Giáo dục văn hoá ứng xử theo quan điểm tích hợp trong dạy học Tập đọc

Một phần của tài liệu Đề-tài-SV-đã-sửa-8.6.2021 (Trang 35 - 39)

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1.3. Giáo dục văn hoá ứng xử theo quan điểm tích hợp trong dạy học Tập đọc

DH Tập đọc có vai trò, vị trí rất quan trọng trong nhà trường Tiểu học. Đọc được xem như là “một hoạt động lời nói trong đó có các thành tố: 1. Tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ; 2. Chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh, nghĩa là phát âm các từ theo từng chữ cái (đánh vần) hay là đọc trơn từng tiếng, từng từ, cụm từ, câu tùy thuộc vào trình độ nắm kĩ thuật đọc; 3. Thông hiểu những gì được đọc (từ, cụm từ, câu, đoạn, bài)” [11, tr. 39]; “Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau, là việc sử dụng một bộ mã gồm hai phương diện. Một mặt, đó là quá trình vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh. Thứ hai, đó là sự vận động của tư tưởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ - nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho được nội dung những gì được đọc” và “Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm)” [dt 11, tr.8]. Như vậy, “đọc” trước hết là phải gắn liền với việc chiếm lĩnh “một công cụ ngôn ngữ”.

Để có DH Tập đọc có hiệu quả, trước tiên GV cần phải hiểu biết sâu sắc về vị trí, tính chất, nhiệm vụ DH Tập đọc ở tiểu học.

Về vị trí, tính chất và nhiệm vụ của phân môn Tập đọc ở tiểu học đã được tác giả Lê Phương Nga trình bày chi tiết trong tài liệu Dạy học Tập đọc ở tiểu học [11].

Có thể nhấn mạnh một số phương diện như sau: Tập đọc với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ở tiểu học (chương trình Tiếng Việt hiện hành). Đây là môn học

có vị trí quan trọng ở tiểu học, là môn học khởi đầu (được học sớm nhất ở tiểu học, nối tiếp với học âm, vần), giúp HS biết đọc và chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập. Đọc là một công cụ giúp HS học tập các môn học trong nhà trường. Đọc tạo ra hứng thú và động cơ học tập giúp HS chiếm lĩnh kho tàng tri thức văn hoá của nhân loại được tàng trữ trong sách vở, tạo điều kiện để HS có khả năng tự học và tự học xuốt đời. Do đó, dạy đọc có ý nghĩa đặc biệt to lớn ở tiểu học. Nó là một khả năng không thể thiếu được của con người trong thời đại văn minh. Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng như tư duy của người đọc. Việc dạy đọc sẽ giúp HS hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách lôgic cũng như biết tư duy có hình ảnh.

Như vậy, đọc có một ý nghĩa to lớn còn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, GD và phát triển.

Phân môn Tập đọc có tính chất thực hành. Bởi vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của DH Tập đọc là hình thành năng lực đọc cho HS. Năng lực đọc được tạo nên từ các kĩ năng bộ phận của “đọc” là đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc hiểu (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc) và đọc diễn cảm. Các kĩ năng này được hình thành từ hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau. Trong đó, rèn đọc thành tiếng theo các mức độ từ thấp đến cao như đọc đúng; đọc rõ ràng, rành mạch; đọc lưu loát, trôi chảy; đọc diễn cảm. Đọc diễn cảm là sự tổng hợp của tất cả các mức độ đọc làm nổi bật ý nghĩa, tình cảm mà tác giả gửi gắm trong bài. Rèn đọc thầm nhằm giúp HS đọc nhanh, mau hiểu nội dung đọc hơn. Rèn đọc thầm phải gắn với một yêu cầu nhất định để buộc HS phải tập trung đọc.

Nhiệm vụ thứ hai của dạy đọc là GD lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen làm việc với VB, làm việc với sách cho HS. Làm cho sách được tôn kính trong trường học, đó là một trong những điều kiện để trường học thực sự trở thành trung tâm văn hoá. Nói cách khác, thông qua việc dạy đọc, phải làm cho HS thích thú đọc và thấy được khả năng đọc là có lợi ích cho các em trong cả cuộc đời, thấy được đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển.

Nhiệm vụ thứ ba là trau dồi kiến thức văn học, kiến thức ngôn ngữ và kiến thức đời sống cho HS. Dạy tập đọc phải thông qua nhiều loại VB khác nhau. Các VB tập

đọc chứa đựng nhiều mặt kiến thức văn hoá của nhân loại và dân tộc. Do vậy thông qua tập đọc có thể trau dồi kiến thức nhiều mặt cho HS như kiến thức văn học, kiến thức ngôn ngữ và kiến thức về đời sống.

Nhiệm vụ thứ tư là GD thẩm mỹ, tình cảm tư tưởng và phát triển tư duy cho HS. Bởi vì học tập đọc, HS được tiếp xúc với vẻ đẹp của văn chương thông qua các VB nghệ thuật. Đó là cơ hội để HS được GD về tình cảm thẩm mỹ, tư tưởng và phát triển tư duy trừu tượng. Khi học các VB nghệ thuật, cần làm cho HS xúc động với vẻ đẹp của văn chương, nhận thức được tình cảm yêu thương con người và cuộc sống mà tác giả gửi gắm trong bài đọc…

Như vậy, nhiệm vụ của phân môn Tập đọc nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu của môn học là phát triển các kĩ năng đọc, nghe và nói cho HS; đồng thời trau dồi vốn tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết của HS về cuộc sống;

Qua đó bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng, tình yêu cái đẹp, cái thiện và thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống, hứng thú đọc sách và yêu thích tiếng Việt. Với nhiệm vụ trên, phân môn Tập đọc có nhiều thuận lợi cho việc GDVHƯX cho HS theo hướng tích hợp cung cấp kiến thức, hình thành kĩ năng và phát triển năng lực.

1.1.3.2. Nội dung giáo dục văn hoá ứng xử trong dạy học Tập đọc

DH theo hướng tích hợp GDVHƯX là định hướng quan trọng được Bộ GD - ĐT chỉ đạo phải tích cực triển khai nhân rộng ở tất cả các cấp học, được coi là phương thức hiệu quả nhất để thực hiện DH phát triển năng lực và phẩm chất của HS.

GDVHƯX qua DH một số bài tập đọc ở Tiểu học thực chất là đề cập đến các giá trị, chuẩn mực văn hóa điều chỉnh nhận thức, thái độ, hành vi, tác phong, cử chỉ, lời nói của HS trong giao tiếp với mọi người xung quanh gắn với chủ điểm phù hợp với lứa tuổi.

Đó là yếu tố rất quan trọng để rèn luyện nhân cách và GD HS. Tuy nhiên do điều kiện thời gian và năng lực có hạn, trong đề tài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ ứng xử của HS thông qua một số bài tập đọc ở lớp 2 gắn với các chủ điểm như sau:

- Quan hệ ứng xử của HS đối với bản thân, thông qua chủ điểm: "Em là học sinh" để xem xét trên các phương diện: em cần tích cực rèn luyện phẩm chất đạo đức, có lối sống trung thực và khiêm tốn; chăm chỉ lao động, làm việc, chấp hành tốt pháp luật, quy định về trật tự, an toàn xã hội, an toàn giao thông.

Ví dụ Bài Tập đọc “Làm việc thật là vui” (TV2, T1, tr.16) HS thấy được xung quanh em, mọi vật, mọi người đều làm việc. Có làm việc thì mới có ích cho gia đình, xã hội. Làm việc tuy vất vả, bận rộn nhưng công việc sẽ mang lại cho ta hạnh phúc, niềm vui rất lớn.

- Quan hệ ứng xử của HS đối với gia đình, thông qua các chủ điểm: “Ông bà”,

“Cha mẹ”, “Anh em”. Qua đó nhấn mạnh: ứng xử trong xưng hô, mời, gọi đảm bảo sự kính trọng, lễ phép, thương yêu, quan tâm đến mọi người trong gia đình. Chẳng hạn như khi đi đâu phải xin phép cha, mẹ; khi người lớn hỏi phải trả lời lễ phép, nhẹ nhàng, rõ ràng; anh em đoàn kết, biết thương yêu, nhường nhịn.

Ví dụ bài Tập đọc “Thương ông” (TV2, T1, tr.83), HS sẽ thấy một cậu bé còn nhỏ nhưng đã biết thương ông, biết giúp đỡ an ủi ông khi ông đau ốm từ đó HS học được cách ứng xử với ông bà như cậu bé đối xử với ông của mình. Bài Tập đọc “Bông hoa niềm vui” (TV2, T1, tr.104) HS thấy được bạn Chi là một cô bé hiếu thảo vì bố của Chi đang nằm viện nên em muốn đem tặng bố mình một bông hoa Niềm Vui để bố dịu cơn đau nhưng Chi không dám tự ý hái bông hoa vì đó là vi phạm nội quy chung.

Qua đó các em học được ở Chi phẩm chất hiếu thảo, tôn trọng quy định chung, thật thà. Với bài Tập đọc “Hai anh em” (TV2, T1, tr.1) ở chủ điểm Anh em, HS thấy được hai anh em rất thương yêu nhau, luôn lo lắng cho nhau, hai anh em đều muốn nhường phần hơn cho nhau qua đó HS học tập được trong truyện ở hai nhân vật cách xử của bản thân với anh em trong gia đình.

- Quan hệ ứng xử của HS đối với cộng đồng, xã hội (thầy cô, bạn bè) thông qua chủ điểm: “Bạn bè”, “Trường học”, “Thầy cô”. Với chủ điểm bạn bè nhấn mạnh khía cạnh như tôn trọng bạn bè, biết chia sẻ, động viên, giúp đỡ bạn bè vươn lên trong học tập, cuộc sống và rèn luyện; không được bao che khuyết điểm cho bạn; không được có những hành động phân biệt đối xử, vu khống, nói xấu bạn bè; giữ gìn mối quan hệ bình đẳng, trong sáng với bạn bè;... Ví dụ bài Tập đọc “Bạn của Nai Nhỏ” (TV2, T1, tr.22) HS đã thấy được một người sẵn lòng giúp người, cứu người là người bạn tốt, đáng tin cậy như bạn Dê Non từ đó HS học tập bạn Dê Non. Còn ở bài “Bím tóc đuôi Sam” (TV2, T1, tr.31) HS thấy được bạn Tuấn vừa có điểm đáng chê vừa có điểm đáng khen. Đáng chê vì đùa nghịch quá trớn, làm bạn gái phát khóc. Đáng khen vì khi thầy giáo phê bình đã nhận ra lỗi lầm của mình và chân thành xin lỗi bạn. Từ đó HS học tập điểm đáng khen và không mắc phải điểm đáng chê của bạn Tuấn, biết được

cách ứng xử đối với bạn bè.Với chủ điểm thầy cô, cán bộ công nhân viên nhấn mạnh ở phương diện như có thái độ tôn trọng, lễ phép với thầy cô giáo, các cô bác nhân viên nhà trường: trong việc chào hỏi, xưng hô với thầy cô giáo, nhân viên trong nhà trường thể hiện sự kính trọng, lịch sự, lễ phép; không vô lễ với thầy, cô và người lớn tuổi. Với chủ điểm Thầy cô, ở bài Tập đọc “Người thầy cũ” (TV2, T1, tr.56) - kể chuyện một chú bộ đội chính là bố của Dũng về thăm lại thầy giáo cũ, khi gặp lại thầy giáo cũ bố Dũng lễ phép chào thầy qua đó HS hiểu được cần phải nhớ ơn, kính trọng và yêu quý thầy cô giáo.

Trên đây là những nội dung GDVHƯX trong DH Tập đọc nói chung và ở lớp 2 nói riêng, học theo hướng tích hợp các chủ điểm sẽ giúp cho HS quan tâm hơn đến con người và xã hội ở xung quanh mình, việc học gắn liền với cuộc sống đời thường là yếu tố để các em học tập. Muốn thực hiện được điiều đó, mỗi GV cần nhận thức đúng đắn hơn về tầm quan trọng của việc GDVHƯX cho HS trong việc thực hiện mục tiêu GD nhân cách cho HS. Bên cạnh việc tìm biện pháp để rèn kĩ năng ứng xử cho HS, GV cần tôn trọng ý kiến của từng cá nhân HS; luôn lắng nghe và cùng chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống của HS; ứng xử thân thiện, gần gũi và không phân biệt đối xử đối với HS. GV luôn phải là tấm gương sáng, mẫu mực về đạo đức, tác phong để HS noi theo.

Một phần của tài liệu Đề-tài-SV-đã-sửa-8.6.2021 (Trang 35 - 39)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(135 trang)
w