÔ HOÀI
TẢN VĂN TRONG SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN
1.1 Sơ lược tiểu sử, sự nghiệp của Tô Hoài
Tô Hoài tên là Nguyễn Sen, sinh ngày 7-9-1920, bút danh Mai Trang, Mắt Biển, Thái Yên, Vũ Đột Kích, Duy Phương, Hồng Hoa…, quê nội ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Tỉnh Hà Đông nay là Hà Nội, nhưng sinh ra và lớn lên ở ở quê ngoại, làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội, trong một gia đình làm thợ thủ công Thuở thanh niên, ông phải làm nhiều nghề để kiếm sống: dạy trẻ, bán hàng và kế toán hiệu buôn…, có khi thất nghiệp Được ảnh hưởng của phong trào mặt trận Dân chủ, năm
1938 ông tham gia tổ chức Ái hữu thợ dệt, làm thư ký ban trị sự Hội Ái hữu thợ dệt Hà Đông Năm 1943, gia nhập tổ chức văn hóa cứu quốc, tham gia viết báo bí mật, tuyên truyền cách mạng, hoạt động liên tục đến Tổng khởi nghĩa Có lần Tô Hoài bị thực dân Pháp nghi ngờ và bắt giam Trong thời gian hoạt động cách mạng, ông thực hiện một chuyến
đi dài từ Bắc vào Nam
Tô Hoài bắt đầu sự nghiệp văn học bằng một số bài thơ lãng mạn, nhưng rồi nhanh chóng chuyển sang văn xuôi hiện thực và được chú ý ngay từ những truyện ngắn đầu tay Từ 1941, ông viết nhiều Tác phẩm
chính trước Cách mạng tháng Tám: Dế mèn phiêu lưu ký (truyện, 1941),
Quê người (tiểu thuyết, 1941), O Chuột (tập truyện ngắn), Giăng thề
(truyện, 1943), Nhà nghèo (tập truyện ngắn, 1944), Xóm Giềng ngày xưa (truyện, 1944), Cỏ dại (hồi ký, 1944) Sáng tác của Tô Hoài thời kỳ này
có loại chính: truyện đồng thoại về loài vật và truyện về vùng quê ngoại
Trang 11của tác giả, một vùng ven Hà Nội, sống chủ yếu bằng nghề dệt thủ công
Dế mèn phiêu lưu ký là tác phẩm đặc sắc nhất trong các truyện loài vật,
mô tả những cuộc phiêu lưu của một chú dế mèn qua thế giới loài vật và con người Nhà văn bộc lộ khả năng quan sát và miêu tả tinh tế, dí dỏm, tâm hồn nhạy cảm với thiên nhiên, lòng tin vào điều thiện trong cuộc sống hòa bình, nhân ái Những truyện viết về ngoại thành cung cấp tri thức về nhiều phong tục, mô tả cảnh sống tiêu điều, buồn thảm của nông thôn Việt Nam trong những năm đại chiến II
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 và những năm đầu kháng chiến chống Pháp, Tô Hoài làm báo cứu quốc, đi với bộ đội tham gia nhiều chiến dịch ở Việt Bắc, Tây Bắc Năm 1950, về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, nhiều năm là thư ký tòa soạn Tạp chí Văn nghệ Những tác phẩm
chính của Tô Hoài trong những năm kháng chiến chống Pháp: Núi cứu quốc (tập truyện ngắn, 1948), Xuống làng (tập truyện ngắn, 1950), Đại đội Thắng
Bình (ký sự 1950), Truyện Tây Bắc (tập truyện, 1953) Hầu hết tác phẩm của
ông trong kháng chiến chống Pháp đều viết về miền núi Truyện Tây Bắc là
tác phẩm thành công tiêu biểu, đã được Giải nhất giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955
Từ sau 1954, Tô Hoài vừa tiếp tục sáng tác, vừa tham gia công tác lãnh đạo Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Văn nghệ Hà Nội (Tổng thư ký Hội nhà Văn 1957, Phó Tổng thư ký Hội 1980; Chủ tịch Hội Văn nghệ
Hà Nội 1966-96) Sáng tác của Tô Hoài từ sau 1954 phong phú về đề
tài và thể loại: các tập truyện ngắn Khác trước (1957), Vỡ tỉnh (1962),
Người ven thành (1972), Truyện cũ Hà Nội (truyện ngắn và ký sự
1980); Hồi ký: Những gương mặt (1980); nhiều tập bút ký: Thành phố
Lê nin (1961); Tôi thăm Campuchia (1964), Nhật ký vùng cao (1969);
Trang 12Lăng Bác Hồ (1977); Trái đất tên người (1978), Hoa Hồng vàng song cửa (1981); Các kịch bản phim: Vợ chồng A Phủ (1960); Kim Đồng
(1963); Nhiều tác phẩm cho thiếu nhi bao gồm truyện đồng thoại,
truyện lịch sử và truyền thuyết, truyện sinh hoạt: Chim Chích lạc rừng,
Con mèo lười, Đàn chim gáy, Kim Đồng, Đảo hoang, Truyện Ông Gióng… Ông còn viết tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác: Một số kinh nghiệm viết văn của tôi (1959), Người bạn đọc ấy (1963); Sổ tay viết văn (1967) Trong số những tác phẩm ông viết ở thời kỳ này, đáng chú
ý hơn cả có thể kể Mười năm (1957), Miền Tây (1967), Tự truyện (1978), Những ngõ phố người Đường phố (1980), Quê nhà (1981), nhất
là hai tập hồi ký Cát bụi chân ai (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1992) và
Chiều chiều (viết 1997, Nxb Hội Nhà văn, 1999) Mười năm là tập
cuối cùng trong bộ ba tiểu thuyết về cái làng thợ dệt ngoại ô Hà Nội
của tác giả - Giăng thề, Quê người, Mười năm- nói về những năm sôi nổi phong trào dân chủ và tiền khởi nghĩa Miền Tây viết về những biến
đổi trong cuộc sống ở một vùng cao người Mèo Tây Bắc Tác phẩm đã
được giải thưởng Hoa Sen của Hội Nhà văn Á Phi 1970 Cát bụi chân
ai kể lại những hồi ức của tác giả về rất nhiều chuyến đi thực tế của
chính mình và của cả một thế hệ nhà văn cùng thời trong vòng ba mươi năm, từ trước ngày toàn quốc kháng chiến 1946 cho đến hết cuộc chiến tranh chống Mỹ Những chuyến đi được làm sống lại bằng nỗi nhớ nhung da diết, không diễn ra theo trình tự thời gian mà theo ký ức nên
cứ đan quyện lấy nhau mà chồng nên nhau trong bối cảnh chính là một
Hà Nội những năm mới đầu hòa bình sau hiệp nghị Geneve, một Hà Nội nhiều tâm trạng khi đi vào những cuộc đấu tranh chống nhân văn giai phẩm và cải tạo công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa và một Hà
Trang 13Nội ngót mười năm sau, nhiều tâm trạng kém khi đối mặt với cuộc chiến tranh phá hoại của Hoa Kỳ Tô Hoài biết dựng lên những mặt thật và giả, mặt phải và trái, mặt tưởng chừng đúng mà lại là sai và ngược lại, tưởng chừng sai mà lại là đúng Trong mỗi sự việc và mỗi con người, sống giữa những năm ngổn ngang phức tạp với bao câu truyện suốt ba thập kỷ đằng đẵng ấy ông không đưa ra cách nhìn một chiều mà là làm sống lại tâm trạng thực của cả một thời đoạn lịch sử Đặc biệt, ông có tài lột tả những chân dung Tô Hoài có biệt tài chỉ trong vài nét khắc họa tưng tửng đã tóm bắt được thần thái nhân vật mà
mình vừa tiếp cận, nhưng chỗ gây ấn tượng sâu sắc của Chiều chiều cũng như Cát bụi chân ai là thông qua bấy nhiêu mảng sống được rỉ rả
kể lại ấy dường như ông muốn tâm sự với người đọc rằng bên trong những truyện đời và những con người mà mình vừa bắt gặp thường khi vẫn ẩn chứa nhiều sự thật khác nhau, và đừng bao giờ chỉ nhìn mọi chuyện ở một phía nào đó của sự thật mà lầm lẫn hay đừng quá tin vào một chân lý nào đó mà hóa ra giản đơn
Tô Hoài là người viết nhiều, viết đều, sử dụng nhiều thể loại văn xuôi Có vẻ như ông trọng lượng hơn trọng chất nhưng nếu xét cho kỹ, ở thể loại nào ông cũng có một số cuốn có đóng góp đáng kể Ông là người góp phần khai thác đề tài miền núi và có những tác phẩm đạt thành tựu chắc chắn cho đề tài này Ông cũng có nhiều tác phẩm cho thiếu nhi được bạn đọc nhỏ tuổi ưa thích Năng lực quan sát và miêu tả tinh tường, sắc nhạy, vốn hiểu biết đời sống và phong tục các dân tộc khá phong phú, lối văn giàu hình ảnh và biến đổi nhịp điệu linh hoạt, những tìm tòi sáng tạo độc đáo về từ ngữ, phương ngữ, có thể coi đó là những nét nổi bật trong sáng tác của Tô Hoài góp vào văn xuôi hiện đại Việt Nam
Trang 141.2 Khái niệm tản văn
a Từ điển tiếng Việt giải thích: 1 Văn xuôi 2 Loại văn gồm các
thể ký và các thể văn khác, ngoài truyện , thơ và kịch (Nxb Đà Nẵng, [Hoàng Phê chủ biên, 1997, tr.857]
b Đào Duy Anh, Từ điển Hán Việt, Tản văn, văn xuôi không có
vần [Nxb Khoa học xã hội, 1996, tr 233]
c Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán,Trần Đình Sử chủ biên), ở
mục tản văn viết: “nghĩa đen là văn xuôi, nhưng hiện nay tản văn được dùng để chỉ một phạm vi xác định, không hoàn toàn khớp với thuật ngữ văn xuôi Nếu văn xuôi trong nghĩa rộng chỉ loại văn đối lập với văn vần, và trong nghĩa hẹp chỉ các tác phẩm văn phân biệt với kịch, thơ, bao gồm một phạm vi rộng từ tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, kí, tiểu phẩm, chính luận thì tản văn chỉ phạm vi văn xuôi hẹp hơn, không bao gồm các loại truyện hư cấu như tiểu thuyết, truyện ngắn Nó là một loại hình văn học ngang với thơ, kịch, tiểu thuyết Nhưng mặt khác tản văn lại có nội hàm rộng hơn khái niệm kí, vì nội dung chứa cả những truyện ngụ ngôn hư cấu lẫn các thể văn xuôi khác như thư, hịch, cáo…Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cách, khắc họa nhân vật, lối thể hiện đời sống của tản văn mang tính chất chấm phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh Điều cốt yếu là tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm,
ý nghĩ của tác giả
Trong văn học cổ, tản văn bao gồm các văn bản kinh, truyện, tử,
tập như Mạnh Tử, Tả truyện, Sử ký, các bài kí như Đào hoa nguyên kí
của Đào Uyên Minh, các bài biểu, chiếu, cáo, hịch, thư, phú, văn như
Trang 15Điếu cổ chiến trường của Lý Hoa, Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo,
minh luận Trong văn học hiện đại, tản văn bao gồm các thể kí, tùy bút, văn tiểu phẩm, văn chính luận, tạp văn, ngụ ngôn, chân dung văn học.Tản văn là loại tự do, dài ngắn tùy ý, cách thể hiện đa dạng, có truyền thống lâu đời và sức sống mạnh mẽ” [11; 246 - 247]
Trong bài viết Tản văn một thể loại của văn xuôi hiện đại, thạc sĩ
Lê Trà My đã có cái nhìn khái quát về tản văn: "Tản văn trong quan niệm của chúng tôi là một thể loại văn học có những hạt nhân thể loại đặc thù" Sau đó tác giả đã phân tích khá cụ thể các đặc điểm biểu hiện của tản văn ở các phương diện dung lượng, phượng diện tự biểu hiện của tác giả, giọng điệu, kết cấu, cách thức biểu hiện của tản văn: "Tản văn là những tác phẩm văn xuôi thường có dung lượng không lớn, phổ biến là những bài văn ngắn gọn, hàm súc Cũng có những tác phẩm xen
kẽ văn xuôi và vài câu thơ ngắn có vai trò minh hoạ, bàn luận hoặc tổng kết vấn đề Đó có thể là những tiểu phẩm được trình bày dưới dạng một mẩu chuyện nhỏ, có thể là một nét chân dung của ai đó có thực trong đời, có thể là một vài kỷ niệm được hồi tưởng, những suy tư và cảm xúc
về một điều gì đó, có khi lại là những lời tựa, bạt nhấn mạnh những ấn tượng sâu đậm về sáng tác văn chương của một nhà văn nào đó Đặc điểm nổi bật nhất của tản văn so với các thể loại khác là nó bộc lộ trực tiếp cái "tôi" tác giả Cái tôi của nhà tiểu thuyết ẩn vào những hình tượng nhân vật, vào cách đánh giá, cách nhìn đối với cuộc sống, được toát ra từ sự tương quan giữa nhiều cái nhìn, nhiều quan niệm, từ sự phức điệu, đa thanh đặc trưng cho tiểu thuyết Ở thơ, so với tiểu thuyết, cái tôi nhà thơ được bộc lộ rõ hơn, nhưng vẫn phải thông qua thao tác chuyển hoá thế giới nội tâm vào một nhân vật có tính hư cấu - nhân vật
Trang 16trữ tình Ở tản văn, nhà văn là nhân vật duy nhất cất lên tiếng nói trực tiếp của nhính mình về những điều mình quan tâm Chủ thể lời nói nghệ thuật trong tác phẩm tản văn chính là bản thân người viết Lúc này, người viết tản văn với tư cách là chủ thể lời nói nghệ thuật trở thành một hình tượng nhân vật ".
Trong bài Tản văn trên báo văn nghệ 2011, tác giả Nguyễn Thị Lan
cho rằng tản văn là một thể loại văn học độc lập: "Tản văn có những đặc điểm khác với những thể loại khác Tản văn là những bài viết tản mạn tương đối tự do; về dung lượng khá ngắn gọn, hàm súc; về kết cấu: có sự linh hoạt tất cả các phương thức, phương tiện biểu hiện nghệ thuật; về nội dung: thường biểu hiện đời sống theo kiểu chấm phá và đặc trưng quan trọng nhất là thể hiện đậm nét dấu ấn cá nhân của người viết; về mặt thẩm mỹ: tản văn đứng giữa thơ và truyện ngắn Nói đến tản văn trước hết phải nói đến "văn" bởi không có chất "văn" không thể có tản văn Chính vì chất 'văn" này tản văn không chỉ dừng ở một bài báo ghi chép tản mạn mà là một bài viết có tính nghệ thuật, duy mỹ Người viết tản văn hay là người
có tâm hồn, có khát vọng thẩm mỹ, có niềm trân trọng với con người với cuộc đời, có sự nhạy cảm với đời sống, có sự chân thành của tâm hồn"
Thể loại tản văn trong Giấc mộng ông thợ dìu cũng được hiểu theo
tinh thần cơ bản của các tác giả này
Nhiều người băn khoăn về sự giống nhau và khác nhau của khái
niệm tản văn và tạp văn, còn tác giả Giấc mộng ông thợ dìu quan niệm
tản văn và tạp văn là một, chỉ khác nhau ở tên gọi
1.3 Tản văn Tô Hoài trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài
Giấc mộng ông thợ dìu là tên một văn bản của Tô Hoài được lấy
làm tên của cuốn sách tập hợp toàn bộ tản văn của Tô Hoài Giấc mộng
Trang 17ông thợ dìu gồm 83 tản văn, chia thành hai phần, viết về nhiều vấn đề
của cuộc sống hiện nay Giấc mộng ông thợ dìu được công bố tại Nhà
xuất bản Hội Nhà văn năm 2006
Tản văn là một trong số nhiều thể loại mà Tô Hoài sử dụng hợp thành một bộ phận đa dạng thể loại trong trước tác của Tô Hoài
Trong vài ba thập niên gần đây, tạp văn là thể được nhiều tác giả
sử dụng Điều này có nguyên cớ Tạp văn là thể loại vừa có tính chất văn chương vừa có tính chất báo chí Viết tản văn, các tác giả không chỉ
sử dụng được các phương tiện văn chương để thể hiện cuộc sống mà còn
sử dụng được tư duy báo chí để trình bày nhận thức của mình về những vấn đề thời sự một cách trực tiếp
Việc tác phẩm Giấc mộng ông thợ dìu xuất hiện cho thấy nhà văn
Tô Hoài có sức sáng tạo bền bỉ ngay cả khi tuổi đã cao Nhà văn luôn bám sát những vấn đề thiết yếu của đời sống với tài năng văn chương và nhiệt tình công dân
Tản văn góp phần hoàn chỉnh sự nghiệp văn chương của Tô Hoài Cho thấy đây là một tài năng đa dạng, có sức sáng tạo bền bỉ, không bao giờ lạc hậu với thời cuộc
Trang 18Chương 2 TẢN VĂN TÔ HOÀI VIẾT VỀ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
VÀ MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI
Giấc mộng ông thợ dìu với 83 văn bản tản văn, có thể quy về hai
nội dung cơ bản là những tản văn viết về môi trường tự nhiên và những tản văn viết về môi trường xã hội, trong đó đặc biệt đáng chú ý là những tản văn ông viết về môi trường xã hội, con người
2.1 Tản văn Tô Hoài viết về môi trường tự nhiên
2.1.1 Thống kê, phân loại
Tản văn là một loại giá trị tinh thần, bởi vậy không thể sắp xếp rạch ròi, tuy nhiên, cũng có thể phân định dựa trên nội dung chủ yếu và cảm hứng chủ đạo
2.1.1.1 Phân loại dựa vào đề tài
Trong 83 văn bản, có 2 văn bản chủ yếu viết về môi trường tự
nhiên: Cây dướng, Cây Hồ Gươm, số còn lại là những văn bản kết hợp viết về môi trường tự nhiên và viết về môi trường xã hội: Loăng quăng,
Thịt rừng, chim trời và con bướm, Giàn hoa kim ngân, Tôi lại chơi dế mèn, Trên sông Hồng, Lại chuyện về cái túi ni lông, Bình Châu, Một buổi tối, Cái giậm, Con khỉ, con dê, Tạnh mưa, Cây cổ thụ và vườn hoa, Rồi thì người ở một mình, Mai Châu, Chơi hoa, Qua miền Trung, Con khướu bạc má, Những con vật nho nhỏ quanh ta, Thả diều thi, Chuyện con chim, Chuyện con ếch, Chuyện con chó, Cây và hoa thành phố, Thủng thẳng, Trồng cây, Di tích Mỹ Sơn, Con ốc mút, Cây si, cây sanh, cây sưa và ngày tháng qua, Chơi Chùa Hương, Hồ Tây, Mưa mới, Tết năm ấy ở Tà Sùa, Một cuộc chơi xuân
2.1.1.2 Phân loại dựa vào nội dung
Dựa vào cảm hứng chủ đạo, có thể phân thành hai loại:
Trang 19- Tản văn Tô Hoài phê phán sự xâm hại đến cuộc sống của tự nhiên.
- Tản văn Tô Hoài ngợi ca vẻ đẹp và khẳng định ý nghĩa nhân văn của thiên nhiên
2.1.2 Phê phán sự xâm hại đến cuộc sống của tự nhiên
Trong tản văn, Tô Hoài viết nhiều về những vấn đề và những chủ
đề liên quan đến môi trường tự nhiên Tác giả phê phán sự can thiệp
thô bạo của con người vào cuộc sống của tự nhiên Trong Loăng
quăng ông viết: "Chợt nghe chim chích choè vi vút khoan thai từng
tiếng đâu đây Ô hay chim chích choè về giữa thành phố, con chim vốn hay nhảy dưới bờ ao buổi chiều Bỗng dưng nó lạc loài vào nơi
đô hội thế này Trông lên dưới cái mái tôn đầu hè mới biết Không, đấy là những con chích choè mắc bẫy về phải tù trong chiếc lồng người ta treo bán dưới mái hiên Con chim chích choè, con cà cưỡng, con khướu mun, khướu bạc má không biết chúng nó hót vui hay hót buồn, ai có nghe được tiếng chim thì mới hiểu đấy là con chim đương than khóc hay là đương chửi rủa người nhốt nó" [49; 11] Và trong
Rồi thì người ở một mình, tác giả ngợi ca những lợi ích vật chất và
tinh thần mà chim muông, cây cỏ mang lại cho con người: "Chủ nhật, tôi đến đường Hoàng Hoa Thám có những cửa hàng chuyên bán chim
và cây cảnh Hai bên đường bóng cây mát rượi, thấy nhan nhản những chim là chim, không phải chim trên cây mà chim trong lồng nan tre, nan nhôm những con sáo, con khướu, con hoạ mi cả trăm thứ chim" [49; 145]
Không dừng lại ở mức độ phê phán sự can thiệp thô bạo vào cuộc sống tự nhiên, Tô Hoài còn dành nhiều trang viết phê phán việc con người triệt hạ tự nhiên trong xã hội hiện đại Những người yêu quý thiên nhiên hẳn rất đau lòng khi đọc các đoạn văn sau: "Kể ra, người giết chim cũng đã nhiều, nhiều lắm Mấy năm trước, mùa nào chim nấy,
Trang 20chim được đem bán hàng thúng những con ngói, con sẻ, con nhạn nước
đã làm lông, moi bụng sẵn Chim ngói người ta đặt lưới bắt ở những cánh đồng vừa gặt Chim sẻ thì bẫy ở các bãi rác Con nhạn nước thì chăng lưới các gốc cây ở bờ hồ Hoàn Kiếm và đường Thanh Niên, hai bên hồ Tây, hồ Trúc Bạch, sáng sớm mùa đông sương mù, cả nghìn cả vạn con nhạn nước lượn quanh gốc cây mắc lưới
Bẫy được cò nhiều lắm, ấy bởi người ta vừa sáng chế ra cái máy bẫy chim hiệu nghiệm cực kì Máy gồm có: bộ lưới dài có thể úp được
cả đàn chim, hộp cát xét chạy pin có băng thu được tiếng chim, cò kêu, bìm bịp kêu, chim kêu thứ thiệt
Người đánh chim căng bẫy, giăng lưới rồi mở băng Trong đêm hay giữa ban ngày, tiếng chim trong loa gọi líu lo, đàn chim đương bay liệng xuống với đàn bạn, thế là toi mạng Đồng bằng mênh mang cánh đồng, lạch nước và chim sa lưới một mẻ có khi được năm trăm con vạc, con mồng két, con cò lửa ” [ 49; 50 - 52]; “Tôi đã từng viết về nghề tiêu diệt bướm ở Tam Đảo Không mấy ai để ý khi mùa xuân về, rừng Tam Đảo chỉ còn những đàn bướm trắng và bướm ma chập chờn bay ra, chứ những bướm rồng, bướm chúa, bướm tiên quý hiếm chẳng thấy đâu nữa ”
“Bây giờ người kiếm phong lan phải đi thành bọn vào rừng sâu mang cả bạt, đeo cả gạo và xong nồi đi vài ngày Mà đồ lề lấy phong lan bây giờ không chỉ có chiếc rìu, con dao mà phải đem cưa, thang dây, có
cả cưa máy chạy pin quay tay, còn nhiêu khê hơn thợ sơn tràng đi rừng Bởi bây giờ chỉ còn phong lan trên lưng chừng cây, hạ cây xuống thì mới lấy được một vừng phong lan có nghĩa là phải phá rừng mới lấy được phong lan" [ 49; 147 - 148]
Hậu quả của sự can thiệp thô bạo vào cuộc sống của tự thiên, sự triệt phá thiên nhiên là ngày càng vắng bóng chim, các con vật đáng
Trang 21yêu: "Và đến mùa, quả đa chín vàng ối rồi mà chẳng thấy con yểng, con chim vàng anh về" [49; 135], "Nhưng ở ngoài vườn và trên các bờ rào còn bao nhiêu, vô vàn những con đáng yêu mà bây giờ hầu như cũng mất cả" [49; 213], "Những năm gần đây, những con sâm cầm, con bồ nông về hồ Tây vãn hẳn" [49; 283], "Bây giờ chỉ còn con chim éc lợn bay qua, tiếng rùng rợn nửa đêm" [49; 260].
Cuộc sống của con người luôn vận động, bởi vậy, quan hệ giữa con người và tự nhiên cũng thay đổi, tất nhiên theo cả hướng thuận và
nghịch Tản văn Chuyện con chim giàu ý nghĩa triết lý Tác giả kể mấy
mẩu chuyện Có ông lão bán chim phóng sinh ở chùa Xá Lợi Chim cứ bán cho người ta phóng sinh xong lại trở về lồng của ông lão để trên sân thượng Có bà nuôi được con khướu rất khôn nhưng rồi phải thả vì suốt ngày con vật cứ báo có khách mà chủ nhà ở goá, chỉ có một mình Chuyện thứ ba là theo lời khuyên của người ta, tác giả nuôi khướu bằng thịt bò thui, kết quả là chim phổng phao, lông đen nhánh như bôi
mỡ nhưng không hót nữa Bài tản văn phê phán sự can thiệp thô bạo vào tự nhiên, phảng phất tư tưởng “vô vi” (không làm trái tự nhiên) của Lão - Trang”
Cuộc sống cần biết bao nhiêu những con người biết yêu quý và tôn trọng thiên nhiên: "Một đêm kia, con dế của tôi bỗng kêu vang Tôi nghĩ rồi cũng đến phải cho con dế này ra ngoài mới hợp Tôi thả con dế lên giàn hoa kim ngân bên cửa sổ" [49; 62 - 63], "- Không, trời nuôi thôi Nhưng mà ai biết người ta về săn chết mất Cả chín châu mười mường này có còn con khỉ nào đâu Ông đừng nói với ai nhé" [49; 125], hoặc những suy nghĩ về cách chơi hoa đầy tính nhân bản: "Các cụ ưa chơi hoa cây Cây ngọc lan búp hoa trắng ngọt đến cuối xuân Những cây ngâu cổ thụ hoa vườn, người chơi cảnh chỉ tỉa, ít chặt cành, bẻ cành,
bởi thương cây tránh làm đau cây" [ 49; 137 - 138]
Trang 22Tác giả kể lại những thú vui tao nhã của người xưa, coi đó như là một cách gián tiếp phê phán lối sống thô thiển phàm tục của một số người hiện nay.
Đọc những đoạn văn như thế này, lòng ta như dịu lại, bởi trong cuộc sống hiện đại đầy rẫy những mánh khoé, mưu mô, toan tính, bỗng gặp được những người biết yêu thiên nhiên, biết đau nỗi đau của chim muông cây cỏ Ta như lạc vào thế giới của cổ tích Chính những con người đó đã góp phần giúp ta thêm tin yêu cuộc sống
2.1.3 Ngợi ca vẻ đẹp và khẳng định ý nghĩa nhân văn của tự nhiên
Tản văn Tô Hoài ngợi ca vẻ đẹp và khẳng định giá trị của chim muông cây cỏ Tô Hoài nói đến cả những con vật bé nhỏ nhưng mang lại nhiều lợi ích cho con người: "Những con vật nhỏ dễ quên có khi được việc đấy
Mới rồi tôi vào Sài Gòn ghé chơi một nhà bà con Nhà ở chung cư năm tầng, hôm ấy chẳng may tắc ống nước Người nhà đi xe máy ra chợ, một chốc về tay xách lõng thõng một con lươn
Bạn tôi nói:
Thợ chữa ống nước đây!
Rồi thả tõm con lươn vào trong bồn Con lươn lặn xuống, chỉ một lúc, nước ứa lên ọc ọc Nước dềnh lên chan hoà " [49; 261]
Không chỉ nói đến những lợi ích đơn giản, bé mọn như "thợ chữa ống nước", Tô Hoài còn đề cập đến những tiềm năng lợi ích kinh tế lớn lao chú Dế Mèn phiêu lưu thuở nào hoá ra lại rất có ích cho con người:
"Ông bác sĩ bảo bột dế có dinh dưỡng cao, lại chống béo phì rất hiệu nghiệm Dế Mèn thành vị thuốc và món ăn đặc sản từ đấy
Hiện nay Tùng nuôi khoảng 150 000 con dế đương đẻ trứng
Phóng viên Thời báo Kinh tế Việt Nam hỏi:
- Năm tới, Tùng có kế hoạch gì về dế ?
Trang 23Tùng đáp:
- Em sẽ hướng dẫn kĩ thuật, cung cấp giống và vận động bà con nuôi dế bán được tiền để bớt cái đói nghèo, ở Củ Chi nhiều nhà đã học nuôi
Con dế của tôi không còn gian truân Nó có ích cho người và làm tốt lành cho xã hội" [49; 215 - 216]
Tô Hoài còn ngợi ca lợi ích của cỏ cây hoa lá Cây cối quanh ta cũng có biết bao nhiêu tác dụng Chẳng hạn giá trị kinh tế của những cây dó, cây bo kễnh, cây dướng:"Và ở vùng Bưởi ngoại thành Hà Nội xưa kia làm giấy bản, nguyên liệu bằng cây dó ở Phú Thọ, ở Yên Bái Ở Cầu Giấy, làm giấy hẩm thì mua cây bo kễnh, cây dướng ở rừng ngoài Quảng Yên, Hòn Gai
Cây cối quanh ta hay xa ta đều được việc cho ta" [49; 239 - 240], đến những vị thuốc dân gian rất dễ tìm như cây gạo: "Những gốc gạo hiền lành, xù xì như đá tảng vì những nhát dao tước vỏ cây từ thuở trong phố còn những cột đèn dầu thắp các ngã tư đường thập đạo, người ta lấy
vỏ gạo về làm thuốc bóp chân xái, tay gãy - những bài thuốc ai cũng thuộc", rồi những cây lộc vừng, cây sung vừa làm cây cảnh vừa làm thực phẩm tươi sạch không tốn tiền mà lại có lợi cho sức khoẻ: "những cây trong vườn đã thành đại thụ cũng thấy ở đây Bảy cây lộc vừng vun lên một khóm mà nõn lộc vừng để kèm ăn gỏi cá mè, những cây sung cổ quái mỗi mùa xuân vẫn trổ lá, quả sung muối dưa, lá sung non lót nem chạo trên phùng uống với rượu gạo Mễ Trì của ba làng Mai" [49; 324]
Tô Hoài viết về giá trị thẩm mĩ, giá trị tinh thần không thể đo đếm được của những cái giàn hoa kim ngân đầy sức sống:"Dây kim ngân bốn mùa không biết màu úa, cả giàn không một chiếc lá héo Lá kim ngân sóng đôi, xanh mởn, lông tơ vân vân, như lá được trổ trong bụi mưa Cả giàn nở hoa vàng xôn xao Giữa tháng chạp khô héo, cây kim ngân có
Trang 24giêng hai hoa lá của mình" [49; 57], của mùi thơm quyến rũ thoang thoảng của những chùm hoa thiên lý vàng rượi làm dịu mát lòng người:
"Những dây thiên lý leo lên xanh thẳm một góc bờ hồ, những chùm hoa
lý vàng rượi, phảng phất mùi hương thoảng rất xa" [49; 138]
Tác giả thật sự tự hào về cây cỏ của quê hương, bởi chúng góp phần - dù nhỏ bé - tạo ra một trong những nét riêng cho cảnh sắc thiên nhiên Việt Nam: "Chúng ta có nhiều cây trang trí, cây xanh, cây cảnh, cây và vườn hoa Khách nước ngoài nhận xét cây và hoa nhiều loại chỉ Việt Nam mới có Phương nam có cây bằng lăng hoa tím ở rừng miền Đông, bằng lăng bây giờ đã là cây hằng ngày trông thấy trên các đường
và các vỉa hè thành phố Cây hoa ban trắng, hoa ban tím ở rừng Việt Bắc, Tây Bắc mọc nhiều
Biết bao cây Việt Nam đã làm đẹp, thể diện cho cây xanh thành phố
Cây và hoa làm đẹp cho sinh hoạt đời sống con người" [49; 269].Chính thiên nhiên đã đem đến bao ngỡ ngàng, thú vị, vui sướng cho con người: "Tôi lại đương tha thẩn đi trong rừng thưa Mĩ Sơn Suối cạn và cỏ khô êm êm dưới chân Đột nhiên hình như thấy mùi hoa ngọc lan thoảng quanh đây Hoa ngọc lan thường thơm ngát trong những đêm trăng mùa hạ quê nhà Ô hay, quái ác chưa, sao lại có hoa ngọc lan trong rừng hoang đất thánh Mĩ Sơn Nhưng rõ ràng trước mắt tôi, cao cao một cây ngọc lan cổ thụ Những đoá ngọc lan trắng muốt như những ngón tay búp măng nở trong kẽ lá" [49; 280 - 281]
Tản văn Tô Hoài ngợi ca vẻ đẹp và khẳng định nhiều giá trị tự nhiên Tô Hoài nhiệt thành ngợi ca tác dụng cao đẹp của thiên nhiên Thiên nhiên giúp con người tẩy rửa bớt bụi trần: “Ngoài đường bây giờ cũng nhốn nháo, chỉ chốc lát có ngồi trên bờ trông ra hồ, mặt nước hồ Thiền Quang hay hồ Tây cũng được, thì tai mắt và trong bụng mới có
Trang 25thể yên yên Bởi vì chỉ có mặt nước, mặt nước sáng trong, mặt nước xa
xa gần gần mới như muôn thuở” [49; 9]
Trong cuộc sống xô bồ, lẫn lộn thật giả, cũ mới thì thiên nhiên giúp con người lấy lại thăng bằng, tìm lại chính mình: "Ra cửa, lại gió mát hây hây thổi qua hàng hiên những cái cột đá trắng thật mát, thật đẹp Thoát khỏi những đòn tra tấn, tôi lại nghĩ mình thật lạc hậu, lạc loài, người ta ngồi xem cả rạp thì sao, nhưng mà ngoài này gió mát trăng sáng tôi mới ung dung bình thường lại người, chẳng tiếc rẻ tí nào" [49; 106]
Khi thiên nhiên không bị can thiệp thô bạo, con người và thiên nhiên có mối quan hệ tự nhiên và hoà hợp: "Nước nóng trong hốc đá tuôn ra Khi lên bờ khói trắng bốc nghi ngút nước chảy một quãng dài quanh sang bên kia núi, hoà vào suối cái Cá lúc nhúc bơi vào làn nước
ấm Mỗi sớm, người trong xóm chỉ ra một quãng đường đã được một mẻ
cá Xóm ấy quanh năm ăn canh cá, cá muối, cá nướng, đàn bà con gái trắng ngần đẹp thướt tha nhẳng khác người suối Mường Kim bên Mùa Cang Chải Cả đến đàn khỉ trên núi xuống, thỉnh thoảng lại được miếng xương cá, khỉ cũng béo tròn như con cun cút
Mấy hôm, ngày nào chúng tôi cũng ra cái hũm đá nằm ngâm nước
cả buổi Chảng biết được bổ béo thế nào, nhưng ở trong nước suối nóng
ra mình mẩy nhẹ nhàng như ở động tiên trở về trần gian" [49; 124]
Không chỉ đề cập đến những vấn đề về môi trường tự nhiên một cách thuần tuý, Tô Hoài còn đi sâu đề cập đến quan hệ của môi trường
tự nhiên và môi trường nhân văn Tô Hoài viết nhiều về những thắng cảnh thiên nhiên, những địa điểm thiên nhiên gắn với di tích, với danh thắng Tiêu biểu như: Hồ Tây, Hồ Gươm, Hồ Thiền Quang, Chùa Hương Viết về những danh thắng tự nhiên văn hoá này ngòi bút Tô Hoài luôn tràn trề xúc cảm Cảnh đẹp thiên nhiên, cảnh đẹp Hồ Tây là
nguồn cảm hứng bất tận, muôn đời: “Lạ thay cảnh Tây Hồ! Lạ thay cảnh
Trang 26Tây Hồ! Chương lĩnh hầu Nguyễn Huy Lượng thời Tây Sơn đã ngạc
nhiên phải kêu lên như thế
Không bao giờ, ai mà có thể nói hết được về Hồ Tây - tôi cũng ngỡ thế Từ ngàn xưa tới nay Lại nữa, hôm nay trong xây dựng Hà Nội đương đẩy nhanh thời gian chỉ lọt vào vòng một tháng đã bao nhiêu cái mới chồng chất, bề bộn Những việc, những công trình chưa khi nào
có, cứ ngày ngày hiện ra quanh vòng nước mênh mang, mà sóng nổi,
mà sương mù dịu dàng mùa thu bao phủ Ai thiết tha với Hà nội mà không bồi hồi, mỗi lần đến với hồ lại thấy như mình có lỗi với chính
mình Những điều đã nói cũng chưa ra làm sao Lạ thay cảnh tây Hồ " [49; 304], "Cái hồ Tây từ ngày thơ bé Từ còn nhỏ, đọc những bài Đêm
trăng chơi hồ Tây của Đoàn Như Khuê và bao nhiêu bài nữa , không
nhớ, chỉ nhớ như cái hồ Tây ngày ngày cả tuổi thơ mình chơi nhởn nhơ trên bờ
Hồ Tây trước mặt tôi kia dường như làn nước ấy bao giờ cũng mênh mang ra ngoài những áng văn tôi đã thấy Mùa đông xám ngắt đã
về rồi, từng đàn bồ nông, những đàn le le, đàn vịt trời, những đàn sâm cầm bay như trấu vãi ngang trời Khi ấy, cũng chưa có cái cột khói nhà mày điện nhô lên đằng hồ Trúc Bạch Chỉ phảng phất mảnh tưởng trắng trên gò chùa Châu Long” [49; 304-305] Và vị thế của hồ Tây đối với thủ đô Hà Nội thật lớn lao: "Trông thế rồng đứng hổ ngồi của thời đại mới, hồ Tây lại nghiễm nhiên trở thành vườn ngự uyển lớn giữa lòng thắng cảnh Hà Nội" [49; 312], " Hổ Tây xinh đẹp đương được khám phá những vẻ mới giữa Hà Nội thời đại Hồ Tây của Hà Nội đứng trên nền suốt bao nhiêu thế kỉ về trước Có thế mới là Hà Nội Vẻ đẹp Hà Nội nẩy nở trên cái đẹp truyền thống, từ tâm hồn truyền thống lịch sử từ bây giờ kể lại ngàn xưa Không phải đấy chỉ là điều mơ tưởng Mà thực tế dân tộc đã sinh sôi như thế" [49; 313]
Trang 27Đọc tản văn Tô Hoài, người ta nhiều lần bắt gặp những minh triết
về tự nhiên: “Có lần nghĩ về hồ Tây tôi đã tưởng như mình sống cả cuộc đời cũng chưa thể thấu hiểu được cuộc sống trước sau của người, của một vòng hồ ấy” [49; 311], hay những triết lí về cuộc đời: "Bấy giờ đương mùa hoa đại Cây đại hoa đỏ vẫn nở vào mùa đông Năm mươi năm đã qua, cây đại đã thành cây cổ thụ, chắc là chẳng ai còn nhớ liệt sĩ Nguyễn Thành của Hà Nội ôm bom ba càng đầu tiên đánh xe tăng, nhưng cây đại già vẫn còn, vào mùa đông hoa đỏ rơi rơi" [49; 295] Năm tháng qua đi, con người dần lãng quên đi quá khứ của mình, của dân tộc mình, chỉ có thiên nhiên là chứng nhân muôn đời về những đổi thay, dâu bể của cuộc đời con người
Hồ Gươm, đặc biệt là cây hồ Gươm để lại ấn tượng sâu sắc với Tô Hoài: “Hồ gươm đượm một vẻ đẹp gọn xinh, không dáng dấp mênh mang như Hồ Tây Tưởng như một lúc nào đấy, đương giữa mgười người nô nức chen chân giữa nơi đô hội, ở Hàng Giò, Hàng Khay ra, ở Hàng Đào, Hàng Trống dốc xuống, đột nhiên gặp một ánh nước thoáng như cái chớp mắt của con mắt ai xanh biếc Hồ Gươm ấy
Nắng nghiêng bóng những hàng dây hắt chân cầu Thê Húc không phải một lời thơ khoa trương mà ấy là người xưa miêu tả cái lạ lùng của quần thể Hồ Gươm Những nét riêng ấy chỉ dành cho khách biết yêu hồ
Có hôm quang trời bên tam quan đền Bà Kiệu, trông lên phía tây trên làn sóng mái nhà nhấp nhô, Hàng Gai, Cầu gỗ thấy in hình màu lam huyền của ngọn dãy núi Tam Đảo Thế là người đứng ven đường chẳng còn nhớ đương trong nơi phồn hoa, hay ở giữa cây và nước quanh mình với lên liền đến phương trời và núi xa kia
Nhớ Hồ Gươm, bao giờ tôi cũng trở lại tuổi thơ tò mò, ngây dại, say mê với những trò chơi đếm cây, đố lá mỗi cây mỗi quả, xem các mùa đổi lá, đổi mùa ra hoa không khi nào biết chán” [49; 322-323]
Trang 28Như vậy, viết về những vấn đề thiên nhiên, tự nhiên, Tô Hoài say
mê viết về những vẻ đẹp, những vẻ đẹp có từ xa xưa của gắn với tuổi thơ của mình Tây Hồ lãng mạn, Hồ Gươm nên thơ, cảnh trẩy hội chùa Hương đã đi vào tâm thức dân tộc Viết về những danh thắng tự nhiên văn hoá này, Tô Hoài còn cung cấp cho ta những kiến thức, những hiểu biết về lịch sử và sự độc đáo của nó
Viết về Hồ gươm, Tô Hoài không chỉ miêu tả vẻ đẹp hiện tại của cây cối, ông còn kể về lịch sử của nhiều thứ cây quý ở đó: “Những hàng cây quanh hồ Gươm có một nề nếp qua mọi đời người xa xưa bao nhiêu thế hệ Thành phố Bắc Kinh xanh mướt dặm những lệ liễu trập trùng mấy chục cây số qua ra các phía ngoại thành Và những con đường trung tâm toàn những cây hoè cổ thụ Cây cối hồ Gươm của Hà Nội thoạt nhìn không ra thể thức nào, nhưng để ý kĩ sẽ thấy được một lề lối của mỗi bóng cây bóng nước [49; 323]
Hai tiếng “hồ liễu” xưa nay thân thiết gắn bó với Hồ Gươm, hồ Gươm hồ liễu Nhưng đừng ai tưởng rằng lúc sầm uất nhất quanh hồ Gươm chỉ toàn dương liễu Xưa rày chưa bao giờ có quang cảnh ấy Lệ liễu Hồ Gươm không yêu kiều vì dặm liễu dặm dài Mà từ thủa nào, liễu
Hồ gươm chỉ lác đác Những cây liễu đứng một mình luông tóc gió in bóng hồ điểm trang bức tranh hồ cuối thu phẳng lặng, hoa lộc vừng đỏ bay rơi từng đám như mưa bụi xuống mặt nước” [49; 325]
Viết về Hồ Tây, Tô Hoài không chỉ dừng lại ở cảm xúc vì vẻ đẹp nên thơ của nó, mà còn cung cấp cho người đọc những hiểu biết về lịch
sử của hồ và cả những chiêm nghiệm của cá nhân: “Thắng cảnh chùa Hương, Chúa Trịnh Sâm (1737 - 1782) đời Lê đã cho khắc lên vách đá: Nam Thiên đệ nhất động với những dòng thơ cảm hoài của các danh sĩ
Vũ Phạm Hàm, Cao Bá Quát từ xưa đã nức tiếng: Đi vãn cảnh chùa một vùng chùa Hương trảy hội theo phong tục là như vậy
Trang 29Vùng chùa Hương, hơn ba mươi cây số Từ Miếu Môn xuống qua Hương Sơn và Quan Sơn, toàn cảnh rừng núi đầm hồ từ Ninh Bình đổ xuống, coi như từ đầu dãy Trường Sơn thoai thoải ra Có một thời kỳ các nhà quân sự đã tìm đặt địa danh cho chỗ bắt đầu con đường Trường Sơn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ dự định cái một vinh dự ấy ở Miếu Môn” [49; 301].
Cảm hứng thường trực đã làm nên một nét phong cách tản văn Tô Hoài,
đó là không chỉ miêu tả và thả hồn mình cùng với vẻ đẹp của Tây Hồ, của Cây Hồ Gươm, của Chùa Tây Phương… Tô Hoài còn cung cấp cho người đọc những kiến thức độc đáo từ những hiểu biết và chiêm nghiệm của bản thân
Tản văn Tô Hoài thường thể hiện những cảm thức truyền thống của người trí thức Việt Nam Đó là những khi bị sinh hoạt xã hội làm cho mệt mỏi, phiền nhiễu, con người lại muốn được quay về sống chan hoà giữa tự nhiên Từ xa xưa, ở Việt Nam đã có bao nhiêu chí sĩ đến với tự nhiên để di dưỡng tình thần, dùng thiên nhiên để phủ định cuộc sống xã hội đương thời Nguyễn Trãi từng viết:
Núi láng giềng, chim bầu bạn, Mây khách khứa, nguyệt anh tam.
(Thơ Nôm)Hoặc:
Non lạ nước thanh làm dấu Đất phàm cõi tục tránh xa.
(Thơ Nôm)Theo Tô Hoài, cuộc sống hiện nay no đủ, thậm chí dư thừa nhiều thứ, nhưng có một thứ rất cần thiết lại thiếu đó là thiếu tình cảm đối với thiên nhiên: “Ở trong thành phố bây giờ khó lòng còn nghe tiếng chim hót, chim kêu - Không kể mấy con khướu bị giam trong lồng Nửa đêm
Trang 30về sáng cũng không còn tiếng vạc đi ăn đêm về kêu xa xa tiếng một Họa hoằn chỉ nghe chim lợn bay kêu éc éc rợn tai - Con chim lợn báo điều không tốt lành sắp đến, ai cũng sợ” [49; 50].
Tản văn của Tô Hoài còn ám ảnh người đọc bởi những câu chữ có sức tác động, ám ảnh và đồng cảm lớn về tính vấn đề của chúng chẳng hạn tác giả viết về việc những di tích, danh thắng tự nhiên lịch sử văn hoá này đang xuống cấp nghiêm trọng bởi những tác động của con
người Trong văn bản Chơi chùa Hương, Tô Hoài đã khéo léo gài ẩn ý
của mình: “Đi chùa Hương vào dịp giêng hai hầu như đã là một phong tục, một ước ao của mọi người, một chuyến xe buýt, xuống đò vào suối Yến trèo lên tận chùa Hang, đến chiều xe buýt đến đưa về Cũng là một chuyến được đi vãn cảnh chùa Suốt tháng giêng hội chùa hàng nghìn khách chơi chùa, đi lễ Như vậy, đi chùa Hương thường chỉ một ngày
Ai cũng kêu là khó nhọc nhưng là đi lễ bái, chẳng mấy ai than thở Bây giờ cũng ít hẳn các cụ lão bà ở quê ra áo bông thắt lưng chít khăn vuông đeo tay nải ra đi chùa Hương Nhiều người bây giờ là người đi chùa sớm, tối về” [49; 300]
Như vậy, khi viết về môi trường tự nhiên, Tô Hoài không chỉ viết
về vẻ đẹp, giá trị kinh tế văn hóa của chúng mà còn quan tâm nhiều những danh thắng tự nhiên gần với di tích lịch sử văn hoá lâu đời của dân tộc, là biểu trưng cho đời sống tinh thần dân tộc Cấu trúc các văn bản tản văn của Tô Hoài về vấn đề này thường theo trình tự sau: trước hết là giới thiệu những đặc sắc của danh thắng này gắn với thời xa xưa của lịch sử hoặc gắn với thời thơ ấu của tác giả Tô Hoài là nguời đặc biệt có những hiểu biết phong phú và phát hiện sâu sắc về địa dư, lịch
sử, những chi tiết đặc sắc không phải ai cũng biết ít người biết được Viết về Chùa Hương ông cho biết có một thời kỳ nó từng được dự định
là nơi mở đầu của tuyến đường Trường Sơn Đồng thời hiện có dự án
Trang 31mở đường sông để đến với Chùa Hương Viết về Hồ Tây ông cho biết chỗ hẹp nhất của nó ở đoạn làng Võng Thị Viết về cây Hồ Gươm ông cung cấp cho chúng ta biết lai lịch của từng cây quý giá một Viết về phố cổ ông cho người đọc biết về một cây dướng không ai nhớ tới nữa… Không chỉ dừng lại ở cung cấp những thông tin đặc sắc, Tô Hoài còn đi vào đặt ra vấn đề về sự tương tác của môi trường xã hội đối với những giá trị thiên nhiên này Đọc tản văn Tô Hoài độc giả có thể chiêm nghiệm ra được nhiều điều về thiên nhiên, về con người và
xã hội
2.2 Tản văn Tô Hoài viết về môi trường xã hội
2.2.1 Thống kê, phân loại
2.2.1.1 Phân loại dựa vào đề tài
Trong 83 văn bản có 48 văn bản chủ yếu viết về môi trường xã hội:
Đi câu, Quán cây si, Gia truyền, cổ truyền, đặc sản, Cái túi nilon, Hà nội với Hà Tây, Mỗi người một khác, Cần những hương ước đời nay, Nhái, Vỉa hè, Chuyện phiếm, Chịu không đoán được, Cò, Tết rằm, Giấc mộng ông thợ dìu, Cái cốc ba mươi năm, Ngủ bụi, Tức nhau tiếng gáy, Mãi rồi cũng đâm quen, Biết nói thế nào nữa, Khu du kích 99, Hội làng, Bánh bèo bánh mật, Cái bùa túi, Dô dô! Bốp bốp!, Răng sún răng lún, Cũng là công nghệ dây chuyền, Một tai nạn triền miên, Cái mâm chõng, Lược thưa, lược bí, Làng thuốc nam, Ăn đất, Nói lại mấy cái nhầm, Kỷ lục thế giới, Xoè và lăm vông, Cái cổng, Con tò he, Cái quái thai - nhà nghỉ, Chùa Tây Phương, 36 phố phường, Cái học trước mắt, Bảo tồn di sản phố cổ, Thành phố, gương mặt, con người, Tranh gà Kim Hoàng, Đôi guốc, Người chơi tranh, Những cái quán cóc, Những con ma bình vôi, Đi dạo chiều ba mươi.
Ba mươi ba văn bản kết hợp viết về môi trường xã hội và môi trường tự nhiên
Trang 322.2.1.2 Phân loại dựa vào cảm hứng
Trong số các văn bản hoặc chỉ viết về môi trường xã hội, hoặc viết
về môi trường xã hội kết hợp viết về môi trường tự nhiên, có 31 văn bản chủ yếu với tinh thần khẳng định, ngợi ca, có 40 văn bản chủ yếu với tinh thần phê phán
2.2.2 Môi trường xã hội, môi trường nhân văn là sự quan tâm lớn nhất của Tô Hoài
Tản văn Tô Hoài phê phán những thói hư tật xấu của con người, những mặt trái của đời sống xã hội hiện đại Có thể nói rằng xã hội càng phát triển thì những bất cập, những mặt trái của xã hội càng tăng Với vốn sống phong phú, cái nhìn nhạy cảm tinh tế, Tô Hoài không chỉ đề cập đến những vấn đề tự nhiên, thiên nhiên mà còn đề cập chi tiết đến những vấn đề nóng bỏng của đời sống hiện đại Chẳng hạn nỗi lo thường trực về những nguy cơ của việc tham gia giao thông:" Chỉ lo bước nhanh bước chậm và đứng dừng tránh xe đã hết hơi rồi " [49; 11], " Từ khi các ngã ba ngã năm có đèn xanh đèn đỏ thì ai nấy cũng cảm thấy người đi đường được thành phố tôn trọng và thương người hơn trước Nhưng đôi khi vẫn thót rốn Ấy là có lúc cả trên hai bên cột đã bật đèn xanh có hình thằng người chạy qua hẳn hoi, thế mà có đứa mất dạy vẫn lao xe chui qua mép đường Chẳng lẽ cái luật đi đường lại còn có khe hở định giết tôi à?" [49; 12], "Câu chuyện thơ càng làm chúng tôi tạm khuây cái lo đường xá phố phường Nhưng đôi lúc cứ phảng phất lúc ra về, chẳng biết đương còn vui hay lại nhớn nhác, lo ngay ngáy" [49; 13]
Hoặc nỗi lo về sự bất trắc của bất kì ai khi ra khỏi nhà: "Tôi ra bờ
hè vẫy cái taxi Xe bon tới, đỗ xịch Người lái xe nhoài ra mở cửa, cuống quýt nói: "Cụ lên nhanh, nhanh lên cụ ơi!" Tôi đã vào xe Nghe tiếng đập ùng ùng đằng cốp xe, quay lại nhìn, nhìn thấy hai thằng cởi
Trang 33trần, áo vắt vai, đương hùng hổ chạy theo đá cái xe, lại như toan nhảy lên Nhưng cái xe đã vút đi.
Tôi hỏi:
- Cái gì thế?
Người lái xe nói:
- Bọn chấn đấy Hai thằng này vừa ập đến bảo cháu: Tao có dao
trong người đây Mày nôn ra một trăm thì tao tha - Em mới chỉ kiếm
được hai mươi nghìn Chúng nó quát Không nôn đủ hả? Giữa lúc ấy cụ vẫy, cháu phóng lên, phúc cháu quá" [49; 106]
Tác giả viết về sự tiện lợi của túi ni lông và sự ô nhiễm môi trường
do nơ tạo ra: " Để ý xem một bà, một chị đi chợ, chợ xa thì xách cái làn nhựa, chợ gần thì hai tay cầm túi ni lông to nhỏ mà bên trong còn có túi
ni lông nhỏ nữa, đựng mắm tôm, dưa muối, khúc cá tươi, lòng lợn, cà muối, dấm ớt đủ thứ
Cái túi ni lông thì nhà hàng sẵn quá, đã biếu không, coi như giấy gói, lá gói Nilon cần thế, nhưng đem về đến nhà, bỏ các thức ăn ra rồi vứt ni lông vào thùng rác, cái rác ra xe rác, ra bờ bụi, cống rãnh nào đấy mỗi nhà mỗi phố mỗi làng cả nước hàng ngày thải bỏ vô vàn túi ni lông, hàng gò đống túi ni lông" [49; 85] Mà cái hậu quả của sự tiện lợi đó thì lại khôn lường:" Túi ni lông không như cái rổ, cái lồng bàn, cái ghế hỏng đem làm củi đun, cái túi ni lông không tiêu, ni lông trơ ra, ni lông
có tan biến cũng phải mất hàng trăm năm! Triệu triệu cái túi ni lông ném ra hàng ngày thành tai hoạ ni lông" [49; 85]
Nhà văn cảnh báo những tệ nạn xã hội, về bệnh tật từ các vỉa hè ở thành phố:" Thế mà ngoài vỉa hè vẫn còn nằm rải rác người nằm người ngồi suốt đêm hệt như ngày xưa những người ngủ nóp trên vỉa hè Thỉnh thoảng có cái xe máy ghé rồi lại đi ngay Không biết thì thào cái gì hay
đã dúi cho nhau cái tép trắng" [49; 82]
Trang 34Tô Hoài phê phán những biểu hiện phản cảm trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người, kể cả những vấn đề thuộc về đời sống văn hoá tinh thần linh thiêng:" Lại nói về đám hiếu Cũng như việc hỉ, dạo đương cuộc vận động, cũng khá nề nếp Đưa đám rồi ai về nhà nấy Đến cúng 50 ngày hoặc 100 ngày thì tuỳ nhà, không phải là lệ trả nợ miệng, gia chủ làm cơm cúng làm vài ba mâm mời họ hàng, bà con, bạn bè.
Bây giờ lại tràn lan và nhiêu khê
Nhiều đám ăn uống, đánh tổ tôm từ hôm linh cữu còn ở nhà Rồi thì kèn trống, lại cát xét mở băng khóc than, băng tụng niệm, hát chầu văn suốt đêm cả xóm phải nghe
Hủ tục đương sống lại Ma chay hay cưới xin, nhà có thì mượn cớ
mà khoe dởm, khiến cho nhà nghèo thì méo mặt Lại nảy ra cái thói tính
lỗ lãi trong việc hiếu hỷ" [49; 65]
Tản văn Tô Hoài còn đề cập đến những biến tướng của các tệ nạn
xã hội mà con người Việt Nam hiện đại đang phải đối mặt Nhà văn phê
phán sự suy đồi Ví dụ những trò trai gái nhăng nhít: “Bây giờ sang Bắc,
xuống Phòng hay lên Sơn, bên đường chốc lại thấy trong cánh đồng có một cái đầm nước có hàng rào luỹ tre Quanh bờ, lác đác những túp lều, như lều kéo cá, nhưng không có gọng vó Những cái lều con con như thế người ta gọi đùa mà thật là lều câu cá ôm Tức là tay đôi nào đến thuê lều câu cá, thuê cả cần câu và mồi cẩn thận rồi dắt nhau trèo lên lều, làm những gì trong ấy không biết, cũng chẳng thấy cái đầu cần câu nào thò
ra Quanh thành phố bây giờ mới có cái thú thư giãn ôm câu, lều ôm, chứ đã mấy năm trước tôi lên chơi Suối Hai xem vườn cò ở Ngọc Nhị, vào trong đồi tre, đồi vầu đến những chỗ rậm cây, cò đậu cò bay xào xạc, cũng thấy những túp lều lợp lá cọ lấp ló cao cao Chòi canh cò hay chòi đuổi dơi, không phải, mà chẳng hỏi chủ vườn cũng biết ngay ở chỗ
Trang 35khuất vắng ấy là cái chòi người ôm người xem cò” [49; 14-15] Hoặc
trong văn bản Cái quái thai - nhà nghỉ Tô Hoài viết: “Nhà nghỉ có những
cái tên khác nhau từng thời kỳ Xa xưa, gọi là nhà trọ, quán trọ Thời Tây là nhà Săm-do chữ Pháp chambre à loner là phòng cho thuê, theo nghĩa bóng là cái nhà chứa đĩ điếm, “nhà thổ" Bây giờ mọi nơi đều mở nhà nghỉ Cái nghĩa cũng tương tự như các nhà nghỉ thời trước, chỉ có trá hình đi mà thôi, mở mang rầm rộ Ở thành phố Cần Thơ hay ở Thái Nguyên thì giữa phố cũng có bảng và đèn hiệu trưng ra to tướng Ở Hà Nội thì cả đại lộ đến các ngõ hẻm đầu ô đều có nhà nghỉ - đôi khi có tên sang trọng là khách sạn
Ngày trước, các nhà trọ thường ở gần bến xe, bến tàu, như xung quanh ga Hàng Cỏ, ga Đầu Cầu và các phố ven sông Hồng, ở dưới bến lên, khách tỉnh xa đến, có người nhỡ độ đường, có người tìm chốn ăn chơi cờ bạc, ở sẵn có gái điếm Các nhà trọ có sẵn gái điếm có giấy hành nghề cẩn thận và được kiểm soát chặt chẽ Những nơi khuất vắng có bảng đề “phòng cho thuê” hẳn hoi Những người tử tế không mấy ai đi qua các phố có nhà săm như ngõ Yên Thái, ngõ Sầm Công, dốc Ngọc
Hà quanh vườn Bách Thảo Ở những nơi này có gái điếm nhà thổ người nào không có giấy hành nghề, người đi xét giấy (gọi là đội con gái, nhưng toàn đàn ông) không có giấy thì phạt tiền, bắt giam” [49; 298] Trong cuộc sống có "cầu" thì sẽ có "cung", bất kì là mặt hàng nào,
kể cả hàng "người": "Câu chuyện của hai ả không nói tiếng lóng, nhưng
lạ tai Và họ trò chuyện bô bô như không có chúng tôi ở vách ngoài Cái
mụ chủ quán đầu xù như con chó bông, thỉnh thoảng lại vào góp mấy câu nhấm nhẳn
- Cho tao mấy vé Hàn Quốc ấy, bao nhiêu cũng cân
- Nhưng không bèo như chuyến trước đâu Đây toàn tay chủ cỡ bự
- Hôm nào vô trỏng?
Trang 36- Chuyến 9 giờ, đêm nay thôi Thế thì
Chuyện đến đây, hai ả giơ hai ngón tay thoăn thoắt làm hiệu
Thằng cháu gật gù:
- Bọn chúng nó buôn người" [49; 23]
Đoạn văn giống như một đoạn kinh, thật sinh động Nội dung đối thoại đã bộc hết, tác giả không phải tham gia nữa
Dựa vào người khác để trục lợi là một thói tệ mới rất phổ biến
trong xã hội hiện đại Tản văn Tô Hoài nhiều lần viết về vấn đề này: “Đi chợ, đi ăn phải chọn, phải mặc cả, chỗ giá cao chỗ giá thấp, người mua lúc nào cũng lo bị hớ, người bán thì lúc nào cũng thề bồi, cha chết mẹ chết con chết, ngày nào cũng làm con chó ăn cứt nếu nói điêu, nếu gian dối, trong khi đương nói điêu, đương gian dối Ấy là quang cảnh chợ búa hôm xưa và hôm nay vẫn thế… Ai còn nhớ trên dốc Hàng Than ngày trước chỉ có một cửa hiệu bánh cốm Nguyệt Ninh, các làng cũ quanh Hàng Than cũng không có nghề gia truyền về bách cốm Ấy thế
mà bây giờ thì không những ở dốc Hang Than mà còn ở nhiều phố cũng quảng cáo “Bánh cốm gia truyền dốc Hàng Than” Tên hiệu hai chữ thế nào cũng nhái chữ Nguyên hay chữ Ninh hay cả hai chữ, nhưng nhập nhằng là Nguyên Ninh mà nào bánh cốm có ra làm sao? Cái hộp thì in giả, lạt đỏ buộc miếng bánh bọc giấy bóng, còn bánh thì các cụ bĩu môi:
“mỏng như cái lưỡi mèo” [49; 74] Trong Gia truyền, cổ truyền, đặc sản,
Tô Hoài phê phán tệ nhái theo người khác để trục lợi: "Ngẩng lên trước
nhà, thấy treo cái bảng: "Vân Vân Tử xem tướng tay phương pháp Ấn
Độ 5 đồng một quẻ".
Bên dưới có cái bảng nữa sơn hàng chữ: "Lớp dạy làm thơ Có
nhiều thi sĩ danh tiếng đến giảng Cam đoan ba tháng làm được thơ đăng báo 15 đồng một khoá (đóng tiền trước)".
Trang 37Tháng sau, tôi lại đi qua phố ấy Thấy ngoài cửa đã bỏ cái bảng dạy làm thơ Cái bảng "Xem tướng tay" vẫn nguyên như thế với tên của thầy
tướng Vân Vân Tử, nhưng sơn đổi một dòng: Xem tướng tay phương
pháp học được ở nước Tích Lan Tây Trúc
Tôi băn khoăn không biết anh bạn tôi hay lão này là Vân Vân Tử, nhưng khi ra về tôi cũng quên ngay Bây giờ lắm nhà làm ăn cũng mưu mẹo một cách ác ôn thế này Chủ nhà ngoài hay nhà hàng xóm đi Nam - nếu trước đây làm ăn khá thì chủ nhà trong ra ở, hay nhà hàng xóm sang trương bảng tên cửa hiệu và buôn bán y chang nhà ấy
Những sự lừa bịp ấy vào thời buổi này vẫn thời sự, lại còn múa may biến hoá khôn lường Lâu lâu tôi mới lại đi qua phố ấy gần chợ Đuổi Trông thấy ở cửa nhà ông bạn cũ của tôi treo cái bảng todài ngang
gian nhà, sơn chữ đỏ: Phở Tốn Nam Định gia truyền Kính mời quý
khách [49; 28].
Tác giả lấy sự hỗn loạn ngày nay so với sự nề nếp ngày xưa để phê phán: “Bây giờ nói về hai chữ "đặc sản" cứ thấy viết, thấy sơn nhan nhản ở các nhà hàng và đăng trên báo Tôi hãy kể về Hà Nội ngày ttrước
đã, để soi cá gương sáng gương mờ với bây giờ xem sao Tất nhiên thuở
ấy Hà Nội bé tẻo teo với dân số đôi ba vạn người, chẳng nhiều hàng quán như bây giờ, nhưng cũng có những nơi ăn uống quen thuộc, phân minh như thịt chó Hàng Đồng, Hàng Lược, chim quay đầu Hàng Gai, nem Sài Gòn và tái lăn Hàng Quạt Những nơi ấy được tiếng vì có món
ăn hấp dẫn, đấy là cái tiếng tự nhiên, có khéo có ngon thì khách mới đồn
rủ nhau đến nhưng không có nhà hàng nào ngô nghê vỗ ngực tự xưng là quán "đặc sản", vẽ vời quảng cáo một tấc đến giời, khoe loạn lên như bây giờ [49; 30]
Ma lực của đồng tiền khiến nhiều người đánh mất lòng tự trọng
cá nhân và lòng tự tôn dân tộc Tranh giành, cò kéo, chụp giật và xã
Trang 38hội lại phải hứng chịu thêm những thói tệ mới Và, theo sau nó là bao nhiêu hệ lụy: "Ở đâu có ăn chơi thì ở đấy sinh ra cò Cò đón mồi
ra tận ngoài đường lớn, cò đưa khách vào vườn Đông cò, đông khách rồi cò kéo, chia chác, có khi một lũ cò với cả chủ vườn ẩu đả nhau chí chết
Tây trông thấy cũng ớn, thế là mất khách [49; 91]
Khách ở các tỉnh, khách nước ngoài ở bờ hồ Gươm, ở đền Quán Thánh đều được cò vây bọc các phía Nghe nói các bến xe đường dài
Hà Nội - Sài Gòn, các hàng quán dọc đường nhốt khách nuôi cả cò du côn
Cò bự hay cò ruồi thì cũng một giống cò Ở đâu cũng có cò Có điều cò thật như cò định nghĩa trong từ điển thì bị chết mất giống Duy
có cò biến tướng, cò đểu, cò người này thì ngày càng nhiều" [49; 93]
Và, ngày ngày chúng ta gặp vô số những kẻ nói dối như thật Con người dần dần cũng quen với điều đó: " Thế mà ở Hà Nội cứ quanh năm rao "bánh khúc" Mùa hè nóng vãi mỡ vẫn bánh khúc, bánh khúc Cái bánh khúc vẫn còn nhân đậu xanh như cũ, nhưng miếng mỡ đã chảy đâu mất và lá khúc thay bằng cọng rau muống già, nghiền ra
Đáng lẽ gọi là bánh rau muống mới đúng nhưng cái tên bánh khúc
đã quen và người ăn cũng chẳng biết lá khúc và lá rau muống khác nhau như thế nào, rồi cũng quen
Cô hàng vằn thắn bảo:" Lá hẹ đấy" Tôi nói: " Lá kiệu thôi, không phải hẹ" Thấy ông khách đứng tuổi, có vẻ " người ngày xưa" cô bán hàng cười hiền lành: " Nói thực, cháu cũng chẳng trông thấy cái lá hẹ bao giờ Khách có hỏi, cháu cứ nói bừa là lá hẹ, người ta cũng ăn tất!" [49; 141]
Trong cuộc sống hối hả như chạy đua với thời gian, người ăn hàng
ăn quán ngày càng đông, do đó các nhà hàng cũng thi nhau làm "ảo
Trang 39thuật": "Bây giờ người ăn sáng, ăn tối lắm quá, các nhà hàng làm ảo thuật cho vịt biến thành ngan, thực khách xơi tuốt" [49; 142].
Trò "ảo thuật" không chỉ dừng lại ở "tiết mục" biến 'vịt thành ngan", "trâu già, ngựa ốm thành thịt bò tươi ngon": "Thế rồi anh ta tồng tộc ruột ngựa nói luôn với khách thân:
- Chẳng phải chỉ thịt trâu mà thịt ngựa cũng có Trâu già, ngựa ốm ngựa què, bọn mổ tận trong Thanh Oai đem ra đây cũng thành thịt bò cả
- Thế khách có biết không?
Anh hàng phở kêu lên:
- Ối giời ôi, bây giờ người ta ăn như mưa rào Mà cái gì cũng đâm
ra quen hết" [49; 143]
Thật ghê sợ khi người ta gian dối mà không mảy may ân hận Sự tha hóa này như axít dần gậm nhấm tính người Ở đây Tô Hoài đã làm đúng thiên chức nhà văn - một người hoạt động xã hội không bằng sự đại ngôn mà bằng khắc họa những mảnh đời sinh động, từ đó gợi cho người ta ngẫm nghĩ, tự điều chỉnh mình
Những ai đã đọc văn bản Cũng là công nghệ dây chuyền chắc
không khỏi giật mình lo lắng trước những hệ thống "công nghệ dây chuyền giết người thầm lặng" Liệu chúng ta đã ăn phải bao nhiêu lượng hạt đu đủ xay mịn thay vì ăn hạt tiêu! Và chúng ta đã dùng phải bao nhiêu lượng vỏ sắn độc hại thái mỏng phi thơm trộn với
hành! Tản văn Cũng là công nghệ dây chuyền Tô Hoài đã phê phán
thói tệ này qua việc tái hiện một đoạn đối thoại giữa mình với nhà hàng:
"Tôi lân la:
- Ông đi đưa dấm tỏi à?
- Đủ thứ Tiêu bột, tiêu hạt, ớt bột, ớt tươi, đưa theo dây chuyền
mà Cả nhóm lò ngoài kia nữa
Trang 40Rồi lại thấy ông lọc cọc xe đạp trở lại Ông vào trước mặt tôi, thì thào:
- Này, chỗ thân tình, mách ông cái này, buổi sáng ông có ăn xôi ngô không?
- Cũng thỉnh thoảng
- Thế thì cấm ăn cái hành phi nhé
- Có hành phi nó mới thơm cái ngô
- Không không hành phi tôi chế biến ra, dởm đấy
Nó là cái bọc vỏ sắn bóc ra cắt miếng, bỏ vào chảo phi lên, lẫn hành củ, cũng nâu nâu như hành" [49; 223 - 224 ]
Tản văn Tô Hoài thường biểu lộ sự dị ứng với những thói rởm
đời mới Trong văn bản Dô dô! Bốp bốp!, Tô Hoài miêu tả và bày tỏ
trực tiếp thái độ dị ứng của mình: “Cả đến quán ăn đông đúc, tấp nập, cũng có nền văn hóa, văn minh của cái tấp nập ấy Nhưng ở thành phố ta còn nhiều cái bát nháo Bia hơi, bia tương dạo này đương được chuộng Các quán đông, bàn kê từng dãy, người ra vào đông nghịt So với trước kia tưởng như người Hà Nội đã có thói quen lâu đời uống bia hơi ngoài trời Nhưng để ý xem ra thì cũng tỉnh tỉnh quê quê chẳng khác mấy cái ngày mới tập uống bia hơi pha sirô rồi nhắm mắt uống ực một cái Nhưng lối uống bia bây giờ hung hăng quá Ba bốn bàn vại bia, cả chục người giơ cốc hò: dô, dô! Mỗi lần
“dô” lại nhìn nhau ngoạm một ngụm xem hết chưa… lại những tiếng bốp bốp làm nhảm cả thói tục ăn uống thanh nhã của ta Một nhà hàng lịch sự, bốn bên đèn và hoa, khách đã ngồi vào bàn, bỗng vang lên những tiếng "bốp, bốp" như nổ pháo dây, pháo ném Không phải đốt pháo, ném pháo mà đấy là khách đương đập hai tay vào cái giấy bóng bọc khăn ăn, kêu bốp một cái mà đáng lẽ phải nhẹ nhàng bóc ra” [49; 210]