1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu sưu tập rối nước dân gian trưng bày tại bảo tàng dân tộc học việt nam

97 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 3,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VÀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG SƯU TẬP HIỆN VẬT BẢO TÀNG 1.1 Khái quát chung về Bảo tàng Dân tộc học 1.1.1 Sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Dân tộc học Bảo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA DI SẢN VĂN HÓA

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp, bản thân em đã cố gắng nổ lực thực hiện hết mình, tuy nhiên không thể thiếu sự hướng dẫn và hỗ trợ của các thầy cô giáo và các cô chú cán bộ Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến ThS Hoàng Thanh Mai đã luôn quan tâm, hướng dẫn em một cách tận tình trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Di sản Văn hóa đã cho em những kiến thức quý báu trong suốt thời gian em học tập tại trường

Là công trình nghiên cứu khoa học đầu tay nên khóa luận không tránh khỏi những sai sót Em kính mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo

để khóa luận của mình được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2015

Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Truyền

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lí do chọn đề tài 1

2.Mục đích nghiên cứu 2

3.Đối tượng nghiên cứu 2

4.Phạm vi nghiên cứu 2

5.Phương pháp nghiên cứu 3

6.Bố cục đề tài 3

CHƯƠNG 1 BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VÀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG SƯU TẬP HIỆN VẬT BẢO TÀNG 4

1.1Khái quát chung về Bảo tàng Dân tộc học 4

1.1.1Sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Dân tộc học 4

1.1.2Đặc trưng và chức năng, nhiệm vụ của Bảo tàng Dân tộc học 8

1.2Khái quát về nội dung trưng bày ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 10

1.3Một số khái niệm có liên quan 12

1.3.1Khái niệm sưu tập và sưu tập hiện vật Bảo tàng 12

1.3.2Tiêu chí hình thành sưu tập hiện vật Bảo tàng 16

1.3.3Nguyên tắc hình thành sưu tập hiện vật Bảo tàng 17

1.3.4Các bước tiến hành sưu tập hiện vật Bảo tàng 18

1.3.4.1 Xác định tên sưu tập 18

1.3.4.2 Tiến hành chọn hiện vật có thuộc tính chung đã được xác định bởi tên sưu tập 18

1.3.4.3 Hoàn thiện hồ sơ đối với hiện vật thuộc sưu tập 19

1.3.4.4 Nghiên cứu, thẩm định và bổ sung thông tin nhằm làm phong phú cho nội dung từng hiện vật 19

1.3.4.5 Lập sổ sưu tập 20

CHƯƠNG 2 SƯU TẬP RỐI NƯỚC DÂN GIAN TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM 22

2.1 Lịch sử, nguồn gốc của sưu tập 22

Trang 4

2.2 Tổng quan và phân loại sưu tập 24

2.2.1 Thống kê số lượng hiện vật trong sưu tập 24

2.2.2 Phân loại sưu tập 25

2.2.2.1 Sưu tập các tài liệu viết 28

2.2.2.2 Sưu tập các hiện vật khối 28

2.3Nội dung của sưu tập 29

2.4Giá trị của sưu tập 51

2.4.1Giá trị lịch sử 51

2.4.2Giá trị văn hóa 54

2.4.3Giá trị giáo dục 57

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM BẢO QUẢN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ SƯU TẬP HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM 60

3.1Thực trạng của sưu tập 60

3.1.1Thực trạng công tác sưu tầm nghiên cứu, quản lý và kiện toàn sưu tập 60

3.1.2Thực trạng công tác kiểm kê và bảo quản sưu tập 62

3.1.3Thực trạng công tác phát huy giá trị sưu tập 65

3.2Một số giải pháp về bảo quản và phát huy giá trị sưu tập Rối nước dân gian tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 66

3.2.1Tiếp tục công tác nghiên cứu, kiện toàn sưu tập 66

3.2.2Tăng cường quản lý và bảo quản sưu tập 70

3.2.3Không ngừng phát huy giá trị của sưu tập 73

KẾT LUẬN 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 81

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam rất phong phú và đa dạng Đó

là nguồn tri thức được tích lũy từ bao đời nay của các dân tộc Vấn đề đặt ra

là các nguồn tri thức này đã được sử dụng như thế nào để phục vụ cuộc sống đương đại của các cộng đồng là chủ nhân tri thức nói riêng và của mọi người nói chung

Hiện nay Việt Nam có gần 130 Bảo tàng, khá đa dạng về loại hình Các Bảo tàng mang tính tổng hợp, giới thiệu về tự nhiên, lịch sử và cư dân địa phương Có nhiều Bảo tàng chuyên ngành như: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Địa chất Việt Nam, Bảo tàng Hải Dương học Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Bảo tàng

là một thiết chế văn hóa, “là ngôi nhà cất giữ những báu vật của loài người

Nó lưu giữ ký ức của các dân tộc, các nền văn hóa, những ước mơ và hi vọng của con người trên thế giới” Có thể khẳng định bảo tàng giữ một vị trí, vai trò

to lớn trong giáo dục văn hóa và phát huy sự sáng tạo của con người Thông qua các khâu công tác nghiệp vụ của Bảo tàng, đặc biệt là hoạt động trưng bày, công chúng có được những nhận thức trực tiếp, sống động về lịch sử tự nhiên hay lịch sử xã hội

Trong chính sách đa dạng hóa các hoạt động của mình, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đặc biệt quan tâm đến việc phát huy các di sản dân gian từ làng xã, từ các cộng đồng chủ thể văn hóa Bảo tàng hướng các hoạt động tới mục đích “cộng đồng tự bảo tồn”, tạo nên những di sản sống Cách tiếp cận của Bảo tàng là tôn trọng truyền thống, tạo điều kiện cho chính những chủ thể văn hóa tự giới thiệu về mình và những giá trị truyền thống của họ

Múa rối nước là một di sản văn hóa độc đáo của người Việt, là sản phẩm của những người nông dân lúa nước châu thổ Bắc Bộ Trong truyền thống, các phường rối chủ yếu hoạt động vào các dịp lễ hội của địa phương

Trang 6

Một thời gian dài trong chiến tranh và cả sau đó, với nhiều nguyên nhân khác nhau, đa số các phường rối nước dân gian đã ngừng hoạt động hoặc bị tan rã

Di sản văn hóa này và các tri thức dân gian liên quan có nguy cơ bị mai một

Là một cán bộ bảo tàng trong tương lai, lại có mong muốn tìm hiểu về Rối nước dân gian, phần trưng bày về Rối nước dân gian ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã thực sự hấp dẫn em nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ Bảo

tàng học Cho nên, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Tìm hiểu sưu tập Rối nước

dân gian trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”làm khóa luận tốt

3 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sưu tập Rối nước dân gian tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trang 7

5 Phương pháp nghiên cứu

- Vận dụng phương pháp luận khoa học chủ nghĩa Mác – Lê nin; tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, Dân tộc và Bảo tàng

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu của các bộ môn khoa học có liên quan, cần thiết cho quá trình triển khai đề tài: Bảo tàng học, Dân tộc học, Văn hóa học,

- Phương pháp phân tích, đánh giá và tổng hợp các thông tin phục vụ cho đề tài khóa luận tốt nghiệp

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác bảo quản

và phát huy giát trị của sưu tập Rối nước dân gian tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trang 8

CHƯƠNG 1 BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VÀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG SƯU TẬP

HIỆN VẬT BẢO TÀNG

1.1 Khái quát chung về Bảo tàng Dân tộc học

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Dân tộc học

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam chính thức được thành lập ngày 24 tháng

10 năm 1995, là một trong hơn 40 đơn vị trực thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam theo quyết định thành lập số 689/TTg của Thủ tướng Chính phủ

Bảo tàng được xây dựng trong khuôn viên rộng hơn 3,4 ha, nằm trên đường Nguyễn Văn Huyên, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội Sau gần 20 năm xâu dựng và phát triển, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng Lúc mới thành lập Bảo tàng chỉ có 18 người, đến nay đội ngũ nhân viên của Bảo tàng hiện có 87 người làm việc ở

13 phòng, gồm các bộ phận: nghiên cứu – sưu tầm, trưng bày, giáo dục, bảo quản hiện vật, thư viện,

Số lượng hiện vật cùng các tư liệu hình ảnh lưu giữ trong kho của Bảo tàng không ngừng tăng lên sau mỗi chuyến nghiên cứu – sưu tầm của cán bộ Hiện tại, Bảo tàng đang bảo quản khoảng 27.000 hiện vật với nhiều bộ sưu tập về cư dân của Việt Nam và Đông Nam Á Nguồn tư liệu nghe – nhìn khá phong phú với hơn 11.300 kiểu ảnh và phim, 20.000 giờ băng âm thanh và

với hơn 10.000 ấn phẩm (sách và tạp chí), gần 2.000 báo cáo và luận văn cùng với hàng nghìn tư liệu viết tay Tất cả hiện vật, phim, ảnh và tư liệu của Bảo tàng đều được quản lý bằng cơ sở dữ liệu

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có hai không gian trưng bày thường xuyên: trưng bày hiện vật 54 dân tộc trong tòa nhà “Trống đồng” và các kiến trúc dân gian (nhà ở, nhà công cộng, nhà mồ, ) trong khuôn viên ngoài trời

1

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (2011), Các công trình nghiên cứu của bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, tập

Trang 9

Khu trưng bày thường xuyên trong tòa nhà mô phỏng hình trống đồng được

này giới thiệu khoảng 700 hiện vật, phản ánh mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của 54 dân tộc ở Việt Nam Các dân tộc được giới thiệu theo ngôn ngữ: nhóm Việt – Mường, Tày – Thái, Kađai, Hmông – Dao, Tạng – Miến, Môn – Khơme, Nam Đảo, thông qua các hiện vật, tư liệu gốc của chính chủ thể văn hóa Đó là những vật dụng bình dị của cuộc sống thường ngày như: giỏ cá, gùi, dao, Các hiện vật nghi lễ, thờ cúng cũng rất đa dạng như: tranh thờ Đạo giáo, bàn thờ gia tiên, tượng thờ trong đạo Mẫu, mặt nạ nghi lễ, Bên cạnh đó là các loại nhạc cụ độc đáo, bằng vỏ bầu, tre, nứa Đặc biệt hơn

cả là trang phục rất độc đáo của các dân tộc Những bộ quần áo, váy, khố, khăn, được trang trí rất tinh tế bằng các kỹ thuật khác nhau: thêu, đáp vải, batik, Các nghề thủ công truyền thống như: làm nón, làm gốm, đúc đồng, chạm gỗ, in tranh, Nghệ thuật biểu diễn như: hát bội, rối nước, cũng được giới thiệu trong trưng bày thường xuyên này

Ngoài tòa nhà “trống đồng” là một “vườn kiến trúc”, thường gọi là

“trưng bày ngoài trời”, trong không gian cây xanh có diện tích 2,1 ha Ở đây, không chỉ giới thiệu các loại hình kiến trúc dân gian, mà cùng với nó là các không gian cư trú và sinh hoạt của chủ nhân, là các dân tộc ở vùng khác nhau Khu trưng bày này còn mang đến cho công chúng những thông tin về sự sáng tạo của các tộc người trong việc thích ứng với môi trường sinh thái Có 10 công trình do chính người dân tự làm, giới thiệu trong khu trưng bày ngoài trời cho thấy sự đa dạng cũng như sự độc đáo trong kiến trúc của Việt Nam

Về nhà ở, có nhà sàn của người Tày Nhà nửa sàn nửa đất với mái bằng các ống tre bổ đôi của người Dao Nhà trệt với mái ngói âm dương truyền thống của người Việt Nhà lợp bằng các tấm gỗ của người H’mông Nhà tường trình của người Hà Nhì Nhà sàn dài của một gia đình mẫu hệ người Êđê Ngoài ra còn có tổ hợp các ngôi nhà trong khuôn viên của một gia đình người Chăm mẫu hệ và nhà rông của người Bana đại diện cho loại hình nhà cộng đồng Về

Trang 10

nhà mồ, có nhà mồ tập thể của người Giarai và nhà mồ cá nhân của người Cơtu Đa số các công trình kiến trúc trong vườn Bảo tàng được sưu tầm từ các địa phương, từ chính nhà của người dân (trừ nhà mồ và nhà rông được dựng mới hoàn toàn)

Với mục đích đảm bảo cho các công trình có được những yếu tố kỹ thuật và thẩm mỹ mang tính nguyên gốc, đồng thời tôn trọng các chủ thể văn hóa, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam mời người dân ở các địa phương về dựng lại ngôi nhà của mình theo phong tục tập quán của họ Thông qua đó, Bảo tàng khuyến khích, tạo điều kiện cho chủ thể tự thể hiện và giới thiệu về văn hóa của dân tộc mình Khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam vừa tái hiện nhiều không gian văn hóa khác nhau, đồng thời là địa điểm thích hợp cho các hoạt động trình diễn tự giới thiệu của các địa phương, các dân tộc

Từ năm 2007, một tòa nhà mới mang biểu tượng “cánh diều” được khởi công xây dựng Tòa nhà này sẽ giới thiệu các sư dân ngoài Việt Nam, trước hết là những tộc người ở các nước Đông Nam Á Hiện tại, Bảo tàng đang xúc tiến nghiên cứu – sưu tầm hiện vật và tư liệu về khu vực này để tổ chức trưng bày giới thiệu với công chúng trong tương lai không xa Việc khai trương trưng bày sẽ mở ra bước tiến mới trong quá trình phát triển của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Từ đây, các hoạt động của Bảo tàng sẽ mở rộng ra các khu vực Đông Nam Á, Nam Trung Quốc và nhiều vùng khác trên thế giới

, ngay từ khi ra đời, Một năm sau ngày khai trương, Bảo tàng đã cho

ra đời trưng bày chuyên đề đầu tiên, Từ đó, các trưng bày chuyên đề và các hoạt động hướng tới công chúng ngày càng phong phú và đa dạng Năm 2003, Bảo tàng thực hiện 16 cuộc trưng bày và trình diễn Bên cạnh đó Bảo tàng còn

tổ chức nhiều chương trình giáo dục, các buổi thuyết trình, hội thảo khoa học, tập huấn chuyên đề,

Với những hoạt động trưng bày, trình diễn phong phú thường niên, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thực sự trở thành một địa điểm có uy tín trong

Trang 11

việc giới thiệu về văn hóa các dân tộc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam giúp cho khách tham quan cảm nhận về nền văn hóa đa dạng và phong phú của các dân tộc Các hoạt động của Bảo tàng nhằm tăng cường sự tôn trọng đối với truyền thống của mỗi dân tộc, đồng thời khích lệ lòng tự tôn, tự hào về văn hóa dân tộc cũng như ý thức bình đẳng dân tộc, phục vụ tốt khách quốc tế, đáp ứng nhu cầu khám phá của họ Qua đó, Bảo tàng không chỉ góp phần làm cho công chúng hiểu hơn về đất nước, con người và nền văn hóa Việt Nam,

mà còn quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới

Sự ra đời của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, cùng với những hoạt động đa dạng của nó thực sự đáp ứng được đòi hỏi cấp thiết của xã hội cũng như nhu cầu hưởng thụ văn hóa của công chúng, trong bối cảnh văn hóa Việt Nam nói chung, truyền thống văn hóa của các dân tộc nói riêng, đang đứng trước những thách thức của hội nhập Sự thành công và tính năng động của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cũng được nhiều bạn bè, đồng nghiệp quốc tế đánh giá cao Năm 2000 “Hội đồng văn hóa châu Á của Mỹ đã quyết định bầu chọn và trao giải thưởng John – D.Rockefeller 3 cho PGS TS Nguyễn Văn Huy – Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam bởi những đóng góp của ông vào việc giới thiệu nền văn hóa Việt Nam ra thế giới thông qua hoạt động phong phú của Bảo tàng này Họ cũng ghi nhận đây là một trong những bảo tàng dân tộc ấn tượng nhất châu Á”2 Trong 10 năm đầu tiên phục vụ công chúng, đã hai lần Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được giới báo chí bình chọn vào danh sách 10 sự kiện văn hóa – văn nghệ tiêu biểu trong năm ở Việt Nam; lần thứ nhất vào năm 1997, khi bảo tàng mở cửa và lần thứ hai, năm

2005, và khi tròn 10 năm tuổi, “Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trở thành điểm sáng trong hệ thống bảo tàng quốc gia với nhiều hoạt động đa dạng,

Trang 12

Không những tổ chức hoạt động hướng tới công chúng, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam còn tổ chức nhiều chương trình nhằm nâng cao chất lượng hoạt động và kỹ năng bảo tàng học với sự tham gia của nhiều Bảo tàng quốc gia và địa phương khác nhau Nhiều chuyên gia nước ngoài đã được mời đến chia sẻ kinh nghiệm về các tiếp cận mới và giảng dạy về xây dựng bảo tàng theo quan niệm hiện đại

1.1.2 Đặc trưng và chức năng, nhiệm vụ của Bảo tàng Dân tộc học

Cũng giống như bất cứ bảo tàng nào khác khi ra đời, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cũng có những chức năng chính như: nghiên cứu, sưu tầm, trưng bày và giáo dục (hay phổ biến kiến thức) Trong quyết định 689/TTg

ngày 24/10/1995 của Thủ tướng chính phủ nêu rõ: “Bảo tàng Dân tộc học

Việt Nam có nhiệm cụ tổ chức nghiên cứu khoa học, sưu tầm phân loại, đánh giá, bảo quản, phục chế, trưng bày, giới thiệu khai thác các giá trị lịch sử, văn hóa về phương diện dân tộc học của các dân tộc anh em trong đại gia đình Tổ quốc Việt Nam, cung cấp tư liệu nghiên cứu dân tộc học cho các ngành đào tạo cán bộ nghiệp vụ và quản lý cho Bảo tàng Dân tộc học” 4

Bên cạnh chức năng trên, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam còn có những nhiệm vụ sau:

- Thực hiện việc điều tra, sưu tầm, thu thập hiện vật, tài liệu về lịch sử, văn hóa của các dân tộc cư trú trên lãnh thổ Việt Nam

- Tổ chức thực hiện phân loại, đánh giá, lập hồ sơ lý lịch các hiện vật dân tộc học một cách đầy đủ, chính xác nhất Bên cạnh đó là việc bảo quản, phục chế nguyên mẫu các hiện vật sưu tầm được

- Xây dựng phần trưng bày cố định và phần trưng bày chuyên đề, trưng bày lưu động (không cố định) các di sản văn hóa, các bộ sưu tập nhằm phản ánh văn hóa vật chất và tinh thần của dân tộc

4

Quyết định 689/QĐ-TTg về việc thành lập Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam do Thủ tướng chính phủ ký

Trang 13

- Xây dựng và cung cấp các tư liệu nghiên cứu về dân tộc học cho nhiều ngành dưới nhiều hình thức khác nhau: nghiên cứu hiện vật gốc, xây dựng lí lịch hiện vật, băng ghi hình tư liệu ảnh, tài liệu viết, xuất bản, thường xuyên phát hành những ấn phẩm phản ánh kết quả nghiên cứu, thông tin và tư liệu cho bảo tàng,

- Tổ chức thực hiện các chương trình, các đề tài nghiên cứu khoa học

- Tổ chức trao đổi và hợp tác khoa học với các ngành, các địa phương

và các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đó có quan hệ giao lưu văn hóa với Việt Nam

- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học, cán bộ quản lý về chuyên ngành Bảo tàng và Dân tộc học

- Xây dựng hệ thống thông tin tư liệu, thư viện cùng cơ sở vật chất, kỹ thuật cần thiết cho công tác nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, trưng bày tạm thời và lâu dài cho bảo tàng

- Quản lý đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất – kỹ thuật và các tài sản của bảo tàng theo quy định hiện hành

Tuy nhiên, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam làm việc trên nguyên tắc bất cứ một hoạt động nào đưa ra phải luôn luôn đề cao vai trò của công chúng, đề cao vai trò của cộng đồng Phải có các hoạt động đa dạng để lôi cuốn khách đến tham quan kể từ khi khai mạc đến lúc kết thúc cuộc trưng bày Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam xuất phát từ nhu cầu của xã hội chứ không phải xuất phát từ hiện vật có trong bảo tàng để trưng bày Các trưng

bày “100 năm đám cưới Việt Nam” hay “cuộc sống Hà Nội thời bao cấp 1975

– 1986” là những trưng bày chuyên đề có sự đóng góp hiện vật của nhân

dân cả nước Đây là những trưng bày gắn với nhu cầu xã hội đương đại có sức hấp dẫn công chúng

Bên cạnh đó, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cũng mở ra những hướng hoạt động mới như tổ chức trình diễn làng nghề thủ công và văn nghệ dân gian Hoạt động trình diễn nghề là một trong những hướng đi riêng của Bảo

Trang 14

tàng Bảo tàng đã triệt để khai thác di sản văn hóa dân gian từ làng xã, từ các cộng đồng và do chính chủ thể văn hóa tự giới thiệu Tôn trọng các giá trị truyền thống ít bị pha tạp và không bị chuyên nghiệp hóa là nguyên tắc góp phần tạo nên “bản sắc” riêng cho hoạt động trình diễn tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và từ đó tạo nên sự hấp dẫn riêng Công chúng không ngừng được trực tiếp xem các kỹ năng của các nghệ nhân, mà còn được khuyến khích cùng tham gia sáng tạo

Mục tiêu của Bảo tàng là làm sao cho công chúng biết đến mình ngày càng nhiều hơn, đồng thời đáp ứng cao nhất nhu cầu hưởng thụ văn hóa khi

họ đến tham quan Bảo tàng Chính vì vậy, ngoài trưng bày thường xuyên, hàng năm Bảo tàng còn tổ chức các cuộc trưng bày chuyên đề, trình diễn, các hoạt động giáo dục, vui chơi cho trẻ em và gia đình

Trình diễn về các nghề thủ công và nghệ thuật dân gian là một trong những lĩnh vực hoạt động được coi là đặc sắc và thành công của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong những năm qua Hoạt động này được đông đảo công chúng quan tâm, được giới Bảo tàng cũng như công chúng đánh giá cao Trong lĩnh vực đó, trình diễn rối nước dân gian tại Bảo tàng là hoạt động tồn tại lâu dài hơn cả và là một minh chứng sống động cho tính năng động và thành công của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong chiến lược đổi mới và

đa dạng hóa các hoạt động Bảo tàng

1.2 Khái quát về nội dung trưng bày ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Tháng 11/1997 Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã bắt đầu mở cửa đón khách tham quan Để đáp ứng nhu cầu văn hóa, xã hội ngày càng cao của quần chúng, Bảo tàng không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn của mình Hàng năm số lượng hiện vật gốc được bổ sung vào kho không ngừng tăng lên vì vậy số lượng hiện vật sử dụng trong phòng trưng bày cũng luôn có sự thay đổi Có lẽ đây cũng là một trong những lí do hấp dẫn khách tham quan của bảo tàng

Trang 15

Hiện nay hệ thống trưng bày của Bảo tàng gồm hai phần chính: phần trưng bày trong nhà và phần trưng bày ngoài trời Trong nhà trưng bày chia thành 9 phần lớn Ngoài ra bảo tàng còn có một phòng trưng bày lớn dành cho các cuộc trưng bày chuyên đề của bảo tàng Các phần lớn:

 Phần giới thiệu chung

 Phần trưng bày của người Việt và nhóm ngôn ngữ Việt – Mường

 Phần trưng bày về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái và Kađai

 Phần trưng bày về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao

 Phần trưng bày về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Hán Tạng

 Phần trưng bày về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme

 Phần trưng bày về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo

 Phần trưng bày về các dân tộc Chăm, Hoa, Khơme

 Phần trưng bày về sự giao lưu và ảnh hưởng văn hóa

 Phần trưng bày chuyên đề

 Phần trưng bày ngoài trời

Cho đến nay, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã hoàn thành và đi vào phục vụ khách tham quan 10 công trình trưng bày ngoài trời Đó là những ngôi nhà truyền thống tiêu biểu của các dân tộc:

1 Nhà người Chăm

2 Nhà người Việt

3 Nhà Dài của người Êđê

4 Nhà Mồ người Gia Rai

5 Nhà của người H’mông

6 Nhà của người Dao

7 Nhà của người Tày

8 Nhà của người Ba Na

9 Nhà của người Hà Nhì

10 Nhà của người Cơ Tu

Trang 16

Ngoài ra bảo tàng còn tổ chức các cuộc trưng bày chuyên đề, trưng bày sản phẩm gốm, sản phẩm của các chương trình giáo dục, trình diễn văn nghệ dân gian và nghề thủ công cổ truyền, đẩy mạnh thu hút công chúng nhất là học sinh, sinh viên đến bảo tàng

Có thể nói với hệ thống trưng bày trên đây, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam xứng đáng là một cơ quan nghiên cứu dân tộc học với những chuyên gia

về các dân tộc, các lĩnh vực chuyên ngành, đồng thời là trung tâm lưu giữ quý giá về 54 dân tộc

1.3 Một số khái niệm có liên quan

1.3.1 Khái niệm sưu tập và sưu tập hiện vật Bảo tàng

Bảo tàng

“Bảo tàng có lịch sử lâu đời, các Bảo tàng là những ngôi nhà cất giữ những di vật Nó lưu giữ những ký ức của các dân tộc, các nền văn hóa, những ước mơ và hi vọng của con người trên thế giới” 5 Nhưng bảo tàng với

nghĩa hiện đại đã phát triển ở châu Âu vào thế kỷ XVIII Dưới góc độ Bảo tàng học, việc nghiên cứu tìm hiểu và làm rõ khái niệm bảo tàng cùng nội dung, bản chất của nó là một vấn đề quan trọng không thể thiếu

Định nghĩa mới nhất về Bảo tàng của ICOM được thông qua tại kỳ họp thứ 20 tại Seoul (Hàn Quốc) tháng 10/2004 như sau:

“Bảo tàng là một thiết chế phi lợi nhuận, hoạt động thường xuyên, mở cửa phục vụ đón công chúng đến xem, phục vụ cho xã hội và sự phát triển của

xã hội Bảo tàng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, thông tin và trưng bày các bằng chứng vật thể và phi vật thể về con người và môi trường của con người

vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức” 6

Đây là khái niệm chuẩn về Bảo tàng của ICOM đã phản ánh được đối tượng của bảo tàng bao hàm cả di sản vật thể và phi vật thể về con người và môi trường, bổ sung mới về chức năng cho bảo tàng đó là phục vụ công

5

Timothy Ambrose và Crispin Daine, Cơ sở Bảo tàng, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam dịch và xuất bản,

2000, tr.24

Trang 17

chúng, phục vụ xã hội và sự phát triển của xã hội không lấy lợi nhuận làm mục đích, Bảo tàng phải thực hiện chức năng nghiên cứu giáo dục và thưởng thức của công chúng

Ngoài ra ở nước ta, những điều kiện cần và đủ cho một bảo tàng ra đời còn được ghi rõ trong Điều 49 mục 3 của Luật Di sản văn hóa như sau:

- Có sưu tập theo một hoặc nhiều chủ đề

- Có nơi trưng bày, kho và phương tiện bảo quản

- Có người am hiểu chuyên môn phù hợp với hoạt động bảo tàng Đây cũng chính là những tiêu chí cơ bản cho một Bảo tàng theo đúng nghĩa của nó

Hiện vật bảo tàng

Trong cuốn Nghiên cứu nguồn sử liệu Hiện vật Bảo tàng của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội (2002) của tác giả Nguyễn Thị Huệ đã đưa ra

khái niệm: “Hiện vật bảo tàng là những hiện vật gốc mang giá trị và thuộc

tính của hiện vật bảo tàng, có hồ sơ khoa học – pháp lý kèm theo phù hợp với nội dung và loại hình của Bảo tàng, chúng được gìn giữ và bảo quản lâu dài

để phục vụ cho những hoạt động và chức năng xã hội của bảo tàng” 7

Như vậy, hiện vật Bảo tàng trước hết là những hiện vật gốc của lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội được lấy ra trực tiếp từ hiện thực xung quanh ta, vì vậy

nó có tính khách quan và tính chân thực lịch sử Hiện vật gốc bao giờ cũng có tính hai mặt: một mặt được bộc lộ ra bên ngoài gọi là hình thức của hiện vật như hình dáng, màu sắc, kích thước, trọng lượng, Còn mặt kia là những gì bí ẩn bên trong hình thức, nó bao gồm nội dung lịch sử, thông tin khoa học tạo ra bản chất của hiện vật Hình thức và nội dung lịch sử của hiện vật đều có giá trị nhưng giá trị lớn nhất và quan trọng nhất thuộc về bản chất của hiện vật Chính phần bản chất, nội dung lịch sử mới là linh hồn của hiện vật, khi nghiên cứu khai thác cả hình thức và nội dung hiện vật tức là chúng ta đã làm cho hiện vật sống lại cả thời kỳ hoặc giai đoạn lịch sử mà nó là vật chứng

7

PGS TS Nguyễn Thị Huệ, Nghiên cứu nguồn sử liệu Hiện vật Bảo tàng, Nxb Chính trị quốc gia HN, 2002

Trang 18

Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể khẳng định: “Hiện vật

Bảo tàng chính là nguồn sử liệu gốc quan trọng hàm chứa những thông tin gốc về lịch sử xã hội, tự nhiên và con người, nó trải qua một quy trình xử lý khoa học của Bảo tàng” 8

Sưu tập

Thuật ngữ sưu tập chỉ sự tập hợp những đối tượng, những sự vật khác nhau theo một vấn đề hoặc phản ánh một đề tài, phục vụ cho nghiên cứu giáo dục và giải trí

Ở Việt Nam, Trong cuốn Luật Di sản văn hóa Mục 9 điều 8 đã viết:

“Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, hoặc di sản văn hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội” 9

Như vậy theo nội dung của khái niệm này, chúng ta có thể thấy đối tượng được lựa chọn để xây dựng sưu tập không chỉ là những di sản văn hóa vật thể như di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia mà còn cả di sản văn hóa phi vật thể, chúng cần phải được nghiên cứu, phân loại sắp xếp vào các sưu tập của bảo tàng để phục vụ cho chức năng xã hội của bảo tàng

Sưu tập hiện vật bảo tàng

Trong cuốn “Sự nghiệp Bảo tàng của nước Nga” do Cục Di sản văn

hóa xuất bản năm 2006 đã viết: “Sưu tập hiện vật bảo tàng là toàn bộ những

hiện vật khác nhau cùng chủng loại hoặc giống nhau về những dấu hiện nhất định không kể mỗi hiện vật trong đó có giá trị văn hóa riêng được tập hợp lại đều có ý nghĩa lịch sử, nghệ thuật, khoa học hay văn hóa” 10

Bên cạnh đó, khái niệm sưu tập hiện vật bảo tàng cũng được định nghĩa

như sau: “Sưu tập hiện vật Bảo tàng là một tổng thể hiện vật được tập hợp

theo những dấu hiệu đặc trưng vào đó liên quan đến các mặt nội dung đề tài,

Trang 19

loại hình (hiện vật) chất liệu, công dụng, địa điểm, thời gian xuất hiện và nó chứa đựng các giá trị thông tin trở thành nguồn khai thác cho các lĩnh vực hoạt động khoa hoc, giáo dục, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật” 11

Mục đích xây dựng sưu tập của Bảo tàng

- Phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học Hiện vật là nguồn sử liệu chủ yếu, cơ bản nhất phục vụ cho nghiên cứu khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau phù hợp với nội dung chủ đạo của Bảo tàng Do đó sưu tập hiện vật của mỗi Bảo tàng được xây dựng sẽ là một trong những nguồn tri thức quan trọng của từng lĩnh vực khoa học để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học trong

và ngoài bảo tàng, đặc biệt trong tương lai các nguồn tư liệu về các thời kỳ lịch sử đã qua sẽ ngày càng trở nên khó sưu tầm thu thập thì các sưu tập hiện vật trong bảo tàng ngày càng trở thành nguồn sử liệu quý giá phục vụ cho nghiên cứu khoa học của một lĩnh vực nào đó của các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội

- Phục vụ cho công tác trưng bày – giáo dục – tuyên truyền: trong bảo tàng công tác trưng bày được tiến hành trên cơ sở hiện vật gốc và sưu tầm hiện vật gốc có giá trị bảo tàng Do đó nếu sưu tập hiện vật được xây dựng và lựa chọn đưa ra trưng bày thì đó là những sưu tập hiện vật có giá trị lớn vì nó

có khả năng cung cấp thông tin tập trung – nhanh – chính xác, phong phú của

hiện vật bảo tàng với công chúng, bảo tàng sẽ hấp dẫn và thu hút được đông đảo mọi thành phần khách tham quan đến chiêm ngưỡng, thưởng thức và suy ngẫm Từ đó họ nâng cao được ý thức về tri thức làm giàu và thỏa mãn nhu cầu về ngiên cứu học tâp và giải trí của chính mình Do đó có thể nói trung bày sưu tập hiện vật bảo tàng góp phần thực hiện tốt chức năng nhiên cứu và

Trang 20

1.3.2 Tiêu chí hình thành sưu tập hiện vật Bảo tàng

Công tác xây dựng sưu tập trong bảo tàng là một trong những hoạt động thường xuyên mang tính khoa học và là một hoạt động khoa học đặc trưng Đối tượng để xây dựng sưu tập chủ yếu là hiện vật Bảo tàng Tuy nhiên không phải tất cả các hiện vật Bảo tàng đều được xây dựng thành sưu tập, mà bảo tàng phải nghiên cứu, lựa chọn, phân loại chúng dựa trên cơ sở các tiêu chí xây dựng sưu tập của mỗi Bảo tàng Các bảo tàng có nội dung và loại hình khác nhau thì thành phần hiện vật bảo tàng ở kho cơ sở và hệ thống trưng bày cũng khác nhau Do đó, mỗi bảo tàng thuộc loại hình khác nhau cần phải tự xác định và xây dựng các tiêu chí thích hợp để hình thành các sưu tập hiện vật của mình phục vụ cho các chức năng và nhiệm vụ cụ thể của Bảo tàng

Tuy mỗi bảo tàng có cách riêng để xậy dựng sưu tập hiện vật nhưng tất

cả các bảo tàng đều phải tuân thủ những nguyên tắc chung khi xây dựng sưu tập, để mỗi sưu tập hiện vật chứa đựng những giá trị thông tin nhất định, là nguồn khai thác thông tin, tư liệu cho hoạt động của mỗi bảo tàng

Từ lý luận và thực tiễn của hoạt động bảo tàng trên thế giới và Việt Nam, công tác xây dựng sưu tập hiện vật được dựa trên một số tiêu chí sau đây:

- Xây dựng sưu tập hiện vật theo đề tài lịch sử

- Xây dựng sưu tập hiện vật theo loại hình hiện vật

- Xây dựng sưu tập hiện vật theo công dụng hiện vật

- Xây dựng sưu tập hiện vật theo chất liệu hiện vật

- Xây dựng sưu tập hiện vật theo địa điểm

- Xây dựng sưu tập hiện vật theo thời gian

- Xây dựng sưu tập hiện vật theo tác giả

- Xây dựng sưu tập hiện vật tư nhân (chủ sở hữu)

- Xây dựng sưu tập hiện vật lưu niệm gắn liền với cuộc đời – sự nghiệp của danh nhân văn hóa, lịch sử, khoa học, quân sự,

Trang 21

1.3.3 Nguyên tắc hình thành sưu tập hiện vật Bảo tàng

Xây dựng sưu tập hiện vật trong bảo tàng là một hoạt động khoa học thường xuyên quan trọng cũng như các hoạt động khác của Bảo tàng là sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày và nghiên cứu giáo dục Hoạt động này gồm các nội dung:

- Sưu tầm hoặc tập hợp các hiện vật đơn lẻ thành sưu tập

- Nghiên cứu để bổ sung cho sưu tập ngày càng phong phú về số lượng và chất lượng

- Nghiên cứu để bảo quản lâu dài, khai thác, sử dụng phục vụ cho các hoạt động trong và ngoài bảo tàng

Khi xây dựng sưu tập, các bảo tàng phải thực hiện các nguyên tắc chung sau đây:

- Về hiện vật:

+ Phải đảm bảo tính nguyên gốc

+ Phải có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật

+ Tính chất pháp lý

+ Tính hệ thống thông tin hoàn chỉnh

+ Tính quý hiếm độc đáo

Trang 22

- Bảo tàng phải nghiên cứu tìm hiểu để tập hợp đầy đủ, chính xác các hiện vật bảo tàng hiện đang được lưu giữ, bảo quản và trưng bày để đưa vào sưu tập

- Bảo tàng phải thực hiện các bước tiến hành xây dựng sưu tập hiện vật một cách nghiên túc và sưu tập sau khi xây dựng thì phải được sự thẩm định của tổ chức khoa học có trách nhiệm cao nhất của bảo tàng, được giám đốc bảo tàng phê duyệt, ký tên và đóng dấu vào sổ sưu tập của bảo tàng, để đảm bảo tình pháp lý cho sưu tập, từ đó tiến hành công tác bảo quản và quản

lý sưu tập với tư cách là một bộ phận của di sản văn hóa dân tộc

1.3.4 Các bước tiến hành sưu tập hiện vật Bảo tàng

1.3.4.1 Xác định tên sưu tập

Xác định tên sưu tập là xác định các dấu hiệu chung, các tiêu chí, các đặc điểm mà các hiện vật bảo tàng đưa vào đều phải có (ít nhất từ một đến

nhiều dấu hiệu)

Các hiện vật bảo tàng này đang được lưu giữ, trưng bày và được bảo tàng sở hữu, đây là công đoạn đầu nhưng rất quan trọng bởi vì đây là cơ sở để hình thành sưu tập và chi phối các công đoạn tiếp theo Công đoạn này cho biết quy mô, hình thức, phạm vi và sự biểu hiện hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn chỉnh của một sưu tập

Vì vậy khi cán bộ sưu tập hiện vật bảo tàng phải cẩn trọng trong việc lựa chọn các tiêu chí: quy mô, loại hình và cuối cùng phải lựa chọn tiêu chí nào có tính chất quyết định để đặt tên cho sưu tập và biết được sự tồn tại của sưu tập trong bao lâu, phục vụ cho nhiệm vụ và mục đích nào của bảo tàng

1.3.4.2 Tiến hành chọn hiện vật có thuộc tính chung đã được xác định bởi tên sưu tập

Trên cơ sở các tiêu chí, các dấu hiệu, các đặc điểm chung được xác định trên cơ sở sưu tập Các cán bộ xây dựng sưu tập nghiên cứu sổ Kiểm kê bước đầu, kiểm tra số Kiểm kê của hiện vật sao cho phù hợp với số thứ tự đã được đăng ký trong sổ Kiểm kê bước đầu

Trang 23

Nghiên cứu và tìm đến các loại số khác: sổ phân loại, sổ

Các loại số sách khác quản lý của bảo tàng nhằm để quản lý số lượng

và chất lượng của Bảo tàng

Quá trình lựa chọn hiện vật bảo tàng từ các loại sổ sách này phải được thống kê từ các danh mục trên cơ sở các nguyên tắc chung đặt ra (trên cơ sở các hiện vật có trong bảo tàng mình hay không có trong bảo tàng mình)

Những hiện vật được lựa chọn để đưa vào sưu tập phải có những điều kiện sau:

- Phải đảm bảo tính pháp lý, khoa học

- Phải có nội dung, giá trị phù hợp

- Phải có xuất xứ rõ ràng

Trên đây là các bước để chọn hiện vật đưa vào sưu tập

1.3.4.3 Hoàn thiện hồ sơ đối với hiện vật thuộc sưu tập

Công đoạn này cán bộ xây dựng sưu tập phải tiếp tục thực hiện công việc khoa học của mình:

- Nghiên cứu xem xét một lần nữa về từng hồ sơ hiện vật bảo tàng và đối chiếu với hiện vật bảo tàng một cách cụ thể trong trường hợp hồ sơ của hiện vật bảo tàng nào còn thiếu thì cán bộ xây dựng sưu tập tiếp tục có trách nhiệm bổ sung các văn bản cần thiết của hồ sơ, tờ ghi chuyện kể, bản xác định,

- Hồ sơ có ghi chép nhưng chưa chính xác, cần phải nâng độ/tính chính xác của hồ sơ hiện vật, cán bộ xây dựng sưu tập phải báo cáo lãnh đạo

để có những phương thức bổ sung để làm chính xác hóa các thông tin

- Trong trường hợp những hồ sơ ghi chép hiện vật chưa chính xác, không được tự tay sữa chữa, không được hủy hồ sơ mà phải giữ các văn bản

đó, phần bổ sung thông tin và chính xác hóa thông tin phải kèm theo, đính vào

hồ sơ và sau đó được thẩm định

1.3.4.4 Nghiên cứu, thẩm định và bổ sung thông tin nhằm làm phong phú cho nội dung từng hiện vật

Tất cả các hiện vật bảo tàng đã được chọn sau khi hoàn thiện hồ sơ ở công đoạn “hoàn thiện hồ sơ đối với hiện vật thuộc sưu tập”, đến công đoạn

Trang 24

này tiếp tục nghiên cứu và thẩm định một lần nữa để có thể lựa chọn những hiện vật bảo tàng chưa thật sự phù hợp với chủ đề hoặc đề tài hay mục đích xây dựng bộ sưu tập trước mắt của bảo tàng mình Đây là công đoạn quan trọng nhất của bảo tàng khi xây dựng sưu tập

+ có thể nói công đoạn Hoàn thiện hồ sơ đối với hiện vật thuộc sưu tập

và công đoạn Nghiên cứu, thẩm định và bổ sung thông tin nhằm làm phong phú cho nội dung từng hiện vật là hai công đoạn bổ sung cho nhau và gắn bó chặt chẽ với nhau, không thể tách rời nhau nhưng khi thực hiện không được nhầm lẫn

+ ở công đoạn này, đòi hỏi cán bộ sưu tập phải báo cáo về kết quả về xây dựng kết quả sưu tập từ công đoạn Xác đinh tên sưu tập, Tiến hành chọn hiện vật có thuộc tính chung đã được xác định bởi tên sưu tập, Hoàn thiện hồ

sơ đối với hiện vật thuộc sưu tập, Nghiên cứu, thẩm định và bổ sung thông tin nhằm làm phong phú cho nội dung từng hiện vật, về số lượng và chất lượng sưu tập và chuẩn bị đề xuất hội đồng thẩm định

1.3.4.5 Lập sổ sưu tập

Đây là công đoạn cuối cùng sau khi kết thúc công đoạn Nghiên cứu, thẩm định, bổ sung thông tin làm phong phú cho nội dung bộ sưu tập và được hội đồng thẩm định, người làm sưu tập phải làm sổ đăng ký sưu tập dưới góc

độ bảo tàng học, cuốn sổ đòi hỏi tính khoa học và pháp lý, mỗi bảo tàng đều

có một sổ riêng phù hợp với thành phần, đối tượng hiện vật đưa vào sưu tập

Mẫu sổ sưu tập:

- Thể thức: ở trên là tên cơ quan chủ quản, ở dưới là tên bảo tàng

- Trang bìa: có tên sưu tập, sổ sưu tập, địa điểm

- Nội dung:

+ Phần mở đầu: giới thiệu khái quát chung về sưu tập như: phản ánh về vấn đề gì? Nội dung gì? Liên quan đến sự kiện hiện tượng nào? Hay gắn với cuộc đời và sự nghiệp của một danh nhân, tác giả?

Trang 25

+ Danh mục các hiện vật thuộc sưu tập đưuọc thống kê, các lượng thông tin quan trọng theo mẫu gồm: số thứ tự, tên gọi, nộ dung, giá trị, số kiểm kê (trưng bày ở đâu?), bảo quản (bảo quản ở đâu?)

+ Sau bảng danh mục phải có một số trang giấy để trắng khi có điều kiện sẽ bổ sung thông tin và mở rộng sưu tập

Sổ sưu tập được mở ra nhằm đăng ký và quản lý sưu tập cho bảo tàng

Vì vậy các trang trong sổ sưu tập đều có số thứ tự và đóng dấu giáp lai của bảo tàng Cuối sổ có chữ ký và đóng dấu của giám đốc bảo tàng

Trang 26

CHƯƠNG 2 SƯU TẬP RỐI NƯỚC DÂN GIAN TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG DÂN

TỘC HỌC VIỆT NAM

2.1 Lịch sử, nguồn gốc của sưu tập

Từ xa xưa, con người và thiên nhiên luôn gắn liền với nhau, hỗ trợ cho nhau Con người đã biết dựa vào thiên nhiên để sản xuất và đồng thời cũng là để sáng tạo ra những loại hình nghệ thuật độc đáo Ngoài thời gian mùa màng đồng áng, họ đã biết dựa vào sông nước để sáng tạo ra những trò giải trí diễn ra vào dịp lễ hội, ngày vui, ngày Tết, mà nổi bật lên là trò múa rối nước Nghệ thuật biểu diễn múa rối nước là một loại hình sinh hoạt văn hoá truyền thống lâu đời,

đã có từ xa xưa trong lịch sử văn hóa dân tộc với những nét độc đáo riêng

Múa rối nước đã ra đời ở vùng châu thổ sông Hồng và là một sáng tạo độc đáo của cư dân nơi đây Loại hình nghệ thuật này được manh nha từ công cuộc chế ngự nước, cải tạo nước thành yếu tố số một cho việc sản xuất nông nghiệp Chính vì thế, miền đồng bằng châu thổ sông Hồng là cái nôi sinh ra nghệ thuật múa rối nước

Theo các truyền thuyết, huyền thoại lịch sử, trò rối nước ra đời từ thời xây thành Cổ Loa, vào khoảng thế kỷ III trước công nguyên Theo sử sách, múa rối nước ra đời vào triều đại nhà Lý (1010 - 1225) Theo thời gian, múa rối nước được truyền từ đời này sang đời khác, dần dần trở thành một thú chơi tao nhã của người dân Việt Nam trong các dịp lễ hội Loại hình này thường diễn vào dịp lễ, hội làng, ngày vui, ngày Tết, dùng con rối diễn trò, diễn kịch trên mặt nước Trò rối nước cũng được coi là nét văn hóa phi vật thể đặc sắc của dân tộc Việt Nam

Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi:

“…Tân Dậu năm thứ 12 (1021)

“Mùa xuân tháng 2, lấy ngày sinh nhật vua làm tiết Thiên Thành, lấy tre kết làm ngọn núi Vạn Thọ Nam Sơn ở ngoài cửa Quảng Phúc, trên núi làm

Trang 27

hình chim bay, muông chạy muôn vẻ kỳ lạ, lại sai người bắt chước tiếng cầm

thú làm vui, để ban yến cho bầy tôi”…

Theo những ngồn tư liệu khác nhau về nghệ thuật Múa rối ở Việt Nam cho thấy: năm 1121 Múa rối nước đã được đưa vào biểu diễn để mừng thọ vua, mà minh chứng đó là những dòng chữ Hán được khắc trên tấm bia đá cổ

có từ triều đại nhà Lý mà hiện nay đang được đặt tại chùa Long Đọi, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

Rõ ràng là từ thế kỷ XI múa rối đã phát triển và đã có nhiều loại rối Đã

có con rối với những sang kiến và phương diện, vật liệu ngày càng được tạo hình đẹp hơn, nhẹ hơn, cho nên người ta mới có thể sáng tạo được những trò

Nghệ thuật rối nước là đặc phẩm văn hoá bản địa dân tộc Việt, phát triển

ở hầu hết các làng xã quanh kinh thành Thăng Long như: Đào Thục (Đông Anh, Hà Nội), chùa Nành (Gia Lâm, Hà Nội), phường rối nước xã Thanh Hải (Thanh Hà, Hải Dương) và nhiều phường rối ở hầu hết các tỉnh đồng bằng Bắc

Bộ Ngoài Nhà hát múa rối Trung ương và Nhà hát múa rối Thăng Long, còn

có một số phường nổi tiếng như Đào Thục, Tế Tiêu, Tràng Sơn, Bình Phú, Thạch Xá, Nguyên Xá và Nam Chấn Nghệ thuật múa rối nước là một loại hình sinh hoạt văn hoá truyền thống lâu đời của cư dân nông nghiệp vùng châu thổ sông Hồng Thông qua các trò của rối nước, người xem đã cảm nhận được sắc thái của hội làng, lại phảng phất những mơ ước bình dị cho cuộc sống Họ mơ ước có được cuộc sống may mắn, hạnh phúc và bình yên Nghệ thuật múa rối

cổ truyền từ thời xa xưa đã mang đậm bản sắc dân tộc từ vẻ dịu dàng, man mác đồng quê, sự chịu thương chịu khó tần tảo sớm hôm lo cho cuộc sống, tới sự quật cường anh dũng bảo vệ nơi chôn rau cắt rốn khi kẻ thù xâm chiếm bờ cõi giang sơn Ở đấy vừa trần tục gần gũi lại vừa linh thiêng, nó cũng chính là biểu tượng cho mơ ước của cộng đồng người Việt, một nghệ thuật quen thuộc và gần gũi với người nông dân từ bao thế kỷ qua

13

Tô Sanh, Nghệ thuật múa rối nước, Nxb Văn hóa, 1976, tr.15

Trang 28

Dựa vào nghiên cứu của các học giả, về nguồn gốc lịch sử của múa rối dân tộc có thể kết luận: nghệ thuật múa rối nước cổ truyền dân tộc hoạt động từng nhóm, từ trong một gia đình, một dòng họ Vua chúa cung đình biết đến

và sử dụng từ trước thế kỷ XII, rồi phát triển mạnh nhất vào thời Lý – Trần

Có thể nói đó là thời kỳ cực thịnh của nghệ thuật múa rối nước dân tộc; đối với thế giới, múa rối nước Việt Nam là một trong những đóng góp độc đáo và đầy sáng tạo, được giữ vững và duy trì lâu đời nhất; với nghệ thuật múa rối nước, Việt Nam đã có vị trí xứng đáng của mình trong lịch sử nghệ thuật sân khấu múa rối thế giới14

Sưu tập tài liệu, hiện vật “Rối nước dân gian” hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam bao gồm:

- Các quân rối (rối thô, rối sơn mài, rối hỏng) như: Rối Tễu giáo đầu, Rối Dệt vải, Rối đi cày, Rối múa tiên, Rối cưỡi ngựa,

- Sưu tập tài liệu chữ viết do bảo tàng làm ra về hoạt động của các phường rối nước như: hoạt động trình diễn, cách tạo ra các quân rối, các nghệ nhân của những phường rối nước

Sưu tập tài liệu, hiện vật “Rối nước dân gian” được hình thành khá

thuận lợi, gần như được xây dựng hoàn chỉnh trong quá trình trình diễn rối nước của các phường rối nước Các tài liệu, hiện vật được các phường rối nước sau khi trình diễn tặng cho Bảo tàng từ năm 2000 cho đến nay

2.2 Tổng quan và phân loại sưu tập

2.2.1 Thống kê số lượng hiện vật trong sưu tập

Sưu tập Rối nước dân gian tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là một sưu tập có số lượng lớn, nội dung phong phú, đã và đang không ngừng được

bổ sung qua công tác sưu tầm và hiến tặng của các phường rối trong quá trình biểu diễn tại Bảo tàng

Về mặt loại hình hiện vật Bảo tàng, sưu tập “Rối nước dân gian” bao gồm các loại hình với số lượng cho từng loại hình như sau:

Trang 29

- Hiện vật gốc thể khối có 80 đơn vị hiện vật

- Nhóm hiện vật do bảo tàng làm ra phục vụ công tác trưng bày bảo tàng có 16 đơn vị hiện vật

Trong 96 tài liệu hiện vật đều là những quân rối trong những tích trò khác nhau của các phường rối, những hình ảnh về hoạt động của các phường rối nước Sự đa dạng về các tài liệu hiện vật trong sưu tập cho thấy một bức tranh toàn cảnh đặc biệt sinh động về các giai đoạn phát triển của rối nước, phản ánh mơ ước và nguyện vọng của cư dân trong lao động sản xuất trên lĩnh vực đời sống

Với số lượng hiện vật lớn, tài liệu hiện vật trong sưu tập được bảo tàng đặc biệt chú trọng trong công tác nghiên cứu khoa học và giới thiệu với đông đảo quần chúng nhân dân qua hệ thống trưng bày Theo số liệu thống kê khảo sát, bảo tàng hiện lưu giữ 96 hiện vật và trưng bày trên hệ thống trưng bày thường xuyên của bảo tàng

Qua việc khảo sát, thống kê số lượng hiện vật trên đai trưng bày, số liệu thống kê về hiện vật thuộc sưu tập cho thấy quy mô khá lớn, đa dạng và đặc sắc về nội dung của sưu tập Sưu tập Rối nước dân gian là một trong những sưu tập có quy mô khá lớn và có giá trị của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

2.2.2 Phân loại sưu tập

Số lượng và sự đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung của các tài liệu hiện vật trong sưu tập đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phân loại nhằm phục vụ hiệu quả tối đa cho việc quản lý, khai thác, nghiên cứu và không ngừng bổ sung cho sưu tập Vì vậy, xây dựng các tiêu chí phân loại cho sưu tập là công việc rất quan trọng Các tiêu chí không chỉ bảo quát được toàn bộ nội dung sưu tập mà còn phản ánh được từng nội dung đặc trưng Hơn thế nữa, khi đặt trong một tổng thể, các tiêu chí phải tạo nên các mối liên hệ, kết nối để hình thành nên các nhóm tiêu chí, nhu cầu phục vụ một cách thuận tiện nhất, hiệu quả nhất cho công tác quản lý, nghiên cứu và khai thác, phát huy giá trị của sưu tập hiện vật bảo tàng

Trang 30

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã lấy tiêu chí địa điểm, nơi sản xuất

để phân loại hiện vật có tính khái quát, đó là phường rối nước Đào Thục, phường rối nước Đông Các và phường rối nước Hồng Phong

Trên thực tế, việc phân loại chỉ mang tính tương đối Một hiện vật có thể thuộc một hoặc nhiều tiêu chí Đặc biệt với số lượng khá lớn và nội dung, loại hình đa dạng thì việc xây dựng các tiêu chí phân loại và phân loại theo các tiêu chí đó là việc làm hết sức phức tạp, vừa mang tính linh hoạt vừa đáp ứng yêu cầu chính xác cao Có nhiều cách để phân loại hiện vật thuộc sưu tập Rối nước dân gian Có thể phân loại hiện vật theo chất liệu hay theo địa điểm nơi sản xuất

Sưu tập Rối nước dân gian đang được trưng bày trên hệ thống trưng bày của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam bao gồm 96 tài liệu hiện vật:

Bảng thống kê số lượng hiện vật có trong sưu tập:

TT Tên hiện vật Số lượng

Hiện vật Rối

Trang 31

Tài liệu có chữ viết

Sau đây là sơ đồ phân loại sưu tập tài liệu hiện vật “Rối nước dân gian”

SƯU TẬP TÀI LIỆU HIỆN VẬT “RỐI NƯỚC DÂN GIAN”

Sưu tập tài

liệu viết

16,67%

Sưu tập hiện vật thể khối 83,33%

về phường rối nước Hồng Phong 6,25%

Các tài liệu viết

về phường rối nước Đào Thục 7,3%

Rối sơn mài

Trang 32

Tính phong phú đa dạng của sưu tập thể hiện ở 2 khối chính:

2.2.2.1 Sưu tập các tài liệu viết

Các sưu tập tài liệu viết gồm: tài liệu viết về Rối nước dân gian, các tài liệu viết về các phường rối nước Các tài liệu này được bảo tàng đánh máy và

in Qua khảo sát thực tế tại Bảo tàng, số tài liệu này là 16 đơn vị tài liệu, chiếm 16,67% tổng số tài liệu, hiện vật trong sưu tập

Đó là các tài liệu viết về nguồn gốc của Rối nước Dân gian của 3 phường gồm các phường: phường rối nước Đào Thục, phường rối nước Đông Các, phường rối nước Hồng Phong gồm có 15 đơn vị tài liệu

2.2.2.2 Sưu tập các hiện vật khối

Sưu tập các hiện vật khối chiếm 83,33% tổng số đơn vị tài liệu, hiện vật của sưu tập, gồm có:

* Hiện vật là các quân rối sơn mài: có 55 hiện vật, gồm các loại to nhỏ khác nhau của 3 phường: phường Đào Thục, phường Đông Các, phường Hồng Phong

Các quân rối này được dùng để biểu diễn trong các tích trò khác nhau của các phường rối Rối sơn mài là rối đã hoàn thiện, được phủ sơn để tạo hình rối và chống thấm nước vừa để tôn thêm đường nét tính cách cho từng nhân vật

* Hiện vật là các quân rối thô: gồm 11 hiện vật, những con rối này

được các nghệ nhân của các phường chế tác để sử dụng cho những tích trò mới hoặc để thay thế cho những quân rối bị hỏng không thể sửa lại được nữa

Rối thô là những quân rối chế tác đã hoàn thiện phần cơ thể nhưng chưa phủ sơn

* Hiện vật là các quân rối hỏng: gồm 14 hiện vật

Đây là những quân rối hỏng - hầu hết là những quân rối chỉ còn lại bộ phận đầu rất khó có thể xác định được quân rối được sử dụng trong tích trò nào Bên cạnh đó còn có những quân rối hư hỏng nặng nên các nghệ nhân không thể sửa lại để sử dụng được nữa

Trang 33

2.3 Nội dung của sưu tập

Nhận thức được vị trí, vai trò của các hiện vật và sưu tập hiện vật bảo tàng trong hoạt động bảo tàng, từ nhiều năm nay Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã tập trung xây dựng các sưu tập hiện vật, tìm kiếm, thu thập các hiện vật gốc từ nhiều nguồn khác nhau Các sưu tập hiện vật bảo tàng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện đã thúc đẩy quá trình phát triển của Bảo tàng thông qua các khâu nghiệp vụ Trong các sưu tập hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có một sưu tập khá độc đáo với một khối lượng khá lớn Đó chính là sưu tập Rối nước dân gian đang được trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Năm 2000, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tiến hành điều tra, nghiên cứu về các phường múa rối nước dân gian Bảo tàng đã cử các nhà nghiên cứu Dân tộc học và Bảo tàng học đến nhiều làng có phường rối đang hoạt động, thậm chí là cả các phường rối không còn hoạt động Họ tìm hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng cũng như cuộc sống của những nghệ nhân rối nước Song song với nghiên cứu điền dã, Bảo tàng lập phương án cho chương trình trình diễn rối tại Bảo tàng và tìm kiếm sự hỗ trợ về kinh phí cũng như khoa học cho hoạt động trình diễn

Sau đó, các phường múa rối được lần lượt mời về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trình diễn cho công chúng bảo tàng Chi phí cho hoạt động này gồm: tiền ăn ở của các nghệ nhân trình diễn trong những ngày ở Bảo tàng; tiền xe cộ đi lại của các nghệ nhân cũng như vận chuyển con rối, nhạc cụ đều do Bảo tàng đảm nhận Bảo tàng còn thực hiện các hoạt động quảng bá,

in tờ rơi, tài liệu giới thiệu về phường rối Để thực hiện các hoạt động liên quan đến trình diễn rối nước dân gian, Bảo tàng được Quỹ Phát triển Văn hóa Việt Nam – Thụy Điển hỗ trợ về mặt kinh phí

Năm 2002, có 9 phường rối nước dân gian về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trình diễn Đó là các phường: Hồng Phong, Đào Thục, Bình Phú, Đông Các, Nguyên Xá, Đồng Ngư, Nhân Hòa, Nam Chấn và Nam Giang

Trang 34

Phần trưng bày về “Rối nước dân gian” tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được trưng bày tại Nhà Việt, chủ đề trưng bày này có diện tích trưng bày

gốc là 80 đơn vị chiếm tỉ lệ 83,33%, hiện vật do Bảo tàng làm ra có 16 đơn vị chiếm tỉ lệ 16,67%

Múa rối nước là một sản phẩm thuộc di sản văn hóa độc đáo của dân tộc, một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống của Việt Nam Trải qua hơn 1000 năm tồn tại, từ lúc ban đầu chỉ sử dụng hoạt động của quân rối không lời để diễn tả Nghệ thuật múa rối nước ngày càng trở nên phong phú và hoàn thiện, với không gian biểu diễn, có thủy đình, có lời giáo trò, lời thoại, dàn nhạc, tiếng pháo nhằm tạo thêm hiệu quả và hấp dẫn người xem

Múa rối nước sử dụng mặt nước làm sân khấu để con rối diễn trò đóng kịch Múa rối nước thường diễn ra ở ngoài nhà Thủy đình xây dựng giữa hồ ao, nhà Thủy đình nổi hẳn trên mặt nước với kiến trúc độc đáo, kết hợp hài hòa hai yếu tố âm – dương thể hiện sâu đậm bản sắc văn hóa của người dân phương Đông Sự kết hợp đó vừa mang một ý nghĩa triết lý, đồng thời vừa tạo nên khung cảnh đầy sức sống, đẹp đẽ và thơ mộng Múa rối nước không thể tách rời khỏi ao làng Phải nói rằng ao với bờ bãi xung quanh nó vừa đẹp cả nơi biểu diễn lẫn nơi xem Sức hấp dẫn của rối nước sẽ mất mát đi nhiều khi rời khỏi ao làng Vì nó chỉ vừa tầm ao, đưa ra những nơi chứa nước có diện tích lớn như đầm, phá, sông, ngòi, thì quả là không hợp dù cũng có thể có nhiều cảnh quan đẹp Ao là một phần hữu cơ của cảnh quan thiên nhiên của đời sống

xã hội kinh tế, tình cảm, tinh thần Ao không chỉ là công trình thủy lợi nông nghiệp nhỏ thông thường mà còn là nguồn sinh sống thiết thực hàng ngày

Ví dụ tài liệu viết về Thủy đình của phường rối nước Đào Thục: Trước năm 1984, Thủy đình toàn làm bằng tre Sau đó làm bằng các cọc sắt lắp

biểu diễn ở những nơi ít ao hồ Năm 2001 nhờ sự hỗ trợ của quỹ Văn hóa Việt Nam – Thụy Điển, Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và

Trang 35

Du lịch) phường đã xây dựng được thủy đình kiên cố tại ao đình, có tham khảo mẫu của phường Nam Chấn và Nhà hát múa rối Trung ương Theo ông Đặng Văn Thà – Phó phường: “so với Thủy đình phường Nam Chấn và Nhà hát múa rối Trung ương Thủy đình làng tôi cao hơn, rộng hơn, khang trang hơn Mái không xòe và thấp Đường nét các đầu đao mềm mại, cổ kính, giống đầu đao các đình chùa Vật liệu xây dựng là xi măng, sắt, đổ bê tông, chỉ có

Nghị - phường trưởng: “Chúng tôi xây dựng nhà Thủy đình nhằm phát triển lâu dài, để các thế hệ về sau tiếp tục nghề múa rối Kiến trúc Thủy đình gần gũi với kiến trúc Đình, Chùa cạnh đó, tạo cho người xem thuận lợi hơn, lại có

Trải qua gần nghìn năm lịch sử, nghệ thuật múa rối nước vẫn giữ nguyên chất thực dụng nguyên sơ, rất cụ thể, rất chi tiết, nhưng không có lý luận, khái quát để phát triển xa hơn Hơn nữa trong thực tế hiện nay, các nghệ nhân, các ông trùm của phường đều đã cao tuổi và nếu các tài năng kinh nghiệm của các nghệ nhân không được truyền lại thì sẽ dẫn đến mai một nghệ thuật sáng tác, nghệ thuật tạo hình, kỹ thuật điều khiển con rối cũng như âm nhạc và lời thoại Các phường rối trước kia thường đi giao lưu với nhau, các tiết mục tuy có trùng lặp nhưng đều có sáng tạo, cười – vui riêng, với những

“bí quyết nhà nghề” riêng Khi rối nước phát triển, có tục lệ thi đấu, phường rối nào cũng cố tìm ra những trò mới, hay, khéo, lạ để thu hút sự chú ý của người xem, xây dựng dấu ấn riêng biệt của phường mình

Các tài liệu, hiện vật trong sưu tập đã thể hiện nguồn gốc của phường rối nước Đào Thục với tổ nghề và bí quyết giữ nghề nghiệp riêng có của phường

Phường rối nước Đào Thục thuộc xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Làng Đào Thục là một làng thuần nông nằm bên sông Cà

Lồ, xưa thuộc Trang Đào Xá, Tổng Phương La, Phủ Từ Sơn, Bắc Ninh

Trang 36

Ông tổ của nghề rối nước Đào Thục là cụ Nguyễn Đăng Vinh (tự là Phúc Thiêm, còn có tên gọi là Đào Đăng Khiêm) Cụ sinh trong một gia đình nhà Nho có học hành khoa cử, đỗ tiến sĩ, được bổ nhiệm các chức quan Nội giám, Đại Nguyên Soái đời Vĩnh Hựu (1735 – 1740) Ông Đào từng xem một, hai phường múa rối nước vào biểu diễn trong cung đình Ông nảy ra ý mời một vài nghệ nhân và diễn viên về làng để ông huấn luyện thanh niên học múa rối nước và lập nên một phường biểu diễn cho cả đất Kinh Bắc thuở ấy Cuối thế kỷ XVIII, vào triều đại Lê Ý Tông, đến cuối đời Lê Chiêu Thống, triều đình suy vong, đất nước rối ren loạn lạc nên cụ bỏ việc quan về quê hương cùng vợ là Quận công phu nhân Nguyễn Thị Cảnh đã bỏ tiền của cùng dân làng xây lại đình chùa, làng xóm, cung tiến cho làng hơn 4 mẫu ruộng và

500 quan tiền, đặt ra các ngôi lệ cho làng, đón thầy về dạy chữ, dạy võ, dạy nghề đóng cối, trồng bông dệt vải, trồng dâu nuôi tằm, cấy lúa nước Trở về làng, ông thành lập một phường (là nơi tập hợp những người cùng ngành nghề thành phường, đoàn, đội) và trực tiếp dạy cho những người trong làng nghệ thuật biểu diễn múa rối nước - thứ nghệ thuật mà dân làng rất ưa thích, dần phát triển thành môn nghệ thuật dân gian đặc sắc của làng Đào Xá nên tồn tại

và lưu truyền mãi cho đến ngày nay Tiếp sau cụ Nguyễn Đăng Vinh là các cụ Đinh Văn Viết, Nguyễn Đình Tế, Nguyễn Đình Bốn, Nguyễn Văn Nghị kế tục nhau và có nhiều sáng tạo góp phần phát triển nghệ thuật múa rối nước Đào Thục17

Cụ Nguyễn Đăng Vinh được dân làng tôn vinh là ông Tổ nghề múa rối nước Đào Xá Hàng năm, vào ngày 24/2 âm lịch (ngày mất của ông), dân làng làm lễ dâng hương tưởng nhớ công đức của ông tổ nghề

Tuy nhiên các phường rối nước trong làng cũng tổ chức thành hội Người biểu diễn múa rối phải tuân theo các quy định chặt chẽ và phải giữ bí mật các thao tác điều khiển con rối Các thành viên trong phường rối đều phải giữ bí mật trong nghề

Trang 37

Theo lời của nghệ sĩ múa rối Đinh Văn Tiêu, thuộc phường rối Đào Thục, xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội, trước kia những ai muốn học nghề múa rối đều được ông tổ nghề đích thân dạy bảo ngay từ đầu Chỉ những

ai thật sự xuất sắc mới được nhập phường Người mới được chấp nhận ăn mặc chỉnh tề, mang lễ vật gồm có trầu cau, xôi và rượu trắng dâng lên ông tổ nghề Nghề múa rối cứ tuần tự truyền từ đời cha sang đời con Con gái và con rể không bao giờ được nhập phường Nếu tất cả phường đồng ý kết nạp thêm thành viên mới thì tất cả sẽ uống máu ăn thề: “suốt đời suốt kiếp chúng tôi phải giữ bí mật của nghề Nếu không, chúng tôi và ba đời con cháu sẽ phải chết” Khi biểu diễn, mỗi người chỉ biết riêng phần của mình và không được

hé lộ bí mật cho những người biểu diễn khác Người ngoài không được phép xem diễn viên luyện tập Bí quyết quan trọng nhất là về cấu tạo con rối và kĩ thuật điều khiển dây Bất cứ ai làm lộ bí mật đều bị phạt một con lợn 50 cân

Theo ông Nguyễn Văn Nghị - Phường trưởng:suy cho cùng ngày xưa

phường nào biết phường ấy chẳng qua cũng chỉ vì miếng cơm manh áo của mình Nhờ biết giữ nghề mà phường còn giữ được những nét riêng, độc đáo riêng của phường rối đến bây giờ

Bí quyết giữ nghề là thế, nhưng không phải ai muốn học cũng được, mà phải là những người thông minh, học nhanh mới được chỉ bảo tận tình

Theo cụ Đinh Văn Tiêu: năm 1957, mỗi lần các cụ đi biểu diễn ở Vĩnh

Phú, Hà Bắc, Sóc Sơn, tôi đi theo gánh đồ, khuân vác dựng nhà trò, nhìn các cụ làm, bắt chước, thấy tôi sáng dạ, các cụ Tri, Loát, Hòa, Liên dạy bảo thêm, nhập tâm và làm nhiều lần thành quen

Ngày nay, đứng trước nguy cơ mất nghề, nghề rối được truyền cho tất

cả các con cháu nội ngoại, những cháu nào yêu nghề cũng được chỉ bảo tận nơi Do vậy mà cả làng hầu như ai cũng biết về nghề rối này

18

Hữu Ngọc, Lady Borton, Rối nước = Water puppets, Nxb Thế giới, 2006, tr.56, 58

Trang 38

Ví dụ rối Lý Thông trong tích trò “Thạch Sanh chém Trăn tinh”: chàng Thạch Sanh nhân hậu đi kết bạn với Lý Thông – một tên chỉ biết có tiền, tàn

ác, gian manh và xảo quyệt Hắn lừa Thạch Sanh ra miếu thờ trăn tinh để chết thay hắn Chàng Thạch Sanh dũng cảm đã chém được đầu trăn tinh để trừ hại cho đời Tích trò được truyền cho tất cả con cháu trong làng, giáo dục con người sống phải hướng thiện, yêu thương con người

Mỗi phường rối đều có nguồn gốc riêng, phường rối nước Hồng Phong cũng có nguồn gốc riêng, chứng minh cho lịch sử phát triển của phường rối mình

Phường rối nước Hồng Phong thuộc làng Bồ Dương (còn có tên là làng Bò), xã Hồng Phong, huyện Ninh Giang, tình Hải Dương nằm giữa vùng đồng bằng trù phú, rất đặc trưng cho nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, và cũng là nơi nuôi dưỡng loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của nền văn minh lúa nước: nghệ thuật múa rối nước Dân trong làng kể rằng phường rối có từ thế

kỷ XIVtrên hệ thống kèo cột của đình làng Bồ Dương có các bức cốn chạm khắc hình các con rối đang cưỡi rồng, đặc biệt là có hình các chú Tễu đang đấu vật19

Theo nghệ nhân Phạm Văn Phóng: rối nước Hồng Phong có từ lâu rồi,

nhưng mất đi, đến năm 1958 – 1959 tái lập lần đầu, rồi thời chống Mỹ lại bị ngưng lại, mãi đến năm 1998 – 1999 mới khôi phục lại lần thứ hai

Hồi mới phục hồi cơ sở vật chất của phường rối xưa kia không còn, các nghệ nhân điều khiển con rối, làm pháo đã qua đời Nghệ nhân tạo hình con rối cũng không có, dựa vào các bác thợ mộc địa phương làm con rối, nhưng các con rối này về hình dáng không đáp ứng được yêu cầu thẩm mỹ, kỹ thuật, lại dùng sơn công nghiệp để trang trí, màu sắc kém, đều hư hỏng, phải thường

xuyên sữa chữa gây tốn kém

Qua 10 năm, phường đã xây dựng được một đội ngũ diễn viên vững vàng tay nghề, sáng tạo trong biểu diễn - Theo ông Nguyễn Xuân Chiếm

Trang 39

Chính vì thế, chính quyền xã luôn động viên các tổ chức đoàn thể, mặt trận, hội cực chiến binh, đoàn thanh niên, trường học tìm chọn những người

có nhiệt tình, khéo tay để tham gia vào phường rối Xã sẽ tạo điều kiện cho các cháu có kinh phí tập huấn do các nghệ nhân phường rối truyền nghề và hỗ trợ đến phường rối Hồng Phong được tiếp tục duy trì, phát triển và quảng bá

rối nước đại phương

Trải qua hai cuộc kháng chiến, rối nước Hồng Phong gặp nhiều bước thăng trầm Đầu năm 1993, nhờ nhiệt huyết của các dòng họ Nguyễn, họ Phạm, họ Ngô, họ Bùi và họ Đặng, phường được phục hồi

Cụ Phạm Văn Bộ, nghệ nhân của phường: nếu đình làng tôi không còn nữa

và Phường rối làng Bò không còn nữa thì còn gì là truyền thống đất Bồ Dương

Nhiều thế hệ nghệ nhân đã tham gia khôi phục duy trì phường rối Hồng Phong như các cụ Loan, Giỏi, Tá, Nhậm, Mạnh, Bộ, Chiếm, Tuyển, Minh, Phát, Phất, Phóng, Hiện, Doan, đến lớp thanh niên mười tám, đôi mươi mới chập chững vào nghề đang vừa biểu diễn, vừa học nghề như Nguyệt, Ba, Phong Hiện phường gồm 21 người từ 38 đến 77 tuổi, phần lớn là những công chức nghỉ hưu và hậu duệ của các nghệ nhân xưa

Tôi tham gia phưởng rối từ năm 20 tuổi, hiện phụ trách trò “Quy đốt lá súy” Tôi thích nhất trò này vì khi đấy con Quy ra, dìm nó xuống nước nhưng

nó lại ngóc đầu lên, khi lửa châm đúng lá súy, lá súy bùng cháy con Quy tự nhiên lặn xuống thật sinh động - Theo nghệ nhân Bùi Văn Hiện

“Tôi học nghề rối từ cụ thân sinh ra tôi truyền lại, ban đầu tò mò theo dõi các cụ làm gì tôi học và làm theo, dần thành thạo Tôi phụ trách kỹ thuật, con, quân đảm bảo không có sự cố xảy ra khi diễn - nghệ nhân Đặng Văn

Doãn tâm sự

Cũng theo nghệ nhân Đặng Văn Êm:Trong nhà tôi, cả bố vợ và anh rể đề

tham gia phường rối, tôi cùng biểu diễn với anh em và phụ trách thêm bộ gõ và trò “nhà nông” Chúng tôi đi biểu diễn khắp nơi trên rừng, dưới biển, ngày trước đi biểu diễn ở đâu phải tự gánh đồ, sau có xe đạp thì đi bằng xe đạp, nhiều

Trang 40

khi gặp mưa, gió rét rất khổ nhưng vẫn cứ đi Tham gia phường rối phải có tâm huyết, khi cần có mặt ngay, phải vô tư, không tính toán tiền nong Vì vậy chỉ những ai thật tâm huyết mới trụ lại được, ai không cố gắng thì bỏ

Ví dụ tích trò “Nhà nông” của phường rối nước Hồng Phong, người xem thấy hình ảnh làng quê Việt Nam hiện lên với hình ảnh người nông dân chân lấm tay bùn hiện lên trước mắt vừa đẹp vừa mộc mạc: người thì cày bừa, người đang hối hả ra đồng, một không khí thật hối hả, nhộn nhịp của vùng quê đang bước vào mùa vụ

Khác với hai phường rối trên, phường rối nước Đông Các do chính người dân nơi đây nghĩ ra từ một trò chơi và sau đó phát triển trò chơi đó thành nghệ thuật múa rối nước

Phường rối nước làng Đống là một trong bảy phường rối cổ truyền của tỉnh Thái Bình,Làng Đống xưa thuộc tổng Đông Đống, phủ Thái Ninh, Thái Bình, nay Phường thuộc xã Đông Các, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.Cho đến ngày nay còn lưu giữ lại những nét độc đáo rất riêng của vùng đồng bằng châu thổ sông Ngoài làm ruộng, dân làng còn biết nhiều nghề, rối nước chỉ tập trung trong một số gia đình ở xóm Trại

Ghi nhận sự ra đời của mình từ thời nhà Trần: “Phường rối nước Đông

Các có từ thời nhà Trần Tương truyền rằng từ khi bà chúa họ Chu mỗi lần hồi hương lai kinh đi lại bằng thuyền rồng, từ đó dân làng mới nghĩ ra con rồng bằng gỗ bơi dưới nước làm trò chơi và nghệ thuật múa rối nước ra đời Rối nước là sự tổng hợp của nhiều môn nghệ thuật: tuồng, chèo, điêu khắc, ”20

Múa rối nước Đông Các ra đời sớm nhưng đến năm 1929 mới thành lập phường, hội Đông Các là phường rối còn lưu giữ lại tương đối nhiều nét truyền thống của nghệ thuật rối, từ những tích trò cổ đến nét đặc thù của con rối và kỹ thuật biểu diễn Ban đầu, các quân rối do cụ Cư (thợ đục tượng) tạc,

20

UBND xã Đông Các (2005), Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Đông Các 1930 – 2000, Ban chấp hành Đảng

Ngày đăng: 04/06/2021, 23:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, tập 7, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
4. Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Sưu tập Hiện vật Bảo tàng, Nxb Văn hóa thông tin, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sưu tập Hiện vật Bảo tàng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
5. “Các sự kiện văn hóa văn nghệ năm 2005”, Gia đình và xã hội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Các sự kiện văn hóa văn nghệ năm 2005”
6. Sự nghiệp Bảo tàng nước Nga, Cục Di sản văn hóa, 2006, bản dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự nghiệp Bảo tàng nước Nga
7. Lý Khắc Cung (2006), Nghệ thuật múa rối nước, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật múa rối nước
Tác giả: Lý Khắc Cung
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2006
8. Hà Nguyễn, Sinh hoạt nghệ thuật dân gian Hà Nội, tạp chí Thông tin – truyền thông, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh hoạt nghệ thuật dân gian Hà Nội
9. Nguyễn Huy Hồng (1996), Rối nước Việt Nam, Nxb Sân khấu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối nước Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Hồng
Nhà XB: Nxb Sân khấu
Năm: 1996
10. Nguyễn Huy Hồng (1977), Nghệ thuật múa rối nước Thái Bình, Ty Thông tin – Văn hóa Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật múa rối nước Thái Bình
Tác giả: Nguyễn Huy Hồng
Năm: 1977
11. Nguyễn Huy Hồng (2005), Lịch sử nghệ thuật múa rối Việt Nam, Nxb Sân khấu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nghệ thuật múa rối Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Hồng
Nhà XB: Nxb Sân khấu
Năm: 2005
12. Nguyễn Văn Huy (2000), Liên hoan quốc tế về múa rối tại Hà Nội, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên hoan quốc tế về múa rối tại Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Văn Huy
Năm: 2000
13. PGS. TS Nguyễn Thị Huệ, Cơ sở Bảo tàng học, Nxb Đại học Quốc gia, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Bảo tàng học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
14. PGS. TS Nguyễn Thị Huệ, Nghiên cứu nguồn sử liệu Hiện vật bảo tàng, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nguồn sử liệu Hiện vật bảo tàng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
16. Hữu Ngọc, Lady Borton, Rối nước = Water puppet, Nxb Thế giới, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối nước = Water puppet
Nhà XB: Nxb Thế giới
17. Doãn Phương (2000) “Khi chủ thể văn hóa được đề cao...”, Thể thao văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khi chủ thể văn hóa được đề cao...”
18. Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Cơ sở Bảo tàng học, 1990, tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Bảo tàng học
19. Timothy Ambrose và Crispin Daine, Cơ sở Bảo tàng, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam dịch và xuất bản, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Bảo tàng
20. Tô Sanh, Nghệ thuật múa rối nước, Nxb Văn hóa, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật múa rối nước
Nhà XB: Nxb Văn hóa
3. Báo Tiền Phong số 15 ngày 10-16/1/1984, Hội sân khấu Việt Nam đến Tây Âu của Châu Lan Hương Khác
21. UBND xã Đông Các (2005), Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Đông Các 1930 – 2000, Ban chấp hành Đảng bộ xã Đông Các Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w