Sơn La, tháng 6 năm 2021TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ QUA MỘT SỐ BÀI TẬP ĐỌC THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP CHO HỌC SI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ QUA MỘT SỐ BÀI TẬP ĐỌC THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC
VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ NÀ BAN, HUYỆN MAI SƠN,
TỈNH SƠN LA
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục
Trang 2Sơn La, tháng 6 năm 2021
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ QUA MỘT SỐ BÀI TẬP ĐỌC THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC
VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ NÀ BAN, HUYỆN MAI SƠN,
TỈNH SƠN LA
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục
Sinh viên thực hiện: Bàn Thị Thu Trang Nam, nữ: Nữ Dân tộc: Dao
Nguyễn Thị Thu Hiền Nam, nữ: Nữ Dân tộc: Kinh Lường Thị Tươi Nam, nữ: Nữ Dân tộc:
Sinh viên chịu trách nhiệm chính: Bàn Thị Thu Trang
Người hướng dẫn: ThS Kiều Thanh Thảo
Trang 3Sơn La, tháng 6 năm 2021
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của
cô giáo ThS Kiều Thanh Thảo, giảng viên khoa Tiểu học - Mầm non, Trường Đại họcTây Bắc Chúng em xin chân thành cảm ơn cô đã chỉ bảo cho chúng em trong suốt quátrình thực hiện đề tài này
Chúng em xin cảm ơn đến các thầy cô trong khoa Tiểu học - Mầm non, Trungtâm Thông tin - Thư viện, phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế, Trường Đạihọc Tây Bắc, Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Nà Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn
La, đã tạo điều kiện cho chúng em thực hiện và nghiên cứu đề tài
Chân thành cảm ơn tới các bạn sinh viên lớp K59 Đại học Giáo dục Tiểu học B
đã động viên, khuyến khích ủng hộ chúng tôi suốt quá trình thực hiện đề tài
Sơn La, tháng 6 năm 2021
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp của đề tài 11
7 Giả thuyết khoa học 11
8 Cấu trúc của đề tài 12
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13
1.1 Cơ sở lí luận 13
1.1.1 Quan điểm tích hợp và sự thể hiện trong dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học 13
1.1.2 Giáo dục văn hoá ứng xử ở trường tiểu học 20
1.1.3 Giáo dục văn hoá ứng xử theo quan điểm tích hợp trong dạy học Tập đọc 24
1.1.4 Đặc điểm ngôn ngữ và tâm lí của học sinh lớp 2 với việc tích hợp giáo dục văn hoá ứng xử trong dạy học phân môn Tập đọc 28
1.2 Cơ sở thực tiễn 30
1.2.1 Thực trạng giáo dục tích hợp văn hóa ứng xử qua một số bài tập đọc lớp 2 cho học sinh tại Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Nà Ban 30
1.2.2 Kết quả khảo sát thực trạng 31
Tiểu kết chương 1 39
CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 2 40
2.1 Yêu cầu đề xuất các biện pháp dạy học theo hướng tích hợp giáo dục văn hóa40 2.2 Biện pháp tích hợp giáo dục văn hóa trong dạy học Tập đọc lớp 2 41
2.2.1 Khơi gợi hứng thú chiếm lĩnh tri thức trong giờ học Tập đọc cho học sinh 41
2.2.2 Tích hợp giáo dục văn hóa ứng xử theo hai phương thức “khai thác trực tiếp” và “khai thác gián tiếp” 45
2.2.3 Vận dụng linh hoạt đa dạng các phương pháp tích cực 48
2.2.4 Vận dụng sáng tạo quy trình tổ chức giờ học tích hợp trong dạy học Tập đọc ở trường Tiểu học 60
Trang 6CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63
3.1 Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm 63
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 63
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 63
3.2 Đối tượng, thời gian và địa bàn thực nghiệm 63
3.3 Nội dung và tiêu chí thực nghiệm 63
3.3.1 Nội dung thực nghiệm 63
3.3.2 Tiêu chí thực nghiệm 65
3.4 Phương pháp thực nghiệm 66
3.5 Tiến trình thực nghiệm 66
3.5.1 Thiết kế giáo án thực nghiệm 66
3.5.2 Kết quả thực nghiệm 80
Tiểu kết chương 3 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
1 Kết luận 88
2 Khuyến nghị 89 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tổng hợp ý kiến của giáo viên về khả năng giáo dục tích hợp văn hoá ứng xử cho học sinh qua các bài tập đọc lớp 2 31 Bảng 1.2 Tổng hợp ý kiến của giáo viên về vấn đề vận dụng quan điểm tích hợp trong quá trình dạy học Tập đọc lớp 2 32 Bảng 1.3 Lĩnh vực được giáo viên tích hợp trong dạy học Tập đọc lớp 2 33 Bảng 1.4 Tổng hợp ý kiến của giáo viên về các phương pháp thường sử dụng để tích hợp giáo dục văn hóa ứng xử trong dạy học Tập đọc 34 Bảng 1.5 Tổng hợp về mức độ hứng thú học bài tập đọc theo hướng tích hợp giáo dục văn hóa ứng xử 35 Bảng 1.6 Tổng hợp về đọc hiểu bài tập đọc “Có công mài sắt, có ngày nên kim” 35 Bảng 1.7 Đánh giá về xếp loại mức độ hành vi ứng xử của học sinh đối với bản thân 36 Bảng 1.8 Tổng hợp về đọc hiểu bài tập đọc “Bạn của Nai Nhỏ” 37 Bảng 1.9 Đánh giá và xếp loại mức độ hành vi ứng xử của học sinh với bạn bè, người thân và xã hội 37 Bảng 1.10 Tổng hợp về đọc hiểu bài tập đọc “Cây xoài của ông em” 38 Bảng 1.11 Đánh giá và xếp loại mức độ hành vi ứng xử của học sinh đối với gia đình 38 Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả làm bài tập thực nghiệm của học sinh qua bài tập đọc
“Có công mài sắt, có ngày nên kim” 81 Bảng 3.2 Đánh giá về xếp loại mức độ hành vi ứng xử của học sinh đối với bản thân
82
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả làm bài tập về thực nghiệm về nhận thức và ý thức của học sinh về tình bạn trong học bài tập đọc “Bạn của Nai Nhỏ” 83 Bảng 3.4 Đánh giá và xếp loại mức độ hành vi ứng xử của học sinh với bạn bè, người thân và xã hội 84 Bảng 3.5 Tổng hợp kết quả làm bài tập thực nghiệm của học sinh qua bài tập đọc
“Cây xoài của ông em” 85
Bảng 3.6 Đánh giá và xếp loại mức độ hành vi ứng xử của học sinh đối với gia đình 86
Trang 9TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Khoa: Tiểu học - Mầm non
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Giáo dục văn hóa ứng xử qua một số bài tập đọc theo quan điểm tích hợp cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Nà Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Sinh viên thực hiện:
1) Bàn Thị Thu Trang
2) Nguyễn Thị Thu Hiền
3) Lường Thị Tươi
4) Bùi Canh Thìn
- Lớp K59 ĐHGD Tiểu học B Khoa: Tiểu học - Mầm non
Năm thứ : 3/Số đào tạo: 4
- Người hướng dẫn: ThS Kiều Thanh Thảo
2 Mục tiêu đề tài:
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn để đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả giáodục văn hóa ứng xử qua dạy học một số bài tập đọc theo quan điểm tích hợp cho họ sinhlớp 2 Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Nà Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
3 Tính mới và sáng tạo:
Đề tài chúng tôi đã đề ra một số biện pháp tích hợp giáo dục văn hóa ứng xửtrong dạy học phân môn Tập đọc lớp 2 Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Nà Ban,huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
4 Kết quả nghiên cứu:
Hoàn thành mục tiêu đề tài
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
Đề tài đóng góp về mặt giáo dục và đào tạo
Đề tài đã nhận được một số phản hồi tích cực từ các giáo viên trong Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Nà Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Ngày tháng năm 2021
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
(ký và ghi rõ họ, tên)
Trang 10Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp của sinh viên thực hiện
đề tài (Phần này do người hướng dẫn ghi):
(ký và ghi rõ họ, tên)
Trang 11TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Khoa: Tiểu học - Mầm non
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH
THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Bàn Thị Thu Trang
Sinh ngày: 04 tháng 11 năm 1999
Nơi sinh: xã Phiêng Luông, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Lớp: K59 ĐHGD Tiểu học B Khóa: 2018 - 2022
Khoa: Tiểu học - Mầm non
Đại chỉ liên hệ: xã Phiêng Luông, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Điện thoại: 0973792746 Email: Banthithutrang99@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (Kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm đang học):
Sơn La, ngày tháng năm 2021
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, tất cả các quốc gia đều quan tâm đếnviệc đổi mới giáo dục (GD) và cải cách GD sao cho phù hợp với yêu cầu của xã hội.Xây dựng môi trường văn hóa trong trường học đóng vai trò quan trọng trong việc GDnhân cách, đạo đức, lối sống và ý thức công dân cho học sinh (HS) Nhận thức rõ vị trí
và tầm quan trọng của việc tăng cường GD văn hóa học đường, trong những năm qua,Đảng và Nhà nước ta đã tập trung chỉ đạo đổi mới các hoạt động dạy học kết hợp lồngghép với GD văn hóa ứng xử (VHƯX) nhằm xây dựng môi trường sư phạm, môitrường GD an toàn, thân thiện, lành mạnh, góp phần nâng cao chất lượng GD trongtrường học Theo đó, Bộ GD và ÐT đã ban hành các văn bản chỉ đạo triển khai xâydựng văn hóa học đường, VHƯX nhằm GD thế hệ trẻ có ý thức trách nhiệm với bảnthân, gia đình và xã hội Những quan điểm, định hướng trong các văn bản (VB) là tiền
đề, cơ sở pháp lý cho việc đổi mới GD phổ thông theo hướng tích hợp nói chung và
GD tích hợp VHƯX nói riêng nhằm phát triển phẩm chất, năng lực HS
1.2 Tích hợp là một trong những quan điểm GD đã trở thành một trào lưu sưphạm chiếm nhiều ưu thế trong việc định hướng về nội dung và phương pháp dạy học(PPDH) ở nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trình môn học ở nhiềunước trên thế giới Ở Việt Nam, Chương trình GD phổ thông - Chương trình tổng thể
do Bộ GD&ĐT ban hành [2] đã xác định lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉđạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương phápgiảng dạy Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực vềquá trình dạy học (DH) DH theo định hướng tích hợp là hướng DH đang được ứngdụng rộng rãi ở Việt Nam Các bài dạy theo hướng tích hợp sẽ giúp cho HS “học điđôi với hành”, gắn liền với thực tiễn cuộc sống, với sự phát triển của cộng đồng.Những nội dung dạy HS nhỏ tuổi theo các chủ đề “Gia đình”, “Nhà trường”, “Cuộcsống quanh ta”,… làm cho HS có nhu cầu học tập để giải đáp được những thắc mắc,phục vụ cho cuộc sống của mình và cộng đồng Như vậy, vấn đề cấp thiết đang đặt ra
là phải tiếp cận, nghiên cứu và vận dụng DH tích hợp vào chương trình Tiếng Việt ởtrường Tiểu học sao cho hiệu quả nhằm đáp ứng theo yêu cầu chương trình GD phổthông mới hiện nay
Trang 131.3 Ở Trường tiểu học, Tiếng Việt là môn học có vị trí đặc biệt Mục tiêu mônTiếng Việt ở tiểu học có tính chất phức hợp thể hiện ở chỗ môn Tiếng Việt vừa hìnhthành cho HS các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói), vừa cung cấp trithức (gồm tri thức về Tiếng Việt và tri thức về khoa học tự nhiên và văn hóa, xã hội).Hướng vào hoạt động giao tiếp là nguyên tắc đặc trưng của việc DH Tiếng Việt, chonên dạy Tiếng Việt ở tiểu học phải bảo đảm nguyên tắc tích hợp.
Phân môn Tập đọc lớp 2 có nội dung phong phú, có nhiều bài thể hiện được giátrị cốt lõi trong VHƯX như: nhân ái, tôn trọng, trách nhiệm, hợp tác, trung thực,… cóthể hình thành và phát triển ở HS ý thức, hành vi ứng xử văn hoá phù hợp với độ tuổitrên các phương diện: ứng xử với bản thân (tự trọng, trách nhiệm, hợp tác, trung thực,
…), ứng xử với gia đình (lễ phép, kính trọng, yêu thương ông bà, cha mẹ, yêu quý anh,chị, em,…), ứng xử với cộng đồng (lễ phép, kính trọng, yêu thương thầy, cô giáo, ông
bà, cha mẹ; yêu quý bạn bè, thật thà, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu cái đẹp) Đây là cơ sởthuận lợi cho việc lồng ghép giữa việc cung cấp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt gắn vớiviệc phát triển giao tiếp ứng xử văn hóa và nhân cách của HS
DH theo quan điểm tích hợp ở trường tiểu học, bên cạnh những thành công vẫncòn những hạn chế cần quan tâm Khảo sát DH Tập đọc theo quan điểm tích hợp cho
HS lớp 2 ở trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Nà Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn Lachúng tôi nhận thấy, DH tích hợp đã được triển khai thực hiện và đã đạt được nhữngkết quả nhất định như phần lớn đội ngũ GV đã có nhận thức đúng đắn về DH theoquan điểm tích hợp, việc học tập của HS được GV quan tâm gắn với các tình huốngcủa cuộc sống mà HS có thể đối mặt, và vì thế chất lượng DH các giờ tập đọc từngbước được nâng cao Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những bất cập dẫn đếnkết quả DH tích hợp nhưng chưa thực sự đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới theo hướng tíchhợp Việc đan cài, lồng ghép, tận dụng cơ hội, tăng cường giao tiếp để GDVHƯXcho HS chưa được GV quan tâm đúng mức, chưa thực sự đạt hiệu quả mong muốn,nhất là đối với HS dân tộc thiểu số như ở miền núi Sơn La Chính vì vậy, việc nghiêncứu tìm biện pháp nâng cao hiệu quả GDVHƯX trong tổ chức giờ học tập đọc theoquan điểm tích hợp là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Giáo dục văn hóa ứng xử
qua một số bài tập đọc theo quan điểm tích hợp cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu học
và Trung học cơ sở Nà Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La” làm đối tượng nghiên cứu,
Trang 14với mong muốn đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả DH môn TiếngViệt nói chung và phân môn Tập đọc lớp 2 Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Nà
Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La nói riêng.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Bàn về phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp có rất nhiều nhà khoahọc, nhà GD đề cập đến ở những mức độ khác nhau như: Hoàng Hòa Bình, Lê PhươngNga, Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Hoàn và nhiều tác giả khác Để thực hiện đề tài này,chúng tôi đặc biệt quan tâm tới các công trình nghiên cứu sau:
Công trình nghiên cứu Dạy văn cho học sinh tiểu học của Hoàng Hòa Bình [1],
tác giả đã trình bày sâu sắc những cơ sở lí luận của việc xác định nội dung dạy văn cho
HS Tiểu học Trong đó tác giả nhấn mạnh nội dung dạy văn tích hợp với dạy tiếngViệt trong bộ sách Tiếng Việt ở tiểu học; đưa ra một quan niệm mới về vấn đề tích hợpdạy văn với dạy tiếng trong nội dung chương trình tiếng Việt ở tiểu học Về phươngpháp dạy học (PPDH), tác giả đưa ra quan niệm DH tiếng Việt theo hướng tích hợpcần dựa trên một cách nhìn hiện đại về trẻ em và sự sáng tạo, về cơ chế tâm lí của việchình thành năng lực… Từ đó, tác giả trình bày nội dung cụ thể của các PPDH tiếngViệt theo hướng đổi mới Về chương trình, tác giả cho rằng, để có thể dạy tiếng Việttích hợp với dạy văn, chương trình tiếng Việt cần có những tác phẩm văn học hoặcđoạn trích tác phẩm hay của Việt Nam và thế giới Đó là những VB có giá trị nội dung,nghệ thuật cao, hấp dẫn và phù hợp với tâm lí lứa tuổi HS Tiểu học; những VB thấmđượm chủ nghĩa nhân văn, tinh thần nhân đạo của dân tộc, “có tác dụng quan trọngtrong hình thành bản sắc văn hóa của người Việt” Từ đó tác giả chỉ ra rằng, “phải xâydựng chương trình văn tích hợp với tiếng”, phải có những VB “đúng là văn”, có tácdụng GD tâm hồn, nâng cao nhận thức, tình cảm và năng lực cảm thụ cái đẹp cho HS.Quan điểm trên cho thấy, trong DH môn Tiếng Việt ở Tiểu học, GV cần chú chú ý dạytích hợp “văn” với “tiếng Việt” qua ba phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn
Tác giả Lê Phương Nga trong cuốn Dạy học Tập đọc ở tiểu học [11] đã phân
tích sâu sắc nhiệm vụ, cơ sở khoa học và nội dung của DH Tập đọc ở tiểu học Trong
đó tác giả nhấn mạnh đến vấn đề đổi mới PPDH chuyển từ DH nặng về cung cấp kiếnthức sang DH gắn với thực hành, vận dụng, gắn với đời sống và trọng tâm vào “đổimới cách dạy, cách học” dựa trên các hoạt động tích cực, sáng tạo của HS với sự tổchức hướng dẫn, hợp tác của GV giúp HS tự giải quyết vấn đề để chiếm lĩnh kiến thức
Trang 15và vận dụng chúng vào trong cuộc sống Tác giả chỉ rõ, đổi mới PPDH đòi hỏi cần
“lựa chọn các nội dung dạy học cơ bản, thiết thực, tinh giản, tích hợp được nhiều mặtgiáo dục, gần gũi với đời sống của trẻ em, tạo hứng thú học tập cho HS” [11, tr.128]
Cuốn Giáo trình Phương pháp Tiếng Việt ở Tiểu học 1 [13] nhóm tác giả đã
nhấn mạnh: quan điểm tích hợp trong dạy học Tiếng Việt được thể hiện ở hai yêu cầu
là tích hợp ngang (đồng quy) và tích hợp dọc (đồng tâm) và chỉ rõ: dựa vào mục tiêucủa môn Tiếng Việt ở tiểu học, sách giáo khoa (SGK) đã tích hợp kiến thức Tiếng Việtvới các mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và xã hội thông qua các chủđiểm học tập theo nguyên tắc đồng quy Bằng việc tổ chức hệ thống bài đọc, bài họctheo chủ điểm, SGK dẫn dắt HS đi dần vào các lĩnh vực của đời sống, qua đó tăngcường vốn từ, vốn diễn đạt của các em về nhà trường, gia đình và xã hội, đồng thời mởrộng cánh cửa cho các em bước vào thế giới xung quanh và soi vào thế giới tâm hồncủa chính mình Như vậy, GD tích hợp trong DH Tiếng Việt sẽ góp phần GD tư tưởng,bồi dưỡng cho HS thế giới quan duy vật biện chứng phát triển ở các em tư duy logic
và lòng yêu mến sự giàu đẹp của tiếng Việt
Cuốn Dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình giáo dục phổ thông mới
[12], tác giả tiếp tục nhấn mạnh: Chương trình môn Tiếng Việt tiểu học 2018 được xâydựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực HS Tác giả khẳng định “Tíchhợp là một nguyên tắc sống còn để dạy học phát triển năng lực người học” [12, tr.30].Tác giả cho rằng, quan điểm tích hợp trong DH Tiếng Việt được thể hiện trên haiphương diện: tích hợp ngang và tích hợp dọc Trong đó, tích hợp ngang (đồng quy),tích hợp dọc (đồng tâm) và được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quátrình học tập và quá trình DH Như vậy có thể thấy, tích hợp là tư tưởng, là nguyên tắc,
là quan điểm hiện đại trong GD DH theo quan điểm tích hợp, chúng ta cần hiểu đúng
và làm đúng quá trình tích hợp mới có thể đem lại những hiệu quả cụ thể đối với từngphân môn trong một thể thống nhất của các môn học nhất là đối với môn Tiếng Việt ởtiểu học hiện nay
Đồng quan điểm với nhiều tác giả khác, trong SGV Ngữ văn lớp 6 [15] nhóm
tác giả đã nêu rõ: không nên quan niệm “tích hợp là phương pháp dùng để rút bớt mônhọc” và tác giả cho rằng, lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo tổ chức nộidung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy và với cáchướng tích hợp cơ bản như: tích hợp nhiều kĩ năng trong một môn học, tích hợp các
Trang 16chuẩn mực đạo đức qua các môn học, tích hợp kiến thức và thực tiễn, tích hợp kinhnghiệm quá khứ và những kinh nghiệm mới tiếp thu được của HS Như vậy, thựchiện theo hướng tích hợp, chúng ta có vận dụng kinh nghiệm của nhiều nước,nhưng đó là sự vận dụng sáng tạo, không máy móc Nó gắn liền với văn hóa ứng
xử, mang đậm tính dân tộc, gắn với vốn kinh nghiệm, vốn hiểu biết của cá nhân Nócòn mang tính thực hành cao, gắn liền với các dạng hoạt động lời nói, các tìnhhuống giao tiếp Đây là cơ sở quan trọng để GV có thể kết hợp được thật tốt các trithức, kĩ năng với việc hình thành nhân cách HS trong quá trình DH nói chung và
DH môn Tiếng Việt nói riêng
Trong tài liệu Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình đổi mới
[12] tác giả đã chỉ rõ việc DH theo hướng tích hợp, hướng tích cực, hướng giao tiếp lànhững nhiệm vụ cấp thiết trong DH Tiếng Việt hiện nay Tác giả đã nêu lên nhữngđịnh hướng cơ bản trong việc biên soạn chương trình môn Tiếng Việt: dạy tiếng Việtthông qua hoạt động giao tiếp, tận dụng những kinh nghiệm sử dụng tiếng Việt của
HS, vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy tiếng Việt, kết hợp dạy Tiếng Việt với dạyvăn hoá và dạy văn, thực hiện hoàn chỉnh từng bước nội dung DH Trong đó, việc vậndụng quan điểm tích hợp trong dạy tiếng Việt được thể hiện ở các dạng: tích hợp trongnội bộ môn Tiếng Việt, kết hợp dạy các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói trong từng bài học,kết hợp dạy thực hành các kĩ năng trên với dạy kiến thức về tiếng Việt; tích hợp nộidung các môn học khác vào ngữ liệu Tiếng Việt và tích hợp dạy tiếng Việt khi dạy cácmôn học khác Như vậy, quan điểm tích hợp là một trong các quan điểm biên soạnchương trình SGK Tiếng Việt mới nhằm phát huy tính tích cực của HS Đây là cơ sởquan trọng người GV cần quan tâm thực hiện trong quá trình DH môn Tiếng Việt theoquan điểm tích hợp
Đồng tình với các quan điểm trên, còn có rất nhiều ý kiến của các tác giả, nhànghiên cứu khác đã dành nhiều tâm huyết trong việc nghiên cứu GD tích hợp của cácnước trên thế giới và ứng dụng vào DH ở Việt Nam
Tác giả Đỗ Ngọc Thống trong bài viết Dạy học Ngữ văn trong nhà trường Việt
Nam - hiện trạng, hướng phát triển và những vấn đề liên quan [21] đã đề cập đến vấn
đề đổi mới PPDH theo hướng tích hợp và phát huy tính tích cực, chủ động của HS.Tác giả nhấn mạnh đến mục tiêu môn học trong nhà trường sau năm 2015, với mônTiếng Việt ở Tiểu học, tính tích hợp thể hiện ở việc hình thành và phát triển các năng
Trang 17lực cốt lõi và năng lực đặc thù của môn học, đặc biệt là năng lực giao tiếp (đọc, viết,nói và nghe) và khả năng ứng dụng phù hợp, linh hoạt các kiến thức, kĩ năng ấy vàocác tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống Điều này cũng có nghĩa là DHmôn Tiếng Việt được thiết kế dựa vào mục tiêu bồi dưỡng và nâng vốn văn hóa cho
HS thông qua những hiểu biết về ngôn ngữ và văn học
Tác giả Nguyễn Thị Hòa với Giáo trình giáo dục tích hợp ở bậc học mầm non
[7] đã đề cập đến sự cần thiết phải tiếp cận với GD tích hợp Tác giả cho rằng: “Giáodục tích hợp sẽ góp phần đáp ứng những yêu cầu của xã hội ngày nay, nó dựa trên tưtưởng về năng lực, hình thành cho người học khả năng sử dụng các tri thức lĩnh hộiđược trong những tình huống xảy ra trong cuộc sống” [7, tr.8]
Với chuyên đề Xu hướng quốc tế và đổi mới giáo dục phổ thông Việt Nam [25],
nhóm tác giả nhấn mạnh nội dung GD được thiết kế theo xu thế vừa tích hợp, vừaphân hóa theo định hướng hình thành và phát triển năng lực; phương pháp GD chútrọng phát huy tính tự lực, tự chủ và vận dụng kiến thức của HS vào giải quyết các vấn
đề trong thực tiễn là nhiệm vụ quan trọng trong nhà trường hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung trong bài viết Dạy học tích hợp trong chương
trình giáo dục phổ thông [3] cho rằng: DH tích hợp “đảm bảo để mỗi HS biết cách vận
dụng kiến thức học được trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bấtngờ, qua đó trở thành một người công dân có trách nhiệm, một người lao động có nănglực DH tích hợp đòi hỏi việc học tập trong nhà trường phải được gắn với các tìnhhuống của cuộc sống mà sau này HS có thể đối mặt vì thế nó trở nên có ý nghĩa đốivới học sinh.” [3, tr.14] Điều này cũng có nghĩa là DH tiểu học được thiết kế dựa vàocác mục tiêu mong đợi về năng lực mà HS cần đạt được chứ không phải dựa vào kiếnthức môn học DH không phải chỉ để giúp HS tiếp nhận kiến thức mà quan trọng làbiến kiến thức đó thành kĩ năng “kĩ năng chính là kiến thức trong hành động” Từ biết,đến hiểu, đến vận dụng cần có những bứt phá chuyển thói quen thành kĩ năng và ởđây là nói tới kĩ năng giao tiếp, ứng xử
Nhóm tác giả Đỗ Tiến Đạt - Trần Thúy Ngà trong bài viết Một số vấn đề về dạy
họ tích hợp trong môn toán ở trường tiểu học [4] nhấn mạnh: dạy học tích hợp được
xem như một quan điểm sư phạm có ý nghĩa hình thành các biểu tượng về thế giớixung quanh cũng như hiểu được quan hệ giữa các hiện tượng trong thiên nhiên, xã hộimột cách tổng thể cho HS Đây cũng là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để hình
Trang 18thành và phát triển năng lực của HS nhất là đối với HS tiểu học, đặc biệt năng lực giảiquyết vấn đề trong thực tiễn
Nhóm tác giả Phạm Thị Thảo, Lê Văn Tám trong bài viết Tổ chức giờ học tích
hợp trong dạy học ở các trường tiểu học [19] nhấn mạnh đến các bước trong quy trình
tổ chức giờ học tích hợp trong DH ở các trường tiểu học, các cách tích hợp, các mức
độ tích hợp (dọc, ngang; theo nội dung/ chủ đề; liên môn, xuyên môn, đa môn…); xâydựng chủ đề/ hoặc nội dung tích hợp; khai thác những nội dung, yếu tố có mối liên hệgắn kết gần gũi với nội dung bài học theo hướng tích hợp (về nội dung, về hoạtđộng…) và quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực vềquá trình học tập và quá trình DH
Tác giả Kiều Thanh Thảo trong bài viết Tích hợp giáo dục văn hoá ứng xử qua
dạy học bài tập đọc “Chuỗi ngọc lam” cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Chiềng Pha, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La [18] nhấn mạnh: Quan điểm tích hợp GD trong
Chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học là định hướng DH hết sức quan trọng Theoquan điểm này, HS có cơ hội vận dụng kiến thức, kỹ năng của nhiều lĩnh vực khácnhau để giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống, phát triển được các phẩm chất
và năng lực mà chương trình môn Tiếng Việt hướng tới Tác giả đề xuất các biện pháptích hợp trong DH bài tập đọc như biện pháp khơi gợi hứng thú cho HS; lựa chọn nộidung và thiết kế bài tập tích hợp; vận dụng một số PPDH tích cực trong quá trình DHcác bài tập đọc
Trong một bài viết khác Định hướng tích hợp giáo dục văn hóa trong dạy học
tập đọc cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học - Trung học cơ sở Chiềng Mung, huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La [17] nhóm tác giả Kiều Thanh Thảo, Lò Việt Hoàng nhấn mạnh:
Tập đọc là một trong những phân môn có nhiều thuận lợi nhằm GD phẩm chất và nănglực đối với HS tiểu học, cung cấp cho các em phương tiện để chiếm lĩnh tri thức và tìmhiểu thế giới xung quanh Tích hợp GD văn hóa trong DH các bài tập đọc cho HS ởtrường tiểu học hiện nay là hướng đi tích cực, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hìnhthành nhân cách HS Tác giả nhấn mạnh: “GV cần xác định nội dung, PPDH tích hợpđảm bảo phù hợp với đặc điểm tiếp nhận của HS, giúp các em khắc sâu giá trị văn hóatrong mỗi bài đọc Đồng thời, mở rộng liên hệ thực tế để kiến thức được học từ bài đọc
đi vào thực tiễn cuộc sống của HS Muốn vậy, khi soạn giáo án, GV cần có ý thứcnghiên cứu kĩ nội dung bài tập đọc để chọn phương thức tích hợp phù hợp, từ đó giáodục lòng yêu quý và ý thức bảo vệ những giá trị văn hóa đích thực cho HS” [17 tr.384]
Trang 19Tác giả Bùi Tiến Huân với bài dịch Các mô hình về chương trình tích hợp
(Franzie L Loepp) [8] đã trình bày cụ thể khái niệm chương trình tích hợp và cácnghiên cứu được lựa chọn có liên quan đến chương trình tích hợp, đồng thời tác giảgiới thiệu một số mô hình chương trình tích hợp, và bàn về các tác động của chươngtrình tích hợp đến GD và cho rằng đây là thách thức đối với những người cố gắng đưa
lý thuyết vào thực hành
Tác giả Dương Thu Hằng trong bài viết Tích hợp giáo dục giá trị văn hóa
truyền thống trong dạy học tác phẩm văn học Việt Nam thời trung đại ở trường trung học phổ thông [6] nhấn mạnh tích hợp GD lòng nhân ái, khoan dung trong giờ DH góp
phần xác lập và khẳng định các bậc thang giá trị nhân văn truyền thống của dân tộc.Trên cơ sở đó, “HS có thể nâng cao nhận thức, rèn luyện lối sống lành mạnh, giàu tìnhcảm, biết sẻ chia và sẵn sàng tham gia vào các hoạt động tình nguyện vì một xã hộivăn minh, nhân ái” [6, tr.159] Vì vậy, việc GD giá trị văn hóa truyền thống trong quátrình DH qua các môn học là việc làm cần thiết, nhất là đối với HS tiểu học Đây chính
là cội nguồn sức mạnh của dân tộc ta trong bối cảnh “xung đột văn minh” hiện nay màngười GV cần phải quan tâm
Tiếp nối những công trình nghiên cứu về GD tích hợp giá trị văn hóa, nhóm tác
giả Nguyễn Phương Liên, Trần Viết Tùng trong bài viết Giáo dục giá trị di sản văn
hóa trong dạy học địa lý ở trường trung học phổ thông [10] nhấn mạnh “Vấn đề bảo
tồn các di sản văn hoá của dân tộc luôn đi cùng với giáo dục là một phần không thểthiếu trong chương trình giáo dục phổ thông” [10, tr.163], tác giả cho rằng: GD vănhóa là một cách nhắc nhở về quá khứ để những giá trị của văn hóa để từ đó biết giữgìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Trong DH, GD văn hóa có ý nghĩaquan trọng và là một trong những phương tiện DH đa dạng sống động có khả năng tácđộng mạnh tới tình cảm, đạo đức, tới việc hình thành nhân cách của HS
Điểm qua các công trình nghiên cứu của các tác giả tâm huyết về lĩnh vực GDtích hợp nói chung và GD tích hợp trong DH môn Tiếng Việt ở Tiểu học nói riêng,chúng tôi nhận thấy số lượng các công trình nghiên cứu là rất lớn, nhiều ý kiến đưa rarất sâu sắc Những kết quả nghiên cứu nêu trên có những đóng góp tích cực cho quátrình hoàn thiện thêm hệ thống lí luận về DH theo hướng tích hợp trong đó có những ýkiến có đóng góp cụ thể, bổ ích cho DH Tiếng Việt ở các trường tiểu học Đây lànhững định hướng và là cơ sở lí luận vô cùng quan trọng để chúng tôi đi sâu vào việc
Trang 20nghiên cứu và đề xuất những biện pháp cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả DH Tậpđọc lớp 2 theo quan điểm tích hợp.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các biện pháp nâng cao hiệu quả GDVHƯXqua DH một số bài tập đọc theo quan điểm tích hợp cho HS lớp 2, Trường Tiểu học vàTrung học Cơ sở Nà Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu những vấn
đề sau:
* Nghiên cứu cơ sở lý luận
- Nghiên cứu một số cơ sở lí luận liên quan đến việc GDVHƯX qua một số bàitập đọc theo quan điểm tích hợp cho HS lớp 2
- Nghiên cứu ý nghĩa khoa học của việc GDVHƯX qua DH một số bài tập đọctheo quan điểm tích hợp
- Nghiên cứu nội dung GDVHƯX trong DH phân môn Tập đọc lớp 2 theo quanđiểm tích hợp trên các phương diện: Quan hệ ứng xử của HS đối với bản thân; Quan
hệ ứng xử của HS đối với gia đình; Quan hệ ứng xử của HS đối với cộng đồng, xã hội
* Nghiên cứu thực trạng
- Tìm hiểu thực trạng DH bài tập đọc lớp 2 theo chương trình hiện hành; Tậptrung nghiên cứu dạy và học Tập đọc lớp 2 năm học 2020 - 2021 tại Trường Tiểu học
và Trung học cơ sở Nà Ban như:
+ Việc thực hiện yêu cầu đổi mới PPDH theo quan điểm tích hợp hiện nay.+ Nội dung GD tích hợp VHƯX qua một số bài tập đọc lớp 2 (SGK Tiếng Việt
2, tập 1, tập 2), tập trung vào 3 phương diện:
1) GD kĩ năng tự nhận thức và tự điều chỉnh hành vi ứng xử với bản thân (giaotiếp; nhận thức bản thân; suy nghĩ sáng tạo; ra quyết định; làm chủ bản thân…)
2) GD nhận thức, hình thành thói quen và tự điều chỉnh hành vi ứng xử với giađình (biết kính trọng, vâng lời, lễ phép với ông bà, cha mẹ, anh chị )
3) GD nhận thức và hình thành thói quen và tự điều chỉnh hành vi ứng xử vớicộng đồng xã hội (thầy cô, bạn bè, người lao động thương yêu, kính trọng, lễ phép,biết ơn thầy cô; đoàn kết, hòa nhã với bạn bè…)
Trang 21- Đối tượng khảo sát: HS: 38 HS/2 lớp; GV tham gia khảo sát: 6 GV (trong đó
có 2 GV trực tiếp dạy lớp 2); dự giờ và khảo sát 4 giáo án tập đọc lớp 2 theo quanđiểm tích hợp cho HS lớp 2
* Nghiên cứu thực nghiệm
- Đề xuất biện pháp GDVHƯX và dạy thực nghiệm qua hai bài tập đọc theoquan điểm tích hợp cho HS lớp 2 Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Nà Ban, huyệnMai Sơn, tỉnh Sơn La:
+ Lớp thực nghiệm: Mẫu thực nghiệm: 19 HS
+ Lớp đối chứng: Mẫu đối chứng: 19 HS
- Thiết kế 02 giáo án và trao đổi với GV về khả năng áp dụng DH
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất
* Địa bàn và thời gian nghiên cứu
- Địa bàn khảo sát: Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Nà Ban, huyện MaiSơn, tỉnh Sơn La
- Thời gian khảo sát và thực nghiệm: Năm học 2020 - 2021
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn để đề xuất biện pháp nângcao hiệu quả GDVHƯX qua DH một số bài tập đọc theo quan điểm tích hợp cho HSlớp 2 Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Nà Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ việc xác định mục đích nói trên, đề tài tập trung thực hiện cácnhiệm vụ cơ bản sau:
1) Tìm hiểu cơ sở lí luận của vấn đề GDVHƯX qua một số bài tập đọc theoquan điểm tích hợp cho HS lớp 2
2) Khảo sát thực trạng GDVHƯX qua một số bài tập đọc theo quan điểm tíchhợp cho HS lớp 2 Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Nà Ban, huyện Mai Sơn, tỉnhSơn La
3) Đề xuất biện pháp GDVHƯX qua một số bài tập đọc theo quan điểm tíchhợp cho HS lớp 2
4) Thiết kế giáo án và tổ chức khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của cácbiện pháp đề xuất
Trang 225 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứunhư sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Hệ thống hóa tài liệu lí luận liên quan để định hướng cho việc xây dựng cơ sở líluận của vấn đề GDVHƯX qua một số bài tập đọc theo quan điểm tích hợp cho HS lớp 2
5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp khảo sát: khảo sát thực trạng GDVHƯX qua một số bài tập đọctheo quan điểm tích hợp cho HS lớp 2 Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Nà Ban,huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Phương pháp thực nghiệm sư phạm: soạn giáo án có ứng dụng các biện pháp đềxuất; thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi và tác động sư phạm của các biện phápGDVHƯX qua một số bài tập đọc theo quan điểm tích hợp cho HS lớp 2 đã đề xuất
5.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu và đánh giá thống kê
Tổng hợp kết quả điều tra, chứng minh độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu
6 Đóng góp của đề tài
6.1 Đóng góp về mặt lí luận
Đề tài góp phần hệ thống cơ sở lí luận của vấn đề GDVHƯX qua một số bài tậpđọc theo quan điểm tích hợp cho HS lớp 2; làm rõ thêm ưu điểm của hoạt động DHTập đọc theo quan điểm tích hợp ở Tiểu học
6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Qua khảo sát thực trạng, phát hiện một số ưu điểm và hạn chế trong quá trình
DH phân môn Tập đọc theo quan điểm tích hợp, làm cơ sở để đề xuất các biện phápkhắc phục
Đề tài làm tài liệu tham khảo cho GV Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở NàBan, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La và sinh viên ngành GD Tiểu học
7 Giả thuyết khoa học
Chúng tôi đặt giả thuyết, nếu kết quả nghiên cứu được công nhận, đề tài sẽ gópthêm một số biện pháp phát huy ưu điểm và khắc phục hạn chế trong quá trình DHphân môn Tập đọc theo quan điểm tích hợp, góp phần nâng cao chất lượng DH mônTiếng Việt lớp 2 Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Nà Ban, huyện Mai Sơn, tỉnhSơn La
Trang 238 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục đề tàigồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2 Biện pháp giáo dục văn hoá ứng xử qua dạy học một số bài tập đọctheo quan điểm tích hợp cho học sinh lớp 2
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 24Tích hợp, theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa “Tích hợp
là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành mộtkhối thống nhất” [14, tr.510]
Theo tác giả Nguyễn Trí thì “Tích hợp là một quan điểm dạy học hiện đại nhằmgiải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức ngày càng lớn trong khi đó thời gianhọc tập có hạn” [24, tr.26]
Theo nhóm tác giả biên soạn Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 1:
“Tích hợp nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí một tiết học hay một bàitập nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quảgiáo dục và tiết kiệm thời gian học tập cho người học” [13, tr.48]
Dựa trên nghiên cứu một số tài liệu liên quan, tác giả Lê Thị Thanh Hà chorằng “Tích hợp là sự phối kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống kiến thức của nhiềulĩnh vực khoa học khác nhau vào trong một đơn vị kiến thức cụ thể (môn học/chươnghọc/bài học) để làm thành một nội dung dạy học thống nhất sao cho HS sẽ có được hệthống tri thức, kĩ năng tối đa và được hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực mộtcách hài hoà, toàn diện” [5, tr.235]
Bao quát các khái niệm trên chúng tôi thấy rằng, các ý kiến trên đều thống nhất
với khái niệm tích hợp được nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông - Chương
trình tổng thể của Bộ GD&ĐT: tích hợp là kết hợp các phần, các bộ phận với nhau
trong một tổng thể hay “xác lập cái chung, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phậnriêng lẻ” nhằm nâng cao hiệu quả GD Từ đó chúng tôi hiểu rằng, tích hợp là một hoạt
Trang 25động mà ở đó cần phải kết hợp, liên hệ các yếu tố có liên quan với nhau để giải quyếtmột vấn đề, qua đó đạt được nhiều mục tiêu khác nhau Do đó DH tích hợp, các quátrình học tập không tách rời cuộc sống hằng ngày mà được tiến hành trong mối liên hệvới các tình huống cụ thể.
1.1.1.2 Quan điểm tích hợp
Tích hợp là một quan điểm DH hiện đại nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa lượngkiến thức ngày càng tăng với lượng thời gian không thay đổi Tích hợp là tổng hợptrong một đơn vị học (hoặc có thể là một tiết học, một bài tập) nhiều mảng kiến thức
và kĩ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả GD và tiết kiệm thời gianhọc tập cho người học Có thể thực hiện tích hợp theo chiều ngang (nguyên tắc đồngquy) hoặc chiều dọc (nguyên tắc đồng tâm) DH tích hợp luôn là định hướng đúng đắn
để thực hiện đổi mới nội dung, PPDH theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất cho
HS nhất là trong xã hội ngày nay
Quan điểm tích hợp là một trong các quan điểm biên soạn chương trình SGKTiếng Việt mới nhằm phát huy tính tích cực của HS Đây là một quan điểm chỉ đạocho việc xây dựng chương trình học trong nhà trường Định hướng cơ bản trong việcbiên soạn chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học là: dạy tiếng Việt thông qua hoạtđộng giao tiếp, tận dụng những kinh nghiệm sử dụng tiếng Việt của HS, vận dụngquan điểm tích hợp trong dạy tiếng Việt, kết hợp dạy Tiếng Việt với dạy văn hoá vàdạy văn, thực hiện hoàn chỉnh từng bước nội dung DH Trong đó, việc vận dụngquan điểm tích hợp trong dạy tiếng Việt được thể hiện ở các dạng: “tích hợp trongnội bộ môn Tiếng Việt, kết hợp dạy các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói trong từng bàihọc, kết hợp dạy thực hành các kĩ năng trên với dạy kiến thức về tiếng Việt”, “tíchhợp nội dung các môn học khác vào ngữ liệu Tiếng Việt và tích hợp dạy tiếng Việtkhi dạy các môn học khác” [24, tr.44] Có nhiều phương pháp để thể hiện những địnhhướng DH tiếng Việt ở trên Trong số đó, có các phương pháp hiện nay thường đượcdùng như phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp rèn luyện theo mẫu,phương pháp thực hành…
Quá trình DH theo quan điểm tích hợp lấy chủ thể người học làm xuất phátđiểm và đích đến, trong đó tích hợp là việc tổ chức nội dung DH của GV sao cho HS
có thể huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằmgiải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó lại hình thành những kiến thức, kĩ năng
Trang 26mới, từ đó phát triển được những năng lực cần thiết Trong môn học Tiếng Việt ở Tiểuhọc, DH tích hợp là việc tổ chức các nội dung của các phân môn Học vần, Tập Viết,Chính tả, Luyện từ và câu, Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn giúp HS từng bước nângcao năng lực sử dụng tiếng Việt trong việc tiếp nhận và tạo lập các VB thuộc các kiểuloại và phương thức biểu đạt khác nhau.
Như vậy, quan điểm DH tích hợp là một định hướng trong đổi mới căn bản vàtoàn diện GD hiện nay đã được triển khai và được GV tiếp nhận Những bài dạy theohướng tích hợp giúp HS có nhu cầu học tập hơn và mong muốn được giải đáp đượcnhững thắc mắc, phục vụ cho cuộc sống của mình và cộng đồng Đây cũng là conđường ngắn nhất, hiệu quả nhất để phát triển phẩm chất và năng lực của HS, đặc biệtnăng lực giải quyết vấn đề trong thực tiễn
1.1.1.3 Dạy học theo quan điểm tích hợp môn Tiếng Việt ở Tiểu học
a) Bản chất của dạy học theo quan điểm tích hợp
Trong Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể, thuật ngữ
“Dạy học theo quan điểm tích hợp” được hiểu là “định hướng dạy học giúp học sinh
phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thuộc nhiều lĩnh vực khácnhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thựchiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng” [2, tr.32]
Như vậy có thể thấy rằng, DH tích hợp (DH theo quan điểm tích hợp) “là địnhhướng DH trong đó GV tổ chức, hướng dẫn để HS biết huy động tổng hợp kiến thức,
kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, đờisống; thông qua đó, hình thành những kiến thức, kĩ năng mới; phát triển được nhữngnăng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễncuộc sống” [5, tr.235]
Từ cách hiểu trên chúng tôi thấy rằng, khi DH Tiếng Việt ở Tiểu học theo quanđiểm tích hợp, GV cần chú ý thực hiện PPDH tích cực hoá hoạt động của HS Trong
đó thầy, cô đóng vai trò người tổ chức, hướng dẫn hoạt động của HS để các em biếthuy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyếtcác nhiệm vụ học tập, đời sống; “mỗi HS đều được hoạt động, mỗi HS đều được bộc
lộ mình và được phát triển” Thông qua đó, hình thành những kiến thức, kĩ năng mới,đồng thời phát triển những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề tronghọc tập và trong thực tiễn cuộc sống Bên cạnh đó, theo quan điểm tích hợp, GV cũng
Trang 27cần áp dụng linh hoạt các dạng thức tích hợp: tích hợp trong nội bộ môn Tiếng Việt,kết hợp dạy các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe; tích hợp nội dung các môn học khácvào ngữ liệu tiếng Việt và tích hợp dạy tiếng Việt khi dạy các môn học khác Theoquan điểm tích hợp, GD nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạonhững người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộcsống hiện đại, cần chú ý kết hợp dạy tiếng Việt với dạy văn hóa Trong quá trình
DH tiếng Việt “cần từng bước cho HS nhận biết cái đẹp, cái chân, cái thiện của cácbài trích từ tác phẩm văn học, nhận biết các giá trị VHƯX của dân tộc cũng như vẻđẹp của tiếng Việt khi giao tiếp” [24, tr.44] Những hiểu biết trên sẽ góp phần quantrọng vào việc GD nhân cách sống và những giá trị sống tốt đẹp cho HS mà người
GV cần quan tâm
b) Sự thể hiện quan điểm tích hợp trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Chương trình Tiếng Việt tiểu học hiện nay xây dựng theo quan điểm tích hợp
DH Tiếng Việt theo hướng tích hợp có thể thực hiện tích hợp theo chiều ngang(nguyên tắc đồng quy) hoặc chiều dọc (nguyên tắc đồng tâm) Quan điểm tích hợpđược trình bày cụ thể trong sách GV Tiếng Việt ở Tiểu học [22, tr.5-6] như sau:
Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp kiến thức tiếng Việt với các mảng kiếnthức về văn học, tự nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy Hướng tíchhợp này được SGK Tiếng Việt ở Tiểu học thực hiện thông qua hệ thống các chủ điểmhọc tập Bằng việc tổ chức hệ thống bài đọc, bài học theo chủ điểm, SGK dẫn dắt HS
đi dần vào các lĩnh vực của đời sống, qua đó tăng cường vốn từ và khả năng diễn đạtcủa các em về nhà trường, gia đình và xã hội, đồng thời cũng mở cánh cửa cho các embước vào thế giới xung quanh và soi vào thế giới tâm hồn của chính mình Đây là giảipháp để thực hiện mục tiêu cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về tiếng Việt vànhững hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người về văn hóa, văn học của ViệtNam và của nước ngoài Sách Tiếng Việt 2 thực hiện mục tiêu tích hợp nói trên thôngqua hệ thống các chủ điểm học tập như: Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô,Ông bà, Cha mẹ, Chim chóc, Sông biển, Cây cối Theo quan điểm tích hợp, các phânmôn (Học vần, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn)trước đây ít gắn bó với nhau nay được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bàiđọc, các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽ vớinhau hơn trước
Trang 28Tích hợp theo chiều dọc nghĩa là tích hợp đơn vị kiến thức và kĩ năng mới vớinhững kiến thức và kĩ năng đã được học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm (còn gọi làđồng trục hay vòng tròn xoáy trôn ốc) Cụ thể là: kiến thức và kĩ năng mới hình thànhbao hàm kiến thức và kĩ năng đã hình thành trước đó, nhưng cao hơn và sâu hơn.Hướng tích hợp này được SGK Tiếng Việt ở Tiểu học thực hiện thông qua việc phân
bố các kiến thức và kĩ năng của từng lớp sao cho kiến thức, kĩ năng của lớp trên, bậchọc trên bao hàm kiến thức, kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới nhưng cao hơn, sâuhơn Chẳng hạn như các chủ điểm được học ở lớp 1: Thầy cô, Cha mẹ, Ông bà, Nhàtrường, Bạn bè…, ở lớp 2, mỗi chủ điểm đó được chia thành nhiều chủ điểm nhỏ, tạođiều kiện cho HS hiểu biết sâu hơn so với lớp dưới Ví dụ, khi học bài “Tôi là HS lớp1” [9, tr.4] HS bước đầu tiếp cận được những kiến thức và kĩ năng sơ giản về bản thân,biết yêu quý thầy cô, bạn bè và nhà trường, biết bộc lộ tình cảm cảm xúc của bản thân.Lên đến lớp 2, khi được học bài “Có công mài sắt có ngày nên kim” lúc này HS khôngchỉ biết bày tỏ tình cảm cảm xúc cá nhân nữa mà đã ở mức độ cao hơn, đó là hiểuđược bản thân mình, biết tự đánh giá ưu, khuyết điểm của bản thân và biết phát huy ưuđiểm và điều chỉnh khuyết điểm Do đó, việc thực hiện chương trình Tiếng Việt khôngchỉ DH những tri thức, kĩ năng đặc thù của từng phân môn, GV còn phải tìm ra yếu tố
“đồng quy” giữa các phân môn Đồng thời, GV phải có ý thức khai thác các yếu tốchung có thể tích hợp trong 1 bài học một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên, không máymóc, gượng ép, áp đặt Phải ý thức triệt để việc tích cực hóa hoạt động của HS
Hướng tích hợp trên được SGK Tiếng Việt ở Tiểu học được bố trí thành haivòng [13]:
“Vòng 1 (gồm các lớp 1, 2, 3) tập trung hình thành ở HS các kĩ năng đọc, viết
và phát triển kĩ năng nghe, nói với những yêu cầu cơ bản: đọc thông và hiểu đúng nộidung một bài văn ngắn; viết rõ ràng và đúng chính tả; thông qua các bài tập thực hành,bước đầu có một số kiến thức sơ giản về từ, câu, đoạn văn và văn bản
Vòng 2 (gồm các lớp 4, 5) cung cấp cho HS một số kiến thức sơ giản về tiếngViệt để phát triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết ở mức độ cao hơn với những yêu cầu
cơ bản như: hiểu đúng nội dung và bước đầu đọc diễn cảm bài văn, bài thơ ngắn; biếtcách viết một số kiểu văn bản; biết nghe - nói về một số đề tài quen thuộc” [13, tr 49]
Mặt khác, tính tích hợp của chương trình và SGK Tiếng Việt còn thể hiện ở mốiliên thông giữa kiến thức sách vở và kiến thức đời sống (qua việc tìm hiểu các VB văn
Trang 29học, đặc biệt là các VB nhật dụng, VB hành chính, qua chương trình dành cho địaphương), liên thông giữa kiến thức, kĩ năng của môn Tiếng Việt với các môn học khác,nhằm giúp HS có được kiến thức và kĩ năng thực hành toàn diện, góp phần GD đạođức công dân, kĩ năng sống, hiểu biết xã hội, Đây là giải pháp để thực hiện mục tiêuGDVHƯX qua DH các phân môn Tiếng Việt theo quan điểm tích hợp cho HS mộtcách hiệu quả
Tóm lại, việc DH Tiếng Việt theo hướng tích hợp là định hướng DH Tiếng Việtvừa mang tính kế thừa vừa mang tính phát triển Tuy nhiên trên thực tế chúng ta thấyrằng, mặc dầu chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học được thực hiện theo quan điểm tíchhợp nhưng như vậy không có nghĩa là các kiến thức, kĩ năng được tích hợp phải códung lượng kiến thức, kĩ năng ngang bằng nhau mà vẫn phải có điểm nhấn, chẳng hạnnhư: trọng tâm của tiết dạy đã được xác định ở mục Mục đích, yêu cầu của mỗi tiếtdạy Không nắm được đặc điểm này, GV dễ hiểu lầm yêu cầu tích hợp, dẫn tới sa đà,lan man, gán ghép một cách khiên cưỡng trong DH Cho nên, muốn dạy tốt môn TiếngViệt theo hướng này, GV cần nhận thức đúng đắn về vấn đề này là “giảng dạy theoquan điểm tích hợp không phủ định việc DH các tri thức, kĩ năng riêng của từng phânmôn” Nhưng làm thế nào phối hợp các tri thức, kĩ năng thuộc từng phân môn thậtnhuần nhuyễn; kết hợp thật tốt việc hình thành cho HS năng lực và phẩm chất nhằmđạt tới mục tiêu chung của môn Tiếng Việt? Đây là vấn đề GV cần quan tâm tìm biệnpháp thực hiện Giải quyết được vấn đề này thì việc xử lí các tình huống GD trở nênmềm dẻo hơn, phát huy được tính tích cực của HS, góp phần đổi mới nội dung vàPPDH ở trường tiểu học
Do vậy, phần tích hợp là phần để hỗ trợ nhằm đảm bảo tốt hơn cho việc đạt đượcnhững mục tiêu và nội dung chính của bài dạy Ví dụ: mục tiêu quan trọng nhất của
Trang 30DH Tập đọc là hình thành năng lực đọc cho HS Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩnăng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc”: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát,trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi
là đọc hiểu) và đọc diễn cảm Bốn kĩ năng này được hình thành từ hai hình thức đọc:đọc thành tiếng và đọc thầm Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau
Thứ hai, cần khai thác nội dung tích hợp một cách có chọn lọc; nội dung kiếnthức cần tích hợp phải có hệ thống và đảm bảo cho HS lĩnh hội được một lượng trithức tối đa nhưng vẫn phù hợp với tầm đón nhận của các em, tránh tràn lan, tuỳ tiệnhay gán ghép một cách khiên cưỡng trong DH
Thứ ba, DH tích hợp cần quan tâm luyện tập kĩ năng sử dụng tiếng Việt trongcác dạng hoạt động lời nói và các tình huống giao tiếp đa dạng là một nguyên tắc quantrọng trong việc thực hiện chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học Bởi lẽ, ngôn ngữ cóquan hệ chặt chẽ với văn hóa của một dân tộc, nhất là VHƯX Ví dụ: Trong giờ Tậpđọc “Chiếc bút mực” (TV2, T1, tr.40) GV nêu câu hỏi và yêu cầu HS trả lời: Vì sao côgiáo khen Mai? Qua hoạt động này GV rèn luyện cho HS kĩ năng sử dụng tiếng Việt,hướng dẫn HS để câu trả lời của HS chính xác, từ ngữ trau chuốt
Thứ tư, tích hợp cần đảm bảo cho sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năngcủa HS thể hiện các mức độ, cấp độ kết nối khác nhau và phải đặt người học vào vị trítrung tâm
Thứ năm, tích hợp nhằm tích cực hoá hoạt động của HS, phát huy cao độ vốnhiểu biết, kinh nghiệm HS đã có; phát huy tối đa mọi khả năng để HS được tiếp xúcvới các vấn đề liên quan đến nội dung cần tích hợp Trong đó, GV đóng vai trò làngười tổ chức hoạt động cho HS Mỗi HS đều được hoạt động, đều được bộc lộ mình
và được phát triển
Ví dụ: Trong dạy bài Tập đọc “Bím tóc đuôi sam” (TV2, T1, tr.31) GV tổ chức
cho HS hoạt động trả lời câu hỏi: Qua câu chuyện, em thấy bạn bạn Tuấn có điểm nào
đáng chê và điểm nào đáng khen? (Đáng chê vì đùa nghịch quá trớn, làm bạn gái phát
khóc Đáng khen vì khi bị thầy giáo phê bình đã nhận ra lỗi lầm của mình và chân
thành xin lỗi bạn…) Qua đó HS phát huy tối đa khả năng, vốn hiểu biết kinh nghiệm
đã có của mình để trả lời câu hỏi và rút ra bài học cho bản thân
Để thực hiện các nguyên tắc trên, GV cần chuẩn bị một cách công phu từ khâuthiết kế giáo án cho đến tiết dạy như phương pháp, hình thức tổ chức DH, phương tiện
Trang 31DH, phiếu học tập… để hướng dẫn HS sử dụng được nhiều nguồn thông tin khácnhau, giúp các em chủ động, phát huy hết khả năng vào hoạt động tìm kiếm tri thức;đồng thời, tạo cơ hội cho HS đều được hoạt động, đều được bộc lộ mình và được pháttriển cả về năng lực và phẩm chất.
1.1.2 Giáo dục văn hoá ứng xử ở trường tiểu học
1.1.2.1 Quan niệm về văn hoá
Cho đến nay, thuật ngữ “văn hóa” đã thâm nhập vào đời sống xã hội con ngườimột cách sâu rộng Ví như người ta có thể nói: văn hóa học đường, VHƯX, văn hóagiao tiếp, văn hóa gia đình, văn hóa làng, văn hóa vùng, văn hoá tổ chức cộng đồng…Thuật ngữ “văn hóa” được sử dụng phong phú như vậy, cho nên muốn vận dụng nótrong cuộc sống, thì phải xác định nội hàm ý nghĩa của thuật ngữ này Để đi tới mộtquan niệm đầy đủ và toàn diện về thuật ngữ “văn hóa” cần phải có quá trình nghiêncứu, tìm hiểu công phu Tuy nhiên, do thời gian và năng lực nghiên cứu có hạn nêntrong đề tài này nhóm tác giả chỉ đề cập tới một số định nghĩa sau:
Trong cuốn sách Mấy vấn đề lí luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta
[26, tr.20] tác giả Hoàng Vinh đã đề cập đến nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ
“văn hóa”: “Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần, được nhân loại sáng tạo ratrong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội, các giá trị ấy nói lên trình độ pháttriển của lịch sử loài người” [dt 25, tr.35]; “Văn hóa là cách ứng xử mà các thành viêntrong xã hội học được” (F Merill); “Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và xã hội củanhóm người, các thiết chế, phong tục và phản ứng trong cách ứng sử của họ” (Tô - mát
- xơ ); “Văn hóa là nếp sống, là sự thích ứng đặc biệt của con người với môi trường tựnhiên và các nhu cầu kinh tế” (Đau - xơn); “Văn hóa là lối sống mà con người họcđược, chứ không phải là sự kế thừa sinh học” (Rê Bê - nê - đích)…
Bao quát các định nghĩa trên chúng ta thấy, mỗi định nghĩa nhà nghiên cứuthường nhấn mạnh vào khía cạnh này hay khía cạnh khác xuất phát từ mục tiêu nghiêncứu riêng của mình Có định nghĩa nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo trong lịch sử,nhằm hình thành nên hệ thống giá trị xã hội; hoặc chú trọng vào phương thức ứng xử;hoặc quan tâm vào sự thích ứng của con người với môi trường tự nhiên; hoặc nhấnmạnh vào tính chất di truyền xã hội, tức khả năng học tập của con người… Qua đóchúng ta nhận thấy rằng, điểm thống nhất giữa các quan niệm trên là đều sử dụng thuậtngữ “văn hóa” theo nghĩa “văn hóa người”, “văn hóa chỉ có ở con người”
Trang 32Suy ngẫm về văn hóa, sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Vì lẽ sinhtồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngônngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công
cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ nhữngsáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thứcsinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứngnhững nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [25, tr.41] Như vậy, theo ChủTịch Hồ Chí Minh văn hoá là sản vật của hoạt động con người, do con người tạo ra.Bản chất của văn hóa chính là năng lực sáng tạo, do con người tạo nên và tích lũytrong hoạt động thực tiễn Quan niệm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh thống nhất với tưtưởng của các nhà sáng lập ra học thuyết Mác - xít là ở chỗ xem lao động sáng tạo làcội nguồn của văn hóa
Từ cách phân tích trên chúng tôi hiểu rằng, văn hóa là tổng hòa những giá trịvật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Văn hóa baogồm tất cả những sản phẩm, những giá trị trong đời sống, từ nghệ thuật và văn chươngcho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động
1.1.2.2 Quan niệm về văn hoá ứng xử
VHƯX là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người trước sựtác động của người khác với mình trong một tình huống nhất định VHƯX được hiểu
là “những hành vi làm cho đời sống cá nhân và cộng đồng thích ứng với những điềukiện tự nhiên và xã hội, không chỉ để bảo tồn mà còn để xã hội phát triển” [23, tr.20].Ứng xử nói ở đây là sự thích ứng giữa con người với môi trường xung quanh được thểhiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốttrong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với nhau Như vậy, cụm
từ “VHƯX” ở đây được hiểu rất rộng và theo nhiều cách khác nhau:
- VHƯX là những biểu hiện của giao tiếp Điều này đã được dân tộc ta hun đúcnên từ ngàn đời nay với những câu ca dao, tục ngữ như câu ca dao “Lời nói chẳng mấttiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, “Học ăn, học nói, học gói, học mở” hay
“Chim khôn hót tiếng rảnh rang/ Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe”… Và vì thếngay từ khi còn bé, chúng ta cũng đã được ông bà, cha mẹ dạy cho những bài học đầutiên về làm người, về cách ứng xử trong cuộc sống Ví dụ như khi gặp người lớn phảibiết chào hỏi lễ phép, phải biết đi thưa về gửi, biết nói lời cảm ơn xin lỗi, khi ăn phải
Trang 33biết mời người lớn tuổi, khi sai phải biết nhận lỗi cúi đầu Cái nôi đầu tiên mà chúng
ta học cách ứng xử, giao tiếp với người khác đó chính là gia đình
- VHƯX là cách chúng ta thể hiện ra bên ngoài về thái độ, hành vi, cử chỉ, ánhmắt, của chính ta với những người xung quanh Ví dụ hằng ngày chúng ta vẫn giaotiếp với nhau chính là chúng ta đang duy trì cách ứng xử Có nhiều người sinh ra đãbiết cách ăn nói, ứng xử nhưng có nhiều người cần phải cố gắng rèn luyện từng ngàythì mới có thể ứng xử tốt
- VHƯX là những ứng xử đẹp, đó chính là sự lịch sự, văn minh Ví dụ nhưchúng ta nói chuyện phải nói dịu dàng, duyên dáng, biết thưa gửi, lịch sự, có học thức;khi nói chuyện biết lắng nghe và lắng nghe những gì người khác nói chính là một phầncủa VHƯX Vì vậy, cách ứng xử chính là đạo đức là cái nết của con người mà mỗingười cần rèn luyện để hoàn thiện mình
- VHƯX là tổng hòa các mối quan hệ giữa con người với con người, và cả giữacon người với tất cả những gì xung quanh chúng ta Do đó, bên cạnh sự coi trọng trongviệc ứng xử, giao tiếp giữa con người với con người, chúng ta cần coi trọng ứng xửvới môi trường thiên nhiên sao cho phù hợp cũng là một lối sống đẹp Ví dụ như bảo
vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên, sống xanh, sạch đẹp…
Như vậy, VHƯX là tổng hòa các giá trị, các tư tưởng được hệ thống lại bởi cáchoạt động trong quá khứ, hiện tại của cá nhân này với cá nhân khác, của cá nhân vớitập thể, với cộng đồng Cái gì cũng cần có văn hóa, có khuôn phép mà chúng ta lấy đólàm thước đo Cho nên VHƯX là một cụm từ mà người ta thường dùng để đo nhâncách của một người Những đặc điểm tính cách của cá nhân được thể hiện qua thái độ,hành vi, cử chỉ, lời nói của từng cá nhân trong giao tiếp xã hội Đối với nhiều ngườihiện nay, chỉ cần qua cách ứng xử thôi là có thể biết được tính cách cũng như học thứccủa người đó như thế nào Vì vậy, có thể nói rằng ứng xử văn hóa chính là “chiếc chìakhóa để con người tiếp xúc với xã hội, tự nhiên hòa đồng với con người có hiểu biết,văn minh, lịch sự” Và không chỉ riêng nước ta mà tất cả các quốc gia trên thế giới đềurất chú trọng đến việc GD HS về “văn hóa ứng xử”
Từ cách lí giải trên, chúng tôi hiểu rằng, VHƯX học đường thực chất là đề cậpđến “các giá trị, chuẩn mực văn hóa điều chỉnh nhận thức, thái độ, hành vi, tác phong,
cử chỉ, lời nói” của GV, HS, SV trong giao tiếp với mọi người và với môi trường xungquanh GDVHƯX trong trường học là một “hoạt động GD hệ giá trị”, các chuẩn mực
Trang 34văn hóa giúp cho các thành viên trong nhà trường có nhận thức đúng, suy nghĩ, tìnhcảm, hành vi tốt đẹp, thực hiện VHƯX lành mạnh, xây dựng cơ sở để đảm bảo chấtlượng GD của nhà trường Đó là yếu tố rất quan trọng để rèn luyện nhân cách và GD
HS Chính vì vậy, cần phải dạy và chấn chỉnh về cách ứng xử của HS với mọi ngườingay từ những ngày bước chân đầu tiên đến trường học đặc biệt là đối với HS tiểu học
1.1.2.3 Bản chất giáo dục văn hoá ứng xử
Xây dựng môi trường văn hóa trong trường học đóng vai trò quan trọng trongviệc GD nhân cách, đạo đức, lối sống và ý thức công dân cho HS Ngày 03/10/2018,Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1299/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Xâydựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018 - 2025” [16], với mục tiêuchung là “Tăng cường xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học nhằm tạo chuyểnbiến căn bản về ứng xử văn hóa của cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên, học sinh, sinhviên để phát triển năng lực, hoàn thiện nhân cách, lối sống văn hóa; xây dựng văn hóatrường học lành mạnh, thân thiện; nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo; góp phần xâydựng con người Việt Nam: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù,sáng tạo” Điều đó đã cho ta thấy được tầm quan trọng của việc GDVHƯX có vai trò
to lớn trong nhà trường hiện nay, được cả xã hội quan tâm
Chúng ta đều biết rằng, để ứng xử có văn hóa thì HS phải học cách giao tiếp, về
cử chỉ lời nói, thái độ của chúng ta với mọi người cũng như mọi tình huống trong cuộcsống và môi trường xung quanh Do đó “dạy cách ứng xử có văn hóa” cho HS là nhiệm
vụ hàng đầu có ý nghĩa vô cùng quan trọng ở các trường học, là việc luôn luôn được đềcao và đặc biệt coi trọng trong bất cứ thời đại nào Đây là phương tiện hiệu quả trong việcgiúp HS hình thành và phát triển nhân cách nhất là đối với HS cấp tiểu học
Về bản chất của GDVHƯX ở trường tiểu học, có thể nhấn mạnh ở một số khíacạnh như:
- Giúp cho HS có thái độ đúng đắn, phù hợp với các chuẩn mực trong nhàtrường và trong các mối quan hệ xã hội khác Chẳng hạn, các em hiểu rằng: một người
có ứng xử tốt chắc chắn sẽ được nhiều người yêu quý, tôn trọng, một HS ngoan ngoãn,vâng lời và luôn chào hỏi thầy cô sẽ được yêu quý (khen), còn những HS có thái độ vôlễ… sẽ bị phê bình
- Giúp cho HS tích cực tham gia hoạt động VHƯX, các hoạt động tập thể, hoạtđộng xã hội, tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân Ví dụ như biết đoàn kết giúp đỡ lẫnnhau, biết chia sẻ nhường nhịn, khi gặp người khó khăn biết giúp đỡ…
Trang 35- Hình thành cho HS ý thức, thái độ, tình cảm và thói quen ứng xử trong học tập,trong các mối quan hệ và trong cuộc sống Ví dụ như qua hành động chăm chỉ học tập, chàohỏi, đi thưa về gửi, không làm những việc sai trái để thầy cô, bố mẹ muộn phiền.
Như vậy, GDVHƯX có vai trò rất lớn trong việc hình thành phẩm chất và pháttriển năng lực HS Vì thế cần xem và đặt nó thành ý thức đi sâu của mỗi HS bằngnhiều hình thức, phương pháp khác nhau Trong đó, vấn đề tích hợp GDVHƯX tronggiao tiếp cho HS ở trường tiểu học là một hướng đi có ý nghĩa tích cực trong việc hìnhthành nhân cách và năng lực HS
1.1.3 Giáo dục văn hoá ứng xử theo quan điểm tích hợp trong dạy học Tập đọc
1.1.3.1 Vị trí và nhiệm vụ của phân môn Tập đọc ở tiểu học
DH Tập đọc có vai trò, vị trí rất quan trọng trong nhà trường Tiểu học Đọcđược xem như là “một hoạt động lời nói trong đó có các thành tố: 1 Tiếp nhận dạngthức chữ viết của từ; 2 Chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh, nghĩa là phát âmcác từ theo từng chữ cái (đánh vần) hay là đọc trơn từng tiếng, từng từ, cụm từ, câu tùythuộc vào trình độ nắm kĩ thuật đọc; 3 Thông hiểu những gì được đọc (từ, cụm từ,
câu, đoạn, bài)” [11, tr 39]; “Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ
mật thiết với nhau, là việc sử dụng một bộ mã gồm hai phương diện Một mặt, đó làquá trình vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thànhnhững dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh Thứ hai, đó là sự vận động của tư tưởng,tình cảm, sử dụng bộ mã chữ - nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tưởng,các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho được nội dung những gì đượcđọc” và “Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viếtsang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quátrình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh(ứng với đọc thầm)” [dt 11, tr.8] Như vậy, “đọc” trước hết là phải gắn liền với việcchiếm lĩnh “một công cụ ngôn ngữ”
Để có DH Tập đọc có hiệu quả, trước tiên GV cần phải hiểu biết sâu sắc về vịtrí, tính chất, nhiệm vụ DH Tập đọc ở tiểu học
Về vị trí, tính chất và nhiệm vụ của phân môn Tập đọc ở tiểu học đã được tác
giả Lê Phương Nga trình bày chi tiết trong tài liệu Dạy học Tập đọc ở tiểu học [11].
Có thể nhấn mạnh một số phương diện như sau: Tập đọc với tư cách là một phân môncủa môn Tiếng Việt ở tiểu học (chương trình Tiếng Việt hiện hành) Đây là môn học
Trang 36có vị trí quan trọng ở tiểu học, là môn học khởi đầu (được học sớm nhất ở tiểu học, nốitiếp với học âm, vần), giúp HS biết đọc và chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùngtrong giao tiếp và học tập Đọc là một công cụ giúp HS học tập các môn học trong nhàtrường Đọc tạo ra hứng thú và động cơ học tập giúp HS chiếm lĩnh kho tàng tri thứcvăn hoá của nhân loại được tàng trữ trong sách vở, tạo điều kiện để HS có khả năng tựhọc và tự học xuốt đời Do đó, dạy đọc có ý nghĩa đặc biệt to lớn ở tiểu học Nó là mộtkhả năng không thể thiếu được của con người trong thời đại văn minh Đọc một cách
có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng như tư duy của ngườiđọc Việc dạy đọc sẽ giúp HS hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện vàcái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách lôgic cũng như biết tư duy có hình ảnh.Như vậy, đọc có một ý nghĩa to lớn còn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, GD
Nhiệm vụ thứ hai của dạy đọc là GD lòng ham đọc sách, hình thành phươngpháp và thói quen làm việc với VB, làm việc với sách cho HS Làm cho sách được tônkính trong trường học, đó là một trong những điều kiện để trường học thực sự trởthành trung tâm văn hoá Nói cách khác, thông qua việc dạy đọc, phải làm cho HSthích thú đọc và thấy được khả năng đọc là có lợi ích cho các em trong cả cuộc đời,thấy được đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sốngtrí tuệ đầy đủ và phát triển
Nhiệm vụ thứ ba là trau dồi kiến thức văn học, kiến thức ngôn ngữ và kiến thứcđời sống cho HS Dạy tập đọc phải thông qua nhiều loại VB khác nhau Các VB tập
Trang 37đọc chứa đựng nhiều mặt kiến thức văn hoá của nhân loại và dân tộc Do vậy thôngqua tập đọc có thể trau dồi kiến thức nhiều mặt cho HS như kiến thức văn học, kiếnthức ngôn ngữ và kiến thức về đời sống.
Nhiệm vụ thứ tư là GD thẩm mỹ, tình cảm tư tưởng và phát triển tư duy cho
HS Bởi vì học tập đọc, HS được tiếp xúc với vẻ đẹp của văn chương thông qua các
VB nghệ thuật Đó là cơ hội để HS được GD về tình cảm thẩm mỹ, tư tưởng và pháttriển tư duy trừu tượng Khi học các VB nghệ thuật, cần làm cho HS xúc động với vẻđẹp của văn chương, nhận thức được tình cảm yêu thương con người và cuộc sống màtác giả gửi gắm trong bài đọc…
Như vậy, nhiệm vụ của phân môn Tập đọc nhằm hướng tới thực hiện mục tiêucủa môn học là phát triển các kĩ năng đọc, nghe và nói cho HS; đồng thời trau dồi vốntiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết của HS về cuộc sống;Qua đó bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng, tình yêu cáiđẹp, cái thiện và thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống, hứng thú đọc sách và yêuthích tiếng Việt Với nhiệm vụ trên, phân môn Tập đọc có nhiều thuận lợi cho việcGDVHƯX cho HS theo hướng tích hợp cung cấp kiến thức, hình thành kĩ năng và pháttriển năng lực
1.1.3.2 Nội dung giáo dục văn hoá ứng xử trong dạy học Tập đọc
DH theo hướng tích hợp GDVHƯX là định hướng quan trọng được Bộ GD - ĐT
chỉ đạo phải tích cực triển khai nhân rộng ở tất cả các cấp học, được coi là phươngthức hiệu quả nhất để thực hiện DH phát triển năng lực và phẩm chất của HS.GDVHƯX qua DH một số bài tập đọc ở Tiểu học thực chất là đề cập đến các giá trị,
chuẩn mực văn hóa điều chỉnh nhận thức, thái độ, hành vi, tác phong, cử chỉ, lời nói của
HS trong giao tiếp với mọi người xung quanh gắn với chủ điểm phù hợp với lứa tuổi
Đó là yếu tố rất quan trọng để rèn luyện nhân cách và GD HS Tuy nhiên do điều kiệnthời gian và năng lực có hạn, trong đề tài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu quan hệứng xử của HS thông qua một số bài tập đọc ở lớp 2 gắn với các chủ điểm như sau:
- Quan hệ ứng xử của HS đối với bản thân, thông qua chủ điểm: "Em là học
sinh" để xem xét trên các phương diện: em cần tích cực rèn luyện phẩm chất đạo đức,
có lối sống trung thực và khiêm tốn; chăm chỉ lao động, làm việc, chấp hành tốt phápluật, quy định về trật tự, an toàn xã hội, an toàn giao thông
Trang 38Ví dụ Bài Tập đọc “Làm việc thật là vui” (TV2, T1, tr.16) HS thấy được xungquanh em, mọi vật, mọi người đều làm việc Có làm việc thì mới có ích cho gia đình,
xã hội Làm việc tuy vất vả, bận rộn nhưng công việc sẽ mang lại cho ta hạnh phúc,niềm vui rất lớn
- Quan hệ ứng xử của HS đối với gia đình, thông qua các chủ điểm: “Ông bà”,
“Cha mẹ”, “Anh em” Qua đó nhấn mạnh: ứng xử trong xưng hô, mời, gọi đảm bảo sự
kính trọng, lễ phép, thương yêu, quan tâm đến mọi người trong gia đình Chẳng hạnnhư khi đi đâu phải xin phép cha, mẹ; khi người lớn hỏi phải trả lời lễ phép, nhẹnhàng, rõ ràng; anh em đoàn kết, biết thương yêu, nhường nhịn
Ví dụ bài Tập đọc “Thương ông” (TV2, T1, tr.83), HS sẽ thấy một cậu bé cònnhỏ nhưng đã biết thương ông, biết giúp đỡ an ủi ông khi ông đau ốm từ đó HS họcđược cách ứng xử với ông bà như cậu bé đối xử với ông của mình Bài Tập đọc “Bônghoa niềm vui” (TV2, T1, tr.104) HS thấy được bạn Chi là một cô bé hiếu thảo vì bốcủa Chi đang nằm viện nên em muốn đem tặng bố mình một bông hoa Niềm Vui để bốdịu cơn đau nhưng Chi không dám tự ý hái bông hoa vì đó là vi phạm nội quy chung.Qua đó các em học được ở Chi phẩm chất hiếu thảo, tôn trọng quy định chung, thậtthà Với bài Tập đọc “Hai anh em” (TV2, T1, tr.1) ở chủ điểm Anh em, HS thấy đượchai anh em rất thương yêu nhau, luôn lo lắng cho nhau, hai anh em đều muốn nhườngphần hơn cho nhau qua đó HS học tập được trong truyện ở hai nhân vật cách xử củabản thân với anh em trong gia đình
- Quan hệ ứng xử của HS đối với cộng đồng, xã hội (thầy cô, bạn bè) thông qua chủ điểm: “Bạn bè”, “Trường học”, “Thầy cô” Với chủ điểm bạn bè nhấn mạnh khía
cạnh như tôn trọng bạn bè, biết chia sẻ, động viên, giúp đỡ bạn bè vươn lên trong họctập, cuộc sống và rèn luyện; không được bao che khuyết điểm cho bạn; không được cónhững hành động phân biệt đối xử, vu khống, nói xấu bạn bè; giữ gìn mối quan hệbình đẳng, trong sáng với bạn bè; Ví dụ bài Tập đọc “Bạn của Nai Nhỏ” (TV2, T1,tr.22) HS đã thấy được một người sẵn lòng giúp người, cứu người là người bạn tốt,đáng tin cậy như bạn Dê Non từ đó HS học tập bạn Dê Non Còn ở bài “Bím tóc đuôiSam” (TV2, T1, tr.31) HS thấy được bạn Tuấn vừa có điểm đáng chê vừa có điểmđáng khen Đáng chê vì đùa nghịch quá trớn, làm bạn gái phát khóc Đáng khen vì khithầy giáo phê bình đã nhận ra lỗi lầm của mình và chân thành xin lỗi bạn Từ đó HShọc tập điểm đáng khen và không mắc phải điểm đáng chê của bạn Tuấn, biết được
Trang 39cách ứng xử đối với bạn bè.Với chủ điểm thầy cô, cán bộ công nhân viên nhấn mạnh ởphương diện như có thái độ tôn trọng, lễ phép với thầy cô giáo, các cô bác nhân viênnhà trường: trong việc chào hỏi, xưng hô với thầy cô giáo, nhân viên trong nhà trườngthể hiện sự kính trọng, lịch sự, lễ phép; không vô lễ với thầy, cô và người lớn tuổi Vớichủ điểm Thầy cô, ở bài Tập đọc “Người thầy cũ” (TV2, T1, tr.56) - kể chuyện mộtchú bộ đội chính là bố của Dũng về thăm lại thầy giáo cũ, khi gặp lại thầy giáo cũ bốDũng lễ phép chào thầy qua đó HS hiểu được cần phải nhớ ơn, kính trọng và yêu quýthầy cô giáo.
Trên đây là những nội dung GDVHƯX trong DH Tập đọc nói chung và ở lớp 2nói riêng, học theo hướng tích hợp các chủ điểm sẽ giúp cho HS quan tâm hơn đến conngười và xã hội ở xung quanh mình, việc học gắn liền với cuộc sống đời thường là yếu
tố để các em học tập Muốn thực hiện được điiều đó, mỗi GV cần nhận thức đúng đắnhơn về tầm quan trọng của việc GDVHƯX cho HS trong việc thực hiện mục tiêu GDnhân cách cho HS Bên cạnh việc tìm biện pháp để rèn kĩ năng ứng xử cho HS, GVcần tôn trọng ý kiến của từng cá nhân HS; luôn lắng nghe và cùng chia sẻ những khókhăn trong cuộc sống của HS; ứng xử thân thiện, gần gũi và không phân biệt đối xửđối với HS GV luôn phải là tấm gương sáng, mẫu mực về đạo đức, tác phong để HSnoi theo
1.1.4 Đặc điểm ngôn ngữ và tâm lí của học sinh lớp 2 với việc tích hợp giáo dục văn hoá ứng xử trong dạy học phân môn Tập đọc
1.1.4.1 Đặc điểm ngôn ngữ
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính
và lý tính của HS Thông qua khả năng ngôn ngữ của HS ta có thể đánh giá được sựphát triển trí tuệ của HS Ngôn ngữ ở HS Tiểu học thể hiện ở khả năng tự đọc, tựhọc, tự khám phá nhận thức thế giới xung quanh và từ đó tự khám phá bản thân Dovậy, DH Tập đọc GV phải chú ý đến trình độ vốn có của HS từng lớp, từng vùngmiền khác nhau để định nội dung, kế hoạch và PPDH phù hợp
Để hình thành các kĩ năng và kĩ xảo ngôn ngữ, HS phải được hoạt độngtrong các môi trường giao tiếp cụ thể, đặc biệt là môi trường văn hoá ứng xử Chỉ
có trong các môi trường giao tiếp, môi trường văn hoá ứng xử, HS mới hiểu lời nóicủa người khác, đồng thời vận dụng ngôn ngữ sáng tạo để người khác hiểu được tưtưởng và tình cảm của các em Mặt khác, thông qua các bài tập thực hành đơn giản
Trang 40như giới thiệu về bản thân, gia đình, lớp học, bạn bè theo mục đích nhất định, HSđược luyện tập về các kĩ năng ứng xử trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.Trong quá trình đó GV cần phải tạo điều kiện để HS hình thành lời nói hoàn chỉnhcủa mình trong các cuộc hội thoại, trong các hình thức học tập khác nhau: cá nhân,nhóm, lớp Do vậy, DH Tập đọc GV phải chú ý đến trình độ vốn có của HS từnglớp, từng vùng miền khác nhau để định nội dung, kế hoạch và PPDH phù hợp.
1.1.4.2 Đặc điểm tâm lý
Khi nói về đặc điểm tâm lý của họ HS lớp 2 vấn đề tình thân, tình bạn cũng
là một số yếu tố rất quan trọng trong quá trình phát triển của các em trong độ tuổinày Môi trường gia đình, mối quan hệ với bạn bè ảnh hướng lớn đến cách ứng xửcủa HS Cách giao tiếp trong gia đình phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức, phụhuynh phải là tấm gương tốt để các em noi theo
Đối với HS lớp 2, tình cảm có vị trí đặc biệt vì nó gắn kết nhận thức vớihoạt động của các em, tình cảm tích cực sẽ kích thích HS nhận thức tốt và thúcđẩy các em hoạt động đúng đắn Vì vậy HS ở giai đoạn này thường quan tâm đếnmôn học có sử dụng đồ dùng DH như tranh ảnh, trực quan, sinh động, hấp dẫn, cótrò chơi Ngoài ra HS còn thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý cóchủ định, có tính hiếu động và dễ xúc động HS thường nhớ rất nhanh nhưng quêncũng rất nhanh
HS ở bậc Tiểu học nói chung và HS lớp 2 nói riêng thường có tâm trạng vô
tư, sảng khoái, vui tươi, đó cũng là những điều kiện thuận lợi để GD cho các emnhững chuẩn mực đạo đức, phẩm chất, trí tuệ đặc biệt là áp dụng dạy “tích hợp vănhóa ứng xử” trong môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập đọc nói riêng
Những đặc điểm trên có ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện nếp sống vănhoá, quy tắc, quy định ở nhà trường và nơi công cộng của HS nhất là đối với HS lớp 2.Đây là cơ sở để GV lựa chọn các biện pháp GD tích hợp để giúp HS rút ra nhiều bàihọc bổ ích về đạo đức và kỹ năng sống, có ý thức rèn luyện cách ứng xử ngày càng cóvăn hóa hơn Trong đó, cần coi trọng phương pháp trải nghiệm, các hoạt động GD kỹnăng sống, kỹ năng giao tiếp, ứng xử văn hóa của HS nhằm hình thành ở HS nhữngnăng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy động nội dung,kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau