1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Sản phẩm lưu niệm tại bảo tàng dân tộc học việt nam

110 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ việc tiếp cận về mặt cơ sở lý luận bảo tàng học mới và thực tiễn của việc tổ chức quản lý các cửa hàng lưu niệm tại Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, em chọn đề tài “ Sản phẩm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA DI SẢN VĂN HÓA -*** -

PHAN VÕ DIỆU AN

SẢN PHẨM LƯU NIỆM TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH BẢO TÀNG HỌC

MÃ SỐ: 52320205

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN THỊ HUỆ

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 7

3 Đối tượng nghiên cứu 8

4 Phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Bố cục khóa luận 8

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM VÀ SẢN PHẨM LƯU NIỆM TRONG BẢO TÀNG 10

1.1 Một số khái niệm có liên quan 10

1.1.1 Khái niệm bảo tàng và quản lý bảo tàng. 10

1.1.2 Nhận thức về công tác giáo dục của bảo tàng. 14

1.1.3 Khái niệm marketing trong bảo tàng 16

1.1.4 Sản phẩm lưu niệm trong bảo tàng 18

1.1.5 Vai trò của sản phẩm lưu niệm trong bảo tàng 19

1.2 Khái quát chung về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 23

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 23

1.2.2 Cơ cấu tổ chức của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 24

1.2.3 Nội dung trưng bày thường trực tại Bảo tàng 22

1.2.4 Công tác giáo dục tuyên truyền của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 28

CHƯƠNG II CÁC LOẠI SẢN PHẨM LƯU NIỆM TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM 30

2.1 Tầm quan trọng của sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam………30

Trang 3

2.2 Công tác tổ chức, quản lý các cửa hàng lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc học

Việt Nam 34

2.2.1 Cửa hàng lưu niệm của Bảo tàng 35

2.2.2 Cửa hàng lưu niệm của công ty tư nhân tại bảo tàng 36

2.3 Đặc điểm các loại sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc hoc Việt Nam 37

2.3.1 Nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm lưu niệm 37

2.3.2 Các loại hình sản phẩm lưu niệm 40

2.3.3 Thiết kế, chất liệu, đóng gói sản phẩm lưu niệm 42

2.3.4 Chất lượng, giá cả của sản phẩm lưu niệm 45

2.3.5 Đối tượng khách tham quan tiêu thụ sản phẩm lưu niệm của Bảo tàng 51

2.3.6 Bản quyền sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng 52

2.3.7 Marketing sản phẩm lưu niệm 53

2.4 Giá trị của sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 58

2.4.1 Giá trị văn hóa 58

2.4.2 Giá trị giáo dục 61

2.4.3 Giá trị sử dụng 63

2.4.4 Giá trị thẩm mỹ 64

2.4.5 Giá trị lưu niệm 65

2.5 Kết quả điều tra xã hội học 67

CHƯƠNG III CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM LƯU NIỆM TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM 69

3.1 Một số ý kiến nhận xét, đánh giá về sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 69

3.1.1 Ưu điểm 69

3.1.2 Hạn chế 71 3.2 Giải pháp nhằm phát triển các sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc

Trang 4

3.2.3 Nâng cao chất lượng sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng 80

3.2.6 Mở rộng chiến lược marketing sản phẩm lưu niệm 84

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, công chúng đến với bảo tàng, ngoài mục đích nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử, văn học và nghệ thuật họ còn có nhu cầu khám phá, gặp gỡ, thư giãn, vui chơi giải trí, mua sắm hàng lưu niệm… đây đều là những nhu cầu thiết yếu và chính đáng Vì thế trong quan niệm về bảo tàng hiện đại, các chức năng của bảo tàng cũng cần được bổ sung nhiều vai trò mới, cung cấp các hoạt động dịch vụ phục vụ khách tham quan Nhiều nước trên thế giới, các hoạt động dịch vụ tại bảo tàng rất phổ biến, đặc biệt là nhiều nước phát triển như Mỹ, Pháp, Anh, Hà Lan… hay những quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Singapo, Thái Lan…Các hoạt động dịch vụ trong bảo tàng nói chung và sản phẩm lưu niệm trong bảo tàng nói riêng đã mang lại những hiệu quả thiết thực, góp phần không nhỏ trong việc phát huy tác dụng và duy trì đối với các bảo tàng đồng thời tạo ra những nguồn thu chính đáng Ở Việt Nam, bảo tàng được biết đến là một thiết chế văn hóa hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận, nhưng không thể vì nguyên tắc phi lợi nhuận mà không thực hiện các hoạt động dịch vụ Ở đây chúng ta thấy yếu tố văn hóa và yếu tố kinh tế đan xen nhau vì yếu tố văn hóa là mục tiêu, bản chất hoạt động của bảo tàng còn yếu tố kinh tế là công cụ, phương tiện để hỗ trợ các mục tiêu văn hóa của bảo tàng và nhu cầu của con người khi đến với bảo tàng

Trong Luật Di sản văn hóa được sửa đổi và bổ sung năm 2009 ở điều

48 đã bổ sung khoản 7, quy định nhiệm vụ của bảo tàng trong đó có nhiệm vụ

“Tổ chức hoạt động dịch vụ phục vụ khách tham quan phù hợp với nhiệm vụ của bảo tàng” Tại điều 12 trong thông tư số 18/2010/TT – BVHTT - DL

Trang 6

Bảo tàng ở nhiều nước trên thế giới đều có cửa hàng “Museum shop” (cửa hàng bảo tàng) bán đồ lưu niệm cho khách tham quan, ở Việt Nam cửa hàng loại này gọi là Souvenir shop (cửa hàng lưu niệm) Đây là cách thức phổ biến nhất trong hoạt động dịch vụ ở các bảo tàng nước ngoài Trong những năm gần đây, bảo tàng ở một số nước như: Trung Quốc, Thái Lan, Mỹ, Anh, Pháp…không bảo tàng nào không có cửa hàng này, thậm chí, một số bảo tàng lớn có hai, ba cửa hàng như vậy, tạo điều kiện thuận lợi phục vụ khách tham quan Họ quan niệm cửa hàng lưu niệm không chỉ là nơi các tổ chức hoặc cá nhân thuê mặt bằng để kinh doanh mà còn là nơi để bảo tàng giới thiệu các

“mặt hàng” có liên quan đến các hiện vật bảo tàng hay đề tài trong hệ thống trưng bày của bảo tàng Đồng thời, các cửa hàng của bảo tàng cho dù nhỏ cũng là một phần quan trọng trong sự cảm nghiệm về chuyến tham quan của khách và là một một điểm để bảo tàng tiếp xúc với khách tham quan Việc bán hàng tại cửa hàng trên ở bảo tàng còn góp phần hỗ trợ một nguồn tài chính quan trọng cho bảo tàng

Là một bảo tàng quốc gia với nội dung trưng bày hết sức phong phú và hấp dẫn, trong một không cửa rộng rãi hiếm có giữa lòng thủ đô, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là một điểm đến thường xuyên của cả du khách trong

và ngoài nước Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam không chỉ là không gian riêng cho những nhà khoa học, những người đến để nghiên cứu hoặc đến tham quan học tập mà đây còn là nơi giao lưu, gặp gỡ, giải trí có mục đích và hiệu quả cao đối với nhiều người dân Việt Nam và du khách quốc tế Công chúng đến với bảo tàng ngoài mục đích tìm hiểu, học hỏi còn để thư giãn và trải nghiệm

Vì vậy ngoài nội dung trưng bày và không gian thu hút công chúng thì Bảo tàng còn cần thiết phải tổ chức các hoạt động dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách tham quan mà trong đó mua sắm tại một cửa hàng lưu niệm là một phần trải nghiệm độc đáo tại bảo tàng Hiện nay, Bảo tàng Dân tộc học Việt

Trang 7

Nam đang từng bước hoàn thiện, phát triển các sản phẩm lưu niệm có tại bảo tàng để đáp ứng hơn nữa nhu cầu của khách tham quan đến với Bảo tàng

Làm thế nào để tổ chức phát triển các sản phẩm lưu niệm của bảo tàng trở thành một hoạt động đúng hướng, có những sản phẩm lưu niệm phản ánh được nội dung giá trị của hiện vật bảo tàng và các sưu tập hiện vật trong hệ thống trưng bày của bảo tàng, đảm bảo chất lượng và phù hợp với nhu cầu của khách tham quan cũng đang là một vấn đề mà bảo tàng quan tâm trong thời điểm hiện nay Bên cạnh đó công tác quản lý và tổ chức các hoạt động liên quan tới sản phẩm lưu niệm cũng đặt ra yêu cầu cấp bách cho việc thực hiện chức năng giáo dục, đảm bảo nhu cầu của khách tham quan và tạo nguồn lực tài chính cho bảo tàng hiện nay

Xuất phát từ việc tiếp cận về mặt cơ sở lý luận bảo tàng học mới và thực tiễn của việc tổ chức quản lý các cửa hàng lưu niệm tại Bảo tàng dân tộc

học Việt Nam, em chọn đề tài “ Sản phẩm lưu niệm tại bảo tàng Dân tộc học Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu cho Khóa luận tốt nghiệp chuyên

ngành Bảo tàng

2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu nội dung lý luận về sản phẩm lưu niệm và sản phẩm lưu niệm tại bảo tàng và cứu vai trò, ý nghĩa của sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

- Nghiên cứu thực trạng các loại hình sản phẩm lưu niệm được kinh doanh tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và công tác quản lý các cửa hàng lưu niệm tại Bảo tàng

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm lưu niệm

Trang 8

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và những hoạt động kinh doanh sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu các cửa hàng kinh doanh sản phẩm lưu niệm của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và các công ty tư nhân có tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam do Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam quản lý

5 Phương pháp nghiên cứu

- Vận dụng phương pháp luận khoa học chủ nghĩa Mác – Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Văn hóa, Dân tộc và Bảo tàng

- Sử dụng phương pháp khảo sát các cửa hàng lưu niệm của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

- Dựa vào một số tài liệu và nghiên cứu các kênh thông tin của Bảo tàng Dân tộc học và một số bảo tàng khác để tham khảo, bổ sung cho khóa luận

- Sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của các bộ môn khoa học có liên quan, cần thiết cho quá trình triển khai đề tài: Bảo tàng học, Dân tộc học, Văn hóa học, Khoa học quản lý, Xã hội học, Kinh tế học…

- Sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá và tổng hợp các thông tin phục vụ cho đề tài khóa luận tốt nghiệp

Trang 9

Chương 2: Các loại sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp nhằm phát triển sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp, bản thân em đã cố gắng

nỗ lực thực hiện hết sức mình, tuy nhiên không thể thiếu sự hướng dẫn

và hỗ trợ của các thầy cô giáo và các cô chú cán bộ Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến PGS

TS Nguyễn Thị Huệ đã luôn quan tâm hướng dẫn em một cách tận tình trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Bảo tồn Bảo tàng đã cho em những kiến thức quý báu trong suốt thời gian em học tập tại trường Đồng thời em cũng gửi lời cảm ơn đến TS.Bùi Ngọc Quang – Trưởng phòng hành chính tổng hợp Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp tài liệu giúp em thực hiện khóa luận một cách tốt nhất Cuối cùng em xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã ủng hộ em rất nhiều trong quá trình em thực hiện đề tài của mình

Là công trình khoa học đầu tay nên khóa luận không tránh khỏi những sai sót Em kính mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo

để khóa luận của mình được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 10

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC

VIỆT NAM VÀ SẢN PHẨM LƯU NIỆM

TRONG BẢO TÀNG

1.1 Một số khái niệm có liên quan

1.1.1 Khái niệm bảo tàng và quản lý bảo tàng

* Khái niệm bảo tàng

Bảo tàng là một thiết chế văn hóa – giáo dục đặc biệt Bảo tàng ra đời không phải là hoạt động ngẫu nhiên hay do ý muốn chủ quan của những cá nhân trong xã hội Bảo tàng chỉ xuất hiện khi sự phát triển kinh tế, văn hóa đạt đến một trình độ nhất định của lịch sử nhân loại, khi mà xã hội đã có sự phân chia giai cấp và nhà nước hình thành Với lịch sử lâu đời như vậy, các bảo tàng là những ngôi nhà cất giữ những báu vật của loài người Nó lưu giữ

ký ức của các dân tộc, của các nền văn hóa, những ước mơ và hy vọng của con người trên khắp thế giới

Ở mỗi quốc gia cùng với sự phát triển thực tiễn của ngành bảo tàng học

đã nghiên cứu tìm hiểu và làm rõ khái niệm bảo tàng cùng nội dung, bản chất của nó Công việc nghiên cứu này đã thu hút, lôi cuốn không chỉ các nhà bảo tàng học ở khắp các quốc gia trên thế giới mà còn thu hút rất nhiều các nhà khoa học ở các lĩnh vực khoa học khác có liên quan Cho đến nay, kết quả nghiên cứu đã được thể hiện trong rất nhiều công trình nghiên cứu và tạp chí

về bảo tàng Và mỗi quốc gia đều đưa ra những khái niệm riêng về bảo tàng thông qua sự phát triển thực tiễn của ngành bảo tàng học của quốc gia đó

Với cách tiếp cận mới về bảo tàng học, các nhà bảo tàng học ở Cộng

hòa Liên bang Nga đã đưa ra khái niệm như sau: “Bảo tàng là thể chế đa

chức năng được hình thành một cách lịch sử của ký ức xã hội, nhờ đó thực hiện được nhu cầu xã hội về tuyển chọn, bảo quản và miêu tả nhóm đặc biệt

Trang 11

các đối tượng văn hóa và tự nhiên, được xã hội công nhận là một giá trị được

Theo định nghĩa mới nhất về bảo tàng của ICOM được thông qua trong

kỳ họp thứ 20 tại Seoul (Hàn Quốc) tháng 10 năm 2004 như sau: “Bảo tàng

là một thiết chế phi lợi nhuận, hoạt động thường xuyên, mở cửa đón công chúng đến xem, phục vụ cho xã hội và sự phát triển của xã hội Bảo tàng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, thông tin và trưng bày các bằng chứng vật thể và phi vật thể về con người và môi trường của con người vì mục đích nghiên

Đây là một khái niệm chuẩn về bảo tàng của ICOM đã phản ánh được đối tượng của bảo tàng bao hàm cả di sản vật thể và phi vật thể về con người

và môi trường, bổ sung về chức năng mới cho bảo tàng đó là phục vụ công chúng, phục vụ cho xã hội và sự phát triển của xã hội không lấy lợi nhuận làm mục đích, bảo tàng phải thực hiện chức năng nghiên cứu giáo dục và thưởng thức của công chúng

Ở Việt Nam, nhiều năm trước đây chủ yếu vận dụng khái niệm bảo tàng và bảo tàng học của Liên xô (Cũ) và các nước Đông Âu vào thực tiễn sự nghiệp bảo tàng Cho đến nay, khái niệm về bảo tàng ở nước ta lần đầu tiên

được khẳng định và ghi trong Luật Di sản văn hóa như sau: “Bảo tàng là thiết

chế văn hóa có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu di sản văn hóa, bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người và môi trường sống của con người nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, thăm

Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng các nhà bảo tàng học đều khẳng định:

Trang 12

Bảo tàng là một thiết chế văn hóa đặc thù, một cơ quan văn hóa, khoa học và giáo dục

Đối tượng nghiên cứu, giới thiệu của bảo tàng là những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, các mẫu vật tự nhiên cùng môi trường tồn tại xung quanh con người

Các hoạt động của bảo tàng là nghiên cứu, sưu tầm, thu thập, bảo quản, gìn giữ và trưng bày giới thiệu các sưu tập hiện vật về lịch sử xã hội, tự nhiên cho công chúng

Ngày nay, trong xu thế nhập hội nhập và phát triển đã và đang diễn ra

sự phát triển mạnh mẽ của tri thức khoa học, bảo tàng ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong sự phát triển xã hội Bảo tàng phải là một thiết chế phi lợi nhuận, bao giờ cũng lấy mục tiêu phục vụ lợi ích công chúng là chính

dù rằng bảo tàng vẫn cung cấp các loại dịch vụ mà người tiêu dùng có nhu cầu sẽ mua bằng tiền

Khái niệm hiện nay về bảo tàng có phần được mở rộng và đa dạng hơn Thông thường, bảo tàng được hiểu theo nghĩa truyền thống là một cơ quan, thiết chế văn hóa đặc thù gồm 4 không gian: Không gian trưng bày trong và ngoài bảo tàng; Không gian bảo quản và xử lý hiện vật; Không gian dành cho các thiết bị kỹ thuật; Không gian dành cho cán bộ chuyên môn và cán bộ hành chính làm việc Đến nay, nhận thức mới về bảo tàng đã được bổ sung, ngoài 4 không gian truyền thống trên bảo tàng còn phải có không gian dành cho các loại hình dịch vụ phục vụ khách tham quan như không gian bán các sản phẩm lưu niệm, không gian dành cho các dịch vụ ăn uống giải khát hay vui chơi giải trí…; Không gian dành cho các hoạt động tự thân, hoạt động giao tiếp, trình diễn và sáng tạo các giá trị văn hóa mới; Không gian dành cho tuổi trẻ học đường, dành cho người khuyết tật…

Đây cũng chính là những yêu cầu mới đối với các bảo tàng hiện đại

Trang 13

* Khái niệm quản lý bảo tàng

Không chỉ riêng bảo tàng mà bất kỳ một cơ quan tổ chức nào thì công tác quản lý cũng là một công tác quan trọng hàng đầu, cho dù có một nguồn nhân sự dồi dào ưu việt, tài sản và nguồn tài chính lớn mà công tác quản lý thực hiện không tốt thì cơ quan tổ chức đó chắc chắn sẽ thất bại Vì thế mà quản lý bảo tàng là vấn đề trọng yếu trong sự nghiệp của bảo tàng Quản lý bảo tàng có trình độ tốt, xấu sẽ quyết định đến tương lại phát triển của bảo tàng Một bảo tàng có khoa học quản lý tốt sẽ tạo điều kiện cho các nguồn lực trong bảo tàng phát triển Vì thế quản lý là khoa học hữu hiệu để phát triển sự nghiệp bảo tàng Xa rời quản lý thì những chức năng cơ bản của bảo tàng khó

mà thực hiện được

Quản lý học là một bộ môn khoa học nghiên cứu lý luận hoạt động quản lý, phương pháp và quy chế quản lý Vì xã hội là hệ thống các bộ phận, muốn hiệu suất tối cao, tất nhiên phải nghiên cứu quản lý học Bảo tàng cũng không nằm ngoài hệ thống đó Bảo tàng học chủ yếu vận dụng tri thức và lý luận của quản lý học để nghiên cứu thể chế quản lý bảo tàng, cơ cấu tổ chức, các phương thức tổ chức hoạt động của nhân viên, nghiên cứu mục tiêu quản

lý bảo tàng, quá trình quản lý, nguyên tắc và phương pháp quản lý bảo tàng

Từ lý luận của khoa học quản lý và chức năng của bảo tàng, chúng ta

có thể hiểu công tác quản lý bảo tàng như sau:

Theo nghĩa rộng: “Quản lý bảo tàng là sự tác động bằng thể chế và tổ

chức nhằm bảo vệ, bảo quản các di sản văn hóa vật thể, các bộ sưu tập của các sở hữu khác nhau và phát huy các di sản ấy phục vụ giáo dưỡng và

Theo nghĩa hẹp: “Quản lý bảo tàng là sự tác động tới sự chăm sóc bảo

quản các hiện vật trong bảo tàng và sử dụng chúng trong việc giáo dục khoa

2

Trang 14

Trong phạm vi hoạt động của một bảo tàng cụ thể, công tác quản lý tạo nền tảng và là “xương sống” xuyên suốt trong các hoạt động của bảo tàng, giúp cho bảo tàng hoạt động một cách có hiệu quả, phù hợp và gắn bó với xã hội

Tại điều 12 trong thông tư số 18/2010/TT – BVHTTDL Quy định về tổ chức và hoạt động của bảo tàng cũng đã quy định rõ về nội dung và yêu cầu

về hoạt động dịch vụ của bảo tàng, trong đó có nội dung “Tổ chức phát triển sản phấm lưu niệm, xuất bản ấn phẩm của bảo tàng” bảo tàng còn có thêm nhiệm vụ và chức năng tổ chức và phát triển các cửa hàng lưu niệm trong bảo tàng Đối với việc tổ chức phát triển sản phẩm lưu niệm, xuất bản ấn phẩm của bảo tàng, quản lý là công tác cần thiết vừa để xác định vị trí, vừa để điều chỉnh mối quan hệ với các bộ phận khác, chức năng khác của bảo tàng

1.1.2 Nhận thức về công tác giáo dục của bảo tàng

Bảo tàng là cơ quan giáo dục cộng cộng, là nơi lưu giữ những ký ức của các dân tộc, các nền văn hóa Là cơ quan văn hóa – giáo dục thực hiện chức năng giáo dục, tuyền truyền, bảo tàng đã, đang và sẽ góp phần nâng cao dân trí, tăng cường sự hiểu biết, khơi dậy niềm tự hào về truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và xây dựng đất nước giàu đẹp Cùng với nhà văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, rạp hát, chiếu phim và các khu vui chơi giải trí khác, bảo tàng thuộc hệ thống văn hóa giáo dục ngoài nhà trường có chức năng, nhiệm vụ giáo dục tuyên truyền góp phần hoàn thiện nhân cách con người

Lúc sinh thời V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Bảo tàng phải thực hiện chức năng của nhà nước là giáo dục” Cũng như mọi cơ quan giáo dục khác, bảo tàng phải làm công tác giáo dục tuyên truyền với những nội dung, hình thức riêng

và đặc điểm riêng của mình

Trang 15

Luật Di sản văn hóa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đã khẳng định vai trò, chức năng giáo dục của bảo tàng trong đời sống

xã hội, đồng thời khẳng định nhiệm vụ của bảo tàng “phải tổ chức phát huy giá trị di sản văn hóa phục vụ lợi ích của xã hội”

Chức năng giáo dục của bảo tàng là một trong những chức năng cơ bản quan trọng, thông qua các hình thức hoạt động của mình để chuyển giao có mục đích rõ ràng các thông tin, những tri thức khoa học, lịch sử, văn hóa giúp cho việc hình thành thế giới quan, giáo dục tư tưởng đạo đức, thẩm mỹ cho con người phát triển toàn diện

Ở nước ta, mỗi bảo tàng đều có những nội dung hoạt động và đặc trưng riêng tùy vào từng loại hình bảo tàng, vì thế mà có nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh công tác giáo dục của bảo tàng như sau:

Đối với các bảo tàng thuộc lực lượng vũ trang thì: “Công tác tuyên

truyền giáo dục của bảo tàng là một bộ phận quan trọng nhất của sự giao tiếp bảo tàng, kế thừa và phát huy tất cả các mặt, nhiệm vụ đến với công chúng trong nước và quốc tế, góp phần giáo dục về mặt tư tưởng, thẩm mỹ, đạo đức,

Nhà bảo tàng học người Pháp Yvan Mathevat khẳng định: “Công tác

tuyên truyền phổ biến văn hóa vừa là con đường tiếp cận với sưu tập, vừa là việc xây dựng các sách lược giáo dục và văn hóa của bảo tàng có vai trò

Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng đều khẳng định:

- Công tác giáo dục là khâu công tác nghiệp vụ cuối cùng trong chu trình hoạt động nghiệp vụ của bảo tàng

Trang 16

- Công tác giáo dục thực hiện các hình thức tiếp cận với công chúng là mục đích cao nhất

- Công tác giáo dục có mối quan hệ chặt chẽ gắn bó, kế thừa và phát huy kết quả của các khâu công tác nghiệp vụ khác Bản thân có một vị trí hết sức quan trọng trong bảo tàng

- Công tác giáo dục của bảo tàng lấy tư liêu hiện vật gốc có giá trị lịch sử văn hóa khoa học được tổ chức trưng bày làm phương tiện và thông qua hình thức tiếp cận để chuyển giao có mục đích những tri thức, đạo đức, khoa học, thẩm mỹ cho công chúng

Ngày nay, công tác giáo dục của bảo tàng không chỉ thể hiện thông qua hình thức tham quan trải nghiệm mà còn tổ chức phát triển các sản phẩm lưu niệm, xuất bản ấn phẩm cũng là một hoạt động quan trọng trong chuỗi hoạt động của bảo tàng Thông qua sản phẩm lưu niệm là cách học tập trực quan nhất và sinh động nhất để khách tham quan có thể nhớ và cảm nhận được những gì đã trải qua trong chuyến thăm quan bảo tàng của họ Đối với chức năng giáo dục bảo tàng, sản phẩm lưu niệm là “sự kéo dài” của hiệu quả giáo dục sau tham quan

1.1.3 Khái niệm marketing trong bảo tàng

Tiếp thị - marketing là một thuật ngữ hiện đại, xuất hiện trong điều kiện

cơ chế thị trường và cách mạng thông tin Cho đến nay có nhiều sách, nhiều quan điểm nói về tiếp thị, nhưng một lý luận riêng về tiếp thị bảo tàng thì vẫn chưa được làm sáng tỏ, ít nhất là ở Việt Nam Một định nghĩa được thừa nhận rộng rãi là: Tiếp thị là các hoạt động nắm bắt nhu cầu thị trường để xác lập các biện pháp nhằm thỏa mãn tối đa các nhu cầu đó, qua đó mang lại lợi

nhuận tối đa cho doanh nghiệp Từ đó cũng có thể hiểu: “Marketing bảo tàng

là các hoạt động nhằm nắm bắt nhu cầu khách tham quan để xác lập các biện

Trang 17

pháp nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu đó, qua đó thực hiện một cách tốt nhất

Từ định nghĩa này ta hiểu tiếp thị bảo tàng có những nội dung cần phải quan tâm như sau:

Một là phân tích nhu cầu khách tham quan tiềm năng, những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của từng nhóm khách để có chiến lược và chiến thuật khác nhau Nghĩa là xã hội có nhu cầu, sở thích gì mà bảo tàng có thể đáp ứng

Hai là có chiến lược phù hợp và thích ứng của bảo tàng để đáp ứng nhu cầu của khách tham quan bằng nội dung chuyên môn, các dịch vụ và chính sách ưu tiên Tức là bảo tàng phải có sản phẩm gì để đáp ứng và nâng cao nhu cầu người sử dụng Chiến lược thu hút khách tham quan là nhiệm vụ sống còn của bảo tàng Vì vậy tiếp thị bảo tàng phải là một quá trình liên tục năng động

và linh hoạt

Ba là quá trình tiếp thị là quá trình nghiên cứu và phân tích nhu cầu khách tham quan, nghiên cứu, phân tích và chiếm lĩnh thị trường thị phần, nghiên cứu hành vi khách tham quan và truyền thông, quảng bá bảo tàng

Như vậy marketing – tiếp thị bảo tàng là sự tác động cân bằng 4 yếu tố: sản phẩm, giá cá, địa điểm và truyền thông quảng bá

Tổ chức phát triển sản phẩm lưu niệm, xuất bản ấn phẩm của bảo tàng nằm trong chuỗi hoạt động của bảo tàng và dĩ nhiên cũng không nằm ngoài nội dung quản lý của bảo tàng Vì vậy, sản phẩm lưu niệm cũng chính là một trong những yếu tố hình thành nên thương hiệu của bảo tàng, do đó chiến lược trong marketing của bảo tàng cũng là một phần quan trọng cần phải

Trang 18

1.1.4 Sản phẩm lưu niệm trong bảo tàng

Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì “Sản phẩm là kết quả

của các hoạt động hoặc các quá trình Sản phẩm bao gồm dịch vụ, phần cứng, vật liệu đã chế biến, phần mềm hoặc tổ hợp của chúng Sản phẩm có thể là vật chất (vd, các bộ phận lắp ghép hoặc vật liệu đã chế biến), hoặc phi vật chất (vd, thông tin, khái niệm hoặc tổ hợp của chúng) Sản phẩm có thể được làm ra có chủ định (vd, để dành cho khách hàng), hoặc không có chủ

Từ khái niệm về “sản phẩm” nêu trên có thể thấy rằng, sản phẩm của bảo tàng khác những sản phẩm thông thường khác vì mang tính tổng hợp thể hiện ở việc kết hợp những yếu tố nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách tham

quan, bao gồm cả sản phẩm vật chất và phi vật chất Vì vậy có thể hiểu “Sản

phẩm bảo tàng là toàn bộ những tạo phẩm đã được đầu tư, chế tạo ra sản phẩm cuối cùng có giá trị sử dụng và chất lượng cao, thỏa mãn được nhu cầu

Qua quá trình nghiên cứu về các tài liệu, các công trình của các nhà nghiên cứu đi trước và quá trình tự nghiên cứu tìm hiểu về sản phẩm lưu niệm trong các bảo tàng có thể nhận thức được khái niệm về sản phẩm lưu niệm

trong bảo tàng như sau: “Sản phẩm lưu niệm trong bảo tàng là toàn bộ những

tạo phẩm có tính chất lưu niệm đã được đầu tư, chế tạo (bởi bảo tàng hoặc các công ty kinh doanh sản phẩm lưu niệm) ra sản phẩm cuối cùng có giá trị

sử dụng và chất lượng cao” Sản phẩm lưu niệm của bảo tàng là sản phẩm

mang những nội dung văn hóa mà bảo tàng muốn truyền tải tới du khách đến tham quan bảo tàng, ngoài ra sản phẩm lưu niệm của bảo tàng còn tạo ra được thương hiệu riêng cho bảo tàng ấy

1 Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam NXB Từ điển bách khoa, 2003, tr.723

2

Trang 19

Hiện nay sản phẩm lưu niệm trong bảo tàng được chia thành 3 loại chính đó là:

1 Loại ấn phẩm: bao gồm các ấn phẩm mang tính học thuật và loại có tính tuyên truyền, cụ thể là loại học thuật bao gồm những sách báo nghiên cứu

về học thuật của bảo tàng, các tài liệu học thuật có liên quan đến các bảo tàng như công trình nghiên cứu của bảo tàng…Và các bưu thiếp, sách ảnh, sách bảo tàng bỏ túi, catalog và hình ảnh sưu tập hiện vật bảo tàng

2 Loại hình băng đĩa gồm có đĩa CD, đĩa VCD, băng video, băng audio…

3 Loại hình sản phẩm lưu niệm gồm có các hiện vật phục chế từ mẫu nguyên gốc có giá trị độc đáo và tiêu biểu của bảo tàng; Các tác phẩm nghệ thuật và các tác phẩm thư pháp…; Sản phẩm thủ công mỹ nghệ như các bức chạm khắc gỗ, đá, khảm trai, các sản phẩm từ gốm, sứ, thổ cẩm…; Sản phầm

là hàng dệt may như quần áo, khăn, mũ, túi xách…; Và đồ chơi trẻ em, dụng

cụ văn phòng…

Các sản phẩm lưu niệm bán tại các cửa hàng lưu niệm trong bảo tàng phải gắn với nội dung chủ đạo của bảo tàng, đặc biệt là các phần trưng bày thường trực của bảo tàng, sản phẩm lưu niệm phải có chất lượng và thích ứng với các nhu cầu khác nhau của khách khách tham quan và giá cả phải phù hợp với túi tiền của họ Ngoài ra, bảo tàng và các công ty kinh doanh sản phẩm lưu niệm thông qua các sản phẩm lưu niệm mà tuyền truyền, giáo dục và tạo

ra thương hiệu cho bảo tàng cũng như công ty đó

1.1.5 Vai trò của sản phẩm lưu niệm trong bảo tàng

Trang 20

nên hấp dẫn hơn, thu hút được nhiều khách tham quan hơn Vì vậy, việc xác định được vai trò của hoạt động này tại bảo tàng có ý nghĩa rất quan trọng vì

đó là phương hương phát triển của một bảo tàng hiện đại

Trước đây, trong thời kỳ bao cấp, các bảo tàng chưa nghĩ đến việc “ tự nuôi sống mình” Sự bao cấp này dẫn đến tình trạng trì trệ trong các bảo tàng, làm mất đi tính năng động trong các bảo tàng Giờ đây, các bảo tàng không còn đứng ngoài quy luật linh tế thị trường nữa Bảo tàng không thể coi nhẹ đối tượng phục vụ của mình mà phải vận động, lôi kéo công chúng đến với bảo tàng bởi vì chính họ mang lại nguồn thu quan trọng cho bảo tàng để nâng cao chất lượng các hoạt động nghiệp vụ cũng như tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên bảo tàng – động lực cho sự nỗ lực làm việc của cán bộ công nhân viên bảo tàng

Sản phẩm lưu niệm trong bảo tàng cần gắn với các bộ sưu tập, các hiện vật trưng bày của bảo tàng Mỗi bảo tàng tùy theo sưu tập hiện vật của mình

mà tạo ra vô số các sản phẩm lưu niệm mang đậm tính chất của bảo tàng và

có ý nghĩa văn hóa giáo dục Những sản phẩm hàng hóa không tự nhiên mang

ý nghĩa giáo dục, từ lâu các nhà bảo tàng học cũng đã nhận ra rằng, các sự vật không tự bộc lộ hết được bản thân nó mà phải trải qua một quá trình truyền tải thông tin giáo dục tới cộng đồng Việc bày bán các sản phẩm lưu niệm kèm theo những tờ thông tin về sản phẩm gồm các nội dung như: giải thích về nguồn gốc, xuất xứ, chất liệu hay bối cảnh lịch sử có liên quan đến sản phẩm…của sản phẩm gắn với hiện vật mà sản phẩm đó mô phỏng giúp người xem trải nghiệm lại quá trình tham quan bảo tàng và hiểu thêm về hiện vật trưng bày, nội dung trưng bày của bảo tàng Từ đó góp phần quảng bá hình ảnh, nâng cao vị thế của bảo tàng Như vậy, sản phẩm lưu niệm có vai trò là

sự diễn giải của trưng bày bảo tàng, mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc

Trang 21

Ngoài vai trò mang lại nguồn thu cho bảo tàng và có ý nghĩa giáo dục sâu sắc, sản phẩm lưu niệm là một trong những thành tố góp phần tạo nên thương hiệu bảo tàng

Thương hiệu là một tài sản phi vật chất được gắn liền với một sản phẩm, một nhà sản xuất – kể cả sản xuất văn hóa Thương hiệu ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng trong văn hóa và kinh tế, được coi là “triết lý cá nhân và vật phẩm văn hóa”

Theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): “Thương

hiệu là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi

Cũng theo Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), những thành tố tạo nên một thương hiệu bao gồm:

Sự liên tưởng đến thương hiệu (Brand association): Những thuộc tính

lý tưởng nhất mang tính tích cực mà mọi người nghĩ tới khi họ nghe hoặc nhìn tên một thương hiệu nào đó

Tên thương hiệu (Brand name): Là một từ hay một cụm từ mà qua đó một công ty hoặc một sản phẩm được biết đến Một tên thương hiệu hiệu quả luôn đưa ra ấn tượng ban đầu tốt và gợi lên những liên tưởng tốt

Logo: Là một chữ hay một hình ảnh đồ họa có thể phân biệt được công

ty hoặc sản phẩm khi sử dụng thương hiệu trong quá trình giao tiếp Đôi khi logo không chỉ đơn giản là những chữ cái hoặc hình vẽ mà chúng còn là một thực thể không thể tách rời trong việc liên tưởng đến thương hiệu Ví dụ vòm cong vàng của McDonald không đơn giản chỉ là một chữ M màu vàng to hơn

Trang 22

của chữ M thể hiện như một lối vào một nơi rất lớn, và sản phẩm, màu vàng của hình ảnh gợi đến món thịt rán và những đồ ăn nhanh khác

Vị thế (Positioning): Là vị thế của một công ty hoặc một sản phẩm trên thị trường Vị thế được xác định bởi hướng kinh doanh hoặc sản phẩm chính của công ty, những ích lợi mà nó đem đến cho người tiêu dùng và xã hội, và những ưu thế của nó đối với đối thủ

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Huy nguyên giám đốc Bảo tàng Dân tộc

học Việt Nam cho rằng: “Một thương hiệu văn hóa/ bảo tàng là tên gọi gắn

với một sản phẩm hoặc một dịch vụ văn hóa do một thiết chế văn hóa – bảo

Từ những lý luận nêu trên ta có thể hiểu thương hiệu của bảo tàng bao gồm:

- Những suy nghĩ, cảm xúc khi người ta nghĩ đến bảo tàng đó

- Là sự uy tín, vị thế của bảo tàng đó trong hệ thống các bảo tàng

- Là sức lôi kéo khách tham quan đến bảo tàng

- Là nội dung hoạt động và phương thức trưng bày của bảo tàng đó

- Các sản phẩm mà bảo tàng tạo ra trong đó có sản phẩm lưu niệm và các ấn phẩm sách báo…

Như vậy, sản phấm lưu niệm và các ấn phẩm của bảo tàng là một trong những yếu tố góp phần tạo nên thương hiệu của bảo tàng Thông qua các sản phẩm lưu niệm của bảo tàng, các bảo tàng đã tích cực chuyển tải những thông điệp về nội dung và ảnh hưởng của mình với công chúng, thiết thực góp phần vào việc tạo dựng hình ảnh, thương hiệu của bảo tàng với cộng đồng xã hội

Với việc kinh doanh, các hoạt động thương mại liên quan, sản phẩm lưu niệm trong bảo tàng còn góp phần làm đa dạng và phong phú hơn các hoạt động của bảo tàng, đồng thơi tạo nguồn thu bổ sung để nâng cao chất lượng các hoạt động của bảo tàng

1 PGS.TS Nguyễn Văn Huy “Vấn đề thương hiệu của bảo tàng” Hội thảo về vấn đề thương hiệu bảo tàng tổ

Trang 23

1.2 Khái quát chung về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Bước vào thời kỳ đổi mới, các bảo tàng ở Việt Nam ngày càng được củng cố và hoàn thiện Loại hình bảo tàng về dân tộc học có rất quan trọng và

có ý nghĩa to lớn về nhiều phương diện trên quy mô quốc cũng như ở từng địa phương Ngay từ năm 1981, Nhà nước đã chủ trương xây dựng một Bảo tàng Dân tộc học ngay tại thủ đô Hà Nội Công trình Bảo tàng Dân tộc học được chính thức phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật ngày 14/12/1987 và được Nhà nước cấp đất xây dựng

Suốt nhiều năm công trình này được xem như một bộ phận của viện Dân tộc học Ngày 24/10/1995, Thủ tướng chính phủ ra quyết định số 689/TTG về việc thành lập Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tọa lạc trên một khu đất gần 3,3 ha tại đường Nguyễn Văn Huyên – phường Dịch Vọng – quận Cầu Giấy cách trung tâm Hà Nội khoảng 8km Bảo tàng có một không gian rộng, thoáng đãng

Kiến trúc sư Hà Đức Linh (người dân tộc Tày, công ty tư vấn thiết kế xây dựng nhà ở và công trình công cộng – Bộ xây dựng) là người đã thiết kế công trình tòa nhà Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Nội thất công trình do kiến trúc sư người Pháp Veronique Dollfus thiết kế Với thiết kế mang mô hình chiếc Trống đồng – di sản văn hóa của Việt Nam và nhân loại đã thể hiện được bản sắc của dân tộc Việt Nam

Khánh thành vào đúng dịp Hội nghị cấp cao lần thứ 7 các nước có sử dụng tiếng Pháp họp tại Hà Nội ngày 12/11/1997, Bảo tàng bắt đầu đón khách tham quan khu vực trưng bày trong nhà Khu vực trưng bày ngoài trời được

Trang 24

Trong 15 năm qua kể từ ngày thành lập là một chặng đường đánh dấu

sự phát triển liên tục, mạnh mẽ và đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng trên nhiều phương diện của Bảo tàng DTHVN Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam không ngừng được mở rộng về quy mô, chức năng và nhiệm vụ Hiện tại Bảo tàng đang chuẩn bị cho trưng bày về các dân tộc Đông Nam Á trong tòa nhà “Cánh diều” đang từng bước hoàn thành Bên cạnh việc xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị cần thiết, Bảo tàng đã tích cực sưu tầm hiện vật trong nước và ngoài nước Mười lăm năm qua Bảo tàng đã sưu tầm được khoảng 27.000 hiện vật Về tư liệu nghe nhìn Bảo tàng đã có khoảng 11.300 kiểu ảnh chụp phim và kỹ thuật số, hơn 2.400 băng đĩa hình, khoảng 900 băng đĩa ghi

âm

Bảo tàng còn là một địa chỉ có uy tín trong việc giới thiệu, phổ cập tri thức và giáo dục rộng rãi về các dân tộc và văn hóa các dân tộc; sức hút và hiệu quả xã hội của Bảo tàng ngày càng được mở rộng, nâng cao ở trong và ngoài nước Hoạt động của Bảo tàng DTHVN đã góp phần vào việc giới thiệu, quảng bá nền năn hóa đa dạng và phong phú của các dân tộc ở Việt Nam; qua đó củng cố và tăng cường tình cảm tôn trọng văn háo của mỗi dân tộc, đồng thời nâng cao lòng tự hào dân tộc, ý thức bình đẳng giữa các tộc người trong đại gia đình dân tộc Việt Nam

1.2.2 Cơ cấu tổ chức của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trong quyết định số 689/TTG ngày 24/10/1995 của Thủ tướng chính phủ có nêu rõ “Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có nhiệm vụ tổ chức nghiên cứu khoa học, sưu tầm phân loại, đánh giá, bảo quản, phục chế, trưng bày, giới thiệu, khai thác các giá trị lịch sử, văn hóa về phương diện dân tộc học của các dân tộc anh em trong đại gia đình Tổ quốc Việt Nam Cung cấp tư liệu nghiên cứu dân tộc học cho các ngành đào tạo cán bộ nghiệp vụ và quản

lý cho Bảo tàng Dân tộc học”

Trang 25

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thuộc trung tâm khoa học và nhân văn quốc gia Từ những ngày đầu mới thành lập bảo tàng chỉ có 18 cán bộ công nhân viên, cho đến nay thì nguồn nhân lực của Bảo tàng DTHVN không ngừng đước nâng cao về trình độ chuyên môn – nghiệp vụ Tính đến cuối năm

2010, Bảo tàng có 88 thành viên (41 người trong diện biên chế, 47 lao động hợp đồng), trong đó có 2 PGS.TS, 8 TS, 14 ThS, 58 ĐH, CĐ Bảo tàng DTHVN có số PGS.TS, TS và ThS đông nhất trong 127 bảo tàng ở Việt Nam

Bảo tàng có 19 người đang được đào tạo nghiên cứu sinh và cao học ở trong nước và ngoài nước, trong đó co 4 người theo học ở nước ngoài Đặc biệt, thông qua các dự án hợp tác với các nhà khoa học và bảo tàng các nước, các tổ chức quốc tế, Bảo tàng DTHVN đã tổ chức nhiều khóa đào tạo trong nước và cử cán bộ đi trao đổi, tập huấn tại nhiều nước để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Nhờ đó, đội ngũ cán bộ, nhân viên của Bảo tàng DTHVN không ngừng được nâng cao về trình độ chuyên môn, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Bảo tàng

Theo “Quyết định về việc Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của Bảo tàng DTHVN” của Chủ tịch Viện KHXHVN ngày 26/11/2010, trong cơ cấu tổ chức của Bảo tàng DTHVN có Ban giám đốc và

11 đơn vị cấp phòng như sau:

Trang 26

8 Phòng Phim – Âm nhạc dân tộc học (gọi tắt là Phòng Nghe – nhìn)

9 Phòng Bảo tàng ngoài trời

10 Phòng Quản lý khoa học và hợp tác quốc tế

11 Phòng Thư Viện

SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM

o

1.2.3

1.2.3 Nội dung trưng bày thường trực tại Bảo tàng

Tháng 11/1997 Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã bắt đầu mở cửa đón khách tham quan Để đáp ứng nhu cầu văn hóa, xã hội ngày càng cao của quần chúng, bảo tàng không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn của mình Hiện nay hệ thống trưng bày của Bảo tàng gồm hai phần chính: Phần trưng bày trong nhà và phần trưng bày ngoài trời Khác với các bảo tàng thuộc loại hình lịch sử xã hội, khoa học kỹ thuật…phần trưng bày trong nhà của Bảo tàng DTHVN trưng bày theo nhóm ngôn ngữ, ngoài ra còn

Giám Đốc PGS.TS Võ Quang Trọng

Phó Giám Đốc

TS Lưu Anh Hùng

TS Nguyễn Duy Thiệu

P Thư Viện

P

Kiểm

kê, bảo quản

và phục chế

P

Trưng bày

P

Giáo dục

P

Truyền thông

và Công chúng

P

Phim –

Âm nhạc dân tộc học

P Bảo tàng ngoài trời

P

Quản

lý khoa học và hợp tác quốc tế

Trang 27

có một phòng trưng bày lớn dành cho các cuộc trưng bày chuyên đề của Bảo tàng Bao gồm các chủ đề:

1 Giới thiệu chung: Trong phần này, Bảo tàng tập trung giới thiệu Việt Nam, các dân tộc ở Việt Nam trong phân ngành nghiên cứu của dân tộc học trong mối liên hệ với các nước trong khu vực và thế giới

2 Chủ đề: Trưng bày về người Việt và nhóm ngôn ngữ Việt – Mường

3 Chủ đề: Trưng bày về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày Thái và

Ka Đai

4 Chủ đề: Trưng bày về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mông Dao

5 Chủ đề: Trưng bày về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Hán Táng

6 Chủ đề: Trưng bày về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ

me

7 Chủ đề: Trưng bày về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo

8 Chủ đề: Trưng bày về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Chăm – Hoa – Khơ Me

9 Chủ đề: Trưng bày về sự giao lưu và ảnh hưởng văn hóa

Cho đến nay, trưng bày ngoài trời của Bảo tàng DTHVN đã hoàn thành

và đi vào phục vụ khách tham quan 10 công trình trưng bày ngoài trời Đó là những ngôi nhà truyền trống tiêu biểu của các dân tộc anh em: Nhà người Chăm; Nhà người Việt; Nhà Dài của người Ê Đê; Nhà Mồ Gia Rai; Nhà của người H’Mông; Nhà của người Dao; Nhà của người Tày; Nhà Rông của người BaNa; Nhà của người Hà Nhì; Nhà của người Cơ Tu

Ngoài ra Bảo tàng còn tổ chức các cuộc trưng bày, triển lãm các sản phẩm, tổ chức các chương trình giáo dục, trình diễn nghệ thuật truyền thống

và nghề thủ công cổ truyền

Trang 28

1.2.4 Công tác giáo dục tuyên truyền của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tiến hành công tác giáo dục tuyên truyền đến với công chúng thông qua nhiều hình thức tiếp cận để chuyển giao

có mục đích những thông tin, những tri thức về lịch sử, văn hóa của các dân tộc trên đất nước Việt Nam Cũng giống như các bảo tàng khác, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thực hiện công tác giáo dục tuyên truyền bằng phương pháp trực quan sinh động thông qua trưng bày hiện vật gốc, sưu tập gốc và các chương trình giáo dục Công chúng đến với Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tiếp nhận được những thông tin gốc, những tri thức gốc về lịch sử và văn hóa của các tộc người trên lãnh thổ Việt Nam thông qua hiện vật và sưu tập hiện vật bảo tàng Để thực hiện được công tác này Bảo tàng đã tổ chức hương dẫn tham quan, tổ chức in ấn và xuất bản phẩm, tuyên truyền quảng bá hình ảnh của Bảo tàng trên khắp các phương tiện thông tin đại chúng như website, báo chí, truyên thanh – truyền hình…

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thường xuyên tổ chức trưng bày và triển lãm, trong đó có trưng bày thường xuyên trong và ngoài bảo tàng, các trưng bày chuyên đề, triển lãm lưu động như “Chúng tôi ăn rừng”, “100 năm đám cưới Việt Nam”, “Cuộc sống ở Hà Nội thời bao cấp”… nhằm giới thiệu những hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốc có giá trị lịch sử văn hóa Đây được xem là “công cụ chính của công tác giáo dục” trong Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Để thực hiện chức năng giáo dục Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã tiến hành tổ chức hướng dẫn tham quan với nhiều hình thức khác nhau như hướng dẫn tham quan khát quát và theo chuyên đề, hướng dẫn tham quan theo đoàn, theo nhóm, và hướng dẫn cho khách tham quan tự do, tự khám phá, tự trải nghiệm với sự hỗ trợ của cán bộ hướng dẫn thuyết minh và các phương tiện phục vụ khác trong bảo tàng Thông qua những cuộc tham quan khát quát hay tham quan theo chuyên đề người xem sẽ lĩnh hội được những kiến thức

về văn hóa các dân tộc Việt Nam, không những thế nó còn có tác dụng thiết

Trang 29

thực và rất hiệu quả trong việc hình thành và nâng cao kiến thức chuyên ngành “Dân tộc học”

Ngoài ra Bảo tàng Dân tộc học còn tiến hành điều tra xã hội học, nghiên cứu nhu cầu của công chúng đến với bảo tàng, như nghiên cứu từ thành phần xã hội, trình độ học vấn, lứa tuổi, nghề nghiệp, mục đích của công chúng v.v…việc nghiên cứu điều tra xã hội học để nắm được sở thích, mục đích của họ để bảo tàng có cơ sở xây dựng trưng bày và chương trình giáo dục thích hợp với từng đối tượng công chúng, tránh được sự nhàm chán, mệt mỏi, gây được sự hứng thú với công chúng, lôi cuốn và thu hút họ đến với các

hoạt động của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trang 30

CHƯƠNG II CÁC LOẠI SẢN PHẨM LƯU NIỆM TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM

2.1 Tầm quan trọng của sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Hiện nay bất cứ bảo tàng nào trên thế giới cũng đều có các dịch vụ thông thường phục vụ nhu cầu của khách tham quan như cửa hàng lưu niệm, cửa hàng sách, cửa hàng ăn uống, giải khát…Các dịch vụ này, nhất là cửa hàng lưu niệm kinh doanh không chỉ nhằm tăng nguồn kinh phí cho các hoạt động của bảo tàng và bản thân cửa hàng mà điều quan trọng hơn là góp phần

hỗ trợ thêm cho các chương trình của bảo tàng gắn liền với các hoạt động trưng bày thường xuyên hay chuyên đề, nâng cao sự hiểu biết và kiến thức về văn hóa trong tầm quan tâm của bảo tàng Những hoạt động của cửa hàng lưu niệm cũng có tác dụng tuyên truyền quảng bá về bảo tàng và hình ảnh của bảo tàng

Có thể nói, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là một trung tâm trưng bày, lưu giữ những di sản văn hóa của 54 dân tộc Đồng thời, đây còn là một trung tâm nghiên cứu dân tộc học với những chuyên gia về các dân tộc và các lĩnh vực chuyên ngành Người ta đến đây để tìm hiểu, nghiên cứu về các dân tộc, các sắc thái văn hóa đa dạng và đặc sắc của từng tộc người, từng vùng cũng những những giá trị truyền thống chung của các dân tộc Hiện vật ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam không chỉ là những cổ vật đắt tiền mà còn bao gồm nhiều tài liệu, hiện vật, hình ảnh rất bình thường trong đời sống hằng ngày của người dân như: con dao, cái gùi, chiếc khố, ống sáo, cái tẩu, tấm chiếu…Chúng phản ánh mọi khía cạnh văn hóa vật thể và phi vật thể của cộng đồng cư dân, thể hiện tiêu biểu mọi mặt cuộc sống và mọi sáng tạo văn hóa của họ Bởi vậy, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam vừa là một cơ sở khoa

Trang 31

học vừa là một trung tâm văn hóa có tính khoa học cao và tính xã hội rộng lớn Bảo tàng có chức năng nghiên cứu khoa học, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, phục chế, trưng bày, trình diễn để giới thiệu và giáo dục về những giá trị lịch

sử - văn hóa của các dân tộc Việt Nam; cung cấp tư liệu nghiên cứu về các dân tộc; đào tạo cán bộ nghiên cứu, nghiệp vụ, quản lý về nhân học bảo tàng

và bảo tàng dân tộc học

Ngoài những chức năng nghiên cứu cơ bản, bảo tàng nhận thấy xu hướng mới của những bảo tàng hiện đại ngày nay là phải quảng bá hình ảnh của bảo tàng nhằm thu hút khách tham quan đến bảo tàng Mỗi loại hình dịch

vụ tại bảo tàng đều có vai trò nhất định trong sự phát triển của bảo tàng Việc biến một bảo tàng trở nên hấp dẫn hơn, thu hút được nhiều khách tham quan hơn một phần là do các hoạt động dịch vụ của bảo tàng đó có hợp lý và tiện nghi không, bởi vì việc đi đến tham quan bảo tàng không chỉ là nghiên cứu, học tập hay tìm hiểu kiến thức mà còn đến để được nghỉ ngơi, giải trí Một bảo tàng khi đã có được tiếng tăm thì việc có một hệ thống dịch vụ phù hợp tại bảo tàng sẽ góp một phần không nhỏ trong việc thu hút khách Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật phát triển này và phát triển sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng là hoạt động có vai trò rất quan trọng Việc xác định được vai trò của các sản phẩm lưu niệm tại bảo tàng có ý nghĩa rất quan trọng vì đó là phương hướng để xây dựng một bảo tàng hiện đại Thế mạnh của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là nghiên cứu đặc trưng của 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam và một số các dân tộc khác trên thế giới Mỗi dân tộc đều có những sản phẩm vật chất cũng như sản phẩm tinh thần khác nhau và những sản phẩm văn hóa ấy là nguồn lực rất lớn để Bảo tàng dựa vào đó mà phát triển các loại hình sản phẩm lưu niệm phù hợp

Trang 32

niệm là những tiêu bản, hiện vật phục chế, phỏng chế từ chính các hiện vật có trưng bày trong bảo tàng như tiêu bản những chiếc gùi của đồng bào dân tộc vùng Trường Sơn – Tây Nguyên hay như bộ váy rực rỡ của những cô gái H’Mông vùng núi phía Bắc…Những sản phẩm lưu niệm này đều mang những giá trị văn hóa, giáo dục, thẩm mỹ và cả giá trị sử dụng, lưu niệm Bảo tàng DTHVN rất quan tâm đến việc tạo ra các sản phẩm lưu niệm vừa phù hợp với nhu cầu của khách tham quan, vừa phù hợp với nội dung của bảo tàng, để từ

đó góp phần quảng bá hình ảnh, nâng cao vị thế của bảo tàng trong con mắt của du khách trong và ngoài nước Vai trò của sản phẩm lưu niệm được xem như là sự diễn giải của trưng bày Bảo tàng, mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc Địa điểm bày bán các sản phẩm lưu niệm cũng là nơi Bảo tàng có thể tiếp xúc với khách tham quan để thu thập những ý kiến đánh giá về Bảo tàng

Sản phẩm lưu niệm và các ấn phẩm của Bảo tàng là một trong những yếu tố góp phần tạo nên thương hiệu của Bảo tàng DTHVN Thông qua các sản phẩm lưu niệm, các ấn phẩm của Bảo tàng mà Bảo tàng DTHVN đã tích cực chuyển tải những thông điệp về nội dung và ảnh hưởng của mình với công chúng, góp phần vào việc tạo dựng hình ảnh, thương hiệu của bảo tàng với cộng đồng xã hội

Trước đây, trong thời kỳ còn bao cấp, các bảo tàng chưa phải nghĩ đến việc “tự nuôi sống mình” Sự bao cấp này dẫn đến tình trạng trì trệ, làm mất

đi tính năng động trong các bảo tàng Giờ đây các bảo tàng không còn đứng ngoài quy luật kinh tế thị trường nữa Bảo tàng không thể coi nhẹ đối tượng phục vụ của mình mà phải vận động, tìm cách lôi kéo công chúng đến thăm bảo tàng vì chính họ mang lại nguồn thu quan trọng cho các bảo tàng mà trong đó, các sản phẩm lưu niệm mang lại một nguồn thu thiết thực và chính đáng cho bảo tàng

Theo như nguyên tắc, hoạt động của Bảo tàng DTHVN là lĩnh vực sản xuất tinh thần, tuy nhiên cũng không nên xem lĩnh vực này không mang lại

Trang 33

hiệu quả kinh tế Bảo tàng DTHVN đã tự tìm nguồn kinh phí thông qua việc xuất bản các ấn phẩm của bảo tàng và cho phát triển các sản phẩm lưu niệm đặc sắc mang tính dân tộc như quần áo thổ cẩm, tài liệu dân tộc học, đồ chơi truyền thống…Từ đó mà Bảo tàng có được nguồn thu để phục vụ trở lại các hoạt động nghiệp vụ của Bảo tàng như hoạt động sưu tầm, bảo quản, phục chế, trưng bày hiện vật…; nguồn thu này sẽ trở lại tái đầu tư cơ sở vật chất cho bảo tàng cũng như các cửa hàng lưu niệm có tại Bảo tàng; ngoài ra còn tạo quỹ phục vụ cho các hoạt động phúc lợi của xã hội, tăng thêm thu nhập cho cán bộ công nhân viên trong Bảo tàng – tạo động lực cho sự nỗ lực làm việc của cán bộ công nhân viên trong Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Với tư cách là một loại hình dịch vụ văn hóa, các cửa hàng lưu niệm trong Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam góp phần làm đa dạng và phong phú hơn các hoạt động của Bảo tàng, đồng thời tạo nguồn thu bổ sung để nâng cao chất lượng hoạt động của bảo tàng nhằm phục vụ tốt hơn nữa cho lợi ích của công chúng và khách tham quan đến bảo tàng

Với tiềm năng và nguồn lực lớn như vậy, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cũng đã nhận thức rõ ưu thế của mình trong việc phát triển các sản phẩm lưu niệm cũng như là lợi ích mà các sản phẩm lưu niệm đã mang lại cho Bảo tàng Chính vì vậy mà sản phẩm lưu niệm có một vai trò rất quan trọng tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Điều lệ của Hội đồng Bảo tàng quốc tế đã quy định rõ: “Các cửa hàng và hoạt động thương mại tại bảo tàng phải phù hợp với nhiệm vụ, mục đích của bảo tàng, phải mang ý nghĩa giáo dục, phải đảm bảo uy tín chất lượng và tuân thủ quy định của pháp luật Cửa hàng, nơi bày bán các sản phẩm lưu niệm đó có mối quan hệ chặt chẽ với Bảo tàng, là một bộ phận chịu sự quản lý và điều hành của bảo tàng”

Trang 34

học Việt Nam xác định “Phát triển dịch vụ lưu niệm dựa trên nền tảng phát triển hoạt động nghiệp vụ của bảo tàng” Bảo tàng cũng mong muốn rằng, ngoài thời gian thăm quan nội dung trưng bày ở Bảo tàng khách tham quan còn có thời gian đến với các cửa hàng lưu niệm để thêm cơ hội học hỏi, trải nghiệm và có nhiều kỷ niệm sâu sắc về một cuộc tham quan tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Qua quá trình nghiên cứu các tài liệu, các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu đi trước viết về sản phẩm lưu niệm tại bảo tàng và quá trình tự nghiên cứu tìm hiểu về tầm quan trọng của sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, có thể thấy rõ ý nghĩa và vị trí vai trò của sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam như sau:

Thứ nhất là các sản phẩm lưu niệm mang ý nghĩa chuyên chở những giá trị văn hóa của các dân tộc

Thứ hai là kinh doanh các sản phẩm lưu niệm mang lại lợi ích kinh tế cho bảo tàng

Thứ ba là các sản phẩm lưu niệm một phần tạo nên thương hiệu cho bảo tàng, thông qua đó sẽ là lý do để khách tham quan đến với bảo tàng nhiều hơn

Thứ tư là các sản phẩm lưu niệm có vai trò duy trì, phát triển, nuôi sống ngành nghề thủ công truyền thống của các dân tộc

2.2 Công tác tổ chức, quản lý các cửa hàng lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Qua khảo sát thực tế tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cho biết hiện nay Bảo tàng có tất cả 4 cửa hàng lưu niệm Trong đó có 3 cửa hàng lưu niệm của các công ty tư nhân thuê địa điểm tại bảo tàng đó là: Công ty Craft Link, Công ty Tranh thêu XQ, Cửa hàng lưu niệm của họa sĩ Nguyễn Thị Hồng

Trang 35

Hạnh và một quầy ấn phẩm lưu niệm là do bảo tàng trực tiếp tổ chức và quản

lý Phòng hành chính tổng hợp là phòng trực tiếp quản lý việc kinh doanh và phát triển các sản phẩm lưu niệm của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Nguồn thu từ cửa hàng lưu niệm và ấn phẩm này do phòng hành chính tổng hợp kiểm soát, được hạch toán vào nguồn thu sự nghiệp và giám đốc bảo tàng sẽ là người chịu trách nhiệm trong việc phân bổ kinh phí trở lại cho các hoạt động của bảo tàng Hầu hết được chi vào những hoạt động như chi cho tái đầu tư cơ sở vật chất, tái hoạt động sự nghiệp, quỹ phúc lợi xã hội và chi phí cho nhân viên v.v…

2.2.1 Cửa hàng lưu niệm của Bảo tàng

Hiện nay, Bảo tàng có một cửa hàng bày bán các sản phẩm lưu niệm trong đó chủ yếu là loại hình ấn phẩm và những bưu ảnh, bưu thiếp kỷ niệm Cửa hàng sách này do Phòng hành chính – tổng hợp trực tiếp quản lý, nhân viên bán hàng chính là những nhân viên trực thuộc phòng hành chính – tổng hợp

Tại cửa hàng sách lưu niệm này bày bán các ấn phẩm là sách chuyên ngành, là những công trình nghiên cứu có liên quan đến dân tộc trong nước và quốc tế và đều là những công trình nghiên cứu về dân tộc học của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Ngoài ra, còn có một số các tác giả và các nhà xuất bản mang tác phẩm đến ký gửi tại cửa hàng Những ấn phẩm này đều được Bảo tàng kiểm duyệt về chất lượng và nội dung cho phù hợp với chức năng nhiệm vụ của Bảo tàng, ngoài ra Bảo tàng sẽ được hưởng phần trăm từ những sản phẩm là những ấn phẩm này khi tiêu thụ

Các bưu ảnh, bưu thiếp bày bán tại các cửa hàng lưu niệm đều mang

Trang 36

là những sản phẩm trực quan, sinh động với chất lượng hình ảnh, âm thanh cũng như nội dung được đánh giá cao và thu hút được khách tham quan tiêu dùng

2.2.2 Cửa hàng lưu niệm của công ty tư nhân tại bảo tàng

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thu hút được sự quan tâm của một số công ty tư nhân đến Bảo tàng để mở các cửa hàng lưu niệm nhằm mục đích kinh doanh các sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng bán cho khách tham quan đến tham quan Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Hơn nữa, một số công ty và cá nhân nghiên cứu khảo sát thị trường biết được Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam nằm ở vị trí thuận lợi, giao thông thuận tiện, hàng năm Bảo tàng lại thu hút được số lượng lớn khách tham quan…như vậy khả năng tiêu thụ sản phẩm lưu niệm là rất lớn Hiện tại có 2 công ty tư nhân lớn có cửa hàng lưu niệm tại bảo tàng là Công ty Craft Link và Công ty Tranh thêu XQ, và một cửa hàng lưu niệm của họa sĩ Nguyễn Thị Hồng Hạnh Đối với những công ty này Bảo tàng ký hợp đồng cho thuê địa điểm và có yêu cầu tối thiểu đối với các công ty này là phải bày bán sản phẩm lưu niệm là những mặt hàng thủ công truyền thống có nội dung phản ánh gắn với con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam

Cụ thể vào đầu năm 2007, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã ký hợp đồng cho Công ty Craft Link thuê địa điểm địa điểm tại BTvvới mục đích mở cửa hàng lưu niệm tại Bảo tàng Hợp đồng được ký trong thời hạn 5 năm, mới đây, vào giữa tháng 3/2012 Bảo tàng đã tiếp tục ký tiếp hợp đồng 5 năm với Công ty Craf Link Craft Link là một tổ chức thương mại Hội chợ Việt Nam

đã có nhiều hoạt động giúp đỡ cho việc phát triển ngành nghề thủ công truyền thống và làm sống lại nền văn hóa của các dân tộc đồng thời cải thiện đời sống của người dân thông qua việc sản xuất thủ công mỹ nghệ và tiếp thị

Trang 37

Công ty thứ hai ký hợp đồng với Bảo tàng là Công ty Tranh thêu XQ Công ty này ký hợp đồng với Bảo tàng từ năm 2008 và hợp đồng được ký kết theo từng năm Công ty Tranh thêu XQ là một công ty lớn có các chi nhánh ở hầu hết các thành phố lớn ở Việt Nam như Tp Hồ Chí Minh, Tp Đà Lạt, Phố

cổ Hội An…và xuất hiện ở cả Nga, Australia, Mỹ Ở Hà Nội có các cơ sở ở Hàng Gai, Quán Sứ và ở tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Tranh thêu XQ

đã đóng góp một sắc màu mới cho tranh thêu Việt Nam, góp phần làm nên một nét văn hóa đặc sắc: Một món quà đậm đà tình nghĩa quê hương cho những người Việt Nam, đồng thời là món quà lưu niệm niệm đầy ý nghĩa đối với khách du lịch quốc tế khi có dịp đến Việt Nam tham quan du lịch

Ngoài ra còn có một cửa hàng lưu niệm tư nhân của họa sĩ Nguyễn Thị Hồng Hạnh Cửa hàng này chuyên bán các sản phẩm thủ công trên những chất liệu truyền thống như các đồ dùng sinh hoạt bằng mây tre đan hay như các sản phẩm gốm sứ khác…, ngoài ra còn có những sản phẩm lưu niệm dành cho trẻ em như đồ chơi trẻ em, ví dụ mô hình máy bay bằng gỗ, ngựa gỗ, mô hình trò chơi các loại…và các sản phẩm văn phòng phẩm khác, đặc biệt hơn ở đây còn có những tác phẩm nghệ thuật là tranh của họa sĩ Nguyễn Thị Hồng Hạnh

và một số họa sĩ khác bày bán… Cơ sở này đã ký hợp đồng với Bảo tàng hàng năm và cũng thực hiện theo đúng yêu cầu trong hợp đồng của Bảo tàng đặt ra

2.3 Đặc điểm các loại sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc hoc Việt Nam

2.3.1 Nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm lưu niệm

Các sản phẩm lưu niệm có tại Bảo tàng Dân tộc học có xuất xứ từ rất

Trang 38

liên quan đến bảo tàng như cuốn: “Nhà mồ người Giarai”, “Đồ vải của người Thái ở tiểu vùng sông Mê Kông”, “Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”…Các ấn phẩm này đều là các công trình nghiên cứu khoa học của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và các cơ quan tổ chức nghiên cứu về dân tộc học trong và ngoài nước, được xuất bản do các nhà xuất bản như NXB Khoa học Xã hội, NXB Giáo dục, NXB Chính trị Quốc gia, NXB

Hà Nội… Ngoài ra còn một số sách do các tác giả, các nhà xuất bản mang đến

ký gửi, Bảo tàng sẽ được hưởng % từ những sản phẩm bán được Các sản phẩm băng đĩa CD về chuyên ngành Dân tộc học là do các nhà nghiên cứu dân tộc học của Bảo tàng chịu trách nhiệm nội dung biên tập nên những sản phẩm này đảm bảo được chất lượng nội dung tốt Còn những bưu ảnh, bưu thiếp được Bảo tàng đặt hàng từ những nhà xuất bản đem về bày bán tại quầy sách của Bảo tàng đều có sự kiểm duyệt về nội dung và hình thức

Công ty Craft Link là một tổ chức thương mại hội chợ Việt Nam đã có nhiều hoạt động giúp đỡ cho việc phát triển ngành nghề thủ công truyền thống

và làm sống lại nền văn hóa của những người dân tộc bản địa và cải thiện sinh

kế của họ thông qua sản xuất thủ công mỹ nghệ Craft Link hoạt động như một công ty kinh doanh nhưng lợi nhuận thu được lại sử dụng cho việc nuôi sống và phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ Sản phẩm lưu niệm của Craft Link đều là những mặt hàng thủ công mỹ nghệ, những thiết kế mang đậm bản sắc văn hóa từ nhiều chất liệu truyền thống Các sản phẩm như trang phục, phụ kiện, sản phẩm dùng để trang trí, văn phòng phẩm, đồ chơi đều lấy

ý tưởng từ bản sắc văn hóa của các tộc người Vì thế mà nguồn gốc của những sản phẩm này cũng xuất xứ từ những nghệ nhân trong các làng nghề, từ chính bàn tay của những người dân tộc thiểu số Craft Link đã tổ chức rất nhiều dự

án đến các làng nghề có truyền thống làm thủ công mỹ nghệ, những ngôi làng của các dân tộc thiểu số xa xôi và cả những nơi có hoàn cảnh khó khăn Họ đã đào tạo, hướng dẫn các nghệ nhân và người dân tộc làm ra sản phẩm lưu niệm

Trang 39

đồng thời tạo đầu ra cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ này cho nên có thể nói các sản phẩm lưu niệm của công ty này bày bán tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đều có nguồn gốc, xuất xứ từ chính những người dân tộc bản xứ

Công ty Tranh thêu XQ chính thức khai trương ngày 29/12/2001 tại Đà Lạt, cho đến nay đã hình thành nhiều chi nhánh tại các thành phố lớn của Việt Nam và một số nước trên thế giới Đến với Bảo tàng Dân tộc học từ năm

2008, cửa hàng lưu niệm của Công ty Tranh thêu XQ nằm trong “Ngôi nhà của người Việt” thuộc khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Bước vào

“Ngôi nhà của người Việt” trong khuôn viên trưng bày ngoài trời của Bảo tàng, khách tham quan không khỏi ngạc nhiên khi thấy những bức tranh thêu bằng tay đẹp như thật và ngỡ ngàng trước bàn tay khéo léo tài năng của người thợ thêu tranh Những bức tranh trưng bày trị giá cả triệu đồng được trình diễn khéo léo ngay tại cửa hàng lưu niệm do những cô gái mặc áo dài xanh ngồi thêu tranh cần mẫn, tỷ mỉ và khéo léo Tại đây, khách tham quan có thể chọn được cho mình một sản phẩm lưu niệm độc đáo lại có thêm nhiều hiểu biết về lịch sử của nghề thêu cũng như văn hóa tranh thêu của người Việt Nam

Cửa hàng lưu niệm của họa sĩ Nguyễn Thị Hồng Hạnh bán các sản phẩm lưu niệm là những bức tranh, bức ảnh bằng hình tượng nghệ thuật miêu

tả nét đẹp con người Việt Nam, quê hương Việt Nam Chính họa sĩ đã sáng tạo ra và giới thiệu những “đứa con tinh thần” của mình là những bức tranh nghệ thuật sinh động cho khách tham quan thưởng thức Ngoài ra, còn bày bán một số sản phẩm là đồ chơi trẻ em như các con thú bằng gỗ, thú bông, tò he…và các loại văn phòng phẩm như sổ xoắn gáy, vở, đánh dấu sách bằng vải… được mua buôn từ chợ hoặc từ những làng nghề thủ công xung quanh

Trang 40

sản phẩm lưu niệm mang dấu ấn của bảo tàng được bày bán tại các cửa hàng lưu niệm tại bảo tàng sẽ có ý nghĩa hơn so với những sản phẩm có nguồn gốc khác Nhận thức được điều đó, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cũng đã và đang trực tiếp thực hiện việc sản xuất các sản phẩm lưu niệm (hoặc ký hợp đồng chế tác với các công ty sản xuất sản phẩm lưu niệm theo yêu cầu của Bảo tàng) nhằm cung ứng một số sản phẩm lưu niệm cho các cửa hàng trong Bảo tàng

2.3.2 Các loại hình sản phẩm lưu niệm

Thông qua nghiên cứu, khảo sát của tác giả tại các cửa hàng lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cho thấy các loại hình sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam rất phong phú, đa dạng về chủng loại và tất cả sản phẩm lưu niệm ở đây ít nhiều đều chuyển tải được nội dung văn hóa

mà Bảo tàng muốn chuyển tải đến khách tham quan Có thể chia các sản phẩm lưu niệm có tại bảo tàng thành 3 loại hình sản phẩm lưu niệm

* Loại hình ấn phẩm lưu niệm bao gồm sách báo, tư liệu do Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam xuất bản có nội dung nghiên cứu về Văn hóa các dân tộc Việt Nam và sách chuyên ngành bảo tàng

Ví dụ như các cuốn sách “Đồ vải của người Thái ở tiểu vùng sông Mê Kông”, “Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”,

“Từ Dân tộc học đến Bảo tàng Dân tộc học – Con đường học tập và nghiên cứu”…

Các ấn phẩm giới thiệu về bảo tàng và hình ảnh về bảo tàng, catolog…Ví dụ như các cuốn “Các Bảo tàng Quốc gia Việt Nam” được viết bằng 3 thư tiếng Việt – Anh - Pháp, tập catolog giới thiệu khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Dân tộc hoc Việt Nam “Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam – những ngôi nhà dân cửa”, tập catolog giới thiệu trưng bày “Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”, Bưu ảnh “Đồ vải Thái”v.v…

Ngày đăng: 04/06/2021, 22:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w