Khơi gợi hứng thú chiếm lĩnh tri thức trong giờ học Tập đọc cho học sinh

Một phần của tài liệu Đề-tài-SV-đã-sửa-8.6.2021 (Trang 52 - 56)

CHƯƠNG 2. BIỆN PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 2

2.2.1. Khơi gợi hứng thú chiếm lĩnh tri thức trong giờ học Tập đọc cho học sinh

Hứng thú học tập được biểu hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê hấp dẫn bởi nội dung hoạt động học nào đó. Có hứng thú khi tiếp xúc với VB, HS mới tập trung, cố gắng luyện tập để cảm nhận những giá trị nhân văn, thẩm mĩ của bài đọc. Vì vậy, khơi gợi hứng thú trong giờ tập đọc cho HS nhất là HS lớp 2 có ý nghĩa rất quan trọng và là một công việc cần thiết trong quá trình dạy đọc.

Muốn xây dựng các biện pháp, hình thức tích hợp GDVHƯX trong DH phân môn tập đọc cho HS lớp 2 có hiệu quả, trước tiên GV cần có biện pháp khơi gợi hứng thú chiếm lĩnh tri thức trong giờ học Tập đọc cho HS. Để làm được điều đó, GV cần nghiên cứu nội dung bài đọc để xác định đúng khả năng tích hợp, nội dung và phạm vi tích hợp với đối tượng HS. Điều này đòi hỏi GV cần biết cách khơi gợi, kích thích hứng thú ở HS từ nhiều biện pháp và PPDH khác nhau như: sử dụng câu hỏi, sử dụng tranh hay trình chiếu, lựa chọn VB tích hợp phù hợp với tâm lí lứa tuổi, tổ chức cho HS thảo luận… Ví dụ dạy bài “Cây hoa bên lăng Bác” (tuần 31), GV có thể sử dụng tranh, hình ảnh cây hoa, lăng Bác nhằm giúp HS trả lời câu hỏi trong SGK: Kể tên những loài cây được trồng phía trước lăng Bác? kể tên những loài hoa nổi tiếng ở khắp miền đất nước được trồng quanh lăng Bác? câu văn nào cho thấy cây và hoa cũng mang tình cảm của con người đối với Bác? đây là những câu hỏi không dễ trả lời nếu như không có hình ảnh để gợi ý HS. Do đó GV cần gợi ý câu trả lời để HS không cảm thấy “khó” hoặc bình giản sáng tạo gợi mở hướng tích cực cho HS giúp các em lĩnh hội nội dung bài đọc một cách tự tin, hứng thú.

Trong giờ học Tập đọc GV cần tạo được sự thoải mái trong suốt giờ học và phải hướng đến và duy trì hứng thú học tập cho HS từ bắt đầu đến kết thúc bài đọc.

Muốn vậy, GV phải luôn tôn trọng ý kiến trả lời của HS không nên gò ép HS vào khuôn phép cứng nhắc. Khuyến khích cho điểm động viên HS một cách tế nhị, hợp lí.

Từ đó sẽ tạo cho HS được niềm tin vào khả năng của bản thân. Thiết lập được mối quan hệ hợp tác tích cực giữa thầy và trò. Hình thức tổ chức DH hấp dẫn bầu không khí thân ái hữu nghị trong giờ học.

Tạo hứng thú học tập ở đầu tiết học, bằng cách làm cho HS nhận thức được mục tiêu, lợi ích của bài học. Mỗi bài cụ thể, GV cần giúp HS nhận ra tính lợi ích của nội dung nào đó. Cụ thể là sau khi học xong bài học các em sẽ lĩnh hội được gì và nếu như không học chúng sẽ không có những gì. Có như thế HS mới nỗ lực và chủ động tìm tòi và nỗ lực hơn. GV cần đảm bảo nguyên tắc hệ thống trong DH, giúp HS dễ dàng liên kết các nội dung liên quan và vận dụng chúng tốt hơn vào thực tiễn.

Tạo hứng thú có thể bằng lời vào bài hấp dẫn trước khi cho HS tiếp cận bài Tập đọc. Ví dụ, khi dạy bài “Chim rừng Tây Nguyên” (TV2, T2, tr.34) GV giới thiệu ngắn gọn vào bài để khơi gợi hứng thú cho HS: Quanh hồ Y - rơ - pao ở Tây Nguyên có rất nhiều loài chim đẹp với nhiều màu sắc rất hay. Để biết được vẻ đẹp của các loài chim này, trong tiết học ngày hôm nay cô và các con sẽ cùng nhau học bài “Chim rừng Tây Nguyên”. Ngoài ra để duy trì hứng thú của HS trong giờ học GV phải giúp các thấy được sự thú vị vẻ đẹp và khả năng kì diệu của chính ngữ liệu học tập. Hứng thú của HS được khơi dậy từ việc chỉ ra được vẻ đẹp của một từ, một câu, một đoạn có trong bài đọc. Từ đó chỉ ra được ý nghĩa nội dung để GD HS, làm sao để các em vận được những kiến thức bổ ích học được sau mỗi bài vào trong thực tiễn cuộc sống.

Mặt khác trong DH bài Tập đọc, GV cần xuất phát từ giọng đọc diễn cảm.

Giọng đọc diễn cảm là nhân tố quan trọng trong việc truyền tải tư tưởng, tình cảm của tác giả đến người nghe. Bằng cách tổ chức DH truyền cảm hứng, HS sẽ tự giác, tích cực học tập hơn.

Tạo hứng thú có thể bằng cách đưa HS vào những trải nghiệm để tiếp nhận kiến thức mới. GV cần phải tìm hiểu vốn kinh nghiệm và những hiểu biết sẵn có của HS trước khi học một kiến thức mới và tổ chức cho HS trải nghiệm, những trải nghiệm của HS là yếu tố quyết định trong việc hình thành kiến thức mới.

Ngoài ra, hứng thú của HS trong giờ học tập đọc còn được tạo ra bởi phương pháp đọc phân vai do GV tổ chức trong giờ học. Đọc phân vai là cho HS đóng vai các nhân vật trong VB (truyện) để đọc. Phương pháp này giúp HS tái hiện lại lời thoại

nhân vật một cách cụ thể, làm câu chuyện hấp dẫn sinh động hơn, giúp các em hóa thân vào nhân vật, dễ dàng xác định lời thoại nhân vật, tính cách nhân vật qua giọng điệu. Đây cũng là cơ sở để GDVHƯX cho HS một cách tự nhiên và hiệu quả. Để thực hiện phương pháp này, GV cần phân vai rõ ràng, phù hợp với lứa tuổi HS. Ở đây, GV là người có vai trò quyết định trong việc phát hiện, hình thành, bồi dưỡng năng lực giao tiếp cho HS.

Để thực hiện biện pháp này GV có thể tiến hành theo các bước như sau:

Bước 1: Tạo hứng thú học tập ở đầu tiết học (bước khởi động).

Kết quả cần đạt ở bước này là kích thích tính tò mò, khơi dạy hứng thú của HS về chủ đề sẽ học; HS cảm thấy vấn đề nêu lên rất gần gũi với mình. Đồng thời tạo được không khí lớp học vui, tò mò, chờ đợi, thích thú.

Cách làm: GV có thể đặt câu hỏi; đố vui; kể chuyện; đặt một tình huống; tổ chức trò chơi... Có thể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ, hoặc cá nhân từng HS. (VD:

Hát bài hát về thầy cô trước khi học bài “Cô giáo lớp em”;…

Bước 2: Tạo hứng thú học tập qua tổ chức cho HS trải nghiệm

Đây là quá trình huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm có sẵn của HS để chuẩn bị học bài mới. GV phải tạo được niềm tin tình cảm thực sự từ HS dành cho GV.

Kết quả cần đạt ở bước này là huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm có sẵn của HS để chuẩn bị học bài mới. HS trải qua tình huống có vấn đề, trong đó chứa đựng những nội dung kiến thức, những thao tác, kỹ năng để làm nảy sinh kiến thức mới.

Cách làm: Tổ chức các hình thức trải nghiệm gần gũi với HS. Có thể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ hoặc cá nhân từng HS. Ví dụ, trong DH bài Tập đọc “Làm việc thật là vui” (Tiếng Việt 2, tập 1, tr.26): GV có thể yêu cầu HS trả lời một số câu hỏi bên cạnh những câu hỏi chính: Em thấy cha mẹ và những người em biết làm những công việc gì? Ở nhà em đã làm những công việc gì để giúp đỡ bố mẹ? Khi làm được công việc nào đó em có thấy vui không? Đây là những câu hỏi đưa HS vào “trải nghiệm” vừa giúp các em có thể nêu những suy nghĩ, trình bày tình cảm, vừa tái dẫn dắt HS tiếp nhận kiến thức mới trong bài đọc… Do đó mà thu hút sự tập trung, hứng thú của các em.

Bước 3: Phân tích - Khám phá - Rút ra kiến thức mới (hướng dẫn HS tìm hiểu bài) Đây là quá trình xem xét, nhìn nhận, tìm hiểu đối tượng, sự việc, phát hiện đặc điểm, ý nghĩa của chúng, trên cơ sở đó tìm tòi, khám phá ý tưởng mới; Rút ra bài học:

đúc rút thành bài học hay thực hành mới .

Kết quả cần đạt ở bước này là huy động vốn hiểu biết hoặc thực hành mới.

Cách làm: Dùng các câu hỏi gợi mở, câu hỏi phân tích, đánh giá để giúp HS thực hiện tiến trình phân tích và rút ra bài học. Ví dụ, DH bài tập đọc “Cháu nhớ Bác Hồ” (Tiếng Việt 2, tập 2, tr.105), GV đặt câu hỏi: Câu chuyện kể về ai? Tình cảm của Bác đối với thiếu nhi như thế nào? Và tình cảm của thiếu nhi đối với Bác như thế nào?

Thể hiện ra sao? Các em hãy tự tìm lời giải đáp qua bài thơ “Cháu nhớ Bác Hồ”?

Có thể sử dụng các hình thức thảo luận cặp đôi, thảo luận theo nhóm, hoặc các hình thức sáng tạo khác nhằm kích thích tính tò mò, sự ham thích tìm tòi, khám phá, phát hiện của HS...

Bước 4. Thực hành, vận dụng Kết quả cần đạt ở bước này là:

- HS nhớ dạng cơ bản một cách vững chắc; làm được các bài tập áp dụng dạng cơ bản.

- HS củng cố, nắm vững các nội dung kiến thức trong bài đã học.

- HS biết vận dụng kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới, đặc biệt trong những tình huống gắn với thực tế đời sống hàng ngày.

- Cảm thấy tự tin khi lĩnh hội và vận dụng kiến thức mới.

Cách làm: Thông qua việc trả lời câu hỏi để HS rèn luyện việc nhận dạng, áp dụng. GV quan sát, giúp HS nhận ra những khó khăn của mình, nhấn mạnh lại thao tác, cách thực hiện. Có thể giao bài tập áp dụng cho cả lớp, cho từng cá nhân hoặc theo nhóm, theo cặp đôi, theo bàn, theo tổ HS. Cụ thể:

- HS thực hành, vận dụng từng phần, từng đơn vị kiến thức cơ bản của nội dung bài đã học.

- GV giúp HS thấy được ý nghĩa thực tế của các tri thức ngôn ngữ tiếng Việt...

Từ đó khắc sâu kiến thức đã học.

- Khuyến khích HS diễn đạt theo ngôn ngữ, cách hiểu của chính các em.

Khuyến khích HS tập phát biểu, tập diễn đạt bước đầu có lý lẽ, có lập luận.

Ví dụ, DH bài Tập đọc “Bạn của Nai Nhỏ” (Tiếng Việt 2, tập 1, tr.22): HS dựa vào kiến thức đã nắm bắt được từ câu hỏi 1 và 2 (kể về chú Nai Nhỏ muốn đi chơi xa cùng bạn) để thực hiện trả lời câu hỏi 3 và 4 trong bài. HS nêu ý kiến cá nhân kèm lời giải thích. GV giúp HS nhận thức được: đặc điểm “dám liều mình vì người khác” đó là

đặc điểm của một người vừa dũng cảm, vừa tốt bụng. HS trả lời câu hỏi 4: Theo em, người bạn tốt là người như thế nào? Em đã làm gì để giúp đỡ bạn của mình?

Thực hiện bước 4, GV cần chú ý thiết kế các hoạt động thực hành đa dạng gắn với việc giải quyết nhu cầu thiết thực trong đời sống để HS nhận biết giá trị của tri thức kết hợp với vận dụng một số hình thức tổ chức học tập tạo hứng thú như: Tổ chức trò chơi học tập, tổ chức hoạt động học theo nhóm, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học, sử dụng lời khen hợp lí... Đây là những hình thức vừa tạo được môi trường giao tiếp ứng xử, vừa khích lệ và thu hút HS tham gia tích cực.

Qua đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả DH Tập đọc và GD trí tuệ, thẩm mĩ cho HS.

Như vậy, có rất nhiều biện pháp để tạo hứng thú trong giờ học Tập đọc cho HS. Có biện pháp xuất phát từ chính nội dung hấp dẫn và thiết thực của VB, có biện pháp do GV tác động bằng giọng đọc và lời giảng diễn cảm, có biện pháp xuất phát từ sự tương tác giữa thầy - trò (đàm thoại), có biện pháp tác động từ trực quan, trải nghiệm... Vấn đề đặt ra là trong DH Tập đọc đòi hỏi GV cần biết cách vận linh hoạt, hợp lý các biện pháp đó để tạo được sự say mê cần thiết, giúp HS tự giác nhận thức khi tiếp xúc với VB.

2.2.2. Tích hợp giáo dục văn hóa ứng xử theo hai phương thức “khai thác trực tiếp”

Một phần của tài liệu Đề-tài-SV-đã-sửa-8.6.2021 (Trang 52 - 56)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(135 trang)
w