1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ngoại ô hà nội trước cách mạng tháng tám qua chuyện cũ hà nội của tô hoài

77 1K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngoại ô Hà Nội trước cách mạng tháng Tám qua chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài
Tác giả Tô Hoài
Người hướng dẫn TS. Lê Thời Tân
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 419 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay với Tô Hoài, đề tài Hà Nội cũng đợc miêu tả trong nhiều tác phẩm nh tiểu thuyết: Quê nhà, Quê ngời, Mời năm; tập truyện Ngời ven thành… đã có những trang viết đặc sắc Tuy nhiên, đọc

Trang 1

Ng« chiÕn th¾ng

Ngo¹i « hµ néi tríc c¸ch m¹ng th¸ng t¸m

qua chuyÖn cò hµ néi Cña t« hoµi

Chuyªn ngµnh: v¨n häc ViÖt Nam

Trang 2

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tô Hoài là một nhà văn tài năng, một tấm gơng lao động nghệthuật bền bỉ ở cả hai giai đoạn trớc và sau Cách mạng tháng Tám Cho đếnnay, khi đã gần tuổi 90, ông vẫn không ngừng trăn trở bên từng trang viết.Tác phẩm của Tô Hoài đề cập đến nhiều đề tài: đề tài về miền núi, thiếu nhi,

về Hà Nội… Trong đó, đề tài về ngoại ô Hà Nội chiếm một số lợng đáng kểvới những trang viết giàu bản sắc riêng, thể hiện một cái nhìn độc đáo của tácgiả với nơi ông sinh ra và đã có thời gian gắn bó lâu dài Các tác phẩm viết về

ngoại ô Hà Nội chủ yếu đợc tập hợp trong hai tập Chuyện cũ Hà Nội (Nxb

Hội Nhà văn, 2007) Đề tài về ngoại ô Hà Nội chiếm vị trí quan trọng trong

sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài, rất đáng đợc chúng ta quan tâm, tìm hiểumột cách kỹ lỡng, hệ thống

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài đã đợc giới nghiêncứu, phê bình quan tâm rất sớm trên tất cả các phơng diện Tuy nhiên khinghiên cứu về Tô Hoài các tác giả chủ yếu quan tâm tìm hiểu về đề tài thiếunhi và đề tài miền núi Đề tài về ngoại ô Hà Nội trong các sáng tác của TôHoài cũng đợc đề cập trong một số công trình, bài viết nhng các ý kiến mớichỉ mang tính điểm xuyết, cha đợc nghiên cứu một cách hệ thống Bởi vậy,

đây là một vấn đề còn bỏ ngỏ, cần đợc quan tâm nghiên cứu Lựa chọn đề tài

Ngoại ô Hà Nội trớc Cách mạng tháng Tám qua Chuyện cũ Hà Nội của Tô

Hoài, chúng tôi muốn đem đến một cái nhìn toàn diện hơn về những đónggóp của nhà văn cho nền văn học hiện đại nớc nhà

1.3 Đề tài về Hà Nội không phải là một đề tài mới mẻ Thạch LamNguyễn Tuân, Vũ Bằng, Nguyễn Đình Lạp… đã có những trang viết đặc sắc đã có những trang viết đặc sắc

về Hà Nội Ngay với Tô Hoài, đề tài Hà Nội cũng đợc miêu tả trong nhiều tác

phẩm nh tiểu thuyết: Quê nhà, Quê ngời, Mời năm; tập truyện Ngời ven

thành… đã có những trang viết đặc sắc Tuy nhiên, đọc Chuyện cũ Hà Nội ta vẫn thấy có dấu ấn riêng, rất

độc đáo Bởi vậy, lựa chọn đề tài Ngoại ô Hà Nội trớc Cách mạng tháng Tám

qua Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài, chúng tôi muốn làm rõ thêm phong cách

sáng tác, bản lĩnh nhà văn của Tô Hoài khi ông viết về một đề tài đã đ ợcnhiều tác giả cùng thời đề cập Bên cạnh đó chúng tôi cũng muốn tìm hiểu

Trang 3

thêm một đời sống Hà Nội trong quá khứ với một chiều sâu văn hóa nhất

định

2 Lịch sử vấn đề

Tô Hoài là một tác giả tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại.Ngay từ những năm đầu của sự nghiệp sáng tác, tác phẩm của ông đã đợc dluận quan tâm Càng về sau, cùng với sự dày dặn trong số lợng sáng tác và sự

đặc sắc trong bút pháp thể hiện, sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài càng có sứchấp dẫn, thú vị đối với ngời đọc và giới nghiên cứu, Vũ Quần Phơng nhậnthấy: “Khám phá về ông cả về văn lẫn về đời là một say mê với chúng ta,những ngời có hạnh phúc đợc cùng thời với ông, và chắc cả thế hệ sau Khámphá về ông là cả một vấn đề khoa học lớn lao nhng trớc hết với chúng tôi là

đòi hỏi của tình cảm, của lòng biết ơn, sự noi gơng” [58] Lịch sử nghiên cứu

về Tô Hoài có thể chia làm hai giai đoạn: trớc và sau Cách mạng tháng Tám

2.1 Trớc Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài đã có một lợng đầu sách

đáng kể: tiểu thuyết Quê ngời, Giăng thề, tập truyện ngắn O Chuột, hồi ký Cỏ

dại, tập truyện ngắn Nhà nghèo… đã có những trang viết đặc sắc Nhng những bài viết, công trình nghiêncứu về Tô Hoài còn rất ít, trong đó đáng chú nhất là bài viết của Vũ Ngọc

Phan: Tô Hoài - Nguyễn Sen Trong bài viết này, Vũ Ngọc Phan đã chỉ ra khá

đầy đủ những đặc điểm chính trong nội dung sáng tác của Tô Hoài trớc Cáchmạng tháng Tám: “tiểu thuyết của Tô Hoài thuộc loại tả chân nh tiểu thuyếtcủa Nguyễn Công Hoan, nhng Tô Hoài có khuynh hớng thiên về xã hội” và

“ông tỏ ra là một nhà tiểu thuyết có con mắt quan sát sâu sắc” là “một nhàvăn có biệt tài về cảnh nghèo nàn của dân quê” [55] Tuy nhiên, ý kiến của

Vũ Ngọc Phan và các nhà nghiên cứu thời kì này còn mang tính khái quát,chủ yếu là chỉ ra một số đặc điểm về nội dung sáng tác của Tô Hoài trớc Cáchmạng tháng Tám

2.2 Từ sau Cách mạng tháng Tám cho đến nay, tác phẩm của Tô Hoài

đã thu hút đợc sự quan tâm của đông đảo bạn đọc và giới nghiên cứu, phêbình Cho đến nay đã có hàng trăm công trình, bài viết nghiên cứu về sựnghiệp sáng tác của ông Tác phẩm của Tô Hoài đợc nghiên cứu trên nhiềuphơng diện: thể loại, kết cấu, ngôn ngữ, đề tài, nội dung t tởng… Các bài viết,

công trình nghiên cứu tiêu biểu nh: bài Tô Hoài - nhà văn Việt Nam hiện đại của Phan Cự Đệ, Lời giới thiệu tuyển tập Tô Hoài của Hà Minh Đức, Tô

Hoài, sáu mời năm viết… của Phong Lê, Tô Hoài, nhà văn viết về Hà Nội

Trang 4

đặc sắc và phong phú của Hoài Anh, Ngôn ngữ một vùng quê trong sáng tác

đầu tay của Tô Hoài của Võ Xuân Quế, Nhà văn trên dòng sông Tô Lịch của

Hoàng Trung Thông… đã có những trang viết đặc sắc

Có thể nói các tác giả Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh,Nguyễn Văn Long, Vơng Trí Nhàn, Phong Lê, Nguyễn Đăng Điệp… đã có những trang viết đặc sắc lànhững ngời dành nhiều tâm huyết nghiên cứu về Tô Hoài nhất Các bài viết,công trình nghiên cứu này đã tìm hiểu khá đầy đủ các phơng diện nội dung,nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài Chẳng hạn nh, các nhà nghiên cứu đều

đánh giá cao khả năng quan sát, cái nhìn hiện thực tinh tế, sắc sảo của TôHoài, xem đó nh là một yếu tố nổi trội thuộc năng khiếu bẩm sinh của nhàvăn Phan Cự Đệ nhận thấy: “Tô Hoài có một khả năng quan sát đặc biệt, rấtthông minh, hóm hỉnh và tinh tế” [9, 82], Hà Minh Đức khẳng định: “Tô Hoài

có một năng lực phát hiện và nắm bắt nhanh chóng thế giới khách quan” [13,136], Nguyễn Đăng Điệp khái quát: “Cái nhìn không nghiêm trọng hóa là néttrội trong cảm quan nghệ thuật của Tô Hoài” [10] Thế giới nhân vật trongsáng tác của Tô Hoài cũng đợc nhiều ngời quan tâm và đa ra ý kiến khá thốngnhất Phan Cự Đệ khẳng định: “Anh quen viết về những nhân vật, những cảnh

đời hồn nhiên nh hơi thở của sự sống, khỏe mạnh, thuần phác, lạc quan nhnhững con ngời trong truyện cổ tích Trữ tình, trong sáng đẹp và ý nhị nh cadao” [9, 99] Phan Cự Đệ cũng nhận thấy những hạn chế trong thế giới nhânvật của Tô Hoài: “cha thật thành công khi thể hiện những bớc ngoặt của tínhcách”, “ít khai thác nhân vật của mình ở góc độ trí tuệ, ở sự bừng tỉnh trí tuệ

và hầu nh cũng cha có nhân vật trí tuệ nào đợc miêu tả thành công trong tácphẩm của anh” [9, 99] Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định: “Tô Hoài quan niệmcon ngời là con ngời, chỉ là con ngời, thế thôi” [48] Vì thế, nhân vật của ông

đợc khai thác “toàn chuyện đời t, đời thờng” Ngôn ngữ trong tác phẩm củaTô Hoài có lẽ là phơng diện đợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhất VânThanh cho rằng: “ngôn ngữ của Tô Hoài thờng ngắn gọn và rất gần gũi vớingôn ngữ của nhân dân lao động” [67, 80] Phan Cự Đệ khẳng định: “Tô Hoài

đã chú ý học tập ngôn ngữ nghề nghiệp và ngôn ngữ địa phơng”, “Trong tácphẩm của Tô Hoài nhìn chung ngôn ngữ của quần chúng đã đợc nâng cao,nghệ thuật hóa” [9, 102] Hà Minh Đức nhận thấy: “khi miêu tả thiên nhiêncũng là lúc văn của Tô Hoài đậm màu sắc trữ tình và giàu chất thơ” [13, 139].Nguyễn Đăng Điệp nhận xét: “Viết về cái của mình, quanh mình là định hớngnghệ thuật và cũng là kênh thẩm mĩ của Tô Hoài Đúng hơn, đây là yếu tố cốt

Trang 5

lõi làm nên quan niệm nghệ thuật của ông Nó khiến cho văn Tô Hoài có đợcphong cách, giọng điệu riêng Đó là một giọng kể nhẩn nha, hóm hỉnh và tinhquái” [10] Nh vậy, các nhận xét trên đã đề cập đến khá đầy đủ các phơngdiện trong sáng tác của Tô Hoài, nhng chủ yếu là những nhận định mang tínhkhái quát, giới thiệu Những biểu hiện cụ thể của các phơng diện đó cha đợcphân tích một cách kỹ lỡng trong các tác phẩm, đặc biệt là trong các sáng tác

về đề tài ngoại ô Hà Nội

Mảng đề tài ngoại ô Hà Nội cũng đã đợc một số nhà nghiên cứu quan

tâm Đáng chú ý là ý kiến của các tác giả: Phan Cự Đệ trong cuốn Tiểu thuyết

Việt Nam hiện đại đã đa ra nhận xét khá cụ thể: “Tô Hoài đa vào tiểu thuyết

lối miêu tả phong tục của những vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ Vớikhiếu quan sát tinh tế, Tô Hoài đã làm sống lại phong tục và con ngời của các

Phong Lê phát hiện ra những đặc điểm khá quan trọng: “ở đề tài Hà Nội quê ông, tức là Hà Nội ven đô, Hà Nội mà ông đã trải rộng vừa đào sâu vàothế giới bên ngoài và bên trong của nó Hà Nội ấy cũng vẫn cứ theo ông, dẫu

-ông đi bất cứ đâu, để thành hành trang của -ông, để mỗi lúc soi nhìn nó, -ônglại thấy thêm bao điều mới lạ, cả trong ba chiều: quá khứ, hiện tại và tơng lai.Một Hà Nội - quê hơng trong ba chiều thời gian, quả đã làm nên vóc dángmột Tô Hoài” [41] Hoài Anh đã nhận xét: “Đề tài Hà Nội luôn luôn trở đi trở

lại trong tác phẩm của Tô Hoài: Vỡ tỉnh, Ngời ven thành, Chuyện cũ Hà Nội,

Quê nhà,… đã có những trang viết đặc sắc Ông viết kỹ, luôn luôn sửa, tỉa bớt chữ cho cô đọng, đảo cú phápcho gần với cách nói thông thờng, nhiều nhận xét hóm hỉnh, sắc sảo, giàuchất tạo hình và chất thơ, nhất là những đoạn miêu tả thiên nhiên, cảnh sắc

Có thể nói Tô Hoài là nhà văn đặc sắc và phong phú viết về Hà Nội, ở đóbóng dáng, linh hồn Hà Nội hiện ra rất rõ, rất gợi cảm” [1] Trả lời phỏng vấn

trên báo Kiến thức ngày nay, Tô Hoài bộc bạch: “Tôi thật mừng đợc bạn đọc

tinh tế nhận ra nh thế Bởi vì, tuy viết lâu năm, viết nhiều, cho đến bây giờ đềtài chủ yếu là vẫn viết về ngoại thành Hà Nội ở trong làng, xung quanh cứ tựnhiên mà vào mình, và mình đã lớn lên, đã sống và hoạt động trong đó Cònnhững kỷ niệm nào sâu sắc hơn những sự việc mà chính mình từng trải” [11].Trong một lần phỏng vấn khác, khi đợc hỏi: “Hình nh mọi nhà văn đều phải

có quê hơng - đề tài sáng tác của mình?” Tô Hoài trả lời: “Cho đến nay tôi đãviết và cho in hàng trăm đầu sách và nhân vật dù có là con vật đợc nhân cáchhóa nh thật thì tôi cũng chỉ tập trung vào hai đề tài: 1 - Vấn đề và con ngời

Trang 6

vùng ngoại ô Hà Nội, bởi vì ngoại thành là sinh quán của tôi và cho tới naytôi vẫn đi về đấy, do vậy hầu nh đó là đề tài bẩm sinh 2 - Trong kháng chiếnchống Pháp, tôi đã ở lại Việt Bắc ngót mời năm, về sau còn đi lại nhiều, nhờvậy tôi am tờng đôi chút về một số dân tộc anh em nh: Tày, Nùng, Dao,H’Mông… đã có những trang viết đặc sắc Tôi coi Việt Bắc, Tây Bắc cũng nh một quê hơng đề tài của tôi”[71] Nh vậy, các nhà nghiên cứu và ngay cả Tô Hoài cũng đều khẳng định đềtài Hà Nội có ý nghĩa rất quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài.

Đây là một trong những đề tài chính trong sáng tác của ông Tuy nhiên cácbài viết này cha đi sâu tìm hiểu đề tài ngoại ô Hà Nội của Tô Hoài một cách

cụ thể, hệ thống Đề tài ngoại ô Hà Nội mới đợc nhắc đến nh một dẫn chứngcho các đặc điểm sáng tác của Tô Hoài Bởi vậy, các bài viết, công trình chacho thấy đợc vai trò và vị trí của đề tài về ngoại ô Hà Nội trong sự nghiệpsáng tác của ông Chúng tôi lựa chọn đề tài Ngoại ô Hà Nội trớc Cách mạng

tháng Tám qua Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài với mong muốn bổ sung thêm

những hiểu biết quan trọng về sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài

3 Phạm vi t liệu khảo sát

Chúng tôi chủ yếu khảo sát các tác phẩm viết về ngoại ô Hà Nội trớc

Cách mạng của Tô Hoài trong hai tập Chuyện cũ Hà Nội Ngoài ra, để làm rõ

đặc sắc và thành công của Tô Hoài khi viết về đề tài ngoại ô Hà Nội chúng tôi

còn tìm hiểu thêm một số tác phẩm nh là: hồi ký Cỏ dại, Tự truyện, tiểu thuyết: Quê ngời, Giăng thề, Mời năm, Quê nhà, tập truyện ngắn Nhà nghèo

và tác phẩm của một số tác giả cùng thời viết về ngoại ô Hà Nội nh một sốtruyện ngắn, ký của Thạch Lam, Nguyễn Tuân…

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn thông qua các tác phẩm củaTô Hoài viết về ngoại ô Hà Nội để thấy đợc nét đặc sắc trong thế giới nghệthuật của các tác phẩm đó, đồng thời bổ sung một số nhận thức về sự nghiệpsáng tác của nhà văn Trên cơ sở đó, đề tài sẽ tập trung thực hiện nhữngnhiệm vụ cơ bản sau:

4.1 Tìm hiểu chung về các sáng tác của Tô Hoài trớc Cách mạng thángTám viết về đề tài Hà Nội

4.2 Tìm hiểu nội dung phản ánh trong đề tài ngoại ô Hà Nội trớc Cáchmạng tháng Tám của Tô Hoài cũng nh tình cảm của ông đối với quê hơng qua

hai tập Chuyện cũ Hà Nội.

Trang 7

4.3 Tìm hiểu một số đặc điểm nghệ thuật của Tô Hoài qua hai tập

Chuyện cũ Hà Nội.

5 Phơng pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp, vận dụng nhiều phơng pháp nghiên cứu: phơng phápthông kê, phân loại, phơng pháp phân tích tổng hợp, phơng pháp so sánh đốichiếu, phơng pháp hệ thống - cấu trúc

6 Cấu trúc luận văn

Tơng ứng với những nhiệm vụ đã đặt ra, ngoài phần Mở đầu và Kếtluận, luận văn đợc triển khai trong ba chơng

Chơng 1 Ngoại ô - đề tài quen thuộc của Tô Hoài trớc Cách mạng

Chơng 2 Ngoại ô trong Chuyện cũ Hà Nội

Chơng 3 Một số đặc điểm nghệ thuật của Chuyện cũ Hà Nội

Chơng 1Ngoại ô - đề tài quen thuộc của tô hoài tr-

ớc cách mạng

1.1 Nghĩa Đô, nơi thể hiện tập trung nhất cảm hứng của Tô Hoài

về Hà Nội

1.1.1 Nghĩa Đô - mảnh đất gắn bó máu thịt

Quê hơng, hai tiếng thiêng liêng và gần gũi gắn bó tha thiết với mỗicon ngời Khi đất nớc là cái nôi chung của cộng đồng các dân tộc, thì quê h-

ơng là cái nôi gắn bó máu thịt với mỗi con ngời Quê hơng, có biết bao cái

đẹp đã đợc nói mà cha nói hết Hơn nữa, quê hơng mang trong lòng nó biếtbao cái đẹp diệu kỳ, là niềm kiêu hãnh tự hào của mỗi ngời Cũng nh mọi ng-

Trang 8

ời, nhà văn Tô Hoài cũng có một miền quê yêu dấu, miền quê đã để lại trong

ông những kỷ niệm ngọt ngào lẫn đắng cay, đó là Nghĩa Đô - làng ven đô HàNội Trong suốt cuộc đời cầm bút, Tô Hoài lấy rất nhiều bút danh khác nhau:Mai Trang, Mắt Biển, Thái Yên, Vũ Đột Kích, Duy Phơng, Hồng Hoa… đã có những trang viết đặc sắc Nh-

ng cái tên gắn liền với những tác phẩm bất hủ của ông - cái tên gần gũi thânthiết với bao thế hệ bạn đọc vẫn là Tô Hoài Không phải ngẫu nhiên ông lấybút danh Tô Hoài, hai chữ Tô Hoài chứa đựng cả một nỗi niềm, mang trong

nó sự thân thơng gắn bó với quê hơng Bút danh Tô Hoài gắn liền với hai địadanh: Dòng sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức Dòng sông Tô hiền hòa ngày

đêm chảy qua phủ Hoài Đức và không ngừng bồi bổ phù sa cho mảnh đấtngày càng thêm màu mỡ Tuy Tô Hoài sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nhngnguyên quán của ông thực ra ở làng Kim Anh, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây

Nh vậy, ngay trong bút danh Tô Hoài, ta thấy đợc nỗi lòng của Tô Hoài gắn

bó tha thiết với với quê hơng Nghĩa Đô nh thế nào

Tô Hoài sinh ra và lớn lên tại quê ngoại, trong một gia đình nghèo làmnghề thủ công ở làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, nay thuộc phờng Nghĩa Đô,quận Cầu Giấy, Hà Nội Hoàn cảnh đó khiến nhà văn khi đợc sống trongnhững niềm vui bình dị, khi lại phải chứng kiến những nỗi buồn thấm thía xót

xa Ngay từ nhỏ, ông đã sớm hòa mình trong cuộc sống gia đình lúc phong lucũng nh khi sa sút, túng quẫn Tô Hoài cũng đã cảm nhận đợc niềm vui sumhọp và nỗi buồn trong cảnh chia ly

Tô Hoài vào nghề từ những năm 40 của thế kỷ XX Hoàn cảnh xã hộitrong những năm này cũng có nhiều sự kiện không bao giờ quên - vui có,buồn có, đau khổ xót xa cũng có ở thời kì này, không khí ngột ngạt bao trùmcả xã hội và lan dần vào từng ngõ xóm Làng quê Tô Hoài cha bao giờ lại

“tiêu điều khốn khổ đến nh thế, nghề dệt lụa đã lụi bại chết hẳn Khung cửingời ta đem chẻ củi, bán làm củi Ngời đi tha hơng bơ vơ những đâu, vãn cảlàng Trông trớc thấy cái đói, cái chết mà không biết làm thế nào” [20, 311]

Từ đó, những mối quan hệ xã hội, những nét đẹp văn hóa làng quê bị xáotrộn, tàn phá dữ dội: “Ngời ta chơi chắn cạ, xóc đĩa, thò lò suốt ngày, suốt

đêm, sát phạt nhau từ một xu trở lên Và cái sự mất trộm vặt thì thờng xảy ra”[30, 171] Xã hội, làng quê ngày càng xơ xác tiêu điều: “Trên chợ Bởi, ngờilang thang ở đâu đến càng nhiều Buổi tối lăn vào ngủ trong các cầu chợ, sáng

ra nhiều ngời nằm lại, không còn sức bò đi tiếp đợc nữa” [20, 317] Cảnh đaulòng ấy không chỉ một nơi nào, một vùng nào, mà: “ở đâu bây giờ cũng nh ở

Trang 9

chợ Bởi, những chức việc trong làng cả ngày đêm phải đi rình đuổi không chongời đói đứng lại ở địa phận mình Sợ đêm nó chết Và hễ gặp cái xác nào, lậptức kéo vứt sang làng kia Ngời ta sợ phải chôn Chôn xác trần trụi không cócả chiếu bó, cũng phải mất tiền thuê ngời đào huyệt Tiền đâu mà hôm nàocũng thuê đào hàng chục cái huyệt Mà ngời đào huyệt bây giờ cũng hiếm”[20, 338].

Chứng kiến biết bao cảnh đời thơng tâm bất hạnh ấy, nhà văn sớm trĩunặng một nỗi lòng, một tâm trạng buồn Tô Hoài tâm sự: “Tôi lớn lên giữanhững dòng buồn vui, những gian truân trong vòng mọi tập tục, thói quen củalớp tuổi tôi trong làng Lúc đó, đơng thời kỳ Mặt trận bình dân Lý tởng cộngsản nh giấc mơ đẹp đến với những ngời thanh niên cùng lứa, cùng cảnh nhtôi” [20, 271] Vốn gắn bó với làng quê, chứng kiến mọi vui - buồn, hay - dởcùng những bớc thăng trầm, thịnh suy của làng quê truyền thống, Tô Hoàihơn bao giờ hết cảm nhận thấm thía về đời sống xã hội từ nhiều chiều của nó

1.1.2 Con ngời Nghĩa Đô trong tình cảm của Tô Hoài

Trong nhiều trờng hợp, nhà văn thờng có một miền quê in dấu sáng táccủa mình: Nam Cao có làng Đại Hoàng, Ngô Tất Tố có làng Đông Xá… đã có những trang viết đặc sắc TôHoài cũng có một làng Nghĩa Đô, một quê hơng thực sự gắn bó để đa vàotrang sách Trong một lần phỏng vấn, khi đợc hỏi: “Hình nh mọi nhà văn đềuphải có quê hơng - đề tài sáng tác của mình” Tô Hoài trả lời: “Cho đến naytôi đã viết và cho in hàng trăm đầu sách và nhân vật dù có là con vật đợcnhân cách hóa nh thật thì tôi cũng chỉ tập trung vào hai đề tài: 1 Vấn đề vàcon ngời vùng ngoại ô Hà Nội, bởi vì ngoại thành là sinh quán của tôi và chotới nay tôi vẫn đi về đấy, do vậy hầu nh đó là đề tài bẩm sinh; 2 Trong khángchiến chống Pháp tôi đã ở lại Việt Bắc ngót mời năm, về sau còn đi lại nhiều,nhờ vậy tôi am tờng đôi chút về một số dân tộc anh em nh Tày, Nùng, Dao,H’Mông… đã có những trang viết đặc sắc Tôi coi Việt Bắc, Tây Bắc cũng nh một quê hơng đề tài của tôi ”[71]

Phần đóng góp đáng quý của Tô Hoài cho văn học Việt Nam là hình

ảnh làng quê Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Viết về Hà Nội, đã có nhiều câybút tầm cỡ: Nguyễn Huy Tởng viết rất gợi cảm về rừng bàng Yên Thái, bếnTrúc Nghi Tàm: “Hàng vạn cây trúc thân vàng soi bóng xuống nớc hồ biếc”

(Sống mãi với thủ đô) Nguyễn Tuân lại có những trang đặc sắc tả khu trung

tâm thành phố có khi chỉ một chi tiết: “Cây lộc vừng vừa nở vừa tạ bên hồ

Trang 10

G-ơm, hoa tím nh kết chỉ tô điều, mỗi lần cánh hoa nở trôi trên mặt hồ mờ sơngsớm, cứ làm ngời ta ngỡ nh nhà ai có đám cới nhà ai nổ bánh pháo vừa đi hết

khói” Thạch Lam lại viết rất sinh động về Hà Nội băm sáu phố phờng Còn

Hà Nội trong sáng tác của Tô Hoài là một Hà Nội ven đô những năm tiềnCách mạng, cần lao nhng thơ mộng

Nghĩa Đô là một vùng quê ven đô Hà Nội, đã theo ông trong suốt cuộc

đời sáng tác Vùng quê ấy gần với Kẻ Chợ, bởi những chuyến tàu điện lengkeng và chậm rãi Nghĩa Đô trong sáng tác của Tô Hoài không có bọn lý tr-ởng, chánh tổng có quyền sinh quyền sát nh những nơi khác, không có mặtmột ông chủ nào trừ gã Lý Chi râu quặp sợ vợ và sợ tắm, chuyên cho vay nợlãi để cắm đất, cắm nhà, mà toàn là những chuyện đời t, đời thờng xảy ra ởNghĩa Đô - một vùng làm nghề thủ công ngoại ô Hà Nội Con ngời Nghĩa Đô,sống chủ yếu bằng nghề dệt lĩnh, cần cù chất phác, với những phong tục lâu

đời, với những cách sống của họ bắt đầu phức tạp Do ảnh hởng của lối sốngthành thị, họ trở thành ngời “nửa quê, nửa tỉnh” không còn nguyên vẹn nếp xa

nh dân quê các miền xa

Gắn với làng quê, Tô Hoài hiểu quê hơng ông đến tận chân tơ kẽ tóc, từnghề dệt lĩnh đến nghề làm giấy, từ hội hè đình đám đến chợ búa Đọc những

tác phẩm của ông từ tập truyện Nhà nghèo, Giăng thề, Xóm giếng ngày xa đến

Quê ngời, mới hiểu hết Tô Hoài và con ngời quê hơng ông Những tác phẩm

này đã làm nên nét độc đáo riêng của văn Tô Hoài Hoàng Trung Thông, mộtnhà văn thế hệ sau ông đã viết: “Anh ở Bởi cũng một làng dệt nh làng của tôi,nhng làng tôi thì dệt lụa, mà làng anh thì dệt lĩnh Cái làng canh cửi ở Bởi đó

cũng đã làm cho Tô Hoài viết những áng văn đầu tiên tiểu thuyết Quê ngời và

từ đó anh mới trở thành nhà văn

Tôi đến Nghĩa Đô, nhng tôi không hiểu có một lúc nào vua chúa đã

đóng đô lên tận đây Tôi biết rằng đó là một làng có nghĩa, có tình, một làng

ở vùng ven Hồ Tây xa kia thuộc phủ Hoài Đức (vì thế thành bút hiệu TôHoài) và đã từng đợc ăn những con cá thơm ngon ở đây” [69]

Có thể nói, viết về quê hơng Nghĩa Đô, Tô Hoài đã trải rộng tâm hồncủa mình ra, thấu hiểu và cảm nhận mọi biến thái của cuộc sống và con ngời

Ta hiểu vì sao, con ngời Nghĩa Đô lại trở thành nỗi niềm thiết tha gắn bótrong sáng tác của Tô Hoài những năm tiền Cách mạng

1.2 Bức tranh chung về ngoại ô trong các tác phẩm của Tô Hoài viết về H Nội tr à Nội tr ớc Cách mạng

Trang 11

Viết về quê hơng dễ mà khó Dễ vì đó là những gì diễn ra hàng ngày,quanh bạn, quanh tôi Và cái khó cũng là ở đấy Những gì quen, thân… đã có những trang viết đặc sắc nhngcha hẳn đọng lại, đã trở thành nỗi niềm… đã có những trang viết đặc sắc Tô Hoài vốn có một tâm hồn biếtlắng nghe, biết thấu hiểu nên quê hơng trở thành máu thịt cho ngòi bút của

ông Hơn nữa, không phải cứ sống, cứ chứng kiến mọi sự kiện, mọi hoạt độngthì có thể viết về nó, nhất là với phong tục tập quán của con ngời Viết vềphong tục mà không hiểu và gắn bó thực sự thì sẽ dễ dàng trở thành nhữngcâu chuyện nhảm nhí, tầm phào

Trên những trang sách của mình, Tô Hoài đã phác thảo nên bức tranhcuộc sống thôn quê thời kỳ tiền Cách mạng Đó không phải là làng quê khốn

đốn trong su cao thuế nặng kiểu Ngô Tất Tố, cũng không phải là kiểu làng

Đại Hoàng trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao suốt ngày om sòm vì

những cuộc rạch mặt ăn vạ, của những kẻ cùng đờng, thể hiện bi kịch thảmthơng của ngời nông dân nghèo trong tuyệt vọng Làng quê của Tô Hoài làlàng nghề với những con ngời cần mẫn, chịu thơng, chịu khó, chắt bóp, vớinhững thăng trầm của cuộc mu sinh, với những phong tục và hủ tục

Cỏ dại là cuốn hồi ức đợc Tô Hoài viết rất sớm, ở tuổi hai mơi Không

phải khi về già ngời ta mới nuối tiếc tuổi thơ Tô Hoài viết về tuổi thơ của cuBởi lên trọ học nhà ngời quen ở thành phố khi kí ức cha lùi xa bao nhiêu ởtuổi hai mơi, Tô Hoài viết “hồi ức” nhng không non kém, trái lại làm cho tráitim ngời đọc rung lên thật sự về một tuổi thơ vất vởng… đã có những trang viết đặc sắc Có gì vô vị và buồnchán hơn những ngày ra kẻ chợ của cu Bởi, suốt ngày chỉ cọ chai, vần ra vầnvào một cái lốp ô tô, rồi nhìn ra cửa nhớ nhà, để cuối năm mới đợc về với cái

đầu bị hắc lào mốc trắng mà chẳng có lấy một hột chữ nhét vào bụng Đợc vềvới mẹ, với bà ngoại, các dì và với việc cõng em, đó mới chính là niềm vuicủa cu Bởi

Quê hơng trong Cỏ dại không cuốn hút đợc ngời đọc bởi những gì mới

mẻ mà cuốn hút bởi sự không lên giọng; cũng chẳng cần phải ra bộ khiêm ờng, Tô Hoài cứ tự nhiên kể về những gì mình đã biết, đã trải về quê h ơng.Khác với làng Đại Hoàng khi vào văn Nam Cao luôn là điểm nổi bật nhất -hoặc sáng hoặc tối, làng Nghĩa Đô khi vào văn Tô Hoài không đợc nhìn từgóc độ đó mà nhìn bằng con mắt thờng… đã có những trang viết đặc sắc Nam Cao, Nguyên Hồng và cả TôHoài nữa đều viết về nông thôn, nhng quê hơng Tô Hoài thật riêng biệt Đókhông là làng Đại Hoàng om sòm với đủ thứ loại thanh âm, nào của ngời, nào

Trang 12

nh-của chó; cũng không là khung cảnh buồn ảm đảm trong Những ngày thơ ấu

của Nguyên Hồng; mà đó là một vùng quê gắn liền kề với Kẻ Chợ

Cỏ dại là một xâu chuỗi hiện thực qua tình cảm của nhân vật Sự sống

cứ đầy dần trong kho hồi ức ấy Cái nhìn ở đó vừa ẩn náu bên trong, vừa biểu

lộ ra bên ngoài nhng vẫn rõ nét, một con ngời thật Tô Hoài và một nhân vậtTô Hoài Hiện thực cuộc sống đợc Tô Hoài nhìn vừa sát gần lại vừa lùi xa vớinhững cự ly thích hợp… đã có những trang viết đặc sắc để vừa mời gọi ta đến lại làm ta lu luyến lúc đi Hồi

ức ấy đọc với bao bâng khuâng Tô Hoài cứ nhẩn nha dắt bạn đọc đi với

mình, đến với những gì lạ mà quen, quen mà lạ Chính bởi thế, Hồi ức Cỏ dại

mang theo giá trị kép: vừa chịu sự ràng buộc của một sự thật cá biệt, vừa chophép nới thêm các khoảng rộng của không gian và thời gian sống

Cỏ dại là d vị buồn và mòn mỏi của một xã hội ngời ở một vùng quê

tr-ớc cách mạng Tác phẩm bắt nguồn từ cái hiện thực ở vùng Nghĩa Đô quê

ông Cuộc đời thực của ông, của những ngời nông dân nghèo ven thành, cuộc

đời cơ cực của những ngời vợ, ngời mẹ kiếm miếng cơm manh áo, tần tảonuôi chồng, nuôi con, cuộc đời của những ngời cha phải bỏ làng ra đi vì kếsinh nhai… đã có những trang viết đặc sắc đã đợc Tô Hoài phản ánh trong Cỏ dại Cả một xã hội đang đói

khổ, cùng quẫn Dẫu xa hoặc gần, dẫu là chuyện của bản thân hoặc gia đình,làng xóm qua những trang hồi ức của Tô Hoài, cũng vẫn là một điệu buồn nhvậy Một cái buồn thấm vào từng tế bào, từng chân lông của cơ thể xã hội.Buồn về sự quanh quẩn, cùng quẫn của mọi kiếp ngời lao động, buồn vì sựthiếu thốn của tình ngời, buồn vì một cái gì chìm đi, sắp tắt ấy là những gìTô Hoài muốn nói về tuổi thơ của ông và con đờng của ông, của một thế hệ

nh ông ở làng quê ông và rộng ra cả đất nớc Tô Hoài đã thật sự có đóng gópvào trong văn học, nơi mảng sống buồn bã, vật lộn của một thế giới trẻ thơ -hoặc đợc nhìn qua cách nhìn trẻ thơ để nói một cái gì bản chất của cuộc đời

cũ Mảng sống ấy rất có dáng nét, góc cạnh, trớc hết vì khả năng nhớ dai vàrất sinh động ở ký ức của Tô Hoài Cũng có lẽ vì lứa tuổi mời tám, đôi mơi ấycủa đời ngời nơi nhà văn lại khớp đúng với đời sống dân tộc đang chuyểnmình vào một thời kỳ tối tăm nhất, để chuẩn bị cho một ngày mới, đêm sâutiền Cách mạng

Thông qua những hồi ức sinh động, Tô Hoài đã miêu tả xã hội vùngngoại thành Hà Nội với những phong tục và những con ngời của nó, đã ghinhận cảnh đời ngày một lam lũ, bần hàn của ngời nông dân và cuộc sống

Trang 13

quẩn quanh, mòn mỏi của lớp thị dân nghèo Không gian này chính là hiệnthân của mối quan hệ giữa cậu bé và gia đình, nơi những con ngời thân yêunhất của cậu Cuộc sống cứ dần trôi, song bản thân nó là sự vật lộn bên trong.Tâm hồn nhạy cảm của Bởi lớn lên cùng năm tháng Trong cái tẻ nhạt củalàng quê là sự đổi thay của từng con ngời, từng cuộc đời

Trong Nhà nghèo Tô Hoài viết: “Họ thờng cãi vã nhau vì những cớ rất

nhỏ, không có nghĩa Cái đó cũng thành một thói quen Lúc nào ngứa miệng,muốn to tiếng là to tiếng liền Hàng xóm bốn bề nghe chán cả tai, không buồnnghe nữa” [15, 149] Cái nguyên nhân kinh tế đẻ ra tất cả mọi căn bệnh khác

Đời sống trở nên khó khăn, không còn nữa cái không khí làng quê thanh bình

và trong trẻo Cái thiếu thốn, đói rách dằn vặt đè nặng lên mọi cuộc đời Gia

đình Duyên đang vào trận xô xát vì những nguyên cớ chẳng đâu vào đâu,khiến ngời bố đe giết cả lũ vợ con rồi đe đốt nhà Còn đứa con gái mới bảytuổi đầu đã sớm biết lo miếng ăn cho gia đình nên phải chết một cách thơngtâm: “Cái Gái nằm gục trên cỏ, hai tay ôm kh kh cái giỏ nhái Lng nó trầnxám ngắt” Làm cho ngời bố “chợt nghĩ rằng bấy lâu nó vào cửa buồng vợchồng anh, cực khổ trăm đờng Ngời nó bao nhiêu xơng sờn, giơ ra hết cả.Thơng ơi, bây giờ nó bỏ ra đi” [15, 156]

Trong tiểu thuyết Quê ngời, Tô Hoài đã tái dựng chân thực khung cảnh một làng quê, ở đó những vẻ đẹp truyền thống đang sa sút, tàn lụi dần Quê

ngời không đặt ra vấn đề mâu thuẫn gay gắt giữa hai thế lực đối lập về giai

cấp nh Tắt đèn của Ngô Tất Tố hay Chí Phèo của Nam Cao Giữa những ngời

trong làng thuộc các giai cấp khác nhau vẫn còn giữ đợc mối quan hệ tơng đốihòa nhã Lý trởng vẫn chịu ngồi chung xe tay lên tỉnh với dân quê để đóngtriện Làng quê không có cảnh náo loạn của mùa su thuế, không có cảnh bắt

bớ, gông cùm, đánh đập ngời dân giữa sân đình Trăng vẫn sáng đẹp, thơmộng trong những đêm hội chèo Trai gái vẫn náo nức với những cuộc hẹn

hò Nhng rồi tình thế đã xoay chuyển nhanh chóng Cái nghèo lan đến từngphiên chợ quê rồi ập đến từng gia đình Cái nghèo nh tấm lới trùm xuống làng

ngời ta đi làm thuê nhiều ứ lên Gạo lại kém nữa Cha bao giờ làng Nha ở vàocái quang cảnh đáng thơng nh bây giờ Xa kia lúc nào cũng vang lên, trongcác cửa sổ tiếng thoi chạy, véo von tiếng hát đùa Chiều chiều ngoài đầu ngõ

ồn ào những tiếng thợ tơ, thợ cửi ra khung cửi đang xúm lại chuyện trò Bây

Trang 14

giờ trong nhà vắng tanh Những khung cửi guồng tơ xếp cả lại Nhiều nhàtúng quá bán đi, không hòng sinh nhai gì về nghề nữa Tơ vàng cao quá đốivới giá tơ tầu Hàng xấu, hàng tốt lẫn lộn với nhau chẳng lái buôn nào biết rasao mà buôn, ngời ta không về cất hàng nữa” [30, 170].

Thất nghiệp, đói nghèo làm cho con ngời khốn đốn, đe dọa cả nhâncách Nhiều gia đình trớc kia vốn đầm ấm tình cảm vợ chồng, con cái nay trởnên gay gắt, nặng nề Các tệ nạn xã hội phát triển Con ngời trở nên sốngbuông thả Những nề nếp và phong tục tập quán của làng quê dần bị vi phạm:

“Làng đã nghèo thì lại sinh ra lắm điều rắc rối Ngời ta chơi chắn cạ, xóc đĩa,thò lò suốt ngày, suốt đêm, sát phạt nhau từ một xu trở lên Và cái sự mất trộnvặt thì thờng xuyên xẩy ra luôn Con chó, con gà đi tha thẩn ngoài ngõ vô ýkhông ai trông mất ngoém ngay Cái váy, cái quần phơi ngoài sân biến là th-ờng Thậm chí ngoài vờn có mấy quả đu đủ xanh cũng bị vặt trụi Không hômnào là không có ngời vác gậy, cầm mõ đi dong ra dong vào để chửi những

đứa ăn cắp vặt Những đám cãi nhau thì nổi lên thờng ngày vang vang ngõ nọtrở qua ngõ kia” [30, 171]

Cái nghèo đã kéo theo cái tàn tạ, chia lìa Cảnh làng quê trở nên tan táctrớc cái nghèo, cái đói Bao ớc mơ đẹp đẽ bị vùi dập, bao gia đình hạnh phúc

bị chia rẽ, bao cuộc đời phải phiêu bạt nay đây mai đó để kiếm kế sinh nhai.Những cặp trai gái nh Hời và Ngây, Thoại và Bớm đã từng có một tình yêu

đẹp với nhiều mơ ớc Nhng kết cục của những mối tình ấy thật xót xa Họkhông phải là những ngời trăng gió Họ yêu nhau rồi gắn bó vợ chồng Ướcmơ về hạnh phúc gia đình của họ thật giản dị: có một khung cửi, chồng dệt,

vợ quay tơ Thế nhng, tất cả chỉ là ảo mộng Kết thúc câu chuyện, những ngàytết Thoại đã đem phải vợ đi trốn sau lần đánh chó trộm ở làng bên, Hời vàMây phải dỡ nhà để giả lại đất cho Lý Chi, bắt đầu cuộc đời phiêu bạt Viết

về số phận của con ngời trong những ngày đói kém, Tô Hoài đã thể hiện mộtvốn hiểu biết phong phú về làng quê, một năng lực quan sát nhạy bén, tinh tế

và một tấm lòng nhân hậu, chân tình

Có thể thấy, bức tranh sinh hoạt xã hội đặc thù này ở Tô Hoài trải ratrong một không gian rộng lớn và trong một thời gian mở rộng, từ quá khứ

đến hiện tại Viết về Hà Nội, chỉ riêng hồi ký Cỏ dại, tiểu thuyết Quê ngời,

Mời năm, bức tranh xã hội đặc thù ấy đã xuất hiện đều đặn và trở thành một

phơng diện phản ánh cuộc sống đầy hữu hiệu Qua cảnh chợ, ngời ta cảm

Trang 15

nhận thấm thía từng giai đoạn lịch sử xã hội Bám sát từng bớc đi của đờisống dân tộc, Tô Hoài không chạy theo sự kiện, biến cố, mà nhà văn ghi lạidấu ấn qua cảnh sinh hoạt ngày chợ Mấy ai quên đợc hậu quả khủng khiếpcủa cuộc khủng hoảng kinh tế, của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, của tội

ác Pháp - Nhật gieo rắc cho đồng bào ta Cuộc sống ấy đợc nhà văn tập trungkhắc họa qua cảnh chợ quê: “Bói không ra một hàng gạo Chỉ có mẹt cám làthức ăn sống ngời nhất chợ Ngời mua tranh nhau húc vào Mẹt cám hết ngay.Còn lại chỉ toàn hàng củ chuối Từng đống củ chuối cao ú ụ bằng cây rơm,chỉ một lúc đã vơi Có những củ chuối thái mỏng, trộn muối bỏ vào chậu, rắcrau húng lên trên, mỗi bát bán một hào Nhng khách mua cũng chẳng mấy,toàn ngời vêu vao, lợn lờ nh gà quanh thong thóc Đám động quằn quại, lúcnhúc, rách rới, tanh hôi từ đống bùn rãnh ao ngoi lên, đông thế mà chỉ làoxào, phờ phạc, đều đều nh sang đánh, tịnh không một tiếng quát tháo, cờigiòn, mặc cả, chửi bới, say rợu, bò rống, lợn éc” [29, 203] Đau thơng hơn,nhà nhà còn đem ra chợ từ cái khung cửi, cột nhà, khán thờ bài vị, hòm sơnthen, ống quyển đựng bằng sắc gia phả… đã có những trang viết đặc sắc Tô Hoài đi vào những hình ảnh,những chi tiết cụ thể đến nao lòng trong cuộc sống sinh hoạt thờng nhật, mà

có lẽ chỉ với cảm quan đời thờng nhà văn mới có những chất liệu hiện thực

nh thế Rõ ràng là cùng với Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao… đã có những trang viết đặc sắc tuy

“Tô Hoài không đề cập đến những mâu thuẫn giai cấp sục sôi quyết liệt” [64,15], nhng ngời đọc vẫn cảm nhận thấy bức tranh hiện thực đen tối, ảm đạm tr-

ớc Cách mạng

1.3 Thế giới nhân vật dân nghèo ngoại ô trong các tác phẩm của Tô Hoài viết về Hà Nội trớc Cách mạng

Theo giáo trình Lý luận văn học, do Phơng Lựu chủ biên: “Nói đến

nhân vật trong văn học là nói đến con ngời đợc miêu tả, thể hiện trong tácphẩm bằng phơng tiện văn học Đó là những nhân vật có tên nh Tấm, Cám(… đã có những trang viết đặc sắc) anh Pha, chị Dậu (… đã có những trang viết đặc sắc) Đó là những nhân vật không tên nh thằng bán tơ,

một mụ nào trong Truyện Kiều (… đã có những trang viết đặc sắc) Đó là những con vật trong truyện cổ tích,

đồng thoại, thần thoại, bao gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma quái, những convật mang ý nghĩa con ngời (… đã có những trang viết đặc sắc) Đó có thể là những con ngời đợc miêu tả đầy

đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, tiểu sử nh thờng thấy trong tácphẩm tự sự, kịch… đã có những trang viết đặc sắc” [46, 277]

Trang 16

Tác phẩm không thể thiếu nhân vật, bởi vì đó là hình thức cơ bản đểqua đó, văn học miêu tả thế giới bằng hình tợng Bản chất văn học là mộtquan hệ với đời sống, nó chỉ tái hiện đợc đời sống qua những chủ thể nhất

định, đóng vai trò nh những tấm gơng của cuộc đời Thế giới nhân vật trongtác phẩm đầu tay của Tô Hoài vốn là những kiểu ngời bình dị, gần gũi trongcuộc sống hàng ngày của các vùng quê Họ quay tơ, dệt cửi, chạy chợ đểkiếm sống Họ làm cùng một nghề: dệt lĩnh Gặp buổi thuận thời làng quêvang lên đều đặn tiếng thoi dệt cửi đến đêm khuya, phiên chợ đông vui kẻmua, ngời bán, hội làng nhộn nhịp trong những ngày xuân, trai gái hẹn hò lứa

đôi Nhng những buổi thuận thời đó không nhiều, cuộc sống ngày càng sa sút

Những con ngời đó giản dị ngay trong cả tên gọi: Duyên, Hối (Buổi

chiều ở trong nhà), Gái, Chân, Cẳng (Nhà nghèo), Ngói, Phúc (Vợ chồng trẻ con), Răng, Câu, Kền, Miến (Giăng thề)… đã có những trang viết đặc sắc Mỗi tên gọi dờng nh gắn với thànhphần xuất thân của con ngời Một tiểu th sống đầy đủ trong cng chiều, nhunglụa không thể có cái tên là cái Gái, cô Miến, cái Ngói, cô Mì, cái Bi, cô

Đáo… đã có những trang viết đặc sắc mà phải là Tuyết hay ít ra cũng là Loan, là Thơ (Con đờng sáng, Đời

ma gió); còn những chàng công tử suốt ngày chỉ biết ăn, chơi, đợc hầu hạ

cũng có cái tên khác hẳn với: Chân, Cẳng, Hẹn, Cuông, Răng, Câu, Kền Ngời nhà quê xa còn có quan niệm: tên xấu dễ nuôi Những cái tên gọi đócũng biểu hiện cái tình ngời hồn hậu, tấm lòng chân thành của ngời dân quêViệt Nam trớc Cách mạng

Nhịp cầu giao nối thôn quê - thành thị trở đi trở lại nh một mô típ quenthuộc, một kiểu cấu trúc truyện trong tác phẩm đầu tay của Tô Hoài Với ông,bối cảnh thị thành cha hề một lần đem lại hạnh phúc cho nhân vật, hoặc đó là

nơi đánh mất mình (nhân vật Câu, Miến trong Giăng thề) Còn khung cảnh

thôn dã, dù có vui lên bởi những hội hè, ông cũng không thi vị hóa nó Nócũng đang là một cuộc sống tối tăm, ngng đọng, tàn tạ sau lũy tre làng Cuộcsống nghèo khổ đã đẩy những ngời lao động đến chỗ cùng đờng, bị vắt kiệt

sức để rồi lang thang biến chất hoặc tan tác chia lìa Tiểu thuyết Quê ngời của Tô Hoài đã thâu tóm đợc khá điển hình những khung cảnh xã hội đó Quê ng-

ời, đúng nh cái tên gọi của nó đã gợi lên những chốn xa xôi, ít gắn bó mà con

ngời phải phiêu bạt tới Quê nhà thờng là nơi hội tụ nhiều đời của những dòng

họ tạo lập sinh sôi trên mảnh đất chôn rau cắt rốn và cũng là nơi ngời dân quêgắn bó suốt cả cuộc đời Bỏ làng ra đi phiêu bạt trên đất khách quê ngời thờng

Trang 17

là chuyện chẳng hay Tô Hoài không phác họa cụ thể khung cảnh chốn quêngời Nhng qua tác phẩm của ông, ta có thể hình dung đợc đó là một vùng tốităm với những số phận nghèo khổ; là “nớc Sài Gòn” xa xôi mà chỉ những kẻbạo gan mới dám đi tới đấy để làm ăn sinh sống và họ đi chẳng mấy ai trở lại.Cảnh sống tha hơng, đất khách quê ngời là cảnh không ai mong muốn T tởngchung của ngời dân quê là muốn ổn định, sinh sống lâu dài trên mảnh đấtthân yêu của mình.

Những con ngời trong tác phẩm của Tô Hoài trớc Cách mạng giản dịtrong cả nếp sống, nếp sinh hoạt Với họ điều ra tiếng vào là chuyện bình th-ờng, cho vui cửa vui nhà… đã có những trang viết đặc sắc Bởi thế chúng ta thấy hàng loạt truyện ngắn Nhà nghèo, Buổi chiều ở trong nhà,… và cả tiểu thuyết nếu thiếu lời cãi cọ, to

tiếng liền nhơ nhớ Đó là gia vị cho cuộc sống vốn nghèo đói, cùng quẫn.Tiếng chửi ở đây không phải là tiếng hát của một tâm hồn méo mó (kiểu ChíPhèo) nhng cũng biểu hiện sự ức chế của những tâm hồn không sao giải thích

đợc vì sao mình túng quẫn Cuộc sống dần trôi với chừng ấy gơng mặt, chừng

ấy những cảnh sinh hoạt hàng ngày Nó phôi pha, tàn lụi mà nào ai biết nó

đang mòn đi, sắp tắt

Kiểu ngời ấy dù có nhiều điểm không giống nhau nhng dờng nh TôHoài đều muốn tìm đến một mẫu số chung về bản chất và số phận của họ.Con ngời ngoại ô dù là nông dân cũng mang những nét đặc trng của dânngoại ô, khác hẳn với nông dân thuần túy Trớc Cách mạng tháng Tám, conngời bao giờ cũng ở trạng thái nơm nớp, lo sợ Họ sợ cho cuộc sống vui ít,buồn nhiều của mình Viết về quê mình, nhân vật của Tô Hoài đợc lấy ra từnhững ngời xung quanh mình… đã có những trang viết đặc sắc Tuy vậy, tác phẩm không gây sự nhàm chán,

đơn điệu Thế giới nhân vật dân nghèo ngoại ô ở các tác phẩm đầu tay của Tô

Hoài thuộc nhiều thế hệ, đa dạng, phức tạp Từ trẻ con đến ngời già (Vợ

chồng trẻ con, Chớp bể ma nguồn) và ở lứa tuổi nào nhà văn cũng nắm đợc

cái thần riêng, phản ánh đúng bản chất của nó Cu Phúc “một thằng nhãi vừachẵn mời tuổi”, thì mảng chơi, ham vui đúng nh tâm lý của lứa tuổi ấy Còn

bà Móm “cái miệng móm móm mà nói loe loe” tuy to miệng và “cãi nhau đãthành nghiện” nhng vẫn lo sự đơn độc, vẫn yêu con và thơng con… đã có những trang viết đặc sắc

Nhân vật của Tô Hoài có một mô hình riêng, khác mô hình con ngời bị

áp bức, bóc lột, dồn đuổi của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao… đã có những trang viết đặc sắcNhân vật của ông vừa là con ngời Nghĩa Đô vừa là con ngời Việt Nam Với

Trang 18

một thế giới nhân vật đông đảo, đa dạng mà nhân vật nào cũng đầy đặn, cótính cách chứng tỏ khả năng nắm bắt cuộc sống của ngòi bút Tô Hoài Riêng

về số lợng, đó cũng là con số đáng kể trong so sánh với các cây bút cùng thời

Ông cho ta thấy con ngời phải vật vã để đứng vững, hay không đứng vững nổitrớc sự xô đẩy, may rủi của cuộc đời Có thể nhận thấy nhân vật của ông đều

có những số phận đáng buồn, đìu hiu, đều mang bản chất nửa quê, nửa tỉnh

1.3.1 Con ngời bình thờng, đời thờng

Không đề cập đến những mâu thuẫn giai cấp sục sôi, quyết liệt, khôngmiêu tả những nhân vật độc đáo, phi thờng Tô Hoài viết về những chuyện đờithờng với những con ngời thật bình thờng, tâm hồn giản dị không có ớc muốncao xa, khát vọng mãnh liệt Họ yêu cuộc sống bình dị và muốn sống mãitrong cảnh ấy Quả thực họ cũng đã đợc nếm trải trong một số ngày ngắn ngủi

vị ngọt ngào của hạnh phúc đơn sơ: đợc làm việc, đợc yêu nhau Với quanniệm “con ngời là con ngời”, Tô Hoài không hề lên gân, không cao giọng màluôn thủ thỉ, tự nhiên, nồng nàn hơi thở của đời sống cần lao

Hiện thực cuộc sống ngột ngạt, toàn chuyện buồn, tất cả đã tạo nên âmhởng buồn trong sáng tác thời kỳ đầu của Tô Hoài Hiện thực ấy đợc Tô Hoàiphản ánh vào trong tác phẩm trớc Cách mạng một cách chân thực, sinh động,với những bút pháp nghệ thuật nghiêm ngặt Viết về nông thôn nhng ít cónhững sự kiện quan trọng, không có đấu tranh giai cấp, xung đột xã hội nh

trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, hay Bớc đờng cùng của Nguyễn Công Hoan,

Chí Phèo của Nam Cao, mà toàn “những chuyện đời t, đời thờng” Tuy vẫn có

những mâu thuẫn gay gắt, nhng mâu thuẫn và gay gắt ấy chỉ diễn ra trongtừng gia đình: vợ chồng, cha con đánh, chửi nhau chỉ vì những nguyên cớ vớvẩn: anh chồng đang hát nghêu ngao bị mụ vợ lắm điều làm cho cụt hứng

(Nhà nghèo); hoặc chuyện một cái vỏ chai, chồng bán lấy vài xu mua kẹo cho con, mụ vợ chu chéo là tiêu hoang, là ăn tàn phá hoại (Buổi chiều ở trong nhà

- Nhà nghèo) Có khi nhà văn ghi lại những nét tâm lý buồn cời của ngời dân

quê (Ông Dỗi - Nhà nghèo), hay tỏ ra dí dỏm với bà mụ ngoa ngoắt mắc bệnh chửi của bà Móm (Chớp bể ma nguồn - Nhà nghèo) hoặc những chuyện tình của của trai gái làng quê đợc Tô Hoài tập trung thể hiện hấp dẫn (Ông giăng

không biết nói - Nhà nghèo) Trong Giăng thề Tô Hoài còn đề cập đến tình

cảnh của mấy thầy giáo quê, với cuộc sống tẻ nhạt đơn điệu ở làng quê nghèo

đói Để rồi cái làng đó cũng không dung nổi các thầy Cuối cùng mỗi ngời

Trang 19

mỗi cảnh ngộ họ đều phải rời khỏi làng Tên tác phẩm thì đẹp, gợi sự thơmộng “giăng thề” nhng bên trong tác phẩm lại chất chứa bao nỗi buồn hiu hắtcủa cuộc sống con ngời Nỗi buồn nh thấm trong đất quê, trong ngọn cỏ đểrồi cho nó ngậm ngùi dai dẳng mãi trong lòng ngời, tởng chừng nh chẳng baogiờ có sự đổi thay nữa.

Sau hàng loạt truyện ngắn, Tô Hoài cho ra đời tiểu thuyết Quê ngời

D-ờng nh tất cả mọi nhân vật, mọi hạng ngời đều hội tụ về đây Tô Hoài đi sâuhơn những vấn đề đặt ra trong truyện ngắn Cũng làng quê ấy, con ngời ấy,nhng Tô Hoài quan tâm kỹ hơn về chặng đờng số phận, cũng nh nhữngchuyển biến về nếp nghĩ, cách sống, tâm tính của họ Qua đó mô tả việc cáclàng nghề rơi vào cảnh tàn tụy, do nghề thủ công - dệt lụa không có cơ sở tồntại, con ngời phải lu lạc, li tán đến “Sà Gòòng” xa xôi kiếm ăn, tác giả chỉ ramột cách sâu sắc cuộc sống bấp bênh, thân phận tối tăm của nhân dân một n-

ớc thuộc địa

Tô Hoài thờng chú ý tới một thời điểm nào đó, mà cuộc sống con ngời

đợc nuôi dỡng bằng chút hy vọng và ánh sáng hy vọng đó lụi tàn dần trớccuộc đời Có lần Tô Hoài nhận xét: “Tôi viết anh thợ cửi, chị thợ tơ yêu nhau,

ớc mong có một khung cửi, nhng họ càng ngày lại càng nghèo không bao giờ

có đợc rồi phải mang nhau đi đất khách quê ngời” (Quê ngời), hay “một anh hơng sự nghèo không lấy một chị trong làng” (Giăng thề) Trong Giăng thề,

Tô Hoài đã vẽ lên một thảm cảnh của các thầy giáo trớc cách mạng Cái khổthấm vào cuộc sống hàng ngày để rồi những ông giáo làng không hơn gìnhững ngời dân quê Cuộc đời các thầy Câu, Kền, Răng, Hoạnh thì ít hấp dẫn

và tẻ nhạt quá Họ không mang rõ đặc điểm của ngời trí thức Nếp sinh hoạtgần gũi với ngời dân lao động nghèo và cuộc đời cũng chịu nhiều bấp bênh docảnh kiếm sống khó khăn Cái thú vui của những thầy giáo làng nhiều lúccũng rất tầm thờng Họ rủ nhau vào hát chơi ở một cô đầu phố huyện hoặcvào quán đánh chén một bữa thịt chó Những chuyện nh thế cũng đủ làm cho

d luận ồn ào về cái nghề vốn xem là mô phạm Số phận của các thầy cũnglong đong vất vả nh những ngời dân quê Họ bị đồng tiền hành hạ Những côgái làng xinh tơi không thuộc về họ, tuy có lúc đã yêu đơng, gắn bó, thề bồi

Mặc dù đến muộn hơn trong “làng” văn học hiện thực, nhng Tô Hoàimang đến cho ngời đọc những trang văn với những nét vẽ chân thực nhẹnhàng mà thấm thía xót xa Ngòi bút Tô Hoài không thiên về một sắc thái

Trang 20

miêu tả nào, mà ông chú ý đến những đau khổ xót xa cũng nh niềm vui màngời dân có đợc trong cuộc sống hàng ngày.

Cũng cần phải nói thêm rằng, dờng nh, không chỉ trong những trangviết về con ngời ngoại ô Hà Nội, mà trong hầu hết các tác phẩm của mình, TôHoài thờng đa các nhân vật về với đời thờng để nhìn bằng một cái nhìn gần,nhằm khám phá những vẻ đẹp, nỗi niềm của họ Và điều đó mang đến cho

ngời đọc cảm nhận về một ngòi bút luôn nặng tình yêu thơng Trong Vợ

chồng A Phủ, trong Miền Tây, trong Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần… dẫu viết về ngời cách mạng, về nhân vật lịch sử ta đều bắt gặp một… đã có những trang viết đặc sắcTô Hoài nhân hậu, đầy dấu yêu trong cái nhìn chân thành và sâu sắc vớinhững phẩm chất đời thờng của con ngời

1.3.2 Con ngời nửa quê nửa tỉnh

Nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài trớc Cách mạng có một mô hìnhriêng, khác mô hình con ngời bị áp bức, bóc lột dồn đuổi nh nhân vật của NgôTất Tố, Nam Cao, mà là con ngời Nghĩa Đô nói riêng, vừa là con ngời ViệtNam nói chung Họ không thuần túy là ngời dân quê nh các miền quê khác.Con ngời trong sáng tác đầu tay của Tô Hoài thờng không quá sâu sắc, nặng

nề, cái gì cũng mờ mờ, nhạt nhạt, những niềm vui xen lẫn nỗi buồn, những nụcời và giọt nớc mắt cứ đan vào nhau, làm cho ngời đọc cảm nhận đợc rằng:con ngời ở vùng Nghĩa Đô rất nhạy cảm và có phần lãng mạn Họ khác nông

thôn thuần túy, mọi cái đến với họ rất tự nhiên, nhẹ nhàng Đọc Quê ngời,

Nhà nghèo, Xóm giếng ngày xa, Giăng thề… đã có những trang viết đặc sắc ta thấy xuyên qua chuyện đời t,

đời thờng của dân nghèo, những ngời thợ dệt vùng kẻ Bởi, có thể thấy đợc sựchuyển mình của xã hội Việt Nam, từ chế độ phong kiến sang chế độ thựcdân t sản Là ngời sinh ra và lớn lên ở Nghĩa Đô, Tô Hoài là ngời nhạy cảmhơn ai hết trớc hiện tợng ấy ở vùng ven thành này, chỉ cần nhảy tàu điện mộtthoáng là ra đến Kẻ Chợ có đèn điện, có tàu hỏa, ô tô, có ông Tây bà đầm, cónhững cái tân thời… đã có những trang viết đặc sắc ảnh hởng của đời sống đô thị đã làm đảo lộn nếp sốngcủa làng quê nghìn năm truyền thống, đậm chất phong tục Con ngời trongsáng tác của Tô Hoài trớc Cách mạng đã ít nhiều nhiễm thói tục của đất kinh

kỳ Tuy tính tình của họ còn ngây thơ, chất phác giản dị, nhng cách sống của

họ đã bắt đầu phức tạp, không còn nguyên vẹn nếp xa nh dân quê các miềnxa

Dấu ấn đô thị đã len lỏi vào ngõ ngách của ngời dân nghèo, ngời thợthủ công, ngời trí thức Nghề se tơ dệt lụa bị đình đốn dẫn đến phá sản, làng

Trang 21

xóm xơ xác buồn thiu Ngời ta rủ nhau ra tỉnh, vào “Sà Gòòng”… đã có những trang viết đặc sắc Trai gáiyêu nhau gọi nhau bằng “Cậu, mợ” Các anh trai làng bỗng thất thế trớcnhững kẻ ở tỉnh về, dẫu chỉ anh Bồi, bác Quyền hoặc gã khách buôn Gáilàng, những cô gái đẹp nhất bị văn minh tỉnh thành cuỗm mất, chuyện phụtình “tham vàng bỏ ngãi” cứ nhẹ nh không Những mối tình lãng mạn của traigái trong làng bị cái bả phù hoa Kẻ Chợ làm cho tan vỡ

Cuộc sống thị thành đã làm cho làng quê sáng lên ít nhiều, nếp sống vàcảnh quan có sự đổi thay Song cuối cùng, những ánh sáng ấy cũng tàn lụidần vì khó khăn của cuộc sống, khủng hoảng kinh tế, hàng ế ẩm, thất nghiệp.Khám phá về con ngời, Tô Hoài đi sâu vào miêu tả cuộc sống và tâm hồn của

họ ngày càng tàn lụi dần trong sự lam lũ, đói nghèo, tối tăm Trên nhữngtrang sách của mình, Tô Hoài không nói nhiều đến thú vui xê dịch, cũngkhông xây dựng kiểu nhân vật giang hồ phiêu bạt, mà ngợc lại ông nói nhiềuhơn đến ớc mơ sum họp đầm ấp gia đình, khát khao tổ ấm trên mảnh đất quêhơng thân thiết của mình Một làng quê thanh bình, với những phong tục tậpquán lâu đời, những gia đình quây quần và tụ họp lại trong niềm vui và nỗibuồn, trong tiếng cời lẫn giọt nớc mắt… đã có những trang viết đặc sắc Những xã hội cũ với bao những quyluật khắc nghiệt và phũ phàng đã đẩy con ngời đến bớc đờng cùng, phá vỡbao cảnh đời êm ấm, bao nếp sống ổn định

Nhân vật của Tô Hoài trớc Cách mạng đang dần có sự thay đổi Cáivùng quê trong sáng tác của ông gần với Kẻ Chợ, chỉ cần một chuyến tàu điện

là lọt vào quầng sáng của thành phố, là ngập vào sự nhộn nhịp ăn chơi, muabán, vì thế con ngời cũng ảnh hởng lối sống đô thị Họ rất nhảy cảm Chỉ cầnmột chuyến lên tỉnh là có những suy nghĩ khác Tô Hoài chỉ rõ cho ngời đọc

sự đổi thay và ảnh hởng của lối sống thị thành đối với tầng lớp thanh niên

Vàng phai thể hiện cụ thể điều này Lời nguyền vàng đá đã nhạt phai hết, khi

Mây gặp quyền Vực - lính khố đỏ từ tỉnh về Lý do thật đơn giản: Hẹn thậtkhờ khạo quá, rụt rè quá và thiếu hẳn những lời hoa mĩ Trong khi quyền Vực

từ tỉnh về làng “giầy Tây nện cồm cộp” gặp ai cũng “ngả mũ vàng ra chàokiểu Tây” Anh ta mạnh dạn trong ăn nói, kể bao “chuyện tân kỳ ở ngoài kinhthành phù hoa”, với cái “giọng đặc thành phố” làm cho cô Mây cũng phải

“chú ý, nghĩ ngợi” Quyền Vực bạo dạn khi “giơ hai tay quàng chặt lấy vai cô

ả” và thủ thỉ nồng nàn “Mình ơi! Tôi yêu mình quá Mình đừng nguây nguẩythế Tôi bảo mẹ cho tôi lấy mình Chúng ta lên Hà Nội ở với nhau sớng lắm”,sau đó còn “không quên cái lối từ biệt nhau của các cặp tình nhân Hà Nội là

Trang 22

hôn một cái” Thế là Mây bỏ Hẹn vì: “cái hôn đánh choẹt vào má” của “bácquyền Vực giỏi trai và lịch sự, mốt mới” Thế là Hẹn đã thất thế trớc Vực.Không chỉ trong chuyện tình, mà trong cả thẩm mĩ cũng có sự khác đi Miến

trong Giăng thề ra tỉnh về thì cách ăn mặc tân thời hơn, hiện đại hơn Sự trang

trí trong nhà đã có thêm “bức vẽ truyền thần” nh một sự kiện lạ, khiến ai cũng

ao ớc trầm trồ: “Chịu! Thiên hạ lắm ngời tài” Tô Hoài không hề thi vị hóacuộc sống và con ngời làng quê, mà ông muốn đi tận cùng sự đổi thay ấy.Hầu hết các tác phẩm của ông thời kỳ này đều phản ánh cuộc sống và con ng-

ời dân quê đang đổi thay và đang đứng trên bờ vực thẳm của sự tàn lụi dần

1.3.3 Nghệ thuật miêu tả nhân vật

Xây dựng nhân vật đó là cách miêu tả con ngời Tô Hoài rất linh hoạt,sáng tạo trên lĩnh vực này Nhà văn không chỉ đặt con ngời trong bối cảnhphong tục, mà còn thể hiện bằng chân dung, ngoại hình, bằng nội tâm, bằngngôn ngữ độc thoại, đối thoại, bằng thiên nhiên

Không phải bất cứ truyện ngắn nào, trang viết nào Tô Hoài cũng thểhiện con ngời bằng tất cả những hình thức đó Bộc lộ những suy t về nghệthuật của mình, Tô Hoài tỏ ra tâm đắc hơn cả với ý tởng đi sâu khám phá thếgiới tâm linh sâu kín của con ngời Ông lấy đó làm cái đích vơn tới, trong tcách là ngời tái tạo đời sống, cũng xem nó nh là tiêu chuẩn cao nhất để thẩm

định giá trị nghệ thuật Nhà văn tỏ ra hứng thú trong việc tìm kiếm nhữngcách thức biểu đạt thích hợp nhất cho từng nhân vật, nhờ đó mà có thể đẩy cáitinh tế đến độ sâu sắc

Chân dung nhân vật Tô Hoài khác hẳn những hình tợng của Nam Cao,Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố Ông không chú ý đến nhiều gơng mặt, đến dáng

đi, giọng nói Nhớ đến nhân vật của Tô Hoài, có thể ngời ta thờng nhớ nhiều

đến trang phục bên ngoài của họ Bởi vì trong khi một số nhà văn khác hớng

đến việc xây dựng những tính cách, cá tính thì dờng nh Tô Hoài lại đang hớng

đến miêu tả cái văn hóa của tính cách ấy Đọc Nam Cao, các nhân vật của

ông nh đợc tạc tợng trong ngời đọc đến cả cái nhăn mặt, đến cả cái răng, cái

đầu, đến cả bộ dạng quái dị của một thằng trời đánh Chí Phèo, một ả dở hơithị Nở Đọc Nguyên Hồng, nhớ đến cả “hơi thở phả vào mặt ấm áp” từ cáimiệng xinh xinh của mợ Du… đã có những trang viết đặc sắc Còn Tô Hoài miêu tả cô đồng Toản: “Hắn điguốc sơn đen, quai có dấu hoa thị áo the dài, quần lĩnh đen nhánh Đầu chítkhăn lợt, ở một bên mái tóc có giắt một chùm hoa ngâu và mấy cánh hoa

Trang 23

hồng Hắn đội nón kinh, trong lòng nón trang kim hình chim phợng… đã có những trang viết đặc sắc” [30,162].

Hình ảnh của một gã “Khách nợ”: “Lái Khế béo tròn nh quả mít Đầulão bịt một vành khăn tai chó, hai cái răng vểnh nh đôi tai trâu Trẻ con tởnglão mới mọc hai chiếc song bò trên đầu Lái Khế mặc một tấm áo nâu dài dàycộp, chó cắn có thể gẫy răng đợc Ngang lng cuốn một vòng thắt lng điều cũ,rách xơ xác Tay lão ta xách một cây hèo lua tua mấy sợi tơ đỏ” [15, 273]

Qua cách miêu tả ngoại hình nhân vật của Tô Hoài, chúng ta có thể biếtnhân vật thuộc tầng lớp nào, giàu nghèo ra sao, tính cách nh thế nào và có vịthế gì trong xã hội Tô Hoài không cần nói, không cần thuyết minh gì mànhững ấn tợng về nhân vật vẫn đậm nét, sâu sắc Ngoài ra khi tiếp xúc với cácnhân vật ấy, ta còn hình dung ra cách sống của một xã hội và con ngời tiêubiểu của nó Tín điều nghệ thuật mà Tô Hoài tâm niệm và đeo đuổi có lẽ đó làhiện thực tai nghe mắt thấy hàng ngày Bản thân sự sống cứ cựa quậy, vận

Anh biết mình lúc nãy quá tay và quá nóng mà đánh lão Thóc Đánh lão, tấtlão chẳng bao giờ trả nợ mình nữa Anh hối hận thực Anh lại hối hận thêmrằng anh đã chạy ngay về nhà, không mua bán đợc gì Ngày mai mồng mộtTết, chẳng có xôi, chẳng có thịt, chẳng có hơng, chẳng có nến; nghĩa là chẳng

có một thứ gì là Tết, để cúng Vẫn ăn cơm gạo đỏ với sung muối nh thờngngày Ngời đàn bà nhai nhải, ray rứt” [30, 182]

Dờng nh nhà văn bắt nhịp đợc những suy nghĩ của nhân vật, hiểu vàcùng nhân vật chia sẻ Chính vì thế mà Tô Hoài nắm bắt đợc chính xác tâmtrạng của anh Hời khi bà Vạng, mẹ anh mất Anh không khóc chỉ “mếu máo

nh một đứa trẻ”, khi nghĩ đến “Mặt bà mẹ anh đã khuất sau tấm ván gỗ Từnay trở đi là cách biệt đời đời” Nhng khi nghĩ đến tình yêu mà mẹ đã dành

Trang 24

cho con cháu, đến cái hình ảnh thân thơng gần gũi trong cuộc sống khi cómẹ: “Trong đầu anh, rõ rệt nhất là hình ảnh rất gần của bà mẹ: bà mẹ nằmtrên giờng, thò bàn tay gầy nh que ra sờ khắp mình mẩy thằng Kê” thì “anhkhóc ức lên” [30, 216] Những trang văn của Tô Hoài không phải ở đâu cũngtìm đợc các trạng thái tâm lý ngời Phải biết đi dần theo cuộc sống nhân vậtmới chạm đợc suy nghĩ, mới hiểu đợc góc nội tâm của nó Nội tâm nhân vậtTô Hoài có day dứt mà không dữ dội, nó là nội tâm của con ngời trong nhịpsống buồn tẻ hàng ngày, chính nó làm nên sự khác biệt của cây bút này.

Trang 25

Chơng 2

Ngoại ô trong chuyện cũ hà nội

2.1 Không gian trong Chuyện cũ Hà Nội

Theo giáo trình Lý luận văn học, do Phơng Lựu chủ biên: “Không gian

trong văn học cũng có những đặc sắc riêng Không thể tái hiện đời sống màkhông dựng lại địa điểm, nơi nhân vật sống, hành động, hoặc những chân trời

mà nhân vật mơ ớc Văn học không thể cho ngời ta thấy đợc tơng quan giữa

các vật thể trong không gian nh hội họa, điêu khắc” [46, 189] Từ điển thuật

ngữ văn học cho rằng: không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học là một

sự “mô hình hóa các mối liên hệ của bức tranh thế giới nh thời gian, xã hội,

đạo đức, tôn ti, trật tự Không gian nghệ thuật có thể mang tính địa điểm, tínhphân giới - dùng để mô hình hóa các phạm trù thời gian nh bớc đờng đời, con

đờng Không gian nghệ thuật có thể mang tính cản trở, để mô hình hóa cáckiểu tính cách con ngời Không gian nghệ thuật có thể là không có tính cảntrở nh trong cổ tích, làm cho ớc mơ, công lý đợc thực hiện dễ dàng Ngôn ngữcủa không gian nghệ thuật rất đa dạng và phong phú Các cặp phạm trù cao -thấp, xa - gần, rộng- hẹp, cong - thẳng, bên này - bên kia, vững chắc - bậpbềnh, ngay - lệch đều đợc dùng để biểu hiện các phạm vi giá trị, phẩm chấtcủa đời sống xã hội Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúcnội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tợng trng, mà còn cho thấy quanniệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn vănhọc Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng nhnghiên cứu loại hình của các hình tợng nghệ thuật” [62]

Theo Nguyễn Thái Hòa, có bốn loại không gian: Không gian bối cảnh,không gian sự kiện, không gian tâm lý và không gian kể chuyện Phần lớnnhững kiểu không gian này đều có trong sáng tác của Tô Hoài Không gianbối cảnh, đó là môi trờng hoạt động của nhân vật, một địa điểm có tên haykhông có tên, trong đó đủ cả thiên nhiên, xã hội, con ngời Nó là điều kiệncần thiết cho mọi sự kiện, mọi hành động, một phạm vi thế giới không thể

thiếu Một “cái gì đó” xẩy ra không thể không có quan hệ với cái khác ở một

“nơi nào đó” Nếu làng quê là không gian bối cảnh trong sáng tác của Nam

Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan… đã có những trang viết đặc sắc hay vùng thảo nguyên sông Đông

Trang 26

rộng lớn, khoáng đạt trong Sông Đông êm đềm của Sôlôkhốp… đã có những trang viết đặc sắc thì khônggian nghệ thuật trong các sáng tác của Tô Hoài chủ yếu là vùng ven đô bìnhlặng, êm đềm chứ không chao đảo, dữ dội trong những cuộc đấu tranh gia cấp

căng thẳng, sục sôi của vùng quê Đại Hoàng (Nam Cao) hay làng Đông Xá

(Ngô Tất Tố) Trong không gian ấy là cảnh những làng quê đơn sơ, bình dịvới những tiếng khung cửi lách cách, những con ngời lao động miệt mài,những đêm trăng hò hẹn của đôi lứa yêu nhau Tất cả toát lên một vẻ bìnhlặng điển hình cho vùng ven đô mà ta có thể bắt gặp đâu đó ở những vùngngoại thành trên dải đất Việt Nam, nhất là vùng miền Bắc Việt Nam với

những trầm tích văn hóa và lịch sử

Tác phẩm đặc sắc của Tô Hoài trớc 1945 chủ yếu là những truyệnngắn, gồm những truyện ngắn về loài vật, truyện ngắn về cảnh và ngời vùngven đô, quê ngoại cũng là quê sinh ra - ôm trọn cuộc đời tác giả đến mai sau

Nhng Tô Hoài cũng đã sớm thử bút ở truyện dài - đó là Quê ngời và Xóm

giếng ngày xa Truyện dài của Tô Hoài cũng đều cùng đề tài, cùng cảm hứng

và giọng điệu nh truyện ngắn Đấy là việc miêu tả vùng Bởi - ven đô, vàchuyện về những thân phận, những cuộc đời trong cái vùng quê ngoại thành

thuở ấy Từ Quê ngời đến Chuyện cũ Hà Nội có chung một không gian.

Không gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật, là phơngthức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Nếu thế giới nghệ thuật là tr-ờng nhìn mở ra từ một điểm nhìn, cách nhìn thì hầu hết các tác phẩm của TôHoài trớc và sau Cách mạng, nói là viết về Hà Nội, nhng không gian nghệthuật trong tác phẩm của ông chỉ thu hẹp trong phạm vi vùng kẻ Bởi, quê ông

Vì thế, Quê ngời, Nhà nghèo và cả Chuyện cũ Hà Nội đều không nằm ngoài

quỹ đạo này Thông qua cuộc sống hàng ngày, Tô Hoài đã dựng lên bức tranhsinh động về vùng ngoại thành Hà Nội với những phong tục lâu đời, nhữngcảnh đời ngày một lam lũ, bần hàn của ngời nông dân và cuộc sống quẩnquanh, mòn mỏi của lớp thị dân nghèo

Không gian chung trong Chuyện cũ Hà Nội phần lớn là cảnh và ngời

một vùng quê sống bằng nghề canh cửi Các trang văn miêu tả ấy thật sắc nét

và linh hoạt Những niềm vui và nỗi buồn, những nụ cời và giọt nớc mắt cứ

đan xen với nhau làm cho ngời đọc cảm nhận đợc rằng con ngời ở vùng thủcông ven đô này rất nhạy cảm, có phần lãng mạn Họ khác những vùng nôngthôn thuần túy đó là làng quê gắn với nghề cảnh cửi Truyện của Tô Hoài

Trang 27

không hiếm những trang vui và ấm áp Tháng giêng hai hội hè Những đêmhát chèo Những mối tình trai gái của đám thợ cửi khi nghề còn thịnh và cuộcsống còn đang vui Những hẹn hò yêu đơng… đã có những trang viết đặc sắc Nhng nhìn chung vui thì có mànghèo vẫn hoàn nghèo Niềm vui chỉ thoảng qua hoặc chỉ đến nh những cơngió lạ: “Trong sân đình có hội thi cây cảnh Cây cảnh ngời đem về thi treoquanh hiên ngay cạnh các giải thởng: vuông vải điều, bánh pháo, chùm dừa.Những quả hồng, quả na, quả bởi, quả cam bằng sáp nhuộm thật khéo Ngờixem tha thẩn, ngắm nghía Gần đấy, bên góc sân đình, cánh đu tiên tròn xoecao hơn ngọn cây ngọc lan Những ngời đánh đu trai lẫn gái ngồi trong vòngquay bổng lên, trầm xuống nh guồng bè cây suốt Tiếng mây tre trên đu cọvào nhau cót két giữa tiếng cời hát inh ỏi Rạp chèo rung trống lên đền đếnlúc nửa đêm Ngời chen ra chen vào, đông nh nêm cối” [27, 224 - 225]

Cuộc sống đang yên bình, vui vẻ, bỗng cái nghèo ập đến làm thay đổitất cả Đời sống trở nên khó khăn Làng quê không còn cái không khí thanhbình, trong trẻo Cái thiếu thốn, đói rách đè nặng lên mọi cuộc đời, làm chocon ngời đánh mất đi những vẻ đẹp bình dị vốn có: “Không biết đã đến Nga

Mi hay cầu Nảy Tiếng khóc Tiếng rú Một đám cớp, một vụ giết ngời Bình

Đà về Kim Bài, quãng ấy cũng chỉ trống không Hai bên đờng giữa đồngchiêm trũng, làng xóm xa trong chân tre Nỗi lo sợ rợn gáy vì đờng vắng càngkhó hiểu đối với một ngời bây giờ thảnh thơi ngay nh đêm đi qua quãng ấy”[27, 247]

“Rồi đến cầu Nảy Cái tên cầu Nảy càng gợi ghê rợn hơn Xung quanhcầu Nảy đồng nớc phơ phất một cái lều chăn vịt cũng chỉ dám trú chân banngày ở đây

Chiều đến, bọn cớp giật, cớp đói ở đâu đã ra ngồi rình nh một cái gò

ông Đống cạnh đờng” [27, 247]

Điều đáng quý ở đây là Tô Hoài đã miêu tả đợc không khí làng quêtrong những ngày chuyển động xã hội và hớng phát triển chung là ngày càngxích gần đến với Cách mạng Ngời viết muốn chọn một làng quê quen thuộcbình thờng Tô Hoài không muốn tìm đến một hiện tợng đột xuất qua mộtphong trào nổi bật mà ông muốn chọn chính làng quê mình, nơi ông am hiểusâu sắc cuộc sống và con ngời, nơi ông đã từng miêu tả bức tranh chân thựcqua các thời kỳ trớc Cách mạng

Trang 28

2.1.2 Tình cảm của Tô Hoài trớc thực trạng vùng ngoại ô trong

Chuyện cũ Hà Nội

Trải nghiệm từ cuộc sống nghèo khổ của chính bản thân mình - mộtngời tiểu t sản làm đủ mọi nghề để kiếm sống đợc gần gũi với những ngời dânlao động lớp dới, nhng không phải ngay từ đầu Tô Hoài đã đến đợc với chủnghĩa hiện thực Ông có một giai đoạn đấu tranh và lựa chọn đúng đắn là h-ớng ngòi bút của mình về mảnh đất hiện thực để khám phá, phơi bày xã hộiViệt Nam những năm tiền Cách mạng: ngột ngạt, bế tắc, túng quẫn, đóinghèo

Cảm hứng hiện thực làm cho trang văn của Tô Hoài có phong vị riêng,giúp ông tạo dựng đợc nhiều bức tranh chân thực và độc đáo về cuộc sốngnông thôn trớc Cách mạng tháng Tám Làng Nghĩa Đô với những nếp sinhhoạt, là máu thịt, là điểm tựa cho Tô Hoài sống và viết: “Cứ xem những cáihãy còn, làng tôi trong vùng ven con sông cổ chảy quanh các phố xá ra cửa ô,chắc phải chồng chất dấu vết lịch sử Từ thuở đất nớc còn trong truyền thuyết,

Hà Nội là nơi phát tích, trên bến dới thuyền sinh sống sầm uất Tôi cũng chỉbiết đại khái những cái nhìn thấy nh mọi ngời” [27, 175 - 176]

“Qua gốc đa, rồi cái giếng ven đờng, cây ngọc lan trên sân đền cạnhgiếng thơi, những búi hoa đơn đỏ Chỉ vài bớc chân quanh mấy xóm cỏn con,

mà chỗ nào cũng chằng chịt, chồng chất sự tích các đời” [27, 179]

Nét tả chân của Tô Hoài bắt đầu từ việc miêu tả tỉ mỉ nét sinh hoạthàng ngày của con ngời Những nhân vật của ông sống thờng lệ, trong vùngnông thôn, những căn nhà nơi thôn dã, những con đờng làng Tô Hoài đa tấtcả các chi tiết của cuộc sống vào trang sách của mình, vì thế đọc văn của ôngchúng ta có thể tự hình dung và sắp xếp tỉ mỉ những công việc của một gia

đình, những nhu cầu và khả năng của một con ngời Nếu không có tinh thầntrung thành với hiện thực, ý thức về sự thật Tô Hoài không thể chú ý đếnnhững điều đơn điệu, tẻ nhạt, không có gì đặc điệt nh thế Trong sáng tác trớcCách mạng của Tô Hoài, cảm hứng hiện thực và cảm hứng nhân đạo lồng vàonhau, không thể tách rời: “Dẫu ai đi tàu điện có tò mò để ý cũng không thểnhớ lâu đợc ngời nào Những ngời ăn mày mòn mỏi chết nh ma biến Ngờinào cũng chỉ thấp thoáng chỗ ấy một vài lần… đã có những trang viết đặc sắc Con cá nó sống Lạy ông đi … qua, lạy bà đi lại… Nghe giọng khác mọi khi, những ngời cầm rá, cái ống bơ,

thì vẫn chỗ ấy Không phải ngời ăn mày hôm qua Ngời ăn mày hôm qua chếtrồi, ngời ăn xin mới đến này vẫn lạy van một câu nh thế” [27, 80]

Trang 29

Viết về hiện thực xã hội Việt Nam trớc Cách mạng không phải là điềumới mẻ, viết về những ngời dân quê nghèo đói cũng đã có rất nhiều nhà vănquan tâm Nhng Tô Hoài khác các nhà văn ở chỗ ông không hề né tránh hiệnthực, mà ông đem đến tất cả cái “ngồn ngộn” của cuộc sống phơi bày cho ng-

ời đọc một cách tự nhiên, nên hiện thực mà ông đã nêu rất gần gũi thân quen

Nó thủ thỉ nh chính bản thân cuộc sống cựa quậy Đặc biệt, Tô Hoài nhạy bénhơn ai hết, sự chuyển mình của xã hội Việt Nam, từ chế độ phong kiến sangchế độ thực dân nửa phong kiến với hiện tợng đô thị hóa và sự ra đời của kinh

tế công nghiệp t bản chủ nghĩa: “ở làng tôi xa nay đã nhiều ngời đi phu mộNam Kỳ, Cao Miên, đi Tân Thế Giới - các đảo thuộc địa Pháp ở châu Đại D-

ơng và Nam Mỹ Mỗi phen hàng họ nghề giấy, nghề lụa ế ẩm, ngời ta bỏ làng

đi là thờng Từ đời các cụ đã thế Đến nh khi tôi biết, rải rác lâu lâu lại có

ng-ời đi Lắm ngng-ời đi nhất ấy là năm đói kém, từ quãng 1940 đổ về sau” [27,307]

Cuộc sống đô thị làm đảo lộn văn hóa đời sống của làng quê, biết bao

sự đổi thay Viết về hiện tợng này, Tô Hoài đã dũng cảm nhìn vào sự thật đểthấy đợc không khí oi bức, ngột ngạt của xã hội đang quằn quại để lột xácchuyển mình thay đổi Biết bao con ngời, biết bao số phận đợc Tô Hoài khắchọa một cách cụ thể Các cô gái làng không nguyên vẹn nếp xa, bị ảnh hởngvăn minh thị thành Những trai làng nghèo nay thất thế trớc các chàng trai ởtỉnh về: “Ngoài Kẻ Chợ có cô Ba Tý và cô T Hồng, hai cô ngời nhà quê ra

đánh đĩ lấy Tây, bòn rút đợc nhiều của lắm Ông cố Hồng, cố đạo bên Tây cótên An Nam, ông cố Hồng mê cô T Cô T sai ông cố đem áo thong trả nhà thờthì cô mới lấy Đến khi cố Hồng bỏ đạo về bên đời lấy vợ, thì ngời gái nạdòng kia khi thành tên T Hồng rồi lại cho rơi luôn ông cố giả cày, cô cớp của

Vũ Cô Ba Tý đi khuôn của Tây, Tàu khắp thiên hạ còn hơn thế Làm gái đĩbợm nặc nô thời này có ghê không” [28, 280]

“ở làng tôi, đã có ngời đi phu cao su rồi mất tích Có ngời hết hạn công

ta, xuống Sài Gòn làm ăn, chẳng mấy ngời trở về Nhng cũng có những ngờivẫn xoay xỏa đợc trong cảnh khốn khó ấy Ngời ngoại ô thờng ranh ma giỏibắt chớc, xoay xỏa” [27, 310]

Tô Hoài quan tâm tới những mảnh nhỏ, vụn vặt của từng gia đình, từngcảnh đời tan tác của làng quê, nằm trong mạch sống chung của cuộc sống

Ông từng tâm sự “Xa nay tôi chỉ quen những gì vụn vặt nhem nhọ Đây

Trang 30

không có chuyện tôi cũng chẳng có chuyện đời, mà chỉ có một mạch sốngchung” Quan niệm ấy làm cho làng Nghĩa Đô, con ngời Nghĩa Đô trở nênsinh động, mặn mòi hơn trên trang viết của ông.

Khi miêu tả những ngời nghèo, dù đây là nông dân hay trí thức, TôHoài đều làm rõ tình cảm đối với họ, cảm thông với sự nghèo khổ, lạc hậu,thiệt thòi của họ Đó là sự cảm thông của một ngời cùng chung sống và chia

sẻ với họ Ta thấy đây là điều Tô Hoài gần gũi với Nguyên Hồng Mọi chuyện

ùa vào trong văn của ông tự nhiên, nhẹ nhàng, thấm thía mà xót xa Ôngkhông nghiêm trọng hóa, kịch liệt hóa mà vẫn thấm đẫm chất hiện thực củacuộc sống con ngời và xã hội Tô Hoài viết với một bút pháp hiện thựcnghiêm ngặt nhng ta cũng nhận thấy trong sáng tác đầu tay của ông có sự gắnliền giữa hiện thực và lãng mạn trữ tình thơ mộng, vừa khinh bạc vừa yêu th-

ơng Ông bắt ngời ta cời cái đáng ra phải khóc, cái cời đời trông thấy và cáikhóc đời trông thấy Đó là tiếng cời và tiếng khóc của một tâm hồn phẫn uất,yêu thơng nhng bế tắc và cũng là nỗi lòng xót thơng, nuối tiếc: “Chẳng ngửithấy hơng đèn và mùi xôi gà nh những ngày sóc, ngày vọng Mới ủ ê làm sao!Sáng sớm, chập tối, các đầu xóm cuối xóm mõ rao ơi ới Vụ thuế chỉ sát phạttrong vòng nửa tháng Càng đến ngày cuối càng rợn gáy, xôn xao Chốc chốc,một trai tuần dẫn ở xóm dới lên một ngời bị trói giật khuỷu, mặt sng húp”[27, 133]

“Rồi vụ su thuế qua, tất cả cũng qua đi Mùa vải, cái nắng cũng lâymàu quả vải chín đỏ chót Con tu hú vẫn kêu rạc ngời Buổi chiều, ngồi hóngmát cửa đình, thấy tàn đốt rừng phía núi Ba Vì bay về từng mảng nh lá bàngrơi” [27, 113]

Vốn là ngời trân trọng sự thật, ngòi bút của Tô Hoài đã phơi bày tất cảnhững mặt xấu, mặt tốt của con ngời Những cái nhếch nhác, túng quẫn, trìtrệ của những ngời thợ thủ công, ngời trí thức nghèo… đã có những trang viết đặc sắc đều đợc tác giả viết ra.Nhng ông không hề thi vị hay lý tởng hóa một cách cực đoan phiến diện, màviết về họ, ông muốn chia sẻ những nỗi buồn, niềm vui của ngời dân lao độngnghèo khổ nói chung, ngời dân vùng ngoại ô Hà Nội nói riêng: “Các cô đầu r-

ợu, đêm tiếp khách, ban ngày ra đồng cấy gặt Những con ngời khốn khổ ấycũng thờng bỏ hầu hạ ở nhà hát, trở về làng, đi phu cao su Nam Kỳ, đi TânThế Giới Ngời nào đợc khách làng chơi cho tiền chuộc ra, theo về làm ngời ởcon hầu trong nhà, ngỡ nh thoát chết đuối” [27, 244]

Trang 31

Bên cạnh đó Tô Hoài nhìn thấy vẻ đẹp của tâm hồn, phẩm cách của họ.Không chỉ nâng niu, mà tác giả còn cảm phục tinh thần dũng cảm, đức hi sinhcủa những ngời dân nghèo Điều đáng quý ở Tô Hoài không yêu thơng họbằng lời nói suông, mà yêu thơng gắn với hành động Ông băn khoăn đi tìmlối thoát của ngời dân, ông sẵn sàng đấu tranh cho cuộc sống của họ: “Nhngthanh niên làng tôi có phong trào chống thuế Nói đúng hơn, chống bất công

và các trò bịp trong việc đóng thuế thân” [27, 136]

“Cái tởng không bao giờ có, tôi đã thấy, ấy là những ngày cuối năm

1946, Mặt trận Hà Nội đã lan ra đến Thanh Xuân Ba La Bông Đỏ ngày đêmtrực chiến Tự vệ ra thị xã gác tận ngoài bến tàu điện, bên kia cầu, nấp vào lngtoa tàu lật chắn ngang đờng Trông thấy Tây quần áo vàng lố nhố đằng PhùngKhoan, quán Bún Trong đội tự vệ ấy có những chị em cô đầu rợu hôm qua.Các cô gánh cơm tiếp tế, cứu thơng tải thơng, đi liên lạc” [27, 244]

Trong tác phẩm của mình, Tô Hoài không trực tiếp bóc trần mâu thuẫngiai cấp đối kháng trong xã hội, nhng ông gián tiếp phê phán với thái độ nhìnthẳng vào hiện thực để khơi nguồn ớc mơ Tô Hoài khai thác triệt để cái thiênhớng tiềm ẩn trong mỗi con ngời Viết về cuộc sống ở nông thôn, Tô Hoàikhông thi vị hóa cảnh vật và con ngời, tuy làng quê trong tác phẩm của ông

có nhiều nét thi vị Đó là những ngày vui trong cảnh hội hè ở nông thôn,những phong tục tập quán đẹp, đã gắn bó con ngời từ bao đời, rồi phong cảnhnên thơ trữ tình của làng quê, những ớc mơ, khát vọng của tuổi trẻ lớn lên,niềm an ủi của ngời già trong cảnh sống đầm ấm gia đình Tất cả những niềmvui ấy cộng lại cũng thật là bé nhỏ so sánh với bất hạnh và đắng cay mà ngờinông dân phải chịu đựng Truyện của Tô Hoài luôn khai thác ở mạch chìmsâu của cuộc đời nơi bóng tối đang còn đè nặng

2.2 Con ngời trong Chuyện cũ Hà Nội

2.2.1 Một số vấn đề quan niệm nghệ thuật về con ngời và con ngời trong tác phẩm văn học

“Văn học là nhân học” (M.Gorki), là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện conngời Trong các yếu tố thể hiện đặc sắc của văn học, thì con ngời là yếu tốquan trọng và có ý nghĩa hơn cả, bởi con ngời vừa là đối tợng nhận thức chủyếu của văn học, vừa là cái đích để văn học hớng tới Dù có miêu tả thần linh,

ma quỷ, miêu tả đồ vật hay nhân vật thì văn học đều thể hiện con ngời Conngời trong tác phẩm không phải bê nguyên xi từ cuộc sống đời thực mà quasáng tạo, nhào nặn của nhà văn thể hiện t tởng quan điểm của ngời nghệ sĩ

Trang 32

Quan niệm nghệ thuật về con ngời thể hiện cái nhìn nghệ thuật của nhàvăn đối với thế giới và con ngời ở đây khác với “cái nhìn khoa học”, thế giới

và con ngời dựa trên sự cảm thụ cá nhân, để thoả mãn nhu cầu nhận thức thẩm mỹ cho cá nhân Vì thế, nó cắt nghĩa, lý giải con ngời theo phơng diệnchủ quan (nhng vẫn không tách rời khách quan), cho nên quan niệm nghệthuật về con ngời làm nên vẻ độc đáo của nhà văn và nó còn chi phối đến cáckhía cạnh khác của nội dung và hình thức tác phẩm Thi pháp học cho rằng:

-“Quan niệm nghệ thuật về con ngời là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy conngời đã đợc hoá thân thành các nguyên tắc, phơng diện, biện pháp thể hiệncon ngời trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình t -ợng nhân vật trong đó” [61]

Nh vậy, quan niệm nghệ thuật về con chính là sự lý giải, khám phá conngời, thể hiện cái nhìn, cách cảm thụ của nhà văn về con ngời, những nhận

thành các nguyên tắc, phơng tiện, biện pháp thể hiện con ngời trong vănhọc, nó phải tạo nên giá trị nghệ thuật thẩm mĩ cho nhân vật Quan niệm nghệthuật về con ngời là hạt nhân trong quan niệm nghệ thuật của nhà văn, bởi vìnhà văn dù miêu tả khía cạnh nào của thế giới thì cuối cùng cũng nói đến conngời và quan niệm nghệ thuật về con ngời chính là “Nguyên tắc cắt nghĩa thếgiới và con ngời vốn có của một hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khảnăng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đấy” [62, 184]

Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con ngời đợc nhà văn thể hiện qua

điểm nhìn trần thuật, qua chủ thể cảm nhận đời sống, qua các biến cố mà tácphẩm cung cấp, qua cách xử lý các biến cố và quan hệ nhân vật và trực tiếpnhất là qua các kiểu nhân vật

Mỗi thời đại, mỗi loại hình văn học, mỗi trào lu, mỗi một nhà văn cómột quan niệm riêng về con ngời, tùy thuộc vào đặc điểm thời đại, lập trờngchính trị, giai cấp, cá tính của mỗi ngời Quan niệm ấy “là yếu tố cơ bản, thenchốt nhất của một chỉnh thể nghệ thuật, chi phối toàn bộ tính độc đáo củachỉnh thể ấy” [61, 59] Nhà văn trung đại do chịu ảnh hởng của mô hình vũtrụ “thiên địa nhân” hoặc “thiên nhân tơng cảm”, cho nên con ngời đợc quanniệm là một cá thể vũ trụ, in đậm dấu ấn vũ trụ, thiên nhiên Con ngời trongtiểu thuyết Tự lực văn đoàn là con ngời đại diện cho giai cấp t sản đang đi tìm

sự giải phóng cá nhân trong khuôn khổ xã hội thuộc địa, “Đó là con ngời cánhân và xung đột với gia đình truyền trống, với khát vọng tìm lối thoát cho

Trang 33

tình yêu, thế giới nội tâm, thậm chí muốn thoát ly mọi quan hệ xã hội thỏamãn tự do bản năng” [61, 57] Văn học hiện thực phê phán “nhìn xã hội trongquan hệ với số phận ứng xử cá nhân Hoàn cảnh là đối tợng quan tâm chínhcủa nó nhng con ngời là điểm tựa để nhìn vào hoàn cảnh Văn học hiện thựcxem con ngời là sản phẩm của hoàn cảnh Mổ xẻ con ngời là khám phá tác

động của hoàn cảnh lên con ngời Đó là quan niệm mới về con ngời” [61, 58].Nếu nh Nguyễn Công Hoan quan niệm cuộc đời là một sân khấu hài kịch,mỗi con ngời là một vai diễn trên sân khấu ấy thì con ngời trong sáng tác của

Vũ Trọng Phụng là con ngời “vô nghĩa lý”, con ngời trong sáng tác của NamCao là con ngời tha hóa… đã có những trang viết đặc sắc Sự khác nhau trong quan niệm nghệ thuật của cáctác giả đã tạo nên những phong cách sáng tác đa dạng cho văn học Tô Hoài

là một nhà văn có phong cách riêng Con ngời trong tác phẩm của Tô Hoài

đ-ợc thể hiện bằng cái nhìn riêng của ngời nghệ sĩ với trái tim nồng hậu, cặpmắt tinh tế và một kinh nghiệm dày dặn

2.2.2 Con ngời trong sáng tác của Tô Hoài

Tô Hoài đã nhiều lần khẳng định cái chức năng của ngời cầm bút,không muốn tô điểm, ông cũng không muốn lấy mình làm trung tâm để khơinguồn cho trang viết Cá nhân mỗi ngời trớc dòng đời chung đã trở nên hạnchế nghèo nàn Tô Hoài muốn quan tâm tới những mảnh đời, những mảnhvụn của từng gia đình, những cảnh đời đang nằm trong mạch máu chung củacuộc sống Quan niệm ấy tránh cho trang viết khỏi rơi vào chủ nghĩa tự nhiên

Ông muốn khám phá bề sâu của hiện thực với những quy luật riêng của nó

Con ngời trong sáng tác của Tô Hoài trớc Cách mạng thờng là mẫu

ng-ời cần cù chất phác, sống một đng-ời sống yên ổn, song rốt cuộc không thể tránh

đợc những hệ lụy đến từ nguyên nhân xã hội, trong đó đặc biệt là kinh tế Dothất nghiệp, đời sống trở nên khó khăn, sự thiếu thốn, đói rách đã đè nặng lênmọi cuộc đời, nhân cách xã hội bị đe dọa Nhiều gia đình trớc kia vốn đầm

ấm trong cảnh vợ chồng, con cái nay trở nên nặng nề Các tệ nạn xã hội pháttriển, con ngời hầu nh không cần giữ gìn nữa mà sống buông thả Những nềnếp và phong tục tập quán lâu đời dần bị vi phạm, từ đó con ngời chìm trongcảnh tàn tạ, chia lìa và đói nghèo Con ngời phải vật vã để đứng vững haykhông đứng vững trớc sự xô đẩy, may rủi của cuộc đời

Con ngời trong sáng tác của Tô Hoài trớc Cách mạng đang dần có sự

đổi thay Cái vùng quê trong văn Tô Hoài gần với Kẻ Chợ, chỉ một chuyến tàu

Trang 34

điện là lọt vào quầng sáng của thị thành, vào trong sự nhộn nhịp ăn chơi, muabán, vì thế con ngời cũng ảnh hởng cuộc sống đô thị, họ nhạy cảm với cáimới và thị hiếu mới Chỉ cần một lần lên tỉnh là có những suy nghĩ khác vềcái mới, trang phục, ăn mặc của ngời phụ nữ.

Tô Hoài là một con ngời có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế Từ cuộc sốngkhó khăn của bản thân, ông luôn ghé sát tâm hồn mình, để lắng nghe từngnhịp đập cũng nh những khao khát, suy nghĩ hành động của ngời dân lao

động nghèo Đọc những trang viết của ông ngời đọc không khỏi băn khoăn,xót xa, thơng cảm Những con ngời ấy có những ớc mơ đẹp đẽ, nhng hiệnthực tàn nhẫn đã đẩy họ đến bi kịch cuộc đời Trong khi các nhà văn lãngmạn hớng ngòi bút của mình vào những thế giới ảo mộng, hởng lạc, rời xacuộc sống hiện thực thì Tô Hoài lại hớng ngòi bút của mình vào mảnh đấthiện thực cày xới và tìm kiếm hạt ngọc “ẩn sâu” trong nó

Con ngời trong sáng tác của Tô Hoài là những con ngời ven đô, nhữngcon ngời đang ngấm dần sự đổi thay, cuộc sống và tâm hồn đang tàn lụi dần.Viết về họ, Tô Hoài không dửng dng mà trái lại ông đã thể hiện bằng tất cảnỗi niềm và ớc mơ của mình Qua cách miêu tả, xây dựng nhân vật, ta thấymột Tô Hoài đang trăn trở trớc những đổi thay của cuộc sống, một Tô Hoài

đang cố hết sức mình gần gũi và bảo vệ những nét phong tục truyền thống củadân tộc, của quê hơng Trong sáng tác của mình, ông rất coi trọng sự chânthực, nên ông không né tránh hiện thực mà trái lại, ông đem vào tất cả nhữnggì nhỏ nhặt nhất của cuộc sống con ngời, khám phá, tìm hiểu và cảm thông,chia sẻ với niềm vui, nỗi buồn của họ

2.2.2.1 Tình cảnh, số phận của những ngời thợ thủ công

Xuất thân trong một gia đình nghèo làm nghề thủ công - dệt lụa, ở mộtvùng ven thành Nghĩa Đô đang có biết bao biến động đổi thay Hơn nữa bảnthân Tô Hoài trớc khi trở thành nhà văn, là một ngời thợ dệt, nên ông rất amhiểu và thấm thía số phận và cuộc đời của ngời thợ thủ công Lúc Tô Hoài

đến với văn chơng là lúc xã hội Việt Nam đang ngột ngạt, chao đảo, bế tắc,các giai cấp bị phân hóa dữ dội, đời sống của những ngời thợ thủ công bị đedọa hơn bao giờ hết

Viết về ngời thợ thủ công ở thời kì cùng quẫn bế tắc này, Tô Hoàikhông dừng lại ở hiện tợng bề mặt, mà ông cố gắng đi sâu vào bản chất sựviệc, bày tỏ thái độ đồng cảm, xót thơng đối với những ngời thợ thủ công TôHoài không nhìn họ với con mắt giễu cợt, khinh bỉ, cũng không thi vị hóa, lý

Trang 35

tởng hóa mà tập trung miêu tả quá trình bần cùng hóa của ngời thợ thủ công:

“Việc ở đâu, cái gì Tây cũng làm cả và từ bên Tây đem sang Tây moi hếttiền Cái nắp cống gang, ống nớc bằng chì, lọ thủy tinh đựng thuốc, mảnh sắtxanh đề số nhà, tên phố đều làm ở Pháp, có tàu thủy tải sang Cột đèn tròn,cột dây điện vuông ở góc phố, cũng đúc tân bên ấy Các hãng Tây buôn bánphát tài bán đợc nhiều thứ cho thuộc địa Cả đến hòn gạch, hòn ngói cũng

đóng ở lò gạch bên Mác - xây” [27, 43 - 44] Qua đó, ông muốn chỉ rõ chongời đọc thấy sự chuyển mình của xã hội Việt Nam, từ chế độ phong kiếnsang chế độ thực dân nửa phong kiến, với hiện tợng đô thị hóa và sự ra đờicủa kinh tế công nghiệp t bản chủ nghĩa Sinh hoạt của những con ngời nàykhó khăn hơn, thóc cao gạo kém, công việc sản xuất bị đình đốn, kỹ thuật lạchậu, cái đói, cái khổ ập đến, nghề se tơ dệt lụa, làm giấy bị phá sản, hiện tợngthất nghiệp, ngời dân rời bỏ làng quê để tìm chỗ làm ăn, nếu bám trụ ở làngthì cũng sống dở, chết dở: “Chỉ tháng trớc, tháng sau, những lớp học truyềnbá chữ quốc ngữ buổi tối, đã vãn hẳn Học trò “truyền bá” toàn thợ seo, thợcửi đói gầy rạc đã bỏ đi đâu hay chết đâu” [27, 66]

“Rồi cả nhà anh Bủng bỏ đi lang thang Tôi vẫn nhớ cái cổ cò lộ hầu,

đôi mắt tinh nhanh khi anh nói, khác hai con mắt anh lờ đờ những ngày đói,giữa năm phong trào cứu quốc sôi sục, quyết liệt, trong nạn đói rồi cách mạngthành công, cũng không ai gặp anh Chắc anh Bủng đã chết lâu rồi” [27, 70]

Khi viết về ngời thợ thủ công, Tô Hoài thờng đặt trong bối cảnh nhữngnăm 1940 - 1945 Đó là một thời kỳ đen tối của đất nớc, đã để lại dấu ấn sâu

đậm trong trong tác phẩm của ông Viết về đời sống khó khăn, thiếu thốn vềvật chất, khủng hoảng về tinh thần, con ngời phải vật lộn để kiếm sống trongcảnh đói nghèo cũng là đề tài quen thuộc của các nhà văn hiện thực Ta thấytrong sáng tác của Tô Hoài, cái đói, cái nghèo nh một sức mạnh vô hình, thắtchặt lấy ngời thợ thủ công: “Xảy nạn đói đến, ác liệt quá Hiền phải lê lakiếm miếng trên chợ, trông đã tã lắm, ngụp đến nơi rồi Hiền không ngồi mộtchỗ, đầu rũ xuống, thở khừ khừ nh con mèo ốm Khó lòng nhận ra đấy là thằngHiền mọi khi quảy nớc tàu seo chạy huỳnh huỵch” [27, 70]

Nếu nh Ngô Tất Tố, Nam Cao viết về ngời nông dân bị dồn đuổi đếnchân tờng, thì Tô Hoài tập trung miêu tả số phận cuộc đời của ngời thợ thủcông dần đi đến phá sản Hơn nữa, ông cũng không đi vào xung đột căng

thẳng đối lập giai cấp nh trong Tắt Đèn (Ngô Tất Tố), Chí Phèo (Nam Cao)

mà Tô Hoài chủ yếu đi vào những mảnh đời cụ thể và chỉ lấy ra một chặng

Trang 36

đ-ờng ngắn của nhân vật để miêu tả Khai thác một cách triệt để “cái hàngngày” từ đó vơn tới phản ánh cho đợc cái bản chất, cái có tính quy luật, mangtính phổ biến đời sống của ngời thợ thủ công Miêu tả quá trình phá sản củangời thợ thủ công, Tô Hoài lí giải đến ngọn nguồn của sự phá sản ấy Lúc đầu

họ sống bình dị, quay tơ dệt cửi, chạy chợ… đã có những trang viết đặc sắc để kiếm sống, gặp buổi thuậnthời làng quê vang lên tiếng dệt cửi đến khuya, phiên chợ đông vui, kẻ muangời bán, hội làng nhộn nhịp trong những ngày xuân: “Mỗi tàu seo đôi seo baphải hai ngời kéo tàu Chỉ ở dới Cót làm giấy hẩm tàu seo thì một ngời kéo.Gió thổi buốt tê Vẫn những ngời cởi trần, tay cầm chiếc đòn seo khoắng dàitrong lòng tàu tiếng đánh nớc xì xoẹt, xì xoẹt nhấp nhô, đều đều Khắp nơivang động, tiếng kéo tàu đánh nớc thế cho đến sáng” [27, 108] Hay “Nhữnglàng tơ cửi dới Nghĩa Đô, buổi sáng lặng lẽ hơn các làng trên làm giấy, mặcdầu các nhà vẫn biết ngày phiên, thợ vào khung cửi từ lúc sao mai còn lónglánh Sớm hơn cả chú Sồi xóm Ao Đình dậy mổ lợn Tiếng khổ dựt thoi đều

đều làm rốn cuốn cửi nữa rồi mới kịp đổ hàng Cho đi chợ thêm đợc thớc lụa”[27, 111]

Nhng rồi cuộc sống của họ không phải lúc nào cũng bình yên, ổn địnhlàm ăn, mà rơi vào cảnh chia lìa tan tác: “Cái Lợi đã lấy chồng Gặp cơn tao

đói, vợ chồng còn son mà không ai cu nổi ai, đành mỗi ngời kiếm ăn một nơi.Lợi lại trở về nhà bác Khán Lúc mới về còn có khi lên đứng đón seo đầu làng

Đông, làng Thọ Nhng rồi đợi cả buổi cũng không ma nào đến giam cho đồng

xu hẹn vào tàu hôm ấy Không có gì ăn, ngời nhợt nhạt, bủng beo ra Đôi khibác Khán tạt về nhà Bố con trông thấy nhau, rơi nớc mắt, ngoảnh đi” [27,68]

“Cuộc sống trong làng dạo này còn còm cõi hơn khi trớc Điều ở nhà.Bớc vào năm 1943, đói to đến nơi

Điều nói:

- Tớ lại đi đây

Anh em bảo:

- Nghĩ cách khác hơn không? Khổ chết ngời, còn đi phu cao su làm gì!

- Tớ chỉ nhờ cái vé tàu của Sở mộ vào thôi, còn sau đi đâu thì tùy”[27, 310]

Chuyện cũ Hà Nội tiêu biểu cho việc miêu tả số phận của những ngời

thợ thủ công và thâu tóm đợc khá điển hình khung cảnh xã hội, cuộc sống của

Trang 37

những ngời thợ dệt, thợ giấy những năm tiền Cách mạng Cha bao giờ ngờithợ thủ công bị đặt vào hoàn cảnh bi đát tối tăm nh vậy Tình cảnh đói khổ,thất nghiệp nh một cái lới vây bủa không trừ một gia đình nào Tác giả đãmiêu tả số phận cuộc đời những con ngời này thật thảm hại, nh gia đình bácKhán, anh Bủng, dì T, anh Điều… đã có những trang viết đặc sắc Mỗi gia đình một hoàn cảnh sống khácnhau, nhng cái chung là sự bế tắc giẫy giụa tự tìm lối thoát: “Anh hai Bủngthợ mũ hoạt động ái hữu hồi bình dân chết đói rồi chết đờng Anh Bủng con

ông đôi Ngôn ở xóm Trẽ Làm thợ thủ công ở ngoài phố, sớm tối đi về Vợanh ngày ngày quảy gánh trầu vỏ lên chợ Cứ trông cơ ngơi nhà anh, khi Tết

đến mà trên ngời anh và thằng con chỉ đợc cái mũ lộn lợp lại, đủ biết nhà anhthế nào” [27, 68]

“Cả dạo đói, dì T ăn khô dầu Khô dầu nuốt vào trơng bụng lên, đã vàihôm, bụng vẫn ành ạch” [27, 69] Tình cảnh đói nghèo, hàng thì ế ẩm, sảnphẩm làm ra không bán đợc khiến cho nhiều gia đình phá sản, tan tác chia lìa

“Bác Khán Lợi dỡ nhà bán dần, đêm ra nằm hiên trờng học” [27, 73]

Tình cảnh túng thiếu, thất nghiệp khiến ngời thợ thủ công phải xoaychuyển đủ nghề để kiếm sống, thậm chí họ hi sinh bản thân mình để cứu vớtgia đình: “Bên làng Mai còn nhiều nhà rợu lậu, có những ngời đã quen đi ở tùthay ngời bị bắt rợu nh thế Tù mấy ngày, mấy tháng, đã có giá hẳn hoi Cóngời ngồi tù thuê đến mời tám, hai mơi tháng Chủ rợu ở nhà phải nuôi vợcon, lại đóng thuế thân cho ngời ở tù thay đến hai năm Thôi thì đằng nàocũng vậy, ngời khôn của khó, ở nhà cũng phải mửa mật mới kiếm nổi miếng”[27, 25] Có ngời lại tìm đến nghề khác, nói là nghề thì không phải nhng dẫusao họ cũng sống đợc qua ngày: “Một buổi sáng chánh hội Nên thấy có mấyngời làng, những ngời đói dở, đến báo rằng ở đờng Thành địa phận làng ta cóngời chết đói ở nơi khác, chính những ngời này đã khiêng về đấy rồi đi báolàng để lấy tiền chôn - có khi lấy tiền rồi không chôn mà lại vứt cá xác sanglàng khác” [27, 73]

Thất nghiệp, đói nghèo họ rơi vào hoàn cảnh bi đát nhiều khi đánh mấtnhân cách, họ không cần giữ gìn nữa, nề nếp phong tục bị vi phạm: “Mọinăm, cứ giao thừa về tao lại cộp một con chó chạy sợ pháo, cũng là thêm thắtcho cái tết Nhng mà bây giờ thời buổi khó khăn Vô phúc mà gặp đứa đi rình

nó choảng vỡ đầu thằng đánh chó trộm” [27, 304]

Trang 38

Đời sống khó khăn, cái thiếu thốn, đói rách đang đè nặng, tệ nạn xã hộigia tăng, không khí của làng quê trở nên nặng nề: “Tháng củ mật! Tháng củmật! Đầu làng cuối xóm chợ, những trộm vặt, ăn cắp lẫn nhau, xó xỉnh nàocũng om ỏm tiếng cãi cọ, đòi nợ, chạy nợ Chặp tối, tiếng trống, tiếng mõ,tiếng tù và đầu đồng cuối đồng, nửa đêm trống ngũ liên thúc rùng rợn Lại có

đám cớp về làng nào” [28, 269]

“Đêm ngoài kia, ma dầm rả rích, tiếng giọt gianh hay tiếng nớc trên tàuchuối Nhà nhà rào chuồng lợn, gà qué thì cho vào bu bỏ trong chuồng, đóngchặt then cửa, nêm đóng thật chắc Suốt đêm thấp thỏm Chợt rùng mình đếnlạnh gáy, khi nghe trong bóng tối, tiếng tù và, tiếng trống ngũ liên, tiếng kêuthất thanh: ối làng nớc ơi! Cớp! Cớp! Có khi ánh lửa lấp ló vào cả khe vách

Kẻ cớp đang bật hồng làm đuốc soi đờng kéo vào phá cổng nhà ai trong ngõkia… đã có những trang viết đặc sắc” [27, 214]

Cha bao giờ ngời thợ thủ công bị đặt vào trong hoàn cảnh bi đát tối tăm

nh vậy Chỉ ra quá trình bần cùng hóa của ngời thợ thủ công do ảnh hởng củanền kinh tế t bản, là một đóng góp mới mẻ của Tô Hoài Đây là điểm làm nên

sự khác biệt giữa Tô Hoài và các cây bút hiện thực khác Từ hiện thực củamột làng quê ven thành Hà Nội, Tô Hoài đã khái quát và mở rộng ra thựctrạng của ngời thợ thủ công Việt Nam những năm tiền Cách mạng ở tiểu

thuyết Mời năm, Tô Hoài cũng đã viết về cuộc sống của ngời thợ thủ công ở

đây ông nhìn thấy phẩm chất đáng quý, đẹp đẽ của ngời thợ thủ công Đó làsức mạnh và tinh thần đấu tranh cách mạng của họ Lúc này Tô Hoài đã nhìnngời thợ thủ công với một quan niệm mới, có ý nghĩa tiến bộ hơn Vì thế,

cùng trên một mảng đề tài cũ nhng trong Chuyện cũ Hà Nội đã tái hiện đầy

đủ hơn cuộc sống của ngời thợ thủ công

Đặt ra vấn đề ngời thợ thủ công và viết về họ với tấm lòng cảm thông,chia sẻ, thấu hiểu những nỗi khó khăn, vui buồn của họ là một sự cố gắng

đáng ghi nhận ở Tô Hoài Gấp những trang sách của Tô Hoài lại, ngời đọckhông khỏi nhức nhối, ám ảnh về số phận và cuộc đời của ngời thợ thủ côngnhững năm tiền cách mạng Đồng thời, ta thấy đợc sự tan rã của từng gia

đình, sự tàn lụi dần của những ngời thợ thủ công ở một vùng quê mù xám vàbất an Đó là hệ quả tất yếu và tự nhiên của số phận những ngời dân ở một n-

ớc thuộc địa Qua đó ta hiểu hơn, cảm thông hơn với số phận và cuộc đời củanhững con ngời những năm trớc Cách mạng tháng Tám

Ngày đăng: 20/12/2013, 18:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh (1997), “Tô Hoài, nhà văn viết về Hà Nội đặc sắc và phong phú”, Báo Văn hóa - Văn nghệ Công an (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài, nhà văn viết về Hà Nội đặc sắc và phong phú”, Báo "Văn hóa - Văn nghệ Công an
Tác giả: Hoài Anh
Năm: 1997
2. Vũ Tuấn Anh, Bích Thu (chủ biên, 2006), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
3. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
4. Nam Cao (2005), Tuyển tập Nam Cao, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nam Cao
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2005
5. Phan Cự Đệ (1971), Cuộc sống và tiếng nói nghệ thuật, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống và tiếng nói nghệ thuật
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1971
6. Phan Cự Đệ (1982), Tác phẩm và chân dung, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm và chân dung
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1982
7. Phan Cự Đệ (2001), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
8. Phan Cự Đệ (chủ biên, 2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. Phan Cự Đệ (2007), “Tô Hoài - Nhà văn Việt Nam hiện đại”, Tô Hoài về tác gia tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài - Nhà văn Việt Nam hiện đại”, "Tô Hoài về tác gia tác phẩm
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
10. Nguyễn Đăng Điệp (2004), “Tô Hoài, ngời sinh ra để viết”, Tạp chí Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài, ngời sinh ra để viết”, Tạp chí" Văn học
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2004
11. Lơng Xuân Đoàn, Lê Xuân Sơn (1993), “Nhà văn Tô Hoài”, Tạp chí Kiến thức ngày nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Tô Hoài”, Tạp chí
Tác giả: Lơng Xuân Đoàn, Lê Xuân Sơn
Năm: 1993
12. Hà Minh Đức (chủ biên, 1994), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Nhà XB: Nxb Văn học
13. Hà Minh Đức (2007), “Lời giới thiệu - Tuyển tập Tô Hoài”, Tô Hoài về tác gia tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời giới thiệu - Tuyển tập Tô Hoài”," Tô Hoài về tác gia tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
14. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, Hà Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
15. Tô Hoài (1942), Nhà nghèo, Nxb Tân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nghèo
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Tân dân
Năm: 1942
16. Tô Hoài (1943), Xóm giếng ngày xa, Nxb Tân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xóm giếng ngày xa
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Tân dân
Năm: 1943
17. Tô Hoài (1972), Ngời ven thành, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngời ven thành
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1972
18. Tô Hoài (1980), Những ngõ phố, ngời đờng phố, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ngõ phố, ngời đờng phố
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1980
19. Tô Hoài (1982), Giăng thề, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giăng thề
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1982
20. Tô Hoài (1985), Tự truyện, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự truyện
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1985

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w