Ông đã phát hiện ra:“Người “kẻ Bưởi” là những người ở gần Hà Nội, đã nhiễm ít nhiều thói tục của đất kinh kỳ, tuy tính tình họ còn giản dị và chất phác, nhưng cách sống của họ đã bắt đầ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ ÚT HÀ
“CHUYỆN CŨ HÀ NỘI” TRONG VĂN TÔ HOÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Trang 2Thái Nguyên, năm 2013
Trang 3ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ ÚT HÀ
“CHUYỆN CŨ HÀ NỘI” TRONG VĂN TÔ HOÀI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS Phong Lê
Thái Nguyên, năm 2013
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm ơn GS Phong Lê, người thầy đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn, động viên tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tác giả luận văn cũng xin chân thành cảm ơn
Các thầy cô giáo cộng tác, các cấp quản lí, lãnh đạo của Trường Trung học phổ thông Vị Xuyên - huyện Vị Xuyên - tỉnh Hà Giang
Khoa Ngữ văn, khoa Sau Đại học, các quý thầy cô giảng dạy lớp cao học Văn K19 - trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tác giả học tập và nghiên cứu
Toàn thể các anh chị em, bạn bè và gia đình đã quan tâm giúp đỡ
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Út Hà
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kì công trình nào khác
Người viết cam đoan
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Út Hà
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
PHẦN MỞ ĐẦU 6
PHẦN NỘI DUNG 12
Chương 1: BỐI CẢNH XÃ HỘI - ĐỜI SỐNG VĂN HỌC NHỮNG NĂM 1941 -1945 VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN TÔ HOÀI 12
1.1 Bối cảnh xã hội những năm 1941 – 1945 12
1.2 Đời sống văn học trong những năm 1941 - 1945 15
1.3 Sự nghiệp sáng tác và vị trí đề tài Hà Nội trong sáng tác của nhà văn Tô Hoài 16
1.3.1 Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Tô Hoài 16
1.3.2 Vị trí đề tài Hà Nội trong sáng tác của nhà văn Tô Hoài 18
Chương 2: GIÁ TRỊ VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA “CHUYỆN CŨ HÀ NỘI” 23 2.1 Bức tranh đô thị hóa trong Chuyện cũ Hà Nội 23
2.2 Người và cảnh trong Chuyện cũ Hà Nội 33
2.2.1 Con người trong Chuyện cũ Hà Nội 33
2.2.2 Cảnh trong Chuyện cũ Hà Nội 44
2.3 Nếp sống và phong tục trong Chuyện cũ Hà Nội 54
2.3.1 Nếp sống trong Chuyện cũ Hà Nội 54
2.3.2 Phong tục trong Chuyện cũ Hà Nội 58
2.4 Ẩm thực và thú chơi trong Chuyện cũ Hà Nội 67
2.4.1 Ẩm thực trong Chuyện cũ Hà Nội 67
2.4.2 Thú chơi trong Chuyện cũ Hà Nội 74
Trang 72.5 Nội thị và ven đô trong Chuyện cũ Hà Nội 77
2.5.1 Nội thị trong Chuyện cũ Hà Nội 77
2.5.2 Ven đô trong Chuyện cũ Hà Nội 82
Chương 3 ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT VÀ PHONG CÁCH CỦA TÔ HOÀI 86
3.1 Sức nhớ và sức nghĩ của Tô Hoài 86
3.2 Cái hóm hỉnh và tiếng cười tinh nghịch trong văn Tô Hoài 96
3.3 Cách kể chuyện của Tô Hoài 101
PHẦN KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Hà Nội - mảnh đất ngàn năm văn hiến, luôn là một nguồn cảm hứng, là đề tài khiến nhiều nhà văn say mê Có những nhà văn đã dành tâm huyết cả cuộc đời cho những trang viết về Hà Nội Trong số những nhà văn
ấy, Tô Hoài là một người tiêu biểu
Đề tài Hà Nội có mặt trong nhiều sáng tác của Tô Hoài Trong bài Tô
Hoài sáu mươi năm viết GS Phong Lê đã nhận xét:“Đề tài Hà Nội cũ và mới
vốn là mạch sống quen thuộc ở Tô Hoài, vẫn liên tục xuất hiện cho đến nay;
mỗi tác phẩm ra đời, từ Người ven thành (1972), qua Quê nhà (1980) đến Kẻ
cướp bến bỏi (1996), đều được bạn đọc chú ý, tuy không gây sôi nổi trong dư
luận Có tác phẩm rất quý giá về tư liệu và vui hóm trong cách kể như hai tập
Chuyện cũ Hà Nội (1998), nhưng lại có ít bài bàn và bình.” [23, 18]
1.2 Chuyện cũ Hà Nội là một tác phẩm tiêu biểu của Tô Hoài về đề tài
Hà Nội Được viết vào những năm 90 của thế kỉ XX, bao gồm 114 truyện ngắn, mỗi truyện như kể lại, thuật lại những cảnh, những người, những việc hoàn toàn có thật của một Hà Nội vào nửa đầu thế kỉ XX trong thời kì thuộc Pháp Một Hà Nội xưa cũ với người và cảnh, nếp sống và phong tục qua những trang văn Tô Hoài đã đem lại cho người đọc một lượng kiến thức rất phong phú về xã hội học, dân tộc học và phong tục học Tuy nhiên, cho đến
nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về Chuyện cũ Hà Nội Vì vậy, đây là
một nội dung còn mới mẻ, rất cần được nghiên cứu
1.3 Năm 2010 vừa qua, nước ta tổ chức lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội Đại lễ thể hiện niềm tự hào của nhân dân cả nước với lịch sử và truyền thống thủ đô ngàn năm tuổi Ngày nay, trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, Hà Nội càng nhận được sự quan tâm của nhân
Trang 9dân Việt Nam và nhân dân thế giới Hà Nội đã, đang và sẽ mãi là trái tim của đất nước Việt Nam Với niềm tự hào về thủ đô Hà Nội xưa và nay, với tình yêu mến dành cho nhà văn Tô Hoài, nhằm giúp cho bạn đọc có một cái nhìn
cụ thể hơn về Hà Nội trong văn học, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Chuyện cũ Hà Nội” trong văn Tô Hoài
2 Lịch sử vấn đề
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về tác giả Tô Hoài, nhưng nghiên
cứu về hai tập truyện Chuyện cũ Hà Nội của ông lại rất ít, chỉ có một vài ý
kiến của các nhà phê bình được nằm rải rác trong các công trình nghiên cứu mang tính khái quát, giới thiệu, mà chưa thực sự đi vào nghiên cứu chuyên biệt Trong phạm vi luận văn chúng tôi chỉ điểm duyệt những ý kiến có liên quan trực tiếp đến đề tài Hà Nội của nhà văn Tô Hoài
Người đầu tiên nghiên cứu văn chương Tô Hoài là nhà nghiên cứu phê
bình Vũ Ngọc Phan Ông đã phát hiện ra:“Người “kẻ Bưởi” là những người ở
gần Hà Nội, đã nhiễm ít nhiều thói tục của đất kinh kỳ, tuy tính tình họ còn giản dị và chất phác, nhưng cách sống của họ đã bắt đầu phức tạp, không còn
như những dân quê các miền xa.” [23, 58]
Trong bài Tô Hoài sáu mươi năm viết GS Phong Lê nhận xét:”Ở đề tài
Hà Nội - quê ông, tức Hà Nội ven đô, Hà Nội mà ông đã vừa trải rộng vừa đào sâu vào thế giới bên ngoài và bên trong nó, Hà Nội ấy vẫn đi theo ông, dẫu ông đi bất cứ đâu, để thành hành trang của ông, để mỗi lúc soi nhìn nó, ông lại thấy bao điều mới lạ, cả trong ba chiều: quá khứ, hiện tại và tương lai Một Hà Nội - quê hương trong ba chiều thời gian, quả đã làm nên vóc dáng một Tô Hoài, có giống và có khác với Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nguyễn
Trang 10Huy Tưởng - cái “bộ tứ” làm nên khuân hình và chất lượng “người Hà Nội – Văn Hà Nội”[23,37]
Cũng nhận xét về đề tài Hà Nội, PGS Trần Hữu Tá viết : “Ông viết về
Hà Nội hồi đầu thế kỉ với những công cuộc đấu tranh, quật khởi chống Pháp
ngấm ngầm hay công khai ( Quê nhà - tiểu thuyết; Câu chuyện bên bờ đầm
sen và cửa miếu Đồng Cổ - truyện ngắn) Một Hà Nội với đủ mọi thứ chuyện
của đời thường trong mấy chục năm trước Cách mạng tháng Tám: từ cảnh mua bán người thê thảm ở phố Mới đến chuyện kinh doanh thức ăn thừa rất
dơ dáy của lính Tây ở cửa Đông; từ việc Tây đoan khám rượu lậu đến “tiếng
rao đêm” bán quà bánh trên các đường phố vv ( Chuyện cũ Hà Nội) Cái
quý của những tác phẩm này còn ở giá trị tư liệu Biết bao nhiêu thứ chuyện, bao nhiêu cảnh đời một thời vang bóng đã được tái hiện một cách sống động
Nó giúp ta hiểu quá khứ, từ những chi tiết sinh hoạt nhỏ nhặt Những tên đất, tên trạm, đặc sản địa phương Cách chạm cửa miếu và lễ dựng nóc Cảnh rước kiệu linh đình, kiệu bay, kiệu bò Cách nói, cách gọi đồ vật, sự vật theo lối xưa vv Tất cả làm tăng màu sắc cổ kính của tác phẩm và chứng tỏ công phu tìm tòi hết sức say mê, tỉ mỉ của tác giả để có thể gợi lên “hồn núi sông ngàn
Về đề tài Hà Nội, Tô Hoài viết kĩ, tỉ mỉ Chính vì thế mà nhà phê bình
Hoài Anh đã nhận xét trong Tô Hoài, nhà văn viết về Hà Nội đặc sắc và phong
phú: “Đề tài Hà Nội luôn trở đi trở lại trong tác phẩm của Tô Hoài: Vỡ tỉnh,
Trang 11Người ven thành, Quê nhà, Chuyện cũ Hà Nội Ông viết kĩ, luôn luôn sửa, tỉa
bớt chữ cho cô đọng, đảo cú pháp cho gần với cách nói thông thường, nhiều
nhận xét hóm hỉnh, sắc sảo, giàu chất tạo hình và chất thơ” [23, 175]
Trong Lời giới thiệu Tuyển tập Tô Hoài, GS Hà Minh Đức viết: “Thế
giới nhân vật của Tô Hoài vốn là những kiểu người bình dị gần gũi trong cuộc sống hàng ngày của những vùng quê Họ quay tơ, dệt cửi, chạy chợ để kiếm sống Gặp buổi thuận thời làng quê vang lên đều đặn tiếng thoi dệt cửi đến canh khuya, phiên chợ đông vui kẻ mua người bán, hội làng nhộn nhịp
trong những ngày xuân, trai gái hò hẹn lứa đôi ”[23, 113]
Những ý kiến của các tác giả trên đây là những đánh giá đúng và sâu về
đề tài Hà Nội trong sáng tác của Tô Hoài Tuy nhiên, cho đến nay chưa có
công trình nghiên cứu chuyên biệt nào viết riêng về Chuyện cũ Hà Nội trong
văn Tô Hoài Do vậy những ý kiến đánh giá này là cơ sở lí luận rất quý báu cho chúng tôi trong việc nghiên cứu tiếp về đề tài Hà Nội của Tô Hoài qua hai
tập truyện Chuyện cũ Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn không nghiên cứu tất cả những tác phẩm viết về đề tài Hà
Nội của Tô Hoài mà chỉ tập trung vào hai tập Chuyện cũ Hà Nội
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn chỉ ra, làm rõ những giá trị và đặc trưng trong nội dung hai
tập truyện Chuyện cũ Hà Nội cùng với những đặc điểm về nghệ thuật, phong
cách của Tô Hoài Từ đó khẳng định vị trí và những đóng góp của nhà văn Tô Hoài đối với nền văn học dân tộc nói chung, với đề tài Hà Nội nói riêng
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp:
Trang 12- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp đối chiếu so sánh
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, nội dung chính của luận văn được thể hiện trong 3 chương:
Chương 1: Bối cảnh xã hội - Đời sống văn học những năm 1941 - 1945
và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Tô Hoài
Chương 2: Giá trị và đặc trưng của Chuyện cũ Hà Nội
Chương 3: Nghệ thuật và phong cách của Tô Hoài
Trang 14PHẦN NỘI DUNG Chương 1
BỐI CẢNH XÃ HỘI - ĐỜI SỐNG VĂN HỌC NHỮNG NĂM 1941 -1945
VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN TÔ HOÀI
1.1 Bối cảnh xã hội những năm 1941 – 1945
* Tình hình thế giới
Từ nửa sau những năm ba mươi của thế kỉ XX, các thế lực phát xít tăng cường các hoạt động bành trướng và xâm lược, chạy đua vũ trang chuẩn bị chiến tranh để phân chia lại thế giới Ngày 1/9/1939, Đức tấn công Ba Lan
mở đầu cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai Ngày 3/9/1939, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức Lợi dụng tình thế chiến tranh chính phủ Đalađiê thi hành hàng loạt biện pháp đàn áp các lực lượng dân chủ trong nước và ở các nước thuộc địa, Mặt trận nhân dân Pháp tan vỡ, Đảng Cộng sản Pháp bị đặt ngoài vòng pháp luật
Đến tháng 7/1939, được cử làm toàn quyền Đông Dương, Catơru tăng cường chính sách vơ vét thuộc địa, đàn áp phong trào đấu tranh, với tuyên bố
“ta đánh toàn diện và mau chóng vào các tổ chức cộng sản; trong cuộc đấu tranh này, phải tiêu diệt Cộng sản thì Đông Dương mới được yên ổn và trung thành với nước Pháp” Lệnh thiết quân luật được ban bố Để phục vụ chính quốc, chúng tăng cường vơ vét bóc lột Đông Dương, ra lệnh tổng động viên
nhằm “cung cấp cho mẫu quốc tiềm lực tối đa của Đông Dương về quân đội,
nhân lực, các sản phẩm và nguyên liệu” Kết quả của chính sách đó là 8 vạn
lính Việt Nam bị đưa sang Pháp
Tháng 6/1940, Pháp đầu hàng Đức Ở Đông Dương, được cử làm toàn quyền thay Catơru, Đờcu tiến hành cải cách bộ máy cai trị, phát xít hóa bộ máy thống trị đàn áp cách mạng Đông Dương
Trang 15Đến tháng 6/1941, phát xít Đức mở cuộc tấn công Liên Xô Cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô bắt đầu Tính chất cuộc chiến từ đây thay đổi về căn bản Trên thế giới đã hình thành hai trận tuyến, một bên là phe Đồng minh và các lực lượng dân chủ do Liên Xô đứng đầu và một bên là khối phát xít gồm Đức, Italia, Nhật
Bước sang năm 1945, Chiến tranh Thế giới thứ hai chuyển vào giai đoạn kết thúc Trên chiến trường châu Âu, phát xít Đức đã bị quét sạch khỏi lãnh thổ Liên Xô Nhiều nước Đông Âu được giải phóng Thủ đô Béclin sắp thất thủ Đồng thời quân Anh- Mĩ đổ bộ lên đất Pháp, mở mặt trận mới đánh Đức Nước Pháp được giải phóng
Còn ở Châu Á- Thái Bình Dương, phát xít Nhật cũng khốn đốn trước các đòn tấn công dồn dập của Anh - Mĩ ở trên bộ cũng như trên biển… Tháng 8/1945, Nhật đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện Tình hình ấy đã tạo điều kiện cho nhân dân ta khởi nghĩa giành chính quyền
* Tình hình Việt Nam
Sau khi chiến tranh bùng nổ, ngày 29/9/1939, Trung ương Đảng gửi thông cáo cho các cấp bộ Đảng, nêu một số phương hướng và biện pháp cần kíp trước mắt nhằm chuyển hướng các hoạt động của Đảng
Ở Đông Dương, tháng 6/1940 Nhật gửi thư cho toàn quyền Đông Dương yêu cầu đóng cửa biên giới Việt - Trung Tháng 8/1940, Nhật yêu cầu Pháp cho quân đội Nhật vào Đông Dương và thừa nhận cho Nhật có những đặc quyền ở Đông Dương Nhật bắt Pháp đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác, vừa tìm cách lôi kéo một số phần tử cơ hội trong đám địa chủ và tư sản làm tay sai phục vụ cho mưu đồ xâm lược của chúng Bọn này núp dưới hình thức đảng phái chính trị ( Đại Việt, Phục Quốc…) hoặc tôn giáo để hoạt động,
Trang 16ra sức tuyên truyền lừa bịp về văn minh và sức mạnh của Nhật, về thuyết
“Đại Đông Á”, ráo riết dọn đường cho Nhật hất cẳng Pháp
Sau khi đầu hàng Nhật ở Lạng Sơn (9/1940), rồi mở cửa cho chúng vào Đông Dương, thực dân Pháp đã suy yếu rõ rệt, Nhật tiếp tục lấn bước
để biến Đông Dương thành thuộc địa và căn cứ chiến tranh của chúng Các công ty của Nhật đầu tư vào Đông Dương ngày một nhiều và hoạt động trong nhiều ngành công nghiệp và thương mại Cả Nhật và Pháp đều ra sức bóc lột nhân dân, bắt nhân dân ta phải bán thóc theo diện tích cày cấy, bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay, thầu dầu… Rõ ràng từ khi đặt chân lên Đông Dương dù là trực tiếp hay gián tiếp qua tay Pháp phát xít Nhật đã bòn rút triệt để các nguyên liệu và thực phẩm của đất nước và nhân dân ta nhằm phục vụ cho chiến tranh
Mặc dù bị Nhật ức hiếp tước đoạt mọi bề, thực dân Pháp vẫn có những thủ đoạn gian xảo để thu được lợi cao nhất như tăng cường đầu cơ tích trữ,
thực hiện chính sách “kinh tế chỉ huy”, tăng thuế lên gấp ba lần, thu mua lúa
gạo với giá rẻ mạt… Chính những thủ đoạn này đã gây ra nạn khan hiếm thực phẩm nghiêm trọng trên thị trường và là nguyên nhân trực tiếp làm cho hơn hai triệu đồng bào ta ở miền Bắc chết đói trong mấy tháng đầu năm 1945
Dưới hai tầng áp bức bóc lột nặng nề của Nhật - Pháp, các tầng lớp nhân dân nói chung, nhất là nông dân, bị đẩy đến tình trạng cực khổ, điêu đứng Cuộc sống của người nông dân thời đó thật sự khốn quẫn Họ sống cầm hơi với hớp cháo cám nhạt và trần mình chịu rét lúc đêm đông Bên cạnh đó, không chỉ nông dân, đời sống của các tầng lớp giai cấp khác trong xã hội cũng điêu đứng nhiều bề…
Nói tóm lại, trừ bọn đại địa chủ, tư sản mại bản, quan lại cường hào tham nhũng và bọn đầu cơ tích trữ, còn mọi tầng lớp nhân dân đều rên xiết
Trang 17dưới hai tầng áp bức bóc lột của Nhật - Pháp Vì vậy, nhân dân ta đều sôi sục căm thù, và sẵn sàng nổi dậy khi thời cơ tới Cả nước Việt Nam như một đồng
cỏ khô, chỉ một tàn lửa nhỏ rơi vào là sẽ bùng lên thiêu cháy bè lũ cướp nước
và tay sai
1.2 Đời sống văn học trong những năm 1941 - 1945
Đời sống văn học thời kì này có nhiều biến động gắn với sự biến đổi của ba trào lưu văn học đó là văn học cách mạng, văn học hiện thực phê phán
và văn học lãng mạn
Văn học vô sản rút vào bí mật nhưng vẫn phát triển mạnh mẽ Thơ ca cách mạng trong tù và thơ ca cách mạng ngoài nhà tù phát triển, nói nhiều tới tương lai, một tương lai sáng sủa đang tiến gần Thời kì này thơ tuyên truyền kết hợp với thơ trữ tình cách mạng càng thấm thía, sâu sắc hơn Tố Hữu
trưởng thành nhanh chóng với tập thơ Từ ấy Nhật kí trong tù của Hồ Chí
Minh cũng đang viết trong thời kì này Bên cạnh thơ ca, hàng loạt bài chính luận của đồng chí Trường Chinh xuất hiện trên các báo chí của Ðảng vào thời
kì này cũng có nhiều giá trị văn học Có thể nói văn học cách mạng trong những năm tiền khởi nghĩa đã góp phần quan trọng vào cuộc vận động cách mạng của Ðảng, đập tan chế độ thuộc địa, giành thắng lợi trong những ngày Tháng Tám năm 1945 lịch sử
Văn học hiện thực phê phán có sự phân hóa mạnh mẽ Vũ Trọng Phụng qua đời; có nhà văn không viết tiểu thuyết nữa mà chuyển dần sang khảo cứu dịch thuật như Ngô Tất Tố
Một thế hệ nhà văn hiện thực mới ra đời: Nam Cao, Mạnh Phú Tư, Nguyễn Ðình Lạp, Bùi Hiển, Các nhà văn hiện thực này vẫn tiếp tục miêu
tả cuộc sống tăm tối của người nông dân như trong Chí Phèo, Lão Hạc của Nam Cao; Sống nhờ của Mạnh Phú Tư, Ngoại ô, Ngõ hẻm của Nguyễn Đình
Trang 18Lạp, Nằm vạ của Bùi Hiển Cuộc sống bế tắc mòn mỏi của người trí thức
tiểu tư sản cũng được các nhà văn hiện thực đề cập một cách sâu sắc như
trong Sống mòn, Ðời thừa, Trăng sáng của Nam Cao Như vậy có thể nói,
các nhà văn hiện thực đã nêu lên những mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp thống trị với tầng lớp nhân dân lao động Họ tập trung viết về quá trình của người nông dân bị bần cùng hóa, lưu manh hóa Để dẫn đến thảm họa này là
do cái đói và cái chết
Văn học lãng mạn rơi vào cái tôi bế tắc, cực đoan Một số tác giả trong
Tự lực văn đoàn đưa ra một chủ nghĩa “vô luân” Nguyễn Tuân đi vào hoài
cổ, xê dịch và cuộc sống trụy lạc Thơ Mới khủng hoảng nghiêm trọng với thơ say, thơ điên, thơ loạn
1.3 Sự nghiệp sáng tác và vị trí đề tài Hà Nội trong sáng tác của nhà văn
Tô Hoài
1.3.1 Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Tô Hoài
Tô Hoài sinh ngày 27.9.1920 tại quê ngoại - làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông cũ ( nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội) Quê nội ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây Ngay từ những ngày còn thơ ấu, Tô Hoài đã sống gắn bó với mảnh đất và con người ven đô
Vì thế cuộc sống và con người làng Nghĩa Đô đã khơi nguồn cảm hứng bất tận cho nhà văn Tô Hoài đã từng tâm sự: “Đời sống xã hội quanh tôi, tư tưởng và hoàn cảnh của chính tôi đã vào cả trong sáng tác của tôi.”
Tên thật của Tô Hoài là Nguyễn Sen Trong nghề viết, ông dùng rất nhiều bút danh khác nhau như: Mắt Biển, Mai Trang, Duy Phương, Hồng Hoa (dùng cho viết báo) Trong các bút danh ấy, Tô Hoài là bút danh được ông dùng nhiều và rất quen thuộc với độc giả Chính vì tình yêu đối với Hà Nội
Trang 19mà nhà văn đã mượn tên con sông Tô Lịch và tên đất phủ Hoài Đức làm nên bút danh cho mình
Tô Hoài xuất thân trong một gia đình làm nghề thủ công dệt lụa, và chỉ định học hết bậc tiểu học, sau đó vừa tự học vừa đi làm Tô Hoài đã làm nhiều nghề để kiếm sống: thợ thủ công, dạy học tư, bán hàng, kế toán hiệu buôn
và tự học để trở thành nhà văn Hoàn cảnh xuất thân và những trải nghiệm cuộc sống đã giúp cho Tô Hoài có một vốn kiến thức thực tế sâu sắc, giúp ích rất lớn cho việc sáng tác của nhà văn
Năm 1938, trong thời kì Mặt trận dân chủ, Tô Hoài tham gia phong trào ái hữu thợ dệt, làm thư kí ban trị sự Hội ái hữu thợ dệt Hà Đông rồi tham gia phong trào thanh niên phản đế Năm 1943, gia nhập tổ Văn hóa cứu quốc đầu tiên ở Hà Nội Sau Cách mạng tháng Tám Tô Hoài tham gia phong
trào Nam tiến; rồi lên Việt Bắc làm báo Cứu quốc, chủ nhiệm Cứu quốc Việt
Bắc, chủ bút Tạp chí cứu quốc Từ 1951 về công tác ở Hội văn nghệ Việt
Nam Sau ngày hòa bình lập lại, trong Đại hội nhà văn lần thứ nhất năm
1957, ông được bầu làm Tổng thư kí của Hội Từ 1958 đến 1980 ông tiếp tục tham gia ban chấp hành, rồi Phó Tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam Từ
1966 đến 1996 là Chủ tịch Hội văn nghệ Hà Nội Ngoài ra, Tô Hoài còn tham gia nhiều công tác xã hội khác
Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị đô hộ, dưới chế độ phong kiến thực dân, Tô Hoài được tận mắt chứng kiến nỗi khổ của người nông dân nơi thôn quê và dân nghèo thành thị Cầm bút viết văn, ông đã bày tỏ thái độ cảm thông, chia sẻ với quê nghèo bằng một tấm lòng gắn bó thiết tha, sâu nặng Tô Hoài đã
để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ cả trước và sau Cách mạng tháng Tám
Tô Hoài đến với nghề văn khá sớm Từ trước Cách mạng tháng Tám, khi
mới 17, 18 tuổi, ông đã có một số sáng tác thơ đăng trên Tiểu thuyết thứ Bảy
Trang 20(Tiếng reo, Đan áo) Từ giã vườn thơ lãng mạn ông đến với cánh đồng văn xuôi hiện thực Nước lên là truyện ngắn đầu tiên được đăng trên Hà Nội tân
văn Và khoảng bốn năm sau, Tô Hoài “viết như chạy thi”để có được nhiều đầu
sách tiêu biểu: Nhà nghèo (1941), O chuột (1942); các tiểu thuyết: Dế mèn
phiêu lưu ký (1941), Giăng thề (1941), Quê người (1942), Xóm giếng ngày xưa
(1944), Cỏ dại (1944) Những sáng tác thời kì này chủ yếu tập trung vào hai đề
tài chính đó là truyện viết về loài vật và về làng quê tác giả
Sau Cách mạng, với Tô Hoài, là một quá trình gần 60 năm viết bền bỉ, liên tục, không ngừng nghỉ, không mệt mỏi trên rất nhiều đề tài quan trọng
của văn học Việt Nam hiện đại Với đề tài miền núi, có thể kể đến Núi Cứu
quốc (1948), Truyện Tây Bắc (1953) và Miền Tây (1967) Chân dung và hồi
ức có Tự truyện (1978), Những gương mặt (1988), Cát bụi chân ai (1992) và
Chiều chiều (1999) Rồi trở lại đề tài Hà Nội với vùng ngoại ô kẻ Bưởi như là
một sự tiếp tục của Quê người (1942), Giăng thề (1942) Sau Cách mạng, với
đề tài Hà Nội, Tô Hoài viết Mười năm (1958), Người ven thành (1972), Quê
nhà (1980), Chuyện cũ Hà Nội (1998)
Năm 1996 Tô Hoài được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh Giải thưởng cao quý này đã khẳng định một sức sáng tạo dồi dào và phong phú của một nhà văn tài năng
Trong hành trình sáng tạo của mình, Tô Hoài gắn bó và giành cho Hà Nội một tình yêu tha thiết và sâu nặng Với trên 150 tác phẩm lớn nhỏ, bao gồm nhiều thể loại, trong đó những trang văn viết về đề tài Hà Nội vô cùng dồi dào và sâu sắc
Trước Cách mạng, Tô Hoài đã vẽ nên một Hà Nội nhiều sắc màu Qua
những hồ nước, những vạt cỏ với dấu chân Dế mèn trong tác phẩm đầu tay Dế
Trang 21mèn phiêu lưu ký (1941) cũng thấp thoáng bóng hình của một vùng đất Hà
Nội xưa Trong O chuột (1942), Nhà nghèo ( 1942), Quê người (1942) , Xóm
Giềng ngày xưa (1942), rồi đến Cỏ dại (1944) ta đều gặp lại một Hà Nội
của những con người, thế sự và nỗi niềm theo cách cảm, cách nghĩ rất tinh tế của Tô Hoài
Có thể thấy, những tác phẩm của Tô Hoài trước Cách mạng chủ yếu viết về vùng quê ngoại ở làng Nghĩa Đô và các khu vực lân cận như Bưởi, Võng Thị, Trích Sài Trong tác phẩm của ông giai đoạn này hiện lên những đường thôn ngõ xóm, những căn nhà đơn sơ luôn văng vẳng tiếng khung cửi lách cách, những “tàu seo” róc rách lúc đêm khuya, những cánh đồng rộng, những mảnh vườn nhỏ với nhiều loại cây, quả quen thuộc của một vùng quê
Thế giới nhân vật của Tô Hoài trước Cách mạng chủ yếu là những người nông dân, thợ thủ công hoặc nông dân pha thợ thủ công Họ vừa làm ruộng, vừa dệt lĩnh, cuộc sống của họ quanh năm nghèo đói, lam lũ Tô Hoài
đã phát hiện ra rằng: “Người ta ra người ta thì phải là người ta đã chứ”, có nghĩa là đã là con người thì đều có tất cả mọi thứ, có phẩm chất, có thói tật,
có hay, có dở Theo ông con người không phải là “thánh nhân”, mà có cả xấu
- tốt, thiện - ác, thậm chí còn có cả những phần đen tối lẩn khuất trong tâm hồn Trong cái nhìn của Tô Hoài, con người dẫu có những khổ đau, bất hạnh, nhưng họ biết vươn lên dù có phải vật lộn với cuộc sống muôn vàn khó khăn
Họ vượt qua những khổ đau, nhọc nhằn để tìm lại cuộc sống của chính mình
Chẳng hạn trong truyện Nhà nghèo tác giả kể về cái Gái Nó sinh ra trong
cảnh nghèo, thiếu ăn thiếu mặc và suốt ngày phải chứng kiến cảnh bố mẹ mắng chửi nhau Vì cảnh nghèo, cái Gái phải đi theo dân làng bắt nhái để kiếm ăn cho gia đình rồi chẳng may bị rắn độc cắn chết Khi cái Gái chết
Trang 22người bố nghèo mới nhận thấy nỗi khổ của đứa con khi sống trong cảnh túng quẫn cả về vật chất và tinh thần
Tô Hoài không chỉ nói về cảnh nghèo túng của những người ven đô mà ông còn dựng lên biết bao cảnh phiêu bạt, li tán, tha hương Điển hình có thể
kể đến nhân vật Thoại trong Quê người Là một thanh niên khỏe mạnh, với
tay nghề giỏi, thế nhưng anh lại có một gia cảnh thật buồn khiến người đọc không khỏi xót xa, thương cảm : “Ngày mai mùng một tết, chẳng có xôi, chẳng có thịt, chẳng có hương, chẳng có nến, nghĩa là chẳng có một thứ gì để cúng ” Thiếu thốn, nợ thì không đòi được nên Thoại đã liều lĩnh đi ăn trộm chó Việc không thành nên cũng đúng vào ngày mùng một tết, vợ chồng con cái Thoại lại đùm dúm dắt díu nhau bỏ làng mà đi
Trong các sáng tác của Tô Hoài trước Cách mạng còn có một loại nhân vật nữa, đó là những con vật bé nhỏ gần gũi với đời sống sinh hoạt của con người Những con vật nhỏ bé như gã chuột bạch, những con mèo mướp, những con chó dưới ngòi bút của Tô Hoài cũng có tình cảm, có cá tính, tâm trạng và số phận giống như con người Thông qua thế giới loài vật, tác giả muốn nói đến thế giới của con người, nói đến số phận của những người nông dân, thợ thủ công ở ven đô Qua hình ảnh đôi chim ri đá, người đọc thấy hình ảnh lam lũ của người nông dân làng Nghĩa Đô “Hình bóng một người cù rù, nhưng nhẫn nại, lam lũ và luôn luôn chân lấm tay bùn - những người cần lao của đồng ruộng họ ăn ở dè sẻn, bình lặng, chịu khó, ít ồn ã Cuộc đời trôi chảy âm thầm dưới vòm lá xanh, y như cuộc đời của những người Nghĩa Đô, cần cù và nghèo khó trên cái khung cửi, trong bốn lũy tre già ” [10, 230 - 238]
Như vậy có thể thấy, trước Cách mạng, Tô Hoài viết về đề tài Hà Nội chủ yếu là phản ánh cuộc sống, sinh hoạt hằng ngày của người dân làng
Trang 23Nghĩa Đô với những khó khăn, nhọc nhằn, tủi cực nhưng cũng rất đỗi yên ả, thanh bình Sau Cách mạng, Tô Hoài lại trở về với miền thân thuộc của mình qua mảng đề tài viết về Hà Nội - ngoại ô, quê ông Đề tài này xuất hiện trong
nhiều sáng tác của Tô Hoài sau cách mạng: Mười năm (1958), Tự truyện (1978), Người ven thành (1972),Quê nhà (1980), Những gương mặt (1988),
Cát bụi chân ai ( 1992), Chuyện cũ Hà Nội ( 1998), Chiều chiều ( 1999), Giấc mộng ông thợ dìu ( 2004) …
Nếu như trước Cách mạng, Tô Hoài viết về những con người ven đô nhỏ
bé, cam chịu và nhẫn nhục thì sau Cách mạng ông vẫn tiếp tục viết về họ Chỉ
có điều bây giờ, họ xuất hiện với một tâm thế khác, không còn là những con người nhỏ bé như trước kia mà họ có ý thức về sức mạnh của bản thân, có nghĩa vụ, trách nhiệm đối với đất nước lúc nguy nan
Sau Cách mạng, có thể kể đến các tiểu thuyết của Tô Hoài như Mười
năm (1958), Quê nhà (1980) Những tác phẩm này đã khắc họa rất rõ nét về
các chặng đường biến đổi của Hà Nội
Trong tiểu thuyết Mười năm, tác giả đã phản ánh một thời kì đau thương
của đất nước nói chung và vùng Nghĩa Đô ven đô nói riêng Đó là vào những năm 1935 - 1945, chỉ với mười năm nhưng đất nước ta đã trải qua biết bao biến động, từ Mặt trận dân chủ, đến Đại chiến thế giới lần thứ hai và nạn đói hoành hành đã cướp đi sinh mạng của hai triệu đồng bào ta Cuộc sống của con người nơi đây ngày càng khốn khó, người nông dân bần cùng, những người thợ thủ công kiếm được miếng ăn rất khó khăn, chật vật Nạn đói khiến người chết la liệt như ngả rạ Hầu như cái đói, cái chết đã rình rập ở tất cả mọi thôn, xóm Bên cạnh nỗi khổ đau, nghèo đói của người dân, Tô Hoài cũng nói đến rất nhiều về sự giác ngộ của quần chúng nhân dân khi bị áp bức bóc lột Họ đã đến với Cách mạng bắt đầu từ việc tham gia các hoạt động của ái hữu thợ dệt đến
Trang 24phong trào lớn mạnh của thời kì Mặt trận Việt Minh Tô Hoài đã thấy được sức lớn mạnh của tập thể quần chúng nhân dân nên trong tác phẩm đã xuất hiện những nhân vật mới như Lạp, Ba trong nhóm thanh niên cấp tiến
Sang đến tiểu thuyết Quê nhà, tác giả lại ngược về trước những năm
cuối thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp bắt đầu đặt chân đến xâm lược nước ta Khi
đó, mặc dù triều đình có sự kháng cự nhưng đều bị thất bại Tuy vậy với sự đồng sức đồng lòng, với tinh thần đoàn kết dân tộc, quần chúng nhân dân đã đứng lên để đánh đuổi kẻ thù Cuộc chiến đấu của nghĩa quân dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Xuất, rồi sau này là Nghĩa, đã kéo dài mười năm trời mà không dễ gì dập tắt Đặc biệt trong tác phẩm này Tô Hoài đã dựng lên hình ảnh của hai người phụ nữ, đó là bà Xuất - vợ góa của thủ lĩnh Xuất, và Nghĩa - cô gái Ba Trại đã đóng giả trai Họ đã nén nỗi đau riêng để tiếp tục con đường của những người đi trước Hình ảnh của những người phụ nữ ấy thật giống như những tượng đài bất tử
Những năm gần đây, kể từ thập niên cuối thế kỉ XX, Tô Hoài lại tiếp tục ngược dòng lịch sử để trở về tái hiện lại một Hà Nội xưa Trong một cách viết
mới, qua hai tập Chuyện cũ Hà Nội, đây không phải là văn hư cấu như trong
truyện ngắn và tiểu thuyết mà bạn đọc đã quá quen thuộc, mà bây giờ là văn kể chuyện, một lối kể hoàn toàn thoát ra khỏi cái tôi, theo cách kể của dân gian; một lối kể với văn phong giản dị, cô đúc, ngắn gọn như các loại truyện có trong kho tàng văn học dân gian - Một kiểu “Vũ trung tùy bút” của thời hiện đại, để ghi lại “muôn mặt đời thường” của Hà Nội một thời thuộc Pháp chưa xa lắm, khi đất nước chuyển sang xã hội thuộc địa, vào đầu thế kỉ XX
Từ người và cảnh, nếp sống và phong tục, ẩm thực và thú chơi nơi vùng ngoại ô ven đô hay nội thị đều được Tô Hoài ghi lại rất tỉ mỉ trong hai tập truyện này Bức tranh Hà Nội ấy đã làm nên một nét riêng rất giá trị cho
Trang 25Chuyện cũ Hà Nội để phân biệt với những tác phẩm viết về Hà Nội của Tô
Hoài cũng như của nhiều người viết về Hà Nội khác nói chung Như vậy, sau Cách mạng, viết về Hà Nội, Tô Hoài đã có cái nhìn trong chiều dài lịch sử, và
với Chuyện cũ Hà Nội Tô Hoài lại có sự đổi thay trong cách viết Đây là một
bước tiến của Tô Hoài khi ông viết về mảnh đất mà ông gắn bó cả cuộc đời mình, có lẽ vì đó mà đề tài Hà Nội có một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông
Chương 2
GIÁ TRỊ VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA “CHUYỆN CŨ HÀ NỘI”
Trong truyện ngắn Những cửa ô Tô Hoài có ghi lại rằng Hà Nội chính
thức trở thành mảnh đất của Pháp từ năm 1888, kể từ ngày 3 tháng 10.Vua Đồng Khánh nhà Nguyễn cắt đất Hà Nội cho Pháp gọi là “nhượng địa” Tuy nhiên, quá trình biến Hà Nội thành “nhượng địa” của Pháp đã được khởi động từ trước đó hơn 20 năm, khi mà công cuộc “bình định” xứ Bắc Kỳ của thực dân Pháp còn chưa thực sự bắt đầu
Theo quy ước được ký kết ngày 6-2-1874, Pháp được đặt tại Hà Nội một lực lượng lính bảo vệ không quá 100 người Diện tích khu đất nhượng cho Pháp xây Tòa Công sứ được quy định là 2,5 héc-ta Nhưng do sự bất lực của nhà Nguyễn mà đại diện là Trần Đình Túc, cuối cùng khu đất nhượng này đã lên tới 18,5 héc-ta Ngày 28-8-1875, Pháp bắt đầu đặt Lãnh sự quán tại Hà Nội Như vậy là, về mặt pháp lý, mặc dù Bắc Kỳ chưa chính thức trở thành đất “bảo hộ” của Pháp song trên thực tế, Pháp đã đặt được chân vào Hà Nội Ý đồ xâm chiếm Bắc Kỳ của Pháp đã có cơ sở để thực hiện Tháng 10-1875, Pháp bắt đầu khởi công xây dựng các công trình kiên cố trên khu “nhượng địa”, chính thức mở đầu
Trang 26thời kỳ xây dựng Hà Nội trở Thành “Thủ đô của Bắc Kỳ”, “Thủ đô của Liên bang Đông Dương”
Như vậy Hà Nội đã trở thành trung tâm văn hóa, kinh tế lớn nhất của
cả nước Những luồng tư tưởng mới cũng như các chính sách đồng hóa của Pháp rất dễ du nhập vào nước ta Những chính sách này đã làm cho nền văn hóa nước ta xuất hiện những đặc điểm không thuần nhất Tuy nhiên bên cạnh đó, những tinh hoa của nền văn hoá phương Tây cũng đã có những tác động tích cực đến văn hoá nước ta Ở Việt Nam đã xuất hiện các trào lưu văn hoá có sự giao thoa giữa Á - Âu, Đông - Tây Trong hoàn cảnh như vậy, cái cũ chưa mất hoàn toàn, cái mới lại chưa định hình rõ ràng cụ thể Vì vậy cái mới và cái cũ cùng tồn tại song song nhau, làm cho xã hội có sự thay đổi mạnh mẽ Đây là dấu hiệu đầu tiên của quá trình đô thị hóa Với thực tế đó, nhà văn Tô Hoài đã ghi lại quá trình đô thị hóa ở Hà Nội trong thời kì Pháp
thuộc qua hai tập Chuyện cũ Hà Nội Quá trình đô thị hóa trong Chuyện cũ
Hà Nội được tác giả ghi lại ở mọi khía cạnh, từ khung cảnh đường phố đến
sự phát triển về công thương nghiệp, giao thông, đô thị và cả phong tục, nếp sống sinh hoạt của con người Dưới ngòi bút ký họa của mình, Tô Hoài đã
vẽ nên một Hà Nội đang trong quá trình đô thị hoá với những thay đổi “nửa Tây nửa Ta, nửa cũ nửa mới, nửa sang nửa quê”
Trong truyện ngắn Băm sáu phố phường, Tô Hoài đã ghi lại tỉ mỉ về
quá trình đô thị hóa đường phố ở Hà Nội thời Pháp thuộc Trước khi Pháp vào
Hà Nội thì đường phố Hà Nội rất nhỏ bé “Tỉnh Hà Đông, tỉnh Bắc Ninh bọc quanh, Hà Nội hẹp toen hoẻn ở giữa Xuống cuối đường Huế đã hết đất thành phố” [11, 42] và con người nơi đây sống rất hài hòa Nhưng từ khi Pháp đến
Hà Nội thì Hà Nội đã có rất nhiều thay đổi Điều thay đổi đó được thể hiện ở
Trang 27nhau Những phố “Hàng Bài, Tràng Tiền, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Điện Biên, Lê Hồng Phong, Hùng Vương bấy giờ là khu vực phố Tây, phần đông chỉ có nhà người Pháp hoặc những người An Nam nhưng giàu có, sang trọng Nhà vườn tường hoa, cổng sắt riêng cho xe song mã và ô tô ra Phố Tây vắng, loáng thoáng người qua lại, phần nhiều chỉ những người đi là bồi bếp, tài xế, các cô khâu đầm, chị hai giữ trẻ nhà Tây.” [11, 43] Những người nghèo khổ dù muốn đi qua các phố này nhưng vì sợ vạ lây, sợ nghi là ăn cắp nên chẳng ai dại gì lại lai vãng đến các phố Tây
Các phố Hàng Gai, Hàng Bông, Hàng Ngang, Hàng Đào, chợ Đồng Xuân thì người qua lại đông đúc Đây là nơi buôn bán sầm uất nhất Và vì
là nơi trung tâm mua bán nên ở đây xuất hiện rất nhiều loại người khác nhau, đặc biệt là xuất hiện rất nhiều các tay “chích cược”( trộm cắp) hay du côn, du kề
Nói về các khu vực sống của người dân, trong Băm sáu phố phường
Tô Hoài nhắc đến hai khu vực, đó là những con đường nhỏ bên chợ Hôm và đường Huế Trước kia, nơi đó hoang vu vắng vẻ, chỉ là bãi hoang đầm lầy thì lúc này đã trở thành một khu vực đông người, nhà cửa phố xá mọc lên san sát, rất nhiều kiểu người chen chúc nhau sinh sống ở đây Ngoài ra một khu vực nữa cũng được nhắc đến, đó là các bãi dọc đê sông Hồng như bãi
Cơ Xá, Nghĩa Dũng, Phúc Xá, bãi An Dương còn bỏ hoang xuống tận bến Phà Đen Ở đây toàn là nhà lá, mọc san sát nhau với những người nghèo, người cu li dọn kho, làm thuê làm mướn sống chui rúc Bên cạnh đó là nơi
tụ tập các sòng bạc, các tay chơi có hạng, những tay “đầu trộm đuôi cướp” cũng tập trung cả về đây
Như vậy chỉ có người Tây thì được “ăn trên ngồi chốc” còn lại người ta bới bèo tìm bọ trên lưng nhau để sinh tồn Điều đặc biệt hơn là tất cả những gì
Trang 28liên quan đến giao thông, xây dựng là phải dùng nguyên vật liệu của Tây, từ
lọ thủy tinh, cái nắp cống, biển đề số nhà rồi đến viên gạch “Việc ở đâu, cái
gì Tây cũng làm cả và từ bên Tây đem sang Tây moi hết tiền Cái nắp cống gang, ống nước bằng chì, lọ thủy tinh đựng thuốc, mảnh sắt xanh xanh đề số nhà, tên phố đều làm ở Pháp, có tàu thủy tải sang Cột đèn tròn, cột dây điện vuông ở góc phố, cũng đúc tận bên ấy Các hãng Tây buôn càng phát tài bán được nhiều thứ cho thuộc địa Cả đến hòn gạch, hòn ngói cũng đóng ở lò bên Mạc xây” [11, 47] Như vậy, chỉ với một truyện ngắn nhưng Tô Hoài đã ghi lại quá trình đô thị hóa qua từng ngõ phố, các con đường cùng với cảnh người tấp nập Tô Hoài ghi rằng “Giữa Hà Nội quen thuộc quá mà phường phố thì thật xa lạ” [11, 49]
Đô thị hóa trong Chuyện cũ Hà Nội không chỉ là ở các ngõ phố,
những con đường mà còn được tác giả ghi lại ở các phương tiện Nếu như trước khi Pháp vào Hà Nội và biến Hà Nội trở thành thủ đô của Đông Dương, các phương tiện được người dân dùng chủ yếu là những chiếc xe đẩy hay xe bò, xe ngựa, xe cút kít thì giờ đây những chiếc xe ấy đã rất hiếm hoặc có còn thì cũng được cải tiến đi khá nhiều Thay vào những chiếc xe thô sơ này là những phương tiện hiện đại hơn được Pháp mang về như cái xe đạp, hay cái tàu điện
Cái xe đạp được Tô Hoài nhắc đến trong thời Pháp thuộc còn rất hiếm
hoi, cả làng chỉ có một cái xe đạp của ông đội Lang Cái xe đạp thời ấy quý hiếm nên được gìn giữ rất cẩn thận, đi đâu về là lại phải lau xe Nhưng có một cái xe đạp để dùng vào thời ấy cũng rất nhiêu khê, tốn kém; xe không phanh cũng phạt, không gác đờ bu cũng phạt “Xe phải gắn một mảnh sắt, mảnh kền khắc tên, số nhà, tên phố của chủ xe Không có, phạt Đèo nhau, phạt Trông cái xe mướp quá, ngứa mắt cũng phạt Ba đồng một tạ gạo Sài Gòn lẫn gạo
Trang 29gãy hạng vừa, giá trị một đồng bạc không phải nhỏ Thế mà thuế xe đạp mỗi năm đóng mất một đồng bạc, được lĩnh về một miếng lập lặc bằng đồng vặn vít đeo vào xe Đầu năm, chỉ hết tháng giêng, đội xếp đã đứng đường tóm phạt các xe chưa có lập lặc mới.”[11, 3] Có thể thấy, để có một cái xe đạp thì chủ nhân của nó rất vất vả và tốn kém Thế nhưng vào thời bấy giờ có một cái
xe đạp cũng là một điều xa xỉ và rất đáng quý Cho nên thời ấy người ta chưa gọi là mua xe đạp mà người ta gọi một cách trịnh trọng là “tậu xe đạp” giống như tậu ruộng vậy Với một câu chuyện rất ngắn nhưng Tô Hoài đã vẽ lại rất chân thực cuộc sống cũng như tâm lí của con người Hà Nội thời thuộc Pháp,
và ẩn đằng sau đó là một niềm cảm thông sâu sắc của nhà văn dành cho người dân lam lũ, tảo tần
Không chỉ có xe đạp, nền văn minh hiện đại phương Tây còn đem đến
cho nước ta một phương tiện mới mẻ khác, đó là “Cái tàu điện” Thời đó cái
tàu điện còn là một phương tiện rất mới với người dân, vì thế trong bài ca dao vùng Bưởi có viết:
“Thằng Tây ngồi nghĩ cũng tài Sinh ra đèn máy thắp hoài năm canh Thằng Tây ngồi nghĩ cũng sành Sinh ra tàu điện chạy quanh phố phường
La ga thì ở Thụy Chương Dây đồng cột sắt tìm đường kéo lên Bồi bếp cho chí bồi bàn
Chạy tiền kí cược đi làm “sơ vơ”
Xưa nay có thế bao giờ
Có cái tàu điện đứng chờ ngã ba”
Trang 30Trước đây, khi chưa có tàu điện thì xe ngựa, xe bánh sắt, xe bò, xe cút kít một bánh gỗ rít váng óc giữa oi ả trưa hè Từ khi có tàu điện, các loại xe này dần dần không còn nữa, “chỉ có cái tàu điện vẫn còn và được nối thêm một toa, hai toa, chạy ầm ầm giữa tiếng chuông ở chân người lái tàu dần xuống, thành tiếng dài dài keng keng ầm ầm mà người vùng Bưởi gọi là tiếng
“keng ầm” tàu điện” [11,85]
Cái tàu điện đã mang đến cho Hà Nội thời bấy giờ một cái gì đó rất mới mẻ Từ khi có cái tàu điện, cuộc sống của người dân nơi đây trở nên háo hức hơn :”Cái tàu điện chạy sớm, náo động cả phố xá Các cụ kể ngày mới có tàu điện, cả tháng liền vùng ngoại ô nô nức được đi tàu không mất tiền vé, cứ lên tàu ngồi chơi ra kẻ chợ Dẫu sao ngót trăm năm nay rồi, cái tàu điện keng keng ầm ầm vẫn “chạy quanh phố phường””[11, 89] Tuy nhiên những câu chuyện xung quanh cái tàu điện cũng đáng buồn lắm Truyện kể lại rằng: ở các quãng tàu tránh, người ăn xin, ăn mày nhiều không kể xiết Mỗi khi tàu đỗ ở các quãng ấy thì tiếng ăn mày, kêu xin, tiếng hát xẩm lại thảm thiết rên rỉ Thế nhưng dù thảm thiết thế nào thì đôi bên hàng tàu chẳng ai thèm ngó cổ ra Thảm thương hơn nữa còn là cảnh người trốn vé nhảy tàu chuyền toa chạy Tây Coóc và đã có trường hợp chết rất thảm thương “Chỗ ấy quãng đường uốn cong xế cửa trường Bưởi, Tây Coóc thình lình đi khám vé Một thằng bé, quần đùi áo nâu, cắp hộp kẹo vừng kẹo bột trốn vé chạy ra cửa tàu Nhưng nó vẫn ham bán kẹo - có lẽ thế Nó không nhảy xuống đường Nó chuyền cuối tàu sang toa Thế là cả người và cái hộp kẹo lạng vào bánh tàu điện, tàu đương lượn nghiêng, bánh
tàu xiết vào đường ray rên lên ken két ” [11, 88-89]
Có thể thấy, từ khi có cái tàu điện thì đồng thời Hà Nội cũng đã xuất hiện những âm thanh vang động đến khắp các phố phường, mang đến cho
Trang 31Hà Nội một cuộc sống nhộn nhịp hơn, tươi mới hơn Từ cuộc sống nhộn nhịp, tươi mới đó, chúng ta có thể nhận thấy rất rõ ràng Hà Nội đang từng bước chuyển mình mạnh mẽ Và theo đó, nền văn minh phương Tây đã thâm nhập vào nước ta lúc bấy giờ một cách nhanh chóng Bên cạnh cuộc sống đô thị náo nhiệt, ta lại bắt gặp những hình ảnh buồn thương của lớp dân nghèo, cảnh ăn xin, cảnh chạy toa tàu thật thảm thiết khiến ta không khỏi xót xa bùi ngùi
Cùng với sự xuất hiện của các phương tiện giao thông mới thì người dân thủ đô xưa cũng được tiếp xúc với những loại hình nghệ thuật rất mới mẻ
có nguồn gốc từ các nước phương Tây tiến bộ Một trong số đó là xem phim Loại hình nghệ thuật này thời bấy giờ còn rất đơn giản và sơ lược “Ngày ấy phim còn câm và chưa gọi là xem phim, mà là xem xi - la -ma, xem chớp
bóng, chớp ảnh” [11, 67] Phim được chiếu cũng khác với bây giờ, nó được
chiếu ở các đình làng cho người dân xem và không thu tiền vé Đây cũng là một hình thức sinh hoạt tập thể mang tính truyền thống của nhân dân ta Như vậy, rõ ràng dù nền văn minh phương Tây có thâm nhập vào nước ta, đưa nước ta trên đường đô thị hóa một cách nhanh chóng, mau lẹ và được nhân dân hưởng ứng, tiếp nhận nhưng những cái cũ của dân tộc cũng không hoàn toàn mất đi
Quá trình đô thị hóa còn diễn ra trên rất nhiều bình diện khác, thể hiện
từ cái răng, cái tóc, lời ăn tiếng nói và cả cái áo dài truyền thống của dân tộc
Người Việt Nam trước kia có tục nhuộm răng Dù là già hay trẻ, gái hay trai đều phải nhuộm răng Còn nhỏ thì nhuộm răng màu đỏ cánh gián rồi sau nhuộm thành răng đen Người phụ nữ đẹp phải có hàm răng hạt na “Răng hạt huyền, răng hạt na, răng đen rưng rức, đẹp chưa.”[12, 71] Thế nhưng đó là
Trang 32chuyện của nửa thế kỉ trước còn bây giờ ai cũng răng trắng, họa may chỉ còn sót lại đôi ba cụ trong làng xưa đã nhuộm răng đen
Đấy là chuyện về hàm răng còn mái tóc của một người phụ nữ đẹp như trong tranh, yểu điệu thướt tha phải là:
“Khăn nhung uốn tóc cho vừa
Đi giày mõm nhái, đeo hoa cánh bèo
Quần thâm, lĩnh Bưởi cạp điều
Hạt vàng quấn cổ ra chiều giàu sang”
Vào quãng những năm 1930 trở về trước, đó là vẻ đẹp mà ai ai cũng ao ước Còn sau này các cô đã đua nhau sấy tóc “phi dê”, hoặc không sấy tóc
“phi dê” thì các vành khăn mái tóc cũng được biến hóa rất nhanh: “Đường ngôi không rẽ giữa nữa, mà để lệch về bên trái, rồi tóc vẫn cuốn thành lọn,nhưng không chít khăn, gọi là “tân thời vấn tóc trần” Chưa phải đã là mới nhất, có người quấn búi tóc Cái búi tóc mượt mà, cái trâm chặt chẽ nhưng lại như tự nhiên trễ xuống gáy, dịu dàng, lả lướt.”[12, 78]
Quá trình đô thị hóa không chỉ thể hiện ở hàm răng mái tóc mà nó còn
được thể hiện trên chiếc áo dài thời bấy giờ
Chiếc áo dài cổ truyền thướt tha vốn mang đậm nét dân tộc của người Việt Nam Dù ở bất cứ nơi đâu, chiếc áo dài truyền thống luôn là niềm tự hào của dân tộc Việt Ở thời thuộc Pháp, chiếc áo dài có rất nhiều thay đổi Cũng
là áo dài nhưng mỗi vùng, mỗi tầng lớp may mặc khác nhau Áo dài của người giàu có không giống với áo của người nghèo, kiểu cách và màu sắc cái
áo ở tuổi con gái khác tuổi nạ dòng, khác người già Nhưng không phải là khác hẳn mà nó lai nhau, cái chính là trong làng bắt chước phố phường Trước đây, phụ nữ trong làng chỉ mặc những chiếc áo từ thân, ngoài chiếc áo tứ thân
Trang 33trong làng dần được cải tiến theo thành thị, phố phường: “Áo dài trong làng dần dần được cải tiến theo áo dài thành thị, cho tới giữa thế kỉ, kinh tế và cuộc sống con người phố phường nhộn nhịp mở mang hơn Buôn bán thông thương vào Nam ra Bắc, đi Hồng Kông, sang Vân Nam, sang Pháp Xống áo cũng thay đổi theo thời Không phải chỉ có the lụa, mà may áo dài có hàng
kép xuyến nhung, đoạn, xát xi, lụa bom bay ” [12, 345-346] Tuy nhiên các
mốt chỉ được một thời, rồi lại mau chóng qua đi, chỉ có kiểu nào thích hợp thì tồn tại được lâu hơn
Trong Con nhà người, Tô Hoài đã cho người đọc thấy rất rõ quá trình
đô thị hóa còn len lỏi vào từng ngóc ngách của đời sống trong xã hội xưa Đô thị hóa không chỉ được thể hiện ở các ngõ phố, các phương tiện, nếp sống, hay phong tục của con người mà nó còn được định hình rất rõ ngay ở lời ăn
tiếng nói trong giao tiếp đời thường Truyện ngắn Con nhà người có ghi lại về
sự thay đổi trong tiếng gọi bố mẹ Chỉ trong khoảng mấy chục năm thôi nhưng trên mảnh đất Hà thành tiếng gọi bố mẹ đã có rất nhiều cách gọi khác nhau: “Ngày trước, ở phường phố, con cái gọi bố mẹ là thầy đẻ, thầy me (me chứ không phải mẹ) Nhà có đi đó đi đây bắt chước các nơi đôi chút, gọi là ba
má ( hoặc ba mẹ) Vợ chồng con trẻ cho con gọi là cậu mợ Khi có tuổi mới đổi là thầy mẹ Hoặc đã quen thuộc, cứ gọi “cậu mợ” đến già Chưa kể, còn gọi là “ông bà” thay con Các làng ngoại ô, gọi bố mẹ là thầy u, thầy mẹ, thầy
bu Vài ba nhà giàu kệch cỡm “giẫm phải cứt Tây”, bắt con cái gọi bố mẹ là
pa pa, ma măng,”[11, 207] Có thể thấy rằng quá trình đô thị hóa đã đi vào
trong đời sống của người dân với một tốc độ mau lẹ
Quá trình đô thị hóa trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục thể hiện rõ trên sự thay đổi ngôn ngữ, văn tự Từ khi Pháp xâm lược nước ta, cùng với việc truyền bá văn hóa phương Tây thì Pháp đã đưa vào nước ta một loại chữ viết
Trang 34khác, đó là chữ quốc ngữ Và chữ quốc ngữ đã nhanh chóng đưa chữ Hán và
chữ Nôm vào quên lãng để chiếm độc quyền trong việc ghi tiếng Việt Cuộc thắng lợi này sở dĩ được tương đối dễ dàng bởi vì chữ quốc ngữ là giao điểm của hai chủ trương đối nghịch nhau Một bên chính quyền Pháp ở Đông Dương xem chữ quốc ngữ là công cụ hữu hiệu để đồng hoá dân thuộc địa Bên phía những sĩ phu Việt Nam lại cho đó là vũ khí sắc bén trong công cuộc phổ biến tân học, truyền bá tư tưởng yêu nước tiến tới giải phóng dân tộc, đem lại độc lập cho nước nhà Cũng vì lẽ đó mà chữ quốc ngữ được truyền bá rộng trên khắp đất nước ta “Những lớp học buổi tối đầu tiên được mở ở trường Yên Thái Hai bên nhà tả vu trong sân đình vốn ban ngày cũng là lớp học vỡ lòng của thầy giáo Thịnh và ông Tú Đễ, tối nào cũng đông người đến nhận sách bút ghi tên học Cả người đứng tuổi và trẻ con, nhưng nhiều nhất là thanh niên Thoạt tiên, đèn dầu Tây, đèn cây, đèn hoa kì, cái để đầu bàn, cái treo ba dây Những đêm mùa hè khói tù mù khét lẹt, mồ hôi nhễ nhại, muỗi ở dòng nước Tô Lịch đọng thối đen ngòm, muỗi bay à à lên mặt cả thầy và trò Thế mà những cô thợ seo cầu sau tối nào cũng chịu khó đến lớp, khi tan học mới vào seo đèn đến quá nửa đêm.” [11, 131]
Việc truyền bá quốc ngữ đã được toàn thể nhân dân ủng hộ, đặc biệt là tầng lớp trẻ Ban đầu hoạt động này chỉ diễn ra ở một số làng lẻ tẻ mà mở đầu
là làng Yên Thái nhưng về sau nó đã được lan ra rộng khắp ở các làng như làng Nghè, Đức Diễn, Phú Diễn, các làng làm ruộng trồng rau khác Để cho người dân có thể đọc sách báo, người ta đã lập ở làng Yên Thái một cái thư viện Không chỉ có thế, để chữ quốc ngữ đến được gần với người dân hơn, nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ rất sôi nổi đã được tổ chức như tổ chức đêm ca nhạc ở sân đình Yên Thái, hoặc diễn các vở kịch ở những làng quê
Trang 35Như vậy, việc truyền bá chữ quốc ngữ một cách rộng rãi ở Hà Nội thời Pháp thuộc là một trong những vấn đề rất quan trọng và cấp thiết trong việc đổi mới tư duy nhằm mục đích thúc đẩy quá trình đô thị hóa của đất nước theo kịp với thời cuộc Mặc dù chữ quốc ngữ đã được nhân dân hưởng ứng rất nhiệt tình song chưa phải đã được phổ biến hoàn toàn Bên cạnh việc học chữ quốc ngữ thì việc học chữ Hán cũng đóng một vai trò quan trọng, “Những cậu học trò vừa học quốc ngữ, vừa học chữ ta, có cái đầu cạo trọc, đầu mới để sắp
ăn tết, đuôi tóc hoa roi dài thòng lõng xuống giữa lưng”[11, 21] Rõ ràng, chữ quốc ngữ đã bắt đầu được dạy nhưng chữ Hán không hoàn toàn mất, trong bối cảnh này dân ta đã học đồng thời song song hai loại chữ Tuy nhiên phải khẳng định rằng việc học chữ quốc ngữ là một dấu hiệu quan trọng đánh dấu
sự giao lưu nền văn hóa nước ta với các nền văn hóa phương Tây Đây cũng
là điều kiện thuận lợi để nước ta tiếp cận được với các nền văn hóa tiên tiến phương Tây, cũng là yếu tố quan trọng để thúc đẩy quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra nhanh chóng hơn
Có thể nói, trong Chuyện cũ Hà Nội, nhiều bức tranh nhỏ được ghép lại
với nhau để trở thành một bức tranh lớn về Hà Nội trong những năm đầu thế
kỉ XX Đó là một thành phố đang trong quá trình đô thị hóa gấp gáp, đổi mới
cả trong tư duy, trong tư tưởng, trong lối sống, sinh hoạt và cả trong cách ăn mặc thường ngày
Trong Chuyện cũ Hà Nội,Tô Hoài viết về những chuyện đời thường,
với những con người bình thường Ông hướng ngòi bút của mình về con người nghèo khổ, lam lũ Đọc truyện của ông, chúng ta bắt gặp hình ảnh con
Trang 36người với những hoàn cảnh, số phận không ai giống ai nhưng họ có một điểm chung là quá nhọc nhằn cơ cực vì miếng cơm manh áo hằng ngày
Trong truyện Những ngày áp tết, Tô Hoài ghi lại rằng cùng một phiên
chợ tết nhưng lại được chia làm ba phiên khác nhau Đó là phiên chợ của người giàu, phiên chợ của những người bình thường và phiên chợ của những người nghèo khổ: “Lại rõ thêm chợ Bưởi có ba phiên chợ tết vào cuối tháng chạp: mười chín, hăm bốn, hăm chín Năm nào hăm chín bắt làm ba mươi, chợ cuối năm càng đông và tất bật Phiên chợ tết cũng gọi là phiên chợ trâu
bò Bởi vì, cả năm, chỉ đến chợ tết, các làng làm ruộng trong vùng mới đem
bò ra chợ bán Rồi lại nghe người ta nói mà biết nhận xét: chợ mười chín là chợ của người có tiền Ai sẵn tiền thì sắm tết sớm Phiên hăm bốn, chợ của mọi người ta thường thường Chợ hai mươi chín là chợ người nghèo Nhà nghèo chạy cái tết bở hơi tai, cho đến hôm tất niên mới mò được ra chợ mua miếng thịt lợn, nén hương, gọi là cho có tết nhất” [11, 50] Những con người nghèo khó làm quần quật cả tháng cả năm nhưng vẫn không thể sắm được một cái tết đơn giản nhất cho gia đình Không chỉ thế, những ngày áp tết lẽ ra trẻ con phải hí hửng vui mừng nhưng trong thời buổi lúc bấy giờ, hình như chúng cũng thật sự biết lo buồn trước cái tết Bởi những ngày cuối năm là những ngày có người đến đòi nợ Chỉ với một món nợ nhỏ, vậy mà năm này qua năm khác, những con người tần tảo, chịu thương chịu khó ấy cũng không thể trả nổi:”Bà tôi vay tiền ông Phán Hàng Mã bao nhiêu tôi không biết Cứ nghe lỏm những câu ông Phán đòi nợ, kể lể và bà tôi khất nợ, tôi mang máng đoán biết là mẹ chú Phúc đã đứng ra “bầu chủ” cho bà tôi vay tiền Rồi bà tôi lân khân không trả được, hoặc chỉ trả lãi, đôi khi Ông Phán đi đòi mãi, năm này sang năm khác Hình như vì lôi thôi thế mà rồi nhà tôi nhạt hẳn, không đi lại với nhà chú Phúc dưới Hàng Mã nữa” [11,51]
Trang 37Khi viết về con người, Tô Hoài đã nhìn hiện thực ở một khoảng cách rất gần Thế nên cuộc sống của con người trong tác phẩm hiện lên như bản thân nó tồn tại ngoài đời Con người có cái cao cả nhưng cũng có cái thô nhám xù xì Tức là trong cuộc sống vất vả khó khăn thì con người có những cái đáng yêu và cũng có những thói xấu vụn vặt, tiêu cực Ngòi bút Tô Hoài không hề né tránh những điều đó nên ông đã tạo dựng nhân vật của mình như
là những con người trong xã hội, những con người đã từng nếm trải, từng va
vấp với đời Chú Cát trong Đêm giao thừa là một nhân vật như thế Chú Cát
là một tay có thói quen đánh trộm chó của làng nước Thói quen nhếch nhác
ấy đã ăn sâu vào máu, đến nỗi mỗi đêm giao thừa nếu không khoắng được cái “của giời kia” là thấy bứt rứt khó chịu Nhưng chú Cát đáng thương hơn đáng giận bởi chính cái thói quen ngấm vào máu ấy lại xuất phát từ cái đói nghèo mà ra Ngày thường, chú Cát làm việc quần quật để kiếm miếng ăn cho
cả gia đình Vì miếng cơm manh áo, chú phải đi kéo xe tay, làm thân “người ngựa, ngựa người” với những mong kiếm được cái tết cho vợ con Thế rồi vào đêm giao thừa định mệnh ấy, chú gặp được một thằng Tây Nó ném cho chú Cát một đồng ván, chú mừng khấp khởi Khổ cho chú, đó lại là một thằng Tây
bị tim la “Có thêm hai hào Chỉ tởm một tí Thế là được gần đồng bạc Chú mừng khấp khởi Cái tết chắc giắt cạp quần rồi” Và rồi “Qua tháng giêng năm ấy, Chú Cát ốm suốt tháng hai Không ai biết chú bị bệnh gì Người cứ trương lên, chỗ nào cũng đau, đít lở loét, tanh hôi không ai dám đến gần Chú thảm thiết kêu rống suốt đêm Đến hôm chú hấp hối, chú nói, xóm giềng mới hay đêm ba mươi chú bị thằng Tây đổ bệnh tim la” [11, 61] Để có một cái tết với hai đồng bạc, chú Cát đã mất mạng vào tháng giêng năm ấy Dưới ngòi bút khách quan, chân thực của Tô Hoài, cuộc sống được hiện lên với rất nhiều màu sắc trong đó có cả cái bi lẫn cái hài, cái cao cả lẫn cái thấp hèn, cái đẹp
và cái xấu Tất cả được hòa trộn vào nhau Điều đó khiến cho độc giả khi
Trang 38đọc tác phẩm vừa thấy cảm phục yêu mến lại vừa thấy xót xa cho những kiếp người lam lũ
Con người trong Chuyện cũ Hà Nội luôn quẩn quanh trong cái đói Sự
khốn cùng của cái đói đã được Tô Hoài phản ánh rất chân thực trong truyện
Chết đói Nạn đói năm 1945 đã làm vơi đi nửa số dân của làng Nghĩa Đô Chỉ
tháng trước, tháng sau mà ở các lớp học truyền bá quốc ngữ đã vãn hẳn Học trò thì đói rạc bỏ đi đâu hết, hay là chết cũng không biết nữa Cái đói đã khiến cho con người trở nên điêu đứng Cái Lợi con nhà bác Khán lấy chồng nhưng gặp cơn đói, vợ chồng không ai cưu mang nổi ai nên nó lại về nhà bác Khán Không có cái ăn, người nhợt nhạt bủng beo và cuối cùng Lợi chết ở đâu không ai biết Anh hai Bủng thợ mũ hoạt động ái hữu hồi bình dân cũng bị đói rồi chết đường Do xảy ra nạn đói ác liệt, thằng Hiền phải lê la kiếm sống ở chợ Trông Hiền ủ rũ, thở khừ khừ như con mèo ốm Người ta kể lại rằng Hiền bị phang gãy chân vì đã cướp nải chuối ở cửa đình Yên Thái Thằng Vinh con dì Tài cũng chẳng hơn Hiền là bao, vì cái đói mà “chân tay nó khẳng khiu, xám ngắt” [11, 76] Cái đói cũng làm cho dì Tư, dù đã luống tuổi nhưng cả dạo đói dì phải ăn khô dầu “Cả dạo đói, dì Tư ăn khô dầu Khô dầu nuốt vào trương bụng lên, đã vài hôm, bụng vẫn ành ạch Phân bón khô dầu xưa nay vẫn bán ở các hàng dầu hỏa, hàng thuốc lào Khô dầu, từng bánh xám xịt rắn như đá Khô dầu để bón vườn ruộng nhưng thấy nói là bánh, bánh khô dầu, bánh thì chắc ăn được, bây giờ nhiều người ăn”[11, 77] Mặc dù khô dầu
là phân để bón ruộng nhưng nó cũng đã giúp dì Tư sống ốm o được tới ngày trông thấy mặt gạo Tuy nhiên, những bánh khô dầu ấy đã để lại trong người
dì Tư đủ thứ bệnh ác không chống lại được Cuối cùng dì bị sốt rét mà chết Cái đói thời kì đó đã trở thành một nỗi ám ảnh nhà văn: “Bây giờ, mỗi khi đi qua chợ Bưởi, cả những ngày phiên đương đông, bỗng chớp chớp mắt tôi lại
Trang 39như thấy trong các cầu chợ xuống tận hai bên bờ sông Tô Lịch, lò dò đi ra những bộ xương người lảo đảo, kheo khư, nhấp nhô” [11, 77]
Không phải chỉ ăn khô dầu, vì cái đói con người còn phải ăn cả thịt chuột nhà, một thứ chuột dơ dáy Họ tự dối mình rằng chỉ ăn chuột đồng, thứ chuột “sạch sẽ” chứ không phải thứ chuột làng dơ dáy Nhưng thực tế chuột đồng cũng là chuột trong làng Vào vụ mùa, lũ chuột đói trong làng đã kéo nhau ra đồng kiếm ăn Đến mùa đẻ chúng lại kéo nhau đi tìm chỗ trú ngụ, khi hết mùa chúng lại kéo nhau về làng Vậy đấy, cái đói, cái khổ đã làm cho con người ta trở nên hèn hạ Từ thực tế này, chúng ta thêm hiểu vì sao miếng ăn lại trở thành đề tài trong nhiều tác phẩm của các nhà văn như Nam Cao, Nguyễn Công Hoan
Hà Nội ồn ào, sang trọng là thế nhưng thông qua nhiều mẩu chuyện
không dài như truyện Làm ma khô, Chết đói… ta vẫn bắt gặp đâu đấy sự
đau khổ của cái kiếp lầm than trong một giai đoạn lịch sử vừa trôi qua
Hình ảnh “người ta chạy quanh, nháo nhác rồi chết đói cả một vùng” mở đầu cho truyện Chết đói đã giúp người đọc dễ dàng đồng cảm và thấu hiểu nỗi đau thương, mất mát mà con người thời đó phải gánh chịu “Người ăn
cỏ, ăn khô dầu, thậm chí cả ăn thịt người” Thật ghê rợn và thương tâm khi
“số người chết đói tới năm mươi phần trăm, hoặc có nơi nhiều hơn” “Chỉ trong hai tháng số người qua đời tại tỉnh Ninh Bình lên đến một vạn” Họ
“bắt trẻ con năm, sáu tuổi rồi đào lỗ chôn xuống, lấp đất, hun lửa trên,
xong đem bán lẫn với thịt chó, bán giả thịt chó” [11, 83] Khi đọc những
dòng chữ này, chúng ta không khỏi đau xót cho số phận của họ Rồi những thợ cửi, thợ giấy làm đầu tắt mặt tối từ ngày này sang ngày khác mà vẫn không sao thoát nổi cái đói, cái nghèo
Trang 40Viết về những con người khốn khó, cơ cực, Tô Hoài còn nhắc đến những người có địa vị thấp hèn nhất trong xã hội thời đó - những “kẻ ăn người ở” Họ có cùng một cái tên là nô bộc, người ở, bõ, bõ già, thằng nhỏ, con sen Vì cuộc sống quá nghèo khổ mà họ phải rời quê hương bản xứ của mình để đi giúp việc cho những nhà giàu có, hoặc giúp việc cho Tây
Dù làm việc cho ta, cho Tàu hay cho Tây thì họ cũng đều phải làm lụng vất
vả Ai có phúc gặp nhà chủ tử tế thì đến ngày lễ tết, chủ trả lương một thể
để họ mang về quê Còn ai vô phúc vớ phải những nhà độc ác thì không có lương, thậm chí còn bị vu oan là ăn cắp, bị báo mật thám “Tuy nhiên, ở cho ta hay cho Khách, cho Tây cũng tùy nhà Nếu gặp nhà ác bị đối xử tồi
tệ: quỵt công, vu cho trộm cắp, đánh đập,, báo mật thám bắt giam.” Nhìn
chung, những con người này mỗi người có một cảnh ngộ khác nhau nhưng
họ đều có chung những lo toan vất vả, nhọc nhằn để kiếm miếng cơm manh
áo Kiếp đời của họ sao giống với con trâu, con bò, làm quần quật cả ngày, đêm mà vẫn không đủ ăn
Trong Con nhà người, tác giả ghi lại cảnh đi làm “vú nuôi” thật chi tiết
Đó là vào thời kì Mặt trận bình dân, một người đi bộ nghỉ nhờ một cửa hàng chữa xe đạp nơi vắng vẻ Nhà anh thợ sửa xe có hai thằng bé dường như sinh đôi Điều lạ là một thằng thì ăn mặc sạch sẽ, cổ đeo vòng bạc còn một thằng thì lôi thôi rách rưới, bẩn thỉu Một thằng trong bát cơm có miếng giò lụa còn thằng kia đói tru tréo lên đòi ăn nhưng người mẹ vẫn mặc kệ Một thằng gọi
mẹ là bu, một đứa gọi mẹ là chị Hỏi ra mới biết, cái thằng gọi mẹ là con người ta trên phố gửi nuôi, cái thằng gọi chị là con đẻ Nhà trên phố mỗi lần
về thăm con, thấy thằng bé con đẻ của vú nuôi cứng cáp hơn thì đòi trừ tiền lương Khổ nỗi, tuy thằng bé nhà anh chị không có gì ăn nhưng vẫn khỏe mạnh và phổng phao Với những chi tiết tưởng chừng nhỏ nhặt, Tô Hoài đã