1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tuyển tập các nghiên cứu thuộc lĩnh vực Bảo tàng dân tộc Việt Nam (Tập 1): Phần 2

311 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ Thống Panô - Bản Đồ Trong Trưng Bày Của Bảo Tàng Dân Tộc Học Việt Nam
Tác giả PTS. Lê Duy Đại
Trường học Bảo Tàng Dân Tộc Học Việt Nam
Định dạng
Số trang 311
Dung lượng 22,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách Tuyển tập các công trình nghiên cứu của Bảo tàng dân tộc học Việt Nam (Tập 1) phản ánh bước đầu những hoạt động khoa học và công tác nghiên cứu trong năm 1997 và 1998. Sách được chia thành 2 phần, mời các bạn cùng tham khảo nội dung phần 2 cuốn sách.

Trang 1

Phần 333

TRƯNG BÀY

Trang 2

HỆ THỐNG PANỒ - BẢN Đồ TRONG TRƯNG BÀY

CỦA BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM -• • ■

CÁCH NHÌN VÀ NHỮNG SÁNG TẠO

PTS LÊ DUY ĐẠI

Cũng như các bảo tàng khác, trong trưng bày của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam bên cạnh hiện vật gốc là nền tảng, còn có các hiện vật trung gian môi giỏi mà trong đó đáng chú ý là các tài liệu khoa học phụ

Tài liệu khoa học phụ đó là những bản đồ, biểu đồ, panô vừa phản ánh trình độ nghiên cứu, sưu tầm, sức hàm chứa của kho tư liệu ảnh, vừa phản ánh trình độ thẩm mỹ, trình độ khoa học kỹ thuật của đất nưổc và thế giỏi hiện nay, đồng thòi qua đó cũng thấy đuợc cách nhìn nhận mói cũng như nhũng sáng tạo của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Hệ thống panô - bản đồ ở khu vực trưng bày trong nhà của Bảo tàng D ân tộc học V iệt Nam gồm 97 chiếc vỏi 2 loại hình chính: loại panô ảnh - bản đồ và loại panô ảnh

Trang 3

Loại panô ảnh - bản đồ in trên giấy troky trắng, kích thưỏc 150cmx90cm gồm 14 chiếc để giỏi thiệu các nhóm ngôn ngũ tộc ngưòi như Tày - Thái, Ka đai, Tạng - Miến, Môn - Khơ me miền núi phía Bắc, Môn - Khơme Trường Sơn - Tây Nguyên, Hmông - Dao, Nam Đảo miền núi và các dân tộc: Kinh, Mưòng, Thổ, Chút, Chăm, Hoa, Khơ-

me Ỏ đây, ngoài các bài giỏi thiệu (in 3 thứ tiếng Việt - Pháp - Anh), ảnh giỏi thiệu những đặc trưng chung, một

số diện mạo vãn hoá truyền thống của các nhóm ngôn ngữ tộc ngưòi; ỏ các panô còn có 1 bản đồ toàn quốc tỷ lệ nhỏ (1/6.000.000) trên đó thể hiện sự phân bố của các nhóm ngôn ngũ tộc ngưòi một cách khái quát Tuy nhiên, trên các panô giổi thiệu các ngữ hệ hay nhóm ngôn ngữ, ngoài bản đồ nói trên còn có bản đồ khu vực tập trung dân cư nhóm đó tưong đối chi tiết (tỷ lệ 1/2.500.000-1/1.000.000), trên đó thể hiện sự phân bó của từng tộc ngưòi trong nhóm cũng như đưòng bình độ, tên và ranh giói các tỉnh 0 đây, các dân tộc được thể hiện mang nặng tính định tính (chỉ chú ý đến phân bố, còn các yếu tố như số lưộng, mật độ, mức độ xen kẽ chưa đề cập) và mỗi dân tộc có 1 gam màu riêng Nhưng để phân biệt vỏi các nhóm ngôn ngữ khác, các dân tộc trong cùng một nhóm có một sác màu tương đối đồng nhất

Để phù trợ cho việc giỏi thiệu của 9 khu vực trưng bày làm nổi bật những diện mạo văn hoá từ cảnh quan nơi cư trú, loại hình và công cụ sản xuất, kiến trúc, đồ gia dụng

Trang 4

đến những lễ nghi tôn giáo, cưói xin ma chay của 54 dân tộc nưổc ta, có hơn 80 panô ảnh Ỏ đây, có loại được in trên giấy troky trắng khổ 150cmx90cm lại có loại in trên giấy b ìa m à u n â u vàng v ổ i kích th ư ỏ c nhỏ hơn (70cmx48cm); có loại có bài giới thiệu (in 3 thứ tiếng: Việt

- Pháp - Anh) kèm theo nhung cũng có loại không có bài giỏi thiệu Loại in trên giấy bìa màu nâu vàng (tương ứng vói màu gỗ của tủ trưng bày) có khối lượng lỏn hơn cả, gồm 62 chiếc gán liền vối 62 tủ kính trưng bày và có liên quan trực tiếp đến những hiện vật trưng bày trong đó và không giống các panô khác, ảnh được scane trực tiếp còn loại này ảnh được in từ phim âm bản rồi được dán lên panô, Trong số các loại panô ảnh đáng chú ý nhất là các panô ở phồng đầu tiên - phòng giói thiệu chung gồm 6 chiếc, trong đó có 5 chiếc giói thiệu ảnh chân dung của các dân tộc thuộc 5 ngữ hệ: Nam Ấ, Thái - Ka đai, Hmông

- Dao, Hán - Tạng và Nam Đ ảo và một chiếc vỏi kích thuốc lốn hơn (240cmx90cm) trình bày những chặng đưòng lịch sử, văn hoá của các dân tộc Việt Nam Ỏ đây, mốc thòi gian được tính từ những năm trưỏc công nguyên vổi

sự hình thành nhà nưđc Văn Lang - Âu Lạc đến tháng 8 năm 1945 vổi sự ra đòi cùa nưỏc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ứ n g với mốc thòi gian và thòi kỳ lịch sử đó là vai trò lịch sử cũng như quá trình hội nhập dân tộc, văn hoá của các dân tộc ỏ nưđc ta Để minh hoạ, có các bức ảnh về các di chỉ và hiện vật khảo cổ học, các công trình kiến

Trang 5

trúc; các bức ảnh lịch sử, văn hoá tiêu biểu cho các thòi

kỳ lịch sử Nổi bật trong hệ thống panô, bản đồ là tấm bản đồ phân bố các dân tộc theo ngôn ngữ ỏ nưóc ta, được treo ỏ phòng giỏi thiệu chung cùng vỏi các panô ảnh chân dung của 5 ngữ hệ và panô các dân tộc Việt Nam - những chặng đưòng lịch sử văn hoá Bản đồ có tỷ lệ 1/550.000, kích thuốc 240cmx210cm, vối 11 màu sắc khác nhau thể hiện sự phân bố của các nhóm ngôn ngữ, ngữ hệ: Tày - Thái, Ka đai, M ôn - Khơ-me miền núi, Muòng (gồm cả Thổ, Chút), Hán, Tạng - Miến, Hmông - Dao, Nam Đảo miền núi và 3 dân tộc là Việt (Kinh), Chăm và Khơ me Việc thể hiện đó phù hợp vỏi ý tưởng bố trí khu vực trưng bày trong nhà của bảo tàng thành 8 không gian là: Giỏi thiệu chung; ngưòi Việt; các dân tộc Muòng, Thổ, Chút; các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày- Thái và Ka đai;

■ Hmồng - Dao, Tạng - Miến và ngưòi Sán Dìu, ngưòi Ngái; các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ-me (miền núi); các dân tộc nhóm ngôn ngữ N am Đảo (miền núi); và các dân tộc Chăm, Hoa, Kho-me T rên bản đồ, các yếu tố địa lý như: các đưòng bình độ, các dãy núi, đỉnh núi cao, cao nguyên, cánh cung, sông suối, ranh giói và tên các thành phố, thị xã là tỉnh lỵ của các tỉnh v.v thể hiện khá rõ Đặc biệt, trên bản đồ có thành lập 3 lát cát địa lý tộc ngưòi của các vùng: Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ để giúp cho ngưòi xem thấy rõ cao độ các khu vực phân bố của các dân tộc

Trang 6

Việc in dồng thòi cả bản đồ, bài giỏi thiệu (3 thứ tiếng: Việt - Pháp - Anh), cả ảnh trên tấm panô cồ lỏn là lần đầu tiên đối vỏi Nhà xuất bản Bản đồ và có lẽ cũng là đối với cả nuớc, nên bước đầu cũng gặp không ít khó khăn, phải trải qua nhiều cuộc thử nghiệm, nhiều lần in thử Để

có được các tấm panô - bản đồ như hiện nay, các cán bộ

kỹ thuật đã sử dụng kết họp 5 chưong trình: Word, Mapin-

po, Photoshop, Corendravv, Micro Station và các máy in

cõ lốn nhu HP - 750C, Calcomap, Novazet vỏi các thiết

bị phụ trạm w Station - Sun, Image

Tham quan khu vực trưng bày của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, ngưòi xem dễ dàng nhận ra sự phong phú,

đa dạng của hệ thống panô - bản đồ Chính điều đó, nhiều khi tạo cho ngưòi xem cảm giác nhàm chán (và tất nhiên

họ sẽ cho là tốn kém về kinh tế) như đã từng xảy ra ỏ một

số bảo tàng Nhưng trái lại, ỏ đây vỏi số lượng panô - bản

đồ với 97 chiếc (bình quân một phòng trưng bày có hơn

10 chiếc), vẫn cảm thấy vừa, đủ và rất cần thiết Điều quan trọng là hệ thống panô - bản đồ của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam chẳng những đáp ứng những yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật, nội dung khoa học mà còn gắn liền vổi các tộc ngưòi, nhất là các hiện vật gốc làm nổi rõ những đặc trưng văn hoá truyền thống cũng như sự giao lưu văn hoá của 54 dân tộc ỏ nưốc ta

Trang 7

NGHIẾN CỨU ĐỂ TRƯNG BÀY TRONG

BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC■ a

CHU THÁI SƠN

Trong bài viết nhỏ này, tôi chỉ đề cập đến hai vấn đề đang được đa số quan tâm Vấn đề thứ nhất là quan niệm

như thế nào về Bảo tàng dân tộc học, Bảo tàng văn hoá

các dân tộc và Làng văn hoá dân tộc Vấn đề thứ hai là

mối quan hệ hữu cd giữa các nhiệm vụ nghiên cứu, sưu

tầm, bảo quản, trưng bày và giới thiệu trong một Bảo tàng

Dân tộc học hiện nay

Muốn làm sáng tỏ vấn đề thứ hai thì đông thòi phải làm sáng tỏ vấn đề thứ nhất trưốc đã

I Trong nhiều năm qua, có không ít nguồi đật ra câu hỏi: Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Văn hoá các dân tộc, rồi Làng văn hoá dân tộc là một hay khác nhau; khác nhau ở chỗ nào? Song cho đến nay, chính thức câu hỏi này vẫn chưa có lòi đáp Đâ từng xuất hiện những ý kiến rất khác nhau như:

Trang 8

1 - Ngưòi nói giống nhau thì chua có một phân tích

không dựa vào những căn cứ nào cụ thể cả

Vậy thực chất là chúng giống nhau hay khác nhau?

Sự thật, Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Văn hoá các

dân tộc và Làng văn hoá dân tộc, cả ba đều giống nhau, thậm chí rất giống nhau, nếu chúng ta chỉ quan sát chúng

ỏ hình thức hay xem xét nó một cách hòi hột

Trước hết, để hộp thành một khuôn viên văn hoá,

chúng đều giống nhau ỏ ba yếu tố căn bản sau đây:

a - Sự giống nhau thứ nhất: cả ba đều là những địa chỉ của loại hình Bảo tàng hay giống như Bảo tàng ngoài tròi - nơi gìn giữ và tuyên truyền - giỏi thiệu di sản văn hoá của các dân tộc trong một khu vục hay một quốc gia

b - Sự giống nhau thứ hai ỏ chỗ cả ba đều là những khuôn viên để giỏi thiệu - tuyên truyền về văn hoá, chứ không phải là khuôn viên kinh tế, chính trị hay khuôn viên quân sự, quốc phòng

c - Sự giống nhau thứ ba là mục tiêu bảo tồn - bảo tàng trưng bầy đều nhằm vào góc độ của văn hoá tộc ngưòi

Trang 9

- văn hoá của từng dân tộc và văn hoá của các dân tộc trong một khu vực hay trong một quốc gia Có thể hiểu rằng, đó là văn hoá dân gian, văn hoá của cộng đồng tộc ngưòi, chú không phải là văn hoá chính thống, văn hoá quốc gia hay văn hoá cung đình ỏ thòi đại trưỏc hoặc văn hoá - văn minh ỏ thế giỏi hôm nay.

Chính ba yếu tố này đã kiến tạo nên những nẻo đưòng dắt dẫn nhiều ngưòi đi đến nhận thức đơn ihuần là chúng

giống nhau, hoặc rắt giống nhau Vậy thì giữa chúng có gì

khác nhau?

Hãy quan sát từ xa, từ bề ngoài trưỏc đã

Cái đàu tiên có thể dễ dàng nhận ra là ỏ lòi đáp của câu hỏi:

Nó là con đẻ của ai, là sản phẩm của quá trình nào trong đòi sống phát triển? Nó xuất hiện là do sự hối thúc

từ đâu? Và cuối cùng, đến lượt nó thì chủ yếu là nó nhàm phục vụ ai? Giải đáp được câu hỏi này không khó khăn

gì mà lại có ngay hiệu quả: Rõ ràng là chúng khác nhau, thậm chí khác nhau đến mức không thể nhầm lẫn

1 - Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam nàm trong bán kính của Bộ Văn hoá - Thông tin, thuộc hệ thống các bảo tàng lịch sử: lịch sử quốc gia, lịch sử cách mạng, lịch

sử quốc phòng, lịch sử địa phương, lịch sử nghệ thuật, lịch

sử sân khấu, lịch sử hội đoàn, lịch sử danh nhân , trong

đó cũng không thể thiếu lịch sử văn hoá các dân tộc Sự

Trang 10

hình thành và phát triển của các bảo tàng nói trên thuộc chúc năng của bộ Văn hoá - Thông tin Mặt khác, nưóc

ta là một quốc gia đa dân tộc, đa văn hoá lại được sự cổ

vũ ở đưòng lối chính sách của Đảng, được sự đảm bảo của hiến pháp về quyền bình đẳng giữa các dân tộc, trong đó

có quyền bình đẳng về văn hoá tộc người Các dân tộc ỏ nưỏc ta lại có truyền thống đoàn kết, tương trộ tù lâu trong lịch sử để cùng dựng nước và giữ nước Một quốc gia đa dân tộc, các lãnh thổ tộc ngưòi cứ mò dần để nhường chỗ cho các màu sắc xen cư trong từng khu vực Một quốc gia

đa dân tộc, nhưng vắng bóng những cuộc chiến tranh sác tộc Một quốc gia đa văn hoá, đa tôn giáo, nhưng cũng vắng bóng những cuộc chiến tranh tôn giáo Tất cả những yếu tố lịch sử này đều làm nên sự hối thúc để một Bảo tàng Vân hoá các dân tộc được ra đòi khi các điều kiện

cần và đủ đã cho phép.

2 Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia là một bảo tàng của chuyên ngành, nàm trong hệ thống các bảo tàng của Hàn lâm viện (Mặc dù nưỏc ta chưa có tổ chức khoa học này, nhung Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia; và Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia đang đóng vai trò là hạt nhân, là tiền thân của một

Hàn lâm viện trong tương lai, như Bảo tâng biển của Viện Hải dương học, Bảo tàng Dộng vật của Trung tâm Khoa

học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Bảo tàng Địa chất

Trang 11

và các bảo tàng nhỏ (hay đúng hơn là phòng Trưng bày) của các trưòng đại học như Bảo tàng Tiền tệ của Đại học Ngân hàng, Bảo tàng N hân học của Viện Sinh lý - Giải phẫu ngưòi thuộc Đại học Y khoa, Bảo tàng Cổ sinh vật của Trưòng Đại học Tổng hộp H à Nội (nay là Đại học Khoa học xã hội và Nhân vãn) Những bảo tàng nói trên

ra đòi khồng chỉ nhằm m ột mục đích phổ thồng là phục

vụ đông đảo công chúng để nâng cao dân trí, mà còn nhàm một mục đích khác nữa là tạo nên những cơ sỏ khoa học tin cậy tại chỗ cho công tác nghiên cứu và đào tạo cán bộ chuyên ngành Nhũng hiện vật được sưu tầm đua về bảo tàng và trưng bày - giỏi thiệu ỏ đây không chỉ trở thành những giáo cụ trực quan sâu rộng, đa chiều và sinh động,

có sức thuyết phục cao, mà còn là những căn cứ khoa học, những chứng tích đích thực của lịch sử, của đồi sống các dân tộc để nghiên cứu, tranh luận khoa học, huóng dẫn,

so sánh, học tập v.v Chính vì vậy mà, việc sưu tầm hiện

vật và việc tnlng bày - giới thiệu ỏ đây mang tính khoa học

và sư phạm cao, không thể chung chung, không thể hòi hợt; bên cạnh tính cụ thể và luôn luôn cụ thể là tính khái quát, tính hệ thống, tính quy luật cao Xa ròi nhũng đặc điểm này, thì Bảo tàng D ân tộc học sẽ không còn là một bảo tàng chuyên ngành thuộc hệ thống hàn lâm viện nữa Chất lượng của hiện vật sưu tầm được, trong đó có sự hiểu biết đày đủ về hiện vật, thể hiện một phần ỏ lý lịch hiện vật; cách chọn lựa hiện vật để trưng bày, cũng thể hiện

Trang 12

trình độ nhận thúc của chúng ta về văn hoá tộc nguòi, văn hoá địa phương; chất lượng của hệ thống étiquet, panô, bài viết và lòi thuyết minh để giỏi thiệu là những yếu tố làm nên chất lượng của một bảo tàng trong hệ thống hàn lâm viện; và cũng làm cho chính nó khác vổi Bảo tàng Văn hoá các dân tộc, khác vổi Làng Văn hoá dân tộc cả

về lượng và chất Lượng ở chỗ mỗi hiện vật đều nằm trong một hệ thống; và chất ở chỗ hiện vật mang tính tiêu biểu

vỏi sự phong phú của các thông tin về hiện vật Là một bảo tàng chuyên ngành nên Bảo tàng D ân tộc học Việt Nam không thể không tranh thủ nhũng kết quả nghiên cứu trong chuyên ngành dân tộc học ỏ Viện Dân tộc học

và bộ môn Dân tộc học thuộc các trưòng đại học

3 - Làng Văn hoá dân tộc Làng Văn hoá dân tộc có hình thức như một bảo tàng ngoài tròi Nó ra đòi do sự hối thúc thưong mại cùa ngành du lịch trong những năm

mỏ cửa gần đây Nó chỉ có một mục đích là phục vụ vui chơi, giải trí trong một không gian văn hoá có mầu sắc dân tộc để khách tham quan kiếm tìm những hưng phấn, những cảm thụ văn hoá của ngưồi xưa hay của xứ sỏ khác

Về mặt khoa học, không thể so sánh nó vổi bảo tàng nói chung, bảo tàng dân tộc học hay bảo tàng vãn hoá các dân tộc nói riêng Có thể đơn giản hoá để dễ hiểu như sau: làng văn hoá dân tộc là một thứ trống đồng Ngọc Lũ được phục chế bằng thạch cao, một vị hoàng đế trên sân khấu

Trang 13

tuồng cổ, một bức tranh thuỷ mặc của Tê Bạch Thạch được ngưòi đòi nay vẽ lại trên máy vi tính

Cái nhân lồi của một bảo tàng là ỏ hiện vật và hệ thống

các hiện vật, các bộ sưu tập Vậy thì sụ khác nhau của các

tổ chức văn hoá nói trên (Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Văn hoá các dân tộc, Làng Văn hoá dân tộc) cũng chính

ỏ chỗ này; ỏ hiện vật đưa ra trưng bày và hiện vật được bảo quản trong kho dự trữ

1 - Ỏ Bảo tàng Văn hoá dân tộc, bên cạnh các hiện vật gốc, thuòng thấy là nhũng hiện vật làm lại Chất lượng hiện vật và sự nhận biết về nó, về các hiện tượng văn hoá tộc ngưòi có chừng mực, không đòi hỏi đến nguồn cội của các vấn đề, (thể hiện trong hệ thống hiện vật và các sưu tập được trưng bày) Trong trưng bày, thưòng sử dụng nhũng hình thức tưộng trưng khá hấp dẫn Kho bảo quản của cơ quan này là nguồn hiện vật phong phú đé sẵn sàng phục vụ cho trưng bày

2 - Ỏ Bảo tàng Dân tộc học, hiện vật gốc đóng vai trò chủ đạo trong trưng bày và trong kho bảo quản Hiện vật làm lại chỉ sử dụng trong trưòng hợp bát buộc Về hiện vật làm lại cũng phải căn cứ vào một hiện vật gốc cụ thể Hiện vật ỏ đây phải luôn là những hiện vật hoàn hảo, có

lý lịch rõ ràng và đầy đủ Một thân nỏ không có lẫy, một cánh cung không có dây, một cài vò ỏ Tây Nguyên sứt miệng có thể lẫn vỏi tài sản ỏ nhà mồ không thể chấp

Trang 14

nhận được khi nhập kho bảo quản, càng không thể chấp nhận trong trưng bầy ỏ Bảo tàng Dân tộc học Về chất lượng của hiện vật càng khắt khe bao nhiêu thì càng khác

xa bấy nhiêu so vối các cơ sở văn hoá khác đang bàn

3 - ỏ Làng Văn hoá các dân tộc, trái lại chủ yếu là nhũng hiện vật làm lại để đảm bảo độ bền vững của chúng;

và ở đây không nhất thiết phải là hiện vật gốc Nếu như

ỏ cả hai bảo tàng nói trên, số hiện vật trong kho bảo quản chiếm số lượng rất lón so vổi số hiện vật được đưa ra trưng bày; nhiều bộ sưu tập được dự trữ để sẵn sàng phục vụ cho các trưng bày chuyên đề hay trưng bày lưu động, thì ngược lại,

ỏ Làng Ván hoá dân tộc không càn có kho tàng bảo quản hiện vật và không có những hoạt động trưng bầy như vừa nêu

Qua những phân tích ỏ trên, chức năng và nhiệm vụ của Bảo tàng Dân tộc học là đã rõ; và đáy là tiền đề để soi tỏ những đặc thù trong các nhiệm vụ cụ thể

II Mối quan hệ hữu cơ giữa các nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, trưng bầy và giỏi thiệu ỏ Bảo tàng

Dân tộc học

Xin có một lưu ý nhỏ ỏ đây là tôi dùng thuật ngữ "giổi thiệu" để chỉ chung cho công tác tuyên truyền - giáo dục trong bảo tàng

Công tác nghiên cứu dân tộc học ỏ bảo tàng có phần giống và có phần khác, thậm chí rất khác với việc nghiên

Trang 15

cứu ở viện dân tộc học Trong các đối tượng nghiên cứu

thì ỏ đây, văn hoá vật chất được chú trọng hàng đầu vì nó

là nghiên cứu hiện vật, nghiên cứu cái nhân lõi của một bảo tàng Những nghiên cứu khác như: nghệ thuật tạo hình, tín ngưõng, các nghi lễ dân gian, đồ chơi của con trẻ

V V cũng là những nghiên cứu thiết thực ỏ đây Trái lại, những đối tượng nghiên cứu như: hệ thống thân tộc, tổ chức làng - buôn, đề tài song - đa ngữ, luật tục, văn chương truyền miệng đều xa cách bảo tàng dân tộc học, hiệu quả ứng dụng ít

Nghiên cứu dân tộc học trong một bảo tàng phải nhàm vào việc đem lại hiện vật (thể khối, thể hình) cho kho bảo quản để tạo nguồn dự trữ cho các trưng bày tiếp theo Mọi nghiên cứu không thực thi được việc sưu tầm để làm giàu cho kho bảo quản, cung cấp những tư liệu cần thiết cho việc trưng bầy, đều không phải là hưỏng nghiên cứu thiết thực ỏ bảo tàng Có thể nói: hiện vật sưu tầm được

vổi đầy đủ mọi hiểu biết khoa học (tôi nhấn mạnh) về nó,

chính là kết quả của việc nghiên cứu Hiện vật sưu tàm

được mà không hiểu biết đầy đủ về nó, thì không thể có

nội dung tốt để giỏi thiệu cho khách tham quan, hạn chế những tri thức trong công tác giáo dục - tuyên truyền, kết

cục là mục tiêu nâng cao dân trí trong bảo tàng không

thực hiện được

Đã tùng có không ít những chuyến suu tầm đưa về nhập kho bảo quản một "xe trung" hiện vật Bên cạnh

Trang 16

những hiện vật có giá trị, có hiện vật đuộc coi là toàn bích, thì cũng không ít những hiện vật có chất lượng tồi, thậm chí rất tồi, tệ hại hơn có cả những hiện vật được coi vào loại "bỏ đi".

Những loại hiện vật thứ 2 này đã tích cực làm cho kho bảo quản ngày càng trỏ nên chật chội, gậm nhấm công súc của ngưòi bảo quản và tiêu hao hoá chất bảo trì Chắc chắn là không bao giò nó được đưa ra trưng bày để giỏi thiệu vỏi khách tham quan cả

Một hiện tượng khác cần được nói là: việc sưu tầm những bộ trang phục dân tộc thì hầu như không có ai là không tham gia cả vì số lượng loại hiện vật này rất phong phú, hình thức khá hấp dẫn, việc tìm kiếm cũng không quá khó khăn Nhung đến khi hỏi tới hoa văn trên trang phục thì được giải đáp chung là "không để ý!" Tình hình này cho thấy rõ ràng là sự hiểu biết của đa số chúng ta

về hiện vật rất yếu, kể cả những cán bộ được coi là các chuyên gia

Hình như có sự nhầm lẫn rất nghiêm trọng cần được

làm rõ là: đồng nhất giữa việc sưu tầm hiện vật văn hoá

dân tộc vỏi việc đi mua đồ ỏ ngoài chợ hay ỏ trong làng,

mà lại coi trọng về ỉượng, không coi trọng về chất, vì hiện

vật có chất lượng cao, đòi hỏi ngưòi sưu tầm mất nhiều công sức - công sức kiếm tìm và công sức tìm hiểu về hiện vật, điều tra xây dựng lý lịch hiện vật

Trang 17

Một tình hình cũng rất phổ biến hiện nay là những hiện vật sưu tầm về đã được tìm hiểu một cách không đày

đủ, nhưng vẫn thoả mãn vổi lý lịch của hiện vật Ví dụ: một chiếc áo, chỉ có những thông tin đơn giản là: áo nam hay nữ, ở lứa tuổi nào, thuộc dân tộc nào hay nhóm địa phường nào, là loại thường phục hay lễ phục v.v nhung những thông tin khác thuộc về cái áo như: cách cắt may dựa vào khổ vải cổ truyền, các hoa văn trang trí trên đó

có tên gọi là gì, vì sao lại sử dụng màu sác, hình hoạ và

bố cục như ỏ đây v.v con ít được quan tâm

Một cây cột lễ được mua về vói bao vất vả Trên đó

có hàng trăm hoạ tiết và hình trang trí Rồi các mô hình nhà vói những trang trí ỏ sống nóc và đầu đốc rất tinhvi , nhưng khi hỏi về những trang trí đó thì đều được hướng dẫn trả lòi vói khách tham quan là "còn đang nghiên cứu!" v.v và v.v Tất cả những điều vừa chấm phá trên đây cho thấy công tác nghiên cứu ỏ Bảo tàng Dân tộc học còn chưa theo kịp vỏi nhiệm vụ được giao Đó là gánh nặng đang chồ của một bảo tàng có chức năng là phục vụ công tác nghiên cứu chuyên ngành

Lại có một sổ bình hương, bát sứ của lò gốm Bát Tràng hiện nay, những đôi đũa nhựa mang nhãn hiệu Trung Quốc thòi mỏ cửa, những bao hương dán nhãn của nội ngoại thành Hà Nội , được huy động vào không gian văn hoá - tín ngưỡng cổ truyền của một dân tộc miền núi,

Trang 18

nhưng cho đến nay vẫn chưa được quan tâm tu chỉnh cho xứng vổi chất lượng của một bảo tàng dân tộc học.

Chúng ta có thể bỏ qua cho những sai sót của Bảo tàng Văn hoá các dân tộc tại thành phố Thái Nguyên như:

- Kiến trúc mô hình nhà ỏ Tây Nguyên vỏi giát sàn đặt theo chiều dọc lòng nhà và bậc cầu thang lên sàn có

Trang 19

sàn đều phải đặt dọc theo cây đòn nóc, và số bậc cầu thang lên sàn đều có số chẵn Đó là quan niệm đối lập giữa âm - dương, khác vỏi quan niệm "dương sao âm vậy"

Đó là thế giối quan của Dông Nam Ấ cổ đại, khác vối thế giỏi quan của phương Bắc Một hành vi trưng bày sai sự thật sẽ phá võ hệ thống lịch sử, mất đi tính nhất quán của

cả một nền văn hoá Một người trưng bày không đúng, một mô hình tái tạo không đúng vỏi hiện vật gốc là đưa đến một đáp số sai, đưa đến nhận thúc sai cho khách tham quan, trong đó cố các thế hệ trẻ Đó là sự tác hại của một tình trạng cẩu thả, dù vô thức hay hữu thức

Chúng ta lại cũng có thể bỏ qua một hình nhân (mandcanh) nữ khoác tấm choàng Co-ho ngồi trưỏc thảm vải dệt ở một hồi nhà tái tạo trong Bảo tàng Phụ nữ (số

36 - phố Lý Thưòng Kiệt - Hà Nội) Chúng ta từng biết rằng tấm choàng Tây Nguyên nhu tôi đã mưòng tượng là loại hình "áo ôm" - tức loại áo khoác, phải dùng cả 2 tay

ôm chéo truỏc ngực, giữ lấy 2 mép cổ áo (Thành ngữ Việt

có câu: "Phưòng khố rách áo ôm" để chỉ hạng ngưòi cố cùng) Bộ phận trang phục này chỉ sử dụng trong những trường hộp nông nhàn, không sử dụng được trong lao động, vì đôi tay ròi ra là áo rơi ngay xuống thành một đống vải! Cái sai lầm ở đây chưa hẳn là do ngưòi trưng bày dân tộc học mà là do Manơcanh không cử động được (Ấ chỉ giả vò ngồi dệt thôi) nên tấm choàng vẫn nằm yên trên vai cho thiên hạ chiêm nguõng

Trang 20

Một lần nữa, nếu sai lầm này ở Bảo tàng Dân tộc học thì chắc chắn là Manocanh không thể bưổng bỉnh, ả buộc phải chui đầu mặc áo khi đóng vai ngưòi dệt thượng Cơ-ho.

Nghiên cứu, sưu tầm trong Bảo tàng Dân tộc học không tách ròi công tác bảo quản Nếu chỉ thuần tuý nghiên cứu và sưu tầm hiện vật mà không nghĩ ngay đến bảo quản thì rõ ràng là xa ròi vối công việc của một Bảo

tàng, vì nhà trưng bày chỉ là địa vị để giỏi thiệu (tức giáo

dục - tuyên truyền) vói công chúng, còn kho bảo quản mỏi

là gia tài - gia bảo của một cơ quan bảo tàng mà ai cũng phải nhiệm vụ vun ven cho nó.

Từ nhiệm vụ này, ngưòi sưu tầm phải biết định ra tính chất của hiện vật để lựa chọn đem về, mặc dù nó đều là hiện vật gốc hay hiện vật làm lại như hiện vật gốc

Cụ thể là, một hiện vật gốc nghiêm túc, tiêu biểu, nhưng độ bền vững không còn, không có khả năng bảo trì được lâu thì không nên đem về Nếu là hiện vật làm lại ỏ các địa phương thì phải biết lựa chọn nguyên liệu có chất lượng tốt trong phạm vi cho phép, không nên để cho ngưòi tái tạo sử dụng nguyên liệu tồi vào việc tái tạo như trong đòi thương vẫn.thấy

Xin nói cụ thể hơn, những khau kút ỏ nhà sàn Thái

Đen được trang trí trên đầu đốc, cốt để trưng bày lên trong ngày lễ khánh thành, ăn mừng nhà mối Sau ngày

đó, người ta bỏ mặc chúng vổi thòi gian, kệ cho mưa - gió, bão bùng , dù là xiêu vẹo hay hư hỏng cũng không bao

Trang 21

giò quan tâm đến nữa Do tập tục cốt để trưng lên trong ngày lễ khánh thành mà nguòi ta không nhất thiết phải

làm bằng gỗ tốt Thế nhưng, khau kút vỏi tư cách là hiện

vật tái tạo của nhà bảo tàng thì lại không cho phép tuỳ tiện như ngưòi thợ mộc Thái Đen, mà phải tái hiện bàng một loại gỗ tốt trong phạm vi tập tục cho phép

Tương tự vỏi trưòng hộp này là tập quán kiến trúc nhà

mồ, ngưòi ta dựng lên nhà mồ là cốt để làm lễ b ỏ mả Sau

mấy ngày hội lễ, ngưòi ta cũng bỏ mặc chúng vói thòi gian

ỏ trong rừng, mặc cho mưa, lũ, bão bùng hay thú rừng quậy phá, không bao giồ chăm nom đến nữa Nguyên liệu

để kiến trúc nhà mồ, kể cả những trang trí tạo hình bằng

kỹ thuật độc mộc, có thể bằng gỗ tốt, song cũng có thể bằng gỗ dễ mối, mọt, gỗ tạp, dễ hoai mục , tuỳ theo sự kiến tìm và ý thức của từng ngưòi lao động tham gia Nếu không nắm vững tình hình này, thì trong sưu tấm cũng rất

dễ đưa về bảo tàng đé tái hiện một nhà mồ, có chát luọng như mọi nhà mồ dùng cho lễ bỏ mả Phải nghiêm túc ý thức sâu sắc rằng, ỏ Bảo tàng Dân tộc học cần tái hiện một ngôi nhà mồ có chất luộng, nhưng vỏi mục đích là để

"giũ mả" nhằm phục vụ công chúng tham quan lâu dài

*

Nếu không có những thoả thuận cụ thể vỏi nguòi thi công; nếu không kiểm tra kỹ lúc nghiệm thu, thì ngưòi thọ mộc Thượng vốn thật thà, sẵn sàng kiên tạo cho chúng ta một ngồi nhà mồ như vẫn thường gặp để rồi không bao lâu cũng buộc chúng ta phải bỏ mả

Trang 22

kê được những hiện vật phải sưu tầm, tái tạo Thông qua

tư liệu thư tịch, thông qua điều tra ỏ thực địa, phát hiện những hiện vật có giá trị cần sưu tầm để phục vụ cho trưng bày Và đến lượt những hiện vật sưu tàm được phải là những hiện vật tiêu biểu, hoàn chỉnh, có chất lượng tốt để bảo quản được lâu dài, và cuối cùng là phải có những thông tin phong phú về từng hiện vật để làm nhiệm vụ giáo dục - tuyên truyền Trong Bảo tàng Dân tộc học, mọi mắt xích nói trên không thể xé lẻ

Tháng 9 năm 1998, trong lần viếng thăm Bảo tàng Di tộc ỏ châu Tự trị sỏ Hồng thuộc tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, trả lồi câu hỏi của một thành viên trong Đoàn chúng tôi: "Ỏ đây có nhóm nghiên cứu về dân tộc Di không?" Ông Giám đốc nhà Bảo tàng này nói: "Tất cả chúng tôi đều nghiên cứu, không trừ một ai" Lúc ấy có mặt đồng

đủ các cán bộ của Bảo tàng Di tộc đang trao đổi vổi chúng tôi

Trang 23

c ư DÂN NHÓM NGÔN NGỮ MÔN - KHỔ-ME VÙNG TRƯÒNG SƠN - TẦY NGUYÊN

TRONG BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM• ■ ■

L ưu HÙNG

Ỏ nưổc ta, dải miền núi từ tây Quảng Bình vào đến Đông Nam Bộ được các nhà dân tộc học nhìn nhận như một vùng lịch sử - văn hoá, vổi tên gọi thưòng dùng là

"vùng Trưòng Sơn - Tây Nguyên" (TS-TN) hay còn đưộc mệnh danh là "xứ Thưộng" Từ hàng ngàn năm trưổc, tổ tiên của cư dân nhóm ngôn ngữ Mồn-Khơ-me, rồi thêm

cả tổ tiên của cư dân nhóm ngôn ngữ Nam Đảo, đã cu trú

ỏ đây Cho tỏi giữa thế kỷ XX và muộn hơn nữa, họ vẫn

là 2 khối cư dân chủ yếu ỏ TS-TN Vì vậy, nói đến vãn hoá vùng này trong lịch sử là nói đến vãn hoá của 2 khối

cư dân áy

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (BTDTHVN) giỏi thiệu theo phương thức kết hộp giũa phân chia theo ngôn ngữ vối phân chia theo khu vực lãnh thổ Cư dân nhóm

Trang 24

ngôn ngữ Môn-Khơ-me vùng TS-TN hiện gồm 15 tộc, chiếm hầu như một gian riêng ỏ tầng 2, tại vị trí tiếp nối một bên vổi các tộc nói ngôn ngũ Môn-Kho-me ỏ miền Bác và một bên vổi các tộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo Như vậy, theo tuyến tham quan, nó tạo nên sự liên tục, giiip cho ngưòi xem có thể nhận thức nét tưong đồng cũng nhu nét khác biệt không chỉ trong cư dân cùng nhóm ngôn ngữ, mà còn vỏi cư dân tuy khác nhóm ngôn ngữ nhưng trong cùng một vùng lịch sử - văn hoá TS-TN.

Sau 2 năm chuẩn bị, đến khi khánh thành bảo tàng (tháng 11-1997) đã có được số hiện vật và tư liệu khá phong phú về các tộc nhóm ngôn ngữ Môn-Kho-me TS-

TN - Riêng hiện vật đã có khoảng 1.400 đơn vị Tuy nhiên, chỉ một lượng nhỏ được đưa ra trưng bày

Ngay ồ gian giổi thiệu chung tại tầng ĩ, khi bát đàu

cuộc tham quan, đã có những thông tin cần thiết về phân

bố tộc ngưdi, về tiếng nói, và có cả ảnh chân dung từng tộc một - Tất cả đều được giỏi thiệu chung trong toàn cảnh đại gia đình dân tộc Việt Nam Cồn ỏ không gian dành riêng cho chủ đề cư dân nhóm ngôn ngũ Môn-Khơ-

me TS-TN, vỏi 126 hiện vật được bố trí trong 15 tủ kính các loại, một số để ngoài tủ, vỏi 4 panô treo tưòng, 9 bài viết gán theo các chủ điểm trưng bày, vói 39 ảnh màu minh hoạ cho lòi và cho hiện vật, văn hoá của những tộc Thượng này hiện ra qua đó, ngưòi xem có thể tự mình tìm hiểu thông qua đọc chữ, nhìn ảnh và quan sát hiện vật

Trang 25

Đối tượng trưng bày ỏ đây được xác định là: tập trung

vào giối thiệu một số nét văn hoá cổ truyền của cư dân

nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ-me vùng TS-TN Nội dung khoa

học phục vụ cho trưng bày được đúc rút từ những hiểu

biết cụ thể, hệ thống của dân tộc học về tộc nguòi và văn

hoá của họ Đương nhiên, ngôn ngữ và phương pháp của

bảo tàng học vô cùng quan trọng trong việc thể hiện khi

trưng bày Nhưng trưổc hết, những kết quả nghiên cứu dân

tộc học luôn định hưổng từ khâu sưu tầm cho tối khâu

trưng bày Việc giỏi thiệu cư dân nhóm ngôn ngữ Môn-

Khơ-me vùng TS-TN trong BTDTHVN được thực hiện

trên cơ sỏ mấy nhận thức lổn đóng vai trò chi phối quan

trọng sau đây:

1 Các tộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ-me TS-TN có truyền thống thích ứng vỏi môi trường rừng núi, là cư dân

ỏ rừng

2 Họ còn bảo luu nhiều yếu tố văn hoá cổ so, thậm

chí vang bóng cả một số yếu tố văn hoá thuỏ Đông Sơn

xa xưa

3 Họ có truyền thống văn hoá không chỉ rất lâu đòi,

mà còn phong phú, đặc sắc Văn hoá của họ vừa thống

nhất, vừa đa dạng: Bên cạnh văn hoá của từng tộc, nhiều

khi có sự dị biệt nhất định giữa các nhóm địa phương trong

một tộc; bên cạnh tính thống nhất xuyên suốt trong cả 15

tộc, lại có nét riêng nhất định giữa các khu vực nhỏ, mà

Trang 26

trên đại thể ngưòi ta thuòng chia làm 3 tiểu vùng: bác

Trường Sơn, bắc Tây Nguyên, nam Tây Nguyên

4 Một yếu tổ văn hoá hay một loại hiện vật thường

thấy đồng thòi ỏ những tộc, những nơi khác nhau, nhưng

chúng lại thường không hoàn toàn giống nhau, và do đó tạo nên những sắc thái riêng làm phong phú cho truyền thống chung, như sự thể hiện nhiều vẻ của cốt cách chung trong văn hoá xứ Thượng

Bố trí trưng bày đã chủ ý tạo nên một hưỏng tham quan liên hoàn, về cơ bản theo 3 bức tuòng của phòng, dẫn dắt khách lần lượt chuyển từ chủ điểm này sang chủ điểm khác Theo đó, sau một số lòi giỏi thiệu khái quát,

nội dung lỏn đầu tiên được đề cập là: Làng và nhà cửa,

cung cấp những hiểu biết về hình thức cư trú và đặc điểm kiến trúc trong nếp cổ truyền Ngoài 2 panô, ở đây chỉ có

3 hiện vật: 2 mô hình nhà rông và 1 mô hình nhà ỏ, được làm ra bỏi chính ngưòi dân tộc sỏ tại và bằng vật liệu tại địa phương Nhà rông là một yếu tố văn hoá cổ truyền nổi bật của cư dân ngôn ngữ Môn-Khơ-me ở khu vực bác Tây Nguyên và trỏ ra một chút về phía bác, tồn tại phổ biến

ỏ các làng ngưòi Ba-na, Xơ-đăng, Gié-Triêng, Brâu, Ro-

măm, Cd-tu và một phần tộc Ta-ôi Nó có hình dạng khác nhau ít nhiều giũa các vùng, các tộc, các nhóm, nhưng bao giò cũng là ngôi nhà chung của từng làng, cao lốn và đẹp nhất, là nơi tiếp khách chung, nơi tụ họp, liên hoan, nơi,

tổ chức một số lễ thúc cúng quải của cả làng, nơi ngủ đêm

Trang 27

của trai chưa có vổ và đàn ông goá vộ Việc trưng bày mô hình nhà rông củà ngưòi Ba-na (nhóm Roh, ỏ huyện Mang Giang, tỉnh Gia Lai) và của ngưòi Xo-đăng (nhóm Tơ-đrá, huyện Đác Hà, tỉnh Kon Tum) chỉ như vài ví dụ cụ thể nhàm gội cảm, giúp ngưòi xem hình dung tương đối sát thực về nhà rông Thêm vào đó, hình ảnh nguyên mẫu của chúng đã được chụp tại làng và được phô bày trên panô.

Mô hình ngôi nhà ở của ngưồi Co-tu (tỉnh Quảng Nam) như một minh chứng chác chắn ràng: Kiểu nhà có mái uốn tròn ỏ 2 đầu hồi (cồn gọi là mái kiểu mai rùa)

là một đặc điểm văn hoá của cư dân nhóm ngôn ngữ Môn-Khổ-me Ngày nay, không phải tất cả họ cư trú một dạng nhà này, nhưng sự phân bố của nó không chỉ ỏ Tây Bắc, mà còn thấy cả ỏ miền núi Trị - Thiên, Quảng Nam,

và như ảnh chụp trên panô cho hay, vào đến ngưòi Xtiêng (nhóm Bù Lo) trong Đông Nam Bộ vẫn gặp loại mái nhà như thế Trên địa bàn đó - từ vùng Tây Bắc vào tỏi Đông Nam Bộ - tổ tiên các tộc nói ngôn ngữ Môn-Khơ-me đâ

có mặt từ vài nghìn năm về ưưổc

Cũng ỏ chặng đàu tham quan phòng trưng bày, 6 chiếc

gùi đưộc giói thiệu trên một giá đỡ dài Gùi là một trong

những nét vãn hoá tiêu biểu ỏ TS-TN Trong đòi sống, nó

có vai trò rất quan trọng, là loại đồ đựng và là phương tiện vận tải thông dụng, tiện lợi, thích họp vổi việc đi bộ

và hoạt động trong điều kiện rùng núi Gùi của cư dân TS-TN thưòng đan công phu, tạo dáng đẹp và trang trí

Trang 28

đẹp, có loại thể hiện tính mỹ thuật hấp dẫn Trang trí trên gùi dùng phương pháp cải nan, kết hợp nan nhuộm đen vỏi nan để mộc, tạo thành các môtíp hoa văn hình học,

bố cục thành từng đai bao quanh, như trên gùi của nguòi Mnông và Brâu đang trưng bày Có thé nhận ra được sác thái tộc ngưòi hay vùng thể hiện qua chiếc gùi Gùi gồm những loại, kiểu khác nhau về hình dáng, kích cỡ, lối đan, công dụng, có trang trí hay không trang trí, có náp hay không có nắp, v.v Song, đặc điểm chung là gùi đều có 2 quai để khi cõng di chuyển thì đeo vào 2 vai; ở đây không

có tập quán đeo quai gùi qua trên trán, dùng lực của đầu

để níu kéo gùi như một số tộc ỏ miền Bắc Sáu chiếc gùi tuy đa dạng, nhưng chua thể biểu đạt đầy đủ sự nhiều vẻ của "thế giỏi gùi" trong thực tế trên xứ Thượng Trong phòng trưng bày này, gùi còn xuất hiện trong một số tủ nữa, thậm chí một tủ ở dãy chính giữa phòng được dành riêng cho một chiếc gùi rất đẹp của ngưòi Gié-Triêng Cách bố trí trưng bày như vậy có dụng ý tạo nên ấn tượng chiếc gùi có mặt ỏ kháp nơi trong đòi sóng các tộc Thượng

Kề cận vổi chủ điểm gùi là chủ điểm vú khí Vũ khí của cư dân nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ-me vùng TS-TN thô

sơ, nhưng không kém phần phong phú Ỏ đây mỏi chỉ trung bày được 3 loại: nỏ, thò, và giáo Hai chiếc nỏ được chọn đại diện cho 2 kiểu nỏ khác nhau: loại cán ngán phổ biến ỏ khu vực phía bác (ngưòi Xơ-đăng, Gié-Triêng, Hrê,

Co, Ta-ôi, Bru-Vân Kiều, v.v.) và loại cán dậi phổ biến ỏ

Trang 29

các tộc phía nam (nguòi Mnông, Mạ, Cơ-ho, V.V.) Nỏ có các cõ lỏn nhỏ khác nhau, theo đó dùng tên bắn cũng phải dài ngán cho phù hợp, chua kể đến sự phân chia: tên nhọn trơn hay tên có ngạnh, tên tẩm thuốc độc hay tên không độc Tuỳ nơi, ống đựng tên có thể được gia công cầu kỳ,

có nắp, hoặc chỉ đơn giản là đoạn ống tre Tô ô để tự nhiên Hai phong cách ấy được thể qua 3 ống tên trưng bày tại một tủ đặt giũa phòng (ống tên của nguòi Cơ-tu và Ta-ôi thuộc loại thứ nhất, còn ống tên của ngưòi Mnông thuộc loại thú 2) Bốn cây giáo (1 của nguòi Cơ-tu và 3 của ngưòi Co) gợi lên cảm nhận về tính đa dạng vốn có của thứ vũ khí đâm phổ biến này ở TS-TN Trong khi giáo Cơ-tu cán dài và nhỏ, tạo thế vút đi sắc nhọn, thì giáo Co cán ngán

và mập hơn, có dạng chác khoẻ Có thể gặp những kiểu giáo vỏi tên gọi rành rẽ từng kiểu ỏ cùng một tộc ngưòi, như ngưòi Co tuy có 3 kiểu giáo đang đưộc trung bày, nhưng không phải họ chỉ có 3 kiểu đó Cùng vỏi tên nỏ

và giáo, loại vũ khí thứ 3 hiện diện bằng 2 thanh nứa nhọn chính là 2 mũi "thò" TS-TN được xem như xú sỏ chông thò cạm bẫy Thồ (còn gọi là mang cung) là một loại vũ khí - bẫy, dùng lực đàn hồi của cần bật để phóng đi mũi tên lỏn bàng nứa vừa nhọn vừa sắc

Tiếp theo, tủ kính đầu tiên giổi thiệu về các tộc ỏ bắc Trường Sơn (Miền tây các tỉnh từ Quảng Bình vào Quảng Nam): ngưòi Bru-Vân Kiều, Ta-ôi và Cơ-tu Ba tộc này khá gần gũi nhau về tiếng nói và văn hoá, thưòng được

Trang 30

giỏi ngôn ngũ học gộp lại thành một chi Katuic trong dòng Môn-KhO-me Nội dung đưộc lựa chọn để thể hiện ỏ đây gồm sản phẩm đan lát và y phục Y phục nữ Taôi, Bru-Vân Kiều và của nam giỏi Cơ-tu đưộc trình bày bàng ảnh chụp; còn hiện vật chỉ là một bộ nữ phục Cơ-tu vỏi hoa văn dệt tù cưòm trắng, gồm áo kiểu poncho, váy ống ngán mặc quấn và có thắt lưng Về đồ đan, ỏ đây trưng bày chiếc mủng cdm cùa ngưòi Bru-Vân Kiều, chiếc giỏ dùng khi tuốt lúa rẫy của ngưòi Ta-ôi, chiếc hộp có nắp dùng cất giữ đồ đạc nhỏ quý và chiếc gùi đàn ông có 3 ngăn của ngưòi Cơ-tu Đó là một số hiện vật có tính tiêu biểu bỏi vè đẹp về diện mạo và sự tinh xảo trong chế tác, phô lộ tài nghệ dệt của nữ giói và tài nghệ đan của nam giổi vùng bắc Trường Sơn, lại phù hộp với không gian trưng bày.

Tủ kính thứ 2 dành cho khu vực vùng kề cận phía đông (Kon Tum, Gia Lai, miền tây các tỉnh từ Phú Yên ra Quảng Ngãi và phần tây nam Quảng Nam) - Đây là khu vực có nền văn hoá phong phú, đặc sắc của 7 tộc người: Ba-na, Xơ-đăng, Gié-Triêng, Hrê, Co, Brâu và Rơmăm, 3 tộc đàu đều có những nhóm địa phương nên tính phong phú càng tăng lên Tuy nhiên, chi có thể giỏi thiệu ở đây một số khía cạnh, một ít hiện vật của một số tộc Bộ gậy chọc lỗ và ống đụng thóc giống

để gieo trỉa của ngưòi Co khống chỉ là công cụ lao động tiêu biểu đối vỏi kinh tế rẫy (tuy đó mỏi là một dạng gậy trỉa), mà còn như một tác phẩm trang trí vật dụng, vỏi

Trang 31

những hoa văn kỷ hà khắc vạch theo phong cách cổ truyền của chung các tộc Thượng, tạo thành từng vành trên vỏ tre, ôm quanh khối hình trụ của cây gậy, chiếc ống Gắn liền vối sản xuất ở rẫy, việc bảo vệ mùa màng trưỏc sự phá hoại của chim muồng có tầm quan trọng đặc biệt, trong đó các loại bù nhìn cũng thường được sử dụng Chiếc

bù nhìn đan hình con viiộn xuất hiện trong tủ này là vổi

ý nghĩa như vậy, đồng thòi là một sản phẩm đan kết hộp tạo hình vổi trang trí cùa ngưòi Ba-na; thêm một chút về đan lát, còn có ảnh chụp cảnh ngưòi đàn ồng Ba-na đang đan gùi Chiếc vò đất nung là hiện vật về nghề gốm đáng được nói tỏi của ngưòi Gié-Triêng Cư dân nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ-me vùng TS-TN có làm gốm ở một số nơi, như: ngưòi Mnông Rlăm, người Ba-na Giơ-lơng v.v , nhưng ỏ nhóm Gié trong cộng đồng Gié-Triêng nổi tiếng hơn cả Sản phẩm nhiều loại, được chế tác bằng kỹ thuật cổ sơ (chưa có bàn xoay, nung lộ thiên), mà cái vò đang trưng bày là một ví dụ Ngoài ra, có 2 hiện vật về nghệ thuật điêu khắc gỗ độc đáo thưòng được chú ý ở bác Tây Nguyên: tượng ngưòi giã gạo lấy từ nhà mồ ngưòi Ba-na

và mặt nạ của ngưòi Brâu, cả 2 đều dùng trong lễ bỏ mả (lễ đoạn tang); thêm vào đó, có ảnh mặt nạ tương tự của ngưòi Ba-na Qua đó, vừa giỏi thiệu loại hiện vật đặc dụng gán vỏi sinh hoạt tang lễ của họ, vừa cho ngưòi xem nhận thức về phong cách điêu khắc tượng đặc sắc của xứ Thượng nói chung: phong cách mộc mạc, thô sơ, sử dụng

Trang 32

mảng và khối, cách điệu, phóng đại, chỉ gội hình, không chú trọng tả thật về hình dáng và diện mạo.

Theo trình tự từ bác vào nam, tiếp đến phần trưng bày

vê 5 tộc vùng nam Tây Nguyên và đông Nam Bộ (Bao gồm Đác Lác, Lâm Đồng, Bình Phưỏc, Đồng Nai và miền tây Bình Thuận): Mnông, Cơ-ho, Mạ, Xtiêng và Chơ-ro, vổi nhiều nhóm địa phương Trong lịch sử, do tổ tiên các tộc Ê-đê, Gia-rai thuộc ngữ hệ Nam Đảo đến chiếm lĩnh vùng trung Tây Nguyên, nên họ bị tách khỏi các tộc cùng nhóm ngôn ngữ ỏ bác Tây Nguyên và dần dần hình thành một tiéu vùng văn hoá Đa số hiện vật là sản phẩm đan lát đáp ứng những nhu cầu khác nhau trong đòi sống, và chúng cũng đa dạng, nhiều vẻ Cùng loại gùi đựng đồ cất giữ trong nhà, nhưng chiếc gùi của ngưòi Cơ-ho khác hẳn gùi cùa ngưòi Mạ Cũng là túi đựng cơm, đều đan bằng một loại lá cói, nhưng giữa túi của ngưòi Cơ-ho và túi của ngưòi Mạ, bên cạnh sự giống nhau còn có nét riêng biệt Cái hộp có nắp của phụ nũ Mnông đựng đồ lặt vặt hoặc

đồ vật quý nhỏ bé, cái nia hình lá đề (hay hình trái tim) của ngưòi Chơ-ro để sảy thóc gạo, cái "đó" của ngưòi Mạ dùng chụp lên lỗ tổ mối để bắt mối cánh làm thúc ăn, cái giỏ ngưòi Xtiêng dùng khi tuốt lúa rẫy và cái gùi dài kiểu đặc biệt đàn ông Xtiêng mang theo khi đi rùng - Đó là các hiện vật đồ đan khác, tiếp tục phản ánh một số sinh hoạt của con ngưồi vùng nam Tây Nguyên Cách thức sử

Trang 33

dụng loại gùi đàn ông đó cùng trang bị đi rừng đi rẫy của một nguòi đàn ông được thể hiện ỏ tấm ảnh dán cạnh tủ Qua ảnh, còn thấy được tập quán mặc khố của nam giỏi Trong tủ, 2 chiếc khố của ngưòi Cơ-ho và Mnông được trưng bày vổi 3 ý nghĩa: loại đồ mặc cổ truyền của đàn ông, sản phẩm dệt của phụ nữ, tính tương đồng và tính phong phú văn hoá thể hiện qua cái khố Còn y phục nữ chỉ hiện hình trên ảnh: một cô gái Mnông Gar trong bộ

áo, váy kiểu cổ truyền, đứng trưổc cửa nhà - loại của uốn vòm cùa ngôi nhà truyền thống vốn phổ biến nhiều nơi ỏ nam Tây Nguyên Trên vách tủ, thanh gỗ dài có màu đen chủ đạo là hiện vật hưổng nguòi xem tỏi hiểu biết khác:

Nó được chế tác và sử dụng khi ngưòi Mạ tổ chữ lễ cúng

có đâm trâu, sau đó được giữ lại và làm chỗ vắt quần áo trong nhà Song, ở phần trưng bày này, các trang trí trên mặt thanh gổ mỏi là điều hấp dẫn nổi bật, thể hiện rõ nét đặc điểm trang trí hoa văn trên mặt gỗ và tre của văn hoá

cổ truyền Môn - Khơ-me xứ Thưộng: Tuỳ trường hổp, ngưòi ta dùng cách vẽ, hay đốt lửa, hay khác vạch, tạo nên các đồ án hoa văn hình học và chúng được phân bố, liên kết thành vành, dải ngang, v ỏ i thanh gỗ cụ thể nói đây, ngưòi Mạ tạo hoa văn theo lối khác vào mặt gỗ đã bôi đen; những vạch, những hình tam giác, hình vuông, đưòng xương cá v.v có màu tự nhiên của gổ hiện rõ lên trên nền đen ấy, và được bố trí tạo thành các đồ án xếp

kế tiếp nhau theo một dải ngang

Trang 34

Sau 3 tủ dành cho 3 tiểu vùng như vậy, tiếp đến một

số tủ chuyên đề, trưổc hết là về nhạc cụ TS-TN là xứ sỏ của nền âm nhạc cổ truyền rất phong phú, trong đó bảo tồn nhiều yếu tố sơ khai Nhạc cụ, trừ các loại bằng đồng phải mua, phần lớn được làm từ tre, nứa, gỗ, dây, vỏ bầu tại các buôn làng Có 6 nhạc cụ được trung bày ỏ đây

Chiếc goong của ngưòi Mnông đại diện cho loại nhạc cụ

chỉ đon giản là một gióng tre làm hộp âm, tách ra nhũng dây cật và kê căng lên ỏ 2 đầu dây để làm dây đàn Ngưòi

ta dùng cả 2 tay cầm đàn ỏ tư thế dọc và gảy đàn bằng đầu ngón tay, có thể tấu được nhiều bài nhạc, thậm chí dùng nó nhại được cả âm thanh của bộ chiêng đồng (vì thế ngưòi Hrê gọi nó là "chiêng tre") Cùng nhạc cụ gảy,

nhung cấu tạo phức tạp hơn, có chiếc đàn gong của ngưòi

Xơ-đăng Dàn gồm các bộ phận láp ghép vói nhau: bầu

âm, thân đàn, dây đàn, cần căng dây, nhưng mỗi dây đồng

thòi là một nốt, chưa hề có phím Đến đàn brook của ngưòi

Hrê thì đã hoàn chỉnh hơn một bưốc, có thêm bộ phận

phím Cách thức sử dụng đàn brook được ghi lại bằng ảnh

chụp ở vùng người Ba-na, và ỏ các tộc khác cũng tương

tự như vậy Cùng trong tủ này, có một chiếc nhị cùa ngưòi Ta-ôi Đó cũng là loại nhạc cụ phổ biến Ngưòi chơi dùng một thanh nứa để kéo (chứ không có cung kéo như nhị ỏ ngưòi Kinh), miệng ngậm miếng gỗ hoặc tre mỏng, hay miếng mo tre, có dây nối đến chân dây nhị, biến vòm miệng thành hộp âm và dùng miệng tham gia điều khiển

Trang 35

âm thánh Chiếc rlet của ngưòi Mnông là loại sáo đặc biệt,

thưòng sử dụng trong tang lễ và lễ hội Nó không chỉ gồm một ống sáo có 3 lỗ mà còn gán vỏi một vỏ bầu khô để thổi và 1 ống tre chứa nưổc Trống là nhạc cụ phổ biến của cu dân nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ-me TS-TN, tuy không lỏn như trống của các tộc Gia-rai, Ê-đê láng giềng thuộc giữ hệ Nam Đảo, nhung cũng khá đa dạng, o đây chỉ trưng bày một chiếc trống cùng dùi gõ của ngưòi Cơ-tu Ngoài ra, trong một tủ ỏ dãy giữa phòng, còn giỏi thiệu 3

nhạc cụ khác: khèn mboăt của nguòi Mạ, cũng thường gặp

ỏ khắp vùng nam Tây Nguyên; đàn môi của ngưòi Cơ-ho, cũng phổ biến ỏ TS-TN; tù và của ngưòi Cơ-tu làm bằng

mỏ con chim phượng hoàng đất (chim t ’ring) Có ảnh chụp ngưòi thổi mboăt và nguòi choi đàn môi.

Nghề dệt vải là chủ đề của riêng một tủ Cách thức dệt bằng bộ dụng cụ mà một số tác giả mệnh danh là "kiểu Anh-đô-nê-diêng" được tái tạo qua hình tuộng một phụ

nữ Ta-ôi đang ngồi dệt dỏ tấm vải, dệt luôn cả hoa vãn

từ muôn hạt nhựa trắng (xưa kia dùng cưòm trắng) Cạnh

đó là cái cán hạt bông và xa xe sợi - 2 công cụ dùng trong

2 công đoạn quan trọng của quá trình tạo ra sội bông trưỏc khi dệt Kỹ thuật dệt giổng nhau giữa các tộc, chỉ khác tí chút là, trong khi phần đông theo tập quán giăng thảm sội dọc rất ngắn phía trưỏc ngưòi dệt, chỉ vừa một tầm chân duỗi, thì có nơi (như ỏ ngưòi Ba-na) lại kéo thảm sợi ấy ra rất dài, giống như tập quán của cư dân nói

Trang 36

ngôn ngũ Nam Đảo ỏ Tây Nguyên Cả 2 phong cách cùng được giỏi thiệu trên ảnh chụp để mọi ngưòi có thể hình dung, so sánh Sản phẩm dệt được trưng bày kèm theo gồm những loại khác nhau, thể hiện tính đa dạng, phong phú như trong thực tế ở khối cư dân này: có khố, váy, áo, tấm mền; có vải nhuộm đen chàm, vải trắng mộc; có hoa văn tạo từ sợi khác màu nhau, hay tù chỉ, từ cưòm tráng Song, cũng toát ra một số nét chung - Đó là: Khổ vải dệt

cố thể từ một vài chục phân đến khoảng 1 m tuỳ ý ngưồi dệt; hoa văn hình thành ngay trong khi dệt, vỏi phong cách trang trí chủ yếu theo vành (theo dải ngang) như trong văn hoá Đông Son mấy nghìn năm trưổc; dùng lối gài sợi

để tạo nên những hoa văn kỷ hà theo kiểu đan nan (đưòng thẳng, đưòng gãy khúc, hình trám, tam giác và dạng biến thể của chúng); bố cục hoa văn có đặc điểm là rậm và chặt chẽ; sắc màu tham gia trong trang trí chủ yếu và trưổc hết là đen, trắng, đỏ, và chúng hoà điệp vào nhau, khống hưỏng tói sự tương phản để tồn lên sác độ rực rõ

Vật dụng bằng vỏ cây là một chủ điểm khác Trong quá khứ chưa xa lám, nguòi dân nhiều nơi ỏ TS-TN phải dùng vỏ cây rùng làm một số loại đồ dùng, đặc biệt là để che thân Nay vẫn dễ thấy việc sử dụng vỏ cây qua những quai gùi, quai giỏ, tấm đệm trải lung voi, chỉ ỏ ít nơi hẻo lánh có ngưòi còn dùng "vải vỏ cây" Quy trình chế tác áo

vỏ cây của ngưòi Bru-Vân Kiều được trưng bày thông qua ảnh và hiện vật, cùng vđi bài viết, để ngưòi xem hiểu được

Trang 37

cách thúc làm ra chiếc áo từ khúc amưng (tương tự cây

sui) để mặc Ngoài ra ỏ đây còn có tấm mền của nguòi Xơ-đăng, cũng làm từ vỏ cây, nhưng vối trình độ cao hơn

- Họ đã biết gia công tấm xơ vỏ cây bàng cách luồn những sợi ngang vào theo kiểu đan lóng mốt, làm cho "vải" bền chác hơn Như vậy, về kỹ thuật, qua đó giỏi thiệu đưộc 2 giai đoạn phát triển của việc chế tác y phục vỏ cây: giai đoạn đầu còn đơn giản, mỏi biết dùng trực tiếp tấm xơ lột

từ loại cây rừng thích hợp (như ngưòi Bru-Vân Kiều); đến giai đoạn sau phức tạp hơn, đã biết sử dụng kỹ thuật đan

để chế tác vải sợi vỏ cây (như nguòi Xơ-đăng), mà vỏi vải sợi bông ở xứ Thượng, kỹ thuật dệt cũng theo nguyên tắc đan như thế

Trong đồi sống ngưòi Thượng, vỏ bầu được ưa dùng phổ biến Ngưòi ta trồng loại bầu đắng chỉ cốt lấy vỏ quả già để khô làm vật dụng Nếu như nói đến nền "văn hoá thảo mộc" xú Thượng, thì trong đó vỏ bầu đóng vai trò quan trọng riêng biệt Do đó, trong phần trưng bày về cu dân nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ-me vùng TS-TN, yếu tố văn hoá này xúng đáng vổi một tủ giỏi thiệu chuyên đề Tám hiện vật nói lên phần lỏn các công dụng thưòng thấy của

vỏ bầu: đựng nưổc uống, đựng rượu, cất giữ thuóc lá, dùng làm bát, làm hộp cộng hưỏng cho nhạc cụ (thậm chí như

cây đàn tinh ninh của ngưòi Ba-na có tối 2 vỏ bầu) Ba

tấm ảnh chụp kèm theo - lấy nưỏc suối, giá để nưổc sạch, com lèn trong vỏ bầu - giúp ngưòi xem dễ mưòng tượng

Trang 38

sinh động về việc sử dụng loại đồ vật này trong thực tế

Sử dụng vỏ bầu là một tập quán lâu đòi, hơn nữa do một

số ưu thế của nó, nên tuy nay đã có những đồ vật khác tưong ứng về công dụng, nhưng vật dụng bàng vỏ bầu vẫn chưa bị thay thế nhiều

Trong hệ thống trưng bày, chỉ có một tủ - mà là tủ lốn nhất - đuộc dành cho riêng một tộc: tộc Xơ-đăng Việc giỏi thiệu về ngưòi Xơ-đăng xuất phát từ 2 lý do chính: 1) Đây là một trong những cư dân còn bảo lưu đưổc nhfêu nét cổ truyền của nền vãn hoá phong phú; 2) So vổi 14 tộc khác, tính đến nay hiện vật văn hoá Xơ-đãng được sưu tầm về BTDTHVN nhiều hơn cả Cộng đồng Xơ-đăng gồm 5 nhóm địa phương (Xơ-teng hay Xđang, Ca-dong, To-đrá, Mnâm và Ha-lăng), dân số khoảng 10 vạn ngưòi, phần đông phân bổ ỏ tỉnh Kon Tum, một bộ phận ở miền núi Quảng Nam và Quảng Ngãi Trưỏc hết, tài nghệ đan lát của họ được giỏi thiệu qua chiếc gùi có náp dùng để cất giữ đồ vải và đồ vật quý khác (nhóm Xơ-teng), 2 dạng gùi của nam giỏi dùng đựng vật dụng, tu trang mang theo

và đựng các thứ kiếm được trên rừng, dưối nưổc (Mnâm

và Tơ-đrá), chiếc nón lợp lá dứa rùng (Ca-dong), chiếc

hộp có thể đựng bộ cồng 4 chiếc để đeo sau lung khi càn

di chuyển đi xa (Mnâm), và chiếc chiếu do phụ nữ đan bằng lá dứa (Ca-dong) Một số dụng cụ gán vổi kinh tế

rẫy cũng được trưng bày: Cái rìu và con dao tgạ để khai

phá rừng, phát rẫy (Tơ-đrá), gậy chọc lỗ để trỉa lúa

Trang 39

(Ca-dong), giỏ đựng thóc giống dùng khi gieo trỉa (Tơ- đrá), 2 loại công cụ làm cỏ (Ca-dong và Ha-lăng), giỏ dùng đựng thóc khi tuốt lúa (Ca-dong), và cả một dạng bù nhìn

để bảo vệ mùa màng Ngoài ra, một số vật dụng khác đáng chú ý: tù cái mõ trâu bò (Tơ-đrá) đến cái đó bát cá bống (Ha-lăng), đó thông thưòng (Mnâm), từ ổng nứa nhọn để chọc tiết lộn đến đôi đũa "đực - cái " dùng nấu thúc ăn

để cúng trong ngày lễ hội (Ca-dong), chiếc khay gỗ dùng đựng thức ăn (Ha-lăng), bộ dụng cụ dùng để ăn trầu (Ca-dong), dao nhọn như một thứ vũ khí đàn ông phòng thân (To-đrá), dao nhọn đa năng: vót nan, khoét lỗ, chạm khắc, tiện gọt, thái thịt (Ca-dong) Liên quan đến đồ sát, nghề rèn độc đáo của ngưòi Tơ-đrá vổi bễ bàng da hoẵng được chụp ảnh giỏi thiệu ỏ đây

Lễ hội đâm trâu là một chủ điểm trưng bày riêng Ỏ nưỏc ta, hiện nay nghi lễ tôn giáo có đâm trâu tế thần chỉ thấy ỏ ngưòi Thượng TS-TN Đó là loại lễ cúng lỏn nhất của họ Cột lễ (hay cây nêu) là trung tâm trong lễ hội; nó

có hình dáng không giống nhau giữa các vùng, các tộc Con trâu dùng làm vật hiến sinh thì bị tròng vào sợi dây lón được giũ chắc chán bỏi chân cột, và thực sự bị đâm bàng giáo (có nơi đâm bằng cây nứa nhọn) cho đến chết Cây nêu dựng trong Bảo tàng là loại dùng cho lễ đâm trâu của tùng gia đình nguòi Ba-na vùng Mang Yang, tỉnh Gia Lai, gồm nhiều bộ phận, nhiều chi tiết hộp lại, như một công trình nghệ thuật trang trí công phu

Trang 40

Hoa văn trên 4 đầu cột và ỏ khung gỗ bao quanh được tạo bằng cách đốt lửa Ỏ các trang trí khác, màu đen từ nhọ nồi, màu đỏ từ một loại đá, và có nhiều trang trí dùng

xơ tre vót ra, dùng lõi một loại cây họ sậy, có cả những hình hoa, hình cá làm bằng gổ Tấm phên đan treo dưổi mỗi ngọn nêu là hình con hoẵng (con mang); còn hình mặt tròi, cũng bàng nan, chiếm lĩnh vị trí cao nhất trên ngọn nêu Chính giũa cột lễ, ngoài bộ phận "giưòng thần" vỏi rất nhiều chi tiết, ví tựa cây hoa loà xoà, được quan niệm là nơi các "thần linh" về ngự để dự lễ, còn dựng cái loa đan để đựng các thúc cúng, và có khúc cành cây gạo chôn đứng Tất cả đều được làm theo tập tục cổ truyền Nếu có được không gian cao và thoáng hơn, nếu cây nêu giữ nguyên sắc màu và kích thưỏc như khi còn ỏ làng (cao thêm chừng lm nữa), hẳn nó sẽ đẹp hổn nhiều

Trong lễ hội đâm trâu, có âm thanh chiêng cồng và trống, vừa gây không khí hào hứng, vừa giữ nhịp cho vũ điệu tập thể, có nghi thức cầu khấn, có ăn uống đông vui

Để ngưòi xem có được cảm nhận thực địa hơn, trên màn hình nhỏ liên tục chiếu phim video quay cảnh lễ

hội đám trâu (của chung dân làng) ở ngưòi Bana thuộc

thị xã Kon Tum

Sau đó là tủ trưng bày về sinh hoạt tín ngưđng - tôn giáo Cư dân nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ-me đều có tín ngưỡng vạn vật hữu linh (đa thần giáo nguyên thuỷ) Theo

Ngày đăng: 17/07/2022, 15:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3  hình  tròn  cùng nằm  trên  đưòng  ngang  theo  biên độ  hình  sin,  các vòng tròn  thể  hiện  rõ  2  màu mực đỏ và  đen,  tượng - Tuyển tập các nghiên cứu thuộc lĩnh vực Bảo tàng dân tộc Việt Nam (Tập 1): Phần 2
3 hình tròn cùng nằm trên đưòng ngang theo biên độ hình sin, các vòng tròn thể hiện rõ 2 màu mực đỏ và đen, tượng (Trang 87)
BẢNG THEO DÕI x ử  LÝ HOÁ CHẤT - Tuyển tập các nghiên cứu thuộc lĩnh vực Bảo tàng dân tộc Việt Nam (Tập 1): Phần 2
x ử LÝ HOÁ CHẤT (Trang 192)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm