1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm câu văn trong tập bút ký của nhà văn tô hoài

66 1,1K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm câu văn trong tập bút ký của nhà văn Tô Hoài
Tác giả Đỗ Thị Triều
Người hướng dẫn GS.TS. Đỗ Thị Kim Liên
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 346,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

Trêng §¹i häc Vinh

Trang 2

==

Trang 3

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tô Hoài là một tấm gơng sáng về tinh thần lao động, về công phurèn luyện tay nghề "Khám phá về ông và cả về văn, về đời là một say mê

đối với chúng ta, những ngời có hạnh phúc đợc là ngời cùng thời với ông,

và chắc cả thế hệ sau nữa Khám phá về ông là cả một vấn đề khoa học lớnlao.…" [25; tr.4] Chính vì vậy mà chúng tôi muốn góp phần vào việc tìmhiểu đặc điểm câu văn trong tập Bút ký của nhà văn Tô Hoài để từ đó

khẳng định những đóng góp to lớn của ông vào kho tàng văn học ViệtNam trên bình diện ngôn ngữ

1.2 Trong nhiều năm trở lại đây, mặc dù đã có rất nhiều công trìnhnghiên cứu, giới thiệu về Tô Hoài song cha có một công trình nào nghiêncứu tập Bút ký của ông về phơng diện câu văn Có chăng cũng chỉ là những

nhận xét điểm qua chứ cha đi sâu tìm hiểu đặc điểm câu văn của ông Vì

vậy, khoá luận của chúng tôi đi sâu tìm hiểu vấn đề "Đặc điểm câu văn

trong Tập Bút ký của nhà văn Tô Hoài" Đề tài này vừa mang tính khoa

học vừa mang tính thực tiễn cấp thiết, góp thêm t liệu cho việc học tập,giảng dạy và nghiên cứu sự nghiệp văn học của Tô Hoài

1.3 Ngôn ngữ bút ký rất khác với các ngôn ngữ ở các thể loại khác bởibút ký là một thể ghi lại những điều tai nghe mắt thấy, những nhận xét,cảm xúc của ngời viết trớc hiện tợng cuộc sống Chính vì vậy mà câu văntrong bút ký cũng có những đặc điểm riêng của mình Hơn nữa, bút ký củaTô Hoài lại mang phong cách của riêng ông, những câu văn mà ông viếtrất độc đáo và có nhiều sáng tạo khác thờng Đề tài của chúng tôi đi vàonghiên cứu tập Bút ký của Tô Hoài dới góc độ câu văn là để khám phá ra

những độc đáo khác lạ này

2 Lịch sử vấn đề

Trang 4

Cho đến nay, những công trình nghiên cứu về Tô Hoài vẫn cha nhiều sovới đời văn và sự nghiệp đồ sộ của ông Trên phơng diện ngôn ngữ học,các bài nghiên cứu đã có sự quan tâm, đánh giá và đa ra những nhận xét về

sự đóng góp riêng của Tô Hoài ở nghệ thuật sử dụng ngôn từ, ở cấu trúcvăn Giáo s Hà Minh Đức đã kết luận rằng "Trong nghệ thuật ngôn từ, TôHoài chú ý đến cách cấu trúc câu văn, không viết theo mô hình câu có sẵntrên sách báo, ông viết theo sự tìm tòi riêng của mình để diễn đạt cho đợcchủ đề và t tởng tác phẩm Câu văn của Tô Hoài mới mẻ, ông sáng tạo ranhững quan hệ mới, cấu trúc mới trong cấu trúc thi ca" [8, tr.30] Quả thậttrong lĩnh vực ngôn ngữ, Tô Hoài đặc biệt chú ý đến cái mới, cái đẹp củachữ nghĩa Câu văn của ông thờng lạ và phức tạp Ông thờng dùng những

từ ngữ đẹp trong cuộc sống thờng ngày, trong lao động và trong nghềnghiệp đầy sáng tạo

Trần Hữu Tá thì cho rằng "Tô Hoài có khả năng quan sát tinh tế vànghệ thuật miêu tả sinh động Ngời, vật, thiên nhiên, cảnh sinh hoạt,… tấtcả lung linh, sống động, nói rõ cái tinh thần của đối tợng và thờng bàngbạc một chất thơ" [27; tr.16] Có thể nói, văn xuôi của Tô Hoài có chấtthơ, nhạc và hoạ hoà quyện với nhau trong các câu, chữ Hơn nữa, Tô Hoài

đã từng ao ớc "Mỗi chữ phải là hạt ngọc buông xuống những trang bảnthảo, hạt ngọc mới nhất của mình tìm đợc do phong cách văn chơng củamình mà có" [13; tr.22] Không những thế, Trần Hữu Tá còn cho rằng: "ởTô Hoài không phải là chuyện chơi chữ hay khoe chữ Đây là hàng trămlần quan sát và ngẫm nghĩ về thiên nhiên, đất nớc để tìm chữ đặt tên cho

sự vật, phải tìm kiếm chọn lọc rồi đúc luyện thêm mới đa cho ngời đọc

Đây là những sáng tạo của tình yêu đất nớc và của lao động cật lực" [27;tr.17-18]

Nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng đã từng nói về khả năng sáng tạotrong cách dùng chữ đặt câu của Tô Hoài: "Câu văn cũng nh cuộc đời - nhtôi vừa nói với anh - không bao giờ lặp lại cả, cho nên dời không lặp lại thìcâu văn cũng không đợc phép lặp lại Phải làm thế nào để cho ngời đọc chỉ

Trang 5

nhận thấy dáng câu chứ không bao giờ thấy đợc kiến trúc câu…" [15;tr.17].

Nh vậy, những công trình nghiên cứu trên đây tuy đã có những đánhgiá rất xác đáng về ngôn ngữ của Tô Hoài, song những kết luận đó mới chỉdừng lại ở sự đánh giá, nhìn nhận một cách khái quát chứ cha thực sự đisâu vào các đặc điểm của câu văn trong các tác phẩm cụ thể

Đặc biệt, việc đi sâu tìm hiểu các đặc điểm câu văn về mặt cấu trúc,mục đích giao tiếp trong tập Bút ký của nhà văn Tô Hoài thì cha có đề tài

nào thực hiện Trong khoá luận này, chúng tôi muốn đề cập đến cái độc

đáo, khác lạ về đặc điểm câu văn trong tập Bút ký của nhà văn Tô Hoài.

3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tợng

Là một nhà văn lớn, Tô Hoài có một sự nghiệp sáng tác đồ sộ và thànhcông trên tất cả các thể loại khác nhau nh: truyện ngắn, hồi ký, cổ tích, bútký… ở khoá luận này, chúng tôi tập trung nghiên cứu đặc điểm câu văncủa Tô Hoài qua những bài viết trong tập Bút ký của ông Các bài viết đó

IX. Ngỡ trời xuân đến sớm.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 6

- Qua khảo sát 9 bài viết trên của nhà văn Tô Hoài, chúng tôi đi đến tìmhiểu câu văn của Tô Hoài về mặt cấu trúc và mục đích giao tiếp.

Trên cơ sở đã khảo sát và thống kê, chúng tôi so sánh câu văn của nhàvăn Tô Hoài trong mỗi nhóm, từ đó rút ra đặc điểm câu văn và khẳng định

Bút ký của ông.

5 Đóng góp của đề tài

Nghiên cứu về Tô Hoài từ trớc đến nay đã có một số công trình, bài viết

về đặc điểm ngôn ngữ hay về các sáng tác của ông Tuy nhiên đề tài Đặc

điểm câu văn trong tập Bút ký của nhà văn Tô Hoài có thể xem là một

công trình độc lập đầu tiên nghiên cứu về tập Bút ký của ông dới góc độ

câu văn Qua đó chúng tôi đi đến khẳng định những đóng góp về tổ chứccâu văn, cũng nh những nét riêng ở thể loại bút ký của Tô Hoài

6 Cấu trúc của khoá luận

Trang 7

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung khoáluận có 3 chơng:

Chơng 1: Giới thuyết một số vấn đề có liên quan đến đề tài

Chơng 2: Đặc điểm câu văn xét về mặt cấu trúc qua tập Bút ký của Tô

Hoài

Chơng 3: Đặc điểm câu văn xét về mặt mục đích giao tiếp qua tập Bút

ký của Tô Hoài.

Trang 8

Chơng1 Giới thuyết một số vấn đề

có liên quan đến đề tài

1.1 Phân biệt thể loại ký và thể loại bút ký

1.1.1- Khái quát về thể ký

1.1.1.1- Khái niệm về thể ký

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (do tác giả Lê Bá Hán chủ biên) thì

"Ký là một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học,gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự nh bút ký, hồi ký, du ký, phóng

sự, kí sự, nhật kí, tuỳ bút…" [11; tr.162] Có thể nói, kí gần với báo chí ởchỗ nó viết về cuộc sống thực tại ngời thật việc thật Ký thờng đợc viết nh

là sự phản ứng trực tiếp đối với sự biến cố thời sự, trớc những vấn đề nóngbỏng đặt ra trong cuộc sống Về mặt truyền đạt, sự kiện ký đòi hỏi sựtrung thực, chính xác Tuy vậy, ký vẫn gần với văn học ở chỗ nó có nhiềuphẩm giá nh: tính giọng điệu, tính đa nghĩa của văn bản, câu văn trong ký

có hồn đợc tạo bởi nhiều bối cảnh, những nhân vật đặc sắc, những h cấutài tình Thể loại này vừa có yếu tố của truyện, vừa có sự tham gia trực tiếpcủa t duy nghiên cứu Những yếu tố truyện thể hiện ở chỗ nó tạo ra đợcnhững hình ảnh có hồn T duy nghiên cứu thể hiện ở chỗ nó cung cấpnhững dữ kiện, những tri thức nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức của conngời

Lý luận văn học (Hà Minh Đức) thì lại cho rằng "Ký văn học là một

thể loại cơ động, linh hoạt, nhạy bén trong việc phản ánh hiện thực ở cáithể trực tiếp nhất, ở những nét linh động và tơi mới nhất Tác phẩm kí vừa

có khả năng đáp ứng đợc những nhu cầu bức thiết của thời đại đồng thờivẫn giữ đợc tiếng nói vang xa sâu sắc của nghệ thuật" [9; tr.210]

Trong ký yếu tố chính luận là yếu tố cốt yếu còn cốt truyện chỉ là căn

cứ cho sự phát triển, làm bàn đạp thực tại cho sự t tởng chính luận Vì vậy

Trang 9

ngoài hiệu quả gây khoái cảm mĩ học, thể loại ký còn gây cho ngời đọcnhững khoái thú thuần trí tuệ bằng việc cung cấp cho họ những tri thức mà

họ quan tâm có khi chỉ là những kiến thức thoả mãn óc tò mò thông thờngcủa con ngời

Khác với truyện ngắn và tiểu thuyết, ký không nhằm vào việc miêu tảquá trình hình thành tính cách cá nhân của các cá nhân trong tơng quanvới hoàn cảnh Những câu chuyện đời t khi cha nổi lên thành vấn đề xã hộicũng không phải là đối tợng quan tâm của ký "Đối tợng nhận thức thẩm

mĩ của ký thờng là một trạng thái đạo đức - phong hoá xã hội (thể hiện quanhững cá nhân riêng lẻ), một trạng thái tồn tại của con ngời hoặc nhữngvấn đề xã hội nóng bỏng" [11; tr.63]

Trong văn học Việt Nam, các tác phẩm ký có vị trí đặc biệt quan trọng

từ các hình thức truyện kí thời trung đại nh Việt điện U linh, Lĩnh Nam chích quái, Thợng kinh ký sự, Vũ trung tuỳ bút và đặc biệt là Hoàng Lê nhất thống chí Sau Cách mạng tháng Tám, nhiều tác phẩm ký có giá trị

lần lợt xuất hiện góp phần tạo nên bộ mặt đa dạng của đời sống văn họcnh: Truyện và ký của Trần Đăng, ở rừng của Nam Cao, Tuỳ bút kháng chiến và Sông Đà của Nguyễn Tuân, Vỡ tỉnh của Tô Hoài, Hà Nội ta

đánh Mĩ giỏi của Nguyễn Tuân…

Nh vậy ta có thể xác định "các thể kí văn học chủ yếu là những hìnhthức ghi chép linh hoạt trong văn xuôi với nhiều dạng: tờng thuật, miêu tả,biểu hiện, bình luận về những sự kiện và con ngời có thật trong cuộc sống,với nguyên tắc phải tôn trọng tính thời sự của đối tợng miêu tả" [10;tr.216]

Trang 10

a Phóng sự

"Là một thể thuộc loại hình ký, phóng sự ghi chép kịp thời những vụviệc nhằm làm sáng tỏ trớc công luận một sự kiện, một vấn đề có liên quan

đến hoạt động và số phận của một hoặc nhiều ngời và có ý nghĩa thời sự

đối với một địa phơng hay toàn xã hội" [11; tr.257] Đặc trng của phóng sựchính là sự nổi bật bằng những sự thật xác thực, dồi dào và nóng hổi Mục

đích của nó là nhằm cung cấp cho công chúng những tri thức phong phú

đầy đủ, chính xác, để họ có thể nhận thức, đánh giá đúng ngời, đúng việc

mà họ đang quan tâm theo dõi Vì thế ngời viết phóng sự thờng sử dụngnhững biện pháp nghiệp vụ báo chí nh điều tra, phỏng vấn, đối thoại, ghichép tại chỗ… Việc sử dụng một số phơng tiện biểu đạt của văn học nh cácbiện pháp tu từ, ngôn ngữ giàu hình ảnh, hớng vào thế giới bên trong (ởmột chừng mực nhất định) của nhân vật… khiến cho phóng sự từ báo chítrở thành văn học, một số tác phẩm thuộc loại này thờng đợc chấp nhận

nh là những tác phẩm văn học có giá trị

b Bút ký

Bút ký cũng tái hiện con ngời và sự việc khá dồi dào nhng qua đó thểhiện khá trực tiếp khuynh hớng, cảm nghĩ của tác giả Do đó bút ký mangmàu sắc trữ tình Những yếu tố trữ tình luôn luôn đợc xen kẽ với sự việc,vì thế rất dễ phát triển thành tuỳ bút Theo Từ điển tiếng Việt (Trung tâm

từ điển học) thì "Bút ký là thể ký ghi lại những điều tai nghe, mắt thấy,những nhận xét, cảm xúc của ngời viết trớc các hiện tợng trong cuộc sống"[28; tr.92] Đó chính là một thể thuộc loại ký, nhằm ghi lại sự việc, conngời, cảnh vật… mà nhà văn mắt thấy tai nghe sau một chuyến đi thực tế

Nó là một thể trung gian giữa ký sự và tuỳ bút (ký thiên về việc ghi ngờithật việc thật, tuỳ bút thiên về diễn đạt những tâm t suy nghĩ, diễn biếntrong thế giới nội tâm) Tuy nhiên những đặc điểm trên còn biến hoá tuỳtheo bút pháp của từng nhà văn khác nhau trên ranh giới các thể bút kýkhông thật rạch ròi

c Ký sự

Trang 11

Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì "Ký sự là một thể thuộc loại hình

ký nhằm ghi chép lại một câu chuyện, một sự kiện tơng đối hoàn chỉnh"[11; tr.167]

Nh vậy, ký sự ghi chép khá hoàn chỉnh một sự việc, một phong trào,một giai đoạn Ký sự là bức tranh toàn cảnh, trong đó sự việc và con ngời

đan chéo nhau, gơng mặt của nhân vật thật rõ nét Ký sự cũng có những

điểm chung với bút ký nh viết ngời thật, việc thật mà tác giả trực tiếpchứng kiến, cốt truyện không chặt chẽ nh trong truyện, sử dụng nhiều biệnpháp và phơng tiện biểu đạt nghệ thuật… Song ở ký sự, phần bộc lộ cảmnghĩ của tác giả và những yếu tố liên tởng nghị luận thờng ít hơn ở bút ký

và tuỳ bút

d Truyện ký

Truyện ký thờng tập trung bút ký vào việc trần thuật một nhân vật,xoay quanh một nhân vật, truyện ký dễ triển khai những tình tiết thànhmột cốt truyện hoàn chỉnh Đây là một thể loại có tính chất trung gian giữatruyện và ký Khi sự h cấu vợt ra khỏi phạm vi và mức độ cần thiết, nó trởthành tiểu thuyết hoặc truyện vừa, truyện ngắn viết về ngời thật, việc thật

e Tuỳ bút

Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: "Tuỳ bút là một thể thuộc loại

hình ký, rất gần với bút ký và ký sự Nét nổi bật ở tuỳ bút là qua việc ghichép những con ngời và sự kiện cụ thể có thực, tác giả đặc biệt chú trọng

đến việc bộc lộ cảm xúc, suy t và nhận thức, đánh giá của mình về con

ng-ời và cuộc sống hiện tại"

So với các tiểu loại khác thì tuỳ bút vẫn không ít yếu tố chính luận vàchất suy tởng triết lý Cấu trúc của tuỳ bút nói chung không bị ràng buộcbởi một cốt truyện cụ thể, nội dung của nó đợc triển khai theo một cảmhứng chủ đạo, một t tởng chủ đề nhất định Ngôn ngữ tuỳ bút giàu hình

ảnh và giàu chất thơ Có thể nói đây là một tiểu loại có lối viết tơng đốiphóng khoáng Nhà văn tuỳ theo ngòi bút của mình mà di chuyển có thể từ

sự việc này sang sự việc kia, từ liên tởng này sang liên tởng khác để bộc lộ

Trang 12

những cảm xúc, tâm tình, phát biểu những nhận xét về ngời và cảnh Tuỳbút giàu chất trữ tình nhất trong các tiểu loại của ký.

Bên cạnh những tiểu loại kể trên còn có thể kể đến các tiểu loại khácnh: du ký, nhật ký, tự truyện, tạp văn, chính luận, tiểu luận…

Tuy nhiên ranh giới giữa chúng không tuyệt đối Nói tóm lại, với những

đặc trng riêng của mình, ký là một trong những thể loại năng động nhấtcủa loại hình văn xuôi nghệ thuật Trong suốt cả thế kỷ XX, nhìn từ phơngdiện thể loại, ký đã có sự vận động, đổi mới Ký đã phát huy đợc sở trờng

ở các thể loại của mình, đáp ứng đợc yêu cầu của công chúng thời đại và

đã đạt đợc những thành tựu đáng kể, trở thành một bộ phận không thể táchrời với văn học nói chung và văn học Việt Nam nói riêng

1.1.2- Vài nét về thể loại bút ký

Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì "giá trị hàng đầu của bút ký là giá

trị nhận thức" Bút ký có thể thiên về khái quát các hiện tợng đời sống cóvấn đề hoặc thiên về chính luận Nếu thiên về khái quát các hiện tợng đờisống thì tác giả chú ý nhiều đến việc điển hình hoá những tính chất bằngcác biện pháp nghệ thuật nh: xây dựng cốt truyện, sử dụng các yếu tố liêntởng, trữ tình… Nếu thiên về chính luận thì thờng nổi lên những hình tợngcủa đời sống xã hội mà tác giả nắm bắt đợc cái thực chất bên trong củachúng mà mô tả nó một cách chính xác, sinh động có kèm theo nhữngnhận xét riêng của mình hoặc của nhà văn, phân tích đánh giá cuộc sống

đợc mô tả ở đây, yếu tố nghị luận, châm biếm, hài hớc thờng đợc sử dụngnhiều hơn

Trần Đình Sử thì cho rằng "Bút ký là một thể loại phóng khoáng, tự do

mà các tính nghệ sĩ trực tiếp tham gia vào đặc điểm thể loại" Cùng vớiviệc tái hiện những chi tiết xác thực về con ngời và sự việc mà ngời viết đãtìm hiểu, bút ký cũng ghi lại những cảm nghĩ của tác giả về những sự việchiện tợng đợc phản ánh, qua đó biểu hiện cách nhìn, cách đánh giá của nhàvăn Trong bút ký, yếu tố trữ tình luôn xuất hiện xen kẽ với tự sự về sựviệc, hiện tợng Sức hấo dẫn, thuyết phục của bút ký tuỳ thuộc vào tài

Trang 13

năng, trình độ quan sát, nghiên cứu của tác giả, khám phá ra các khía cạnh

"có vấn đề", những ý nghĩa mới mẻ, sâu sắc trong các quan hệ giữa tínhcách và hoàn cảnh, cá nhân và môi trờng Nhà thơ Phạm Hổ đã từng quanniệm "Bút ký có thể xem nh một thể loại nằm giữa hai thể loại truyện ngắn

và thơ Cái dễ và khó của bút ký có lẽ là ở đó Dễ ở chỗ bút ký không đòihỏi nhất thiết xây dựng cho đợc nhân vật Khó là ở chỗ nếu không có cốttruyện để lôi cuốn ngời đọc thì phải quyến rũ họ bằng cái gì chứ Nói cáchkhác, bút ký đứng đợc phải dựa vào đâu Theo tôi nghĩ thì đó là những cảmxúc thơ, những suy nghĩ thơ"

Nh vậy, bút ký là một loại văn tự sự nhằm trần thuật ngời thật việc thật

Và thông qua những trang viết tác giả thể hiện cảm xúc, cảm nghĩ củamình về các hiện tợng trong cuộc sống

1.2 Vấn đề định nghĩa câu và phân loại câu

1.2.1- Vấn đề định nghĩa câu

Cho đến nay đã có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về câu Theothống kê của bà A.Akhmanova trong cuốn Thuật ngữ ngôn ngữ học (1980)

thì đã có tới trên 300 định nghĩa về câu Với số lợng đồ sộ nh vậy chúngtôi không có điều kiện nêu cụ thể từng định nghĩa mà quy về các hớngchính sau:

- Hớng định nghĩa câu theo quan điểm của ngữ pháp duy lý

- Hớng định nghĩa câu dựa vào hoạt động giao tiếp

- Hớng định nghĩa câu dựa vào hành động phát ngôn

- Hớng định nghĩa câu dựa trên tiêu chí hình thức

- Hớng định nghĩa câu dựa trên tiêu chí ý nghĩa

- Hớng định nghĩa câu dựa trên tiêu chí hình thức và ý nghĩa

Tuy nhiên qua quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy các tác giả dù

đi theo hớng nào hay có thể khác nhau trong cách diễn đạt định nghĩa cụthể về câu nhng đều thừa nhận câu có các điểm chung sau và đó cũngchính là điều kiện để cấu tạo nên câu:

Trang 14

- Câu là đơn vị dùng từ cấu tạo nên nhằm thực hiện chức năng thôngbáo hay bộc lộ thái độ cảm xúc.

- Câu có cấu tạo theo một quy tắc nhất định, thờng là C-V (hoặc có kếtcấu đặc biệt)

- Có ngữ điệu kết thúc

- Gắn với một ngữ cảnh nhất định

Trong giới hạn đề tài của mình chúng tôi chọn định nghĩa của tác giả

Đỗ Thị Kim Liên làm cơ sở cho việc phân loại các kiểu câu cụ thể củamình "Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ, đợc gắnvới một ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể hiện thái

độ đánh giá Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ điệu kết thúc"[22; tr.326]

1.2.2- Vấn đề phân loại câu

1.2.2.1- Vấn đề phân loại câu theo cấu trúc

Trong tiếng Việt, câu có hai loại cấu trúc cơ bản đó là câu đơn và câughép Về việc phân loại câu đơn và câu ghép theo cấu tạo, cho tới nay, cóthể chia ra ba hớng ý kiến chính sau:

- Hớng 1: chia câu thành hai nhóm là câu đơn và câu ghép Theo hớngnày có các tác giả Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ, Phạm Duy Khiêm (Việt Nam văn phạm, Sài Gòn,1940), Nguyễn Kì Thục, Phan Thiều (Tiếng Việt 7,

NXB Giáo dục, 1978) Theo họ câu đơn là câu chỉ có một nòng cốt C-V,câu ghép là câu có từ hai kết cấu C-V trở lên, kể cả những kết cấu C-Vthuộc thành phần mở rộng nh chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ

- Hớng 2: chia câu thành ba nhóm là câu đơn, câu ghép và câu phức.Câu đơn là câu chỉ có một nòng cốt C-V Câu ghép là câu có từ hai nòngcốt C-V trở lên, trong đó C-V này không bị bao hàm trong C-V kia Nếucâu có C-V bị bao hàm tức câu có thành phần phụ bổ ngữ, định ngữ, vịngữ, chủ ngữ đợc phát triển thành một kết cấu C-V thì đây là câu phức.Theo hớng này có các tác giả Diệp Quang Ban (Ngữ pháp tiếng Việt,

1992), Hữu Quỳnh (Ngữ pháp tiếng Việt, 1996).

Trang 15

- Hớng 3: Chia câu thành hai nhóm là câu đơn và câu ghép Theo hớngnày có các tác giả Nguyễn Kim Thản, Lê Xuân Thại, Đỗ Thị KimLiên.Các tác giả này cho rằng câu đơn là câu chỉ có một kết cấu C-V làmthành phần nòng cốt câu, có thể có hoặc không có các C-V khác làm thànhphần câu Còn câu ghép là câu có hai nòng cốt C-V trở lên tồn tại táchbạch nhau (hay C-V này không bị bao hàm trong C-V kia) Nếu câu có C-

V này bị bao hàm trong C-V kia thì vẫn thuộc là câu đơn

Trong luận văn này, chúng tôi chọn phân loại câu theo hớng thứ ba vềmặt cấu trúc để làm cơ sở khảo sát và phân loại câu trong tập Bút ký của

Tô Hoài

1.2.2.2- Vấn đề phân loại câu theo mục đích giao tiếp

Phân loại câu theo mục đích giao tiếp là dựa vào mục đích phát ngôncủa ngời giao tiếp để phân loại câu Mục đích đó có thể là miêu tả, kể,khẳng định, nhận xét, hỏi, yêu cầu, đề nghị, khuyên bảo, ra lệnh, thể hiệncảm xúc, thái độ… ứng với mỗi mục đích giao tiếp có một kiểu câu riêng.Tác giả Diệp Quang Ban, khi xem xét câu theo mục đích nói cần phân biệthai trờng hợp sau:

- Câu đích thực là câu có cấu tạo phù hợp mục đích nói

- Câu giả là câu có hình thức kiểu mục đích nói khác nhng lại dùng chomục đích nói này

Nh vậy việc phân loại câu theo mục đích nói không chỉ xem xét trongnội bộ câu nói cụ thể mà cần phải xem xét cả trong mối quan hệ với cáccâu khác trong văn bản Từ trớc tới nay các nhà ngữ pháp học đều phânchia câu theo mục đích nói thành bốn loại lớn:+ Câu tờng thuật (câu kể)+ Câu cầu khiến (mệnh lệnh)

+ Câu cảm thán (câu cảm)

+ Câu nghi vấn (câu hỏi)

Đây cũng chính là cơ sở để chúng tôi khảo sát và phân loại câu theomục đích giao tiếp trong tập Bút ký của Tô Hoài.

1.3 Tô Hoài - tác giả và tác phẩm

Trang 16

1.3.1- Tác giả Tô Hoài và sự nghiệp sáng tác

a Về tác giả Tô Hoài

Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, ông sinh ngày 20/09/1920 trong mộtgia đình thợ thủ công Quê nội của Tô Hoài ở Kim An, huyện Thanh Oai,

Hà Đông (nay thuộc Hà Nội); quê ngoại ở làng Nghĩa Đô (nay thuộc Tây

Hồ - Hà Nội) Tên đất là phủ Hoài Đức và tên sông và Tô Lịch chảy venlàng mình gợi cho ông lấy bút danh là Tô Hoài Ngoài bút danh này đãquen thuộc với bạn đọc trong và ngoài nớc thì ông còn có những bút danhkhác nh Mai Trang, Mắt biển…

Từ tuổi thiếu niên, với Tô Hoài, sách trở thành niềm đam mê của ông

và ông đã bắt đầu sáng tác từ đấy Lớn lên ông phải làm rất nhiều nghề đểkiếm sống nh dạy trẻ, bán hàng, kế toán hiệu buôn… Ông viết Dế mèn phiêu lu ký lúc 16 tuổi và có thơ đăng báo khi cha tròn 20 tuổi Trớc Cách

mạng tháng Tám năm 1945, ông vừa viết văn, vừa tham gia các hoạt độngxã hội Thời kỳ phong trào mặt trận dân chủ Đông Dơng, ông tham gia tổchức ái hữu thợ dệt, làm th ký ban trị sự Hội ái hữu thợ dệt tỉnh Hà Đông.Thời kỳ tiền khởi nghĩa, ông sớm gia nhập Hội văn hoá cứu quốc, có mặt

trong những tổ chức đầu tiên của Hội, cùng các đồng chí của mình viếtbáo bí mật tuyên truyền cách mạng Những truyện ngắn và sáng tác vănxuôi hiện thực của Tô Hoài từ đầu những năm 1940 đã thu hút sự chú ýcủa độc giả lúc đó Một số tác phẩm lúc bấy giờ, hiện nay vẫn là nhữngcuốn sách hấp dẫn và đợc đông đảo bạn học yêu thích

b Về sự nghiệp sáng tác

- Trớc Cách mạng:

Ông viết khá nhiều vào thời kỳ này trong đó tiêu biểu là những tácphẩm Dế mèn phiêu lu ký (1941), Quê ngời (1942), Giăng Thơ (1943), Nhà nghèo (1944) Những tác phẩm này viết về hai mảng đề tài chính, đó

là mảng đề tài về làng Việt và truyện về cuộc sống con ngời ở vùng quêven thành Trên những trang viết, Tô Hoài tỏ ra là một ngòi bút am hiểu

Trang 17

phong tục, có khả năng quan sát, miêu tả tinh tế con ngời và cảnh vật vùngnông thôn Việt Nam trớc Cách mạng.

- Sau Cách mạng:

Từ năm 1945 đến 1980, Tô Hoài làm phóng viên báo Cứu quốc Trung

-ơng, chủ nhiệm báo Cứu quốc Việt Bắc Năm 1950, ông về công tác ở Hộivăn nghệ Việt Nam và đã từng làm th ký toà soạn tạp chí văn nghệ Vớinhững cơng vị ấy, ông đã có mặt ở nhiều nơi, cùng nhân dân và bộ độitham gia nhiều hoạt động kháng chiến, nhiều chiến dịch ở Việt Bắc, TâyBắc Đó là cơ sở giúp ông thành công trong sáng tác nh: Núi cứu quốc

(1958), Ngợc sông Thao (1949) và thành công nhất là Truyện Tây Bắc

(1953)

Hoà bình lập lại, ông vẫn hoạt động văn nghệ, nhiều năm là Uỷ viên ờng vụ, phó tổng th ký Hội nhà văn Việt Nam Ngòi bút của Tô Hoài ngàycàng tỏ ra sung sức và thành công trên nhiều thể loại Các tác phẩm tiêubiểu thời kỳ này là các tập truyện ngắn: Khác trớc (1957), Vỡ tỉnh (1962), Ngời ven thành (1972), Miền tây (1957), đạt giải thởng Hoa sen của hội

th-nhà văn á - Phi Có th-nhà nghiên cứu đã thống kê đợc trớc và sau Cáchmạng Tô Hoài viết đợc khoảng 150 tác phẩm Đó là một minh chứng chomột cuộc đời miệt mài, hết lòng vì nghề của Tô Hoài

1.3.2 Vài nét về tập Bút ký của Tô Hoài

Có thể nói rằng thành công và sở trờng của Tô Hoài là ở hồi kỳ vàtruyện ngắn Ông trở nên nổi tiếng trên văn đàn cũng là nhờ thể loại này.Thế nhng bên cạnh đó chúng ta không thể không nhắc tới bút ký của TôHoài Ông cũng là một trong những cây viết bút ký khá thành công củavăn chơng Việt Nam Bút ký của ông đi vào khai thác hầu hết các vấn đềcủa xã hội từ nhỏ đến lớn Là ngời chịu khó thâm nhập thực tế, đôi châncủa Tô Hoài đi đến đâu, giẫm lên mảnh đất nào, ông đều ghi lại những sựkiện tai nghe mắt thấy bằng bút ký Và cũng có thể nói rằng, những bàibút ký của ông đã bám sát đợc chiều dài của đất nớc cũng nh của lịch sửViệt Nam ta Tập Bút ký mà chúng tôi chọn để nghiên cứu trong khoá luận

Trang 18

này là tuyển tập những bài bút ký tiêu biểu của Tô Hoài từ năm 1946 đếnnăm 1993 Tuyển tập này phần lớn là những bài bút ký của Tô Hoài viết về

Hà Nội quê hơng thân yêu, nơi chôn rau cắt rốn của ông Có thể nói, TôHoài đã thuộc từng ngôi nhà, từng góc phố của Hà Nội Không một nơinào của Thủ đô thân yêu mà ông không đi tới Những vấn đề mà ông viếttrên bút ký của mình là những vấn đề đang còn rất nhiều khúc mắc, saisót: hoặc là vẻ đẹp của một con phố, một mảnh vờn, một ngôi nhà haymột con sông… Đó là Hà Nội của một thời đã qua của thế kỷ trớc, thời kỳ

Hà Nội cha hiện đại, sôi động, sầm uất nh bây giờ

Bên cạnh đó là những trang viết về rất nhiều vùng khác nhau trên đấtnớc nh Trờng Sơn, Tây Nguyên… với các vấn đề xã hội, các sự kiện, hiệntợng phong phú và đa dạng Qua đó ông thể hiện thái độ, cảm xúc củamình trớc hiện thực cuộc sống và mong muốn chia sẻ với bạn đọc

1.4 Tiểu kết chơng 1:

ở chơng 1, chúng tôi đã giới thiệu đợc một số vấn đề lý thuyết có liênquan đến đề tài Đặc điểm câu văn trong tập bút ký của Tô Hoài nh sau:1.Về thể loại ký và bút ký:

Ký là một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và vănhọc, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự nh bút ký, hồi ký, du ký,phóng sự, kí sự, nhật kí, tuỳ bút Nh vậy ký là một thể loại văn học lớn,bao gồm trong lòng nó là các tiểu loại nhỏ trong đó có bút ký

Bút ký là thể ký ghi lại những điều tai nghe, mắt thấy, những nhậnxét, cảm xúc của ngời viết trớc các hiện tợng trong cuộc sống

2.Về vấn đề định nghĩa câu và phân loại câu cho đến nay đã có rấtnhiều ý kiến khác nhau Trong giới hạn đề tài này chúng tôi chọn địnhnghĩa câu của tác giả Đỗ Thị Kim Liên làm cơ sở cho việc phân loại cáckiểu câu cụ thể của mình "Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trìnhsuy nghĩ, đợc gắn với một ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báohay thể hiện thái độ đánh giá Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ

điệu kết thúc" Đồng thời, chúng tôi cũng chọn cách phân loại câu theo

Trang 19

cấu trúc và theo mục đích giao tiếp của tác giả Đỗ Thị Kim Liên lamnền tảng để dựa và đó thống kê phân loại câu trong tập Bút ký của Tô

Hoài Theo đó, cấu trúc câu văn đợc chia làm hai loại câu đơn và câughép, còn theo mục đích giao tiếp, câu văn sẽ đợc chia thành bốn loại lớn:+ Câu tờng thuật (câu kể)

+ Câu cầu khiến (mệnh lệnh)

(1958), Ngợc sông Thao (1949) và thành công nhất là Truyện Tây Bắc

(1953)

Tập Bút ký mà đề tài của chúng tôi đi vào nghiên cứu là tuyển tập rấtnhiều bài bút ký tiêu biểu của Tô Hoài từ năm 1946 đến năm 1993 Tuyểntập này phần lớn là những bài bút ký của Tô Hoài viết về Hà Nội quê h ơngthân yêu, nơi chôn rau cắt rốn của ông Bên cạnh đó là những trang viết vềrất nhiều vùng khác nhau trên đất nớc nh Trờng Sơn, Tây Nguyên… vớicác vấn đề xã hội, các sự kiện, hiện tợng phong phú và đa dạng Qua đó

ông thể hiện thái độ, cảm xúc của mình trớc hiện thực cuộc sống và mongmuốn chia sẻ với bạn đọc

Trang 20

Chơng 2 Đặc điểm câu văn xét về mặt cấu trúc

qua tập Bút ký của Tô Hoài

2.1 Thống kê và phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp

Chúng tôi đã khảo sát 1220 câu văn trong 9 bài bút ký rút từ tập Bút ký

của Tô Hoài và phân loại nh sau:

36 phố phờng Tên phố, tên phờng Vờn và hoa

Làng xóm Chùa Tây Phơng

Hồ Tây Ngỡ trời xuân đến sớm.

Qua bảng 1 chúng ta thấy rằng trong 9 bài viết của Tô Hoài thì câu đơnbình thờng là 783 câu, chiếm 64.2% tổng số câu, câu đơn đặc biệt có 231

Trang 21

câu chiếm 18.9% tổng số câu, còn câu ghép có 206 câu chiếm 16.9% tổng

số câu Nh vậy tần số xuất hiện của câu đơn cao hơn gấp 5 lần so với câughép Trong nhóm câu đơn thì câu đơn bình thờng có tần số xuất hiện caohơn câu đặc biệt 3.5 lần Chúng tôi lấy kết quả ở bảng 1 làm cơ sở để phânloại sâu hơn các kiểu câu đơn, câu ghép cụ thể ở phần sau nhằm tìm ra đặc

điểm câu văn trong tập Bút ký của Tô Hoài.

2.2 Đặc điểm câu văn trong tập Bút ký của Tô Hoài xét về mặt cấu trúc

2.2.1- Câu đơn

2.2.1.1- Câu đơn bình thờng

Câu đơn bình thờng là loại câu có hai thành phần C-V gắn bó chặt chẽvới nhau thông qua mối quan hệ ngữ pháp C-V để tạo nên một chỉnh thểthống nhất

Có thể nói câu đơn bình thờng là loại câu có tần số xuất hiện cao trongbút ký của Tô Hoài Theo số liệu thống kê ở bảng 1, trong 9 bài bút ký củaTô Hoài thì câu đơn bình thờng có 783/1220 câu, chiếm 64.2% tổng sốcâu Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy cấu trúc của câu đơn bình thờngtrong tập Bút ký của Tô Hoài có hai dạng:

- Câu có một kết cấu C-V duy nhất làm nòng cốt

- Câu có hơn hai kết cấu C-V trở lên, trong đó chỉ có một kết cấu C-Vlàm nòng cốt

Để thuận lợi cho việc thống kê và phân tích, chúng tôi gọi tên câu đơn

ở dạng một kết cấu C-V làm nòng cốt là câu đơn có một kết cấu C-V vàcâu đơn ở dạng còn lại chúng tôi gọi là câu đơn mở rộng thành phần Sau

đây là bảng phân loại câu đơn bình thờng trong 9 tác phẩm bút ký của TôHoài (bảng 2)

Bảng 2 Phân loại câu đơn theo kết cấu C-V

Tác phẩm Tổng số Câu đơn có một

kết cấu C-V

Câu đơn mở rộng thành phần

Trang 22

Theo kết quả ở bảng 2, chúng tôi nhận thấy câu đơn có một kết cấu C-V

đợc Tô Hoài sử dụng nhiều (650/783 câu) chiếm 83% tổng số câu đơn, gấp

(I, câu 4, trang 5)

(2) ánh sáng với bóng nớc chói loà lồng nhau

(IX, câu 31, trang 133)

(3) Bãi biển nơng dâu đã trầm luân đến cả đời ngời

(IX, câu 35, trang 153)

(4) Thành phố đơng sinh sôi ra nhiều trung tâm

(II, câu 67, trang 59)

(5) Tâm sự và kỉ niệm đời ngời cũng đợm biết bao hình ảnh làng xóm (VI, câu 25, trang 105)

Trang 23

(6) Những nét riêng của Thạch Thất trung du in đậm vào bóng dáng

nếp nhà dới núi và cảnh chùa

(VII, câu 21, trang 11)

(7) Cuộc cách mạng t tởng đã diễn ra hàng ngày, hàng giờ và lâu dài

(II, câu 172, trang 68) (8) Vờn kiểu Anh, kiểu Mỹ chú trọng tự nhiên

(V, câu 16, trang 92) (9) Công viên kiểu Nhật Bản là cảnh sơn thuỷ hữu tình thu nhỏ

(V, câu 20, trang 92) (10) Văn hoá Việt Nam đã bao hàm những nét đặc sắc ấy

(VI, câu 4, trang 106) Loại câu đơn chỉ có hai thành phần chính C-V đợc Tô Hoài sử dụngkhá nhiều (83% tổng số câu đơn) Ông dùng loại câu đơn này nhằm miêutả khung cảnh thiên nhiên và cuộc sống con ngời Hà Nội nh Hồ Gơm, bãibiển nơng dâu, các làng ven đô hay những góc phố, vờn hoa, con ngờitrong chiến tranh Tất cả những sự vật, hiện tợng ấy đợc Tô Hoài tái hiệnlại bằng những câu văn giản dị mà sâu sắc

a2 Câu đơn có các thành phần phụ

Trong cuộc sống cũng nh trong văn chơng ngời ta không chỉ sử dụngcâu đơn hai chỉ có thành phần chính C-V mà còn sử dụng cả loại câu đơn

có các thành phần phụ Để phản ánh hiện thực muôn màu muôn vẻ mộtcách tiết kiệm và phản ánh đúng mối liên hệ của các sự vật với nhau, các

sự vật, với các đặc trng của chúng, trong câu ngoài chủ ngữ và vị ngữ còn

có thể có những bộ phận khác phụ thuộc vào các nòng cốt câu hoặc phụthuộc vào các từ chính trong các bộ phận làm thành câu Những câu đơn

nh vậy đợc gọi là câu đơn có các thành phần phụ

* Câu đơn có thành phần phụ trạng ngữ

Trạng ngữ là thành phần phụ của câu và thờng đứng đầu câu ý nghĩa

mà trạng ngữ biểu thị là ý nghĩa tình huống, cách thức, thời gian, nơi chốn,mục đích, điều kiện, nhợng bộ, nguyên nhân… nhằm làm rõ thêm cho nội

Trang 24

dung thông báo của câu Kiểu câu đơn có thành phần phụ mở rộng trạngngữ đợc Tô Hoài sử dụng với tần số khá cao.

Ví dụ:

- Trạng ngữ chỉ thời gian:

(11) Hàng năm, vào những mùa hội, làng xóm hay trẩy hội chơi chùa

(VII, câu 35, trang 116)

(12) Hiện nay, cuộc sống tập thể với những sinh hoạt công cộng ngày

càng phát triển

(VI, câu 43, trang 108)

(13) Xa kia, những ngời khéo tay, những ngời thợ giỏi cả nớc đã dày

công làm nên những vờn ngự uyển của các triều đại Lý, Trần, Lê

(V, câu 40, trang 94)

(14) Ngày trớc, cha mấy ngời chơi hoa tết, hoa cới, hoa sinh nhật

nhiều nh bây giờ

(V, câu 138, trang 101)

(15) Mỗi sáng sớm, ngời tù án chém bị giải đến đây

(V, câu 62, trang 95)

(16) Vào mùa rét đã lâu, nhng tra nào gã cũng tắm nớc lạnh

(I, câu 18, trang 5)

(17) Trớc kia, Hà Nội thờng có tên bao trùm các nghề, các đền chùa,

(III, câu 13, trang 72)

(19) Trên thế giới, hầu nh bất cứ thủ đô hoặc thành phố nào nhiều

tuổi cũng đều đợc bảo vệ, trân trọng

(III, câu 2, trang 71)

Trang 25

(20) Bên kia hồ, mấy cái thân cây mốc vằn trắng, cao vót nh những

cây thốt nốt bên Cao Miên

(I, câu 51, trang 8)

(21) Đằng xa, mái hiên nhô ra dới khóm anh đào

(V, câu 25, trang 92)

(22) Trên cửa nhà khu tập thể, ở đờng phố, ở lối đầu xóm, một dây

treo phong lan, khóm vạn niên thanh, cây ớt quả tròn, quả dài đỏ lừ, câymào gà, cây ngọc lan… chật chội hay thoáng đãng, có những điểm xuyết

ấy, cảnh có duyên hơn

(V, câu 3, trang 91)Câu đơn có thành phần phụ là trạng ngữ đợc Tô Hoài sử dụng nhiềunhất trong các loại câu đơn có thành phần phụ Trong đó, ông sử dụng chủyếu là trạng ngữ chỉ thời gian và trạng ngữ chỉ địa điểm Sở dĩ ông haydùng hai loại trạng ngữ này là bởi bút ký của ông thờng nhắc đến các sựkiện, hiện tợng từ xa tới nay ở Hà Nội hay các vùng ngoại thành hoặc trênthế giới Thời gian mà ông nhắc đến thờng là xa kia, thời xa xa hay trớc

đây và hiện nay nhằm so sánh xa và nay về một hiện tợng nào đó Địa

điểm thờng đợc nói đến trong bút ký của ông có thể là Hà Nội chungchung hay từng ngôi nhà, góc phố, vờn hoa…mà cũng có thể là các nơi trênthế giới Đó chính là không gian, địa điểm mà các sự vật, hiện tợng trongbút ký của Tô Hoài xuất hiện Các loại trạng ngữ chỉ cách thức, nhợng bộ,

điều kiện, nguyên nhân, chúng tôi không thấy xuất hiện trong tập bút kýcủa Tô Hoài, nếu có cũng chỉ là một vài câu không đáng kể

* Câu đơn có thành phần phụ chuyển tiếp

Tô Hoài sử dụng loại thành phần phụ này trong câu nhằm mục đích nốikết câu chứa nó với câu phía trớc Vì thế muốn hiểu ý nghĩa trọn vẹn củacâu thì buộc phải đặt nó vào trong mối quan hệ với câu trớc đó Thànhphần phụ chuyển tiếp trong bút ký của ông thờng do một quan hệ từ, một

tổ hợp từ mang nghĩa chuyển tiếp đảm nhiệm

(23) Và chính là ngời ta có thể sinh ra tình cảm mùa xuân.

Trang 26

(IV, câu 6, trang 131)

(24) Rồi Hà Nội bớc vào thời kì kháng chiến toàn quốc.

(II, câu 23 trang 84)

(25) Hơn nữa, quanh vấn đề tên phố ở Hà Nội, còn có những mặt

khác phải quan tâm

(II, câu 58, trang 87)

(26) Và trên thế giới sẽ có hoa và có cây Việt Nam đẹp ở nớc ta và

công viên Việt Nam ở các nớc

(V, câu 144, trang 102)

(27) Thế nhng bộ mặt của Hà Nội, sự hiện diện của nếp sống, con

ng-ời Hà Nội của thng-ời đại mới nhất vẫn cha thật sự rõ rệt

(II, câu 183, trang 69)Loại câu có thành phần phụ chuyển tiếp này đợc Tô Hoài sử dụng nhiềuthứ hai sau loại câu có thành phần phụ trạng ngữ Ông thờng hay sử dụngcác từ và, rồi, thế nhng, hơn nữa để nhằm mục đích chuyển tiếp, liên kết

các câu văn, đoạn văn làm cho chúng liền mạch với nhau Sở dĩ ông dùngloại câu có thành phần phụ chuyển tiếp này khá nhiều là bởi câu văn, mạchvăn của ông nặng về liệt kê, miêu tả các sự kiện, sự việc, hiện tợng Chínhvì vậy mà trong các bài viết của ông mặc dù nói về nhiều sự kiện, hiện t-ợng khác nhau, từ điều này liên tởng tới điều kia mà không rời rạc, nhàmchán

Trang 27

(29) Chăm sóc công trình xây dựng, quy hoạch hoá và quy hoạch ra

từng khu vực có tổ chức, không rối mắt, thuận tiện và không lãng phí, đấy

là vấn đề của địa phơng và các nhà chuyên môn

(VI, câu 52, trang 109)

(30) Mọi nền nếp mới của Hà Nội, chúng ta có thể trông thấy đợc

rành rõ ở sự văn minh lần lần hình thành

(II, trang 60)

(31) Khách sạn thắng lợi, công trình của kiến trúc s Cu Ba, ảnh hởng

của kiến trúc Mỹ, cả gian đầu có cầu gỗ, nớc chảy và những khóm tre

đằng ngà

(V, câu 19, trang 92)Tô Hoài sử dụng đề ngữ trong câu nh một biện pháp nhằm nhấn mạnh ýmuốn nói Bởi vậy ông đa nó lên đầu câu gây sự chú ý cho ngời đọc

* Câu đơn có thành phần phụ tình thái ngữ

Tình thái ngữ là thành phần phụ của câu, thờng đứng đầu câu (có thể

đứng giữa hoặc cuối câu) tách nòng cốt C-V bằng ngữ điệu nhằm thể hiệntình cảm, cảm xúc của ngời nói hoặc dùng để hỏi đáp

Trong bút ký của Tô Hoài, ông sử dụng câu đơn mở rộng hai thànhphần phụ tình thái nhằm thể hiện thái độ, cảm xúc của ông trớc các sựviệc, hiện tợng ông quan sát đợc

(32) Thế mà, xem rồi thật thú vị,thật đáng nghĩ và vẫn thấy lạ

(VIII, câu 4, trang 113)

(33) à, ra tôi đang nghĩ đến những lông bông vĩ đại nh những

lớp ngời một nớc độc lập tự do

(I, câu 67, trang 9)

(34) A, gã sắp đi Nam Bộ!

(I, câu 49, trang 8)

(35) Ô hay, từ thủa cha ông ,chúng ta đã ở nếp nhà tranh và

thờng đi chùa,chơi chùa làng, còn lạ sao!

Trang 28

(VII, câu3, trang113)

(36) Quả là đất trời và lòng ngời đầm ấm hơi xuân

(IV, câu 5, trang 131)Loại tình thái ngữ này thờng bộc lộ cảm xúc ngạc nhiên của ông trớc

sự vật, hiện tợng hay biểu hiện nào đó của con ngời Chúng thờng do các

từ, tổ hợp từ tình thái đứng đầu câu thể hiện, không có loại tình thái ngữ

đứng giữa hay cuối câu

* Câu mở rộng thành phần phụ giải thích

Giải thích ngữ là thành phần phụ của câu, nó thờng do từ, cụm từ haymột kết cấu C-V xen vào giữa nòng cốt C-V, tách nòng cốt đó bằng ngữ

điệu, nhằm làm sáng tỏ một phơng diện vào đó của cả câu nh bình chú,chú giải, giải thích

Trong bút ký của Tô Hoài, thành phần phụ giải thích đợc đa từ bênngoài vào để giải thích, bình chú và khẳng định chi tiết hơn về các sự việc,hiện tợng đợc nói đến trong câu Nó có thể giải thích nghĩa cho cả câuhoặc cho một từ trớc nó Thành phần này mang tính độc lập và đợc tách rabằng dấu ngoặc đơn hoặc gạch ngang

(37) Tục ngữ (tức là ngời ta khẳng định) có câu: Đất lề quê

thói Phép vua thua lệ làng Làng trên chạ dới

(VI, câu 20, trang 104)

(38) Những hình thù làng mạc nh trên, ở mỗi làng khắp đất

n-ớc, có khác nhau chi tiết (nhiều hơn, ít hơn hoặc có thêm một vài thứ)

nh-ng đều một ý nh-nghĩa và giốnh-ng nhau

(VI, câu 40, trang 108)

(39) Tiếng nói Hà Nội - "giọng kẻ chợ"- không giống tiếng

một địa phơng nào

(II, câu 3, trang 54)

(40) Bây giờ Hà Nội - thủ đô - đơng phát triển trên nét chung

rất dân tộc và truyền thống ấy

(II, câu 12, trang 55)

Trang 29

b Câu đơn mở rộng thành phần C-V

Câu đơn mở rộng thành phần là câu mở rộng các thành phần: chủ ngữ,

vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ, trạng ngữ Những thành phần này phải có đầy đủmột kết cấu C-V trở lên Qua khảo sát chúng tôi thấy rằng câu đơn dạngnày chiếm tỉ lệ thấp hơn câu đơn có một kết cấu C-V trong tổng số câu

đơn bình thờng (17%)

* Mở rộng bổ ngữ

(41) Những ngời đi xa trở về Hà Nội mấy năm nay đều cảmthấy thành phố quê mình vừa gần lại vừa cũng khác lạ, thật trái ngợc vậy.

(IX, câu 23, trang 132)

(42) Những ngời trai trẻ đội nón mê, xách giáo, thiết lĩnh,thùng lùng đinh ba, khi đi dặn lại vợ con hãy lấy ngày ra đi là ngày giỗ

(IX, câu 71, trang 136)

(43) Sau đảo chính 9/3/1945, chỗ ấy đợc bác sĩ Trần Văn Lai

đặt tên là quảng trờng Ba Đình

(IV, câu 32, trang 84)

(44) Hiện tợng ấy chứng tỏ việc chăm sóc cho cái đẹp, cái sạch của cả xóm, cả làng, cả tập thể cha thành thói quen, thành trách nhiệm của con ngời với xã hội.

(VI, câu 58, trang 109)

đơn có một kết cấu C-V và câu đơn có các thành phần phụ Đây là một

điều rất đáng chú ý trong cấu trúc câu văn của Tô Hoài

2.2.1.2- Câu đặc biệt

Trang 30

Câu đặc biệt là kiểu câu mà trên bề mặt cấu tạo chỉ có một thành phần

do một từ hoặc một cụm danh từ, cụm tính từ, cụm động từ đảm nhận [21;tr.119].Về vấn đề phân loại câu đặc biệt tác giả Phan Mậu Cảnh đã chiacâu đặc biệt làm ba nhóm: câu đặc biệt biệt lập( còn gọi là câu đặc biệt tựthân), câu đặc biệt tách biệt, câu đặc biệt tỉnh lợc [6; tr.24] Sau đây làbảng 3 - thống kê, phân loại các kiểu câu đặc biệt trong 9 bài viết, rút ra từtập Bút ký của Tô Hoài.

Bảng 3: Phân loại câu đặc biệt

Câu đặc biệttách biệt

Qua bảng 3 chúng tôi thấy rằng Tô Hoài sử dụng câu đặc biệt tỉnh lợc

là nhiều hơn cả (102/227 câu) chiếm 44.9%, sau đó là câu đặc biệt táchbiệt (74/227 câu) chiếm 32.6% và sử dụng ít nhất là câu đặc biệt tự thân(51/227 câu) chiếm 22.5% trong tổng số các câu đặc biệt Sau đây chúngtôi sẽ lần lợt trình bày đặc điểm của các tiểu loại câu đặc biệt

a Câu đặc biệt tự thân

Đây là kiểu câu chỉ do từ hoặc cụm từ cấu tạo nên trong những ngữcảnh cho phép Chúng không cần tiếp nhận thêm yếu tố mới vào cấu trúcvốn có ban đầu Kiểu câu này gồm hai tiểu loại: câu đặc biệt danh từ dodanh từ hoặc cụm danh từ đảm nhận; câu đặc biệt vị từ do động từ hoặccụm động từ hay tính tứ hoặc cụm tính từ đảm nhận Đây là loại câu đợcTô Hoài sử dụng ít nhất trong 3 tiểu loại của câu đặc biệt

(46) Ô hay nhỉ?

Trang 31

(I, câu 6, trang 8)(47) Đẹp đẽ thay một nhời nguyền!

(I, câu 101, trang 11)(48) Không phải con đờng giữa rừng vào Pắc Bó

(V, câu 72, trang 96)(49) Đẹp quá!

(VII, câu 108, trang 123)(50) Không thể nhìn đợc!

(V, câu 156, trang 103)(51) Tại sao vậy?

(III, câu 84, trang 79)(52) Lạ thay cảnh Tây Hồ!

(VIII, câu 1, trang 118)(53) Không chắc đã là những cây bàng từ thời Lý

(VIII, câu 177, trang 127)Nhìn chung loại câu đặc biệt tự thân này thờng đợc Tô Hoài sử dụngnhằm các mục đích nh bày tỏ thái độ đồng tình hay không đồng tình; thái

độ ngạc nhiên với sự việc nhìn thấy

Nói tóm lại, câu đặc biệt tự thân thờng đợc dùng gắn với một ngữ cảnhnhất định Về hình thức chúng khá gần gũi với các câu tỉnh lợc thành phầnchủ ngữ, vị ngữ… Tuy vậy, câu tỉnh lợc lại phụ thuộc vào câu đi trớc vàcâu đó phải chứa các thành phần cấu tạo câu đầy đủ Nhờ đặt trong quan

hệ với câu đi trớc mà câu tỉnh lợc mới có thể bỏ đi một số thành phần vào

đó trong câu, chỉ giữ lại nội dung thông báo chính

b Câu đặc biệt tách biệt

Đây là kiểu câu mà cấu tạo của chúng chỉ có một từ hoặc một cụm từtrên bề mặt câu, chữ tồn tại nhờ mối quan hệ với những câu lân cận Kiểucâu này hình thành là do ngời viết tách một bộ phận bất kỳ của câu chính

ra thành câu đơn nhằm mục đích nhấn mạnh hoặc tạo nên giá trị từ riêng.Loại câu này chiếm 32.6% trong 9 bài bút ký của Tô Hoài

Trang 32

Sau đây là một số kiểu câu tách biệt chúng tôi gặp trong tập Bút ký của

Tô Hoài

- Tách vị ngữ:

(54) Tiếng chèo gõ mạn thuyền bơi quanh một vùng nớc.Mảnh tre đập lên cái đòn ngang Chứ không phải đây là cái mõ hình con cá của một điếm cầm canh ven hồ - nh lời chú giải ở một tuyển tập văn thơ thế kỷ 18 của nhà xuất bản nọ

(VIII, câu 46-48, trang 120)

(55) Gã là một sinh viên trờng thuốc Gã học dốt, học giỏilàm sao không biết, chỉ biết không mấy ai khi trông thấy gã đi bớc một.Gã toàn chạy Thấy ngời là thấy huỳnh huỵch chạy Vào đâu thì đem theo cả gió vào Vào mùa rét đã lâu, nhng tra nào gã cũng tắm nớc lạnh.

(I, câu 12-18, trang5)

(56) Mỗi đợt, mỗi lần ngời các nơi về nhập c Hà Nội, đemtheo nhiều thói quen tản mạn và tự nhiên mà đời sống thành phố kiểu mớikhông chấp nhận đợc Quét rác ra cửa coi nh ở làng vun rác ra bờ tre Không gõ cửa hay gõ nh đấm cửa, gọi nhau ơi ới, chuyện bô bô giữa nơi làm việc nh đứng ở ngoài đồng, ở đầu rừng Ngồi nói chuyện, ngồi họp

nh ngồi một mình, cứ việc ngoáy mũi, nhổ râu, lấy ráy tai, gãi và chửi tự nhiên Rồi thì hắt nớc, ném chuột chết ra đờng, đi bộ, đi xe nh ngênh ngang ở đờng làng, đờng đê, không ngó ngàng đến luật lệ giao thông

(II,câu ,trang67)

- Tách chủ ngữ:

(57) Một chậu hoa, một bể non bộ, một bờ trúc trong góc vờn,góc sân từng nhà không phác hoạ hết đợc hình dáng quang cảnh làng xóm Một xã, một thị trấn, bãi chiếu bóng đầu thôn, ao đình thành hồ bơi cạnh trụ sở uỷ ban Nhng cơ sở sinh hoạt và giải trí mới của làng xóm

(VI, câu 10-12, trang 104)

Trang 33

(58) Kho tàng ca dao, tục ngữ, bài vè, bút ký của các nhà vănthế kỷ trớc và đầu thế kỷ này Một số tranh ảnh và sách t liệu của Pháp khi mới chiếm Hà Nội Nhiều câu, nhiều đoạn, nhiều tranh ảnh có thể

khơi lại đợc hình thù ảnh cũ

(II, câu 14-16, trang 72)

(59) Công viên kiểu Nhật Bản là cảnh sơn thuỷ hữu tình thunhỏ Đờng thoai thoải, trải cát mịn, sỏi, đất khô, quanh co, bãi có nghỉchân Nhà thuỷ tạ bên kia dòng nớc trong vắt Tảng đá Gốc tùng

Đây là một loại câu rất đáng chú ý trong văn chơng của Tô Hoài nói chung

và trong tập Bút ký của ông nói riêng Có thể nói Tô Hoài là một cây bút

già dặn trong làng văn chơng Việt Nam cho nên câu văn của ông cũng tỏ

ra linh hoạt, nhuần nhuyễn, khác lạ Ông dùng câu văn tách biệt để táchbất cứ thành phần nào của câu, bất cứ điều gì mà ông muốn nhấn mạnh,muốn độc giả quan tâm, chú ý Thông thờng, ông hay tách thành phần chủngữ, thành phần vị ngữ hoặc thành phần bổ ngữ ra thành một câu vănriêng

Thành phần chủ ngữ mà ông tách ra phần lớn là các sự vật, hiện tợng

đáng chú ý nh thiên nhiên,các sự kiện lịch sử, xã hội

Thành phần vị ngữ mà ông tách ra thành một câu thờng đứng sau cáccâu mang tính chất nh câu chủ đề Đó thờng là các biểu hiện, tính chất của

sự vật, hiện tợng hay những hành động có vấn đề của con ngời Hà thành

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A - Hoàng Văn Thung (1975), Ngữ pháp tiếng Việt, TrờngĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Lê A - Hoàng Văn Thung
Năm: 1975
2. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học quốcgia Hà Nội
Năm: 2003
3. Diệp Quang Ban (1984), Cấu tạo câu đơn tiếng Việt, ĐHSP I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu tạo câu đơn tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 1984
4. Diệp Quang Ban (chủ biên, 1998), Thực hành ngữ pháp tiếng Việt,ĩNb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành ngữ pháp tiếng Việt
5. Diệp Quang Ban (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
6. Phan Mậu Cảnh(2006), Ngữ pháp tiếng Việt các phát ngôn đơn phần, nxb Đại hoc S phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt các phát ngôn đơnphần
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: nxb Đại hoc S phạm
Năm: 2006
7. Phan Cự Đệ (1979), Tô Hoài, Sách nhà văn Việt Nam 1945 - 1975, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài, Sách nhà văn Việt Nam 1945 - 1975
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội
Năm: 1979
9. Hà Minh Đức (2002), Lý luận văn học, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2002
10. Đình Hải (1985), Nhà văn và những con chữ, Báo văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và những con chữ
Tác giả: Đình Hải
Năm: 1985
11. Lê Bá Hán (cùng các tác giả khác) (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ vănhọc
Tác giả: Lê Bá Hán (cùng các tác giả khác)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2007
12. Đỗ Đức Hiểu (chủ biên, 2004), Từ điển văn học, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Nhà XB: Nxb Thế giới
13. Tô Hoài (1977), Sổ tay viết văn, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay viết văn
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1977
14. Tô Hoài (2004), Bút ký Tô Hoài , NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bút ký Tô Hoài
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2004
15. Nguyễn Công Hoan (1977), Trau dồi tiếng Việt, Sách hỏi chuyện các nhà văn, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trau dồi tiếng Việt, Sách hỏi chuyệncác nhà văn
Tác giả: Nguyễn Công Hoan
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1977
16. Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học tiếng Việt, NXB GD, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1999
17. Nguyễn Lân (1970), Một vài ý kiến về cách phân tích câu , Ngôn ng÷, sè 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài ý kiến về cách phân tích câu
Tác giả: Nguyễn Lân
Năm: 1970
18. Hồ Lê (1993), Vấn đề phân loại câu trong tiếng Việt hiện đại , Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phân loại câu trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hồ Lê
Năm: 1993
20. Phong Lê, Vân Thanh (2000), Tô Hoài - tác gia - tác phẩm , NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài - tác gia - tác phẩm
Tác giả: Phong Lê, Vân Thanh
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2000
21. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1999
22. Đỗ Thị Kim Liên (2005), Bài tập ngữ pháp tiếng Việt, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB Đại họcquốc gia Hà Nội
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Phân loại câu đặc biệt - Đặc điểm câu văn trong tập bút ký của nhà văn tô hoài
Bảng 3 Phân loại câu đặc biệt (Trang 30)
Bảng 4. Phân loại câu ghép - Đặc điểm câu văn trong tập bút ký của nhà văn tô hoài
Bảng 4. Phân loại câu ghép (Trang 36)
Bảng 5. Phân loại câu theo mục đích giao tiếp Tác phẩm Tổng số câu C©u - Đặc điểm câu văn trong tập bút ký của nhà văn tô hoài
Bảng 5. Phân loại câu theo mục đích giao tiếp Tác phẩm Tổng số câu C©u (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w