Thành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô HoàiThành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô HoàiThành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô HoàiThành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô HoàiThành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô HoàiThành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô HoàiThành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô HoàiThành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô HoàiThành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô HoàiThành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô HoàiThành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô HoàiThành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô HoàiThành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô HoàiThành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô Hoài
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan, Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học về “Thành phần
rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô Hoài” là công trình nghiên
cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Phạm Hiển Những
kết quả và số liệu trong báo cáo này chưa ai công bố dưới bất kì hình thức nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự can đoan này
Tác giả luận văn
Lê Văn Cường
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞLÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 12
1.1 Lí thuyết giao tiếp 12
1.2 Lí thuyết hội thoại 22
1.3 Thành phần rào đón 24
1.4 Giới thiệu về Tô Hoài và một số tác phẩm của Tô Hoài 26
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC CỦA YẾU TỐ RÀO ĐÓN TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA TÔ HOÀI 30
2.1 Yếu tố rào đón do từ đảm nhiệm 30
2.2 Yếu tố rào đón do cụm từ đảm nhiệm 32
2.3 Yếu tố rào đón do một kết cấu C - V đảm nhiệm 36
2.4 Yếu tố rào đón do kết hợp các dạng 37
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG-NGỮ NGHĨA CỦA YẾU TỐ RÀO ĐÓN TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA TÔ HOÀI 43
3.1 Đặc điểm chức năng của yếu tố rào đón trong một số tác phẩm của Tô Hoài 43
3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của yếu tố rào đón trong một số tác phẩm của Tô Hoài 65
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Biểu thức rào đón vềhình thức trong tác phẩm của Tô Hoài 41
Bảng 3.1 Biểu thức rào đón theo phương châm về lượng 49
Bảng 3.2 Biểu thức rào đón theo phương châm về chất 56
Bảng 3.3 Biểu thức rào đón về phương châm quan hệ 60
Bảng 3.4 Biểu thức rào đón về phương châm cách thức 62
BẢNG 3.5 Biểu thức rào đón về phương châm lịch sự 64
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết củađềtài
Trong ngôn ngữ, rào đón tuy là một thành phần phụ thuộc (không đòi
hỏi sự hồi đáp từ phía người nghe) nhưng không thể phủ nhận bản chất hành
động ở lời của chúng, bởi khi rào đón - hành vi ngôn ngữcó tính chất để ngừa trước sự hiểu nhầm hay phản ứng về điều mình sắp nói - tức là người nói đang thực hiện chính hành vi rào đón Hầu hết các hành vi ngôn ngữ đều tiềm
ẩn khả năng làm tổn hại đến thể diện của người khác, do đó, thành phần rào đón (TPRĐ) có thể được tìm thấy đi kèm với rất nhiều hành vi ngôn ngữ như: rào đón khi đưa ra yêu cầu, khi phê bình, khi từ chối lời cầu khiến, khi lôi kéo, khi xin phép, khi nhờ, v.v Lời rào đón được sử dụng để ngăn ngừa trước
sự hiểu lầm hoặc những phản ứng không hay về lời nói của chủ ngôn, làm tăng tính lịch sự trong giao tiếp Yếu tố rào đón khiến cho cuộc thoại trở nên
uyển chuyển hơn, liên tục hơn, góp phần duy trì và nâng cao hiệu quả của quá trình giao tiếp Rào đón là một hiện tượng ngôn ngữ mang đậm dấu ấn tâm lí,
bản sắc văn hoá dân tộc của người Việt Nghiên cứu yếu tố rào đón là cần thiết đối với việc sửdụng ngôn ngữtrong hoạt động giao tiếp
Trong mỗi tác phẩm văn học, các nhân vật hội thoại ảnh hưởng, tác
động qua lại lẫn nhau và gây nên ở nhau những thay đổi về hành động, trạng thái tâm lí, tình cảm Cho nên, khi tham gia hội thoại, ngoài việc đưa ra một
nội dung thông tin nào đó, người ta còn phải cân nhắc nên thực hiện hành vi ngôn ngữ nào, thực hiện theo cách thức nào Và trong nhiều trường hợp, đểđạt được hiệu quả giao tiếp người ta cần đến những yếu tố phụ trợ đi kèm với các hành vi ngôn ngữ để làm tăng hay giảm hiệu lực ở lời của những phát ngôn do hành vi đó tạo ra Một trong những yếu tố này là lời rào đón (Hedges)
Trang 6Tác giả Tô Hoài là nhà văn có vị trí đặc biệt trong nền văn học hiện đại
Việt Nam Ông được xem là một cây bút có sức sáng tạo dồi dào, bền bỉ và đa
dạng, sử dụng nhiều thể loại văn xuôi trong khi viết Đặc biệt, ông được đánh giá có vốn hiểu biết đời sống và phong tục các dân tộc phong phú và năng lực quan sát và miêu tả rất sắc bén Sáng tác của Tô Hoài phong phú đa dạng về
thể loại, gồm: truyện ngắn, tiểu thuyết, ký, truyện thiếu nhi Ở thể loại nào ông cũng để lại những thành công và tạo được dấu ấn riêng, đậm nét trong lòng độc giả Giáo sư Phong Lê trong bài “Tô Hoài, sáu mươi năm viết” (1999)đã đánh giá chặng đường sáng tác của Tô Hoài trước và sau cách mạng : “55 năm viết, với trên dưới 150 đầu sách được ấn hành, có thể nói đó là một
khối lượng lao động đồsộ, hiếm có ai trong các nhà văn Việt Nam hiện đại so sánh được” và đồng thời khẳng định vẫn “chưa nói hết được những điều
muốn nói” về Tô Hoài Trong hội thảo về nhà văn Tô Hoài nhà phê bình
Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội đã phác họa hình ảnh của nhà văn Tô Hoài: “Tô Hoài là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại
sống bằng văn, sống viết văn, với đủ các thể loại, trải nhiều đề tài Ông viết đều đặn, bền bỉ, viết như một lẽ sống, viết như là sống, không phải kiểu nhà văn tài tử, chỉ nương nhờ theo cảm hứng Văn Tô Hoài là văn về những cảnh đời lam lũ, những phận người vất vả, nhất là những người dân quê ven đô, nơi ông sinh ra và lớn lên” [59] Nhà phê bình Vương Trí Nhàn cũng đã nhận xét:
“So với các cây bút đương thời, Tô Hoài có lẽ là nhà văn giàu chất chuyên nghiệp bậc nhất Sống đến đâu viết đến đấy Việc viết lách đối với ông là một
thứ lao động hàng ngày” Giáo sư Hà Minh Đức cho rằng “Tô Hoài là một cây bút văn xuôi sắc sảo và đa dạng” là “một ngòi bút tươi mới không bao giờ
cũ với thời gian” [21]
Trong một số công trình nghiên cứu về dụng học ở nước ngoài, yếu tốrào đón đã được đề cập đến Nhưng ở Việt Nam, vấn đề này chỉ được đề cập
Trang 7đến trong một số bài viết hoặc công trình nghiên cứu và gần đây có một số
luận văn, luận án, nên hầu như vẫn còn để ngỏ Đáng chú ý, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu yếu tố rào đón trong các tác phẩm của Tô Hoài
Một điểm nữa cần lưu ý là hiện một số tác phẩm của Tô Hoài được giảng dạy
và học tập nghiên cứu trong nhà trường, tiêu biểu như Dế mèn phiêu lưu kí,
Vợ chồng A Phủ Việc tìm hiểu về yếu tố rào đón trong một số tác phẩm của
Tô Hoài góp phần giúp cho các thế hệ độc giả có cái nhìn đa diện hơn về các sáng tác của nhà văn, phục vụ đắc lực cho công tác học tập và giảng dạy ngữvăn trong nhà trường
Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: Thành phần rào đón trong một số tác
phẩm của nhà văn Tô Hoài (Dế mèn phiêu lưu kí, Truyện Tây Bắc, Chiều chiều, Cát bụi chân ai) để tìm hiểu một cách toàn diện, có hệthống và sâu sắc hơn về thành phần rào đón trong giao tiếp của các nhân vật trong một số tác
phẩm của Tô Hoài
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài
Rào đón là một hiện tượng thường gặp trong hoạt động giao tiếp bằngngôn ngữ Nghiên cứu về yếu tố rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn
Tô Hoài là một vấn đềhấp dẫn đối với Ngôn ngữhọc
Việc nghiên cứu các yếu tố ngôn ngữ có chức năng rào đón trong các tác phẩm văn chương chưa được Việt ngữ học quan tâm Trong ngữpháp học, các yếu tố ngôn ngữ có chức năng rào đón thường được gộp chung vào thành
phần tình thái của phát ngôn - thành phần thể hiện thái độ, sự đánh giá của người nói đối với nội dung thông báo của phát ngôn, hoặc đối với hoàn cảnh phát ngôn hay với hiện thực
Theo Hoàng Tuệ: “Các từ thường gọi là trạng từ hay phó từ và ngữtương đương với phó từ, trạng từ như có lẽ, hình như, chắc chắn, theo tôi được xem là phương tiện từ vựng biểu thị thành phần tình thái nhưng không
Trang 8gắn với vị ngữ mà ở ngoài cấu trúc của vị ngữ” [70,tr 1-5] Cao Xuân Hạo cho rằng “Tình thái của câu có thể được biểu thịbằng khởi ngữ(ngữ đoạn mở
đầu câu) như có lẽ, tất nhiên ” [22]
Nguyễn Quang [62] nêu ra các dấu hiệu tình thái sau đây:
- Uyển thanh: Diễn đạt sự không chắc chắn (có lẽ, có thể, có khảnăng…)
- Hạ ngôn: Yếu tố làm giảm mức độ (một chút, một tí, một lát, một thoáng )
- Chủquan hoá: Yếu tốbiểu thị thái độ người nói
-Tăng cường: (Vô cùng, thực sự, thật là )
ĐỗHữu Châu đã nhận xét: Ngữ pháp học Việt ngữ chưa quan tâm đến
việc nghiên cứu các rào đón Việc gộp chung các yếu tố rào đón vào phạm trù
“tình thái” đã xoá mờ mất ranh giới và những chức năng cực kì thú vị của chúng, những chức năng mang đậm màu sắc văn hoá dân tộc riêng của từng ngôn ngữ [9,tr 273]
Gần đây, dưới ánh sáng của Ngữ dụng học, thành phần rào đón đã được
một số tác giả đề cập đến Trong cuốn “Dụng học Việt ngữ”, Nguyễn Thiện Giáp có dành một mục để nói về “Những lời rào đón trong giao tiếp” [18,tr.131-135] Theo tác giả, sức mạnh điều chỉnh của nguyên tắc hợp tác
mạnh đến mức khi người nói cảm thấy có thể vi phạm nguyên tắc nào đó thì
họ dùng lời rào đón để chỉ ra sự vi phạm có thể có Những lời rào đón này
giống như những bằng chứng cho phép người nói vi phạm một nguyên tắc
Trang 9nào đó và chúng cũng là tín hiệu đối với người nghe để người nghe có thể hạn
chế cách giải thích của mình Những lời rào đón còn thể hiện rằng người nói quan tâm đến việc người nghe đánh giá họ là có hợp tác hội thoại hay không.Nguyễn Thiện Giáp đã nêu một số ví dụ về sự rào đón các phương châm hội thoại trong tiếng Việt: để rào đón phương châm về chất có một số cách nói:
Nếu tôi không nhầm thì, tôi nhớ không rõ nhưng, theo như tôi biết, tôi không dám chắc, nghe đồn, hình như, có lẽ ; Rào đón phương châm về lượng: Tôikhông được phép tiết lộ, thiên cơ bất khả lộ, như anh đã biết, tôi không muốn làm phiền anh với những chi tiết vụn vặt ; Rào đón phương châm quan yếu: Tôi không biết điều này có quan trọng không, tôi muốn nói thêm là ; Rào đón về phương châm cách thức: Tôi xin mở ngoặc đơn là Trong giao tiếp, ngoài nguyên tắc cộng tác còn có nguyên tắc lịch sự Người ta cũng dùng
những lời rào đón để tránh đe doạ thể diện của người nghe: Nói khí vô phép, nói chịbỏ ngoài tai, tôi hỏi thật
Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”, khi nói vềtình thái của phát ngôn,
Diệp Quang Ban đã chỉ ra rằng trong việc phân tích mặt dụng học của phát ngôn, các biểu thức tình thái chỉ độ tin cậy và tình thái chỉ ý kiến được
xếp vào các yếu tố rào đón Tình thái chỉ độ tin cậy nêu lên mức độ nào đó trong niềm tin của người nói vào cái được nói đến trong câu (Ví dụ: Chẳng
lẽ, hình như, chắc là ) Tình thái chỉ ý kiến - diễn đạt ý kiến của người nói
đối với điều được nói đến trong câu (đối với nghĩa miêu tảcủa câu) như: Nói
trộm bóng, nói của đáng tội, theo chỗ tôi biết [2,tr 204]
Yếu tố rào đón tiếp tục được Diệp Quang Ban bàn tới trong bài “Ứng
dụng cách nhìn dụng học vào việc giải thích một số yếu tố có mặt trong câu phát ngôn” Theo tác giả, trong tiếng Việt có những yếu tố “lang thang” thường có tính chất những quán ngữloại như anh còn lạ gì, nói khí vô phép
Trang 10Chúng không thuộc cấu trúc cú pháp của câu và cũng không dễ dàng gia nhập thành phần biệt lập vì chúng có phần khác với các thành phần đó Từkhái niệm công cụ là các phương châm hội thoại của Grice, tác giả viết:
“Trong dụng học, những yếu tố trong phát ngôn có quan hệ đến việc người nói ghi nhận việc sử dụng các phương châm nêu trên thì được xếp vào số
những lời rào đón” [1, tr.17] Diệp Quang Ban đã xếp những yếu tố ngôn ngữ
"lang thang" nói trên vào số những lời rào đón Để giải thích các yếu tố này, tác giả gắn chúng với bốn phương châm hội thoại của Grice: Những yếu tốngôn ngữ gắn với phương châm chỉ lượng, những yếu tố ngôn ngữ gắn với phương châm chỉ chất, những yếu tố ngôn ngữ gắn với phương châm quan hệ,
những yếu tố ngôn ngữgắn với phương châm cách thức
Đỗ Hữu Châu (2001) đã xếp yếu tố rào đón vào chiến lược lịch sự âm tính để né tránh những hành vi đe doạ thể diện (FTA) hoặc bù đắp, giảm nhẹ
hiệu lực của các FTA khi không thểkhông dùng chúng [10,tr.273]
Cũng xếp rào đón vào các chiến lược lịch sự âm tính, Nguyễn Quang (2004) đã nghiên cứu rào đón theo hướng xét dấu hiệu rào đón theo lực ngôn trung và theo các nguyên tắc của Grice Xét theo lực ngôn trung, các dấu hiệu rào đón này sẽ được phân loại thành: Các dấu hiệu rào đón được mã hoá trong
tiểu từ, các dấu hiệu rào đón trạng ngữ - mệnh đề Xét theo các nguyên tắc hội thoại của Grice, các dấu hiệu rào đón được phân chia theo 4 tiêu chí: Chất (Quality) - Chân: Các dấu hiệu rào đón là: hình như là, có vẻ là, tôi đoán là, người ta đồn là Lượng (Quatity) - Túc: Các dấu hiệu rào đón là: khoảng, khoảng độ, áng chừng, ở một mức độ nào đó Hệ (Relevance/Relation) -
Trực: Các dấu hiệu rào đón là: à, tiện đây, nhân đây, rủi quá, tôi rất tiếc phải nói rằng Thức (Manner) - Minh: Các dấu hiệu rào đón là: Đơn giản là, nó là
thế này, nói thực ra thì, nói cách khác thì [63, tr.108]
Trang 11Lời rào đón cũng đã được đề cập tới trong các nghiên cứu về chiến lược thực hiện những hành vi ngôn ngữ cụ thể như: xin phép, nhờ, từ chối,
phản bác Chẳng hạn, Đào Nguyên Phúc trong bài Biểu thức rào đón trong hành vi ngôn ngữxin phép tiếng Việt trên cơ sở lí thuyết về phương châm hội thoại của P Grice [61,tr 24-29] Tác giả cho rằng đối với hành vi ngôn ngữxin phép, các biểu thức rào đón có vai trò khá quan trọng Vì hành vi xin phép
có đặc trưng là lợi ích chủ yếu thuộc về chính bản thân người nói nên việc sử
dụng các biểu thức rào đón sẽ giúp cho hành vi xin phép được thực hiện dễdàng hơn và đạt hiệu quả cao hơn
Trần Chi Mai trong bài Cách biểu hiện hành vi từ chối lời cầu khiến
bằng các phát ngôn lảng tránh (Trên các cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt ) [11,tr 41] đã chỉ ra một cách lảng tránh bằng hình thức rào đón Theo tác giả,
từ chối bằng rào đón là một hình thức tự vệ nhằm bảo đảm cho phát ngôn từ
chối có độ an toàn cao, bảo đảm cho người có phát ngôn từ chối không phải
chịu bất kì trách nhiệm gì trước hậu quả có thể xảy ra Lảng tránh bằng rào đón nhằm tránh sự hiểu lầm về lời từ chối sẽ được người nói đưa ra Nguyễn Quang Ngoạn trong bài “Một số chiến lược phản bác thường dùng trong
tiếng Việt” cho rằng rào đón là chiến lược được sử dụng để giảm bớt mức độ
đe doạ thể diện đối với người nghe khi phản bác họ bằng cách tỏ ra lịch sựhơn qua việc sử dụng các tiểu từ tình thái: kiểu như, đại loại là, nói chung thì,
có lẽ, thật ra, thật sự, hoàn toàn, không nhất thiết, nên chăng ; để ngụ ý rằng
Trang 12ý kiến của người nói không mang tính áp đặt, hoặc chỉ có tính chất ướm thửhay giãi bày Do đó mà sựphản bác dễ được chấp nhận hơn [57tr 39]
Trong luận án Hành vi nhờ và sự kiện lời nói nhờ trong giao tiếp bằng
tiếng Việt (2007) Dương Tuyết Hạnh đã dành một phần để nói về rào đón trong sự kiện lời nói nhờ Theo tác giả, khi nhờ một việc dù nhỏ hay lớn, đơn
giản hay phức tạp thì đã ít nhiều gây phiền toái cho người nghe Vì vậy để
giảm thiểu tổn thất cho người nghe, để duy trì sự cộng tác, người nói phải dùng một số lời rào đón Rào đón trong sự kiện lời nói nhờ bao gồm: các biểu
thức rào đón xét theo phương châm hội thoại của Grice, biểu thức rào đón vềhành vi ở lời, biểu thức rào đón nhằm đảm bảo phép lịch sự[25]
Gần đây nhất, luận án “Thành phần rào đón ở hành vi hỏi và hồi đáp
trong giao tiếp tiếng Anh (đối chiếu với tiếng Việt)” của Trần Thị Phương Thu [72] đã đi sâu nghiên cứu đặc điểm của thành phần rào đón ở hành vi hỏi trong tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt, khảo sát trường hợp: Việc sử dụng thành phần hỏi và thành phần đáp của sinh viên đại học Thăng Long
Tóm lại, trong nghiên cứu dụng học ở Việt Nam, hành vi rào đón đã được đề cập đến ở những khía cạnh và mức độ khác nhau khi nghiên cứu hành vi ngôn ngữ cụ thể nào đó hay khi nghiên cứu về phép lịch sự…mà chưa
có công trình nào mang tính chuyên khảo để nghiên cứu riêng về hiện tượng ngôn ngữ này
3 Mục đích và nhiệm vụnghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sởnghiên cứu thành phần rào đón trong một tác phẩm của nhà văn Tô Hoài, luận văn làm rõ các đặc điểm về hình thức và chức năng ngữnghĩa của thành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô Hoài; qua đó khẳng định được vị trí quan trọng của thành phần rào đón trong giao
Trang 13Luận văn đầy đủ ở file: Luận văn Full