1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm lời dẫn thoại qua khảo sát tập truyện tây bắc của tô hoài

67 916 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm lời dẫn thoại qua khảo sát tập "Truyện Tây Bắc" của Tô Hoài
Tác giả Trần Thị Huyền
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Mậu Cảnh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 246,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các nguồn t liệu đó, khoáluận chọn “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài để tìm hiểu vì đây là một tập truyện đặc sắc về nội dung phản ánh, về phong cách ngôn ngữ, trong đó,

Trang 1

§Æc ®iÓm lêi dÉn tho¹i

Trang 2

qua khảo sát tập "Truyện Tây bắc"

của Tô hoài

khóa luận tốt nghiệp đại học Ngành cử nhân khoa học ngữ văn

Chuyên ngành: ngôn ngữ

Ngời hớng dẫn: PGS.TS Phan Mậu Cảnh

Sinh viên thực hiện: Trần Thị Huyền

Lớp: 43E 4 - Văn

Vinh - 2007

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khoá luận này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn

đợc sự hớng dẫn tận tình, chu đáo của PGS.TS Phan Mậu Cảnh, sự động viên khích lệ của thầy giáo trong khoa Ngữ văn Trờng Đại học Vinh cùng tất cả bạn bè.

Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả Do thời gian và khả năng có hạn nên khoá luận không thể tránh khỏi thiếu sót Tôi hy vọng sẽ nhận đợc ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và bạn bè để khoá luận đợc hoàn chỉnh hơn.

Vinh, tháng 5 năm 2007

Tác giả

Trang 3

Mục lục

Trang

Mở đầu 1

Chơng I: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài 3

I Hội thoại và ngôn ngữ hội thoại trong văn xuôi 3

II Tô Hoài và tác phẩm của Tô Hoài 17

Chơng II: Đặc điểm lời dẫn thoại trong tập Truyện Tây Bắc“Truyện Tây Bắc” ” của Tô Hoài 27

I Các ngữ cảnh xuất hiện lời dẫn thoại

II Phân loại các lời dẫn thoại trong tập “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc”của Tô Hoài 36

III Khảo sát đặc điểm lời dẫn thoại 39

1 Các từ ngữ dùng trong lời dẫn thoại 39

2 Các cách thức diễn đạt trong lời dẫn thoại 41

3 Đặc điểm về cấu tạo câu dẫn thoại 53

Chơng III: Vai trò của lời dẫn thoại trong tập Truyện Tây“Truyện Tây Bắc” Bắc của Tô Hoài” 59

I Vai trò báo hiệu, dự báo 59

II Vai trò liên kết của lời dẫn thoại 60

III Vai trò bộc lộ tình thái 64

IV Vai trò bộc lộ chức năng của ngôn ngữ nhân vật 69

V Vai trò, tác dụng của lời dẫn thoại trong tập “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” .72

Kết luận 75

Tài liệu tham khảo 77

mở đầu

I Lý do chọn đề tài

Việc chọn đề tài khoá luận Đặc điểm ngôn ngữ lời dẫn thoại qua“Truyện Tây Bắc” ”

khảo sát Truyện Tây Bắc của Tô Hoài“Truyện Tây Bắc” ” xuất phát từ những lý do sau:

1 Trong hội thoại, lời dẫn thoại có vai trò quan trọng trong việc liên kết các phần trong văn bản thành một thể thống nhất về mặt hình thức, đồng thời

Trang 4

nó có chức năng thể hiện tính mạch lạc về mặt nội dung Khảo sát lời dẫnthoại, vì vậy sẽ góp phần làm sáng tỏ đặc điểm chung về ngôn ngữ trong vănbản và đóng góp vào việc nghiên cứu phong cách văn bản.

2 Nguồn t liệu để khảo sát lời dẫn thoại rất phong phú: trong kịch,trong văn xuôi (tiểu thuyết, truyện ngắn) Trong các nguồn t liệu đó, khoáluận chọn “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài để tìm hiểu vì đây là một tập truyện

đặc sắc về nội dung phản ánh, về phong cách ngôn ngữ, trong đó, có việcdùng các lời thoại Tìm hiểu đặc điểm lời thoại nói chung, lời dẫn thoại nóiriêng nhằm xác định rõ hoạt động của lời dẫn thoại trong các hoàn cảnh cụthể, qua đây cung góp phần làm rõ phong cách ngôn ngữ trong các tác phẩmcủa Tô Hoài

3 Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi còn xuất phát từ thực tiễn: Lời dẫnthoại là một đề tài mà chúng tôi tâm đắc vì những yếu tố liên quan đến lời dẫnthoại là một hiện tợng thú vị đựơc gợi ra từ trong quá trình học tập phần vănbản và ngữ dụng học

Trên đây là những lý do chủ yếu chúng tôi chọn đề tài này

II Phạm vi nghiên cứu

Do khuôn khổ của một đề tài khoá luận nên chúng tôi chỉ tiến hànhkhảo sát tập “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài gồm 3 truyện: “Truyện Tây Bắc”Cứu đất cứu M-ờng”, “Truyện Tây Bắc”Mờng Giơn”, “Truyện Tây Bắc”Vợ chồng A Phủ” của NXB Dân tộc, 1999

III Lịch sử vấn đề

1 Về tác phẩm “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài

Tô Hoài là một tác gia lớn của văn học Việt Nam hiện đại Nhiều tácphẩm của ông đã có tiếng vang lên trong nớc và quốc tế Đã có nhiều tác giảnghiên cứu về tác phẩm Tô Hoài từ nhiều phơng diện khác nhau

Phan C Đệ, trong cuốn “Truyện Tây Bắc”Nhà văn Việt Nam hiện đại”, đã dành mọt mụcnhận xét các sáng tác của Tô Hoài, trong đó có “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc”, ông đánhgiá cao tính hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm “Truyện Tây Bắc”Tác phẩm đã nói lênmột cách đau xót nỗi thống khổ bao đời của các đân tộc anh em ở vùng cao d -

ời ách chiếm đóng của thực dân Pháp và bè lũ tay sai” (5.15)

Phong Lê đề cập đến mảng sáng tác về đề tài miền núi của Tô Hoài saucách mạng trong chuyên luận “Truyện Tây Bắc”Tô Hoài 60 năm viết” Tác giả chuyên luậnnày đã phân tích các mặt thành công, những đóng góp nổi bật của Tô Hoài đốivới văn học Việt Nam

Các nhà nghiên cứu khác nh: Nguyễn Văn Long, Hoàng Trung Thông,

Đỗ Kim Hồi… cũng đã có nhiều bài viết về tác phẩm Tô Hòai, trong đó có cũng đã có nhiều bài viết về tác phẩm Tô Hòai, trong đó cónhiều trang viết phân tích, nhận xét về “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc”

2 Về việc nghiên cứu lời dẫn thoại

Việc nghiên cứu ngôn ngữ trong giao tiếp của ngôn ngữ học hiện đaị đãmặc nhiên đề cập đến hội thoại Các công trình viết về dụng học của các tácgiả nớc ngoài (S.C Levinson, G.Yule, V.Dik) và trong nớc (Đỗ Hữu Châu,Nguyễn Đức Dân, Đỗ Thị Kim Liên) đã bàn đến hội thoại ở những mức độ

Trang 5

khác nhau Những điểm nổi bật của hội thoại đợc chú ý là: đơn vị hội thoại,cấu trúc cuộc thoại, quan hệ tơng tác trong hội thoại.

Tuy vậy, về “Truyện Tây Bắc”lời dẫn thoại” thì trong các công trình hay bài viết còn ít

đợc đề cập đến Tuy nhiên, những thành tựu nghiên cứu về hội thoại có thể soisáng cho việc tìm hiểu về lời đẫn thọai, làm cơ sở lý thuyết để phân tích vaitrò, đặc điểm, của lời dẫn thoại Qua một số công trình mà chúng tôi tiếp cận

về tác giả Tô Hoài, chúng tôi thấy cha có bài viết nào, đề tài khoa học nào đisâu tìm hiểu đặc điểm lời văn dẫn thoại trong tập “Truyện Tây Bắc”TruyệnTây Bắc” của TôHoài Đây là một khoảng trống còn bỏ ngỏ trong nghiên cứu Đó là lý dochúng tôi lựa chọn, đi sâu vào tìm hiểu “Truyện Tây Bắc”Đặc điểm lời dẫn thoại qua khảo sáttập “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài nh một hệ thống chỉnh thể và nhìn nhận nóvới t cách là một đối tợng cần tìm hiểu trong nghiên cứu hội thoại và văn bản

IV Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận có 3 chơng:

Chơng I: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

Chơng II: Đặc điểm của lời dẫn thoại trong "Truyện Tây Bắc" của Tô

Hoài

Chơng III: Vai trò của lời dẫn thoại trong tập “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” của

Tô Hoài

Trang 6

CHƯƠNG I

Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

I Hội thoại và ngôn ngữ hội thoại trong văn xuôi

1 Lý thuyết hội thoại

1.1 Khái niệm hội thoại

Hội thoại là hình thức giao tiếp thờng xuyên, phổ biến của họat độngngôn ngữ, nó cũng là cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác trong sáng tácvăn học

Theo Đỗ Thị Kim Liên: “Truyện Tây Bắc”Hội thoại là một trong những hoạt động ngônngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất

định mà giữa họ có sự tơng tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhậnthức nhằm đi đến một đích nhất định” (12, 18).

Hội thoại hầu nh có mặt trong các sáng tấc (văn bản văn học) nhng tathấy rằng văn bản văn học (truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch) hội thoại khôngxuất hiện độc lập mà nó luôn gắn liền với ngữ cảnh Ngữ cảnh của hội thoại(cuộc thoại) có thể gắn với đoạn trớc nó hay sau nó Ngữ cảnh có thể (và phầnlớn) là lời tác giả Một trong những phần của lời tác giả để chuẩn bị cho hộithoại, đó là lời dẫn thoại

VD1: “Truyện Tây Bắc”Nhấn đứng lại, ngẩn ngơ nhìn sơn rồi nói:

- Anh Sơn ơi! Tôi nói anh Sơn chuỵện này Tôi không phải là ngời Mán,anh Sơn biết cha?”

(Cứu đất cứu Mờng tr.316)VD2: Một lũ chạy xuống lôi bà ảng lên, hỏi:

- Nhà tao ở dinh quan châu Né Mờng Côi, mày không biết à?

Châu Đoàn Vàng quát to:

- Con già Mờng này rồ thật

Bà ảng lại nói:

- Mày là cái khố đỏ cầm vàng con châu né bây giờ làm chứ ai

Châu Đoàn Vàng giật mình, rồi chau mặt, quắc mắt

- Con già Mờng này hoá rồ à?

(Cứu đất cứu Mờng tr.326)

ở đoạn thoại trên, sau mỗi lời đáp của bà ảng, tác giả chú thích thêm

về thái độ biểu hiện bằng các lời dẫn thoại (trớc cuộc thoại)

Trong hội thoại, sự xuất hiện của số lợng nhân vật tham gia đã quy địnhcác dạng thoại: đơn thoại, song thoại, tam thoại, đa thoại

Trang 7

Khi trao lời, có các vận động cơ thể (điệu bộ, nét mặt, cử chỉ ) hớng tớingời nhận hoặc hớng về phía mình (gãi đầu, gãi tai, đấm ngực ) bổ sung cholời trao:

VD2: Hắn vừa gãi đầu, vừa gãi tai, vừa lải nhải:

- Bẩm cụ, từ ngày cụ bắt đi ở tù, con lại sinh ra thích đi ở tù, bẩm

có thế con có nói gian thì trời chu đất diệt bẩm quả là đi tù sớng quá

(Chí Phèo Nam Cao)

ở ví dụ trên, câu trao của Chí hớng tới ngời nhận là “Truyện Tây Bắc”Bá Kiến” bằng các

từ “Truyện Tây Bắc”Bẩm cụ”, “Truyện Tây Bắc”Con” Trong câu trao đã có sự hiện hữu của ngời nhận.Thái độcủa Chí đợc tác giả miêu tả bằng câu dẫn : “Truyện Tây Bắc”Hắn vừa đi và gãi đầu, lải nhải”thể hiện thái độ của Chí

Khi xuất hiện lời đáp của ngời nhận B thì vận động trao đáp - cái lõi củahội thoại sẽ diễn ra liên tục, lúc nhịp nhàng, lúc khúc mắc, lúc nhanh lúcchậm với sự thay đổi của vai nói - vai nghe Chẳng hạn ở ví dụ 1 (1.1) trongcặp thoại thứ nhất, Châu đoàn Vàng sắm vai ngời nói dới hình thức câu hỏi, còn

bà ảng sắm vai ngời nghe - trả lời Trong cặp thoại thứ hai, bà ảng lại sắm vaingời nói ở lời trao, nhng ở lời đáp, Châu đoàn Vàng đã có sự chuyển vai thoạisang ngời trao lời khi xuất hiện câu hỏi: “Truyện Tây Bắc” Nhà tao ở dinh quan Châu Né màykhông biết à?” Lúc đó Châu Đoàn Vàng lại trở thành ngời nhận lời và có sự

đáp lời: “Truyện Tây Bắc”Châu Đoàn Vàng quát to: - Con già này rồ thật”

1.2.3 Sự tơng tác

Trong hội thoại, các nhân vật giao tiếp ảnh hởng lẫn nhau, tác động qualại với nhau biến đổi lẫn nhau Trớc cuộc hội thoại nhân vật có sự khác biệt,

Trang 8

đối lập về tính cách, tâm lý, hiểu biết tình cảm Trong quá trình tham gia vàohội thoại, nhân vật sẽ tự điều phối những khác biệt này để cùng cộng tác đi

đến thoả hiệp, hoặc có thể phát triển cao hơn, mở rộng những khác biệt nàylàm cho cuộc thoai đi đến xung đột Đây chính là sự tơng tác trong hội thoại.Theo Đỗ Hữu Châu, sự tơng tác đợc hiểu là: “Truyện Tây Bắc”Các nhân vật giao tiếp ảnh hởnglẫn nhau, tác động lẫn nhau đến cách ứng xử của từng ngời trong quá trình hộithoại” (4.209)

Với văn bản tác phẩm văn học, sự tơng tác hội thoại có thể phát triểntheo những chiều hớng khác nhau:

a Tạo điều kiện cho tâm lý nhân vật phát triển, đa cuộc thoại đạt đến

đích nh cuộc thoại của Châu Đoàn Vàng và bà ảng trong “Truyện Tây Bắc”Cứu đất cứu ờng”

M-b Làm cho hội thoại thêm căng thẳng và đi đến xung đột do không hoàphối đợc những khác biệt, ví dụ ở cuộc thoại của Chí Phèo và Bá Kiến khi ChíPhèo đòi Bá Kiến trả lại quyền làm ngời lơng thiện: “Truyện Tây Bắc”Ai cho tao lơng thiện”

(Chí Phèo, Nam cao)

c Hé gợi sự tình của nhân vật nh cảm giác thèm khát đợc thoát khỏi sự

tù túng của Hộ (Đời thừa- Nam Cao)

Ba vận động trao lời, trao đáp và tơng tác là ba vận động đặc trng chohội thoại, trong đó, hai vận động đầu do từng đối tác thực hiện nhằm phối hợpvới nhau thành vận động thứ ba Bằng vận động trao lời và trao đáp, các nhânvật hội thoại sẽ tự hoà phối để thực hiện sự tơng tác trong hội thoại

Là lời thoại của một nhân vật phát ra hớng đến ngời nghe nhng không

có lời đáp trực tiếp Việc tiếp nhận nội dung lời thoại đợc phản hồi bằng hành

động thể hiện hay cử chỉ không đợc tác giả trực tiếp mô tả

Dạng đơn thoại biểu hiện rõ nhất ở kiểu lời trần thuật của nhân vật, cónghĩa là lời nói nhân vật có xen một yếu tố kể của mình, của ngời Chẳng hạn,

kí ức của “Truyện Tây Bắc”tôi” trong một lần về quê bạn là đợc nghe chị Hiên kể về những kỉniệm của chị trong “Truyện Tây Bắc”Những bài học nông thôn” của truyện ngắn Nguyễn HuyThiệp:

Chị Hiên thủ thỉ: “Truyện Tây Bắc”ở nhà quê buồn lắm Tôi mới đợc ra Hà Nội mỗimột lần Hồi ấy cha lấy chồng, vui vui là nhng cứ sợ ngời Hà Nội ai trôngcũng ác Hôm ấy ở bến xe có ông đeo kính, để râu con kiến, tuổi bằng bốtôi ”

Dạng đơn thoại, còn tồn tại ở kiểu cấu trúc mệnh lệnh sai khiến Thôngthờng dạng đơn thoại là vắng lời đáp, nhng ta thấy lời đáp nhân vật nếu không

Trang 9

cha thông tin câu trao thì cũng có thể xếp vào dạng thoại này Mỗi nhân vật tự

đeo đuổi theo một ý nghĩa riêng của mình Chính vì vậy ta thấy trong truyệncủa Nam Cao hay truyện của Nguyễn Huy Thiệp có nhiều câu thoại bângkhuâng đến thế, nhiều câu thoại không hóng về một cái đích nào cả ở một sốtruyện ngắn của Nam Cao và Nguyễn Huy Thiệp chúng ta thờng bắt gặp hiệntợng đối thoại ngầm Có một đoạn đối thoại giữa hai ngời, trong đó những câu

đối đáp của ngời tiếp chuyện thứ hai bị bỏ trống, nhng ý nghĩa chung không

hề suy chuyển

Trong “Truyện Tây Bắc”Những bài học nông thôn”, thầy giáo Triệu chính là một hình ợng của tác giả đợc ẩn sau Các phát ngôn của Triệu là những quan niệm nhânsinh, nhân bản về nỗi suy nghĩ nhọc nhằn:

t-“Truyện Tây Bắc” Anh Triệu thở dài suy nghĩ một lát rồi chậm rãi nói: Còn điều nàynữa, đã nói thì nói cho xong Thời loạn dứt khoát phải có một nền thống trị bá

đạo Còn thời bình, đờng lối bá đạo chính trị sẽ đa dân tộc đến thảm hoạ”.Chúng tôi lặng im Anh triệu bảo: Hiếu này, chú đừng nghe tôi Tôi nông cạn

và sai lầm lắm ”

ở đoạn thoại trên, chỉ thấy anh Triệu phát ngôn, còn nhân vật “Truyện Tây Bắc”tôi” thì

im lặng Nhng sự im lặng của nhân vật “Truyện Tây Bắc”tôi” lại tác động sâu sắc đến nội dungphát ngôn của anh giáo Triệu

2.2 Song thoại

Đây là dạng thoại chủ yếu và đợc quan tâm nhiều nhất của lý thuyết hộithoại Song thoại làm nền tảng cho việc nghiên cứu đa thoại Theo Nguyễn

Đức Dân: “Truyện Tây Bắc”Nếu không có chú thích gì đặc biệt thì thuật ngữ hội thoại đợc hiểu

là song thoại” (77) Song thoại là lời của ngời trao hớng đến ngời nghe và có

sự đối đáp bằng hành vi ngôn ngữ _chúng tôi gọi là hành vi trao lời và hành vi

đáp lời ở dạng thoại này, nhân vật trực tiếp đa lời nói của mình vào hội thoại,bảo đảm yếu tố lời trao và lời đáp của nhân vật, bảo đảm nguyên tắc luânphiên lợt lời hội thoại

VD: “Truyện Tây Bắc” Đoài hỏi: “Truyện Tây Bắc”Sinh biết nhà này tơng lai thuộc về ai không?

Sinh bảo: - Không

Đoài bảo: - Về tôi

Sinh hỏi: - Sao thế?

Đoài bảo: - Bố già bố chết Thằng Khiêm trớc sau cũng vào tù.Thằng Khảm ra trờng không đi Tây Bắc cũng Tây Nguyên Thằng Tốn khôngnói làm gì, vô tích sự ”

(Không có vua, 104 - Nguyễn Huy Thiệp)

ở đoạn thoại trên, qua lời dẫn, xuất hiện hai nhân vật tham gia vào hộithoại là Sinh và Đoài, mỗi lời đáp đều hớng vào trọng điểm hỏi, hớng vào nộidung của câu trao, mỗi một lời trao là một lời đáp, không có hiện tợng đè lênnhau, mặc dù là một đoạn thoại bộc lộ bản chất xấu xa của Đoài, sự tính toánkhốn nạn của Đoài nhng Sinh bình tĩnh chất vấn!

Trang 10

Có thể không có lời dẫn và từ dẫn mà đợc biểu hiện bằng dấu hiệu hìnhthức “Truyện Tây Bắc”gạch ngang đầu dòng”.

VD: “Truyện Tây Bắc”Cha tôi bảo anh nhu nhợc Duyên do là anh đếch sống đợc mộtmình” Tôi bảo: “Truyện Tây Bắc”Không phải, cuộc đời nhiều trò đùa lắm” Cha tôi bảo: “Truyện Tây Bắc”Anhcho là trò đùa à?” Tôi bảo: “Truyện Tây Bắc”Không phải trò đùa nhng cũng không phảinghiêm trọng.” Cha tôi bảo: “Truyện Tây Bắc”Sao tôi c nh lạc loài”

(Tớng về hu, 487 - Nguyễn Huy Thiệp)Song thoại là dạng thức hội thoại cơ bản của lý thuyết hội thoại

2.3 Tam thoại

Trong mọi cuộc trao đổi, giao tiếp trong cuộc sống cũng nh trong vănchơng luôn xảy ra hiện tợng có hơn hai nhân vật giao tiếp trở lên ở hình thứcgiao tiếp này có thể quy về dạng tam thoại

2.4 Đa thoại

Dạng thức này là lời của nhiều nhân vật đan xen vào nhau trong mộtngữ cảnh hội thoại cụ thể, chúng tôi gọi đây là lời của đám đông (nhân vật).Dạng thức hội thoại này chúng ta bắt gặp trong “Truyện Tây Bắc”Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng

ở cảnh đa tang cụ cố Hồng

B Ngôn ngữ hội thoại:

2.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ

Nói năng là một dạng hành động “Truyện Tây Bắc”Ngôn ngữ về bản chất là một dạnghành động của con ngời ” (11.19), mang tính xã hội vì ngôn ngữ là một hiệntợng xã hội đặc biệt

Hành động ngôn ngữ đợc hiểu: “Truyện Tây Bắc”Vai nói có thể dùng ngôn ngữ để miêutả một hiện thực nào đó, để kể lại một sự việc nào đó, để khẳng định một nhậnxét nào đó, để yêu cầu, khuyên nhủ.” ( 14.9 )

J.L Austin cho rằng có ba loại hành động ngôn ngữ (4 88)

2.1.1 Hành động tạo lời

Trang 11

Là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ, nh ngữ âm, từ, cấu trúc,câu, ngôn bản Để tạo ra những thông điệp, những ngôn bản có nghĩa và hiểu

đợc

2.1.2 Hành động mợn lời

Là hành động nhằm gây ra những kết quả hay những hiệu quả ngoài lời,những hiệu quả tâm lý hay vật lý ở những ngời tiếp nhận ngôn bản bằng chínhnhững ngôn bản, những ngời đợc nói ra

VD: Ông Bổng hỏi: “Truyện Tây Bắc”Ván mấy phân?”

Tôi bảo: “Truyện Tây Bắc”Bốn phân” (Tớng về hu, 42 - Nguyễn Huy Thiệp)Xếp vào dạng hành động này là những cặp thoại, đoạn thoại và cuộcthoại hòan chỉnh về nội dung và hình thức Từ, câu đa dẫn chủ yếu là các động

từ nói năng trực tiếp nh: hỏi, bảo, nói, trả lời Đặc biệt, nó thờng ít biểu lộ cảmxúc chủ quan của nhân vật, nói cách khác nó không bao hàm các yếu tố tìnhthái, vì chức năng chính của chúng là trao - nhận thông tin ở nhân vật tham giahội thoại

2.2.2 Hành động cầu khiến

Theo tác giả Nguyễn Kim Thản trong cuốn “Truyện Tây Bắc”Nghiên cứu ngữ pháp tiếngViệt NXBKHXH, HN viết: “Truyện Tây Bắc”Câu cầu khiến nhằm mục đích nói lên ý chí củangời nói và đòi hỏi, mong muốn đối phơng thực hiện những điều nêu ra trongcâu hỏi” (tr 261) Trong phát ngôn, thái độ của chủ thể đóng vai trò hết sứcquan trọng Thái độ đó là điều kiện để lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ đi kèmnhững sắc thái đánh giá khác nhau tạo nên giá trị ngữ nghĩa của câu Đó là sựtinh tế, mềm dẻo, sự cơng quyết, phản đối, sự từ chối, đe doạ hay thái độ lấplửng

Dạng hành động cầu khiến xuất hiện hầu hết ở các câu trao và tuỳ từngnội dung mà câu trao đa ra sẽ có câu đáp

a Đề nghị

Ngời nói đa ra lời trao đối với ngời nghe đề nghị cho phép mình thựchiện một hành vi gì đó hay đề nghị ngời nghe thực hiện một hành vi gì đó cólợi cho mình nên sắc thái câu trao thờng là mềm dẻo, thể hiện thái độ lịch sự

 Lời trao là sự thân thiện, biết ơn.

- Thế nào hôm rằm cũng đến ăn cơm với cô, cháu nhé!

Trang 12

(Nguyễn Huy Thiệp, Huyền thoại phố phờng, 77)

 Lời trao là một câu đề nghị có ý nghĩa nh một câu hỏi, thăm dò.Lời

đáp nh một sự hởng ứng.

- Bng mâm nhé?

- ừ, làm thì làm!

(Nam Cao, Trẻ con không đợc ăn thịt chó_123)

 Lời trao là một sự đề nghị, lời đáp là một sự từ chối.

- Thầy tặng em bức tranh này nhé

- Cái đó thì không đợc

(20 truyên ngắn hay ’94, Vũ Ngọc Thạnh_290)

 Lời trao là một câu đề nghị Lời đáp là một sự ngăn cản thực hiện

theo lời đề nghị đó.

- Dạ, con đến đây hỏi mấy đứa nhỏ mai đi cấy, con đi với!

- Xa! Một cũng xa, hai cũng xa Còn chúng bay không đợc gần nhau đi! (Nguyễn Thi, ớc mơ của đất -316)

 Lời trao là một câu đề nghị Lời đáp là một sự xác định lại.

- Cô còn muốn mẹ con tôi ở lại thì đừng đa ai về dây nhé Tôi sợ lắm

- Tởng gì, hoá ra cấm cửa

(Tô Hoài; Những ngõ phố, ngời đờng phố -16)

b Lời trao là câu cầu khiến

Ngời nói xuất phát từ một nhu cầu tự thân và mong muốn đợc ngờinghe đáp ứng Khi lời trao đợc đa ra bày tỏ một sự mong muốn, ở lời đáp bày

tỏ sự đồng tình với lời trao

c Lời trao là câu khuyên răn

Ngời trao đa ra lời khuyên để bày tỏ sự quan tâm đối với ngời nghe

 Lời trao là lời khuyên, còn lời đáp tỏ thái độ phản ứng với lời

khuyên bằng hình thức câu hỏi:

- Này nhà vắng quá, cới vợ đi thôi!

- Vâng, cới

- Nhanh lên chứ, kì này đang rỗi

- Vâng! Kể cũng rỗi (Chu Văn, Bão biển- 108)

 Lời trao là lời khuyên Lời đáp bày tỏ thái độ phản ứng.

- Em phải đi học, Mi! Cô khuyên em

- Khuyên, khuyên, đồ hủ hoá, lại còn khuyên

(20 truyện ngắn hay ’94; Ngô Quang Lập, 116)

d Lời trao là câu mệnh lệnh

Ngời nói đa ra lời trao với thái độ nghiêm trang, bực tức hay căng thẳngbắt ngời nghe thực hiện theo hành vi mệnh lệnh Loại này thờng dùng các

động từ nh: câm, im, về, cút, bớc, nói, đi, xéo, dậy, ra, trói Kèm ngữ điệu

Trang 13

nhấn mạnh, căng thẳng Ngời nghe thờng tỏ thái độ phản ứng, chống chế haytìm cách trì hoãn.

 Lời trao là một mệnh lệnh Lời đáp bày tỏ thái độ đáp ứng hành vi:

- Đồ gì để đó, về đi

- Không đợc, h hao rồi ai bồi thờng

(Nguyễn Thi; Ước mơ của đất_61)

 Lời trao là câu mệnh lệnh Lời đáp là một sự chất vấn trở lại về

hành vi mệnh lệnh để gián tiếp không thực hiện mệnh lệnh:

- Đầu hàng thì sống! Giơ tay lên!

động này thờng mang những ý nghĩa triết lí, khái quát

 Lời trao là một câu mời lễ phép Lời đáp là câu than vãn có lí do để

từ chối câu trao:

Tôi bảo: “Truyện Tây Bắc”Bà ăn đi chứ, cháu ăn khoai rồi”

Bà Lâm bảo: “Truyện Tây Bắc”Tôi chẳng ăn Ăn mãi rồi Tám mơi tuổi mà cứ tham ănthì khó chết lắm.”

(Nguyễn Huy Thiệp - Những bài học nông thôn, 301)

 Lời trao bày tỏ một quan niệm Lời đáp là hành vi than vãn phủ

định quan niệm của câu trao.

2.3 Cấu trúc lời thoại

2.3.1 Phân biệt lời dẫn và lời thoại

2.3.1.1 Lời thoại

a Gồm có lời đối thoại và lời độc thoại

+ Lời đối thoại (đối đáp) là lời trong cuộc giao tiếp song phơng mà lâunay xuất hiện nh là một phản ứng đáp lại lời nói trớc Lời đối thoại bộc lộ khihai bên đối thoại có sự tiếp xúc phi quan phơng và không công khai, không bịcâu thúc, trong không khí bình đẳng về mặt đạo đức của ngời đối thoại Lời

đối thoại thờng kèm theo động tác cử chỉ biểu cảm và tạo nên bởi phát ngôncủa nhiều ngời

Trang 14

+ Lời độc thoại không đòi hỏi sự đáp lại, độc lập với phản ứng của ngờitiếp nhận và đợc thể hiện rõ cả trong hình thức nói lẫn viết Bề ngoài lời độcthoại không bị ai ngắt quãng, nhng cũng có khi bị ngắt bởi “Truyện Tây Bắc”ngời đối thoại”trong tởng tợng.

b Phân biệt ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại

- Ngôn ngữ đối thoại: có 2 nhân vật trở lên

Ngôn ngữ đối thoại là lời phát ngôn chính thức, là tuyên ngôn của cánhân A với cá nhân B Một khi đã phát ra, ngời đó phải chịu trách nhiệm vềhành vi phát ngôn của mình, gây tác động đến B đòi hỏi B có phản ứng hồi

đáp Nếu B không hồi đáp thì cũng không vô can còn với A nh trớc khi nghephát ngôn của A

- Ngôn ngữ độc thoại: chỉ có một nhân vật

Ngôn ngữ độc thoại có khi cũng có dạng song thoại (có ngời gọi là songthoại gián tiếp để phân biệt với song thoaị trực tiếp).Tuy nhiên ngôn ngữ độcthoại hớng tới những nội dung phức tạp thuộc về nội tâm, phần lớn dừng lại ở

dự định, toan tính cha thành hiện thực, ngời độc thoại cha bị quy trách nhiệmgì

* Về hình thức:

Ngôn ngữ độc thoại có những tín hiệu hình thức khác với tín hiệu hìnhthức trong ngôn ngữ đối thoại

So sánh 2 ví dụ:

1, “Truyện Tây Bắc”Bác nói:-“Truyện Tây Bắc”không có gì quý hơn độc lập tự do”

Động từ “Truyện Tây Bắc”nói” cùng dấu câu[: - “Truyện Tây Bắc””] lại thể hiện đây là lời nói trực tiếp

2, Nhng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “Truyện Tây Bắc”Chắc nó trừ mình ra”

Động từ nh cùng dấu câu [: - “Truyện Tây Bắc””] lại thể hiện đây là lời độc thoại

c Cấu trúc lời thoại

* Lời thoại có cấu trúc ngắn gọn

Lời thoại nhân vật thờng chỉ mang tính chất giới thiệu nên câu vănngắn, ít bình luận, gần với lời thoại của kịch nói

Lời thoại nhân vật thờng đi thẳng vào sự việc, không quanh co, khôngxen kẻ tả, không che dấu, có khi sắc lạnh

Ngôn ngữ đối thoại của nhân vật thờng hớng đến mục đích thực dụnghàng ngày mà bỏ qua những ớc mơ khát vọng về một vẻ đẹp hớng thiện cầncó

* Lời thoại không có dấu hiệu hình thức thể hiện thành cặp trao đáp:

Có những nhà văn có cách thể hiện trái với truyền thống tức là thể hiệnlời thoại nhân vật không bằng dấu hiệu hình thức: “Truyện Tây Bắc”Hai chấm- xuống dòng-gạch ngang đầu dòng”

* Lời thoại sử dụng cấu trúc lặp động từ dẫn thoại thành cặp trao-đáp:Các câu dẫn, trớc hết đều có cấu trúc ngắn gọn, đều bị tớc bỏ bổ ngữ,

định ngữ, tất cả đều đợc đóng khung trong mô hình:

Trang 15

Chủ thể + Động từ chỉ hành vi nói năng.

* Lời thoại sử dụng các yếu tố chỉ tình thái đa dạng:

Trong hội thoại, khi một phát ngôn đợc nói ra thì bên cạnh phần nghĩamiêu tả thờng do các yếu tố từ vựng mang nghĩa chân thực đảm nhận, còn cóphần thể hiện thái độ, đánh giá của ngời nói đối với hiện thực đợc nói tới,phần này thờng do các yếu tố tình thái trong phát ngôn đảm nhận

Quá trình vận động hội thoại, lời trao và lời đáp đêu hờng tới đối tợngnghe một cách trực tiếp Vì vậy mỗi một cá nhân khi tiếp nhận những thôngtin của khách thể đều có những tâm t, tình cảm, thái độ nhất định

- Dùng trợ từ tình thái

- Dùng từ, tổ hợp từ mang nghĩa tình thái

- Dùng quán ngữ thể hiện thái độ đánh giá

- Dùng hình thức tách xen

* Lời thoại sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao:

Thành ngữ, tục ngữ là sự chiêm nghiệm, đúc kết từ ngàn đời nay Nó cócấu trúc đơn giản lại đợc diễn đạt bằng những từ, ngữ, hình ảnh gần gũi vớicuộc sống con ngời nên nó thờng dễ nhớ, dễ hiểu, nó tránh đợc sự tối nghĩa.Thành ngữ, tục ngữ là sự cô đúc, sự rút gọn từ chính con ngời, từ chính cuộc

đời nên đó còn là một cách triết lí về cuộc đời của ông cha ta

a Vị trí

Lời dẫn thoại có thể nằm trớc câu thoại, giữa câu thoại hay sau câuthoại Dù ở vị trí nào thì lời dẫn thoại cũng có chức năng cơ bản là dẫn dắt,báo trớc sự tồn tại của lời nói nhân vật

VD1 “Truyện Tây Bắc”Ngời làng ra hỏi thăm, A Phủ vừa kể vừa chửi:

- Con chó đẻ ra thằng Tây! Nó trói, bắt nằm cả ngày một chỗ với conlớn Nó bảo ở phìn xa nuôi cá bộ nên phải bắt tôi về bỏ tù Tôi bảo: “Truyện Tây Bắc”Taokhông biết cán bộ đâu, tao không biết nuôi ai, tao chỉ thấy có mày đến mà lấylơn của tao.” (Vợ chồng A Phủ tr.460)

VD2 “Truyện Tây Bắc”Mát xua tay trớc mặt Sạ, thì thào:

- Đừng nói, đừng nói.”

(Mờng Giơn tr.335)

Trang 16

VD3 “Truyện Tây Bắc”Mỵ tủm tỉm cời:

- Khỏi sợ rồi, mai em cũng đi.”

(Vợ chồng A Phủ tr.475)

b Cấu tạo

Lời dẫn thoại có chức năng mang tính dự báo, miêu tả cách thức nhânvật nói năng và thể hiện tính đặc trng trong ngôn ngữ kể chuyện của tác giả tr-

ớc khi xuất hiện lời thoại

Lời dẫn thoại luôn hiện diện trong truyện ngắn-thể loại tự sự tái hiện sựkiện, quan hệ, diễn biến cuộc đời nhân vật Tuỳ theo ý đồ nghệ thuật, cáchthức tổ chức cốt truyện, phong cách ngôn ngữ của mỗi nhà văn, dạng lời nóinày có sự hiện diện rất khác nhau

Lời dẫn thoại thờng có cấu tạo ngắn gọn, súc tích Nó thờng tập trung ởcác kiểu câu phổ biến là câu đơn, câu ghép và các kiểu câu mở rộng

c Nội dung

Qua khảo sát một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao nh Chí Phèo,Lão Hạc, Giăng Sáng và tập truyện “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài cho thấylời dẫn thoại có tần số xuất hiện lớn và tờng thuật rất cụ thể, chi tiết Hầu nhbất cứ câu thoại nào của nhân vật cũng đều đợc tác giả báo trớc bằng ngônngữ tờng thuật, miêu tả của mình

Lời dẫn thoại luôn chiếm số lợng lớn trong tác phẩm của Tô Hoài (gồm

222 câu) Chúng khiến cho lời thoại của nhân vật đợc tiếp nối một cách tựnhiên liền mạch và tạo ra một không khí đối thoại liên tục, kế tiếp Lời thoại

đợc cung cấp thêm nhiều thông tin về tâm trạng, cách thức nói năng của nhânvật.ngữ cảnh tình huống phát ngôn do đó, trở nên cụ thể, sinh động và gắn

bó mật thiết với cá tính chủ thể Mặt khác, nó cũng là lời văn mà tác giả có thểbộc lộ sở trờng miêu tả, sử dụng từ ngữ của mình

2.4 Các kiểu từ ngữ hay dùng trong lời dẫn thoại

2.4.1 Các từ ngữ dùng trong trong lời dẫn thoại

a Dùng động từ nói năng

Sử dụng các từ ngữ chỉ hành động:bảo, nói, rằng

VD: “Truyện Tây Bắc”Bà ảng nói rồi khóc Nhân bảo

- Rồi bộ đội sẽ về cứu nó Bây giờ mẹ đi với tôi”

(Cứu đất cứu Mờng tr.322)

b Dùng động từ chỉ mệnh lệnh

Các từ: “Truyện Tây Bắc”Quát, yêu cầu, đề nghị, khuyên”

VD: “Truyện Tây Bắc”Châu Đoàn Vàng quát to:

- Con già mờng này rồ thật!’’

(Cứu đất cứu Mờng tr.326)

c Dùng các động từ khác: van, lạy, chửi.“Truyện Tây Bắc” ”

VD: Ông Tạo On thở dài, chửi

- Thằng chết toi này, tao làm quan mà không đợc miếng gì ”

Trang 17

(Mờng Giơn tr.367)

d Không dùng động từ (bỏ trống):

VD: “Truyện Tây Bắc”Lý trởng trợn mắt, run rẩy:

- Chết rồi, sao chúng mày không đi báo quan’’

(Mờng Giơn tr.419)

2.4.2 Cách thức diễn đạt trong lời dẫn thoại

a Lời dẫn thoại miêu tả cử chỉ của ngời nói:Tay, chân, mặt, mắt Trong tập “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc’’ta thấy Tô Hoài miêu tả cử chỉ của nhânvật rất thành công

Trang 18

II Tô Hoài và tác phẩm của Tô Hoài

1 Về tác giả

Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen Ngoài bút danh Tô Hoài quen thuộcvới bạn đọc.Tô Hoài còn có các bút danh khác Mắt Biển, Mai Trang, Duy Ph-

ơng, Hồng Hoa (dùng cho viết báo)

Tô Hoài sinh ngày 27.9.1920 Quê nội của Tô Hoài ở thị trấn Kim Bài,huyện Thanh Oai, tỉnh Hà tây Ông sinh ra và lớn lên ở quê ngoại tức làngNghĩa Đô - phủ Hoài Đức - tỉnh Hà Đông (cũ), nay là phờng Nghĩa Đô, quậnCầu Giấy - Hà Nội

Trớc cách mạng tháng 8.1945: Ông vừa viết văn vừa tham gia các hoạt

động xã hội Những truyện ngắn và sáng tác văn xuôi hiện thực của Tô Hoài

từ đầu những năm 1940 rất thu hút sự chú ý của độc giả lúc đó

Sau cách mạng tháng tám.Tô Hoài lên việt Bắc làm báo cứu quốc, chủnhiệm, chủ bút tạp chí Cứu Quốc Từ 1951 về công tác ở Hội văn nghệ ViệtNam Sau ngày hoà bình lập lại, ông đợc bầu làm Tổng th ký của hội nhà văn

Từ 1966-1996, ông tham gia nhiều công tác xã hội khác nh: đại biểu quốc hộikhoá VII, phó chủ tịch uỷ ban đoàn kết - á Phi

 Sự nghiệp văn học:

Trớc cách mạng: Tiêu biểu là những tác phẩm: “Truyện Tây Bắc”Dế mèn phiêu lu ký’’(1941), “Truyện Tây Bắc”Quê ngời’’ (tiểu thuyết 1941), “Truyện Tây Bắc”ổ chuột’’ (tập truyện ngắn 1942),

“Truyện Tây Bắc”Giăng thề’’ (truyện 1943), “Truyện Tây Bắc”Nhà nghèo’’ (tập truyện ngắn 1944)

Những tác phẩm ấy có hai mảng đề tài chính:

Truyện đồng thoại về loài vật và truyện về đời sống con ngời ở vùngquê ven thành.Trên những trang viết, Tô Hoài toả ra là một ngòi bút am hiểuphong tục, có khả năng quan sát, miêu tả tinh tế con ngời và cảnh vật vùngnông thôn Việt Nam trớc cách mạng

+ Sau cách mạng:

Tiêu biểu trong các sáng tác: “Truyện Tây Bắc”Núi cứu quốc’’ (tập truyện ngắn1948),

“Truyện Tây Bắc”Ngợc sông thao’’ (1949), “Truyện Tây Bắc”Xuống làng’’ (tập truyện ngắn 1950) và thànhcông nhất là “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc’’ (tập truyện 1953) Ngòi bút của Tô Hoài ngàycàng tỏ ra sung sức và thành công trên nhiều thể loại Tác phẩm tiêu biểu ởthời kỳ này của Tô Hoài là các tập truyện ngắn: “Truyện Tây Bắc”Khóc trớc’’ (1957), “Truyện Tây Bắc”vỡ tĩnh”(1962), “Truyện Tây Bắc”Ngời ven thành’’ (1972), “Truyện Tây Bắc”Miền Tây’’ (1967) [đạt giải thởng HoaSen của Hội nhà văn á phi] Theo thống kê của một số nhà nghiên cứu chobiết sáng tác trớc và sau cách mạng của Tô Hoài lên tới 150 tác phẩm

Tô Hoài đã nói về quá trình sáng tác của mình: “Truyện Tây Bắc”Cho tới nay tôi đã viết

và in hàng trăm đầu sách, tôi đã ở Việt Bắc ngót 10 năm về sau còn đi lạinhiều nữa, nhờ vậy tôi am tờng đôi chút về một số dân tộc anh em nh Tày-M-ờng-Dao-Hơ Mông Tôi coi Việt Bắc, Tây Bắc cũng nh một quê hơng đề tàicủa tôi Nh đã nói, đề tài của tôi chỉ có hai, không nhiều và không phải cái gìcũng viết đợc Còn nh tôi thờng miêu tả phong tục, tập quán thì cũng là một

Trang 19

quan niệm và phơng pháp xây dựng truyện và nhân vật của tôi Tôi cho rằngcâu truyện và nhân vật phải luôn luôn đợc bao bọc và ảnh huởng qua lại vớiphong tục, tập quán, nghề nghiệp và quê hơng từ gia đình ra ngoài xã hội”.(“Truyện Tây Bắc”Tô Hoài, chuyện bếp núc văn chơng”- Báo văn nghệ số 14 tháng 10.1995).

Có thể thấy qua nhiều tác phẩm Tô Hoài đã có lúc “Truyện Tây Bắc”đi trong lầy lội, cólúc choáng váng, có lúc mờ mờ’’ (“Truyện Tây Bắc”Hồi ký một chặng đờng”- Tạp chí, tácphẩm mới số16 tháng 11-12-1979) nhng cái gốc tâm hồn cua anh lúc nàocũng giữ đợc vẻ đẹp trong sáng của lý tởng mình theo đuổi Tác phẩm của anhhồi đó cũng có lúc mấp mé giữa chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa lãng mạng vàchủ nghĩa tự nhiên

Nh vậy, Tô Hoài là tấm gơng sáng về lao động sáng tạo nghệ thuật.Tác phẩm của ông mang theo phong vị và hơng sắc của đời sống và tâm hồndân tộc Gần nửa thế kỷ lao động sáng tạo nghệ thuật, Tô Hoài đã có những

đóng góp quan trọng vào nền văn học cách mạng Ông có mặt ở cả hai thời kỳtrớc và sau cách mạng tháng tám Tác phẩm của ông ở cả hai thời kỳ phản ánh

đợc nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của đất nớc, đi sâu đợc vào nhiều giá trịthẩm mĩ phong phú và sáng tạo “Truyện Tây Bắc”Quá trình sáng tác của Tô Hoài đã đi quanhiều chặng đờng dài với những đóng góp quan trọng Ông vẫn đang ở độ tuổisung sức của ngòi bút Đến với nghệ thuật, ông là ngời nghệ sĩ sáng tạo, ôngcũng là ngời thợ cần cù trong công việc, ông treo một tấm gơng lao động Đó

là tấm gơng của một ngời lao động có tài năng, có bản sắc và tự tin vào côngviệc bình dị mà cao đẹp của mình.” (Tuyển tập Tô Hoài, tập 1, NXB văn học,

H, 1987) Chính những điều đó Danh hiệu Huân chơng độc lập xứng đángdành cho nhà văn Tô Hoài

 Những tác phẩm chính của Tô Hoài:

“Truyện Tây Bắc”Dế mèn phiêu lu ký” (1941), “Truyện Tây Bắc”Quê ngời” (1941), “Truyện Tây Bắc”ổ chuột” (1942),

“Truyện Tây Bắc”Giăng thề” (1943), “Truyện Tây Bắc”Nhà nghèo” (1944), “Truyện Tây Bắc”Núi cứu quốc” (1948), “Truyện Tây Bắc”TruyệnTây Bắc” (1953), “Truyện Tây Bắc”Vỡ tỉnh” (1962), “Truyện Tây Bắc”Ngời ven thành” (1972), “Truyện Tây Bắc”Miền Tây”(1967)

2 Về tác phẩm, tập truyện Truyện Tây Bắc“Truyện Tây Bắc” ”

2.1 Nếu đóng góp của một nhà văn vào nền văn học dân tộc, vào đời sống

tinh thần của cộng đồng là ở phong cách, ở khối lợng và chất lợng tác phẩmthì có thể nói Tô Hoài là một trong những ngời có sự đóng góp rất lớn cho vănhọc Việt Nam đơng đại

Mùa thu năm 1952, nhà văn Tô Hoài đi với bộ đội vào giải phóng TâyBắc Sau khi tìm hiểu chung về tình hình cuộc sống ngời dân, Tô Hoài quyết

định đi sâu vào những khu du kích của đồng bào các dân tộc thiểu số trênvùng cao: Sơn La, Lai Châu đi khắp những vùng du kích hiểm trở nhất Mùathu 1953 Tô Hoài đã viết xong tập “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” dựng lên những con ng-

ời, những khung cảnh chiến đấu của vùng rừng núi hiểm trở và giàu có củaTây Bắc nớc ta Nhà văn đã kể lại những ấn tợng và trờng hợp viết truyện

Trang 20

“Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” nh sau: “Truyện Tây Bắc”Năm 1952 tôi theo bộ đội chủ lực, tiến quân vàoMiền Tây, tham dự chiến dịch giải phóng đợc một dải đất đai rộng lớn phíahữu ngạn, trong đó bao gồm nhiều khu du kích của các dân tộc anh em đãchiến đấu ròng rã nhiều năm giữa lòng địch ( ) cái kết quả lớn nhất và trớcnhất của chuyến đi tám tháng ấy là đất nớc và ngời Miền Tây đã để thơng đểnhớ cho tôi nhiều quá, tôi không thể bao giờ quên Tôi không thể bao giờ quên

đợc lúc vợ chồng A Phủ tiễn tôi khỏi dốc núi làng Tà Súa rồi cùng vẫy tay gọitheo: “Truyện Tây Bắc”Chéo lù! Chéo lù!” (Trở lại, Trở lại), không bao giờ tôi quên đợc lúc vợchồng Lý Nủ Chu tiễn chúng tôi dới chân núi Cao Phạ cũng vẫy tay kêu:

“Truyện Tây Bắc”Chéo lu! chéo lù! chéo lù! chéo lù !”.Hai tiếng: “Truyện Tây Bắc”Trở lại! Trở lại!” chẳngnhững nhắc tôi có ngày trở lại, phải đem trở lại cho những ngời thơng ấy củatôi một kỷ niệm tấm lòng mình, một cái gì làm hiển hiện lại cả cuộc đời ngờiMèo trung thực, chí tình dù gian nan đến thế nào bao giờ cũng đợi cán bộ, đợi

bộ đội, bao giờ cũng mong anh em trở lại ( ) Hình ảnh Tây Bắc đau thơng vàdũng cảm lúc nào cũng thành nét thành ngời, thành việc trong tâm trí tôi ( ) ýthiết tha với đề tài là một lẽ quyết định Vì thế tôi viết “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” [14,

70 - 72]

“Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” gồm 3 truyện: “Truyện Tây Bắc”Cứu đất cứu Mờng”, “Truyện Tây Bắc”Mờng Giơn”,

“Truyện Tây Bắc”Vợ chồng A Phủ” viết năm 1953, ngay sau chuyến thâm nhập thực tế của TôHoài Tập truyện này đã đợc tặng giải nhất giải thởng “Truyện Tây Bắc”Hội văn nghệ ViệtNam” năm 1954-1955 Tô Hoài từ Tây Bắc trở về với nhiều tài liệu sống, mộthiểu biết mới và một cảm tình nồng nàn với ngời, cảnh và cuộc sống ở TâyBắc Ông viết “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” trong khi các đơn vị của ta tiến quân vào TâyBắc lần thứ hai và sắp bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ Cũng tronglúc phong trào đấu tranh của nông dân đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến ởmiền xuôi đang lên Ông viết dới ánh sáng rực lửa của hai cuộc cách mạngdân tộc dân chủ đang bốc lên ngùn ngụt

Nội dung của “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” phản ánh số phận và con đờng đấutranh của các dân tộc ở Tây Bắc Số phận của cô ính (Mờng Giơn), Mỵ và APhủ (Vợ chồng A Phủ), bà ảng (Cứu đất cứu Mờng) đã chứng minh và khẳng

định con đờng tất yếu giải phóng các dân tộc ít ngời là đi cùng với cách mạng,khẳng định sức mạnh lớn lao của cách mạng đối với việc giải phóng nhân dânmiền núi Đọc “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” chúng ta nhận ra nó vừa là bản cáo trạngchất chứa hờn căm tố cáo thực dân phong kiến miền núi vừa là bản tình ca, cangợi cảnh đẹp, tập quán hay tinh thần cách mạng, quan hệ giữa ngời với ngời,giữa quần chúng và Đảng ở Tây Bắc, tình ca viết với một bút pháp trữ tìnhnồng đợm và nên thơ

2.2 Tập “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài chỉ tập trung ở ba truyện: “Truyện Tây Bắc”Cứu đất

cứu Mờng”, “Truyện Tây Bắc”Mờng Giơn”, “Truyện Tây Bắc”Vợ chồng A Phủ” nhng đã thể hiện rất thànhcông về kết cấu truyện “Truyện Tây Bắc”Đời sống tâm hồn những tâm trạng của ngời dânmiền núi với nhiều sắc thái riêng đợc Tô Hoài có nhiều kinh nghiệm mô tả

Trang 21

cặn kẽ và tinh tế” (Bùi Hiển) Qua khảo sát tập “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” chúng tôirút ra một số đặc điểm ngôn ngữ trong “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” nh sau:

“Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” có lời tác giả xen kẽ các cuộc thoại xuyên suốt batruyện “Truyện Tây Bắc”Cứu đất cứu Mờng”, “Truyện Tây Bắc”Mờng Giơn”, “Truyện Tây Bắc”Vợ chồng A Phủ” ta thấy TôHoài đã để cho lời tác giả (câu kể) và câu thoại lẫn vào nhau, vì vậy khi đọclời thoại nhân vật ta không vớng hiện tợng sang hàng

VD1: ính vẫn cha hiểu, nhng Mát đã cời, hai má hồng lịm: “Truyện Tây Bắc”Anh Sạ nóinhảm Nó về mách bố thì anh mất một năm đi ở rể đấy” Cả ba ngời cùngnghiêng ngả Thấy cời thì ính cời, mà cời to hơn cả anh chị Giữa lúc con rúitrong hang thình lình xộc ra, đâm đầu vào lỡi thuổng Thuận tay, Sạ đánh mộtnhát, con rúi lăn quay.Sạ xách đuôi rúi lên, vung mấy vòng cho nó mất vía.Con rúi to bằng con cầy hơng Sạ bảo: “Truyện Tây Bắc”To bằng cầy hơng thì ngon thịt lắm.Nhà ta ăn hai bữa mới hết Bố vừa làm đợc chĩnh rợu mơí nhỉ?”.(Mờng Giơn, tr.336-337)

ở đoạn văn trên, những câu thoại của nhân vật đợc đặt kề ngay sau câu

A Phủ đứng ngay lên, tay vẫn cầm cái thìa gỗ đầy nớc canh vừa múc

A Phủ gọi vợ, hốt hoảng Rồi quay sang hỏi ngời lạ:

- Có phải là cán bộ?” (Vợ chồng A Phủ tr.461)

Qua hai ví dụ trên ta thấy ngôn ngữ hội thoại “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” có đặc

điểm lời thoại xen kẽ lời tác giả

2.3 Đặc điểm các đoạn thoại

Ngôn ngữ hội thoại trong “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài có đặc điểmngắn gọn, súc tích Các cặp thoại, đoạn thoại hoàn chỉnh về nội dung và hìnhthức Từ, câu đa dẫn trong đoạn thoại chủ yếu là các độsng từ nói năng: hỏi,bảo, nói

Lời thoại nhân vật chủ yếu đợc đa dẫn bằng những động từ: nói, bảo,hỏi

VD: “Truyện Tây Bắc”Ngời Dao ấy hỏi ông Mờng:

- Tây không bắt làng ta phải về Mờng à?”

(Mờng Giơn tr.368)

“Truyện Tây Bắc”Thống Lý đến bảo bố Mỵ:

- Cho tao đứa con gái này về làm dâu thì tao xoá nợ cho” (Vợ chồng A Phủ tr.438)

Trang 22

Nhìn chung, tác giả thờng sử dụng các hành động ngôn ngữ chủ yếutrong đoạn thoại: hành động bảo, nói năng, hành động cầu khiến, than vãn,hành động chửi hay hành động trần thuật Nhờ đó ta thấy lời dẫn thoại đadạng, phong phú.

Số đoạn thoại trong “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” chiếm số lợng không ít, hầu hếtcác đoạn thoại đều thể hiện rõ đặc điểm về hoàn cảnh, tính cách, mục đích nộidung giao tiếp phù hợp với từng loại nhân vật

Có lúc đoạn thoại thể hiện sự thân thiện, biết ơn của nhân vật

VD: “Truyện Tây Bắc”A Châu giơ tay thề: “Truyện Tây Bắc”-Tôi là A Châu, tôi thề suốt đời làm anhlàm em với A phủ, ai bắt nạt A Phủ thì cùng nhau đánh đứa thù, đánh thằngtây ”

Có khi đoạn thoại là quá trình đối thoại giữa hai thế lực thống trị và bịthống trị nhng thể hiện lời thoại rất tự nhiên và bộc lộ thái độ của nhân vật rất

- Con già Mờng này hoá rồ à? ” (Cứu đất cứu Mờng tr.327)

Đoạn thoại trong “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài đợc thể hiện rất thànhcông qua lớp từ ngữ sắc nét mà ngòi bút của Tô Hoài thể hiện

- Nó là em tôi (Mờng Giơn tr.374)

2, Khi sắp đi, ông Mờng hỏi Sạ:

- Con ơi, con có biết việc nhà mấy năm nay khổ hại đến thế nào không?Sạ tha:

Trang 23

- Con biết rồi Em ính cứ ở nhà, không sợ Rồi con sẽ về.

(Mờng Giơn 412)

ở các ví dụ 1, 2, lời trao đợc đa ra dới hình thức là câu hỏi và lời đáp làcâu trả lời, hớng nội dung thông tin vào lời trao hoặc có khi lời trao là hìnhthức câu hỏi, lời đáp trả lời cho chủ ngữ của lời trao

2.3.2 Cấu trúc hội thoại

Xuyên suốt tập “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài, chúng tôi thấy một đặc

điểm chung về ngôn ngữ truyện ngắn tác giả này: Đó là sự nén chặt, cô đúc,sắc lạnh của ngôn ngữ Vì thế ngôn ngữ của ông có khả năng hàm súc lớn,phù hợp với các nhân vật

VD :1, Câu đầu tiên Nhấn hỏi mẹ:

- Em tôi đâu?

- Phải vào ở nhà quan Cầm Vàng rồi

- Đã bao lâu?

- Hai năm nay (Cứu đất cứu Mờng, tr.322)

2, Mát xua tay trớc mặt Sạ, thì thào:

- Đừng nói, đừng nói

Sạ cời:

- Đào cái tổ con rúi chứ gì

- Trời ơi! Nói to thế!

(Mờng Giơn, tr.334)

Trang 24

3, Mỵ nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:

- A Phủ cho tôi đi

A Phủ cha kịp nói, Mỵ lại nói:

- ở đây thì chết mất

A Phủ chợt hiểu Ngời đàn bà khốn khổ đó vừa cứu mình

A Phủ nói: -“Truyện Tây Bắc”Đi với tôi” (Vợ chồng A Phủ, tr 456)

Sở dĩ ta thấy lời thoại nhân vật trong truyện ngắn của Tô Hoài thờngngắn gọc, súc tích bởi vì nó chỉ là vỏ vật chất bên ngoài để thể hiện những nộidung cần thiết

 Lời thoại nhân vật thờng chỉ mang tính chất giới thiệu nên câuvăn ngắn, ít bình luận, gần với lời thoại của kịch nói

VD: Sạ cời, chẳng muốn biết là còn nhớ hay không nhớ ính lại nói:

- Anh Sạ còn nhớ chuyện “Truyện Tây Bắc”Cô tóc thơm”?

- Quên rồi

- Ngày trớc anh biết nhiều truyện lắm mà

- Đi lâu rồi, chẳng nhớ chuyện thuở bé nữa

(Mờng Giơn, tr 434)

Những từ “Truyện Tây Bắc”nói”, “Truyện Tây Bắc”còn”, “Truyện Tây Bắc”quên”, “Truyện Tây Bắc”biết”, “Truyện Tây Bắc”mà” tạo cho nhân vật đối thoạingắn gọn, cộc lốc, không xen tả, không phân tích tâm lý nhân vật, để nhân vật

tự bộc lộ rõ nhất tâm lý con ngời

 Lời thoại nhân vật thờng đi thẳng vào sự việc, không quanh co,không che dấu, không giữ thái độ tôn trọng thể diện ngời nghe

Châu đoàn Cầm Vàng quát lại:

- Nhà mày ở đâu?

Bà ảng nói:

- Nhà tao ở dinh quan Châu Né Mờng Cơi, mày không biết à?

Châu đoàn Vàng giật mình, rồi chau mặt, quắc mắt:

- Con già Mờng này hoá rồ à?

Bà ảng lại nói:

- Mày là cái khố đỏ cầm vàng con châu Né bây giờ làm quan châu đoànchứ ai Mày cớp con gái tao rồi

Châu đoàn Vàng quát to:

- Con già Mờng này rồ thật!

(Cứu đất cứu Mờng tr.327)Nhân vật không cần dấu giếm những ý nghĩ của mình trớc một hiệnthực mà tự phơi bày chính mình Nhân vật trong truyện ngắn Tô Hoài hầu hết

ít bóng bẩy, sâu xa, ít đa đẩy cho dù đấy là điều tế nhị nhất

ính nhìn em Thằng bé sớm phải lo, ngời gầy nhom

- Bừa nốt ngay đêm nay, em à

Trang 25

- Em không làm hết đợc.

- Tao làm Chỉ đi vài đờng thì quen tay

- Đàn bà đi bừa, cả Mờng cời cho

- Còn hơn ngồi chết đói (Mờng Giơn, tr.363)

Có khi lời thoại nhân vật chỉ có một vài từ thể hiện hành vi trao đápcộc lốc:

1, Ông Mờng đuổi theo, hỏi:

- Tên anh là gì?

- Dầm

- Còn tên anh này?

- Nó là em tôi (Mờng Giơn, tr.374)

2, Mỵ nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:

- A Phủ cho tôi đi

A phủ cha kịp nói, Mỵ lại nói :

- ở đây thì chết mất (Vợ chồng A Phủ, tr 455)

Qua những ví dụ trên, ta thấy hội thoại trong “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” của TôHoài đã thể hiện rõ đặc điểm về hoàn cảnh, tính cách, mục đích, nội dung giaotiếp phù hợp với từng loại nhân vật

Ngôn ngữ hội thoại trong “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài thờng ngắngọn Rất ít khi ta bắt gặp một nhân vật nói dài dòng Chỉ trong một vài từ,một vài câu nói của nhân vật cũng cho ta thấy đợc nội dung cuộc hội thoạicũng nh tính cách của nhân vật, nét tâm lý đặc sắc của nhân vật Có thể nóiphong cách về câu văn trong truyện ngắn của nhà văn Tô Hoài là “Truyện Tây Bắc”mang màusắc cố điển”

Ngôn ngữ hội thoại của nhân vật trong “Truyện Tây Bắc”Truyện Tây Bắc” ngắn gọn, súctích chứng tỏ đợc con ngời, nhân vật trong tác phẩm thể hiện đợc tính cáchcủa mình

Trang 26

Chơng II

Đặc điểm lời dẫn thoại trong tập

"Truyện Tây Bắc " Của Tô Hoài

Lời dẫn thoại là một trong những phơng thức tờng thuật của tác giảtrong truyện Nó có chức năng cơ bản là dẫn dắt, báo trớc sự tồn tại của lời nóinhân vật, khiến cho lời thoại xuất hiện không đột ngột mà luôn gắn với mộtchủ thể, tình huống, ngữ cảnh, nhất định Vì thế lời dẫn thoại không chỉ đóngvai trò chuyển tiếp, nối liền giữa các sự kiện mà còn có thể cung cấp nhữngthông tin về hành động nói năng, tâm trạng tính cách nhân vật, giúp ngời đọchiểu rõ hơn nội dung các phát ngôn Đồng thời, các đặc điểm về cách thức t-ờng thuật lời thoại nói riêng và sử dụng ngôn ngữ nói chung của tác giả cũng

đợc thể hiện rõ nét

I Các ngữ cảnh xuất hiện lời dẫn thoại.

Hội thoại có thể là một cuộc thoại, đoạn thoại hay chỉ cặp lỡng thoạigiữa hai nhân vật (hoặc nhiều nhân vật) Mặc dù lời hội thoại của nhân vật đợc

bố trí, sắp xếp theo ý đồ chủ quan ngời sáng tác nhng chúng bao giờ cũng phảidiễn ra trong không gian, thời gian nhất định

Để tìm hiểu các ngữ cảnh xuất hiện lời dẫn thoại, chúng ta cần phải tìmhiểu hoàn cảnh giao tiếp tác động đến lời thoại nhân vật

1 Khái niệm hoàn cảnh giao tiếp

Hoàn cảnh giao tiếp là hoàn cảnh xã hội và tâm lý mà trong đó ở mộtthời điểm nhất định ngời ta sử dụng ngôn ngữ, nó bao gồm những hiểu biết xãhội và những quy ớc đợc suy ra bất thành văn của ngời nói và ngời nghe Cóhai loại hoàn cảnh giao tiếp

- Hoàn cảnh giao tiếp mở rộng: Gồm hoàn cảnh địa lý, xã hội, lịch sử,chính trị, văn hoá của mỗi dân tộc

- Hoàn cảnh giao tiếp hẹp: Là không gian, thời gian cụ thể trực tiếp màcuộc thoại diễn ra

Hoàn cảnh giao tiếp có quan hệ mật thiết với quá trình giao tiếp củalời nói nên chúng tôi thấy cần thiết phải xem xét nhân tố này, từ đó mới lýgiải đợc vì sao nhân vật lại nói nh vậy, cái gì đã tác động lên lời thoại cuảnhân vật

Không gian và thời gian là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuậttrong tác phẩm văn học, khi một nhân vật xuất hiện cùng với tiếng nói củanhân vật ấy thì đã bị một nền cảnh về không gian và thời gian chi phối

Sự chi phối của hai yếu tố này đã tác động đến sự lựa chọn từ xng hô,yếu tố tình thái, nội dung lời thoại trong ngôn ngữ nhân vật

Trang 27

2 Hoàn cảnh không gian và thời gian giao tiếp của nhân vật trong tập

"Truyện Tây Bắc" của Tô Hoài

Trong tập "Truyện Tây Bắc" của Tô Hoài, qua khảo sát chúng ta nhậnthấy ông thờng để cho nhân vật của mình sử dụng lời thoại trong những khônggian chủ yếu sau:

2.1.1 Không gian gia đình

Tất cả các nhân vật trong tập"Truyện Tây Bắc" đều đợc đóng khungtrong một quan hệ rõ ràng Trớc hết là quan hệ gia đình, dòng họ Quan hệnày chi phối trực tiếp đến không gian hội thoại của nhân vật, chiếm tỉ lệ lớntrong tập "Truyện Tây Bắc", "Cứu đất cứu Mờng", "Mờng Giơn", "Vợ chồng

A Phủ" Trên nền không gian ấy, con ngời phải đối mặt với cái thực tại: cái

ăn, cái ở, cuộc sống trớc bọn thống lí bóc lột, kẻ thù Con ngời phải đối mặtvới những sinh hoạt rất thờng xuyên của mình

Chẳng hạn đó là cuộc thoại của gia đình ông Sênh, cuộc thoại giữa haicha con khi Nhấn nói với bố muốn xuống Mờng Cơi đi đón mẹ lên làm nơngcùng hai bố con, không gian cuộc thoại diễn ra thể hiện tình cảm và lòng th-

ơng yêu tình mẫu tử, qua đây cũng giúp chúng ta thấy đợc tính cách, con ngờichân thành ở họ Song không gian ấy, quan hệ ấy còn tập trung ở cuộc thoạigiữa hai mẹ con - Nhấn và Bà ảng Sau thời gian dài xa cách, gặp lại nhau họtrào dâng nớc mắt, giọt nớc mắt của niềm vui sớng khi gặp đợc Nhấn cũng làgiọt nớc mắt của nỗi đau khi đứa em gái của Nhấn phải vào nhà quan CầmVàng ở hai năm cha về

"Mờng Giơn" với đủ mọi quan hệ cha con, vợ chồng, anh em, chủ

-tớ, mọi sự kiên trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày Tất cả quan hệ và sựkiện ấy đều đợc đặt trong "không gian gia đình" Đó là quan hệ cha - con giữaSạ và ông Mờng trong cảnh giặc Tây tràn về Mờng Giơn, ông Mờng khuyêncon: "Đành sống lấy ngời đã, đi đi các con ơi!"

Sạ nhặt mấy cái bát xắp xếp vào tay nải, nói:

- Tôi đợi bắt trâu, mai tôi đi

- ừ, mày ở lại đuổi trâu đi Không lấy tay lấy chân thay trâu cày đợc đâu.Quan hệ vợ - chồng giữa Sạ và Mát: "Sạ phải đi ở rể, ăn cơm ngồi gócbếp, hút điếu thuốc phải hút vụng, dù vợ chồng thật yêu thơng nhau cũng cứphải giả vờ xa cách nh mặt trăng mặt trời, để lúc đi rừng, đi ruộng mới nhìnnhau thoả thích"

Trang 28

Tất cả sự việc chỉ diễn ra trong một không gian rất hẹp nhng lại phản

ánh đợc nhiều mặt của cuộc sống hiện tại Giữa cánh đồng diễn ra cuộc thoạigiữa ba anh em: Sạ, Mát và ính Mát thì thào rồi xua tay nói với Sạ: "Đừngnói, đừng nói" Xung quanh đám ruộng là những tiếng cời nói của ính, Mátlàm cho không gian trở nên ấm cúng và vui vẻ "Cô ính hỏi:

- Anh Sạ này, sao con rúi lại sợ tiếng đàn bà, không sợ tiếng đàn ông?

- Ngời già bảo đàn bà đi đào rúi mà bỏ dở, thế nào con rúi cũng chạy, vì

nó sợ đàn bà về gọi đàn ông ra đào nốt

- Thật thế không?”

"Vợ Chồng A Phủ" cũng với đủ mọi quan hệ: cha - con, vợ - chồng, anh

- em, cán bộ - đồng bào Là mối quan hệ giữa Pá Tra và Mỵ, giữa một bên làthống lý - một bên là kẻ gạt nợ, mối quan hệ vợ chồng A Phủ và Mỵ, Cuộcthoại của các nhân vật với đủ thứ quan hệ đều đợc thực hiện trong "Vợ chồng

A Phủ".Tô Hoài thành công hơn cả trong việc miêu tả chân dung ngời phụ nữvùng cao: Nhân vật Mỵ trong tác phẩm "Vợ chồng A Phủ" Sự kiện Mỵ làmcon dâu gạt nợ cho nhà thống Lý PáTra giống nh thanh nam châm hút toàn bộnỗi khổ đầu đời của Mỵ Bông hoa đẹp tinh khiết của núi rừng bị nhấn chìmtrong kiếp sống cơ cực Những ngày bị bắt làm dâu gạt nợ nhà thống lý "Lúcnào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nớc dớikhe suối lên, cô ấy cũng cúi đầu, mặt buồn rời rợi" chuỗi ngày tháng cầm tù

đã giết chết tâm hồn và thể xác cô Mỵ dờng nh bị tê liệt, luôn "cúi mặt",

"không nghĩ ngợi" lùi lũi nh con rùa ngồi trong xó cửa" Đó là khuôn mặtbuồn đến nh vô vảm, khác hẳn với giai đoạn ở PhiềngSa Miêu tả những chândung này của Tô Hoài muốn kết án đanh thép sự đày đoạ dai dẳng, nặng nề của

ách thống trị phong kiến trung cổ đối với những ngời lao động

2.1.2 Không gian suối nớc (Sông nớc)

Đọc tập "Truyện Tây Bắc" chúng ta bắt gặp một hình ảnh tiêu biểu củanúi rừng Tây Bắc đợc nhà văn miêu tả không lần nào giống lần nào Đó làhình ảnh con suối, hình ảnh này gắn liền với tuổi trẻ của nhân vật với vẻ đẹpthuần khiết và mát lạnh Với sự quan sát tinh tế nhạy cảm, với một cảm quandiệu vợi, với một tình yêu tha thiết về đất nớc miền Tây, nhà văn Tô Hoài đãtạo đợc bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp Trong các truyện "Mờng Giơn", Cứu

đất cứu Mờng" thì nền không gian suối nớc nh một điểm nhấn nghệ thuật củatác giả Trên dòng suối ấy có thể là sự hồi tởng về quá khứ, có thể là niềm hivọng về tơng lai, có thể là nỗi đau cha dứt của cuộc sống hiện tại Hình ảnhcon suối tiêu biểu núi rừng Tây Bắc đợc nhà văn miêu tả không lần nào giốnglần nào:

"Suối nớc nóng chảy một dòng ven rừng, quanh năm bốc hơi ấm ngùnngụt, ám trắng cả hai bờ đá" Đoạn khác tác giả viết: " Một nhánh suối chảy

về sau làng có nhiều vũng đá tuôn ra thành cái giếng nớc nóng", và rồi tiếngsuối nghe "rào rào vật vã trên lớp ghềnh đá" (Mờng Giơn tr.428)

2.1.3 Không gian rừng núi

Trang 29

Không gian rừng núi Tây Bắc trong tập "Truyện Tây Bắc"là không gianrộng lớn - không gian vùng cao khoáng đãng, bát ngát, rộn âm thanh, đậmmàu sắc Đây là khung cảnh thiên nhiên tơi sáng, tng bừng nh cùng hoà nhịpvới con ngời: Niềm vui của ngời HMông ở PhiềngSa khi có bộ đội về giảiphóng, cuộc sống hồ hởi trở về với mọi ngời, đặc biệt là cuộc đời của vợchồng A Phủ, lúc này thiên nhiên là:

"Mùa xuân lại đến các làng trên vùng cao Tết của du kích không cótiếng chiêng cúng ma rập rờn Nhng trong đồi cỏ tranh mênh mông, gió giậttừng cơn vàng rực và trong phong cảnh khô héo cũng từa tựa mọi năm… cũng đã có nhiều bài viết về tác phẩm Tô Hòai, trong đó có” (Vợ chồng A Phủ tr 486)

Không gian núi rừng đem con ngời đến sự kì vĩ của thiên nhiên của tạohoá: " Hôm ấy trời trong nh một bóng sáng Trông xuống thấy chảy qua chânnúi ngọn suối trắng tinh" (Vợ chồng A Phủ tr 471)

Đặc biệt trong tác phẩm "Cứu đất cứu Mờng", Tô Hoài không dấu nổiniềm vui của ngời dân Mờng khi đợc giải phóng và họ nhìn vào đâu cũng thấythiên nhiên nh là của mình, đang chia sẻ:

"Mồng trăng vằng vặc sáng nh nớc chảy trên lá Những đỉnh núi cỏbồng hắt ngang lại, tiếng chim kỳ dịu êm kêu đêm đầm ấm, đồi hồi" (Tr 330)

Không gian núi rừng là nơi con ngời sinh sống, tồn tại Rừng muôn đời làthế: vô tình, vô cảm, thản nhiên, lạnh lùng, tàn nhẫn Tất cả đều đẩy con ngời

về nơi tận cùng ý thức cá nhân của mình Tuy nhiên trong tập "Truyện Tây Bắc"thiên nhiên mang tâm trạng phù hợp với cảnh ngộ đau thơng của nhân vật Hìnhtợng "tiếng chim kỳ kêu đầm ấm, giục giã bồi hồi", đó chính là nỗi lòng ngờidân miền núi gắn liền với thiên nhiên hay chính là sự cảm thông của Tô Hoàitrớc những cảnh ngộ vui buồn của đất Mờng Cơi, tác giả viết: “Truyện Tây Bắc” Một buổi sớmnghe tiếng chim kỳ cuốn dài theo gió từ khe mông mang đa ra ai cũng thấy mùa

đông nh đơng trở lại" (Cứu đất cứu Mờng, tr 313)

Tóm lại, qua ngòi bút miêu tả của Tô Hoài, thiên nhiên Tây Bắc hiện rathật nên thơ Thiên nhiên thực sự trở thành một phơng tiện nghệ thuật đểthông qua đó nhà văn dễ dàng thả tâm trạng có khi là niềm vui của con ngờimiền núi Sống trong cảnh thanh bình, trong hạnh phúc và tình yêu thì thiênnhiên hiền hoà êm đẹp Nhng khi tai hoạ ập xuống cuộc sống, sinh hoạt dânbản mờng thì thiên nhiên dữ dội ngậm ngùi nh một bản tình ca buồn

2.1.4 Không gian đời t

Tô Hoài đã đi vào khám phá những biến động tâm lí của nhân vật, mặc

dù biến động ấy có khác nhau nhng tác giả đã len lỏi vào tận hang cùng ngõhẻm, những quá trình bên trong để thấy đợc những diễn biến phong phú phứctạp của nó

Khoảng không gian tự mổ xẻ, tự lý giải mình của một cá nhân chỉ diễn

ra trong chốc lát, nhỏ và hẹp nhng đó là khoảng không gian có sức nặng có thểlàm đau trái tim ngời đọc Trong thế giới nội tâm có đủ: niềm vui, đau đớn,

Trang 30

mừng tủi, căm hờn, quyết tâm Một quan niệm nh vậy của tác giả về thế giớinội tâm giúp ta hiểu nét tính cách cơ bản của ngời dân miền núi, đồng thời mởrộng khả năng chiếm lĩnh và phản ánh con ngời của nhà văn.

Nhân dân Mờng Cơi cũng nh chín châu mời mờng khác đều nằm trong

sự lùng sục bắt bớ của bọn phong kiến, tay sai Số phận của cô ảng chịu nhiềucay cực, từ một cô ảng đẹp trở thành bà lão già nua, đi hầu hạ cho tri châu

Né Đứng trớc bọn lính trong đó có Cầm Vàng - con tri châu Né - Bà ảng diễn

ra quá trình tâm lý: "Nên gào, nên chửi, nên khóc thật to hay nh thế nào", lòngcăm thù đã đến đỉnh cao nhng rồi bà ảng dần trở lại bình tĩnh và không ngờrằng ngời đàn bà ấy lại mạnh mẽ, gan dạ dám thách thức bằng câu trả lờichỏng lỏn: "Nhà tao ở dinh quan châu Né Mờng Cơi, mày không biết à? Mày là cái khố đỏ ở dinh quan châu Né bây giờ làm quan châu Đoàn chứ ai.Mày cớp con gái tao rồi", không sợ chết, bất chấp sợi dây đang trói mình vàogốc xoan bà vẫn dãy giụa rồi kêu lên"Thóc tao! Thóc tao đâu! Cầm Né! Thằngcầm Vàng đốt thóc của mẹ con tao " Nh vậy, đòi sống tâm hồn, những tâmtrạng của ngời dân miền núi với nhiều sắc thái riêng đợc Tô Hoài có nhiềukinh nghiệm miêu tả cặn kẽ và tinh tế" (Bùi Hiển)

Không gian đời t đã cho nhân vật của Tô Hoài đầy trăn trở, suy t, vật vã,một điều kiện cho nhân vật tự mổ xẻ cuộc sống và sự tồn tại của mình.Khoảng không gian này đã làm cho đối thoại của nhân vật chuyển dần sang

độc thoại, mang màu sắc không gian tâm lý Lời thoại nhân vật xuất hiện cùngvới khoảng không gian này thờng mang những ý nghĩa triết lý nh ông Mờng(Mờng Giơn): “Truyện Tây Bắc”ở với quân ác thì không thể nhìn nhau đợc” hay sự giằng xénội tâm gay gắt, khi âm ỉ, khi quyết liệt, đó là nhân vật cảm thấy cay cú vớicái số phận ở rể của mình bởi: "Cái thân đi ở rể, ăn cơm ngồi góc bếp, hút

điếu thuốc phải hút vụng, dù vợ chồng thật yêu nhau cũng cứ phải giả vờ xacách nh mặt trăng mặt trời" (Mờng Giơn tr.335)

2.2 Hoàn cảnh thời gian

Ngoài nhân tố không gian, lời hội thoại của nhân vật còn đ ợc hiệnthực hoá qua nhân tố thời gian Thời gian trong "Truyện Tây Bắc" của TôHoài bao gồm:

2.2.1 Thời gian hiện tại

Thời gian mà Tô Hoài để cho nhân vật nói năng là thời gian của ngàylàm việc, đó là thời gian của những buổi sáng, buổi tra, buổi chiều, buổi tối

mà con ngời phải trải qua hàng ngày

Thời gian làm nền cho lời thoại nhân vật xuất nhiên trớc hết là thời gianbuổi sáng "Bây giờ buổi sáng mùa đông khô ráo, Từ mặt đất mây mù dần dấncất cao nh một mảnh sơng cuộn lên, lần đầu tiên trông thấy đồng lúa chín … cũng đã có nhiều bài viết về tác phẩm Tô Hòai, trong đó có”(Mờng Giơn,6.430)

Tô Hoài còn dành những trang viết miêu tả số phận nhân vật vàokhoảng thời gian buổi tra, buổi tra ở vùng cao trong trẻo, nên thơ bởi sắc nắng

Trang 31

vàng: "Giữa tra, nắng hanh đọng vàng tơng vũng trong rừng tràm cao vút, imlặng " (Mờng Giơn tr.343) thời gian buổi tra cũng là thời điểm ính và mấy chịnữa xách giỏ cua, giỏ ốc từ ngoài suối, vẫn nguyên váy áo lấm thế đi về.

Thời gian buổi chiều cũng xuất hiện nhiều trong những trang văn đấỳxuân sắc xuân tình Đó là một buổi chiều Tô Hoài cụ thể hoá bằng màu sắc,

để phân biệt với các buổi chiều khác: chiều âm xuân, chiều uá, chiều tàn,

"Chiều tối đen mù mịt của đám mây đen kịt sắp ma" Cụ thể là : "Buổi chiềuvàng úa càng thấp xuống những mái lá chen chúc, lụp xụp trong các làng ớt átdới chân đồi" (Mờng Giơn399) Trời tối là khoảng thời gian "Ông Mờng chui

bờ rào ra đầu rừng, ông giả tiếng hu, làm khẩu hiệu bí mật "Thời gian trời tốicũng là lúc"Trời tối mịt nhng ính nhìn hớng rừng vẫn quen và bớc nhanh "Cùng với thời gian buổi sáng, buổi tra, chiều và tối thì thời gian ban đêm lại đợcTô Hoài giới thiệu nhiều nhất trong tác phẩm: "Tối hôm ấy, ông Tạo On vàonhà ông Mờng chơi, cứ kể ngời họ Lò nh Lò Văn On ấy là"Một đêm, vào gàgáy sang canh, ông Mờng ngồi dậy gọi hai con gái:- Về thôi, các con ạ" (MờngGiơn )

Hay là "Đến nửa đêm Bân từ kho lần lên đồn, Bân trèo vào chuồngchâu" Rồi thời gian ban đêm còn là lúc: “Truyện Tây Bắc”Ngay đêm ấy các nhà trong lũngdọn đi núi khác Cũng đêm ấy, các xóm Mờng, xóm Dao trong khu du kích từlũng tìm cẩu đến khe Mông Mang đều chuyển"

Qua sự khảo sát trên cho chúng ta thấy: Lời thoại của các nhân vật đềuxuất hiện vào khoảng thời gian gắn liền với hoạt động thờng ngày của mình,trong những lúc làm việc, lúc đi chơi, hay tâm sự Đây là khoảng thời giangần gũi nhất đối với đời sống con ngời, thời gian trong tác phẩm của Tô Hoài

là thời gian ban ngày và thời gian ban đêm Thời gian ban ngày - thời gian thểhiện tính hoạt động sinh hoạt nhiều nhất nhng ở đây thời gian ban đêm cũng làkhoảng thời gian mà các nhân vật tập trung hoạt động khá nhiều chính vì thế

mà lời thoại nhân vật xuất hiện rất nhiều

Lời dẫn thoại là một hình thức giao tiếp thờng xuyên của nhân vật, nó

có thể xuất hiện bất cứ mọi lúc mọi nơi của cuộc sống thờng nhật, của sinhhoạt hàng ngày của con ngời Vì vậy mảng thời gian hiện tại đợc Tô Hoài sửdụng nhằm thể hiện con ngời đời thờng trong tác phẩm

2.2.2 Thời gian hiện thực

Trong tập "Truyện Tây Bắc" của Tô Hoài, chúng ta thấy Tô Hoài luônviết về cuộc sống của ngày hôm nay Vì thế trong lời thoại nhân vật thời gianhiện thực góp một phần quan trọng trong việc thể hiện nội dung tác phẩm Đó

là thời gian để các nhân vật toan tính, mu sinh, cách kiếm sống và bảo vệchính mình Thời gian này không khắc hoạ chiều sâu tâm lý của nhân vật mà

đa nhân vật sống bằng những suy nghĩ trần tục, thực dụng của mình

Từ câu chuyện cổ tích Sạ kể cho hai chị em ính và Mát nghe: "Thế sángmai trời lại xuống thấp, đàn bà goá lại lên đòi chồng thì sao? - Bây giờ trời

Trang 32

không sợ đàn bà goá nữa!" Hay là sự suy tính, đắn đo đầy mục đích của ôngTạo Bản: "Rồi ông Tạo On đi bao giờ, ông Mờng cũng không biết Ông khônglòng nào nghĩ đến ông Tạo On bỏ chúng bạn trở lại làm tạo bản mà ông nghĩviệc nhà, càng muốn đứt ruột chuyến này thì nhà ông đói to" và đó cũng làsuy nghĩ của ông Mờng: "Nếu có cán bộ về giúp thì chết cũng không sợ".Rồisuy nghĩ thực dụng của anh thanh niên:"Những lúc khổ thế này, ớc gì hỏi đợccán bộ ".

Thời gian hiện thực đã tạo sự thuận lợi cho nhân vật bộc lộ những toantính nhỏ nhặt nhất của mình, ông Mờng thì sợ: "Đi hết thì bỏ ruộng ai coi?

- Cố cho qua cơn này", còn ông Tạo On ngơ ngẩn:

- "Chết ai cha biết, chỉ tôi chết đã", nhân vật không hồi tởng quá khứ vàcũng không vơn tới tơng lai Thời gian này bộc lộ rõ trong truyện Nó xuấthiện cùng thời gian hiện tại, thời gian của những sinh hoạt đời thờng của nhânvật

2.2.3 Thời gian trần thuật

Đây là thời gian từ quá khứ đến tơng lai, là thời gian tuần tự của ngày từsáng đến khuya, thời gian của ngày mai sang ngày khác, là thời gian của đờingời, của các số phận nhân vật Thời gian trần thuật có khi chỉ vẻn vẹn trongnhững thời gian nhất định, có ngày, có tháng, thậm chí là có buổi hẳn hoi:

"Một buổi sớm tiếng chim kỳ cuốn dài theo gió từ khe Mông Mang đa ra Aicũng nh thấy mùa đông đơng trở lại, có những điều tốt lành theo Đấy là mùagặt hái sắp tới " (Cứu đất cứu Mờng, tr 313)

Thời gian trần thuật không chỉ diễn ra trong một, hai ngày mà còn là

m-ời mấy năm: "Mm-ời mấy năm đã qua Rách quá, ốm quá, già quá, chẳng mấylâu mà ngời Mờng Cơi đều gọi cô ảng là bà lão ảng, bà lão ảng ăn mày"

Hay với thời gian ba năm: "Ba năm nay, pháp trở lại chiếm Mờng Cơi,lập lại quan châu, quan Mờng Các làng ven rừng bỏ lên ở bí mật trên núi.Nhấn không xuống chơi tết với mẹ đợc nữa (Cứu đất cứu Mờng tr.320)

Trong "Mờng Giơn" thời gian trần thuật đợc miêu tả trong những thời

điểm đặc biệt nổi bật: buổi sáng sớm, buổi tra nắng vàng, buổi chiều, buổi tối,

đêm tối, tuy vậy khoảng thời gian này không xác định đợc cụ thể ngày, nămnào Cuộc sống của gia đình ông Mờng, bà ảng, ông Sênh đợc đóng khungtrong những thời gian nhất định nhng vẫn đem đến cho ngời đọc những dấu ấnkhó quên về thân phận, kiếp ngời nhân vật

Thời gian trần thuật mang lại giá trị nghệ thuật của tác phẩm, giúpchúng ta nhận ra cách nhìn sâu sắc về nhân vật và rút ra đợc nội dung tácphẩm diễn tả gì, nói gì

2.2.4 Thời gian hồi tởng

Là thời gian mà nhân vật tái hiện qua hồi ức hay sự hồi tởng Hồi ức đó

có thể tơi sáng, buồn rầu chua xót, tiếc nuối, khổ đau, ân hận, day dứt Chẳnghạn là hồi ức buồn đau của Nhấn về ngời Mẹ: "Mẹ nhấn, ngày trớc, ngời làng

Trang 33

gọi là cô ảng Cô ảng xa đã một thời đẹp nức tiếng đất Mờng Cơi Lệ làng

đây bắt ngời ta mỗi năm đi làm cuông, bắt cả cuông đàn bà Chao ôi, những

nh con gái đẹp nhà quan thì càng làm đẹp cửa đẹp nhà quan, con cái nhà dân

mà đẹp thì chỉ sinh lo, sinh bệnh cho cha mẹ" Hay những lúc bị trói: "Mỵchợt nhớ lại câu chuyện ngời ta vẫn kể: đời trớc ở nhà thống lý PáTra có mộtngời trói vợ ở trong nhà ba ngày rồi đi chơi, khi về nhìn đến thì thấy vợ đãchết rồi Nhớ thế, Mỵ sợ quá Mỵ cựa quậy xem mình còn sống hay đã chết "(Vợ chồng A Phủ tr.444) Rồi Tô Hoài miêu tả lại quá trình nhớ lại quá khứcủa Mỵ: "Ngày trớc, Mỵ thổi sáo giỏi Mùa xuân này, Mỵ uống rợu bên bếplửa và thổi sáo… cũng đã có nhiều bài viết về tác phẩm Tô Hòai, trong đó có " (Vợ chồng A Phủ tr.442)

Bằng việc nhớ lại quá khứ, Mỵ đã vợt qua tình trạng sống"phí thờigian", sống mà nh chết bấy lâu nay, rồi Mỵ trở về với cuộc sống thực tại:"Mỵthấy phơi phới trở lại"

Trời gian hồi tởng xuất hiện không nhiều trong lời thoại nhân vật truyệnngắn Tô Hoài, nhng nó đã đóng vai trò gợi lại quá khứ trong ký ức của nhânvật, nó đơn thuần chỉ là sự nhớ lại chứ không đa nhân vật sống với thời gian đãqua trong hiện tại

3 Tiểu kết

Qua khảo sát cho thấy không gian sinh tồn và thời gian hiện tại, sinhhoạt đời thờng luôn xuất hiện bên cạnh, song song làm nền cho lời thoại nhânvật Hoàn cảnh không gian - thời gian này đã tạo cho nhân vật (Lời thoại) củaTô Hoài trở nên gần gũi, đáng yêu Đồng thời sự gắn bó của chúng tạo nêntính thống nhất cho tác phẩm, nó khẳng định đợc bớc phát triển mới củaphong cách sáng tạo Tô Hoài

Vì vậy ta thấy đợc vai trò ngữ cảnh xuất hiện lời dẫn thoại rất lớn Đóchính là những nhân tố quan trọng để các ngữ cảnh xuất hiên lời dẫn thoại.s

II Phân loại các lời dẫn thoại trong tập "Truyện Tây Bắc" của Tô Hoài

Ví dụ: "Đầu câu chuyện với khách, A Phủ hỏi:

- ăn cơm cha ? ăn cơm nhà tao đi

Rồi A Phủ và ngời lạ vào bếp, lấy mấy nắm bột ngô xuống ăn với thịtchuột nấu rau cải Mỵ vừa nhổ ở nơng về Họ ăn và nói chuyện:

- ở đâu về đấy?

- ở ngoài vào " (Vợ chồng A Phủ tr.461)

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nam Cao (1997), Tuyển tập truyện ngắn, tập 1, 2 - NXB VH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn, tập 1, 2
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: NXB VH
Năm: 1997
2. Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp tiếng Việt - NXB ĐHQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 1996
3. Lê Thị Sao Chi (2006), Đặc điểm chức năng - Đề tài khoa học cấp trờng, §H Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm chức năng
Tác giả: Lê Thị Sao Chi
Năm: 2006
4. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cơng ngôn ngữ học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2001
5. Phan C Đệ, (1979), Nhà văn Việt Nam 1945 - 1954, NXB ĐH và THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam 1945 - 1954
Tác giả: Phan C Đệ
Nhà XB: NXB ĐH và THCN
Năm: 1979
6. Tô Hoài (1999), Truyện Tây Bắc, NXB Dân tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Tây Bắc
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: NXB Dân tộc
Năm: 1999
7. Tô Hoài (1997), Sổ tay viết văn, NXB Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay viết văn
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1997
8. Tô Hoài (2003), Về tác giả và tác phẩm, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tác giả và tác phẩm
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2003
9. Hà Thị Thu Hoài (2004), Đặc điểm ngôn ngữ miêu tả trong Truyện Tây “ Bắc của Tô Hoài ” , Luận văn tốt nghiệp, ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngôn ngữ miêu tả trong Truyện Tây"“"Bắc của Tô Hoài
Tác giả: Hà Thị Thu Hoài
Năm: 2004
10. Đinh trọng Lạc (1999), Phong cách học tiếng Việt, NXB GD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh trọng Lạc
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1999
11. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ nghĩa lời hội thoại, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa lời hội thoại
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1999
12. Đỗ Thị Kim Liên (2002), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2002
13. Nguyễn Văn Long (1997), Giảng văn văn học Việt Nam (tập 2), NXB GD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng văn văn học Việt Nam (tập 2)
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1997
14. Nguyễn Đăng Mạnh (1978), Tuyển Tập Tô Hoài (tập 1), NXB Văn học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển Tập Tô Hoài (tập 1)
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1978
15. M.Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trờng viết văn NguyÔn Du, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Năm: 1992
16. F. de. Saussure (1973), Ngôn ngữ học đại cơng, NXB KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đại cơng
Tác giả: F. de. Saussure
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1973
18. Hoàng Trung Thông (1954), Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, Văn nghệ tháng, Số 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Tây Bắc của Tô Hoài
Tác giả: Hoàng Trung Thông
Năm: 1954
19. Lê Thị Trang (2000), Đặc điểm ngôn ngữ hội thoại trong truyện nhắn Nguyễn Huy Thiệp, Luận văn tốt nghiệp, ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngôn ngữ hội thoại trong truyện nhắn Nguyễn Huy Thiệp
Tác giả: Lê Thị Trang
Năm: 2000
20. Câu Tiếng Việt và nội dung dạy - học câu ở trờng phổ thông (2001), NXB GD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu Tiếng Việt và nội dung dạy - học câu ở trờng phổ thông (2001)
Tác giả: Câu Tiếng Việt và nội dung dạy - học câu ở trờng phổ thông
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2001
21. Nguyễn Nh ý (1997), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học , NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Nh ý
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 Số lợng câu thoại  trong truyện Tô Hoài - Đặc điểm lời dẫn thoại qua khảo sát tập truyện tây bắc của tô hoài
Bảng 1 Số lợng câu thoại trong truyện Tô Hoài (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w