1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm câu văn trong 101 truyện ngày xưa của tô hoài

96 749 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm câu văn trong 101 truyện ngày xưa của Tô Hoài
Tác giả Lê Thị Hường
Người hướng dẫn GS - Đỗ Thị Kim Liên
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Luận Ngôn Ngữ
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 375,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinh

Trang 2

Vinh, 2007

Mục lục

Trang

Lời nói đầu……… 2

Mở đầu……… ……… 3

1 Lý do chọn đề tài ……… 3

2 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu ……… 5

3 Lịch sử vấn đề ……… 5

4 Phơng pháp nghiên cứu ……… 7

5 Cái mới của đề tài ……… 8

6 Cấu trúc của khoá luận ……… 8

Chơng 1: Những giới thuyết xung quanh đề tài……… 9

1.1 Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn ……… 9

1.2 Vấn đề định nghĩa câu ……… 15

1.3 Vài nét về tác giả Tô Hoài ……… 17

Chơng 2: Đặc điểm câu văn Tô Hoài xét về mặt cấu trúc qua 101 truyện ngày xa……… 21

2.1 Về câu đơn- câu ghép hiện nay ……… 21

2.2 Thống kê và phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp ……… 24

2.3 Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Tô Hoài xét về cấu trúc ……… 26

2.4 Một số nhận xét cấu trúc câu văn trong 101 truyện ngày xa của Tô Hoài………… 52 …

Chơng 3: Đặc điểm câu văn Tô Hoài qua 101 truyện ngày xa xét về mục đích giao tiếp……… 59

3.1 Vấn đề phân loại câu theo mục đích giao tiếp ……… 59

3.2 Thống kê, phân loại câu theo mục đích giao tiếp ……… 59

3.3 Đặc điểm câu văn Tô Hoài xét theo mục đích nói ……… 60

3.4 So sánh câu văn trong truyện ngắn của Tô Hoài với câu văn trong truyện ngắn của Hồ Anh Thái 80

Trang 3

Kết luận……… 91

Tài liệu tham khảo ……… 93

Lời nói đầu

Tìm hiểu, nghiên cứu những truyện cổ tích của Tô Hoài thực sự trở thành điểm thu hút nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học Đi sâu vào

nghiên cứu “Đặc điểm câu văn trong 101 truyện ngày xa của Tô Hoài”,

chúng tôi thấy thiết thực, bổ ích, thú vị Mặc dù bản thân tác giả đã có những

cố gắng nhất định nhng vì thời gian có hạn cũng nh năng lực có hạn từ phía chủ quan, do vậy luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, những sai xót Chúng tôi mong đợc sự lợng thứ của bạn đọc

Thực hiện đề tài này tôi xin chân thành cảm ơn GS Đỗ Thị Kim Liên

ng-ời trực tiếp hớng dẫn tận tình, cảm ơn các thầy cô đã trực tiếp giảng dạy, cung cấp kiến thức nền cho chúng tôi cũng nh bạn bè, ngời thân đã động viên, giúp đỡ chúng tôi hoàn thành luận văn này

Vinh, tháng 12, năm 2007

Tác giả

Lê Thị Hờng

Trang 4

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Hiện nay trong công cuộc đổi mới đất nớc, việc tìm hiểu ngôn ngữ trong tác phẩm của các nhà văn Việt Nam không chỉ là trách nhiệm của những nhà nghiên cứu văn học mà cả các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Vì vậy chúng tôi muốn góp một phần nhỏ của mình trong việc tìm hiểu đặc

điểm của câu văn trong tập truyện 101 truyện ngày xa của nhà văn Tô Hoài,

để từ đó khẳng định cống hiến của Tô Hoài trên bình diện ngôn ngữ

1.2 Tô Hoài là cây bút văn xuôi tiêu biểu, xuất sắc, là nhà văn có vị trí

đặc biệt trong nền văn học Việt Nam hiện đại Ông là ngời đầu tiên đặt viên gạch xây nền cho nền văn học viết về dân tộc miền núi Nói đến Tô Hoài ng-

ời ta thờng nói đến một nhà văn có nghề nghiệp vững vàng, một tấm gơng lao

động không biết mệt mỏi, đầy sáng tạo, bền bỉ và dẻo dai Có thể thấy mọi hành trình ngắn dài của Tô Hoài đều in những dấu ấn trên những trang viết,

đều trở thành nguồn văn của ông Những thành tựu độc đáo và những kinh nghiệm của Tô Hoài trong ngôn ngữ là những đóng góp quan trọng đối với nền văn học Với những ý nghĩa đó, việc tìm hiểu nghiên cứu truyện ngắn của Tô Hoài là cần thiết

1.3 Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu giới thiệu về Tô Hoài

song cha có một công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu 101 truyện ngày xa ở

phơng diện ngôn ngữ Đây đang còn là một bài toán lớn đặt ra đòi hỏi phải có những phơng hớng tiếp cận, những lời giải có cơ sở khoa học Nhng dờng nh vấn đề đó đang bị rơi vào góc khuất và rơi vào tình trạng tạm bằng lòng với những nhận định có tính khái quát Vì vậy luận văn chúng tôi đi vào một vấn

đề hết sức cần thiết " Đặc điểm câu văn trong tập truyện 101 truyện ngày xa

của nhà văn Tô Hoài " Đề tài này vừa mang tính khoa học vừa mang tính thực tiễn cấp thiết, góp thêm t liệu cho việc học tập và giảng dạy truyện cổ tích Việt Nam, đó là lý do chúng tôi chọn đề tài này

Trang 5

2 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Đối tợng

Tô Hoài là nhà văn lớn, các tác phẩm của ông đợc viết theo nhiều thể loại khác nhau nh truyện ngắn, hồi ký, cổ tích Riêng tập truyện của ông sáng tác 101 truyện ngày xa ở đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu đặc

điểm câu văn của Tô Hoài qua 16 truyện Các truyện đó là:

Trang 6

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Qua khảo sát 15 truyện cổ tích mà nhà văn Tô Hoài đã thể hiện, chúng tôi đi đến tìm hiểu đặc điểm câu văn của Tô Hoài về mặt cấu trúc và

đặc điểm câu văn theo mục đích giao tiếp

- Rút ra những đặc điểm về phong cách ngôn ngữ Tô Hoài về phơng diện sử dụng câu văn

3 Lịch sử vấn đề

Cho đến nay, những công trình nghiên cứu về Tô Hoài vẫn cha nhiều Nói không nhiều là so với đời văn, sự nghiệp đồ sộ của ông Tuy nhiên nhìn chung các tác giả nghiên cứu về Tô Hoài đã khái quát đợc những nét đặc trng

về phong cách của nhà văn tài ba và tận tuỵ với nghề này Trớc số lợng các bài nghiên cứu và trong phạm vi có thể chúng tôi chia ra 2 hớng nghiên cứu sau:

- Hớng nghiên cứu trên phơng diện văn học

- Hớng nghiên cứu trên phơng diện ngôn ngữ học

a Trên phơng diện văn học, chúng tôi xin đợc đa ra nhận xét chung, khái quát của giáo s Hà Minh Đức về nhà văn Tô Hoài nh sau: “Tô Hoài là một cây bút xăn xuôi sắc sảo và đa dạng Dõi theo cuộc đời sáng tác của ông, ngời đọc vẫn thấy ông là "một ngòi bút tơi mới, không bị cũ đi vì thời gian, không tự giới hạn mình trong khuôn khổ và phạm vi hiện thực nào, không tự thu lại theo một giọng điệu văn chơng nào" Trớc cách mạng, giọng văn của

ông vừa da diết với cuộc đời chung vừa nhẹ nhàng châm biếm những cảnh

đời ngang trái đau khổ Sau cách mạng tháng Tám, ngòi bút Tô Hoài lại xông xáo vào những miền đất mới, chan hoà với những cuộc đời mới, "tiếp nhận cái đa dạng và sinh động của cuộc đời, văn chơng Tô Hoài có sức toả mới" (16, tr 27)

Ông có thể tiếp tục viết về cuộc đời cũ bên cạnh những trang viết về cuộc đời mới, trên nhiều trang sách sau cách mạng tháng Tám Ngoài ra ông

đến với báo chí để khám phá hiện thực và chuyển tải những chất liệu sinh

động nhất, những thông tin nghệ thuật mới mẻ nhất vào tác phẩm

Trang 7

Cùng với Hà Minh Đức còn có những tác giả nh Phan Cự Đệ, Trần Hữu Tá, Vân Thanh, Phong Lê, Vơng Trí Nhàn Họ đã có nhiều bài nghiên cứu, bài viết chuyên luận viết về sự nghiệp văn học của Tô Hoài Tìm hiểu nghiên cứu về Tô Hoài nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng

ông là nhà văn tài hoa, chăm chỉ tận tuỵ với nghề và độc đáo

b Về phơng diện ngôn ngữ, các bài nghiên cứu cũng đã có sự quan tâm, đánh giá và đa ra những nhận xét sự đóng góp riêng của Tô Hoài về nghệ thuật sử dụng ngôn từ, về cấu trúc câu văn Giáo s Hà Minh Đức đã kết luận: “Trong nghệ thuật ngôn từ, Tô Hoài chú ý đến cách cấu trúc câu văn không viết theo mô hình câu có sẵn trên sách báo, ông viết theo sự tìm từ riêng của mình để diễn đạt cho đợc chủ đề và t tởng tác phẩm, câu văn của Tô Hoài mới mẻ, ông sáng tạo ra những quan hệ mới, cấu trúc mới trong cấu trúc thi ca” Quả thật, trong lĩnh vực ngôn ngữ, Tô Hoài đặc biệt chú ý đến cái mới, cái đẹp của chữ nghĩa, làm sao để thuần tuý là chuyện chăm chút và mài sắc ngôn từ Tô Hoài tìm hiểu dùng chữ đẹp của quần chúng trong lao

động, trong nghề nghiệp đầy suy nghĩ và sáng tạo

Một trong những nhà nghiên cứu đáng chú ý về ngôn ngữ Tô Hoài đó chính là Trần Hữu Tá Ông cho rằng: “Tô Hoài có khả năng quan sát tinh tế

và nghệ thuật miêu tả linh động, ngời, vật, thiên nhiên, cảnh sinh hoạt, tất cả lung linh, sống động nói rõ cái thần của đối tợng và thờng bàng bạc một chất thơ”(16, tr.29)

Có thể nói văn xuôi của Tô Hoài có chất thơ, chất nhạc và chất hoạ, thơ- nhạc, hoà quyện trong chơng, đoạn Các nhà điện ảnh cũng có thể tìm thấy trong tác phẩm của Tô Hoài những sáng tạo gần gũi với chuyên môn của mình Cũng chính tác giả Trần Hữu Tá còn nhận xét: "Mỗi chữ phải là hạt ngọc buông xuống những trang bản thảo, hạt ngọc mới nhất của mình tìm đ-

ợc do phong cách văn chơng của mình mà có"

ở chỗ khác, theo Trần Hữu Tá, thì “ở Tô Hoài không phải là chuyện chơi chữ hay khoe chữ Đây là hàng trăm lần quan sát và ngẫm nghĩ về thiên nhiên đất nớc để tìm chữ đặt tên cho sự vật, phải tìm kiếm, chọn lọc, rồi phải

Trang 8

đúc luyện thêm mới đa cho ngời đọc Đây là những sáng tạo của tình yêu đất nớc, tình yêu mẹ và của lao động cật lực.”

Nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng đã làm sáng tỏ về khả năng sáng tạo trong cách dùng chữ đặt câu của Tô Hoài câu văn cũng nh cuộc đời, nh tôi vừa nói với anh, không bao giờ lặp lại cả, cho nên đời không lặp lại thì câu văn cũng không đợc phép lặp lại, phải làm nh thế nào cho ngời đọc chỉ nhận thấy dáng câu, chứ không bao giờ thấy đợc kiến trúc câu, vì kiến trúc câu, tức là cách để xây dựng nên cuộc đời, cuộc đời đã không lặp lại thì kiến trúc câu cũng không đợc quyền lặp lại

Nh vậy, nhìn lại những bài nghiên cứu trên đây tuy có những đánh giá nhận xét về đặc sắc ngôn ngữ của Tô Hoài, nguyên nhân nào làm cho Tô Hoài có những thành công, song những kết luận trên đây mới chỉ dừng lại ở

sự đánh giá, nhìn nhận một cách khái quát cha thực sự đi sâu vào các đặc

điểm về câu văn, các biện pháp tu từ trong các tác phẩm cụ thể

Đặc biệt, việc đi sâu tìm hiểu các đặc điểm câu văn về mặt cấu trúc,

mục đích giao tiếp trong 101 truyện ngày xa của nhà văn Tô Hoài thì cha có

đề tài nào thực hiện Trong đề tài này chúng tôi muốn đề cập đến cái độc đáo trong đặc điểm câu văn trong tập truyện 101 truyện ngày xa của nhà văn Tô

Hoài

4 Phơng pháp nghiên cứu

Luận văn này nghiên cứu Đặc điểm câu văn trong 101 truyện ngày

x-a củx-a nhà văn Tô Hoài Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng đồng

thời các phơng pháp nh :

4.1 Phơng pháp thống kê và phân loại

Chúng tôi thống kê các câu văn trong truyện Tô Hoài để lấy đó làm cơ

sở phân loại theo cấu trúc và theo mục đích giao tiếp Chúng tôi đã thống kê

đợc 1517 câu và dựa trên số liệu đó để đi sâu vào phân tích, miêu tả đặc điểm của chúng

Trang 9

4.2 Phơng pháp so sánh đối chiếu

Trên cơ sở vấn đề đã khảo sát thống kê, phân loại, chúng tôi so sánh câu văn của nhà văn Tô Hoài trong mỗi nhóm, từ đó rút ra đặc điểm câu văn của Tô Hoài và khẳng định sự đóng góp của ông về mặt ngôn ngữ

4.3 Phơng pháp phân tích tổng hợp

Trên cơ sở thống kê, phân loại, so sánh đối chiếu, chúng tôi phân tích tổng hợp những đặc điểm câu văn của Tô Hoài xét theo cấu trúc hay theo mục đích giao tiếp Chúng tôi sẽ đi đến khái quát những nét đặc sắc cũng nh

sự đóng góp về câu văn trong tập truyện của ông

5 Cái mới của đề tài

Nghiên cứu về Tô Hoài từ trớc đến nay có một số công trình, bài viết

về đặc điểm ngôn ngữ hội thoại hay về sáng tác của ông Song đề tài Đặc

điểm câu văn trong 101 truyện ngày xa của nhà văn Tô Hoài có thể xem là

một công trình độc lập đầu tiên nghiên cứu về truyện ngày xa của nhà văn Tô Hoài về góc độ ngôn ngữ câu văn Qua đó, chúng tôi đi đến khẳng định những đóng góp về tổ chức câu văn, nội dung ý nghĩa khái quát trong truyện cũng nh sự sáng tạo riêng về nghệ thuật kể chuyện của ông so với truyện cổ tích của các tác giả dân gian

6 Cấu trúc khoá luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung khoá luận có 3 chơng:

Chơng 1: Những giới thiệu xung quanh đề tài

Chơng 2: Đặc điểm câu văn trong tập truyện 101 truyện ngày xa

của nhà văn Tô Hoài xét về mặt cấu trúc

Chơng 3: Đặc điểm câu văn trong tập truyện 101 truyện ngày xa

của nhà văn Tô Hoài xét về mặt mục đích giao tiếp

Trang 10

chơng 1

những giới thuyết xung quanh đề tài

1.1 Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn

1.1.1 Khái niệm truyện ngắn

Bàn về truyện ngắn, giáo s văn học ngời Pháp D.Grônốpki viết:

"Truyện ngắn là một thể loại muôn hình muôn vẻ biến đổi không cùng Nó là một vật biến hóa nh quả chanh của Lọ Lem Biến hóa về khuôn khổ, ba dòng hoặc ba mơi trang, biến hóa về kiểu loại tính chất trào phúng, kỳ ảo hớng về biến hóa cổ thật hay tởng tợng, hiện thực hay trào phúng Biến hóa về nội dung thay đổi vô cùng vô tận, muốn có chất liệu để kể, cần có một cái gì đó xảy ra, dù đó chỉ là một sự thay đổi nhỏ chút xíu về sự cân bằng, về các mối quan hệ Trong thế giới truyện ngắn, cái gì cũng thành biến cố, thậm chí sự thiếu vắng tình tiết, diễn biến cũng gây hậu quả vì nó làm cho sự chờ đợi bị hẫng hụt" (dẫn theo 6, tr.9)

Nhà văn Nguyễn Công Hoan đã giải thích về khái niệm truyện ngắn

nh sau: "Trớc hết nên phải phân biệt thế nào là truyện ngắn, thế nào là truyện dài, loại truyện viết theo nghệ thuật Âu Tây là loại mới có trong văn học Việt Nam, từ ngày ta chịu ảnh hởng của văn học Pháp, ngày xa ta chỉ có truyện ký bằng miệng hoặc văn vần, những truyện Muỗi nhà, Muỗi đồng, Hai ông phật cãi nhau trong Thánh tông di thảo là viết theo nghệ thuật Á Đông,

Hoàng Lê nhất thống chí là lịch sử ký sự chứ không phải là lịch sử tiểu

thuyết Cho nên loại truyện viết theo nghệ thuật Âu Tây, ta theo Trung Quốc

mà gọi là tiểu thuyết và cái nào viết trong vài trang gọi là đoản thiên, cái nào viết theo hàng ngàn trang gọi là trờng thiên - tiểu thuyết Năm 1932, báo Phong Hóa dịch đoản thiên tiểu thuyết ra tiếng ta gọi là truyện ngắn và trung thiên tiểu thuyết gọi là truyện vừa (dẫn theo 6, tr.9)

Trong Từ điển văn học truyện ngắn đợc định nghĩa là: Hình thức tự sự

loại nhỏ, truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lợng nhỏ hơn, tập trung mô

Trang 11

tả một mảng của cuộc sống, một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội Cốt truyện ngắn thờng diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế Kết cấu của truyện ngắn cũng không chia thành nhiều tuyến phức tạp Truyện ngắn đ-

ợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ nên đặc điểm của truyện ngắn là tính ngắn gọn Để thể hiện nổi bật t tởng, chủ đề, khắc họa nét tính cách của nhân vật, viết truyện ngắn phải có trình độ điêu luyện, biết mạnh dạn tỉa tót và dồn nén Do đó, trong khuôn khổ ngắn gọn, những truyện ngắn thành công có thể biểu hiện đợc những vấn đề xã hội có tầm nhìn khái quát rộng lớn (18, tr.10)

Trong Từ điển nghệ thuật văn học truyện ngắn đợc coi là "Tác phẩm

tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phơng diện của đời sống, đời t, thế sự hay sử thi, những độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn đợc viết ra để tiếp thu một mạch, đọc một hơi không nghỉ" (2, tr.134)

Trong sách Lý luận văn học (1986) cho rằng "Truyện ngắn là hình

thức ngắn của tự sự, khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian nh truyện cổ, truyện cời, hoặc gần với những bài kí ngắn Nhng thực ra không phải, nó gần với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đơng thời Nội dung thể loại truyện ngắn có thể khác nhau: đời t, thế sự hay sử thi nhng cái độc đáo của

nó là ngắn Truyện ngắn có thể kể về cả cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một "chốc lát" trong cuộc sống nhân vật, nhng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời (16, tr.397)

Tuy nhiên đối với truyện ngắn, mức độ ngắn dài cha phải là đặc điểm

để phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự khác Trong văn học hiện

đại, có nhiều tác phẩm rất ngắn nhng thực chất là những truyện dài viết ngắn lại Truyện ngắn thời trung đại nhng cũng rất ngắn gọn nhng không phải là truyện ngắn nh cổ tích, truyện cời

Trang 12

Truyện ngắn hiện đại khác hẳn với truyện ngắn trung đại Đó là một kiểu t duy khá mới về cách nhìn vấn đề, cách nắm bắt đời sống riêng mang tính chất thể loại cho nên truyện ngắn đích thực xuất hiện tơng đối muộn trong lịch sử văn học.

Khác với tiểu thuyết là loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy

đặn toàn vẹn của nó, truyện ngắn thờng hớng tới việc khắc họa một hiện ợng, phát hiện một nét cơ bản trong quan hệ nhân sinh trong đời sống tâm hồn con ngời Chính vì vậy mà trong truyện ngắn thờng có ít nhân vật, ít có

t-sự kiện phức tạp

Điểm khác biệt quan trọng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn là nếu nhân vật chính của tiểu thuyết là một thế giới thì nhân vật truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới Truyện ngắn thờng không nhằm tới việc khắc họa những tính cách điển hình, có cá tính đầy đặn, nhiều mặt trong tơng quan với hoàn cảnh Nhân vật truyện ngắn thờng là hiện thân cho một trạng thái quan

hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con ngời Mặt khác, truyện ngắn lại có thể mở rộng diện nắm bắt các kiểu loại nhân vật đa dạng của cuộc sống, chẳng hạn nh chức nghiệp, xuất thân, gia hệ, bạn bè

Những kiểu loại mà trong tiểu thuyết thờng hiện ra thấp thoáng trong các nhân vật phụ

Cốt truyện của truyện ngắn thờng diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế, chức năng nói chung của nó là nhận ra một điều gì đó sâu sắc

về cuộc đời và tình ngời, kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thờng đợc xây dựng theo nguyên tắc tơng phản hoặc liên tởng Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thờng chấm phá Yếu tố quan trọng nhất của truyện ngắn là các chi tiết cô đúc, có dung lợng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý tạo cho tác phẩm nhiều chiều sâu cha nói hết Ngoài ra, giọng điệu, cái nhìn cũng là những yếu tố tạo thành cái hay của thể loại này Truyện ngắn rất gần gũi với đời thờng, lại súc tích, dễ đọc và gắn liền với các hoạt động báo chí, có tác dụng, ảnh hởng kịp thời trong đời sống

Trang 13

Trong 150 thuật ngữ văn học mục truyện ngắn, tác giả Lại Nguyên

Ân viết: "Truyện ngắn là một thể loại của tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thờng đợc viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phơng diện của đời sống con ngời và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là giới hạn về dung lợng, tác phẩm truyện ngắn thích hợp với ngời tiếp nhận, độc giả, đọc nó liền một mạch không nghỉ (2, tr.11)

Những nét riêng của truyện ngắn vốn đã có ở những tác phẩm thời kỳ trung đại qua các hình thức kể chuyện dân gian (truyện cời, giai thoại, cổ tích) nhng chỉ thực sự trở thành một đặc điểm riêng biệt của thể loại này ở thời kỳ hiện đại Nó gắn liền với sự xuất hiện của báo chí

Với t cách là thể loại tự sự, truyện ngắn cũng nh truyện vừa, truyện dài hiện đại đều ít nhiều mang tính đặc tính t duy tiểu thuyết Tuy nhiên khác với truyện vừa, truyện dài, vốn là những thể loại mà quy mô cho phép chiếm lĩnh

đời sống trong sự toàn vẹn đầy đủ của nó, truyện ngắn thờng khắc họa một hiện tợng, một đặc tính trong quan hệ con ngời hay đời sống tâm hồn con ng-

ời Truyện ngắn thờng ít nhân vật, ít tự sự chồng chéo, nhân vật trong truyện ngắn ít khi trở thành một thế giới hoàn chỉnh, một tính cách đầy đặn và chỉ thờng là sự hiện thân của một trạng thái phụ thuộc của con ngời

Cốt truyện của truyện ngắn thờng tự giới thiệu về thời gian, không gian; nó có chức năng nhận ra một điều gì sâu sắc về cuộc đời, về con ngời Kết cấu của truyện ngắn thờng không nhiều tầng, nhiều tuyến mà thờng đợc dựng theo kiểu tơng phản hoặc liên tởng Chi tiết và lời văn là những yếu tố quan trọng trong nghệ thuật viết truyện ngắn Lời kể và cách kể chuyện là những điều mà nhiều ngời viết truyện ngắn đặc biệt khai thác để đạt đợc hiệu quả nh mong muốn

Qua ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trớc và qua sự phân tích trên, chúng ta có thể rút ra đặc điểm chính của thể loại truyện ngắn nh sau:

- Truyện ngắn là thể tài tự sự cỡ nhỏ, dung lợng có thể từ vài trang đến vài chục trang, mộtc âu chuyện kể không đợc dài dòng Chính hình thức kể chuyện đơn giản, truyện ngắn phải đợc tạo đợc sự liên tởng của ngời đọc

Trang 14

- Truyện ngắn thờng tập trung vào một biến cố, một sự kiện, một mảng

đời nào đó của đời sống và tất cả đợc tập trung trong một không gian, thời gian nhất định

- Truyện ngắn không nhằm khắc họa một số tính cách điển hình, đầy

đặn, trọn vẹn, nhiều mặt trong mối tơng quan với hoàn cảnh

- Nhân vật truyện ngắn thờng hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tai của con ngời Nhân vật trong truyện ngắn thờng rất đa dạng về nghề nghiệp, xuất thân, gia đình

Bút pháp truyện ngắn thờng chấm phá, nó mang ẩn ý lớn lao tạo thêm chiều sâu cha nói hết

Đó là những đặc điểm cơ bản làm cho truyện ngắn có tiếng nói riêng,

có sức thu hút độc giả, ngời nghe mà mang đến một ý nghĩa lớn lao cho thể loại này

1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn

Ngôn ngữ truyện ngắn là ngôn ngữ miêu tả và đối thoại, ngôn ngữ truyện ngắn chứa đựng nhiều phong cách, nhiều giọng nói, những phong cách nó xen lẫn vào nhau, hòa hợp tranh luận, cãi vã và đối chọi nhau ti tiện

nh "một đứa con lai" nó khỏe đẹp và đầy sức sống

Mỗi từ, mỗi câu trong truyện ngắn phải tự mô tả lấy mình, phải đẹp Ngôn ngữ tự đối thoại, tự tranh cãi, hay nói cách khác, ngôn ngữ lỡng lự, nớc

đôi khiến cho truyện ngắn hiện đại là truyện ngắn của những khả năng, mỗi truyện ngắn hay thờng không tự nó đem cho ta một kết luận khẳng định hay bác bỏ, dứt khoát áp đặt Nó đặt ra trớc ngỡng sự lựa chọn, hay nói nh M.Backhtin là: "trớc sự liên minh của lỡng lự"

Nhà văn Nguyên Ngọc khi nói về ngôn ngữ của truyện ngắn đã phát biểu: "Truyện ngắn nào của Tsekhôp cũng làm giàu đời sống tinh thần của ta vì chúng đánh thức ở ta ý thức “ham muốn", "giác ngộ" về sự viết phân vân

đắn đo hoặc nói nh các nhà hiền triết phơng Đông - biết tìm cái có trong cái không, cái không trong cái có; ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn có khả năng mở rất lớn

Trang 15

Khi nhà văn Bảo Ninh viết Nỗi buồn chiến tranh thì tôi cho là anh

đem đến cho đạo đức đơn giản về sự biết ơn những ngời đã hy sinh trong chiến tranh mà bài học sâu hơn nhiều; trong từng ngày hôm nay phải luôn trăn trở mà tìm cho mình cảnh sống xứng đáng, đó cũng là một sự liên minh

Hà Vũ trong truyện Khách thơng hồ viết: "Chân gỗ sợ gì ma ớt " thì đã là

câu nói của ngời đàn bà kia thì ngập ngừng mãi để cuối cùng thôi thì liều cũng không tìm biết quá khứ làm gì, mà cũng có thể là lời xúi giục của cuộc

đời, của sự sống, sống mà không biết liều lĩnh đôi chút trong một hoàn cảnh nào đó thì sao gọi là sự sống "chân gỗ sợ gì ma ớt" mấy từ thôi mà sự tranh cãi và có lẽ tranh cãi cuối cùng rồi cũng không có kết thúc

Ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn khiến cho truyện ngắn là một trong những hình thức nghệ thuật có khả năng "mở" rất lớn

Nhà văn Nga M.Goorki nói muốn học viết phải bắt đầu từ truyện ngắn, bởi viết truyện ngắn nó luyện cho tác giả biết tiết kiệm từ ngữ, biết cách viết cô đọng Nhà văn Ma Văn Kháng đã từng bộc bạch: "Câu chữ tiêu dùng cho truyện ngắn là cả một nỗ lực to lớn và nh nó là yếu tố quyết định cho sự thành bại của một truyện ngắn Truyện ngắn hay ở câu văn Quả là nh vậy, bởi vì có những truyện ngắn nội dung câu chuyện hình nh không có gì là quá đặc sắc mà khi đọc song ta thấy d âm mê ly của nó vẫn còn mãi Đó chính là câu chữ đã hút hồn ta đấy.” Nhà văn Nguyễn Đình Thi đã nói: "Câu chữ trong văn xuôi cần có men, tôi thấy không có cách nào nói hay hơn, câu chữ trong truyện ngắn nói riêng là men, nó tỏa hơng, nó rủ rê, nó quyến rũ ta, nó

là cái hồn của câu chuyện.”

1.2 Vấn đề định nghĩa câu

Cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về câu Theo thống kê của bà A.Akhmanova trong cuốn Thuật ngữ ngôn ngữ học, cho đến nay

(1980)) có trên 300 định nghĩa về câu Với một số lợng đồ sộ về định nghĩa câu nh vậy, chúng tôi không có điều kiện nêu cụ thể từng định nghĩa mà quy

về những hớng chính sau:

Trang 16

1.2.1 Hớng định nghĩa câu theo quan điểm của ngữ pháp duy lí

Một số nhà ngữ pháp duy lí nghiên cứu câu gắn liền với ngữ pháp duy

lí Đại biểu là Condillac (thế kỉ XVIII) Ông viết: “Mọi lời nói đều là một phán đoán hay chuỗi phán đoán Mà phán đoán diễn đạt bằng các từ, chính là cái mà ngời ta gọi là mệnh đề hay một chuỗi mệnh đề” (dẫn theo Nguyễn Kim Thản, Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, tr.104) Cách định nghĩa câu

theo hớng này chỉ phù hợp với việc phân chia câu về mặt lôgíc

1.2.2 Hớng định nghĩa câu dựa vào mặt ý nghĩa

Định nghĩa về câu theo tiêu chí về ý nghĩa từ lâu đã đợc các nhà ngôn ngữ học thế giới thừa nhận nh Arixtốt thế kỷ thứ V tr.cn hay học phái Alexandri từ những thế kỷ III- II tr.cn Chẳng hạn, học phái Alexandri đã nêu

định nghĩa: Câu là sự tổng hợp của các từ biểu thị một t tởng trọn vẹn [dẫn theo 12, tr.325] Đây là định nghĩa dựa trên mặt ý nghĩa, đơn giản dễ hiểu Cho đến nay định nghĩa này vẫn còn đợc sử dụng

ở nớc ta, thời kỳ đầu nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, các nhà nghiên cứu cũng thờng đi theo hớng ngữ nghĩa này Tác giả Trần Trọng Kim viết:

"Câu lập thành bởi mệnh đề có ý nghĩa hoặc hai hay nhiều mệnh đề" [dẫn theo 13, tr.325] Tác giả Nguyễn Lân thì cho: “Nhiều từ họp lại mà biểu thị một ý dứt khoát về động tác, tình hình hoặc tính chất thì gọi là một câu” (12, tr.19) Nh vậy, hớng định nghĩa này quan tâm đến mặt ý nghĩa nhng lại bỏ qua mặt hình thức biểu thị, cũng nh cấu tạo của câu

1.2.3 Hớng định nghĩa câu dựa vào mặt hình thức

Theo hớng này có các tác giả FF.Phooctunatop, L Thompson Tác giả

F F.Phooctunatop đa ra định nghĩa câu thiên về hình thức nh sau: "Câu là một tổng hợp từ với một ngữ điệu kết thúc" [dẫn theo 13, tr.324] Tác giả L.Thompson cho rằng: "ở trong tiếng Việt, các câu đợc tách ra khỏi nhau bởi những ngữ điệu kết thúc, một đoạn có một hay nhiều nhóm nghỉ, kết thúc bằng một hay nhiều ngữ điệu kết thúc, hay đứng sau một sự im lặng, hay tiếp một đoạn khác cũng nh vậy là một câu Sự độc lập của những yếu tố nh vậy,

Trang 17

đợc phù hiệu hóa trong chữ viết bởi cách dùng một chữ hoa ở đầu câu và một dấu kết thúc (dấu chấm, dấu hỏi, dấu chấm than) ở cuối câu (13, tr.324).

Các định nghĩa này chỉ dựa vào tiêu chí hình thức mà bỏ qua mặt quan trọng là ý nghĩa, cũng nh cấu trúc của câu

1.2.4 Hớng định nghĩa câu dựa đồng thời vào hai mặt hình thức và ngữ nghĩa

Trong những năm cuối thế kỷ XX, các nhà ngữ pháp học đã nhận thấy những hạn chế của các hớng nghiên cứu chỉ dựa vào tiêu chí hình thức hay tiêu chí ý nghĩa để định nghĩa hoặc phân loại câu Chính vì thế họ đi theo h-ớng mới, dựa đồng thời vào cả hai tiêu chí hình thức và ý nghĩa khi nghiên cứu về câu Theo hớng này có đông đảo các tác giả nh Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Phan Thiều, Lê Cận, Hoàng Văn Thung, Hồ Lê, Hồng Dân, Hoàng Trọng Phiến, Hữu Quỳnh, Đỗ Thị Kim Liên

Sau đây, chúng tôi xin nêu định nghĩa của UBKH Xã hội: “Câu là đơn

vị dùng từ hay đúng ra là dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình t duy, thông báo; nó có ý nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp, và có tính chất

độc lập” (28, tr.167) Tác giả Diệp Quang Ban trong giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt thì viết: “Câu là đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ, có cấu tạo ngữ

pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tơng đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của ngời nói, giúp hình thành và biểu thị t tởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” (3, tr.107) Tác giả Đỗ Thị Kim Liên thì cho: “Câu là đơn vị dùng

từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ, đợc gắn với một ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo, hay thể hiện thái độ đánh giá Câu có cấu tạo ngữ pháp

độc lập, có ngữ điệu kết thúc (15, tr.326)

Nh vậy, qua các định nghĩa trên, chúng tôi nhận thấy, các tác giả ngữ pháp tiếng Việt có thể khác nhau trong cách diễn đạt định nghĩa cụ thể về câu nhng đều thừa nhận câu có những đặc điểm chung, và đó cũng chính là

điều kiện để cấu tạo nên câu:

Trang 18

- Câu là đơn vị dùng từ cấu tạo nên nhằm thực hiện chức năng thông báo, hay bộc lộ thái độ cảm xúc.

- Có cấu tạo theo một quy tắc nhất định, thờng là C-V (hoặc có kết cấu

1.3 Vài nét về tác giả Tô Hoài

1.3.1 Tác giả và sự nghiệp văn học

- Về tác giả: Tô Hoài chỉ là bút danh nhà văn thờng dùng, tên thật của

ông là Nguyễn Sen Ngoài bút danh quen thuộc với bạn đọc trong và ngoài

n-ớc, ông còn ký những bút danh khác sau tác phẩm của mình: Mai trang, Mắt biển…

Quê nội của Tô Hoài ở Kim An huyện Thanh Oai, Hà Đông, quê ngoại

ở làng Nghĩa Đô (nay thuộc Tây Hồ - Hà Nội) Ông sinh ngày 20/9/1920 trong một gia đình thợ thủ công Tên đất phủ Hoài Đức, tên sông Tô Lịch chảy ven làng gợi cho ông lấy bút danh của mình là Tô Hoài

Từ tuổi thiếu niên, với Tô Hoài, nguồn sách trở thành nỗi đam mê và bắt đầu sáng tác Lớn lên, ông phải làm nhiều nghề để kiếm sống: dạy trẻ, bán hàng, kế toán hiệu buôn…ông viết Dế mèn phiêu lu kí lúc 16 tuổi, đã có

thơ đăng báo khi cha tròn 20 tuổi Trớc cách mạng tháng Tám 1945, ông vừa viết văn vừa tham gia các hoạt động xã hội Thời kỳ phong trào mặt trận dân chủ Đông Dơng, ông tham gia tổ chức ái hữu thợ dệt, làm th ký ban trị sự hội

ái hữu thợ dệt tỉnh Hà Đông Thời kỳ tiền khởi nghĩa, ông sớm gia nhập Hội văn hoá cứu quốc, có mặt trong những tổ chức đầu tiên của Hội, cùng các

đồng chí viết báo bí mật tuyên truyền cách mạng Những truyện ngắn và sáng tác văn xuôi hiện thực của Tô Hoai từ đầu những năm 1940 đã thu hút sự chú

Trang 19

ý của độc giả lúc đó, một số tác phẩm bấy giờ, hiện nay vẫn là những cuốn sách hấp dẫn và đợc đông đảo bạn đọc yêu thích.

Về sự nghiệp văn học

- Trớc cách mạng

Ông viết khá nhiều, trong đó tiêu biểu là những tác phẩm Dế mèn phiêu lu ký (1941), Quê ngời (1942), Giăng thơ (1943), Nhà nghèo (tập

truyện ngắn, 1944) Những tác phẩm ấy có hai mảng đề tài chính, truyện

đồng thoại về làng Việt và truyện về cuộc sống con ngời ở vùng quê ven thành Trên những trang viết, Tô Hoài tỏ ra là một ngòi bút am hiểu phong tục, có khả năng quan sát, miêu tả tinh tế con ngời và cảnh vật vùng nông thôn Việt Nam trớc cách mạng

- Sau cách mạng

Từ 1945 - 1980 Tô Hoài làm phóng viên báo Cứu quốc Trung ơng, chủ nhiệm báo Cứu quốc Việt Bắc Năm 1950, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, từng là Th ký tòa soạn tạp chí văn nghệ, với những cơng vị ấy, ông

đã có mặt nhiều nơi, cùng nhân dân và bộ đội tham gia nhiều hoạt động kháng chiến, nhiều chiến dịch ở Việt Bắc và Tây Bắc Đó là cơ sở giúp ông

thành công trong sáng tác, Núi cứu quốc (tập truyện ngắn, 1958), Ngợc sông

Thao (1949) và thành công nhất là Truyện Tây Bắc (tập truyện 1953) Hòa

bình lập lại, ông vẫn hoạt động văn nghệ, nhiều năm là ủy viên thờng vụ, phó tổng th ký Hội Nhà văn Việt Nam Từ 1968, ông là chủ tịch Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội cho đến nay, đồng thời là ủy viên ủy ban toàn quốc liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam Ngoài ra, ông còn tham gia các tổ chức hữu nghị, mặt trận và nhân đạo của Trung ơng và Hà Nội Ngòi bút của Tô Hoài ngày càng tỏ ra sung sức và thành công trên nhiều thể loại Tác

phẩm tiêu biểu ở thời kỳ này của Tô Hoài là các tập truyện ngắn: Khác trớc (1957), Vỡ tỉnh (1962), Ngời ven thành (1972), Miền tây (1957) đạt giải th-

ởng Hoa sen của Hội nhà văn á Phi Có nhà nghiên cứu thống kê trớc và sau cách mạng Tô Hoài đã viết khoảng 150 tác phẩm ông tự nói về quá trình

Trang 20

sáng tác của mình: "cho đến nay tôi đã viết và in hàng trăm đầu sách và cho

dù nhân vật có là con vật đợc nhân cách hóa nhng thật ra thì tôi cũng tập trung vào hai đề tài: thứ nhất con ngời ven đô vì ngoại thành là sinh quán của tôi và cho tới nay tôi vẫn đi về đây, do vậy hầu nh đó là một đề tài do bẩm sinh Thứ hai, trong kháng chiến chống Pháp, tôi đã ở Việt Bắc ngót 10 năm, về sau còn đi lại nhiều nữa, nhờ vậy tôi am tờng đôi chút về một số dân tộc anh em nh Tày, Mờng, Dao, H'mông tôi coi Việt Bắc, Tây bắc cũng nh một quê hơng đề tài của tôi Nh đã nói, đề tài của tôi chỉ có hai chứ không nhiều và không phải cái gì cũng viết đợc Còn nh tôi thờng miêu tả phong tục tập quán thì cũng là một quan điểm và phơng pháp xây dựng truyện và nhân vật phải luôn luôn đợc bao bọc và ảnh hởng qua lại với phong tục tập quán,

nghề nghiệp và quê hơng từ gia đình ra ngoài xã hội (Tô Hoài chuyện bếp

núc văn chơng - Báo văn nghệ số 14, tháng 10 năm 1995).

- Về tập truyện 101 truyện ngày xa của Tô Hoài

Tập truyện 101 truyện ngày xa của Tô Hoài đợc in năm 2004, do Nhà

xuất bản Văn học ấn hành Khi hoàn thành cuốn sách, tác giả viết lời mở

đầu: “Từ khi con ngời quây quần thành bầu đoàn, ở hang, ở chòm xóm, trên

đồng bãi, trong thung lũng, ngoài vạn chài, đâu có ánh lửa thổi nấu thì ở đây

đợc nghe cổ tích Chuyện qua các đời, con ngời chung chạ với con ma, với con hổ, con gà, con kiến, con trâu, với ông Bụt, ông Trời, vua Thuỷ và những cô tiên Chuyện xảy ra ở mọi nơi ở trên mặt đất, trên dòng nớc, trong bóng mây, ngoài bao la không bờ bến, bởi đấy là những tởng tợng không cùng của trí óc ngời ta” (10, tr.5) Quả thật, ông thích hợp với thể loại cổ tích giàu tởng tởng này Chuyện cổ tích thờng gắn bó mật thiết với tuổi thơ của mỗi ngời, vì

ở đó có chỗ cho tởng tợng nhng lại hết sức gần gũi với mỗi ngời Tuy là chuyện nhng đó là thiên nhiên, bầu trời, cảnh vật, sông núi, trang phục, sinh hoạt, nếp nghĩ, cách t duy của ngời Việt, là văn hoá, phong tục Việt Ngay cả khi khổ đau, sự mất mát đến tận cùng, sự nghèo đói do mảnh đất nơi mỗi ng-

ời Việt sinh ra và lớn lên, ta cũng bắt gặp thái độ lạc quan, yêu đời, niềm tin

Trang 21

vào ngày mai tơi sáng, cách ứng xử trọn vẹn nghĩa tình, thái độ hớng về cái thiện của họ Hay nói một cách khác, “Mọi mặt gốc gác, nề nếp, và truyền thống đều mang bóng hình tuyệt vời trong cổ tích Nghe cổ tích, ngẫm cổ tích, thấy đợc và cắt nghĩa đợc cơn cớ ta tồn tại, ta sinh sôi Mỗi câu chuyện, mỗi nhân vật hoang đờng đến đâu đều thấm đợm ý nghĩa đời ngời, con ngời, nỗi niềm than thở hay ngàn vạn ớc mong đều vẫn nảy nở từ trong tấm lòng nhân nghĩa và đức tính lam làm cùng với nụ cời thật hóm, thật tơi” (10, tr.6)

Nh vậy, ta có thể hiểu thêm động cơ sáng tác truyện của ông, ông muốn gửi gắm vào đó tình cảm, sự hiểu biết của mình về những miền đất, con ngời mà

ông đã đến, đã đi và trải nghiệm đời mình Ông viết truyện này cũng là tấm lòng tri ân đối với ông bà, tổ tiên với ngời đi trớc

Tóm lại, Tô Hoài là tấm gơng sáng về lao động sáng tác nghệ thuật Tác phẩm của ông theo phong vị và hơng sắc của đời sống và tâm hồn dân tộc Bạn bè thế giới đã tìm thấy trong tác phẩm của ông nhiều giá trị và những phẩm chất riêng của dân tộc Danh hiệu Huân chơng Độc lập là hết sức xứng đáng dành cho nhà văn Tô Hoài Chúng ta cảm phục sức sống, sự dẻo dai của nhà văn, ông không ngừng sáng tạo, học tập, viết cho đến cuối

đời, nh chính ông đã viết: “Giữa rừng Tây Bắc đầy bớm đầy ong, cái tôi thấy say say trong chính mình là mặc dù không đợc đi bằng một đời ong, mình cũng là một con sinh vật đang nung một thứ mật gì”

Trang 22

chơng 2

đặc điểm câu văn Tô Hoài

xét về mặt cấu trúc qua 101 truyện ngày xa

2.1 Về quan niệm câu đơn - câu ghép hiện nay

Trong ngôn ngữ học, sự phân loại câu đơn, câu ghép hiện nay khá phức tạp, do dựa vào những tiêu chí khác nhau ở đây, chúng tôi chỉ bàn đến

sự phân loại câu về mặt cấu tạo, tức là dựa vào các thành tố cấu tạo nên câu

để qua đó khảo sát các kiểu câu do Tô Hoài sử dụng, quy tắc hoạt động của chúng, đặc điểm chung của chúng

Về việc phân loại câu đơn, câu ghép theo cấu tạo, cho tới nay, có thể quy về ba hớng chính sau đây:

Hớng 1: Chia câu thành hai nhóm: câu đơn và câu ghép Theo hớng

này có các tác giả Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ, Phạm Duy Khiêm (Việt Nam văn phạm, Sài Gòn 1940), Nguyễn Kì Thục, Phan Thiều (trong Tiếng Việt 7,

Trang 23

b Câu ghép là câu có từ hai kết cấu C - V trở lên, kể cả những kết cấu

C - V thuộc thành phần mở rộng (chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ)

*Mở rộng chủ ngữ

- (1) Anh nói thế là sai.

- (2) Em đến là một niềm vinh dự đối với tôi.

*Mở rộng vị ngữ

- (3) Chiếc bút này ngòi rất êm.

- (4) Tham vọng của chủ nghĩa đế quốc là thuộc địa ngày càng mở rộng.

Trang 24

Ngoài ra còn có loại câu ghép có từ hai kết cấu cấu C-V trở lên tồn tại tách bạch nhau:

- Họ khuyên bà con trong bản cùng làm nhng chẳng ai tin.

(Tiếng Việt 2, tập 1, tr.116)

Hớng 2: Chia câu thành 3 nhóm: câu đơn, câu phức, câu ghép Theo

h-ớng này có các tác giả Diệp Quang Ban (Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục,

1992), Tiếng Việt 10, Nxb Giáo dục, 1989); Hữu Quỳnh (Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Trung tâm TĐBK dục, 1996)

câu đơn là câu chỉ có một kết cấu C - V làm thành phần nòng cốt của câu:

- Bà mẹ đón tôi trong gió đêm.

(Thơ Nguyễn Duy, tr.43)Câu ghép là câu có hai kết cấu C - V trở lên, trong đó có các C - V tồn tại tách bạch nhau (hay nói cách khác C - V này không bị bao hàm trong C -

V kia):

- cây con vừa trồi, lá đã xòa sát mặt đất

(Thái Vân, Tiếng Việt 2, tr.51)câu phức là câu có từ hai kết cấu C - V trở lên trong đó C - V này bị bao hàm trong C - V kia Theo hớng thứ hai này thì các ví dụ đã đánh số từ 1

đến 10 trên đợc xếp là câu phức thành phần

Hớng 3: Chia câu thành hai nhóm câu đơn và câu ghép Câu đơn là câu

chỉ có một kết cấu C - V làm thành phần nòng cốt câu, có thể có hoặc không

có các C - V khác làm thành phần câu Câu ghép là câu có hai nòng cốt C - V trở lên tồn tại tách bạch nhau (hay C - V này không bị bao hàm trong C - V kia) Nếu câu có C - V này bị bao hàm trong C - V kia thì vẫn thuộc là câu

đơn Theo hớng này có các tác giả Nguyễn Kim Thản, Lê Xuân Thại, Đỗ Thị Kim Liên, UBKH Xã hội

Trang 25

Ví dụ: Câu đơn

- Từ trong quả bầu những con ngời nhỏ bé nhảy ra

(Tiếng Việt 2, tập 1, tr.116)Câu ghép

- Giá hắn biết hát thì có lẽ hắn cũng không cần chửi.

(Nam Cao tuyển tâp, 312)Theo hớng thứ ba này, các ví dụ từ 1 đến 10, đợc xếp là câu đơn

Trong luận văn này, chúng tôi chọn phân loại câu theo hớng thứ 3 để làm cơ sở khảo sát và phân loại câu trong truyện ngắn 101 truyện ngày xa

của Tô Hoài

2.2 Thống kê và phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp

Chúng tôi đã khảo sát l517 câu trong 15 truyện ngắn trớc Cách mạng của nhà văn Tô Hoài và phân loại nh sau:

Trang 26

Bảng 1: Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp

VI Ba ngời tài

VII Cái bớu cổ

VIII Lọ nớc thần

IX Con chó con mèo có nghĩa

X Bánh chng bánh dầy

XI ả Chức chàng Ngu

XII Chuyện chàng đốn củi

XIII Ba con quỷ cáo

Trang 27

XIV Chú Cuội cung trăng

XV Chàng Ngốc đợc kiện

Qua bảng 1, chúng ta thấy trong 15 truyện ngắn của Tô Hoài, câu đơn bình thờng là 1228 câu, chiếm 88,7% tổng số câu, câu đơn đặc biệt có 106 câu, chiếm 7,5% tổng số câu, còn câu ghép là 187 câu, chiếm 17,3% Nh vậy, tần số xuất hiện câu đơn cao gấp 6 lần câu ghép Trong nhóm câu đơn thì câu đơn bình thờng có tần số xuất hiện là 81,2%, câu đơn đặc biệt là 7,5%, nh vậy tỷ lệ câu đơn bình thờng cao hơn tỷ lệ câu đơn đặc biệt là 10,2 lần chúng tôi lấy kết quả ở bảng làm cơ sở để phân loại sâu hơn các kiểu câu đơn câu ghép cụ thể ở các phần sau, nhằm tìm ra đặc điểm câu văn trong

101 truyện ngày xa của nhà văn Tô Hoài.

2.3 Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Tô Hoài xét về cấu trúc

2.3.1 Câu đơn

2.3.1.1 Câu đơn bình thờng

Câu đơn bình thờng là loại câu có hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ gắn bó chặt chẽ với nhau thông qua mối quan hệ ngữ pháp C – V để tạo nên một chỉnh thể thống nhất

Có thể nói câu đơn bình thờng là loại câu có tần số xuất hiện rất cao trong truyện ngắn của Tô Hoài, theo số liệu thống kê ở bảng 1, trong 15 truyện ngắn của Tô Hoài câu đơn bình thờng chiếm tỷ lệ 81,2% /1521 câu Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy cấu trúc của câu đơn bình thờng trong truyện ngắn của Tô Hoài có 2 dạng:

- Dạng 1: Câu có kết cấu C - V duy nhất làm nòng cốt

- Dạng 2: Câu có hơn hai kết cấu C - V trở lên, trong đó chỉ có một kết cấu C - V làm nòng cốt

Để tiện cho việc phân loại và miêu tả, chúng tôi gọi tên câu đơn thuộc dạng 1 là câu đơn có một kết cấu C - V còn câu đơn thuộc dạng 2 là câu đơn

có nhiều kết cấu C - V Dới đây là kết quả phân loại câu đơn bình thờng trong 15 truyện ngắn của Tô Hoài (xem bảng 2)

Trang 28

Bảng 2: Phân loại câu đơn theo kết cấu C-V

Tác phẩm Tổng số Câu đơn 1 kết cấu C - V Câu đơn có nhiều C - V

Theo kết quả ở bảng 2, chúng tôi nhận thấy câu đơn có nhiều kết cấu C

- V đợc Tô Hoài sử dụng nhiều hơn câu đơn có một kết cấu C - V Sau đây chúng tôi sẽ trình bày đặc điểm của các loại câu đơn

2.3.1.1.1 Câu đơn có một kết cấu C - V

Với loại câu này chúng tôi cũng chia làm hai kiểu nhỏ: câu chỉ có thành phần chính (chủ ngữ, vị ngữ) và câu có cả thành phần chính và thành phần phụ

a Câu đơn chỉ có thành phần chính C - V

Câu đơn chỉ có thành phần chính gồm hai kiểu loại, kiểu thứ nhất là câu có một chủ ngữ và một vị ngữ tạo thành nòng cốt Kiểu thứ hai là câu có một chủ ngữ, nhiều vị ngữ hoặc ngợc lại câu có nhiều chủ ngữ, một vị ngữ tạo thành nòng cốt Để thuận lợi cho việc thống kê lý giải trong quá trình phân tích, chúng tôi tạm thời gọi tên kiểu thứ nhất là câu ngắn và kiểu thứ hai

là câu dài1 (câu có 10 âm tiết trở lên)2

1 Khái niệm câu ngắn- câu dài đợc chúng tôi chia tách, chỉ là một sự quy ớc, để nghiên cứu.

Trang 29

a1 Câu ngắn

Thí dụ:

(1) anh chàng muốn gả đổi (XV, câu 74, tr.106)

(2). Chàng ngốc đợc làm quan huyện (XV, câu 101, tr.108)

(3) hai ngời cùng đi một ngày đờng (câu 20, XV, tr.108)

(4) chàng ngốc nghe cũng bùi tai (IV câu 42, tr.104)

(5) hai vợ chồng đã trở về quê cũ (II câu 14, tr.27)

(6) nàng nắm lấy tay chồng (II, câu 138, tr.27)

(7) hai ngời khóc (II, câu 139, tr.27)

(8). Thái tử Liêu bàng hoàng đứng dậy (X, câu 31, tr 75)

(9). Mẹ ơi! (X, câu 29, tr 45)

(10). Ngọc Hoàng gật đầu (I, câu 99, tr.16)

(11). Chuột đẻ mắn lắm! (I, câu 81, tr.15)

(12). Gà mái bắc nồi thổi cơm (III, câu 9, tr.29)

(13). Thơ đã lẫn đâu mất hết (III, câu 45, tr 31)

(14). Hổ mẹ ở rừng về (XIV, câu 6, tr 97)

(15). Anh cởi thừng cho con chó (X, câu 19, tr 97)

(16). Nói rồi nhả viên ngọc nổi lên trên mặt nớc Anh vớt lấy (X, câu

42, tr 62)

(17) Hai con chó lài mắc mu mèo (IX, câu 88, tr 64)

(18). Ông đừng đem búa (IX, câu 111, tr 65)

(19). Anh vỗ mâm ba cái (XIII, câu 103, tr 65)

Xét về mặt cấu tạo chủ ngữ của câu ngắn thờng do các danh từ, ngữ danh từ đảm nhận và vị ngữ thờng do động từ, ngữ động từ hoặc tính từ, ngữ tính từ đảm nhiệm Chúng chiếm một số lợng đáng kể, 32% tổng số câu đơn trong truyện của Tô Hoài

Trong truyện ngắn của Tô Hoài, loại câu này thờng xuất hiện trong các trờng hợp sau:

Trang 30

- Câu ngắn đứng sau các câu đơn có nhiều vị ngữ, câu đơn có nhiều kết cấu C - V hoặc câu ghép có nhiều về câu để nêu lên nhận xét đánh giá hay khái quát ý nghĩa của câu đi trớc.

(20) Năm ấy nắng hạn, suốt mùa hạ sang mùa thu, không có một

giọt nớc, trời lại ra tai, khắp nơi đâu cũng vang tiếng kêu đói Ngời chết

đầy đờng (II, câu, tr.23)

(21) Một lúc sau, trông ra thấy một cái mảnh vỡ, có một ngời bám

đ-ợc vào mảnh ván, mặt tái ngoét, chân tay run rẩy lẩy bẩy lại sắp ngã xuống

nớc anh đẩy bè vào cứu (IV, câu 51, tr 35)

(22) Muốn mua gạo, chỉ đa một tờ giấy lụa ra, hàng gạo đóng bán ngay cho anh, lại còn các thêm một bị tiền là đằng khác, tha hồ mà tiêu

chàng Ngốc nghe cũng bùi tai (XV, câu 41, 42, tr.104)

(23) Cội trồng cây đa trong góc vờn, làm bờ rào gai chắn cẩn thận Ngày ngày, Cuội vác ống vầu ra ngọn suối, lựa chỗ nớc trong nhất, múc về

cây đa tốt vổng hẳn lên (XIV, câu 24, 25, tr 98)

ở thí dụ (20), ngời chết đầy đờng thể hiện sự chết chóc đau thơng của con ngời quanh năm phải chịu sự hạn hán, không có một giọt nớc uống Con ngời đứng trớc sự đe dọa của đất trời, cuộc sống trở nên cùng cực, nơi đâu cũng vang tiếng kêu đói

thí dụ (21) diễn tả khi con ngời rơi xuống sông sâu, cảm thấy mình sẽ chết đến nơi, khi có một mảnh ván bám vào đợc thì cảm thấy mình nh từ cõi chết trở về, bàng hoàng

thí dụ (22) nói về chàng Ngốc đã bị lừa

ở thí dụ (23) khi Cuội đem cây đa về nhà, rào cây cẩn thận, hàng ngày chăm lo tới nớc bằng nớc suối trong, do đó cây đa ngày càng tơi tốt hẳn lên

- Câu ngắn đứng ở vị trí mở đầu đóng vai trò là câu chốt của đoạn văn

Trang 31

(24) Ngọc Hoàng giật mình : "A thằng chuột lấy trộm thóc kho Sai

nó giữ kho để ngừa trộm, bây giờ chính nó lại là kẻ trộm Thế này thì ra phép tắc gì nữa.” (II, câu 12, tr.14).

(25) Phú ông bằng lòng quá. ông tha chuyện với bố mẹ cô gái Phú

ông kể thật nỗi nhà và xin đợc bố mẹ cô rủ lòng thơng cho ông đợc xin cô con gái về làm dâu (II, câu 79, tr.21).

(26) Tôi nghe thầy đề nói thật thơng Bây giờ giêng hai còn thong

thả tôi cho thầy đồ mời hai quan tiền đi xem tông tích vợ đâu (II, câu 91,

Trong thí dụ (24), câu ngắn đứng đầu đoạn văn nhằm mục đích nêu lên

ý khái quát (Ngọc Hoàng giật mình), còn các câu kế tiếp: không ngờ chính chuột là thằng trộm thóc là câu triển khai ở các ví dụ 25, 26, 27, 28, 29 cũng tơng tự Phần lớn trong các tác phẩm mà chúng tôi đã khảo sát, câu ngắn xuất hiện ở đầu mỗi đoạn văn đều có tác dụng nh một lời dẫn, một ý nghĩa khái quát, ý chủ đề của cả đoạn văn đó

a2 Câu dài

Nh đã trình bày ở trên, khái niệm dài, ngắn ở đây chỉ đợc chúng tôi áp dụng trong phạm vi câu đơn thuộc các truyện ngắn của Tô Hoài chứ không

có ý đặt tên cho một loại câu trong việc phân loại câu tiếng Việt Loại câu này thờng miêu tả những biểu hiện đa dạng về sự việc, sự kiện, tình huống

mà nhân vật chứng kiến hay gặp phải, hoặc đã trải qua

Trang 32

(30) Muốn mua gạo, chỉ một tờ giấy lụa ra, hàng gạo đong bán ngay cho anh, lại còn các thêm một bị tiền là đằng khác tha hồ mà tiêu (XV, câu

b Câu đơn bình thờng có các thành phần phụ

Qua khảo sát, chúng tôi thấy trong các truyện của Tô Hoài thờng xuất hiện câu đơn có các thành phần phụ sau:

b1 Câu đơn có thành phần phụ trạng ngữ

Loại câu đơn có thành phần phụ trạng ngữ đợc Tô Hoài sử dụng với tần số cao, trớc hết là câu đơn có thành phần phụ trạng ngữ chỉ thời gian, chiểm 73,1% Tiếp đó là trạng ngữ chỉ địa điểm, hay không gian mà sự việc

Trang 33

diễn ra, chiếm 14, 6% Thứ ba là câu đơn có thành phần phụ trạng ngữ chỉ cách thức hành động của nhân vật, chiếm 12,3% Kiểu này đợc Tô Hoài sử dụng khi miêu tả nhân vật Sau đây là một số ví dụ cụ thể Chúng thờng thể hiện thời gian để các sự việc diễn ra trong đó.

(39) Một ngày kia , Ngốc đi vào xóm qua nhà thầy đồ (XV, câu 47,

(44). Một hôm đợc nhàn hạ, ngời vợ bng ra cái hủ vàng, kể lại lời bố

chồng lúc trối trăng (II, câu 46, tr.42)

(45) ở trên trời , ả Chức đơng ngồi ủ ê bên đầu dây (XI, câu 100,

tr.81)

(46) Muốn mua gạo, chỉ một tờ giấy lụa ra, hàng gạo đong bán

ngay cho anh, lại còn các thêm một bị tiền là đằng khác tha hồ mà tiêu

(XV, câu 41, tr.104)

(47) Đến tuổi lớn, cái bớu cũng to dần (VII, câu 2, tr 49)

- So với các thành phần khác, thành phần phụ trạng ngữ đợc Tô Hoài

sử dụng nhiều nhất trong truyện ngắn của mình, chiếm 63,2% Các trạng ngữ

mà ông thờng sử dụng là trạng ngữ chỉ thời gian, không gian, trạng ngữ chỉ

sự việc, sự kiện

b2 Câu đơn có thành phần phụ chuyển tiếp

Tô Hoài sử dụng loại thành phần phụ này trong câu nhằm mục đích nối kết câu chứa nó với câu phía trớc Vì thế, muốn hiểu trọn vẹn ý nghĩa của

Trang 34

câu thì buộc phải đặt nó vào trong mối quan hệ với câu trớc đó Thành phần phụ chuyển tiếp trong truyện ngắn của ông thờng do một quan hệ từ, một tổ hợp từ mang nghĩa chuyển tiếp đảm nhiệm Loại thành phần này thờng đợc dùng nhiều thứ hai, 14,1%

(48) Thế rồi , hai ngời đi một ngày đờng nữa thì chia tay (III, câu 21,

tr 9)

(49) Nhng nồi cơm đợc lửa đã sôi (III, câu 30, tr 29)

(50) Thế là vợ Cuội sống lại (XIV, câu 52, tr 99)

(51) Rồi ít lâu sau, cô chẳng để ý đến cây hoa lạ nữa (XIV, câu 14,

tr.93)

(52) Vậy là, đã xong hai đấu gạo (XI, câu 92, tr.130)

(53) Thế là Tấm đợc tuyển vào cung (XIV, câu 54, tr.90)

b3 Câu đơn có thành phần phụ tình thái

Tình thái ngữ là thành phần phụ của câu, thờng đứng ở đầu câu (có thể giữa hoặc cuối câu), tách nòng cốt C - V bằng ngữ điệu nhằm thể hiện tình cảm, cảm xúc của ngời nói hoặc dùng để hỏi đáp

Trong truyện ngắn Tô Hoài sử dụng câu đơn có thành phần phụ tình thái nhằm thể hiện sự gọi đáp của nhân vật hay thể hiện thái độ, cảm xúc của ngời viết, chiếm số lợng nhiều thứ ba 11,5%

(54) Sẻ! Sẻ , xuống nhặt thóc cho tao! (XIV, câu 13, tr 130)

(55) Ngời trời! Ngời trời ! Chạy mau! (XI, câu 41, tr 94)

(56) A! Xong rồi, chạy về đi! (III, câu 39)

(57) Chủ quán ơi ! Mày có muốn chổng mông lên không? (XIV, câu

Trang 35

Giải thích ngữ là thành phần phụ của câu, nó thờng do từ, cụm từ, kết cấu C - V chen vào giữa nòng cốt C - V tách nòng cốt đó bằng ngữ điệu, nhằm làm sáng tỏ một phơng diện nào đó của cả câu nh bình chú, chú giải, giải thích Kiểu câu này chiếm số lợng thấp nhất, 11,2%.

Trong câu văn của Tô Hoài, thành phần này đợc đa vào từ bên ngoài vào có tác dụng bình chú, chú giải, giải thích thêm chi tiết về tình cảm, thái

độ, xuất xứ, nguồn gốc cho cả câu, hoặc cho một từ đi trớc Thành phần giải thích mang tính độc lập và đợc tách ra bằng một quãng ngắt trong câu (trên hình thức thờng đợc đánh dấu bằng dấu ngoặc đơn)

(61) Cái này, cái chong chóng chúng tôi đang cầm, không phải đồ

chơi đâu, mà là cái máy thiên địa vận “ ” (X, câu 73, tr.105)

(62) Lũ trẻ chăn trâu, lũ trẻ đói nghèo, chẳng bao giờ có mảnh giấy xanh giấy đỏ, không khi nào đợc chơi cái chong chóng (X, câu 75, tr.105)

(63). Cả họ nhà trai, gồm bố mẹ, chú rể, chạy thẳng, không dám

ngoái đầu lại (XI, câu 87, tr.118)

Trong truyện ngắn Tô Hoài, kiểu thành phần này ít đợc sử dụng chỉ chiếm 0,4%, chủ yếu là kiểu câu tờng thuật, có các thành phần phụ trạng ngữ thời gian

b5 Câu đơn có thành phần phụ là đề ngữ

Đề ngữ là thành phần phụ của câu thờng đứng trớc nòng cốt C - V tách nòng cốt đó bằng ngữ điệu hoặc trợ từ thì đề ngữ thờng có quan hệ ngữ nghĩa với một thành phần nào đó ở trong câu nhng đợc đa lên đầu câu nhằm làm mục đích nhấn mạnh nh một chủ đề

Loại câu này đợc Tô Hoài sử dụng trong truyện ngắn chiếm số lợng hạn chế, chỉ 0,6%

(64) Mọi ngời, ai cũng mệt (XII, câu 54, tr.50)

(65) Ngời con gái xinh đẹp ấy , chàng đã kịp nhìn thấy (XIII, câu

48, tr.51)

(66) Anh , ai mà cứu đợc thì là một danh y nổi tiếng đấy! (XV, câu

47, tr.100)

Trang 36

(67) Lúc ấy, cả hai ngời, ai cũng mệt cả (X, câu 105, tr.47)

(68) Cái đuôi hổ, chàng nhằm vào đó và xông tới (XV, câu 110,

tr.104)

(69) Cầu hôn , việc đó vừa nghĩ tới, anh đã thấy sợ hãi (XIV, câu

109, tr.28)

2.3.1.1.2 Câu đơn có nhiều kết cấu C - V

Câu đơn có nhiều kết cấu C – V hay còn đợc gọi là câu mở rộng thành phần Các thành phần đợc mở rộng là chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ, trạng ngữ Chúng tôi chỉ coi là câu đơn mở rộng khi có ít nhất một trong

số các thành phần kể trên có kết cấu C – V, và nh vậy cũng có nghĩa là câu

có thể đợc mở rộng nhiều thành phần khác nhau Qua khảo sát, chúng tôi thấy câu đơn dạng này chiếm tỷ lệ thấp hơn so với câu đơn thuộc dạng 1, 25,6% và tỷ lệ này gần nh đợc duy trì trong hầu hết các truyện ngắn của Tô Hoài Sau đây là các kiểu cụ thể

Trang 37

(75) ý định mà chàng ngốc mong muốn là chàng sẽ dùng tiền giúp

dân ở đây thoát khỏi cảnh nghèo đói (XV, câu 16, tr.103)

(76) Chàng ngốc ta mặt đầy hí hửng, tay cầm cái thiên địa vận đi đi

lại lại (XV, câu 62, tr.105)

(77) Một ngời lặn giỏi, đi dới nớc nh đi trên bộ, hai bàn tay quơ ra

bắt cá nh vơ nắm rác (V, câu 92, tr.45)

c Câu có bổ ngữ là kết cấu C - V

(78) Chàng trai thấy mũi tên lao tới liền tránh. (VI, câu 107, tr.46)

(79) Lão biết Ngốc đổi mấy tờ giấy bạc lấy cái chong chóng (VI,

câu 172, tr.87)

(80) Lão già ho và nói anh đi nhanh đi (VI, câu 161, tr.85)

d Trạng ngữ là một kết cấu C - V

(81) Tay giơ lên chới với , lão già đó ngã xuống (VI, câu 108, tr84)

(82) Nớc mắt chảy dài trên má, cô nói với chúng (VII, câu 201, tr.99)

(83) Tóc xoã xuống trán , chàng thanh niên cời nói nh không hề có chuyện gì xảy ra (XII, câu 207, tr88)

e Th nh phần phụ giải thích là một kết cấu C -V à

(84) Cây cung ấy, bọn trẻ cời to, bắn bách phát bách trúng (XVI,

câu 22, tr.17)

(85) Anh không về nhà, ngời lạ mặt kể, mà đi thẳng ra bến sông

(VII, câu 49, tr.112)

(86) Ngôi đền đó, lão già dừng lại, gần làng (VIII, câu 67, tr127)

(87) Lão ăn mày đó, ngời kia kể lại, nằm thoi thóp lả đi rồi chết

Trang 38

Dới đây, chúng tôi xin cụ thể hoá giữa các dạng câu đơn trong 15 truyện ngắn của Tô Hoài

Nh vậy, trong cả 15 truyện ngắn hầu nh có sự tơng ứng đều đặn về tỷ

lệ giữa câu đơn không mở rộng và câu đơn mở rộng thành phần, đây là một

điều đáng lu ý trong cấu trúc câu văn trong truyện ngắn của Tô Hoài Loại câu này đợc Tô Hoài sử dụng, lựa chọn khi biểu thị những nội dung phức tạp bên cạnh câu ghép Đây là đặc điểm nổi bật góp phần làm nên một phong cách riêng trong ngôn ngữ truyện ngắn của Tô Hoài Không phải ngẫu nhiên

mà Tô Hoài sử dụng nhiều câu đơn dạng này Theo chúng tôi, lý do đích thực lại nằm chính ngay trong tính cách của ông- mộc mạc giản dị nhng lại sâu sắc, giàu ân nghĩa, ông đã gắn bó máu thịt với những con ngời, những sự kiện, vùng quê Câu văn của ông có khi chồng chất nhiều thông tin, nhiều sự kiện đầy tính chất ngẫu hứng, đã tạo nên những câu mở rộng nhiều tầng, nhiều lớp

2.3.1.2. Câu đặc biệt

Câu đặc biệt là kiểu câu mà trên bề mặt cấu tạo chỉ có một thành phần

do một từ hoặc một cụm danh từ, cụm tính từ, cụm động từ đảm nhận Câu

đặc biệt chia làm 3 nhóm: câu đặc biệt tự thân, câu đặc biệt tỉnh lợc và câu

đặc biệt tách biệt Sở dĩ, chúng tôi chọn cách phân loại câu đạc biệt theo ba nhóm trên đây là dựa trên cách phân chia câu đơn đặc biệt của tác giả Phan Mậu Cảnh trong cuốn Câu đơn phần trong tiếng Việt, Nxb Đại học s phạm

Trang 39

Hà Nội, 2003 Sau đây, chúng tôi sẽ lần lợt trình bày đặc điểm của các tiểu loại câu đặc biệt:

2.3.1.2.1 Câu đặc biệt tự thân

Đây là kiểu câu chỉ do hoặc cụm từ cấu tạo nên trong những ngữ cảnh cho phép, chúng không cần tiếp nhận thêm yếu tố mới vào cấu trúc vốn có ban đầu Kiểu câu này bao gồm 2 tiểu loại: câu đặc biệt danh từ do danh từ hoặc cụm danh từ đảm nhận, câu đặc biệt vị từ do động từ, cụm động từ hoặc tính từ, cụm tính từ tạo nên Đây là loại câu chiếm số lợng cao nhất trong kiểu câu đặc biệt, chiếm 22,5%

Câu đặc biệt tự thân trong truyện ngắn của Tô Hoài đợc biểu hiện ở các dạng cấu tạo sau:

a Câu do danh từ và ngữ danh từ làm nòng cốt Chúng thờng đợc sử dụng để biểu thị:

* Sự tồn tại, xuất hiện của một hiện tợng, sự vật

(90) Chuột! Lại Chuột! (V, câu 50, tr.102)

(91) Ngời trời! Ngời trời! (XIV, câu 54, tr 95)

* Một lời rao với mục đích thông báo

(92) Ngọc đây! Ngọc đây! (VIII, câu 104, tr 67)

*Một lời gọi:

(93) Mẹ ơi! (X, câu 21, tr.75)

* Lời giới thiệu

(94) Vợ tha với bố mẹ:

- Chồng con đây (XIV, câu 21, tr.229)

* Một lời kêu báo hiệu

(95) Mụ Lờng chạy theo, kêu khóc:

- Quân ăn trộm! ăn trộm (IV, câu 84, tr.154)

* Dùng để hỏi

(96) Cái gì nào? (IV, câu 54, tr.91)

b Câu do động từ, ngữ động từ; tính từ, ngữ tính từ làm nòng cốt

Trang 40

Loại có cấu trúc này thờng dùng khi:

* Ngời nói bày tỏ thái độ nghi vấn trớc một sự việc cụ thể:

(97) Nghe xong, ngời vợ hỏi:

- Sao biết ? (VIII, câu 69, tr.63)

(98) Gặp một ngời đàn bà xăm xăm bớc, tay xách cái bu nhốt con mèo, anh hỏi:

- Đi đâu đấy? (VII, câu 25, tr.60)

* Ngời nói bày tỏ thái độ đồng tình, không đồng tình hay ngạc nhiên trớc một sự việc

(99) Nghe ngời kia nói xong, anh gật đầu:

- Phải đấy ! (IX, câu 131, tr.68)

(100) Ngời bèn kể hết mọi điều đau khổ Nghe xong, Phật cời:

- Khó gì đâu Không sợ (VIII, câu 79, tr.69)

(101) Nhà vua thấy thế mừng quá Nhng không biết ngời đẹp cời những củ hành ngộ nghĩnh kì quái hay cời cái ngời bán hành lam lũ, đóng khố cởi trần, đội nón mê Lạ nhỉ? (VIII, câu 73, tr.57)

(103) Ngời kia nói:

- Bán cho tôi! (XV, câu 14, tr.60)

(104) Quan mắng:

- Không đợc nhận xằng! (VIII, câu 42, tr.55)

(105) Rồi cất tiếng:

- Ra gọi ngời bán hành vào đây (VIII, câu 42, tr.57)

(106) Ngời đàn bà “hứ “ lên một tiếng rồi nói:

- Có chứa thằng trộm này thì tôi cho (VIII, câu 42, tr.60)

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp - Đặc điểm câu văn trong 101 truyện ngày xưa của tô hoài
Bảng 1 Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp (Trang 26)
Bảng 2: Phân loại câu đơn theo kết cấu C-V - Đặc điểm câu văn trong 101 truyện ngày xưa của tô hoài
Bảng 2 Phân loại câu đơn theo kết cấu C-V (Trang 28)
Bảng 3: Tỷ lệ câu đơn không mở rộng và câu đơn mở rộng - Đặc điểm câu văn trong 101 truyện ngày xưa của tô hoài
Bảng 3 Tỷ lệ câu đơn không mở rộng và câu đơn mở rộng (Trang 38)
Bảng 4: Phân loại câu đặc biệt - Đặc điểm câu văn trong 101 truyện ngày xưa của tô hoài
Bảng 4 Phân loại câu đặc biệt (Trang 45)
Bảng 5: Phân loại câu ghép Tác phẩm Tổng số - Đặc điểm câu văn trong 101 truyện ngày xưa của tô hoài
Bảng 5 Phân loại câu ghép Tác phẩm Tổng số (Trang 47)
Bảng 7: Phân loại câu theo mục đích giao tiếp Tác - Đặc điểm câu văn trong 101 truyện ngày xưa của tô hoài
Bảng 7 Phân loại câu theo mục đích giao tiếp Tác (Trang 61)
Bảng 9 C©u v¨n trong - Đặc điểm câu văn trong 101 truyện ngày xưa của tô hoài
Bảng 9 C©u v¨n trong (Trang 82)
Bảng 12 Tác giả Tổng số - Đặc điểm câu văn trong 101 truyện ngày xưa của tô hoài
Bảng 12 Tác giả Tổng số (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w