1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bức tranh hiện thực qua tiểu thuyết miền tây của nhà văn tô hoài

56 573 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 507,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bị lôi cuốn, hấp dẫn bởi những cuộc phiêu lưu kì thú của chú dế mèn trong Dế mèn phiêu lưu kí, hay sự đồng cảm của bạn đọc thế hệ sau với cuộc sống lam lũ của tầng lớp nhân dân dưới đáy

Trang 1

Em xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo - Thạc sĩ Nguyễn Công Tho, người trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận

Khóa luận còn rất nhiều thiếu sót do hạn chế về mặt nhận thức của người viết, kính mong các thầy cô góp ý để khóa luận được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, ngày 15 tháng 5 năm 2014

Sinh viên: Đinh Thị Hồng

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5

3.1 Đối tượng nghiên cứu 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ của đề tài 5

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 5

5.1 Phương pháp thống kê 5

5.2 Phương pháp so sánh 6

5.3 Phương pháp phân tích văn học 6

6 Cấu trúc của đề tài 6

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 7

1.1 Một số vấn đề lý luận chung 7

1.1.1 Khái niệm hiện thực và chủ nghĩa hiện thực 7

1.1.2 Khái niệm đề tài……… 7

1.2 Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam trước năm 1945 8

1.3 Nhà văn Tô Hoài 12

1.3.1 Tiểu sử nhà văn 12

1.3.2 Con đường đến với chủ nghĩa hiện thực của nhà văn Tô Hoài 13

1.3.3 Quan điểm sáng tác của nhà văn Tô Hoài 16

1.3.4 Sự nghiệp văn chương 19

1.3.4.1 Những sáng tác của Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 20

1.3.4.2 Sáng tác của Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám 24

CHƯƠNG 2: BỨC TRANH HIỆN THỰC QUA TIỂU THUYẾT MIỀN TÂY CỦA NHÀ VĂN TÔ HOÀI 28

2.1 Bức tranh hiện thực về Tây Bắc trước Cách mạng tháng Tám 28

Trang 3

2.1.1 Bộ mặt tàn ác của giai cấp thống trị miền núi 28

2.1.2 Cuộc sống khổ đau của người dân miền núi trước Cách mạng 34

2.1.2.1 Cuộc sống khổ đau vì thiếu thốn vật chất 34

2.1.2.2 Cuộc sống khổ đau bởi những tập tục mê tín dị đoan 36

2.2 Bức tranh hiện thực về Tây Bắc sau Cách mạng tháng Tám 40

2.2.1 Sự đổi đời của người dân miền núi từ khi có Đảng 40

2.2.2 Những đổi thay trong nhận thức của người dân miền núi 44

2.3 Thiên nhiên Tây Bắc qua tiểu thuyết Miền Tây 46

2.3.1 Thiên nhiên mang vẻ đẹp tự nhiên 46

2.3.2 Thiên nhiên gắn với cuộc sống sinh hoạt mang màu sắc dân tộc 48

KẾT LUẬN 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 4

bị lôi cuốn, hấp dẫn bởi những cuộc phiêu lưu kì thú của chú dế mèn trong Dế mèn phiêu lưu kí, hay sự đồng cảm của bạn đọc thế hệ sau với cuộc sống lam lũ

của tầng lớp nhân dân dưới đáy xã hội thời kì trước Cách mạng tháng Tám qua

hàng loạt các truyện ngắn: Nhà nghèo, O chuột, Xóm giếng ngày xưa,… Phong

Lê trong bài: “Lời giới thiệu tuyển tập Tô Hoài” đã nhận xét: “Nếu đóng góp của một nhà văn vào nền văn học dân tộc, vào đời sống tinh thần của cộng đồng là ở phong cách, ở khối lượng và số lượng tác phẩm thì có thể nói: Tô Hoài là một trong những đời văn đẹp của văn học Việt Nam đương đại” [7; 208] Tô Hoài cứ miệt mài viết, ông cần mẫn, bền bỉ trong suốt cuộc đời mình và trong suốt dòng chảy của văn học Càng viết ông càng thể hiện sự sung sức, dẻo dai trong ngòi bút của mình Và dường như ông đã coi viết là một thói quen hàng ngày và ông tìm thấy thú vui khi viết Tác giả Vương Trí Nhàn trong: “Tô Hoài tác gia và tác phẩm” cũng đã nhận xét: “Đời văn Tô Hoài gợi ra một hình ảnh dòng sông miên man chảy và mang trong mình cả cuộc sống bất tận” [7; 180] Và với những nỗ lực trong suốt quá trình sáng tác, ông đã đạt được những thành tựu đáng khâm phục:

Trang 5

- Đạt giải nhất tiểu thuyết của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1956 với tập

“Truyện Tây Bắc”

- Đạt giải thưởng Bông sen vàng của Hội nhà văn Á- Phi năm 1970 với tiểu thuyết Miền Tây

- Đạt giải A Giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội năm 1980

Đặc biệt ông là một trong mười bốn nhà văn nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 năm 1996

Ông đã làm phong phú thêm cho kho tàng văn học hiện đại Việt Nam một tiếng nói riêng nhưng đậm bản sắc văn hóa dân tộc Bởi thế cho nên việc tìm hiểu

Tô Hoài và sự nghiệp sáng tác văn chương của ông luôn là một đề tài được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học và độc giả yêu mến ông say sưa khám phá

Vì những đóng góp to lớn của Tô Hoài đối với nền văn học Việt Nam nên việc tìm hiểu về Tô Hoài nói chung, tiểu thuyết Miền Tây nói riêng là rất cần thiết 1.2 Hơn nữa với bản tính ham đi, ham viết, Tô Hoài thực sự trở thành nhà văn tiên phong về đi thực tế đời sống Đặc biệt những chuyến đi theo chân bộ đội tham dự vào chiến dịch Tây Bắc đã tạo cho ông vốn sống phong phú, giúp ông có cái nhìn thấu đáo và những tình cảm sâu nặng đối với Tây Bắc Cùng với

đề tài Hà Nội - vùng ven thành, đề tài miền núi cũng là một đề tài làm rạng danh tên tuổi của ông Thâm nhập thực tế, có óc quan sát tỉ mỉ, có tình cảm sâu sắc với miền núi, trong các sáng tác của ông, bức tranh hiện thực về cuộc sống con người miền núi hiện lên rõ nét Tô Hoài gắn bó và viết nhiều về miền núi vì nhiều lẽ nhưng cái lẽ cơ bản là núi rừng và những con người dân tộc đã “để thương để nhớ” cho ông nhiều quá và bao giờ tiếng gọi “Chéo lù! Chéo lù!”(Trở lại! Trở lại!) cũng là tiếng gọi da diết, tha thiết nhất đối với ông Tô Hoài coi đó như là một ám ảnh mạnh mẽ thúc đẩy ông sáng tác và đặc biệt thành công về đề tài miền núi Đó là kết tinh tình cảm nồng nàn của nhà văn Tô Hoài với con người và cuộc sống vùng cao, là kết tinh của quá trình tích lũy sự hiểu biết của nhà văn về con người và cuộc sống ở đây trước Cách mạng tháng Tám và khi tiếp xúc với Cách mạng mà trước kia có thể nói, chưa có ai miêu tả được Đặc

biệt Tô Hoài rất thành công trong đề tài miền núi với hai tác phẩm lớn: Truyện

Trang 6

Tây Bắc và Miền Tây Hai tác phẩm lớn viết về những người dân miền núi trong

cuộc đời cũ với những hủ tục lạc hậu đã ăn sâu bén rễ vào cuộc sống người dân miền núi dưới ách thống trị phong kiến, bọn thổ ti lang đạo và bọn đế quốc với

âm mưu khôi phục chế độ cũ, nói xấu cán bộ Đó là niềm cảm thông sâu sắc, là tiếng nói tố cáo và điều quan trọng là bằng cảm quan một nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa, Tô Hoài đã mở ra cho họ một hướng đi đổi đời nhờ Cách mạng Tuy nhiên, trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chỉ nghiên cứu về hiện

thực cuộc sống của người dân miền núi qua tiểu thuyết Miền Tây Miền Tây là

sáng tác của Tô Hoài sau năm 1945 về đề tài miền núi Đây là một trong những thành công của tác giả Hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết này Vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu thêm về thành công của Tô Hoài và hiểu thêm về tác phẩm

Với lòng mến mộ sức sáng tạo bền bỉ và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Tô Hoài, tôi mong muốn trong quá trình thực hiện đề tài, tôi sẽ có điều kiện tìm hiểu và thu thập nhiều hơn nữa những kiến thức, những cống hiến và thành tựu

mà nhà văn Tô Hoài đã đạt được

1.3 Tô Hoài là một trong những tác giả có rất nhiều tác phẩm được đưa vào chương trình giảng dạy từ bậc Tiểu học tới bậc Trung học Đặc biệt, theo chương trình đào tạo đại học theo tín chỉ, số tiết nghiên cứu về Tô Hoài rất ít (4 tiết) vì vậy nhiều vấn đề về tác giả cũng như tác phẩm chưa được nghiên cứu thấu đáo Vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài này để bổ sung thêm kiến thức, hiểu biết về nhà văn phục vụ cho quá trình học tập hiện nay cũng như việc giáo dục sau này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tô Hoài sáng tác từ khi còn rất trẻ Trong suốt đời văn của mình, ông đã để lại số lượng tác phẩm đồ sộ, bởi ông viết không ngừng nghỉ Những tác phẩm của ông không những gây được sự quan tâm của đông đảo bạn đọc mà còn có sức hút các nhà nghiên cứu tìm hiểu Chính vì vậy, trước và nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về nhà văn Tô Hoài và các sáng tác của ông Trong đó,

Trang 7

chúng tôi xin nêu ra một số nghiên cứu về tiểu thuyết Miền Tây mà chúng tôi

được biết như sau:

Tô Hoài với Miền Tây của Phan Cự Đệ một lần nữa nhận định: “cuốn tiểu

thuyết để lại ấn tượng sâu sắc về những con người giàu tình cảm, rất yêu đời, về những cảnh núi rừng trùng điệp đẹp đẽ của Tây Bắc, Tô Hoài đặc biệt thành công khi ghi lại những hình ảnh thiên nhiên bao la tươi đẹp của đất nước”.[7; 314]

Phan Cự Đệ trong bài viết Tô Hoài - nhà văn Việt Nam hiện đại đã khẳng

định: “Thành công chủ yếu của Miền Tây là những bức tranh so sánh hai cảnh đời trái ngược, những bức tranh phản ánh sâu sắc phong tục, sinh hoạt, đời sống

xã hội của nông dân miền núi với nhiều màu sắc và chi tiết sinh động, thay thế nhau qua từng chương sách như những chuyển cảnh trong điện ảnh.” [7; 851]

Trong Tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài – Hà Minh Đức, tác giả có nhận xét: “Qua Miền Tây, Tô Hoài chủ yếu đi vào những thay đổi lớn lao về mọi

mặt và sự trưởng thành nhanh chóng của người dân Tây Bắc từ sau khi chính

quyền cách mạng được thành lập” [7; 353] Sau đó, tác giả đi phân tích tìm hiểu

một số nhân vật cụ thể như bà Giàng Súa, chủ tịch Sóa Tỏa,…

Trong Lời giới thiệu tuyển tập Tô Hoài- Hà Minh Đức đã nhận xét:

“Trong tác phẩm Miền Tây, Tô Hoài đã miêu tả đặc sắc khung cảnh của một

phiên chợ vùng cao ngày xưa,…Tất cả những chất liệu và hình ảnh trên được Tô Hoài miêu tả sinh động trong một bức tranh ngôn từ giống như một tấm thảm dệt nhiều màu đậm nhạt, gần xa Tô Hoài giỏi miêu tả thiên nhiên, thiên nhiên trong tác phẩm của ông gồm nhiều màu vẻ từ những khung cảnh thơ mộng gợi cảm đến một thiên nhiên khắc nghiệt hung dữ”.[1; 137]

Tác giả Khái Vinh trong Đọc Miền Tây đề cập đến ưu điểm, nhược điểm

của tác phẩm Tuy nhiên tác giả cũng đánh giá cao thành công của tiểu thuyết đầu tiên Tô Hoài viết về miền núi: “là cuốn tiểu thuyết viết sinh động có nhiều chương tả cảnh hấp dẫn, đặc biệt là những chương miêu tả về các phiên chợ

Phiềng Sa trước và sau Cách mạng, về xóm người Xá ở Ná Đắng, về phong tục

tập quán của đồng bào các dân tộc vùng cao” [7; 360]

Trang 8

Như vậy, Miền Tây là một trong những tác phẩm được nhiều nhà nghiên

cứu quan tâm Tuy nhiên, để kế thừa và phát huy những thành tựu của các nhà

nghiên cứu đi trước, chúng tôi lựa chọn đề tài: Bức tranh hiện thực qua tiểu thuyết Miền Tây của nhà văn Tô Hoài, nhằm nhìn nhận lại đồng thời cũng

nghiên cứu sâu hơn nữa về phương diện này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài đi sâu tìm hiểu bức tranh hiện thực về cuộc sống của người dân Tây

Bắc trong tiểu thuyết Miền Tây của nhà văn Tô Hoài

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Hiện thực cuộc sống luôn là một nội dung xuyên suốt các sáng tác của Tô Hoài cả trước và sau Cách mạng tháng Tám Song trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu bức tranh hiện thực về Tây Bắc trong tiểu thuyết

Miền Tây Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài chúng tôi mong muốn có điều

kiện để khám phá sâu sắc hơn nữa giá trị nội dung của tác phẩm này, từ đó khái quát được tư tưởng mà nhà văn muốn gửi gắm tới độc giả

4 Nhiệm vụ của đề tài

Đề tài nhằm giải quyết cụ thể vấn đề bức tranh hiện thực về cuộc sống

của người dân Tây Bắc trong tiểu thuyết Miền Tây của nhà văn Tô Hoài qua

hai mảng: hiện thực Tây Bắc trước Cách mạng và hiện thực Tây Bắc sau

Cách mạng

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau đây:

Trang 9

5.2 Phương pháp so sánh

Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh

để làm nổi bật sự khác biệt về cuộc sống của người dân Tây Bắc trước và sau Cách mạng

5.3 Phương pháp phân tích văn học

Tiến hành phân tích tiểu thuyết Miền Tây để làm sáng tỏ bộ mặt tàn ác của

bọn thống trị miền núi, thấy được cuộc sống khổ đau của người dân miền núi trước Cách mạng và nhận thấy ánh sáng của lý tưởng Đảng đã làm thay đổi căn bản bộ mặt miền núi Tây Bắc sau Cách mạng

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính và kết quả nghiên cứu đề tài gồm hai chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung

Chương 2: Bức tranh hiện thực về cuộc sống con người Tây Bắc qua tiểu

thuyết Miền Tây của nhà văn Tô Hoài

Trang 10

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Một số vấn đề lý luận chung

1.1.1 Khái niệm hiện thực và chủ nghĩa hiện thực

Nói đến chủ nghĩa hiện thực : “Là nói đến những cái tồn tại trong thực tế, là khả năng của sự việc, hiện tượng đã biến thành hiện thực Hiện thực hay nói

cách khác là những gì đang thực tế và đang diễn ra trong cuộc sống”.[10; 438]

Chủ nghĩa hiện thực theo nghĩa rộng: “Khái niệm chủ nghĩa hiện thực được dùng để xác định quan hệ giữa tác phẩm văn học đối với hiện thực bất kể một tác phẩm nào đó của nhà văn thuộc trường phái hoặc khuynh hướng văn nghệ nào Với ý nghĩa này, khái niệm chủ nghĩa hiện thực gần như đồng nghĩa với khái niệm sự thật đời sống, bởi lẽ tác phẩm văn học nào cũng phản ánh hiện thực” [4; 67- 68]

Chủ nghĩa hiện thực theo nghĩa hẹp: “Dùng để chỉ một phương pháp nghệ thuật, một khuynh hướng, một trào lưu văn học, có nội dung chặt chẽ, xác định trên cơ sở các nguyên tắc mĩ học cụ thể Trong đó việc mô tả cuộc sống bằng những hình tượng tương ứng trong thực tế, nhận thức sự tác động giữa con người và hoàn cảnh, coi trọng chi tiết cụ thể, chính xác là rất quan trọng vì nhờ

đó mà tác giả làm nổi bật lên tính chân thực và tiếng nói của mình.”[4; 68]

Cho dù hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì nhà văn tiếp cận với hiện thực không phải như một người ghi chép một cách thụ động, dửng dưng mà với một ý thức chủ động khám phá Điều quan trọng nhất của văn học hiện thực chủ nghĩa là sự trung thành, chính xác trong nhận thức và trong truyền đạt bản chất cuộc sống mà nhà văn muốn biểu đạt

1.1.2 Khái niệm đề tài

“Đề tài là một phương diện của nội dung tác phẩm, nó chỉ phạm vi hiện thực cụ thể đã được nhà văn nhận thức, lựa chọn và phản ánh trong tác phẩm Nếu tác phẩm văn học là chỉnh thể thẩm mĩ thì đề tài là phạm vi thẩm mĩ, là khu vực tích tụ những năng lượng thẩm mĩ, bước đầu tạo ra sức hấp dẫn của tác phẩm; ở đó người viết tạo nên những cảnh sắc thiên nhiên, những cảnh đời,

Trang 11

những số phận, những con người,… và làm cho tất cả những điều đã miêu tả trở nên có ý nghĩa xã hội sâu sắc.”[2; 147)

Các hiện tượng đời sống có thể liên kết với nhau thành loại theo mối quan

hệ bề ngoài hay bên trong giữa chúng Đề tài miền núi xác định theo giới hạn bề ngoài của phạm vi hiện thực được phản ánh trong tác phẩm Đề tài miền núi trong văn học là những tác phẩm có phạm vi phản ánh là vùng đất đai rộng lớn đồng nhất với nhau về cảnh quan địa lý và sinh hoạt dân cư Tuy nhiên, trong phạm vi hẹp của đề tài miền núi nói đến ở đây thuộc miền núi Tây Bắc của nước

ta, đôi khi còn gọi là miền Tây

Vùng đất Tây Bắc luôn là nguồn cảm hứng lớn cho những nhà thơ, nhà văn đã từng đặt chân đến đó Đặc biệt, trong văn thơ hiện đại, thời kì chống Pháp, chống Mĩ, thời kì các nhà thơ nhà văn, chiến sĩ cách mạng gắn bó với mảnh đất giàu cảm hứng nghệ thuật này

1.2 Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam trước năm 1945

Chủ nghĩa hiện thực được hình thành ở châu Âu vào những năm 30 của thế kỉ XIX Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu khẳng định trào lưu hiện thực chỉ thực sự xuất hiện vào những năm 30 của thế kỉ XX, muộn hơn so với văn học thế giới khoảng một trăm năm Chính trào lưu văn học này đã kế thừa và phát huy mạnh mẽ truyền thống lớn của văn học dân tộc, gắn bó sâu sắc với những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội, với vận mệnh chung của đất nước và truyền thống nhân đạo chủ nghĩa

Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam, đó là một trào lưu văn học tiến bộ mang tính dân chủ và nhân dân sâu sắc Các nhà văn hiện thực ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của các sách báo tiến bộ và những phong trào cách mạng sôi nổi Trong thời kì Mặt trận Dân chủ, văn học hiện thực đã đề cập tới một số vấn

đề của Cách mạng như vấn đề ruộng đất, vấn đề dân cày, vấn đề công nhân, quan tâm đặc biệt tới người nông dân và tầng lớp dân nghèo thành thị, những con người dưới đáy của xã hội Nhiều tác giả không chỉ chĩa mũi nhọn phê phán vào bộ phận thối nát của giai cấp địa chủ cường hào, tầng lớp quan lại phong kiến mà còn tập trung thể hiện nỗi thống khổ của nông dân với một sự cảm

Trang 12

thông sâu sắc Đặc biệt trong thời kì Mặt trận Dân chủ, một số hoạt động người nông dân trở nên khỏe mạnh, gân guốc, ngoan cường, tiềm tàng một tinh thần phản kháng mãnh liệt, nhờ được hít thở không khí của một thời kì mà phong trào cách mạng sôi nổi, rầm rộ khắp nơi

Chủ nghĩa hiện thực thời kì này xuất hiện với các tên tuổi lớn như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, …

Từ khi bắt đầu viết, Nguyễn Công Hoan đã tự vạch con đường riêng: nhìn thẳng vào hiện thực, bằng tiếng cười trào phúng, phơi ra mặt trái của xã hội đầy bất công, thối nát Kẻ giàu sống phè phỡn vô đạo, còn người nghèo thì bị ức

hiếp và đói khổ cùng cực Tập Kép Tư Bền, xuất bản năm 1935, gồm 15 truyện

ngắn sáng tác trong khoảng 1929 – 1935, đã gây tiếng vang lớn, được coi đó là tác phẩm thuộc về trào lưu tả thực của xã hội Nguyễn Công Hoan vừa là một trong những người mở màn, vừa là người cắm ngọn cờ chiến thắng cho khuynh

hướng văn học hiện thực Hay trong tác phẩm Răng con chó của nhà tư bản, sự

đụng độ giàu nghèo thể hiện thật rõ rệt Ông chủ hãng ô tô đã phóng xe đuổi theo người ăn mày vì người này đã dám đánh gẫy răng con chó Tây của ông khi

nó chồm vào cắn anh ta Người nghèo trong cái xã hội ấy không những khổ vì đói rách mà còn khổ vì bị xúc phạm nhân phẩm và bị chà đạp phũ phàng Dư luận thành kiến bất công trút lên kẻ nghèo đủ mọi thứ tội lỗi xấu xa, trong khi họ chỉ có “tội” nghèo đói Vì đói quá mà những “thằng ăn cắp” phải ăn quỵt hai xu bún riêu, vài củ khoai lang luộc, một chiếc bánh, … để rồi bị gán cho những tội tày đình và bị đánh đập rất dã man, tất cả đều coi chúng như những kẻ hết sức nguy hiểm trong khi đó những kẻ giàu sang, ông Huyện, ông Đốc, kỹ sư, cử nhân, bà Tham, bà Cử rất lịch sự, văn minh, nhưng lại ăn cắp ví tiền của nhau

(Cái ví ấy của ai)! Nhà văn chua chat so sánh hai hạng ăn cắp: một hạng vì đói khát, phải “ăn cắp dấm dúi để nuôi bản thân”, một hạng giàu có sang trọng lại

ăn cắp đường hoàng

Bên cạnh đó, ngòi bút trào phúng của Nguyễn Công Hoan tỏ ra thật sắc sảo khi miêu tả đám “gái mới” lãng mạn con nhà giàu, nhõng nhẽo, đua đòi, ăn

Trang 13

diện và yêu đương tự do Nguyễn Công Hoan thực sự trở thành một trong những nhà văn hiện thực điển hình trước Cách mạng

Nói đến văn học hiện thực thời kì này ta không thể không nhắc tới Ngô

Tất Tố với tác phẩm Tắt đèn Ngay từ lúc mới ra đời, tác phẩm đa được dư luận

hoan nghênh nhiệt liệt “Tắt đèn” được hoan nghênh như vậy chính là vì đã đáp ứng được một vấn đề thời sự trong thời kì Mặt trận dân chủ: vấn đề nông dân đặc biệt là vấn đề sưu thuế Ngô Tất Tố đã ghi lại sâu sắc, chân thực cảnh dân nghèo thiếu sưu thuế ở tỉnh Bắc Ninh, quê hương ông Hai năm lụt lội, mùa màng thất bát, dân chúng rơi vào cảnh thiếu đói, thế nhưng bọn thống trị vẫn bắt

người dân phải nộp đủ các thứ thuế Tắt đèn của Ngô Tất Tố là bản tố khổ sâu

sắc Cùng với tiếng nói đòi cải cách dân chủ, tiếng nói nghệ thuật của Ngô Tất

Tố trong Tắt đèn là một tiếng nói đanh thép đòi hủy bỏ thuế thân và đòi gấp rút cải thiện đời sống lam lũ, cực khổ của nhân dân Tắt đèn là tác phẩm thành công

của Ngô Tất Tố, bên cạnh đó, ông còn biết đến là nhà văn hiện thực với các sáng

tác : Lều chõng, Cũng một kiếp người, Thất nghiệp, …Văn học hiện thực thời kì

này đã có những giá trị nhất định, tuy nhiên vẫn chưa thực sự xuất hiện tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa có giá trị với những nghệ thuật điển hình xuất sắc

Đến chặng đường 1936- 1939, được cách mạng cổ vũ, có phong trào quần chúng công khai làm hậu thuẫn, văn học hiện thực thời kì này đã phản ánh mâu thuẫn chủ yếu trong lòng xã hội Việt Nam, lớn tiếng tố cáo các thế lực thống trị Cảm hứng chủ đạo chung của các tác phẩm hiện thực là phê phán đả kích, phủ định trật tự xã hội đương thời, điều đó thể hiện tính chiến đấu của các cây bút

hiện thực Việt Nam Các tên tuổi như: Nguyễn Công Hoan với Hai thằng khốn nạn,… Vũ Trọng Phụng với Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ,… Ngô Tất Tố với Tắt đèn,… tiếp tục vang danh trên văn đàn, đồng thời cũng xuất hiện các nhà chủ nghĩa hiện thực mới như: Nguyên Hồng với tiểu thuyết Bỉ vỏ, Trần Tiêu với tiểu thuyết Con trâu,… Đặc biệt, điểm diện văn học hiện thực thời kì này chúng ta

không thể không kể đến Nam Cao Ông là một nhà văn tiêu biểu và độc đáo, là

“người thư kí trung thành của thời đại” Với bút pháp riêng đầy tinh sáng tạo, Nam Cao đã đặt ra trước người đọc hang loạt vấn đề: những cảnh đời éo le, chua

Trang 14

chát, những bi kịch đau đớn, vật vã Thông qua những sáng tác của mình, Nam Cao đã phản ánh được cái khung cảnh ngột ngạt, tăm tối của xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám Những tác phẩm của Nam Cao từ truyện ngắn đầu

tay nổi tiếng Chí Phèo đến tiểu thuyết Sống mòn là sự thể hiện trên nhiều bình

diện về số phận của những con người, và hơn thế nữa là cuộc sống cùng khổ của cả một tầng lớp người, một giai cấp

Vẫn viết về những chủ đề quen thuộc như nhiều nhà văn hiện thực khác: đời sống khó khăn, thóc cao gạo kém, con người phải vật lộn để kiếm sống, nhưng trong tác phẩm của Nam Cao, cái đói như sức mạnh vô hình thít chặt lấy

số phận các nhân vật Từ Nghèo đến Một đám cưới, Lão Hạc, Quái dị,… chúng

ta đều bắt gặp một hoàn cảnh chung: nông thôn xơ xác, tiêu điều, …

Khác với Ngô Tất Tố, Nam Cao ít đi vào những xung đột giai cấp gay gắt và miêu tả trên một bình diện rộng Ông tập trung chủ yếu vào những cuộc đời cụ thể, và cũng chỉ lấy ra một chặng đường ngắn của nhân vật để miêu tả Nam Cao đã tìm được con đường đi có tính phổ biến của người nông dân Họ bị tước đoạt hết ruộng đất Nhiều người phải bỏ làng quê đi tha phương cầu thực: kẻ xiêu dạt ra thành phố tìm đến trú ngụ trong những căn nhà ẩm thấp, tăm tối (mẹ

con Hiền trong Truyện người hàng xóm), kẻ phẫn chí bỏ làng đi làm thuê ở đồn điền cao su (con lão Hạc trong Lão Hạc) Chưa bao giờ người nông dân lại bị

đặt trong hoàn cảnh li tán đến như vậy Tiêu biểu cho loại truyện này là truyện

ngắn Một đám cưới Bên cạnh nhân vật người nông dân, Nam Cao còn xây dựng

hình tượng người trí thức tiểu tư sản với bi kịch vỡ mộng và bi kịch “chết mòn”

Tiêu biểu cho hình tượng nhân vật này là các tác phẩm Đời thừa, Trăng sáng, Sống mòn,…

Như vậy, trước năm 1945, văn học hiện thực phê phán Việt Nam ít nhiều vẫn nằm trong phạm trù ý thức hệ tư sản Đội ngũ các nhà văn tiểu tư sản có sự phân hóa khi đứng trước những ảnh hưởng trái ngược và mâu thuẫn của tình hình chính trị đương thời Một bên là những ảnh hưởng tích cực của phong trào Cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, một bên là chính sách ngu dân, đầu độc

về văn hóa của thực dân Pháp và bọn tay sai thuộc địa Tuy nhiên, những tác

Trang 15

phẩm văn học hiện thực phê phán trước năm 1945 vẫn mang những giá trị to lớn, góp phần quan trọng vào thành tựu của trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt Nam

1.3 Nhà văn Tô Hoài

1.3.1 Tiểu sử nhà văn

Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27/09/1920, nguyên quán ở làng Kim An, huyện Thanh Oai Tô Hoài sinh ra và lớn lên ở quê ngoại là làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Tây cũ nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội

Khi làm văn cũng như khi làm báo, Tô Hoài đã lấy rất nhiều bút danh cho phù hợp: Mắt Biển, Mai Trang, Duy Phương, Hồng Hoa Nhưng đặc biệt nhất là bút danh Tô Hoài, bởi đó là sự kết hợp giữa chữ đầu tên con sông Tô Lịch chảy qua Nghĩa Đô, nơi gắn với tuổi thơ ông, và chữ đầu tên phủ Hoài Đức

Tô Hoài xuất thân trong một gia đình làm nghề thủ công: dệt lụa Đến khi nghề dệt lụa thất thế, gia đình ông trở nên sa sút Ông lận đận mãi mới học hết Tiểu học, sau đó ông lăn lộn tự đi kiếm sống bằng rất nhiều nghề: thợ cửi, bán hàng, phụ kế toán, coi kho cho hiệu buôn, dạy học trẻ con,… Ông đã sống qua nhiều ngày thất nghiệp không một xu dính túi và từng nếm trải biết

bao tủi nhục Kể từ truyện ngắn Nước lên được đăng, được trả tiền, ông chính

thức vào nghề viết văn

Nhà văn Nam Cao đã từng là người dạy cho Tô Hoài Sau này hai người trở thành đôi bạn nối khố Cả hai cùng xuất hiện trên văn đàn và mang lại một dấu ấn riêng cho trào lưu văn học hiện thực Việt Nam Hoàng Trung Thông đã nhận xét về tình bạn đó: “Tô Hoài không có Nam Cao thì không trở thành nhà văn Tô Hoài và Nam Cao đã quen dạy Tô Hoài rồi, Nam Cao cũng trở thành nhà văn Nam Cao.”[7; 105]

Trước Cách mạng tháng Tám, thời kì Mặt trận dân chủ, Tô Hoài tham gia phong trào Ái hữu, hoạt động tích cực và sau đó ông được làm Thư kí Hội Ái hữu thợ dệt Hà Đông và tham gia phong trào phản đế Ông đã từng tham dự cuộc mít tinh lớn ngày Quốc tế lao động 01/5/1938 ở nhà Đấu Xảo Năm 1943,

Trang 16

Tô Hoài tham gia sinh hoạt tổ đầu tiên của Hội văn hóa Cứu quốc Năm 1944, ông và một số thanh niên nhóm Văn hóa Cứu quốc bị bắt

Sau Cách mạng tháng Tám, ông lần lượt công tác ở các cơ quan báo chí văn nghệ Ông làm phóng viên rồi chủ nhiệm báo Cứu quốc Việt Bắc, chủ bút Tạp chí Cứu quốc trong những năm 1945 - 1951 Năm 1951, ông chuyển sang công tác tại Tạp chí văn nghệ Từ năm 1957, ông về công tác ở Hội nhà văn Ông lần lượt giữ nhiều cương vị: Tổng thư kí, Phó tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam, giám đốc nhà xuất bản Hội nhà văn, Bí thư đảng đoàn, Ủy viên đảng đoàn Hội nhà văn Ông là chủ tịch Hội văn nghệ Hà Nội, Tổng biên tập báo Người Hà Nội, ủy viên đoàn chủ tịch Uỷ ban liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Uỷ viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam, Chủ tịch hội đồng văn học thiếu nhi Ngoài

ra Tô Hoài còn tham gia nhiều công tác xã hội khác Ông là Đại biểu Quốc hội khóa VII của Hà Nội, Phó chủ tịch Uỷ ban đoàn kết Á – Phi của Việt Nam, Phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Ấn, Uỷ viên Ban chấp hành Hội Việt – Xô

Như vậy trong suốt cuộc đời mình Tô Hoài không những là một nhà văn xuất sắc với những thành tựu to lớn, được nhiều thế hệ bạn đọc mến mộ mà ông còn tích cực tham gia rất nhiều hoạt động xã hội Ông là một người chiến sĩ cách mạng, một đảng viên gương mẫu, có sức phấn đấu dẻo dai, bền bỉ, bám chắc vào cuộc sống, luôn có ý thức vươn lên không ngừng

1.3.2 Con đường đến với chủ nghĩa hiện thực của nhà văn Tô Hoài

Không phải bất cứ nhà văn nào khi bước vào nghề văn cũng đã lựa chọn được hướng đi phù hợp, mà phải qua quá trình thực tế trong nghề để nhận ra những điểm mạnh, yếu của mình rồi tập trung phát huy điểm mạnh đó Tô Hoài cũng là một nhà văn như vậy Ban đầu chập chững trong nghề bằng những bài thơ gợi lên tình cảm lãng mạn nhẹ nhàng, không khác gì loại thơ lãng mạn đương thời Trước Cách mạng, người trí thức tiểu tư sản ấy, có lúc sống trôi dạt, phong trần như cái kiếp vật vờ, vào đâu nên đấy như con phù du trên sóng cát Gặp được cảnh hội ngộ tốt thì nên tốt, không may trôi vào chỗ bùn lầy cuộc đời

có thể ngẫu nhiên quặt vào bóng tối Tô Hoài đã có lúc đi trong lầy lội, có lúc choáng váng, có lúc mù mờ, nhưng tâm hồn nhà văn lúc nào cũng giữ được lý

Trang 17

tưởng trong sáng mà mình theo đuổi Bước đầu những tác phẩm của ông cũng

có lúc mấp mé giữa chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa hiện thực Có thể nói, những năm tối đất, tối trời của đại chiến thế giới lần II, có lúc Tô Hoài như mê đi giữa chợ trời văn chương rao bán đủ các mặt hàng tốt xấu lẫn lộn

Tô Hoài đến với văn chương với tuổi trẻ khao khát hành động và tìm một lối sống đẹp “Cuộc đời là những chuyến đi”, trên những chuyến đi của mình,

Tô Hoài đã học hỏi, lượm lặt rất nhiều kiến thức, vốn sống và biến tất cả thành một cuốn sách Quá trình đến với chủ nghĩa hiện thực của Tô Hoài quả thực rất gian nan Nhưng vượt lên trên cái gian nan ấy người ta mới thấy được cái tài năng cũng như tâm huyết của nhà văn với cuộc sống này như thế nào Tô Hoài

đã vận dụng rất khéo léo lý luận về chủ nghĩa hiện thực kết hợp với kinh nghiệm sống của bản thân và những điều “tai nghe mắt thấy” từ cuộc sống làm nên những tuyệt tác mang giá trị hiện thực rất cao về con người và cuộc sống

Sau những năm tháng trôi dạt, Tô Hoài vẫn giữ được vị trí của một ngòi bút hiện thực Cuộc sống tù túng, cùng quẫn của một người tư sản thất nghiệp như ông Cuộc đời lang thang, xiêu dạt nơi đất khách quê người của những người thợ thủ công làm nghề giấy, nghề dệt lĩnh bị phá sản ở làng quê ông, những ảnh hưởng sâu sắc của phong trào Mặt trận dân chủ, của phong trào Việt Minh đã hướng ngòi bút của ông vào tố cáo hiện thực đen tối lúc bấy giờ

Đối với Tô Hoài, cách mạng tháng Tám đã đánh dấu một bước chuyển trong tư tưởng và sáng tác So với nhiều nhà văn hiện thực khác, thì Tô Hoài có thể làm kịp thời các vấn đề mới của cuộc sống và viết được tương đối thành công một số truyện ngắn, kí góp phần vào bước chuyển chung của văn xuôi sau cách mạng

Thời kì đầu đến với chủ nghĩa hiện thực, ông viết về nhân dân và kháng chiến Trong chiến dịch mùa hè của quân dân Tây Bắc, Tô Hoài đã ghi nhanh khung cảnh chiến đấu trong các trận đánh ca ngợi tinh thần khó khăn dũng cảm chiến đấu của một đại đội độc lập vùng hậu chiến gây dựng chiến tranh du kích phục vụ kịp thời chính sách thuế nông nghiệp

Trang 18

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Tô Hoài đã thành công trong việc tìm hiểu và viết về hiện thực cuộc sống của người dân miền núi Tập truyện

Núi cứu quốc (1948) ra đời bước đầu chứng tỏ sự trưởng thành trên con đường

đến với chủ nghĩa hiện thực của Tô Hoài Nhưng nói đến sáng tác của Tô Hoài,

chúng ta phải kể đến tập Truyện Tây Bắc Tập truyện ra đời năm 1953, đánh dấu

bước phát triển mới của Tô Hoài về cả hai mặt tư tưởng và nghệ thuật Đó là tập truyện đạt nhiều thành tựu xuất sắc trong văn xuôi kháng chiến Ở đây, tác giả

đã miêu tả cuộc sống của nhân dân với cái nhìn sâu sắc trên cái nhìn giai cấp Nhà văn đã vạch rõ tội ác của bọn phong kiến địa chủ, ca ngợi những đổi thay trong nếp suy nghĩ của người dân tham gia kháng chiến gắn bó với Đảng, với chế độ Quá trình viết của Tô Hoài trong Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp thể hiện rõ sự phấn đấu của nhà văn theo yêu cầu cách mạng Tuy vậy, con đường viết văn không tránh khỏi những vấp váp, khúc khuỷu Đó là những chuyển biến mới của đời sống sau ngày hòa bình lập lại, nhất là khi miền Bắc bước vào thời kì xây dựng xã hội chủ nghĩa khiến nhà văn gặp nhiều bỡ ngỡ Dường như khi đó, Tô Hoài có phần mơ hồ trước tình hình cách mạng trong giai đoạn mới Sau khi Đảng phát động phong trào chống Nhân văn - Giai phẩm,

Tô Hoài đã nhìn nhận ra những khuyết điểm của mình qua tác phẩm Nhìn lại một

số sai lầm trong bài báo và công tác (Tạp chí Văn nghệ số 10 tháng 3 - 1935).Có

lẽ, những đóng góp nổi bật nhất trong sáng tác của Tô Hoài là những tác phẩm viết

về miền núi Tô Hoài đã đi vào một thực tế lớn của bà con dân tộc miền núi Thực

tế cuộc sống đồng bào miền núi bước vào trang văn của Tô Hoài một cách tự nhiên, chân thực và cảm động đã đem lại những thành công trong sáng tác của ông,

góp phần đáng kể vào thành tựu chung của nền văn xuôi cách mạng

Con đường đến với chủ nghĩa hiện thực của nhà văn Tô Hoài diễn ra trong 8 năm (1945- 1952) không mấy là giản đơn mà rất nhiều khó khăn, phức tạp Có nhiều lúc Tô Hoài sa vào chủ nghĩa tự nhiên, xa rời lý tưởng, chủ trương của Đảng Thế nhưng đó chỉ là thử thách ban đầu để Tô Hoài vượt qua trên con đường chiếm lĩnh và chinh phục những đỉnh cao của hiện thực đời sống Nhà văn đã đi từ sách vở lý luận, từ vốn văn hóa kiến thức đi vào văn học Ông đã đi

Trang 19

từ cuộc sống mồ hôi nước mắt, từ cuộc đời lam lũ của quần chúng, từ dân tộc và dân gian mà đi vào con đường sáng tác của mình

Nói tóm lại, cuộc đời tù túng, nghèo khổ của một thanh niên tiểu tư sản thất nghiệp đã đưa Tô Hoài đến với Cách mạng Và cũng từ đó, ông hướng ngòi bút của mình vào chủ nghĩa hiện thực Dưới ánh sáng đường lối văn nghệ của Đảng, nhà văn Tô Hoài đã lao vào thực tiễn đấu tranh cách mạng, hòa mình với quần chúng lao động do đó đã tạo được những chuyển biến mạnh mẽ từ chủ nghĩa hiện thực phê phán sang hiện thực chủ nghĩa xã hội

1.3.3 Quan điểm sáng tác của nhà văn Tô Hoài

Mỗi nhà văn đến với nghiệp viết văn bằng một con đường riêng và sẽ lựa chọn cho mình một phong cách riêng Tô Hoài đã lựa chọn cho mình sự nghiệp văn chương với con đường đi từ tâm hồn đến tâm hồn, từ trái tim đến trái tim không mấy đơn giản, dễ dàng Bởi vì Tô Hoài vào nghề văn từ rất sớm lại vừa kéo dài tuổi nghề - một sự kéo dài đàng hoàng chứ không phải kéo dài trong tẻ nhạt Đời văn Tô Hoài gợi ra hình ảnh một dòng sông miên man chảy và mang trong mình cả cuộc sống bất tận Tô Hoài đã rất thành công trong sự nghiệp sáng tác của mình

Trong hoàn cảnh nghề viết văn ở nước ta còn mang tính chất nghiệp dư, tự phát, Tô Hoài có lẽ là một trong số ít ỏi những cây bút đã sống với nghề bằng tất cả sự chăm chút, sự tận tụy của một người làm nghề chuyên nghiệp Trong cuộc đời sáng tác của mình, ông luôn dành thời gian để viết, ông ít la cà giao du phù phiếm Ngót tám mươi tuổi, hơn một trăm đầu sách sau lưng, ông vẫn dồn thì giờ cho sáng tác Với ông nhà văn sống cũng có nghĩa là viết, viết vừa là nhu cầu vừa là động lực của cuộc sống, cũng là phương thức tồn tại của chính nhà văn

Tô Hoài đến với văn học từ những trang viết đầu tay non nớt, ngỡ ngàng Ông bắt đầu bằng những bài thơ lãng mạn chưa hoàn chỉnh về hình thức và nội dung Nhưng ngay sau đó, Tô Hoài nhận ra rằng, đó không phải là sở trường của mình và ông đã chuyển hướng sáng tác sang thể loại văn xuôi Và trong bối cảnh nhộn nhạo của buổi chợ trời văn chương, bản thân còn nhiều trăn trở ấy, Tô Hoài vẫn kiên định cho mình một lối viết riêng Tô Hoài đã tâm sự: “Chưa bao

Trang 20

giờ tôi bắt chước viết theo truyện của Khái Hưng, Nhất Linh, viết những truyện ngắn giang hồ ai cũng có thể tưởng tượng ra được”, nhưng viết theo những điều

đó, Tô Hoài thấy mình không phù hợp Quả thực, Tô Hoài lúc mới tập viết, ông

kể, lúc ấy đọc sách Nhất Linh, Khái Hưng cũng thích lắm, nhưng tự xét mình không thuộc cuộc sống như họ, nên không thể viết như họ được Cách nói ý nhị tưởng như một lời tự thú khiêm tốn vế sự bất lực của mình, nhưng thật ra ở đó ngầm chứa một tuyên ngôn nghệ thuật: “Ngòi bút này dựa trên thực tế xung quanh tôi, thực tế hoàn cảnh của chính tôi đã vào cả trong sáng tác của tôi Ý nghĩa tự nhiên của tôi bao giờ cũng là viết về sự xảy ra quanh làng, quanh mình”

Hơn nữa, khi viết về cuộc đời mình, nhiều nhà văn thường viết theo lối mòn, viết về cả cuộc đời mình Với Tô Hoài, ông chỉ lựa chọn và viết những gì thấy cần và thích: “Nhiều người thường viết hồi kí về cả cuộc đời mình, tôi thì tôi chỉ chọn và viết những gì mình thấy cần và thích”.[7; 575]

Trong các tự truyện, Tô Hoài đã thường nói tới cái cảm giác lớn nhất chi phối ông lúc vào nghề trước tiên đó là công việc để duy trì sự sống Từ góc độ một thanh niên đang lay lắt kiếm sống, ông thấy việc viết lách của mình lúc ấy chẳng khác việc đi giữ chân bán hàng cho hàng bata, nghĩa là cũng phải nghiêm túc, cần mẫn thì mới sống nổi Cái nhìn ấy còn theo đuổi ông mãi trong nhiều năm về sau Nhưng nếu văn chương chỉ có chuyện bán bản thảo và nhận tiền thì còn gì buồn hơn! Và qua Tô Hoài, chúng ta thấy: bên cạnh đồng tiền, nghề văn còn có một cái gì khác, sương khói mông lung mà vẫn là một nguồn sức mạnh

vô hình mang lại cho người ta niềm tin và nghị lực

Trong ông luôn canh cánh một quan niệm cũng như là một nhiệm vụ của một nhà văn trong nền văn học nước nhà, đó phải là viết, viết thật nhiều Ông coi sáng tác là một thú vui mang lại niềm vui cho chính ông và mang lại niềm vui cho bạn đọc ham đọc sáng tác của ông Với ông, nhà văn phải sáng tác thật nhiều để đến khi, văn học nước nhà phát hiện ra một thiên tài qua những trang viết đó: “Theo tôi, các nhà văn bây giờ có nhiệm vụ là hãy viết thật nhiều và viết tốt để chuẩn bị cho không biết đến thế kỉ nào đó văn học nước ta sẽ xuất hiện

Trang 21

những thiên tài, chứ bây giờ đừng có ai vỗ ngực xưng là “tài năng lớn” Tôi rất ghét cụm từ “tác phẩm lớn” vì hiện giờ chúng ta chưa thể có được”.[7; 546]

Trong phong cách sáng tạo văn chương của mình, Tô Hoài có một năng lực phát hiện và nắm bắt nhanh chóng thế giới khách quan Ông không lý tưởng hóa cuộc sống, mà cảm nhận cuộc sống một cách có lý tưởng Tuy ông nói, viết

về những chuyện quanh làng, quanh mình, nhưng ông cũng không tạo ra một ranh giới để bó buộc mình trong phạm vi của cuộc sống Tô Hoài thấy róc được những giới hạn của chủ quan người viết nên muốn vượt ra để tạo sự hòa hợp giữa nhà văn và cuộc đời Cuộc sống có tính hấp dẫn riêng của nó, với sức thuyết phục của những quy luật tiềm ẩn dưới bề sâu của những hiện tượng không ngừng nảy nở, phát triển và của cả những cái hàng ngày quen thuộc Ông không tập trung một cách quá mức vào những xung đột xã hội ở những điểm nóng, ở phút giây căng thẳng nhất mà quên đi trăm ngàn mạch đời đang lan tỏa trong hiện thực cuộc sống Ông quan tâm đến những vấn đề xã hội, nhưng không xem nhẹ thế giới thiên nhiên, tạo vật nhiều màu sắc hiện lên ở khắp mọi nơi Ông nhìn hiện tại với con mắt dõi theo những vết sâu xa của cuộc sống Chính thế nên ông có khả năng làm hiện hình một cách rõ nét và sinh động về bức tranh con người và thiên nhiên xung quanh mình

Cảm quan sinh động và phong tục của cuộc sống con người xuất hiện trong rất nhiều tác phẩm của ông Dưới ngòi bút của Tô Hoài, nhiều phong tục tập quán được miêu tả một cách chân thực, sắc sảo Bức tranh phong tục sinh hoạt mang màu sắc dân tộc đậm đà, với những chi tiết độc đáo, sinh động của một cây bút có óc quan sát thông minh, tinh tế

Viết về cuộc đời của mình, của chính những người xung quanh mình đã khẳng định một hướng nghệ thuật của Tô Hoài Cũng như nhiều nhà văn hiện thực khác, Tô Hoài đến với chủ nghĩa hiện thực bằng những nỗ lực riêng trong ý thức sáng tạo nghệ thuật Môi trường xã hội, nhà trường sách vở đôi khi cũng tạo cho nhà văn những ảo mộng xa lạ, nhưng kiên định trên lập trường quan điểm nghệ thuật của mình, Tô Hoài đã có một vị trí vững vàng trong làng văn xuôi hiện thực Việt Nam, đồng thời đã tiếp nhận được nhiều tư tưởng mới góp

Trang 22

phần nâng cao và mở ra trong trang viết một tầm nhìn tương xứng với vị thế và

tư tưởng một nhà văn lớn

Nói tóm lại, Tô Hoài là một nhà văn có quan điểm sáng tác rất rõ ràng Ông luôn luôn viết, ông viết không mệt mỏi Ông viết về hiện thực cuộc sống xung quanh, viết về những con người nhỏ bé, gần gũi, đời thường Quan điểm nghệ thuật về con người của Tô Hoài về đề tài miền núi có một chất lượng mới Những con người đó dù trải qua bao nhiêu đau khổ, có lúc tưởng như buông xuôi, nhưng khi được giác ngộ, họ đã vươn dậy mạnh mẽ dưới ánh sáng Cách mạng Họ xuất hiện với tư cách là công dân hơn là với tư cách một đối tượng thẩm mĩ

1.3.4 Sự nghiệp văn chương

“Mỗi nhà văn đến với nghề bằng một con đường riêng và sẽ tồn tại trong nghề theo những phương cách riêng Song ở các nhà văn tạm gọi là thành đạt, những nhà văn mà có một cái tên mà đọc lên, nhớ ngay được, người ta thường nhận ra một số nét chung: ấy là, những độc đáo trong tính cách, trong số phận khiến cho họ dường như nhất thiết phải làm nghề ấy mà không thể làm nghề khác Tô Hoài là một ví dụ gần như nhất thiết ấy”.[7; 189]

Nếu nhìn vào tuổi thơ của nhà văn Tô Hoài, khó có thể tìm thấy một sự chuẩn bị hay một tiền đề nào đưa ông đến với nghiệp văn Tô Hoài từng kể rằng, gia đình bên nội rất nghèo, ông lớn lên đi học ở quê ngoại Sau này được các dì, các mợ dắt ra làm quen với phố xá Hà Nội, cũng từ đó Tô Hoài được tiếp xúc với mấy quyển truyện Nôm của các nhà in sách ở phố Hàng Gai, quyển Kiều truyền tay bạn bè hay mấy cuốn báo mà anh thợ cửi Nguyễn Sen mượn nhà ông

lý trưởng làng quê đọc lúc nhàn rỗi,… tất cả những sự tạm gọi là chuẩn bị trên không đủ để đảm bảo chắc chắn rằng, con người này đến với nghề cầm bút

Tuy nhiên, sự chuẩn bị từ gia đình và xã hội đến với nghiệp văn là không đáng kể thì người ta mới hiểu rằng cái năng khiếu to lớn khiến cho Tô Hoài “chỉ trong nghề này mới tìm thấy sự thích thảng, thoải mái.” (Vương Trí Nhàn)

Tô Hoài đến với văn chương một cách tự nhiên và có thể nói là mau mắn Nhưng sự miệt mài đam mê, với công phu rèn luyện dẻo dai và bền bỉ, những

Trang 23

thành tựu độc đáo và những kinh nghiệm của ông trong nghệ thuật ngôn từ là những đóng góp quan trọng đối với nền văn học mới

Sự nghiệp sáng tác nghệ thuật của nhà văn Tô Hoài có thể chia làm hai giai đoạn lớn:

1.3.4.1 Những sáng tác của Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Tô Hoài đến với văn chương bằng tuổi trẻ khao khát hành động và tìm cho mình một lẽ sống tốt đẹp Cũng vì thế mà ngay ở những trang viết đầu tay những trăn trở tìm tòi ấy đã thể hiện trong ý thức sáng tạo nghệ thuật Trong khi xã hội đang ở trong thời kì đen tối của những năm tháng mà cuộc đời như bị thu hẹp và ngăn chặn lại trong tù túng và bế tắc thì cảm hứng giải thoát qua một hành trình phóng khoáng, một chuyến phiêu lưu cũng mang ý nghĩa tích cực Tô Hoài đã

chọn cho mình đề tài về thế giới loài vật với tác phẩm đầu tay Dế mèn phiêu lưu

kí Tác phẩm viết về chú dế mèn nhỏ bé mang nhiều tâm trạng có ý nghĩa xã hội

rộng rãi Ước mong thay đổi hoàn cảnh, mơ ước về một thế giới đại đồng xa xôi,

ở đấy con người được sống trong hòa bình và bình đẳng… Tác giả đã thể hiện thành công chủ đề về xã hội thông qua câu chuyện về thế giới cỏ cây, loài vật Những sự việc cụ thể, những mẩu chuyện hồn nhiên đúng với tính chất của tuổi thơ trong tác phẩm lại luôn mở rộng ra những liên tưởng phong phú của người

lớn về mặt xã hội Dế mèn phiêu lưu kí là một thành công xuất sắc của Tô Hoài,

kahnwgr định tiếng nói đặc sắc cũng như vị trí của Tô Hoài trong văn học đương thời cũng như trong lịch sử văn học lâu dài sau này Mỗi đối tượng độc giả từ người lớn đến trẻ nhỏ, đều có thể tìm thấy ở tác phẩm này những thích thú riêng Cũng giống như trẻ nhỏ, lớp người đọc lớn tuổi vẫn yêu tác phẩm này bởi những giá trị của nó, nhưng mặt khác không thể không suy nghĩ về những vấn đề thuộc quan niệm nhân sinh Trong hoàn cảnh ngột ngạt của xã hội thực dân phong kiến

lúc đó tác phẩm càng trở nên có ý nghĩa với cuộc sống hơn

Bên cạnh đề tài về thế giới loài vật, đề tài ven thành cũng là một trong những đề tài nổi bật trong sáng tác của Tô Hoài Ông không đề cập đến những mâu thuẫn giai cấp sục sôi, quyết liệt, không miêu tả những nhân vật độc đáo,

Trang 24

phi thường, Tô Hoài viết về những chuyện đời thường với những con người thật bình thường, tâm hồn giản dị, không có ước muốn cao xa, khát vọng mãnh liệt

Các nhân vật trong Quê người yêu cuộc sống giản dị và muốn sống mãi trong

cảnh đó Quả thực họ cũng đã được nếm trải trong một số ngày ngắn ngủi vị ngọt của hạnh phúc đơn sơ, được làm việc, được yêu nhau Tình yêu của họ thoảng mùi hương thơm của hoa ngọc lan và lấp lánh ánh trăng khuya

Làng quê trong tác phẩm của ông mang một phong vị riêng độc đáo Nếu như Ngô Tất Tố tập trung vào miêu tả nhiều mặt bản chất của nông thôn Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến thì Tô Hoài lại khắc họa làng quê trên trang sách của mình với bao nét vẽ chân thực, nhẹ nhàng mà thấm thía xót xa Ngòi bút Tô Hoài không quá thiên về một sắc thái miêu tả nào, ông chú ý miêu tả cả những đau đớn, xót xa lẫn những niềm vui nhỏ mà người dân có được trong cuộc sống hàng ngày Tô Hoài đã miêu tả sự tan vỡ của những mối tình đã một thời lãng mạn và thơ mộng trong lứa tuổi yêu đương hạnh phúc của mỗi gia đình ánh lên trong một năm, một tháng nào đó của cả cuộc đời tối tăm vất vả Ông chú ý đến thời điểm nào đó con người nuôi chút hi vọng, nhưng ánh sáng hi vọng đó tàn lụi dần trước cuộc đời không hé mở một lối ra Có lần Tô Hoài tự nhận xét: “Tôi viết anh thợ cửi, chị thợ tơ yêu nhau, lấy nhau, ước mong có một khung cửi, nhưng lại càng ngày càng nghèo không bao giờ có được, rồi phải

mang nhau đi đất khách quê người (Quê người) Một cái xóm nghèo ở cuối làng chết dịch, rồi cháy, rồi mất tích cái xóm (Xóm ao sen) Hàng ế, khung cửi xếp lại, đàn bà ra tỉnh ở vú hoặc ra vào nhà hát, nhà chứa (Đêm mưa), một anh hương sự nghèo không lấy được một chị trong làng (Giăng thề),…”

Thế giới nhân vật của Tô Hoài vốn là những kiểu người bình dị, gần gũi trong cuộc sống hàng ngày của những vùng quê Họ quay tơ, dệt cửi, chạy chợ

để kiếm sống Gặp buổi thuận thời thì phiên chợ đông vui những người mua, kẻ bán hội làng nhộn nhịp trong những ngày xuân, trai gái hẹn hò lứa đôi Cuộc sống cũ dần dần đẩy người lao động đến chỗ đường cùng, kiệt sức để rồi lang

thang biến chất hoặc tan tác chia lìa Tiểu thuyết Quê người của Tô Hoài đã thâu

tóm được khá điển hình những khung cảnh của làng quê đó Trong sáng tác của

Trang 25

mình thời kì trước cách mạng, Tô Hoài nói nhiều đến cảnh tan tác, chia lìa, phiêu bạt của những tổ ấm gia đình và rồi họ cũng như những hình ảnh đáng

thương của Đôi ri đá Chúng muốn xây tổ ấm yên lành mà sao cứ mãi bơ vơ

trước sự đe dọa của cuộc đời Tô Hoài đã chỉ ra trong tác phẩm cái nguyên nhân kinh tế như một tấm lưới giăng trải ra rất rộng không để lọt một cuộc đời nào và thít chặt lại để cho mọi người giãy giụa theo cách riêng của mình Tấm lưới ấy đang chùm xuống một vùng quê dệt lụa

Từ cái nguyên nhân kinh tế ấy đẻ ra tất cả mọi căn bệnh khác Đời sống trở nên khó khăn, không còn nữa cái làng quê thanh bình và trong trẻo Cái thiếu thốn đói rách cứ dằn vặt và đè nặng lên cuộc đời bao con người Nhân cách xã hội bị đe dọa Sinh hoạt ngày càng khó khăn hơn khi thóc cao gạo kém, công

nghệ đình đốn, cái đói đi gõ cửa từng nhà Mụ Hối trong truyện ngắn Ông Cúm

bà Co ốm vẫn phải đi làm vì thiếu một cánh tay làm là bà lập tức thấy vơi ngay gạo trong chĩnh Nhân vật Hương Cay trong Khách nợ thì nghèo quá đến nỗi

ngày giáp Tết phải trốn nợ vẫn bị nặc nô lấy đi bát hương và bài vị tổ tiên Có những thân phận kết thúc thật thê thảm, cũng là trẻ nhỏ nhưng sinh ra trong cảnh nhà nghèo như cái Gái phải ăn đói mặc rách, khổ sở vì hàng ngày bố mẹ chửi bới nhau và cuối cùng con bé phải chịu một cái chết rất đau lòng Sau cơn mưa,

nó cùng dân làng phải đi bắt nhái kiếm ăn cho gia đình, chẳng may bị rắn độc cắn chết Ẵm xác con lên, người bố nghèo mới chợt nghĩ rằng “bấy lâu nay nó vào cửa vợ chồng anh cực khổ trăm đường Người nó bao nhiêu xương sườn nhô

hết cả ra Thương ơi! Bây giờ nó bỏ nó đi” (Nhà nghèo)

Tác phẩm của Tô Hoài trước cách mạng luôn khai thác ở mạch chìm của cuộc đời, nơi bóng tối đang còn đè nặng Tô Hoài đã gửi gắm suy nghĩ của mình vào một nhân vật “Mỗi khi cầm bút lên mà kể chuyện một dòng nước, một nhánh hoa hoặc một làn mây trắng thì gã thấy như mình đương làm một việc trào phúng quá Gã ngượng với chính cái mặt gã soi thấy ở trong gương Mạch sống của cuộc đời tạp nham còn gì đáng lồng vào một dòng nước, một nhánh

hoa, một làn mây trắng” (Tô Hoài- Hết một buổi chiều) Suy nghĩ của nhân vật

ấy cũng là trăn trở của tác giả trên con đường cầm bút Ông không muốn viết về

Trang 26

cá nhân mình và những cái nghèo khó của một cá nhân nào đó trong cuộc đời, mà ông muốn quan tâm tới từng mảnh nhỏ, mảnh vụn của những cuộc đời đang nằm trong mạch máu của cuộc sống Ở giai đoạn này, Tô Hoài đã thể hiện ý thức về chủ nghĩa hiện thực trên những trang viết của mình Trong con người Tô Hoài cũng như trong sáng tác của ông luôn có sự đấu tranh giữa cái nhìn cuộc sống chân thực với cái nhìn tô điểm thi vị hóa nhưng với bản lĩnh nghề nghiệp và cảm nhận của một con người trước cuộc sống

Như vậy, trước năm 1945, trong sáng tác của Tô Hoài hiện lên rõ hai đối tượng: Một là cuộc sống của người dân ven thành, một cuộc sống không còn mấy sự yên lành, thơ mộng và một bên là sự tiếp tục của tuổi thơ và theo đuổi một thế giới riêng của con trẻ, thế giới ước mơ, tưởng tượng và khao khát về một cuộc sống đại đồng Trước năm 1945 hai mảng đề tài này hình thành như tách rời nhau, nhưng thật ra và cuối cùng vẫn cứ hội vào nhau và thống nhất như một thế giới nghệ thuật chung mang chung cảm quan nghệ thuật đặc sắc của Tô Hoài Đó là điểm riêng trong bức tranh hiện thực của Tô Hoài và cũng là dấu ấn riêng của chủ nghĩa hiện thực kiểu Tô Hoài trong văn xuôi Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám

Trong những sáng tác của Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám, ông không chỉ thành công ở mặt nội dung mà còn thành công ở cả mặt nghệ thuật

Để có được nội dung cụ thể, chi tiết và sát thực về những vấn đề nóng bỏng trong đời sống người dân trước cách mạng, ngòi bút Tô Hoài đã không ngần ngại nhìn sâu vào sự thật xót xa đó để thể hiện nó một cách thành công Trong văn chương, không phải nhà văn nào cũng có thể làm được điều đó một cách xuất sắc như Tô Hoài Chúng ta vô cùng cảm phục ông bởi con mắt nghệ thuật tài năng đó

Nói đến thành công, cũng nên kể đến một số hạn chế trong sáng tác của

Tô Hoài ở chặng đường này Ông đã thể hiện xuất sắc những giá trị hiện thực Ở một góc độ nhất định, ông đã chỉ ra bản chất của sự việc đó Viết về cuộc sống

tù túng, bế tắc đến thảm hại của người dân trước cách mạng, ông đã miêu tả hiện

Trang 27

thực một cách xót xa tới cảm động lòng người Tuy nhiên ông chưa chỉ ra được những nguyên nhân tạo nên cuộc sống tù túng bế tắc của người dân đó là gì

Song, xét một cách toàn diện cả về giá trị nội dung và nghệ thuật trong những sáng tác trước cách mạng của Tô Hoài, ông xứng đáng là một nhà văn hiện thực xuất sắc trong làng văn xuôi hiện đại Việt Nam

1.3.4.2 Sáng tác của Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám

Đối với các nhà văn hiện thực Việt Nam nói chung và đối với nhà văn Tô Hoài nói riêng, Cách mạng tháng Tám đã đánh dấu một bước phát triển mới trong tư tưởng và trong sáng tác Hiện thực Cách mạng với cuộc sống và con người đã trở thành đối tượng trực tiếp của những trang viết sâu xa hơn, gắn bó máu thịt với tư tưởng và tình cảm của tác giả Cũng bởi thế ở chặng đường này,

Tô Hoài có sự thay đổi trong quá trình sáng tác về thời gian, không gian, đề tài và nhân vật…

Có thể nói Tô Hoài là nhà văn của Hà Nội Bởi Hà Nội đã nhiều lần trở đi trở lại trong sáng tác của Tô Hoài Ông khai thác đề tài Hà Nội ở những khía cạnh khác nhau, tạo nên bức tranh toàn cảnh và hoàn mĩ về Hà Nội Có được điều đó là do Hà Nội là nơi chôn rau cắt rốn của Tô Hoài Ông gắn bó hầu như suốt cuộc đời với thủ đô trừ chín năm kháng chiến chống Pháp và những đợt công tác ngắn hạn sau này Nhưng cũng không thể phủ định Tô Hoài là nhà văn của miền núi Tuy những năm đầu kháng chiến ông mới làm quen với miền núi, nhưng ông đã gắn bó máu thịt với nơi này Trong sáng tác về đề tài miền núi, ông đã thể hiện tấm lòng yêu thương tha thiết đối với quê hương thứ hai của mình

Viết về đề tài Hà Nội trước Cách mạng tháng Tám, không gian và thời gian nghệ thuật trong sáng tác của ông chủ yếu thu hẹp trong vùng kẻ Bưởi quê ông Đến thời kì này, ông phản ánh quy mô hiện thực không gian và thời gian một cách rộng lớn và bao quát hơn Ông viết về Hà Nội hồi đầu thế kỉ với những

công cuộc đấu tranh quật khởi chống Pháp ngấm ngầm hay công khai (Quê nhà, Câu chuyện bờ đầm sau cửa miếu Đồng Cổ) Một Hà Nội với đủ mọi thứ

chuyện của đời thường trong mấy chục năm trước Cách mạng tháng Tám: từ

Trang 28

cảnh mua bán người thê thảm ở phố Mới đến chuyện kinh doanh thức ăn thừa rất dơ dáy của lính Tây ở cửa Đông; từ việc Tây đoan khám rượu lậu đến “tiếng

rao đêm” bán quà bánh trên các đường phố,… (Chuyện cũ Hà Nội)

Ngoài ra, mảng đề tài thu hút tâm lực của Tô Hoài nhiều hơn và tác giả cũng đạt được nhiều thành công lớn hơn trong giai đoạn này là cuộc sống và con người miền núi Tô Hoài là người đầu tiên đã đặt những viên gạch xây nền cho văn học viết về các dân tộc ít người Ông viết về sự chuyển mình của vùng đất

này trong cách mạng dân tộc dân chủ (Núi cứu quốc, Truyện Tây Bắc,…) và trong những năm xây dựng xã hội chủ nghĩa (Lên Sùng Đô, Nhật kí vùng cao, Miền Tây,…)

Làm báo Cứu quốc Việt Bắc, Tô Hoài có điều kiện tham gia, đi sâu vào đời sống các dân tộc miền núi như một cán bộ quần chúng thực thụ Núi cứu quốc gồm 4 truyện: Đồng chí Hùng Vương, Nà Looc, Tào Lường, Công tác xã

được Tô Hoài viết trên những kết quả thâm nhập vào các làng Tày, làng Dao ở phía núi Phia Booc (Bắc Cạn) và các bản Cốc Phường, Vàng Kheo, Pích Cáy, Khuổi Buồm,…

Năm 1949, Tô Hoài viết Ngược sông Thao; năm 1951 viết Chính phủ tạm vay và Xuống làng

Năm 1952, Tô Hoài chuyển về công tác ở Hội văn nghệ, sau đó theo bộ đội vào giải phóng Tây Bắc trong chiến dịch Tây Bắc 1952, Tô Hoài theo bộ đội chủ lực tiến quân vào miền Tây, tham dự chiến dịch giải phóng: “Giải phóng tới đâu, tôi đi sâu tìm hiểu các khu du kích tới đó, bắt đầu là lên cùng du kích các dân tộc Mường, Dao, Thái trắng ở bản Thái và ngọn lao thuộc châu Phù Yên, rồi qua khu du kích 99, sang Trạm Tấu, lên Tú Lệ, lên châu Tam Uyên, châu Quỳnh Nhai, qua châu, Tuần Giáo và châu Điện Biên, rồi lại từ các khu du kích dân tộc H’mông xuống qua những vùng mới giải phóng, các làng dân tộc Thái trên cả bốn cánh đồng phì nhiêu của Tây Bắc”.[7; 152]

Những chuyến đi nối tiếp chuyến đi Vốn sống tích lũy ngày càng dồi dào Mối quan hệ giữa người nghệ sĩ và các nguyên mẫu thực tại ngày càng mật thiết Thêm vào đó, đường lối dân tộc - một trong những chủ trương chiến lược của

Ngày đăng: 01/11/2014, 12:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hà Minh Đức (1987), Lời giới thiệu tuyển tập Tô Hoài, tập I, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời giới thiệu tuyển tập Tô Hoài
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1987
2. Hà Minh Đức (2012), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
3. Hà Minh Đức (2002), Tuyển tập truyện ngắn Tô Hoài, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn Tô Hoài
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
4. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2006), Thuật ngữ văn học, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2006
5. Tô Hoài (1999), Miền Tây, Nxb Văn hóa dân tộc 6. Thơ Tố Hữu (1999), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miền Tây
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1999
7. Phong Lê, Vân Anh (2001), Tô Hoài tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài tác gia và tác phẩm
Tác giả: Phong Lê, Vân Anh
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2001
8. Nguyễn Văn Long (1982), Vợ chồng A Phủ, Giảng văn, tập II, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vợ chồng A Phủ
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1982
9. Mai Thị Nhung (2004), Phong cách nghệ thuật Tô Hoài, Luận văn Tiến sĩ ngữ văn, Trường Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách nghệ thuật Tô Hoài
Tác giả: Mai Thị Nhung
Năm: 2004
10. Hoàng Phê (1999), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
11. Trần Mạnh Tiến (2001), Lý luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX
Tác giả: Trần Mạnh Tiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w