CHƯƠNG 2. BIỆN PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 2
2.2.3. Vận dụng linh hoạt đa dạng các phương pháp tích cực
PPDH chính là cách thức làm việc (sự tương tác) giữa GV và HS, nhằm đạt được các mục tiêu của việc DH, ở trong những điều kiện DH nhất định.
Thuật ngữ PPDH tích cực dùng để chỉ những PPDH hay GD theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.
PPDH tích cực hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, tập trung vào phát huy tính tích cực của người học.
Tuy nhiên để DH theo phương pháp tích cực thì GV cần vận dụng linh hoạt, sáng tạo các PPDH tích cực như: phương pháp đàm thoại, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp giảng giải, phương pháp kể chuyện, phương pháp đóng vai, phương pháp trò chơi học tập. Để hiểu hơn về các phương pháp này nhóm đề tài chúng tôi đã tìm hiểu và đi sâu vào từng phương pháp cụ thể như sau:
2.2.3.1. Phương pháp đàm thoại a) Bản chất
Đây là phương pháp mà trong đó GV đặt ra câu hỏi để HS trả lời, hoặc HS có thể tranh luận, thảo luận với nhau và với cả GV; qua đó HS chiếm lĩnh được nội dung bài học sâu sắc hơn.
DH theo hướng tích hợp GDVHƯX GV cần chú ý các loại câu hỏi như: Hỏi để tìm hiểu ý nghĩa xã hội, giá trị nhân văn của tác phẩm; hỏi để rèn kĩ năng diễn đạt cảm xúc. Do đó, một trong yêu cầu quan trọng là khi xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập trong dạy bài tập đọc, GV cần xác định rõ mục đích câu hỏi (là cung cấp kiến thức hay rèn luyện kĩ năng gì?) và diễn đạt yêu cầu rõ ràng, dứt khoát.
Phương pháp đàm thoại là phương pháp mà GV căn cứ vào nội dung bài học khéo léo đặt ra câu hỏi, để HS căn cứ vào kiến thức đã có, kết hợp với sự hướng dẫn của GV qua các thiết bị giảng dạy để làm sáng tỏ vấn đề, tìm ra những tri thức mới, nhằm củng cố, mở rộng, đào sâu những tri thức đã tiếp thu được, từ đó tổng kết hệ thống hóa tri thức.
b) Cách thực thức hiện
Vận dụng phương pháp này, GV có thể tiến hành theo 3 bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị:
- Lựa chọn hình thức đàm thoại: Đàm thoại giữa GV với HS hay đàm thoại giữa HS với HS.
- Mục đích của đàm thoại
- Lựa chọn nội dung, câu hỏi có liên quan đến bài học.
- GV dự kiến các trường hợp có thể xảy ra.
Bước 2: Tiến hành đàm thoại:
- Giới thiệu về vấn đề đàm thoại.
- GV hướng dẫn HS đàm thoại.
- GV và HS tiến hành đàm thoại.
Bước 3: Kết luận:
- HS đưa ra kết luận của mình.
- GV tổng kết đưa ra kết luận.
Tùy theo yêu cầu sư phạm GV có thể sử dụng 3 hình thức đàm thoại.
Thứ nhất: Đàm thoại tái hiện.
GV đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Phương pháp này thường được dùng khi đặt mối liên hệ giữa kiến thức đã học với kiến thức sắp học hoặc khi cần củng cố kiến thức đã học.
Như vậy đàm thoại tái hiện chỉ huy động trí nhớ đơn giản, chỉ tái hiện lại kiến thức để trả lời câu hỏi. Do đó các câu hỏi trong phương pháp này có tính liên kết không chặt chẽ, chưa có tính hệ thống.
Ví dụ 1: Trong giờ kiểm tra bài cũ GV yêu cầu HS: Tìm những hình ảnh đẹp nói về cô giáo dạy em viết trong khổ thơ 2, bài tập đọc: “Cô giáo lớp em” (TV 2, tập 1, Tr.60):
“Cô dạy em tập viết
Gió đưa thoảng hương nhài Nắng ghé vào cửa lớp Xem chúng em học bài”
HS nhớ lại kiến thức, tái hiện lại những hình ảnh đẹp trong lúc cô dạy em viết và trả lời yêu cầu của GV. Từ đó các em biết cách ứng xử với những người xung quanh và với bản thân mình.
Thứ hai: Đàm thoại giải thích minh họa.
Nhằm mục đích làm sáng tỏ một vấn đề nào đó GV lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để giúp HS dễ nhớ dễ hiểu. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn. Phương pháp này phải sử dụng một hệ thống câu hỏi liên kết chặt chẽ với nhau (Có câu hỏi chính, có câu hỏi phụ).
Ví dụ 2: Trong lớp 2A có nhiều HS chữ viết còn xấu, viết ẩu GV ứng dụng vào những kiến thức trong các bài Tập đọc đã học để GD các em tính kiên trì, nhẫn nại…
để sửa chữa thói quen của mình bằng cách đưa ra câu hỏi: Trong bài “Quyển sổ liên lạc” (Tiếng việt 2, Tập 2, Tr.119-120): Trong sổ liên lạc cô giáo nhắc Trung điều gì?
Bố đưa quyển sổ liên lạc cũ cho Trung xem để làm gì?
HS dựa vào thông tin trong bài đọc để trả lời câu hỏi của GV. Từ đó GD hành vi tạo điều kiện để phát triển kỹ năng cho học sinh, các em có tinh thần trách nhiệm đối với bản thân mình.
Thứ ba: Đàm thoại tìm tòi - phát hiện.
GV dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng dẫn HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, kích thích ham muốn hiểu biết. GV tổ chức sự trao đổi ý kiến (kể cả tranh luận) giữa GV với cả lớp, giữa các thành viên trong lớp.
GV đóng vai trò là người tổ chức sự tìm tòi, HS mới là người tự lực phát hiện kiến thức mới. Khi kết thúc cuộc đàm thoại HS có được niềm vui, hứng khởi của sự khám phá. trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy.
Ví dụ 3: Khi dạy bài “Ngôi trường mới” (TV2, T1, Tr.50) GD các em tình cảm yêu mến, tự hào của các em HS với ngôi trường mới, với thầy cô giáo, bạn bè và mọi đồ vật trong trường. GV đưa ra các câu hỏi liên hệ thực tế để khơi gợi tính tò mò, tìm tòi, phát hiện của HS. Học xong bài tập đọc em cần làm gì để trở thành HS ngoan, nghe lời thầy cô giáo, quý mến bạn bè? Từ đó tích hợp GDVHƯX cho trẻ đối với môi trường xã hội.
c) Ưu điểm và hạn chế
* Ưu điểm:
- Đó là một cách có hiệu quả để điều khiển hoạt động tư duy của học sinh, kích thích tính tích cực hoạt động nhận thức.
- Bồi dưỡng cho HS năng lực diễn đạt bằng lời những vấn đề khoa học một cách chính xác đầy đủ gọn gàng.
- Giúp GV thu hút được tín hiệu ngược lại từ HS một cách nhanh chóng để kịp thời điều chỉnh hoạt động của mình. Thông qua đó GV vừa có khả năng chỉ đạo nhận thức toàn lớp vừa chỉ đạo nhận thức của từng HS.
* Nhược điểm:
Nếu GV chưa có nghệ thuật tổ chức, điều khiển phương pháp đàm thoại sẽ không tránh khỏi một số hạn chế sau:
Dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng tới việc thực hiện kế hoạch bài học.
Có thể biến đàm thoại thành cuộc tranh luận giữa GV và học sinh, giữa các thành viên của lớp với nhau.
* Cách khắc phục:
GV cần phải đặt những câu hỏi rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu. Hệ thống câu hỏi phải logic phù hợp với nội dung bài học. Câu hỏi phải phù hợp với trình độ nhận thức của HS và kích thích được sự suy nghĩ tìm tòi của học sinh. Tránh đặt những câu hỏi chung chung, quá dễ hoặc quá khó hoặc trong đó đã có sẵn câu trả lời.
Cần tránh đặt những câu hỏi yêu cầu HS đoán mò hoặc chỉ trả lời có hoặc không. Từ đó rèn cho HS biết cách trả lời thành câu tương đối hoàn chỉnh với vốn từ của các em.
Phát triển cho các em kỹ năng giao tiếp, ứng xử với từng trường hợp của đời sống và thế giới xung quanh.
Như vậy sử dụng câu hỏi sẽ cuốn hút HS vào việc phân tích, đánh giá các giá trị văn hóa trong bài Tập đọc một cách tích cực, làm cho tiết học không bị nhàm chán.
Biện pháp này rất quan trọng để tạo hứng thú học tập cho HS nhất là đối với HS ở trường Tiểu học và Trung học cơ sở Nà Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (HS dân tộc thiểu số chiếm hơn 80%), trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với bài tập đọc cũng chính là tự rèn luyện mình để có nhận thức đúng, tình cảm đẹp, từ đó đến với bài học một cách tự giác, say mê; đây là yếu tố quan trọng để HS khám phá và thưởng thức cái hay, cái đẹp được thể hiện trong mỗi bài đọc.
2.2.3.2. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề a) Bản chất
Phương pháp tạo lập tình huống là PPDH GV hoặc HS tạo ra những tình huống có vấn đề, GV điều khiển HS hay HS tự phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề, thông qua đó nắm được kiến thức mới lẫn phương pháp đi tới kiến thức đó, đồng thời phát triển tư duy, sáng tạo và hình thành thế giới quan khoa học, tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lí xuất hiện khi con người gặp phải những khó khăn mà họ thấy cần thiết và có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc bằng những hiểu biết vốn có, bằng cách đã biết mà đòi phải lĩnh hội tri thức mới và cách thức hoạt động mới, phải trải qua một quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có.
b) Cách thực thức hiện
Có nhiều cách phân chia DH tạo lập tình huống thành nhiều bước khác nhau.
Tuy nhiên các cách phân loại đều thống nhất có hai khâu then chốt đó là: xây dựng tình huống có vấn đề và giải quyết vấn đề. Từng khâu lại bao gồm các bước nhỏ.
Bước 1: Trước tiên là xây dựng tình huống có vấn đề, xác định mục tiêu bài học và cân nhắc các yếu tố khách quan.
Xác định mục tiêu bài học là yêu cầu đầu tiên có giá trị định hình chất lượng của tình huống đó. Trong giảng dạy, mọi hoạt động giảng dạy đều nhằm định hướng tới là mục tiêu bài học. Chính vì thế mà người GV luôn phải đặt cho mình câu hỏi “ở bài học này cần phải đạt được mục tiêu gì, phải cung cấp cho người học những kiến thức gì và rèn luyện cho HS những kỹ năng cần thiết gì?”. Có như vậy tình huống đó mới có giá trị, tránh trường hợp lan man, khi thảo luận tình huống sẽ rơi vào “nói chuyện phiếm”.
Khi xây dựng tình huống có vấn đề để dạy HS, GV cần chú ý đến các yếu tố khách quan như: Thời gian, dung lượng bài học, chất lượng HS, cơ sở vật chất…
Những yếu tố này có thể quyết định trực tiếp đến sự thành công của tình huống.
Bước 2: Chuẩn bị tình huống.
Hình thành ý tưởng nội dung có vấn đề là khâu rất quan trọng khi xây dựng tình huống. Đối với môn Tiếng Việt nhất là trong phân môn tập đọc khi xây dựng tình huống GV có thể hướng đến một số vấn đề sau:
Liên hệ thực tế, các chủ điểm có liên quan để làm nổi bật nội dung của tình huống.
Làm nổi bật giá trị nghệ thuật của VB.
Từ nội dung của VB liên hệ đến các vấn đề thực tiễn.
Khai thác những mâu thuẫn, các góc nhìn đa chiều liên quan đến bài học.
Chú ý đến tính “mở”, “khoảng trống” của VB.
Ví dụ: Thể loại: Thơ.
Bài “Bé nhìn biển” (Tiếng việt 2, Tập 2, tr.65) GV yêu cầu HS đọc, tìm hiểu nội dung của bài và tìm ra những hình ảnh cho thấy biển giống như trẻ con? GV đưa ra tình huống: Trong mắt bé biển to và rộng mà ngộ nghĩnh như trẻ con, em nghĩ sao về điều này? HS tìm tòi, suy nghĩ đưa ra các hình ảnh, giả thiết để giải quyết tình huống.
Thể loại: Truyện.
Truyện cổ tích Việt Nam: “Sơn Tinh, Thủy Tinh” (Tiếng việt 2, Tập 2, tr.61)
“Có hai vị thần tới cầu hôn Mị Nương là Sơn Tinh, Thủy Tinh. Cả hai sắm lễ vật theo yêu cầu của Hùng Vương nhưng Thủy Tinh mang đến sau không lấy được Mị Nương đùng đùng tức giận. Chàng hô mưa gọi gió dâng nước lên cuồn cuộn, nhằm nhấn chìm Sơn Tinh. Sơn Tinh hóa phép bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi, chặn đứng dòng nước của Thủy Tinh. Cuối cùng Thủy Tinh đuối sức đành ngậm đắng nuốt cay rút lui.”
Qua nội dung câu chuyện này nói lên điều gì là có thật? Liên hệ vào thực tế các em thấy hàng nghìn năm nay nhân dân ta đã phòng chống lũ lụt như thế nào? Vận dụng những kiến thức đã có HS giải quyết tình huống và đưa ra các cách giải thích phù hợp.
Thể loại: Văn.
Bài “Bạn của Nai Nhỏ” (Tiếng việt 2, Tập 1, tr.22-23) Nai Nhỏ đã kể cho bố nghe những hành động của bạn mình. “Bạn lấy vai hích đổ hòn đá chắn ngang lối đi, nhanh trí kéo Nai Nhỏ chạy trốn khỏi con Hổ hung dữ đang rình mồi sau bụi cây, lao vào Sói, dùng gạc húc Sói ngã ngửa để cứu Dê Non.” Mỗi hành động của bạn Nai Nhỏ đều nói lên một điểm tốt của bạn ấy. Em thích nhất điểm nào? Theo em người bạn tốt là người như thế nào? Từ nội dung của bài tập đọc GV đưa ra tình huống để HS vận dụng các kiến thức đã có để giải quyết tình huống.
c) Ưu điểm, hạn chế
* Ưu điểm:
- Kích thích hứng thú học tập của HS, các em được rèn luyện kỹ năng trình bày, thảo luận, tranh luận các vấn đề đặt ra trong VB.
- Tạo hứng thú cho HS đặc biệt các em rất hào hứng khi tiếp nhận các vấn đề có tính chất đa chiều.
- Giúp các em liên hệ vào thực tế đời sống và rút ra những bài học cho riêng mình.
- Các tình huống có vấn đề sẽ là ngữ liệu cho GV trong việc sử dụng các biện pháp DH tích cực khác: Tổ chức hoạt động tranh luận, DH theo mô hình lớp học đảo ngược… vì thế đây chính là bước đi đúng hướng để kiến thức không còn hàn lâm, sách vở mà nó được sống cùng thời đại trong sự trưởng thành của mỗi HS.
* Nhược điểm:
- Tuy phương pháp này mang lại hiệu quả cao, song đối với những nội dung đơn giản, không có tính vấn đề thì không thể áp dụng PPDH này.
- Ngoài ra PPDH tạo tình huống thường làm cho GV khó chủ động trong việc đảm bảo tiến độ bài học, nhất là khi HS chưa quen với việc học tập chủ động, tích cực
* Cách khắc phục:
Trước hết GV cần nắm vững phương pháp này, đầu tư trí tuệ và thời gian nghiên cứu kĩ bài dạy, tham khảo nhiều tài liệu để xây dựng tình huống có vấn đề, vì đây là khâu then chốt, là điều kiện cần thiết để có thể tiến hành bài dạy. GV cần có kiến thức sâu rộng để không bất ngờ trước các tình huống của HS, có kĩ năng nghề nghiệp thành thạo để có thể dẫn dắt HS trong quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề.
2.2.3.3. Phương pháp giảng giải a) Bản chất
Giảng giải là PPDH, nhằm giúp HS lĩnh hội nội dung tài liệu học bằng cách vạch ra những thuộc tính chủ yếu của đối tượng nghiên cứu, cấu trúc bên trong của nó và những mối liên hệ giữa nó với các đối tượng khác, thông qua các hình thức kể chuyện, đàm thoại, thuyết trình, kèm theo trình bày bằng các phương tiện kĩ thuật DH.
Là một trong những PPDH có hiệu quả cao và tiết kiệm thời gian: giúp HS hình dung một cách nhất quán, logic các tính quy luật phát triển tự nhiên và xã hội các sự kiện, khái niệm khoa học; phát triển tư duy của HS, giúp HS làm quen với các biện pháp hoạt động trí óc như phân tích, tổng hợp, so sánh; có nhiều khả năng thuận lợi để tác động đến tư tưởng và tình cảm của HS. Trong quá trình DH, giảng giải thường kết hợp với giảng thuật.
- Giảng thuật là một trong những phương pháp thuyết trình, trong đó có yếu tố miêu tả, trần thuật. Nó được sử dụng khi miêu tả những thí nghiệm, hiện tượng hoặc trình bày cuộc đời và sự nghiệp của nhà bác học lỗi lạc, những thành tựu nổi tiếng trong khoa học - công nghệ…
- Một trong những phương pháp giảng giải nhằm trình bày một vấn đề hoàn chỉnh có tính chất phức tạp, trừu tượng và khái quát trong một thời gian tương đối dài (30 - 35 phút và hơn thế).
b) Cách thức thực hiện
Khi dùng phương pháp giảng giải để trình bày vấn đề nào đó cũng phải trải qua 3 bước: Đặt vấn đề, giải quyết vấn đề và kết luận rút ra từ vấn đề đó.
Bước 1: Đặt vấn đề.