1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tàng dân tộc việt nam với hoạt động giáo dục văn hóa truyền thống

125 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 478,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại thủ đô Hà Nội - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước - Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam BTDTHVN trong quá trình hoạt động luôn khẳng định vai trò, vị trí, chức năng của mìn

Trang 1

Bộ giáo dục vμ đμo tạo Bộ Văn hóa thông tin

Trường đại học văn hóa Hμ Nội

*********

Phạm Thu Hằng

Bảo tμng Dân tộc học Việt Nam

Với Hoạt động giáo dục văn hóa truyền

thống

Luận văn Thạc sỹ văn hóa học

Hμ Nội - 2005

Trang 2

B¶ng ch÷ viÕt t¾t

1 BTBT B¶o tån - B¶o tµng

2 BTDTHVN B¶o tµng D©n téc häc ViÖt Nam

3 §HVHHN §¹i häc V¨n ho¸ Hµ Néi

Trang 3

Môc lôc

Trang

Trang 4

Chương 2 Thực trạng hoạt động giáo dục văn hóa

truyền thống của BTDTHVN

28 2.1 Văn hóa truyền thống và tầm quan trọng của

việc giáo dục văn hóa truyền thống tại BTDTHVN

2.3 Giáo dục văn hóa truyền thống thông qua

hoạt động hướng dẫn tham quan

46

2.4 Giáo dục văn hóa truyền thống thông qua

các hoạt động khác của bảo tàng

Trang 5

2.4.4 Tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí

56

2.5 Giáo dục văn hóa truyền thống

cho đối tượng công chúng nhỏ tuổi

Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục

văn hóa truyền thống của BTDTHVN

79

3.1 Ưu điểm và hạn chế trong việc thực hiện hoạt động

giáo dục văn hóa truyền thống của BTDTHVN

79

3.1.1 Ưu điểm

79 3.1.2 Một số hạn chế còn tồn tại

82

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục

văn hóa truyền thống của BTDTHVN

85

Trang 6

3.2.3 Đa dạng hoá và nâng cao chất l−ợng hoạt động giáo dục

Trang 7

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Do điều kiện địa lý và hoàn cảnh lịch sử, đất nước Việt Nam đã là nơi hội tụ và phát triển của 54 dân tộc anh em Mỗi dân tộc có sắc thái văn hoá riêng, có quá trình phát triển lâu dài gắn bó với Tổ quốc Việt Nam, tạo dựng một nền văn hoá đa dạng mà thống nhất của cộng đồng dân tộc

Hiện nay, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, xu thế hội nhập vào cộng đồng quốc tế và khu vực đã và đang đặt ra nhiều thách thức đối với sự phát triển văn hoá, trong đó có văn hoá truyền thống của các dân tộc anh em ở Việt Nam Trong chính sách văn hoá, đoàn kết dân tộc, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá tốt

đẹp của các dân tộc ở Việt Nam Nghị quyết Hội nghị lần thứ V - Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VIII) đã quán triệt quan điểm chỉ đạo “Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam” [68, tr 57], đồng thời khẳng định nhiệm vụ “Bảo tồn, phát huy

và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số” [68, tr 65], Do vậy, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc ở Việt Nam

là một nhiệm vụ mang tính cấp thiết, góp phần thực hiện đường lối, chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước

Hệ thống bảo tàng Việt Nam có một vai trò quan trọng trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc, đặc biệt là bảo tàng Dân tộc học Tại thủ đô Hà Nội - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước - Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (BTDTHVN) trong quá trình hoạt động luôn khẳng định vai trò, vị trí, chức năng của mình đối với xã hội thông qua những hoạt động tích cực trong “nghiên cứu, sưu tầm, phân loại,

đánh giá, bảo quản, phục chế, trưng bày, giới thiệu, khai thác các giá trị lịch

sử, văn hoá về phương diện dân tộc học của các dân tộc anh em trong đại gia

Trang 8

đình Tổ quốc Việt Nam” [8, tr 9] Bảo tàng là một thiết chế văn hoá, lưu giữ nhiều thông tin với sự hiện hữu của các hiện vật bảo tàng, các thông tin đó phản ánh và giúp công chúng tìm hiểu, nhận thức về diện mạo văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Chính vì vậy, việc nghiên cứu hoạt động giáo dục văn hoá truyền thống của BTDTHVN có ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và khả năng phục vụ công chúng của thiết chế văn hoá này

Từ cách nhận thức vấn đề như trên, tôi quyết định chọn đề tài “Bảo

tàng Dân tộc học Việt Nam với hoạt động giáo dục văn hoá truyền thống”

làm Luận văn tốt nghiệp Cao học, chuyên ngành Văn hoá học

2 Mục đích nghiên cứu

- Dưới góc độ nghiên cứu của Văn hoá học, xem xét bảo tàng với tư cách một thiết chế văn hoá, một cơ quan giáo dục ngoài nhà trường, Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò của BTDTHVN trong việc lưu giữ và giáo dục văn hoá truyền thống cho công chúng

- Luận văn đi sâu tìm hiểu nội dung, các hình thức thực hiện và hiệu quả của hoạt động giáo dục tại BTDTHVN đã tác động mạnh mẽ đến công chúng trong quá trình nhận thức, hiểu biết về nền văn hoá Việt Nam đa dạng

mà thống nhất, với sự hội tụ những nét văn hóa truyền thống của 54 dân tộc anh em

- Từ thực trạng hoạt động giáo dục của BTDTHVN, Luận văn đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động giáo dục văn hoá truyền thống của BTDTHVN trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá

đất nước

3 Tình hình nghiên cứu

* Một số nhà nghiên cứu Bảo tàng học, Dân tộc học đã có bài viết về vai trò, chức năng giáo dục khoa học của BTDTHVN trên cơ sở phân tích các hoạt động cụ thể của bảo tàng:

Trang 9

- Nguyễn Văn Huy (1999), “Góp phần gìn giữ và phát triển sự đa dạng

của bản sắc văn hoá dân tộc nhìn từ góc độ của loại hình bảo tàng Dân tộc học” [8, tr 45-62], đề cập tới vai trò của bảo tàng Dân tộc học trong chiến

lược giữ gìn sự đa dạng văn hoá của các dân tộc và chức năng giáo dục khoa học của BTDTHVN

- Nguyễn Trung Dũng (1999) “Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam với

công chúng” [8, tr 533-551], khẳng định thế mạnh của BTDTHVN trong việc

thực hiện chức năng giáo dục khoa học

- Nguyễn Văn Huy (2005), “Kinh nghiệm hoạt động của Bảo tàng Dân

tộc học Việt Nam” [41], bài viết tập trung phân tích, chứng minh vai trò của

BTDTHVN trong việc thúc đẩy quá trình đối thoại văn hóa giữa các dân tộc ở nước ta, tạo điều kiện cho cộng đồng quốc tế hiểu biết về văn hóa Việt Nam

và sự tiếp cận với các nền văn hóa, văn minh khác thông qua hoạt động của bảo tàng

* Một số bài viết khác đã đề cập tới sự kết hợp giữa BTDTHVN với nhà trường; khai thác, sử dụng BTDTHVN để giáo dục trẻ em cũng như phục vụ cho việc học tập của học sinh:

- Nguyễn Văn Huy (1999), “Đổi mới cách tổ chức cho học sinh đi tham

quan Bảo tàng như thế nào cho có hiệu quả hơn?” [8, tr 552-562]

- Vũ Hồng Nhi (1999), “Một vài suy nghĩ về sự phối hợp giữa Bảo tàng

và Nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh” [8, tr 577-586]

- Trần Thu Thuỷ (1999), “Vươn tới các trường học” [8, tr 587-594]

- Nguyễn Văn Huy (2002), “Bảo tàng với giáo dục trẻ em” [10, tr

297-320]

- Nguyễn Trung Dũng (2004), “Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam: trường

học và sân chơi dành cho trẻ em” [11, tr 390-400]

Trang 10

* Sinh viên Trường Đại học Văn hoá Hà Nội đã thực hiện một số đề tài nghiên cứu (Khóa luận tốt nghiệp Đại học) về công tác giáo dục của BTDTHVN trên cơ sở kiến thức chuyên ngành Bảo tồn - Bảo tàng:

- Đàm Thị Hợp (2002), “Công tác tuyên truyền - giáo dục của Bảo tàng

Dân tộc học Việt Nam” [35] Tác giả đề cập chủ yếu tới các hình thức tuyên

truyền - giáo dục mà BTDTHVN đã tiến hành

- Hoàng Minh Tuấn (2003), “Công tác giáo dục của Bảo tàng Dân tộc

học Việt Nam với thế hệ trẻ học đường” [65] Khoá luận tập trung nghiên cứu

chức năng và vai trò giáo dục của BTDTHVN với đối tượng cụ thể là thế hệ trẻ học đường (học sinh Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông)

Nhìn chung, vấn đề nghiên cứu đã được đề cập trong một số bài viết, công trình, tuy nhiên chưa tập trung, chưa nghiên cứu một cách hệ thống về hoạt động giáo dục văn hoá truyền thống của BTDTHVN

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

*Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động giáo dục văn hoá truyền thống tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

- Về thời gian: Từ năm 1997 tới nay

5 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn vận dụng phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin để xem xét, đánh giá các sự vật, hiện tượng trong quá trình nghiên cứu; vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, bảo tàng và đoàn kết dân tộc

- Về phương pháp nghiên cứu, Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của các bộ môn khoa học có liên quan, cần thiết cho quá trình triển khai đề tài: Văn hoá học, Dân tộc học, Bảo tàng học, Giáo dục học, Tâm

lý học và Xã hội học

Trang 11

- Chúng tôi còn sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu; ngoài việc khai thác số liệu thực tế, trực tiếp tiến hành quan sát, thu thập thông tin, trưng cầu ý kiến, phỏng vấn theo bảng hỏi; thống kê, tổng hợp, phân tích tư liệu

6 Đóng góp của Luận văn

- Tập hợp kết quả nghiên cứu của một số nhà nghiên cứu trước

- Khẳng định vai trò của BTDTHVN trong việc giáo dục văn hoá truyền thống cho công chúng trong và ngoài nước

- Đánh giá hiệu quả hoạt động giáo dục của BTDTHVN tác động tới công chúng trong quá trình tìm hiểu và nhận thức về văn hoá truyền thống

- Đề xuất những giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục văn hóa truyền thống của BTDTHVN, phát huy hơn nữa vai trò của BTDTHVN trong đời sống văn hóa của cộng đồng - xã hội, thu hút

đông đảo khách tham quan trong và ngoài nước

- Luận văn sẽ được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho chính tác giả trong việc giảng dạy tại Khoa Bảo tàng - Trường Đại học Văn hoá Hà Nội

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu (6 trang), kết luận (3 trang), danh mục tài liệu tham khảo (7 trang), phụ lục (78 trang), nội dung Luận văn (93 trang) được

chia thành 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1 Khái quát về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (21 trang)

1.1 Sự hình thành, phát triển của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

1.2 Những đặc điểm của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

1.3 Việc lưu giữ các giá trị văn hóa tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 1.4 Công tác giáo dục của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Chương 2 Thực trạng hoạt động giáo dục văn hoá truyền thống của

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (51 trang)

2.1 Văn hóa truyền thống và tầm quan trọng của việc giáo dục văn hóa truyền thống tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trang 12

2.2 Nội dung trưng bày của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

2.3 Giáo dục văn hóa truyền thống thông qua hoạt động hướng dẫn tham quan

2.4 Giáo dục văn hóa truyền thống thông qua các hình thức hoạt động khác của bảo tàng

2.5 Giáo dục văn hóa truyền thống cho đối tượng công chúng nhỏ tuổi 2.6 Hiệu quả giáo dục văn hóa truyền thống của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục văn hoá truyền

thống của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (21 trang)

3.1 Ưu điểm và hạn chế trong việc thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa truyền thống của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa truyền thống của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trang 13

Chương 1 Khái quát về Bảo tμng Dân tộc học Việt Nam

1.1 Sự hình thành, phát triển của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trong hệ thống bảo tàng của Việt Nam, chiếm số lượng lớn là loại hình bảo tàng KHXH, đặc biệt là bảo tàng Lịch sử xã hội, loại bảo tàng về Dân tộc học, văn hoá - nghệ thuật … chưa phát triển Về vấn đề dân tộc và văn hoá dân tộc, chúng ta đã có Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam tại Thái Nguyên (tiền thân là Bảo tàng Việt Bắc, thành lập năm 1960) Đây là một bảo tàng quốc gia do Bộ Văn hoá - Thông tin quản lý Nếu chỉ có Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam thì ngành bảo tàng Việt Nam vẫn thiếu một thiết chế có cơ sở khoa học tin cậy cho công tác nghiên cứu, bảo tồn, giới thiệu về văn hoá các dân tộc và đào tạo cán bộ nghiệp vụ, quản lý cho loại bảo tàng Dân tộc học

Trong bối cảnh của một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam, loại bảo tàng Dân tộc học có ý nghĩa lớn về nhiều phương diện trên qui mô cả nước cũng như từng địa phương Chính vì vậy, từ năm 1981, Nhà nước đã có chủ trương xây dựng một bảo tàng Dân tộc học tại thủ đô Hà Nội Điều này được

đánh dấu bằng công văn số 1386/V4 ngày 20/4/1981 của Hội đồng Bộ trưởng cho phép tiến hành chuẩn bị đầu tư xây dựng công trình BTDTHVN

Ngày 14/12/1987, Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam ra quyết định 333/KHXH phê duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuật của BTDTHVN Sau đó, công việc chuẩn bị cho sự ra đời một bảo tàng lớn được tiến hành, ngày 29/01/1989, Uỷ ban kế hoạch nhà nước ra công văn số 78/UB-VBTT thoả thuận về luận chứng kinh tế - kỹ thuật của bảo tàng; ngày 13/06/1989, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội ra công văn số 1846/CVUB

đồng ý để Viện Dân tộc học xây dựng bảo tàng tại xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, Hà Nội Ngày 31/07/1990, Thủ tướng chính phủ ra quyết định số

Trang 14

273/CT về việc giao 3,27 ha đất để xây dựng BTDTHVN Công trình được khởi công xây dựng từ năm 1989, song do điều kiện kinh phí có hạn nên tiến

độ xây dựng bảo tàng chậm

Trong nhiều năm, bảo tàng là một bộ phận của Viện Dân tộc học Ngày 24/10/1995, với quyết định số 689/TT của Thủ tướng chính phủ, BTDTHVN chính thức thành lập, tách khỏi Viện Dân tộc học, trở thành một cơ quan độc lập trực tiếp trực thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (nay

là Viện Khoa học xã hội Việt Nam); BTDTHVN được đặt trong hệ thống bảo tàng quốc gia của Việt Nam

Đầu năm 1996, về cơ bản, BTDTHVN đã hoàn thành cơ sở nghiên cứu,

hệ thống kho bảo quản hiện vật, xây dựng phần thô tầng 1, tầng 2 khu trưng bày trong nhà và hội trường

Ngày 12/11/1997, nhân dịp khai mạc Hội nghị thượng đỉnh các nước có

sử dụng tiếng Pháp tại Hà Nội, Bảo tàng khánh thành khu trưng bày thường xuyên (phần trưng bày trong nhà) và chính thức mở cửa đón khách tham quan BTDTHVN vinh dự được Tổng thống Cộng hoà Pháp Jacques Rene Chirac và Phó chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Nguyễn Thị Bình đến cắt băng khai

mạc trong lễ khánh thành Bảo tàng lấy tên giao dịch quốc tế là Vietnam

Museum of Ethnology (viết tắt là VME)

BTDTHVN vừa là một cơ quan nghiên cứu khoa học, vừa là một trung tâm văn hoá - giáo dục Điều này thể hiện rõ trong chức năng “nghiên cứu khoa học, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, phục chế, trưng bày, trình diễn để giới thiệu và giáo dục về các giá trị lịch sử, văn hoá các dân tộc trong và ngoài nước; cung cấp tư liệu nghiên cứu về các dân tộc cho các ngành; đào tạo cán

bộ nghiên cứu, nghiệp vụ và quản lý về nhân học bảo tàng và bảo tàng dân tộc

học” [56, tr 1]

BTDTHVN do kiến trúc sư Hà Đức Lịnh (người dân tộc Tày, Công ty tư vấn thiết kế xây dựng nhà ở và công trình công cộng, Bộ Xây dựng) thiết kế

Trang 15

Nội thất công trình do kiến trúc sư Véronique Dollfus (người Pháp) thiết kế Thiết kế kiến trúc hợp lý đã kiến tạo cho bảo tàng một không gian thoáng

đãng, phía trước khu vực trưng bày là một khoảng sân khá rộng, có vườn hoa, cây cảnh; hai bên cổng ra vào bảo tàng là quầy bán vé và cửa hàng lưu niệm Nhà trưng bày được thiết kế mô phỏng theo hình trống đồng - một biểu tượng chung của nền văn minh Việt Nam Lối vào khu vực trưng bày thường xuyên

là một chiếc cầu đá granit, bắc qua một hồ nước nhân tạo, tạo cảm giác như bước lên căn nhà sàn phổ biến ở nhiều vùng Qui hoạch kiến trúc của bảo tàng tạo nên một không gian khoáng đạt, yên tĩnh; đồng thời rất phù hợp với luật phong thuỷ, với mô hình nhà - sân - vườn - ao theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam

Bảo tàng gồm hai khu vực chính, trong nhà và ngoài trời Khu vực trong nhà bao gồm các khối nhà liên hoàn với các lối đi hợp lý: cơ sở nghiên cứu và thư viện, hệ thống kho bảo quản, hệ thống các bộ phận kỹ thuật, hội trường và nhà trưng bày; tổng diện tích 2480 m2 Cuối năm 1997, bảo tàng bắt đầu xây dựng phần trưng bày ngoài trời, dự kiến giới thiệu 10 công trình chính là nhà ở truyền thống của người Hmông kèm theo chuồng ngựa, lò rèn, máng nước; nhà ở của người Hà Nhì; nhà ở, kho thóc và cối giã gạo dùng sức nước của người Dao; nhà ở và cọn nước của người Tày, nhà rông của người Ba na; nhà

mồ của người Gia rai; dàn nhạc cụ ống nứa vận hành bằng sức nước của người Xơ đăng, nhà ở của người Ê đê, Chăm, Việt Cho đến nay, phần trưng bày ngoài trời của BTDTHVN đang dần được hoàn thiện

Hiện nay, BTDTHVN nằm trong khuôn viên rộng gần 3,3 ha (không kể khu đất mới được cấp cho dự án xây dựng phần trưng bày dân tộc học các nước ASEAN) trên đường Nguyễn Văn Huyên, Quận Cầu Giấy, Hà Nội Gần một thập kỷ kể từ ngày trở thành một cơ quan độc lập, BTDTHVN không ngừng lớn mạnh, phát triển một cách năng động, sáng tạo với rất nhiều hoạt

động đa dạng, phong phú BTDTHVN đã thực sự trở thành một địa chỉ văn

Trang 16

hoá tiêu biểu tại thủ đô Hà Nội Cố GS Sử học Trần Quốc Vượng trong một lần đến thăm BTDTHVN có nhận xét: “Đây là bảo tàng hiện đại và chững chạc vào bậc nhất Việt Nam”, và nhiều khách nước ngoài cho rằng “Đây là bảo tàng tốt nhất trong khu vực Đông Nam á” [8, tr 545]

Lượng khách tham quan trong và ngoài nước đến với BTDTHVN tăng lên một cách nhanh chóng qua từng năm Theo số liệu thống kê của BTDTHVN, tính đến ngày 31/12/2004, BTDTHVN đã đón tổng số lượt khách tham quan là 533.660 người So với các bảo tàng quốc gia khác trên địa bàn thủ đô Hà Nội, BTDTHVN có số lượng khách tham quan đông, đa phần khách tham quan không chỉ đến với bảo tàng một lần, mà có sự trở lại vì sức hấp dẫn

từ những hoạt động phong phú, đa dạng của bảo tàng Nhiều đồng chí lãnh

đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, của thành phố Hà Nội đã đến thăm bảo tàng và làm việc với cán bộ nhân viên của BTDTHVN: Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Cố vấn Đỗ Mười, Bí thư Thành uỷ TP

Hà Nội Nguyễn Phú Trọng… BTDTHVN cũng hân hạnh tiếp đón nhiều vị khách quí từ phương xa nhân chuyến thăm và làm việc của họ tại Việt Nam: nguyên thủ quốc gia nhiều nước, Vua và Hoàng hậu Thụy Điển, Thái tử Nhật Bản, Công chúa Thái Lan, Hoàng hậu Brunây…

Trong quá trình hoạt động của BTDTHVN, đội ngũ cán bộ nhân viên không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng các yêu cầu công việc của bảo tàng Từ 18 cán bộ trong những ngày đầu thành lập (chuyển

từ Viện Dân tộc học sang), đến nay BTDTHVN đã có trên 80 cán bộ nhân viên BTDTHVN được tổ chức theo chế độ thủ trưởng, Ban giám đốc lãnh đạo bảo tàng, Giám đốc chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của BTDTHVN Ngoài ra, BTDTHVN còn có Hội đồng khoa học làm chức năng tư vấn khoa học cho Giám đốc bảo tàng Cơ cấu tổ chức của BTDTHVN hiện nay bao gồm:

Trang 17

*Các phòng nghiên cứu khoa học:

1 Phòng nghiên cứu và sưu tầm vùng Đồng bằng và biển (gọi tắt là Phòng đồng bằng và biển)

2 Phòng nghiên cứu và sưu tầm vùng miền núi miền Bắc (gọi tắt là Phòng miền núi miền Bắc)

3 Phòng nghiên cứu và sưu tầm vùng Trường Sơn - Tây Nguyên (gọi tắt

là Phòng Trường Sơn - Tây Nguyên)

4 Phòng nghiên cứu và sưu tầm Đông Nam á và khu vực (gọi tắt là Phòng Đông Nam á)

*Các phòng nghiệp vụ:

1 Phòng Dân tộc học âm nhạc và Phim dân tộc học (gọi tắt là Phòng Nghe - nhìn)

2 Phòng Giáo dục

3 Phong Kiểm kê - Bảo quản - Phục chế (gọi tắt là Phòng Bảo quản)

4 Phòng Trưng bày

5 Phòng Bảo tàng ngoài trời

6 Phòng Lưu trữ tư liệu và thiết bị nghe - nhìn (gọi tắt là Phòng lưu trữ phim ảnh)

7 Thư viện

* Các phòng, ban giúp việc Giám đốc Bảo tàng

1 Phòng Quản lý khoa học và Đào tạo

2 Phòng Hành chính - Tổng hợp

Trang 18

BTDTHVN rất chú ý tới việc đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho

đội ngũ cán bộ, viên chức; nhiều cán bộ của BTDTHVN đã bảo vệ thành công Luận án Tiến sỹ, Luận văn Thạc sỹ, tham gia các lớp học nâng cao trình độ ngoại ngữ Bảo tàng cũng thường xuyên mở các lớp tập huấn, các buổi thuyết trình của những chuyên gia khoa học trong và ngoài nước nhằm nâng cao chất lượng hoạt động nghiệp vụ cũng như hiểu biết về Dân tộc học, nghiệp vụ bảo tàng Từ tháng 11/2004, BTDTHVN hoạt động với cơ chế là một đơn vị sự nghiệp có thu

Trong quá trình phát triển, BTDTHVN còn đảm nhiệm thêm nhiệm vụ giới thiệu cho công chúng nền văn hoá của các nước trên thế giới, mà trước

hết là các nước ở Đông Nam á và khu vực Với việc triển khai “Dự án mở

rộng Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”, bảo tàng sẽ xây dựng thêm một toà

nhà mới để có điều kiện thường xuyên tổ chức những cuộc trưng bày về nền văn hoá của các nước Đông Nam á và khu vực Quy hoạch tổng thể của bảo tàng sẽ bao gồm: nhà trưng bày chính, khu trưng bày ngoài trời, khu trưng bày ASEAN, kết hợp với công viên cây xanh nhằm tạo ra nhiều không gian văn hoá cho khách tham quan, khẳng định BTDTHVN không chỉ là bảo tàng quốc gia mà còn có tính khu vực và quốc tế Trong một tương lai gần, “Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam sẽ là một sân chơi rộng mở cho các cuộc trình diễn, biểu diễn, hội thảo và giao lưu trực tiếp cho các nước Đông Nam á và khu vực” [41, tr 23] Theo dự kiến, dự án sẽ hoàn tất giai đoạn đầu để chào mừng Hội nghị APEC họp tại Việt Nam vào cuối năm 2006

Sự ra đời và phát triển của BTDTHVN góp phần hoàn thiện, đem lại sắc thái mới cho hệ thống bảo tàng của Việt Nam; đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của xã hội khi mà văn hoá truyền thống của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên

đất nước ta đang đứng trước những thách thức lớn

Trang 19

1.2 Những đặc điểm của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trong điều kiện của một quốc gia đa dạng về thành phần dân tộc, sự hiểu biết, đoàn kết và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc cũng như việc giúp cộng đồng thế giới hiểu được những đặc điểm riêng về văn hoá và dân tộc ở Việt Nam là một vấn đề quan trọng và cần thiết Điều này góp phần thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc và đoàn kết dân tộc, về xây dựng

và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Chính vì

vậy, ngay trên địa bàn thủ đô Hà Nội, BTDTHVN tồn tại với tư cách một thiết

chế văn hoá tham gia tích cực vào việc gìn giữ, phát huy tính đa dạng của văn hoá các dân tộc ở Việt Nam Bằng hoạt động của mình, bảo tàng “sẽ góp phần

quan trọng vào việc xây dựng một chuẩn mực giá trị tinh thần quan trọng vào bậc nhất của đất nước Đó là việc thừa nhận, tôn trọng, và phát huy những giá trị đa dạng của văn hoá truyền thống, những bản sắc văn hoá của dân tộc mình

và của các dân tộc khác” [8, tr 50]

Với tư cách là một bảo tàng, tại BTDTHVN các khâu công tác nghiệp

vụ nói chung cũng được thực hiện đầy đủ: nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày và giáo dục, tạo nên một chu trình hoạt động sống động và

hiệu quả, khẳng định vai trò của bảo tàng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá của các dân tộc ở Việt Nam Ngoài ra, BTDTHVN còn tích cực triển các hoạt động phục vụ cho việc nghiên cứu, giới thiệu nền văn hóa của các nước trên thế giới, cũng như công tác đào tạo trong lĩnh vực Nhân học bảo tàng và bảo tàng Dân tộc học Đây là những nhiệm vụ mới mà BTDTHVN

đảm nhiệm trong quá trình hoạt động và phát triển

BTDTHVN trong nhiều năm là một bộ phận của Viện Dân tộc học - cơ quan nghiên cứu đầu ngành về lĩnh vực dân tộc ở Việt Nam Nguồn cán bộ

đầu tiên của bảo tàng được lấy từ Viện Dân tộc học sang Từ năm 1995, BTDTHVN trở thành một cơ quan độc lập và không ngừng phát triển, lớn

Trang 20

mạnh Do yêu cầu công việc của một bảo tàng chuyên ngành, cán bộ làm việc tại BTDTHVN phải nắm vững kiến thức về Dân tộc học và Bảo tàng học Ngoài một số cán bộ thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác như ngoại ngữ, thư

viện…, tại BTDTHVN, đội ngũ cán bộ Dân tộc học và Bảo tàng học là hai lực

lượng chính đảm đương các công việc của bảo tàng Hai lực lượng cán bộ này

đã có sự phối hợp chặt chẽ trong quá trình thực hiện các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của bảo tàng; nhờ vậy mà BTDTHVN có thể thực hiện tốt công việc và chức năng của một bảo tàng chuyên ngành Dân tộc học

Về thời gian ra đời, BTDTHVN là một bảo tàng còn rất trẻ, xuất hiện

tương đối muộn vào những năm cuối thế kỷ XX Trên thế giới, xu thế đối đầu

đã chuyển sang đối thoại, hoà bình, tôn trọng lẫn nhau và cùng phát triển; khoa học công nghệ hiện đại tạo nên những biến chuyển nhanh chóng cho cả nhân loại Tại Việt Nam, chính sách đổi mới, mở cửa, hội nhập vào cộng đồng quốc tế và khu vực của Đảng và Nhà nước đã đem lại cho đất nước một nhịp sống mới, năng động và sáng tạo hơn Trong lĩnh vực bảo tàng, ngoài mối quan hệ với các nước XHCN cũ, chúng ta có điều kiện tiếp xúc, trao đổi và tiếp thu những kiến thức mới, kinh nghiệm mới từ các nước phát triển và là những “cường quốc về bảo tàng”: Hoa Kỳ, Pháp, Ôxtrâylia, Canađa, Trung Quốc … BTDTHVN là một minh chứng tiêu biểu về sự hợp tác giữa Việt Nam và Cộng hoà Pháp Bảo tàng Con người - Pháp (Musée de L’Homme - France) đã gửi chuyên gia, tư vấn những quan niệm về bảo tàng, giúp đỡ về thiết kế nội thất, về tổ chức trưng bày, cung cấp trang thiết bị hiện đại… Ngoài ra, BTDTHVN cũng nhận được sự giúp đỡ chân tình của các nhà khoa học Hoa Kỳ, Nhật, Hà Lan, Canađa… Những mối quan hệ và kinh nghiệm học hỏi từ bạn bè quốc tế đã tạo cho bảo tàng sự phát triển năng động, tự tin riêng có Đồng thời, sự ra đời muộn cũng giúp BTDTHVN có điểu kiện rút kinh nghiệm và khắc phục những hạn chế của mạng lưới bảo tàng Việt Nam nói chung qua nửa thế kỷ phát triển Với sự ra đời của BTDTHVN, Việt Nam

Trang 21

có thêm một bảo tàng mới về ý tưởng sáng tạo trong nội dung trưng bày nội - ngoại thất và kiến trúc ngôi nhà tương đối hoàn chỉnh

BTDTHVN rất có ưu thế về vị trí địa lý, cảnh quan và cơ sở vật chất

Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nhiều bảo tàng ở nước ta phải

sử dụng, cải tạo những toà nhà cũ làm cơ sở trưng bày, ví dụ như ngôi nhà Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (trước đây là Sở Thương chính Đông Dương), Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (vốn là một ký túc xá, một tổ chức kinh doanh của Giáo hội Gia tô mang tên Famille de Jeanne d’Are)… BTDTHVN là một trong số các bảo tàng được xây mới từ đầu, thiết kế với mục đích làm bảo tàng Chính vì vậy mà kiến trúc của bảo tàng hiện đại, mang ý tưởng riêng, phù hợp với nội dung mà bảo tàng thể hiện Bảo tàng cũng có điều kiện thực hiện những yêu cầu của một công trình công cộng như lối đi riêng bằng xe

đẩy cho người khuyết tật, thang máy… BTDTHVN được đặt tại thủ đô Hà Nội

- trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cả nước, do đó bảo tàng có khả năng thu hút một số lượng lớn công chúng trong nước và quốc tế Ngoài ra, với diện tích đất khá rộng, ngoài nhà bảo tàng và khu vực làm việc, BTDTHVN còn cả một không gian lý tưởng cho việc xây dựng phần trưng bày ngoài trời, cho việc tổ chức các hoạt động vui chơi, sinh hoạt tập thể Cùng với quá trình đô thị hoá nhanh chóng của thủ đô, từ vị trí xa trung tâm Hà Nội khi mới thành lập, giờ đây BTDTHVN thuộc khu vực nội thành của thủ đô với các tuyến giao thông khá thuận lợi, tạo điều kiện đi lại dễ dàng cho khách tham quan

Hiện vật của BTDTHVN phong phú, đa dạng; chủ yếu bao gồm những

hiện vật rất bình thường, dung dị, gắn liền với cuộc sống thực tại, phản ánh những đặc điểm văn hoá đặc trưng của các dân tộc ở Việt Nam Bằng cách tiếp cận riêng của loại bảo tàng Dân tộc học, BTDTHVN không nghiên cứu, khai thác các giá trị của hiện vật một cách cô lập, tĩnh tại, tách biệt mà nghiên cứu, nhìn nhận hiện vật trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với con người, môi trường sinh thái và cuộc sống đời thường

Trang 22

Ngoài hiện vật, BTDTHVN rất quan tâm tới con người - chủ thể sáng

tạo các sản phẩm văn hoá, quan tâm tới cộng đồng - nơi mà các giá trị văn hoá tồn tại một cách sống động và được bảo lưu chính trong môi trường tồn tại của chúng Vì vậy mà BTDTHVN là địa điểm tích cực thúc đẩy sự giao

lưu, tiếp xúc và đối thoại văn hoá giữa các dân tộc, đồng thời còn triển khai nhiều hoạt động vượt khỏi phạm vi không gian của bảo tàng, góp phần tích cực vào việc bảo vệ những tài sản văn hoá quí giá của quốc gia

Trong quá trình hoạt động, BTDTHVN đã có nhiều giải pháp đổi mới

trong hoạt động giáo dục nhằm hướng tới đông đảo công chúng Với quan

niệm coi công chúng có quan hệ trực tiếp đến sự sống còn của bảo tàng, với nhận thức mới về vị trí của bảo tàng trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, BTDTHVN đã triển khai hoạt động giáo dục bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú như: hướng dẫn tham quan, hoạt động của Phòng khám phá, tổ chức trình diễn, chiếu phim, thuyết trình và các chương trình giáo dục dành cho trẻ em… Sự đa dạng của các hình thức hoạt động giáo dục đã tạo điều kiện cho công chúng dễ dàng tiếp cận với bảo tàng, bảo tàng gần gũi hơn với công chúng Đồng thời, việc đổi mới hoạt động giáo dục còn giúp BTDTHVN xây dựng mối quan hệ với các cộng đồng, từng bước nâng cao ảnh hưởng và vị thế của mình trong đời sống văn hoá của nhân dân trong nước và quốc tế

1.3 Việc lưu giữ các giá trị văn hoá tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Với nhiệm vụ giữ gìn và phổ biến các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể truyền thống của tất cả các dân tộc ở Việt Nam, BTDTHVN từ khi thành lập đã rất quan tâm tới việc nghiên cứu sưu tầm, bổ sung tài liệu - hiện vật, làm cơ sở cho các hoạt động của bảo tàng Khởi đầu, BTDTHVN tiếp nhận một số ít hiện vật từ Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (hiện vật của Bảo tàng Louis Finot trước đây) và hiện vật do cán bộ Viện Dân tộc học sưu tầm từ nhiều năm trước Trong số những hiện vật này, phần lớn là “hiện vật câm”, hoặc thiếu những thông tin quan trọng Vì vậy, BTDTHVN đã nhanh chóng thực hiện các

Trang 23

hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bổ sung thông tin cho hiện vật, làm giàu kho tài liệu - hiện vật của bảo tàng

Việc nghiên cứu về Dân tộc học và các phương pháp của khoa học Dân tộc học giúp ích rất nhiều cho đội ngũ cán bộ của BTDTHVN trong việc nghiên cứu và triển khai các hoạt động nghiệp vụ của bảo tàng Với chủ trương “đi ngay từ cái hiện tại, bắt đầu từ cái hiện tại, ngược dần về quá khứ trong khả năng có thể có” [9, tr 37], BTDTHVN đã triển khai hoạt động nghiên cứu, sưu tầm theo các khu vực địa lý để có thể nhanh chóng tích luỹ

được các tài liệu - hiện vật dân tộc học, phản ánh các khía cạnh của đời sống vật chất, tinh thần, tiêu biểu cho những đặc điểm về văn hoá của 54 dân tộc ở Việt Nam Bởi vì, trong xu thế giao lưu và hội nhập mang tính toàn cầu, với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học - kỹ thuật hiện đại, rất nhiều giá trị văn hoá đang có nguy cơ mai một, nhất là với các dân tộc thiểu số và có trình độ kinh tế chậm phát triển

BTDTHVN đã thực hiện các hình thức hoạt động sưu tầm như tổ chức nghiên cứu sưu tầm, hợp tác sưu tầm, vận động nhân dân hiến tặng, mua, trao

đổi hiện vật thông qua các cuộc triển lãm chuyên đề, phối hợp với mạng lưới cộng tác viên sưu tầm tại các địa phương… Hiện vật do một đoàn sưu tầm mang về có thể gồm nhiều chủng loại, thuộc các dân tộc khác nhau Song, thường thì mỗi đoàn sưu tầm chỉ tập trung vào hiện vật của một dân tộc, một nhóm dân tộc và địa bàn cư trú chủ yếu của dân tộc, nhóm dân tộc đó (tỉnh hoặc huyện) Thời gian trung bình của mỗi đợt sưu tầm khoảng 2 - 3 tuần, nhưng cũng có khi lên tới 1 - 2 tháng Trong vòng 1 - 2 tuần sau khi đưa hiện vật về bảo tàng, cán bộ sưu tầm có nhiệm vụ hoàn tất hồ sơ để bàn giao cho Phòng Bảo quản

Sau khi nhận bàn giao hiện vật từ cán bộ sưu tầm, cán bộ Phòng Bảo quản sẽ tiến hành vệ sinh hiện vật, đăng ký vào một quyển sổ nhỏ theo từng

đoàn sưu tầm, đánh số và nhập kho bảo quản Căn cứ vào hồ sơ hiện vật và

Trang 24

quyển sổ đăng ký theo đoàn, cán bộ chuyên trách của Phòng Bảo quản sẽ ghi chép các thông tin về hiện vật vào Sổ đăng ký hiện vật của BTDTHVN

Hiện vật của BTDTHVN được đăng ký và đánh số kiểm kê theo từng

đoàn sưu tầm trong năm Trong quá trình đăng ký hiện vật, do đặc thù của BTDTHVN, số đăng ký hiện vật còn được đánh thêm mã dân tộc vào trước năm sưu tầm Căn cứ vào tên gọi của từng dân tộc xếp theo trật tự A, B, C, mỗi dân tộc mang một mã số quy định, từ 01 (Ba na) đến 54 (Xơ đăng)

Ví dụ, số 15 - 98 - 03 - 11, số đăng ký của chiếc gùi có nắp của dân tộc

- Nhóm số thứ tư: 11 - số thứ tự hiện vật trong đoàn sưu tầm - hiện vật

số 11 của đoàn sưu tầm thứ 03 trong năm 1998

Số đăng ký được ghi tại vị trí quy định thích hợp cho từng loại hình hiện vật cụ thể để dễ tìm kiếm và đảm bảo không làm ảnh hưởng tới giá trị thẩm

mỹ của hiện vật Mực đánh số là loại mực chuyên dụng, không bị mất màu và không ảnh hưởng đến hiện vật, màu mực (trắng hoặc đen) tương phản với màu của hiện vật Hiện vật bằng chất liệu vải, giấy có cách đánh số riêng, số được viết trên miếng vải nhỏ khâu thêm ở mặt trái hoặc ghi vào giấy, ép plastic và buộc vào hiện vật Sau khi đăng ký và đánh số xong, hiện vật mới được hoàn thành các thủ tục về mặt pháp lý của một hiện vật bảo tàng, được BTDTHVN chính thức quản lý và chuyển vào vị trí bảo quản trong kho

BTDTHVN đã xây dựng và có được kho tài liệu - hiện vật khá phong phú, đa dạng, ngày càng được kiện toàn về các loại hình hiện vật Hiện vật của BTDTHVN chủ yếu là những đồ dùng sinh hoạt hằng ngày, gắn liền với cuộc sống của người dân thuộc 54 dân tộc ở nước ta như: bộ quần áo, chiếc váy,

Trang 25

chiếc khăn, con dao, cái gùi, cái kim, đôi hoa tai, chiếc vòng…, nhưng chúng chứa đựng những nhiều câu chuyện về văn hoá của các dân tộc

Dưới góc độ văn hoá, hiện vật của BTDTHVN có thể chia một cách qui

đồ trang sức, nhạc cụ và các hiện vật trong nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng…; và nếu lấy chất liệu làm tiêu chí, thì có các sưu tập hiện vật mây tre, gỗ, gốm, vải, giấy, kim loại…

Ngoài hiện vật dân tộc học là hiện vật thể khối, BTDTHVN rất quan tâm và chú trọng việc xây dựng hệ thống tư liệu nghe nhìn bao gồm phim ảnh, phim điện ảnh, băng ghi âm, băng ghi hình Đây là loại hình tư liệu có giá trị,

là phương tiện thông tin nhanh chóng và rộng rãi Tư liệu nghe nhìn không đi sâu phân tích bản chất bên trong của các sự kiện, nhưng lại làm sống lại một khoảnh khắc, một thời điểm của sự kiện như đang diễn ra Đối với BTDTHVN, tư liệu nghe nhìn vô cùng quan trọng, ghi lại những hình ảnh, sự kiện, lễ hội và cả những sinh hoạt thường ngày của 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên mọi miền của đất nước ta Hệ thống tư liệu này sẽ bổ sung cho hiện vật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu giữ và phản ánh những giá trị văn hoá của các dân tộc ở Việt Nam

Trang 26

BTDTHVN là một trung tâm lưu giữ những giá trị văn hoá quí giá của

54 dân tộc ở Việt Nam Vào thời điểm khai trương, BTDTHVN có khoảng 15.000 hiện vật [8, tr 30], số lượng hiện vật đã tăng lên một cách nhanh chóng trong quá trình hoạt động của bảo tàng Hiện nay, BTDTHVN tích luỹ

được gần 30.000 hiện vật [7]; tư liệu nghe nhìn khá phong phú với khoảng 60.000 ảnh và phim âm bản [11, tr 374]; ngoài ra còn có nhiều phim slide, băng video, băng cassette, đĩa CD…

Hệ thống kho của BTDTHVN được phân chia thành hệ thống kho chính

Kho hiện vật của dân tộc Việt là nơi lưu giữ hiện vật của người Việt (Kinh) Người Việt chiếm tỉ lệ lớn trong thành phần dân tộc ở nước ta, cư trú trên mọi miền đất nước, có nền văn hoá lâu đời, đa dang, phong phú Hiện vật của người Việt ở BTDTHVN khá nhiều, xếp trên hệ thống giá sắt trong kho bảo quản

Kho lớn tập trung hiện vật của 53 dân tộc ít người Các hiện vật sắp xếp theo từng dân tộc, các dân tộc trong cùng nhóm ngôn ngữ, cư trú trên một khu vực lãnh thổ được bố trí gần nhau Toàn bộ cồng, chiêng và trống của một số dân tộc được đặt ở góc riêng Hệ thống giá sắt cũng được sử dụng trong kho này

Hệ thống kho tạm thời là nơi bảo quản toàn bộ số hiện vật mới sưu tầm

về, chưa bàn giao cho Phòng bảo quản

Trang 27

Hệ thống kho của BTDTHVN được duy trì nhiệt độ từ 18 - 220C, độ ẩm tương đối từ 45% - 65% nhờ máy điều hoà và hút ẩm Hàng ngày, cán bộ chuyên trách của Phòng bảo quản có nhiệm vụ theo dõi nhiệt độ, độ ẩm để duy trì tốt chế độ bảo quản này Tình trạng của hiện vật được theo dõi thường xuyên, những hiện vật bị mối mọt, nấm mốc đều được phát hiện và xử lý kịp thời

Tư liệu nghe nhìn được lưu giữ tại một phòng riêng biệt, có trang bị máy điều hoà, máy hút ẩm và kèm theo cả tủ chống ẩm để kiểm soát và khống chế nhiệt độ và độ ẩm, đáp ứng các yêu cầu riêng của việc bảo quản phim ảnh, băng hình, băng âm thanh…

Hệ thống hiện vật và tư liệu nghe nhìn được lưu giữ, bảo quản tại BTDTHVN tiêu biểu cho những giá trị văn hoá, phản ánh cuộc sống, sinh hoạt của cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam

1.4 Công tác giáo dục của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Theo định nghĩa mới nhất của ICOM (Hội đồng bảo tàng quốc tế) được thông qua tại Stavanger năm 1995, “Bảo tàng là một thiết chế phi vụ lợi hoạt

động lâu dài phục vụ cho xã hội và sự phát triển của xã hội, mở cửa cho công chúng đến xem, có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, tuyên truyền và trưng bày các bằng chứng vật chất về con người và môi trường sống của con người vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức” [3, tr 174]

Là một thiết chế trong đời sống xã hội, bảo tàng ra đời, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cụ thể của mình, phục vụ cho sự phát triển chung của cộng đồng Hai chức năng xã hội chủ yếu của bảo tàng thường được khẳng

định là nghiên cứu khoa học và giáo dục khoa học

Theo định nghĩa của Giáo dục học, “Giáo dục là một hiện tượng xã hội

đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên

Trang 28

cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên” [69, tr 9] Về bản chất, giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người Về hoạt động, giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách Tuy nhiên, về mặt phạm vi, khái niệm giáo dục bao hàm nhiều cấp độ khác nhau Cấp độ rộng nhất, đó là quá trình xã hội hoá con người; cấp độ thứ hai là giáo dục xã hội; cấp độ thứ ba là quá trình sư phạm (bao gồm quá trình dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp); cấp độ thứ tư, giáo dục được hiểu theo nghĩa hẹp - giáo dục đạo đức

Với chức năng giáo dục khoa học, bảo tàng tham gia vào hoạt động giáo dục chung của toàn xã hội Bảo tàng giáo dục bằng tài liệu - hiện vật gốc, thông qua các hoạt động cụ thể mang lại tri thức, hiểu biết khoa học, góp phần hoàn thiện nhân cách, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và nâng cao thị hiếu thẩm

mỹ cho công chúng Bảo tàng đóng vai trò là một thiết chế văn hóa đặc thù, là

“trường học” thích hợp với mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp xã hội và nghề nghiệp

Theo lý luận của Bảo tàng học, các hoạt động nghiệp vụ trong bảo tàng bao gồm: nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày và giáo dục Các khâu công tác kể trên có mối quan hệ chặt chẽ, gắn kết với nhau tạo nên quy trình hoạt động thống nhất của bảo tàng Công tác giáo dục là một hoạt động nghiệp vụ quan trọng, góp phần tích cực trong việc thực hiện chức năng giáo dục của bảo tàng Hiểu về công tác giáo dục của bảo tàng có thể tập trung vào một số điểm sau:

- Công tác giáo dục của bảo tàng là khâu công tác cuối trong chu trình hoạt động của bảo tàng, thực hiện các hình thức tiếp cận với công chúng

- Công tác giáo dục kế thừa và phát huy kết quả hoạt động của những công tác trước, có vị trí quan trọng trong toàn bộ hoạt động của bảo tàng

Trang 29

- Công tác giáo dục của bảo tàng lấy tài liệu - hiện vật gốc làm phương tiện, thông qua các hình thức tiếp cận, chuyển giao có mục đích những thông tin, tri thức khoa học, đạo đức, thẩm mỹ cho công chúng

Luật Di sản văn hóa của nước CHXHCN Việt Nam đã khẳng định vai trò giáo dục của bảo tàng trong đời sống xã hội: “Bảo tàng là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử tự nhiên và xã hội nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hóa của nhân dân” (điều 47) [47, tr 32], đồng thời khẳng định nhiệm vụ của bảo tàng trong việc “Tổ chức phát huy giá trị di sản văn hóa phục vụ lợi ích của toàn xã hội” (mục 2,

điều 48) [47, tr 33] Do đó, bảo tàng thực hiện công tác giáo dục với tư cách một hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ là đáp ứng những đòi hỏi tất yếu của xã hội về nhu cầu hiểu biết và nâng cao dân trí

Tài liệu - hiện vật gốc là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt hoạt động của bảo tàng Trong công tác giáo dục cũng vậy, khâu công tác nghiệp vụ này có nội dung chủ yếu là nghiên cứu, khai thác, phát huy giá trị, ý nghĩa của tài liệu - hiện vật bảo tàng trong việc phục vụ nhu cầu hiểu biết của con người; tổ chức các hình thức hoạt động giáo dục trực quan như hướng dẫn tham quan, nói chuyện chuyên đề, tổ chức lớp học… đem lại kiến thức, hiểu biết cho công chúng của bảo tàng

Trong Luận văn, từ cách nhìn nhận bảo tàng là một thiết chế văn hóa có chức năng giáo dục thì khái niệm giáo dục được hiểu nghĩa của giáo dục xã hội: “hoạt động có mục đích của xã hội, với nhiều lực lượng giáo dục, tác

động có kế hoạch, có hệ thống đến con người để hình thành những phẩm chất nhân cách” [69, tr 22]; nếu xét đến cơ sở thực hiện, phương pháp mà bảo tàng tiến hành công tác giáo dục, khái niệm giáo dục được hiểu tương tự như quá trình dạy học ngoài nhà trường Kết hợp hai cách hiểu, chúng ta xác định được phạm vi của khái niệm giáo dục khi đặt trong bảo tàng

Trang 30

Tại BTDTHVN, các khâu công tác nghiệp vụ được diễn ra theo quy trình hoạt động của bảo tàng nói chung: nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày và giáo dục Mỗi hoạt động nghiệp vụ phải thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, được tiến hành một cách đồng bộ, thống nhất, đảm bảo cho BTDTHVN thực hiện tốt vai trò của một bảo tàng chuyên ngành Dân tộc học Trong đó, công tác giáo dục của BTDTHVN có ý nghĩa quan trọng trong việc giới thiệu các giá trị lịch sử, văn hóa về phương diện dân tộc học của các dân tộc ở trong và ngoài nước theo quy định của Viện KHXH Việt Nam về chức năng, nhiệm vụ của BTDTHVN

Có vị trí đặc biệt quan trọng vì công tác giáo dục của bảo tàng nói chung và công tác giáo dục của BTDTHVN là cầu nối giữa bảo tàng và công chúng Nếu không thực hiện công tác giáo dục, công chúng khó có thể tiếp cận với BTDTHVN và lĩnh hội, tiếp thu các tri thức và thông tin khoa học về phương diện lịch sử, văn hoá tộc người Các quan điểm Bảo tàng học hiện đại khẳng định “bảo tàng là một cơ quan văn hóa phục vụ công chúng” [5, tr 84],

“bảo tàng là để dành cho con người” [1, tr 43]; đồng thời đánh giá cao ý nghĩa của công chúng đối với sự tồn tại của bảo tàng “công chúng là lý do duy nhất để bảo tàng tồn tại” [5, tr 84] hay “công chúng là sự sống còn cơ bản của bảo tàng đương đại” [9, tr 409] Vì vậy, công tác giáo dục của bảo tàng lại càng được coi trọng vì trực tiếp phục vụ công chúng, phục vụ nhu cầu hiểu biết, khám phá tri thức của con người “Trong tương lai, các bảo tàng cần phải chú trọng nhiều vào công tác hướng dẫn và giáo dục hơn là công tác quản lý

và giải thích những sự kiện và hoạt động của quá khứ” [25, tr 36]

Do đó, trong quá trình hoạt động, BTDTHVN rất quan tâm, chú trọng tới công tác giáo dục, coi công chúng là đối tác trực tiếp, thường xuyên và lâu dài và thực hiện công tác giáo dục trong những quan niệm đổi mới về hoạt

động của bảo tàng Công tác giáo dục của BTDTHVN được tiến hành trên cơ

sở mối quan hệ biện chứng và gắn bó chặt chẽ với các hoạt động nghiệp vụ

Trang 31

khác, đưa bảo tàng đến với công chúng, góp phần tích cực vào kết quả hoạt

động chung của BTDTHVN

Trong cơ cấu các phòng chức năng, nghiệp vụ, BTDTHVN đã thành lập Phòng giáo dục để chuyên trách đảm nhiệm công việc Hiện nay, Phòng giáo dục của bảo tàng có 11 cán bộ (01 cán bộ quản lý và 10 nhân viên), cán bộ của Phòng chủ yếu được lấy từ các nguồn đào tạo: Khoa Lịch sử - Đại học Quốc gia, Khoa Bảo tàng - Trường Đại học Văn hoá Hà Nội, Khoa Du lịch -

Đại học Quốc gia… Cán bộ giáo dục của BTDTHVN được phát triển và đào tạo thêm theo hướng tự tin, năng động, chuyên nghiệp và hiệu quả, được khuyến khích tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, trưng bày, trình diễn, các dự án tài trợ, hội thảo …

Từ cuối năm 1997 tới nay, BTDTHVN liên tục mở cửa phục vụ khách tham quan, chủ động học hỏi và ứng dụng một số mô hình hoạt động giáo dục của bảo tàng quốc tế trong công tác giáo dục BTDTHVN đã đạt được những thành công đáng khích lệ trong các hình thức hoạt động của công tác giáo dục như: hướng dẫn tham quan, tổ chức hội thảo, tổ chức lớp học tại bảo tàng, tổ chức trình diễn về văn hoá dân gian, xây dựng chương trình giáo dục dành cho trẻ em, triển khai hoạt động của Phòng khám phá…

Số lượng khách tham quan tăng theo từng năm là minh chứng cho kết quả mà BTDTHVN đã đạt được trong việc thực hiện hoạt động giáo dục BTDTHVN được đánh giá là “một trong mười địa chỉ hấp dẫn khách quốc tế khi đến với thủ đô Hà Nội” [6, tr 30]

Thông qua hệ thống trưng bày cùng các hình thức hoạt động khác của công tác giáo dục, BTDTHVN mang lại cho công chúng nhận thức mới, kiến thức mới về các dân tộc, về giá trị văn hoá mà các dân tộc sáng tạo và gìn giữ trong quá trình tồn tại và phát triển; bảo tàng “truyền đạt đến người xem tình cảm quý trọng, biết yêu mến nền văn hoá, bản sắc văn hoá không những của dân tộc mình mà còn của dân tộc khác” [8, tr 58]; đồng thời bồi dưỡng, vun

Trang 32

đắp thêm “tình yêu về đất nước và con người Việt Nam - đất nước của 54 dân tộc, lòng tự hào và tình cảm quý trọng các di sản văn hoá dân tộc” [8, tr 57] Nhờ các hình thức hoạt động của công tác giáo dục hướng tới đông đảo công chúng, BTDTHVN đã gắn liền với đời sống xã hội, xây dựng mối quan hệ với các cộng đồng, từng bước nâng cao ảnh hưởng và vị thế của bảo tàng trong đời sống văn hoá của nhân dân trong nước cũng như bạn bè quốc tế

Bằng những hoạt động đa dạng, tích cực và hiệu quả, BTDTHVN đã

đảm nhiệm tốt vai trò của một cơ quan nghiên cứu và giáo dục khoa học, một trung tâm lưu giữ những giá trị văn hoá quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Với những ưu thế và đặc điểm riêng, với vốn tài liệu hiện vật đa dạng và ngày càng phong phú, với một đội ngũ cán bộ bảo tàng đầy nhiệt huyết, năng động và sáng tạo, BTDTHVN có điều kiện, khả năng để đảm nhiệm vai trò của mình trong hoạt động giáo dục văn hoá truyền thống cho công chúng

Trang 33

Chương 2 Thực trạng hoạt động giáo dục văn hoá

truyền thống của Bảo tμng Dân tộc học Việt Nam

2.1 Văn hoá truyền thống và tầm quan trọng của việc giáo dục văn hoá truyền thống tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

2.1.1 Khái niệm “Văn hoá truyền thống”

Phục vụ cho việc tìm hiểu nội dung, các hình thức thực hiện và hiệu quả hoạt động giáo dục văn hóa truyền thống của BTDTHVN, chúng tôi đề cập tới khái niệm “văn hóa truyền thống” với tư cách một khái niệm công cụ trong quá trình thực hiện đề tài Khái niệm “văn hóa truyền thống” được nhận thức thông qua cách hiểu về “văn hóa” và “truyền thống”, hai bộ phận từ ngữ cấu thành nên khái niệm này

Theo định nghĩa của UNESCO (Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc), “văn hoá” được nhìn nhận với nghĩa rộng nhất: Là một phức thể - tổng thể các đặc trưng - diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm … khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng miền, quốc gia, xã hội [70, tr 47]

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuốc sống, loài người sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo

và phát minh đó tức là văn hoá” [50, tr 431]

Hội nghị lần thứ V - Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VIII) đã khẳng định “Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế

Trang 34

giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc” [68, tr 40].

Về “truyền thống”, cũng có nhiều cách hiểu, song có thể thống nhất ở nội hàm: truyền thống là những gì được lưu giữ, bảo tồn từ thế hệ này sang thế

hệ khác; thứ được trao truyền có thể là văn hoá, hoặc hẹp hơn là đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, tư tưởng “Truyền thống là tập hợp những tư tưởng

và tình cảm, những thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng

đồng người nhất định được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định,

được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [53, tr 86] Chúng tôi đề cập tới khái niệm truyền thống hàm nghĩa những yếu tố tốt đẹp, thể hiện bản sắc của mỗi cộng đồng, được các thế hệ nối tiếp nhau trao truyền, lưu giữ và trân trọng bảo tồn

Trong hoàn cảnh của một quốc gia đa dân tộc, phải khẳng định rằng

“Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng

đồng các dân tộc Việt Nam Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái văn hoá riêng Các giá trị và sắc thái văn hoá đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hoá Việt Nam …” [69, tr 57]

Trên cơ sở cách hiểu về “văn hoá”, về “truyền thống” cùng với nhận thức về tính đa dạng trong thành phần dân tộc của Việt Nam, có thể quan niệm: “văn hoá truyền thống là toàn bộ giá trị, thành quả, thành tựu vật chất

và tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được lưu giữ, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam” [27, tr.19]

Như vậy, khái niệm “văn hoá truyền thống” được nghiên cứu trên phương diện giá trị, chứ không phân chia theo tuyến tính, thời gian Nội hàm của “văn hoá truyền thống” rất rộng, bao quát tất cả những lĩnh vực, những

Trang 35

bình diện của đời sống xã hội, từ những biểu hiện văn hoá vật thể, phi vật thể

đến những lĩnh vực nhỏ hơn như văn hoá nghệ thuật, văn hoá dân gian, văn học, nghệ thuật, phong tục tập quán, hành vi, hoạt động trong đời sống thường nhật… Tuy nhiên, khi xét “văn hoá truyền thống” với tư cách là đối tượng mà công chúng tìm hiểu, nhận thức thông qua hoạt động của một thiết chế văn hoá (bảo tàng) thì nội hàm của khái niệm này được đặt trong một phạm vi hẹp hơn, tinh tuý hơn dưới dạng những giá trị tiêu biểu trên cả hai lĩnh vực văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần

2.1.2 Tầm quan trọng của việc giáo dục văn hoá truyền thống tại Bảo tàng

Dân tộc học Việt Nam

Giáo dục văn hoá truyền thống được hiểu là quá trình truyền đạt và tiếp thu tri thức, hiểu biết về các giá trị văn hóa tiêu biểu, phản ánh cuộc sống và diện mạo văn hóa của 54 dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ Việt Nam từ bao đời nay ở nước ta hiện nay giáo dục văn hóa truyền thống được thực hiện cả trên phương diện chính thức và không chính thức Giáo dục chính thức

được thực hiện với sự tham gia của nhiều lực lượng xã hội như các đoàn thể, tổ chức, cơ quan, thiết chế văn hóa, trường học, văn nghệ sỹ…, đem lại cho quần chúng nhân dân những hiểu biết nhất định về văn hóa của các dân tộc Ngoài

ra, việc giáo dục và tiếp thu văn hóa truyền thống còn được diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong các cộng đồng, gia đình một cách tự nhiên và sự tiếp nhận mang tính tự giác thông qua quá trình ông bà, cha mẹ, người lớn tuổi bảo ban, dạy dỗ thế hệ con cháu về thuần phong mỹ tục, tập tục sinh hoạt, cách ứng xử, nếp sống, suy nghĩ…

Hoạt động giáo dục văn hoá truyền thống rất quan trọng, có ý nghĩa thiết thực vì phục vụ cho chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển văn hoá, về vấn đề dân tộc Hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 đã ghi nhận “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt

Trang 36

Nam Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số” (Điều 5 ) [30, tr 14-15] Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số là một trong mười nhiệm vụ cụ thể mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ V- Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VIII)

đề ra về việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Đồng thời, đây cũng là một hoạt động góp phần thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề đoàn kết dân tộc: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Ê đê, Xê đăng hay Ba na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt” [45, tr 45]

BTDTHVN là một trung tâm lưu giữ nhiều tài liệu - hiện vật phản ánh giá trị văn hoá tiêu biểu của các dân tộc ở Việt Nam Do đó, thiết chế văn hóa này có điều kiện thuận lợi trong hoạt động giáo dục văn hóa truyền thống, thông qua các hình thức hoạt động giáo dục mang lại cho công chúng của bảo tàng những hiểu biết về đặc điểm văn hóa của 54 dân tộc anh em ở nước ta Với đối tượng công chúng là người Việt Nam, sự hiểu biết này còn tạo cơ sở cho tình đoàn kết và thái độ tôn trọng, bình đẳng giữa các dân tộc

BTDTHVN thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa truyền thống bằng cách thức của giáo dục trong bảo tàng - giáo dục trực quan Bên cạnh đó, với nội dung, đặc trưng của một bảo tàng quốc gia về Dân tộc học, lượng thông tin của BTDTHVN về văn hóa truyền thống đầy đủ và phong phú về thành phần dân tộc ở Việt Nam Do đó, hoạt động giáo dục văn hóa truyền thống của BTDTHVN luôn khẳng định được ưu thế về nội dung, cách thức, cũng như phương tiện thực hiện

Trang 37

Hoạt động giáo dục văn hoá truyền thống của BTDTHVN rất quan trọng và cần thiết với các lý do sau:

- Phát huy được giá trị của tài liệu - hiện vật dân tộc học mà bảo tàng

lưu giữ trong việc phục vụ nhu cầu văn hoá của xã hội

Hiện vật của BTDTHVN phản ánh đời sống văn hoá của 54 dân tộc ở nước ta Các hiện vật này được sưu tầm, liên tục bổ sung, xây dựng hồ sơ khoa học - pháp lý, được xử lý theo qui trình khoa học của bảo tàng và trở thành tài sản quốc gia Với tư cách là hiện vật bảo tàng, chúng có đầy đủ các thuộc tính như: thuộc tính thông tin, thuộc tính hấp dẫn, thuộc tính biểu cảm và có khả năng bảo quản lâu dài [37, tr 23-27]; đồng thời với tư cách là những hiện vật dân tộc học, chúng hàm chứa nhiều thông tin về lịch sử và văn hoá tộc người [61, tr 181]

Trong thời đại của khoa học - công nghệ và sự bùng nổ thông tin như hiện nay, nhu cầu hiểu biết, khám phá của con người, của xã hội là rất lớn Trong bối cảnh đó, nguồn tri thức mà bảo tàng đem lại thông qua hệ thống tài liệu hiệu vật lại được đánh giá rất cao nhờ độ chính xác và tính trực quan trong quá trình tiếp cận Do đó, cũng như các bảo tàng khác, BTDTHVN cần tiến hành các hoạt động giáo dục để có thể khai thác và sử dụng có hiệu quả hiện vật dân tộc học trong việc phục vụ nhu cầu hiểu biết của công chúng, mà

cụ thể là hiểu biết về văn hoá truyền thống của 54 dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ Việt Nam

- Tạo dựng một không gian văn hoá sống động, tạo điều kiện và cơ hội

cho mỗi cá nhân tiếp cận với đặc trưng văn hoá của các cộng đồng người ở Việt Nam

54 dân tộc ở nước ta hiện nay có sự khác biệt về văn hoá, trình độ phát triển, địa bàn cư trú, cũng như số lượng người trong từng dân tộc Ngay trong bản thân mỗi dân tộc cũng có sự phân chia theo vùng lãnh thổ Do vậy, không phải mọi nơi, mọi lúc, mỗi người cũng có đủ điều kiện về thời gian, không

Trang 38

gian để tìm hiểu và cảm nhận về đặc trưng, đặc điểm văn hoá của dân tộc mình cũng như các dân tộc khác Do đó, loại bảo tàng Dân tộc học rất hữu ích trong việc giúp công chúng có được một cái nhìn mang tính khái quát về văn hoá truyền thống của các dân tộc ở Việt Nam

Tại Thái Nguyên, Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam, tiền thân là Bảo tàng Việt Bắc ra đời sớm hơn BTDTHVN; hiện nay cũng là một trung tâm lưu giữ và giới thiệu về văn hoá của các dân tộc ở Việt Nam BTDTHVN ra

đời muộn hơn, song có ưu thế về vị trí địa lý - nằm tại thủ đô Hà Nội, có diện tiếp xúc khá rộng với công chúng trong và ngoài nước Đồng thời, BTDTHVN còn tiếp xúc, học tập và áp dụng những kinh nghiệm hoạt động của bảo tàng quốc tế ngay từ khi mới thành lập Vì thế, nhiều hình thức hoạt động đa dạng, phong phú đã và đang được BTDTHVN triển khai trong việc tiếp cận và phục

vụ công chúng

2.2 Nội dung trưng bày của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trưng bày được coi là ngôn ngữ đặc trưng, riêng có của bảo tàng Với việc lưu giữ, trưng bày và giới thiệu các hiện vật cùng giá trị của chúng, bảo tàng khác biệt với các thiết chế văn hoá khác như thư viện, nhà văn hoá, câu lạc bộ… Trong một bảo tàng thường có phần trưng bày thường xuyên (trưng bày thường trực) và các cuộc trưng bày chuyên đề (cố định hoặc lưu động)

Đây có thể coi là một “công cụ chính của công tác giáo dục” [23] Bởi vì hiện vật và các sưu tập hiện vật trong bảo tàng chứa đựng những giá trị văn hoá, khoa học sâu sắc Qua hệ thống trưng bày của bảo tàng, khách tham quan có thể tiếp cận trực tiếp với hiện vật bảo tàng, lĩnh hội những tri thức mới, củng

cố những kiến thức đã có, có những suy nghĩ, đánh giá, cảm nhận về những vấn đề mà bảo tàng thể hiện Sự khơi gợi cảm xúc có thể dẫn đến việc thay đổi nhận thức, thái độ và quan điểm Tất cả những điều đó hỗ trợ khách tham quan tham gia vào quá trình học tập cá nhân một các tích cực, tự nhiên, không gượng ép

Trang 39

Trưng bày thường xuyên là phần quan trọng của một bảo tàng, thể hiện những vấn đề cốt lõi, chính yếu phù hợp với nội dung và loại hình bảo tàng Trưng bày thường xuyên của BTDTHVN gồm hai phần: trưng bày trong nhà

và ngoài trời Kết cấu này rất cần thiết và hợp lý đối với một bảo tàng chuyên ngành dân tộc học để có thể mở rộng diện tích, không gian trưng bày và thể hiện một cách sinh động hơn đặc trưng văn hóa của các dân tộc ở Việt Nam Bên cạnh trưng bày thường xuyên, BTDTHVN còn thực hiện các cuộc trưng bày tạm thời theo từng chuyên đề cụ thể Hệ thống trưng bày là công cụ trong hoạt động giáo dục văn hóa truyền thống của BTDTHVN

2.2.1 Trưng bày trong nhà

Phần trưng bày trong nhà chiếm phần lớn diện tích của toà nhà “trống

đồng”; được hình thành với mục đích thể hiện khái quát những đặc trưng văn hoá của các dân tộc ở Việt Nam BTDTHVN sử dụng khoản 650 đơn vị hiện vật, các hiện vật chủ yếu được phô bày trong 97 tủ kính có kích thước và kiểu dáng khác nhau [8, tr 32] Ngoài hiện vật gốc, BTDTHVN còn sử dụng các tài liệu khoa học phụ như panô, bản đồ, sách cứng, ảnh minh họa… giúp người xem dễ dàng nắm bắt nội dung của từng phần trưng bày, nhận thức được giá trị, ý nghĩa của hiện vật trong cuộc sống đời thường Các êtiket (nhãn chú thích) có tác dụng giải thích, giới thiệu từng hiện vật, sưu tập một cách ngắn gọn với các thông tin kèm theo Việc sử dụng phim video, manơcanh cùng với hiện vật có ý nghĩa trong việc tái tạo về một tập tục hay một nét văn hoá cụ thể trên hệ thống trưng bày

Nội dung trưng bày trong nhà của BTDTHVN gồm có 9 phần:

- Phần thứ nhất: Giới thiệu chung

BTDTHVN đã sử dụng tấm panô có nhan đề: “Việt Nam: những chặng

đường lịch sử, văn hóa” để giới thiệu một cách khái quát về các thời kỳ lịch

sử lớn của đất nước, sự hội nhập của các dân tộc vào nền văn minh Việt Nam

Địa bàn phân bố của các dân tộc ở nước ta theo các nhóm ngôn ngữ, đặc điểm

Trang 40

cư trú của các dân tộc theo các độ cao được thể hiện bằng một tấm bản đồ lớn,

có 3 mặt cắt ở các vị trí Bắc, Trung, Nam Ngoài ra, BTDTHVN còn giới thiệu chân dung người của 54 dân tộc ở nước ta theo 5 ngữ hệ (Nam á, Nam Đảo, Thái - Kađai, Hmông - Dao, Hán - Tạng) bằng các tấm panô khác

Các phần tiếp sau (từ Phần thứ hai đến Phần thứ tám), BTDTHVN giới thiệu về cuộc sống, diện mạo văn hoá của 54 dân tộc ở Việt Nam theo từng nhóm ngôn ngữ Nội dung trưng bày về một dân tộc, nhóm dân tộc thường bắt

đầu bằng việc giới thiệu những thông tin chung trên các tấm panô, ảnh minh hoạ, tiếp đó BTDTHVN đi sâu thể hiện một số nét văn hoá đặc trưng của dân tộc, nhóm dân tộc đó bằng các tài liệu - hiện vật, mô hình tái tạo, phim video

- Phần thứ hai: Dân tộc Việt (Kinh)

Thông qua các hiện vật, giới thiệu một số nét văn hoá truyền thống của dân tộc Việt như nghệ thuật múa rối nước, nhạc cụ, đồ chơi dân gian của trẻ

em, tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ cúng tổ tiên, thờ tổ nghề hát bội Một số nghề thủ công tiêu biểu như nghề đúc đồng, nghề gốm, chạm khắc gỗ, nghề sơn, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ, nghề làm nón làng Chuông, nghề đan đó làng Thủ Sỹ cũng được thể hiện trong phần trưng bày

tổ chức đám ma

Ngày đăng: 06/06/2021, 01:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w