1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động marketing tại bảo tàng dân tộc học việt nam, thực trạng và giải pháp

108 41 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 3,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là một bảo tàng quốc gia hàng đầu về trưng bày, lưu giữ những giá trị văn hóa của các Dân tộc Việt Nam.. Nhận thức được tầm quan trọng đó

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

HOẠT ĐỘNG MARKETINGTẠI BẢO TÀNG

DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM THỰC TRẠNG - GIẢI PHÁP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CỬ NHÂN VĂN HÓA

Giảng viên HD : Th.s Nguyễn Văn Trung

Sinh viên thực hiện : Trần Thị Viên

Lớp : QLVH 7C Niên khóa : 2006 – 2010

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đề tài nghiên cứu với tiêu đề “Hoạt động Marketing tại Bảo tàng Dân tộc

học Việt Nam, thực trạng và giải pháp”, thực sự là thành quả của việc học tập

nghiên cứu của bản thân tôi trong suốt bốn năm qua tại trường Đại học Văn hóa

Hà Nội Là một sinh viên khoa Quản lý Văn hóa Nghệ thuật, tôi xin chân thành gửi lời cám ơn đến các thầy giáo cô giáo đã tạo nền móng kiến thức, giúp tôi thực hiện tốt bài khóa luận tốt nghiệp này Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn tới Ths Nguyễn Văn Trung đã định hướng giúp tôi kiên định trong việc thực hiện ý tưởng của mình Xin cảm ơn ban giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, thư viện trường Đại học Văn hóa Hà Nội, thư viện Quốc gia, nơi đã tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi trong việc tìm những tài liệu liên quan Tôi xin cảm ơn tới những người trong gia đình đã động viên rất tốt cho tôi về mặt sức khoẻ và tinh thần Cám ơn những người bạn thân đã cùng chia sẻ và suy ngẫm cùng tôi về cuốn này ngay từ khi nó còn là phác thảo Đối với một sinh viên sắp ra trường, những kinh nghiệm về hệ thống kiến thức và viết bài vẫn còn nhiều hạn chế, vậy nên nội dung cuốn khóa luận này cũng không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp của các thầy giáo cô giáo và bạn bè để nội dung sau này có sự bổ sung hoàn thiện hơn

Hà Nội, 6/2010

Sinh viên

Trần Thị Viên

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Lược sử nghiên cứu vấn đề 8

3.Mục đích nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Bố cục khóa luận 10

CHƯƠNG 1 : NGHIỆP VỤ MARKETING TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN BẢO TÀNG 11

1.1 Lịch sử marketing trong hoạt động bảo tàng 11

1.1.1.Marketing trong các tổ chức văn hóa nghệ thuật 11

1.1.1.1 Lịch sử và khái niệm Marketing 11

1.1.1.2 Marketing văn hóa nghệ thuật 13

1.1.2.Marketing bảo tàng và những công cụ hiệu quả của Marketing 14

1 2.Vai trò Marketing trong hoạt động bảo tàng 18

Trang 4

1.2.1.Quảng bá thương hiệu bảo tàng 19

1.2.2.Thu hút công chúng đến với hoạt động Bảo tàng 20

1.2.3.Nâng tầm giá trị cho các bộ sưu tập 20

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM 22

2.1 Khái quát về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 22

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 22

2.1.2 Chức năng nhiệm vụ 23

2.1.3 Cơ cấu tổ chức 24

2.2 Công tác Marketing tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 27

2.2.1 Công tác phát triển khán giả tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 27

2.2.2 Sử dụng các công cụ Marketing 33

2.3 Đánh giá hoạt động Marketting của Bảo tàng Dân tộc học 56

2.3.1 Những thành tựu 57

2.3.1 Những mặt hạn chế 61

CHƯƠNG 3 : NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM 64

Trang 5

3.1 Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức ( Phân tích

SWOT) 65

3.1.1 Điểm mạnh (Strenghs) 65

3.1.2 Điểm yếu ( Weaknesses) 66

3.1.3 Cơ hội (Opportunities) 66

3.1.4 Thách thức (Threats) 68

3.2 Những nhìn nhận và thay đổi từ phía quản lý nhà nước 68

3.3 Xem xét cơ cấu tổ chức đào tạo nghiệp vụ trong bảo tàng 70

3.3.1.Phát triển nguồn nhân lực 70

3.3.2 Đầu tư tài chính cho hoạt động Marketting 72

3.3.3 Nâng cao chất lượng dịch vụ 72

3.3.4 Mở rộng các hoạt truyền thông,quảng cáo, liên kết hệ thống các Bảo tàng Quốc tế 74

3.3.5 Hướng tìm công chúng và nhà tài trợ 76

3.3.5.1 Tăng cường việc nghiên cứu, đánh giá thị trường, thiết lập mối quan hệ với khách tham quan 76

3.3.5.2 Thu hút các nguồn tài trợ 77

Trang 6

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 82

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là một bảo tàng quốc gia hàng đầu về trưng bày, lưu giữ những giá trị văn hóa của các Dân tộc Việt Nam Từ khi mới thành lập, nó đã được đánh giá cao về chất lượng các hoạt động và dịch vụ văn hóa, đã thu hút được đông đảo khách tham quan trong và ngoài nước Khi khảo sát thực

tế về hoạt động hoạt động Marketing tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, tìm hiểu nhận thức của Bảo tàng về hoạt động marketing thì thấy rằng hoạt động này chỉ được chú ý ở một giới hạn nhất định Nơi đây đã có rất nhiều hoạt động về quan hệ công chúng, kết nối cộng đồng, thiết kế trang web hiệu quả, kết hợp với truyền thông và nâng cao chất lượng trong mọi hoạt động Tuy nhiên, tất cả các hoạt động này cũng mang tính chất đơn lẻ, chưa được hệ thống và nằm trong một chiến lược cụ thể nào cả, để có thể xây dựng nên một hình ảnh và tên tuổi vững chắc cho Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong lòng công chúng Hiểu và nắm vững nguyên lý marketing văn hóa nghệ thuật rất cần đối với nhà quản lý thuộc chuyên môn nghiệp vụ này, giúp nâng cao chất lượng hoạt động cho các chương trình dịch vụ, chú trọng đến việc xây dựng và phát triển thương hiệu Nhà nước

ta đang dần tiến tới cắt giảm bao cấp cho một vài thiết chế văn hóa, sự tồn tại và phát triển của các bảo tàng lại phần nhiều dựa vào sự quan tâm của các tổ chức

xã hội Bởi vậy, khi là một thiết chế văn hóa mở cùng với việc vận động làm mới hình ảnh của mình trong lòng công chúng sẽ không một bảo tàng nào được phép

bỏ qua các hoạt động marketing văn hóa nghệ thuật, cụ thể họ phải biết vận

Trang 8

dụng, đưa lý thuyết của nó đến với hoạt động bảo tàng Năm 2005, Thủ tướng

Chính phủ đã phê duyệt “Quy hoạch tổng thể hệ thống Bảo tàng Việt Nam đến

năm 2020” với mục tiêu kiện toàn và phát triển hệ thống bảo tàng phục vụ nhu

cầu nghiên cứu khoa học, học tập, giảng dạy, phổ biến tri thức về lịch sử, văn hóa, khoa học và hưởng thụ văn hóa của công chúng, góp phần phát triển kinh tế

xã hội Nhận thức được tầm quan trọng đó và thấy được lợi ích mang lại của marketing văn hoá nghệ thuật đối với bảo tàng, thấy đây là vấn đề mới nhưng cũng đầy tiềm năng đối với bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, là sinh viên năm cuối khoa Quản lý Văn hóa Nghệ thuật, với những kiến thức đã học được trong

mấy năm qua, tôi xin chọn đề tài “Hoạt động Marketing tại Bảo tàng Dân tộc

học Việt Nam, thực trạng và giải pháp” là đề tài tốt nghiệp của mình

2 Lược sử nghiên cứu vấn đề

Hiện nay, đã có một số nghiên cứu về vấn đề tiếp thị của bảo tàng Ví dụ như:

- Cuốn “Cơ sở bảo tàng học” của Timothy Ambrose và Crisfin (Bảo tàng

Cách Mạng Việt Nam – 2000), các tác giả đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa bảo tàng với công chúng và đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm thu hút công chúng đến với Bảo tàng

- Cuốn “Cẩm nang Bảo tàng” của Gary Edson và David Dean (Bảo tàng

Cách Mạng Việt Nam – 2001) cũng nhắc đến khái niệm thu hút khách tham quan như một giải pháp hữu hiệu thúc đẩy sự phát triển của Bảo tàng

- Cuốn “Quản lý bảo tàng” của tác giả Nguyễn Thịnh (Đại học Văn hóa Hà

Nội – 2004) đã đề cập tới vấn đề “Marketing Bảo tàng”, đưa ra khái niệm

“Marketing – tiếp thị bảo tàng” cùng những nội dung của nó và khẳng định chiến

Trang 9

lược thu hút khách tham quan là nhiệm vụ quan trọng mang tính sống còn của Bảo tàng

Tuy nhiên, để nghiên cứu về Marketing của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trên góc độ của Marketing Văn hóa Nghệ thuật thì vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: tổ chức, nghiệp vụ, nhân lực và các mối quan hệ của tổ chức trong hoạt động marketing văn hoá nghệ thuật

- Phạm vi nghiên cứu: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2009 thông qua nghiệp vụ marketing

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn

- Phương pháp thống kê, phân tích số liệu

- Phương pháp tổng hợp, lựa chọn thông tin

Trang 10

6 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục; khóa luận bao gồm 3 chương:

- Chương 1: Nghiệp vụ Marketing trong việc phát triển Bảo tàng

- Chương 2: Thực trạng hoạt động marketing tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

- Chương 3: Nâng cao hiệu quả hoạt động Marketing tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1

NGHIỆP VỤ MARKETING TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN BẢO TÀNG

1.1 Lịch sử marketing trong hoạt động bảo tàng

1.1.1.Marketing trong các tổ chức văn hóa nghệ thuật

1.1.1.1 Lịch sử và khái niệm Marketing

Hoạt động Marketing đã xuất hiện từ lâu, ngay từ những năm đầu thế kỉ

XX, các nước trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật trong hoạt động kinh doanh

đã có hàng loạt các chủ trương, khẩu hiệu: “ Hãy bán hàng mà khách hàng cần, khách hàng luôn luôn đúng, phải biết khách hàng muốn gì? ” Cùng với các chủ trương đó các nhà kinh doanh cần áp dụng các biện pháp “bán kèm”, bán cho quà tặng… với mục tiêu là bán được nhiều hàng, thu được nhiều lợi nhuận Hoạt động này chỉ diễn ra trên thị trường, trong khâu lưu thông, bán hàng và nó kéo dài đến trước chiến tranh thế giới thứ II Người ta gọi đó là hoạt động Marketing truyền thống hay Marketing cổ điển

Sau đại chiến thứ 2, tình hình kinh tế phát triển nhanh hơn, khoa học kỹ thuật phát triển, sự cạnh tranh diễn ra gay gắt, giá cả hàng hóa biến động mạnh, cuộc khủng hoảng thừa diễn ra liên tiếp Lúc này hoạt động Marketing truyền thống không còn phù hợp Chính vì vậy Marketing hiện đại ra đời với đặc trưng là:

Tập trung vào khách hàng nhất định gọi là thị trường mục tiêu Bởi vì một công ty, một tổ chức với nguồn lực giới hạn của mình không thể đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của tất cả mọi nhu cầu và hiệu quả làm việc trên thị trường

Trang 12

Bên cạnh đó hiểu biết chính xác nhu cầu khách hàng là vấn đề cốt lõi của Marketing hiện đại Hiểu biết chính xác nhu cầu chính là cách để thỏa mãn, đáp ứng tối ưu nhu cầu đó và tạo ra sự trung thành của khách hàng với doanh nghiệp… Điểm mấu chốt của Marketing hiện đại là tăng nhanh lợi nhuận dựa trên cơ sở tăng mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng

Ở Việt Nam, Marketing mới chỉ manh nha xuất hiện vào những năm đầu của thập kỷ 70 Nhưng ngay từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì mới được các nhà kinh tế sử dụng

Các nhà kinh doanh hiện nay rất quan tâm đến Marketing Hàng loạt các hoạt động Marketing được triển khai trên hầu hết thị trường, đặc biệt là thị trường trung tâm như: Quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hội chợ triển lãm, tặng quà… Nhờ có các hoạt động này mà doanh nghiệp đã dần thích ứng với môi trường kinh doanh mới, thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng và đem lại lợi nhuận nhiều hơn cho doanh nghiệp

Song không phải ngay từ đầu, Marketing đã phát triển thành một lý thuyết hoàn chỉnh mà sự ra đời của nó là một quá trình với nhiều quan điểm khác nhau, tùy theo góc độ tiếp cận và mục đích của từng người nghiên cứu, nhưng có vài định nghĩa tiêu biểu như:

Theo Malcolm H B Mc Donald: “ Marketing là một quy trình quản lý ở đó

các nguồn lực của một tổ chức được tận dụng để thỏa mãn nhu cầu của những nhóm khách hàng được lựa chọn nhằm mục đích đạt được những mục tiêu của

cả hai bên”

Theo viện Marketing: “ Marketing là một quy trình quản lý chịu trách

nhiệm xác định phán đoán và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách có hiệu quả và đem lại lợi nhuận.”

Trang 13

Theo nguyên lý Marketing của Phillip Kotler và Gary AmStrong:

“Marketing là một quy trình xã hội và quản lý thông qua đó các cá nhân và các

tổ chức đạt được những gì họ cần và họ muốn bằng mọi cách tạo ra sản phẩm và giá trị trao đổi những sản phẩm có giá trị đó.”

Theo Hiệp hội Marketing của Mỹ: “ Marketing là một quá trình lập kế

hoạch và theo dõi từ việc hình thành, chính sách giá, xúc tiến và phân phối các ý tưởng, hàng hóa và dịch vụ nhằm tạo ra sự thay đổi làm thỏa mãn mục đích của các cá nhân và các tổ chức”

Nói theo một cách đơn giản có thể hiểu Marketing là một quy trình quản lý, ở đó các tổ chức đạt được mục tiêu của mình bằng cách thỏa mãn nhu cầu thị trường

1.1.1.2 Marketing văn hóa nghệ thuật

Marketing văn hóa nghệ thuật mới xuất hiện cách đây vài chục năm Ngay từ đầu không phải tổ chức nào cũng áp dụng vì sợ ảnh hưởng đến chất lượng nghệ thuật Tuy nhiên qua thời gian Marketing đã trở thành một phần không thể thiếu được trong hoạt động của tổ chức Văn hóa nghệ thuật vì nó giúp cho tổ chức dễ dàng hơn trong công tác quản lý, việc quảng cáo các sản phẩm trở nên phổ biến hơn với công chúng và khán giả có thể biết về tổ chức nghệ thuật của mình cụ thể hơn

Marketing Văn hóa nghệ thuật là loại hình Marketing xã hội, có chức năng là cầu nối giữa các thiết chế nghệ thuật với công chúng Bằng các phương pháp và công cụ, Marketing Văn hóa nghệ thuật hướng tới quá trình làm gia tăng tính hiệu quả xã hội với công chúng trong điều kiện kinh tế thị trường Nó không lấy lợi nhuận làm tiêu chuẩn, thước đo mà chú ý đến hiệu quả văn hóa

Trang 14

Đây cũng là đặc trưng cơ bản để phân biệt giữa Marketing kinh doanh và Marketing Văn hóa nghệ thuật bởi mục tiêu cụ thể của Marketing kinh doanh là thu được lợi nhuận cao nhất trong điều kiện kinh tế xã hội cho phép, trong khi đó Marketing Văn hóa nghệ thuật là hướng tới sự phát triển các hoạt động xã hội, thu hút được nhiều khán giả đến với tổ chức văn hóa nghệ thuật, lợi nhuận không phải là mục đích tối thượng

Marketing nghệ thuật nay đã phát triển qua bốn giai đoạn là tập trung đến sản phẩm, bán hàng, tập trung đến nghiên cứu thị trường, tập trung đến khách hàng

Theo Gerris Morris, Marketing tập trung đến khách hàng cho rằng cách duy nhất để một tổ chức có thể đạt được những mục đích của mình là tổ chức đó phải hiểu và thỏa mãn được những nhu cầu của khách hàng hiện có cũng như khách hàng tiềm năng

Định nghĩa về Marketing nghệ thuật có thể hiểu như sau: Marketing

nghệ thuật là một quy trình lên kế hoạch quảng bá cho chiến dịch các sự kiện và chương trình nghệ thuật Đó là các thao tác, các công đoạn, các bước đi của một chiến lược quảng cáo để thực hiện một chương trình nghệ thuật, làm sao để có thể thu hút khán giả đến xem và tạo dựng một chương trình mang tính thẩm mỹ

Trang 15

tàng thu nhận, bảo tồn, nghiên cứu, liên lạc (thông tin tuyên truyền) và trưng bày nhằm mục đích cho con người học tập, giáo dục và thưởng thức Bảo tàng là một bằng chứng vật chất về con người và môi trường xung quanh con người” – Hội đồng Bảo tàng Quốc tế (ICOM)

Theo Luật Di sản Văn hóa của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam(2005): “Bảo tàng là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử tự nhiên và xã hội nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hóa của nhân dân”

Trong những năm gần đây, phần lớn các bảo tàng trên thế giới đều có các vấn đề chung là ngân sách không đủ Thế nhưng bảo tàng vẫn phải duy trì hoạt động của mình từ trưng bày, triển lãm, bảo quản hiện vật, nghiên cứu khoa học….Mặt khác do sự phát triển của xã hội, yêu cầu của công chúng đối với bảo tàng ngày càng cao, do đó bảo tàng vừa phải thể hiện chức năng cơ bản của mình thông qua trưng bày, các hình thức giáo dục và hoạt động để thích ứng với nhu cầu thời đại Vấn đề sinh tồn của Bảo tàng phải thực hiện tôn chỉ là một cơ cấu phi doanh lợi mà để phục phát triển xã hội Do đó vấn đề làm sao bảo tàng vẫn phục vụ được xã hội và phát triển trong điều kiện ngân sách hạn hẹp đó là hết sức khó khăn

Vào những năm 80 của thế kỷ XX, để tìm ra con đường giải quyết khó khăn trên, Thụy Sĩ là nước đã đạt được một kỳ tích Các bảo tàng nước này đã tạo nguồn thu từ vé vào cửa là 70%, từ các hội viên là 15%, và các nguồn thu khác là 15% Sở dĩ làm được như vậy vì các bảo tàng ở Thụy Sĩ đã cải tiến công tác quản lý và giải quyết những vấn đề cơ bản là : Hiện đại hóa bảo tàng để cạnh tranh thu hút khách tham quan, sửa chữa những bất cập, hạn chế của bảo tàng,

Trang 16

đưa bảo tàng phát triển nhanh chóng, phát huy hiệu quả các hoạt động của bảo tàng để có thể mang lại thu nhập cho bảo tàng

Cũng vào những năm 80 của thế kỷ XX, ở Mỹ đã có những công trình

nghiên cứu “ứng dụng thị trường học với các cơ quan phi doanh lợi” và đề ra có

thể dùng nguyên tắc hoặc kỹ thuật của trường học ứng dụng đồng dạng trong các

cơ cấu văn hóa

Ở nước ta cũng vậy, phần lớn là các bảo tàng công lập Do đó nhiều bảo tàng kinh phí hoạt động hạn hẹp, thậm chí chỉ đủ lương cho viên chức Vì vậy để phát triển bảo tàng phải nỗ lực cả cách quản lý, phải đề ra nhiều biện pháp tăng cường thu nhập kinh tế đó là con đường sinh tồn bảo tàng

Nước ta từ những năm đổi mới đã chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước Từ thập kỷ cuối của thế kỷ XX cơ chế thị trường đã ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Tuy vậy, trong lĩnh vực văn hóa, cơ chế này chưa phát huy được hiệu quả nhiều Do quan niệm, một số người cho rằng văn hóa là một lĩnh vực đặc biệt, sản phẩm của văn hóa là sản phẩm đăc thù, phi vật thể nên không trở thành hàng hóa được Đó chính là nguyên nhân làm cho tính thụ động trong thực tế của nhiều cơ quan quản lý văn hóa và cơ sở hoạt động văn hóa Có một thời chúng ta coi khách tham quan là người được bảo tàng ban phát hoặc giáo huấn Những nhu cầu đa dạng của họ không được đáp ứng Quản lý bảo tàng cũng trong tình trạng trì trệ không có chiến lược thu hút khách tham quan, làm cho bảo tàng ít hiệu quả trong đời sống xã hội Thu hút khách đến tham quan bảo tàng chính là nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài của bảo tàng Đó chính là hoạt động tiếp thị- Marketing bảo tàng

Trang 17

Từ một cách nhìn cũ, bảo tàng nắm giữ chuyên môn, chủ động đưa ra

những gì mình “có”, còn khách tham quan là người bị động Khi xã hội phát

triển, nhu cầu của con người cũng thay đổi, bảo tàng phải có sản phẩm, dịch vụ

công chúng “cần” Xuất phát từ những điều trên chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa về Marketing bảo tàng như sau: “Marketing – tiếp thị bảo tàng là các hoạt

động nhằm nắm bắt nhu cầu của thị trường và khách tham quan bảo tàng để xác lập các biện pháp thỏa mãn một cách tốt nhất những nhu cầu mong muốn của họ”(18;21)

1.1.2.2.Các công cụ của Marketing

Khi sử dụng Marketing nghệ thuật để phát triển khán giả cách thông thường nhất là áp dụng những chính sách khác nhau để phù hợp với nhu cầu, mong muốn, thái độ và động cơ và những tiện ích khác nhau mà khách hàng tìm kiếm Những chính sách đó hợp thành một chiến lược gọi là Marketing mix hay Marketing hỗn hợp, bao gồm 4 yếu tố hay còn gọi là 4P Đó là:

+ Giá cả (Price)

+ Sản phẩm (Product)

+ Xúc tiến bán hàng (promotion)

+ Địa điểm, nơi phân phối (Place)

Chính sách sản phẩm (Product) là những chương trình hay những tác phẩm nghệ thuật với tính đa dạng, chất lượng, những thiết kế, nhãn hiệu, đóng gói, kích cỡ, dịch vụ, đổi trả, bảo hành, bảo hiểm…

Chính sách giá cả (Price) bao gồm giá niêm yết, giảm giá, thưởng, thời hạn thanh toán…

Chính sách xúc tiến bán hàng là phương thức giao tiếp với thị trường tiềm năng, phân phối, cách lựa chọn hình thức thông tin quảng bá và quảng cáo

Trang 18

Chính sách địa điểm bao gồm thời gian biểu diễn, những địa điểm biểu diễn, trưng bày, giao thông đi lại, khả năng tiếp cận (tính đến cả những đối tượng khuyết tật)

1 2.Vai trò Marketing trong hoạt động bảo tàng

Bảo tàng là một đơn vị sự nghiệp, là một trong những thiết chế văn hóa không thể thiếu Với chức năng nghiên cứu khoa học, bảo tồn các di sản văn hóa

và phát huy giá trị của chúng thì bảo tàng có các nhiệm vụ:

+ Sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày các sưu tập

+ Nghiên cứu khoa học về di sản văn hóa

+ Tổ chức phát huy giá trị của di sản văn hóa phục vụ lợi ích toàn xã hội

+ Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ

+ Thực hiện các hợp tác quốc tế theo quy định của Pháp luật

+ Quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật

Trang 19

Trong cơ chế thị trường hiện nay, Bảo tàng có nguy cơ bị lạc lõng, lãng quên nếu cứ tiếp tục một cách bị động, trông chờ các điều kiện thuận lợi Hơn lúc nào hết bảo tàng phải tự đổi mới các hoạt động của mình, chủ động nắm bắt, chủ động đáp ứng nhu cầu văn hóa ngày càng cao, đa dạng của công chúng, nâng cao vai trò gìn giữ, phát huy các Di sản văn hóa dân tộc để “xây dựng một nền Văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Để làm được điều đó, đòi hỏi mỗi bảo tàng phải thực hiện các hoạt động Marketing thật hiệu quả

Đối với bảo tàng, sản phẩm của bảo tàng có một đặc thù riêng Sản phẩm của bảo tàng là loại sản phẩm tiêu dùng đáp ứng nhu cầu có tính văn hóa cao của khách trong quá trình tham quan bảo tàng “Đó là sự pha trộn của các dịch vụ, con người, công trình bảo tàng, cơ sở vật chất, bầu không khí, mối quan tâm của khách hàng, khả năng tiếp cận, phong cách trưng bày, các sưu tập, các sự kiện, các hoạt động và nhiều nhân tố có thể định lượng hoặc không thể định lượng khác, hoặc đối với các đối thủ khác trong thị trường Đó cũng là những yếu tố quan trọng làm nên bản sắc và các cá tính của mỗi bảo tàng” (20;61)

Marketing với mục đích là giúp cho các tổ chức văn hóa nghệ thuật nói chung đáp ứng được mục tiêu của tổ chức thông qua việc thỏa mãn nhu cầu của khán thính giả vì vậy nó có vai trò hết sức quan trọng trong tổ chức

Đối với bảo tàng, Marketing có vai trò cơ bản sau:

1.2.1.Quảng bá thương hiệu bảo tàng

Thương hiệu là cảm nhận tổng thể về chất lượng, môi trường, uy tín, và giá trị đằng sau một cái tên, một cái logo của doanh nghiệp Hay nói một cách khác Thương hiệu chính là kết quả các khả năng đã tích lũy được của người tiêu

Trang 20

dùng với một nhận thức về công ty, những con người của công ty và sản phẩm của nó

Việc sử dụng Marketing vào bảo tàng giúp bảo tàng có thể quảng bá được các hoạt động của mình một cách rộng khắp trên các phương tiện truyền thông, quảng cáo… Từ đó cũng có thể định vị được hình ảnh của mình trong lòng công chúng thông qua các ý kiến phản hồi của khách tham quan

1.2.2.Thu hút công chúng đến với hoạt động Bảo tàng

Đối tượng của Marketing bảo tàng chính là khách, trong đó khách tham quan là mối quan tâm hàng đầu Nắm bắt được khối khách tham quan là việc làm khó, bởi lẽ đây là nhân tố bên ngoài nổi bật, động và không ổn định Marketing bảo tàng giúp Bảo tàng nắm rõ được các đặc điểm của khách như: hành vi tham quan, động cơ tham quan, thói quen tham quan, môi trường, quy mô cần và khả năng thực hiện Động cơ và nhu cầu của khách rất khác nhau Marketing bảo tàng giúp nắm bắt các nhu cầu đó và tùy thuộc vào từng nhu cầu để có được những đối sách linh hoạt, làm thích ứng, phù hợp với mục tiêu đề ra của bảo tàng Từ việc xác định được nhu cầu của khách tham quan, bảo tàng tổ chức những hoạt động đáp ứng các nhu cầu đó để thu hút công chúng, hấp dẫn và giữ chân khách tham quan Ngoài ra, việc ứng dụng dụng Marketing vào các hoạt động còn giúp bảo tàng thăm dò được khách hàng tiềm năng của mình là ai để có mục tiêu hướng tới trong tương lai

1.2.3.Nâng tầm giá trị cho các bộ sưu tập

Có thể nói đối với bảo tàng, Bộ sưu tập trưng bày chính là cái hồn của bảo tàng Sự hấp dẫn của các bộ sưu tập hiện vật còn tùy thuộc vào sở thích, học vấn

Trang 21

và những mục đích khám phá, hiểu biết của từng khách tham quan Vì vậy Marketing có vai trò làm cho các bộ sưu tập trở nên có giá trị khi nó thăm dò sở thích của khách tham quan Từ đó điều chỉnh sự trưng bày sao cho hấp dẫn,làm cho các bộ sưu tập hiện vật khó hiểu trở nên thú vị và dễ hiểu; tìm được không gian trưng bày thích hợp và độc đáo để thỏa mãn sự mong muốn của khách tham quan

Tóm lại, việc sử dụng Marketing vào bảo tàng không chỉ giúp bảo tàng khẳng định được thương hiệu của mình, thu hút công chúng đến với bảo tàng hay nâng tầm giá trị cho các bộ sưu tập mà còn giúp bảo tàng định hướng cho tổ chức hoạt động sao cho có hiệu quả nhất và gắn với thực tế Mặt khác, Marketing còn giúp cho bảo tàng có thể tự chủ về kinh tế, phát triển theo phương thức biến bảo tàng thành một thiết chế văn hóa mở giống như các bảo tàng trên thế giới, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của khách tham quan

Trang 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI

BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM

2.1 Khái quát về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trang 23

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam do kiến trúc sư Hà Đức Lịnh (người dân tộc Tày, công ty xây dựng nhà ở và công trình công cộng Bộ xây dựng) thiết kế.Nội thất công trình do bà kiến trúc sư Véronique Dollfus(người Pháp) thiết

kế

Bảo tàng gồm 2 khu vực chính: trong nhà và ngoài trời Khu vực trong nhà bao gồm các khối nhà: nhà trưng bày, cơ sở nghiên cứu, thư viện, hệ thống kho bảo quản, hệ thống các bộ phận kỹ thuật, hội trường… Các khối nhà này liên hoàn với nhau, có các lối đi hợp lý với tổng diện tích 2480m2, trong đó 750m2

dành cho kho bảo quản hiện vật

Kể từ khi khánh thành, đúng vào dịp Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 7 các nước có sử dụng tiếng Pháp họp tại Hà Nội, hàng năm Bảo tàng đón tiếp khoảng 60.000 khách tới tham quan

2.1.2 Chức năng nhiệm vụ

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là một viện bảo tàng về lĩnh vực dân tộc học của Việt Nam Nhiệm vụ chính của Bảo tàng là nghiên cứu khoa học về các dân tộc Việt Nam, sưu tầm, phân loại, đánh giá, bảo quản, phục chế, trưng bày, giới thiệu và khai thác những giá trị lịch sử văn hóa của các dân tộc, đồng thời cung cấp tư liệu dân tộc học và đào tạo cán bộ

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là cơ sở khoa học và trung tâm văn hóa có tính khoa học cao và tính xã hội rộng rãi Chức năng của Bảo tàng là nghiên cứu khoa học về 54 dân tộc Việt Nam, sưu tầm, phân loại, đánh giá, bảo quản, phục chế, trưng bày, giới thiệu và khai thác những giá trị văn hóa của các dân tộc, cung cấp tư liệu dân tộc học và đào tạo cán bộ cho các loại hình bảo tàng dân tộc học

Trang 24

Trong tương lai, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam còn hướng tới giới thiệu

và trưng bày cả về văn hóa và văn minh của các dân tộc ở Đông Nam Á và khu vực

2.1.3 Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức của Bảo tàng Dân tộc Việt Nam bao gồm 14 phòng ban, trong đó có :

Ban giám đốc: - PGS.TS Võ Quan Trọng làm giám đốc

Phó giám đốc : TS Lưu Anh Hùng

PGS.TS Nguyễn Duy Thiệu

Có thể khái quát cơ cấu tổ chức của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam bằng

Các phòng thuộc khối nghiệp vụ của bảo tàng

Trang 25

Các khối phòng thuộc khối hành chính:

1 Phòng Hành chính tổng hợp: có nhiệm vụ quản lý nguồn nhân lực, tài

chính, các vấn đề hành chính, trang thiết bị và dịch vụ

2 Phòng đối ngoại và phát triển dự án: có nhiệm vụ giao dịch Quốc tế,

theo dõi, giám sát, phát triển dự án, tìm các đối tác và nguồn tài trợ

3 Phòng đào tạo: có nhiệm vụ tổ chức đào tạo sau đại học về lĩnh vực nhân

lực học bảo tàng và bảo tàng dân tộc học

Các phòng thuộc khối Nghiên cứu khoa học:

1 Phòng nghiên cứu, sưu tầm vùng đồng bằng và biển( gọi tắt là phòng

đồng bằng và biển): có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, tổ chức trưng bày, trình diễn về bốn dân tộc : Việt, Chăm, Hoa, Khơme

2 Phòng nghiên cứu, sưu tầm vùng miền núi phía Bắc(gọi tắt là phòng

miền núi phía Bắc): có nhiệm vụ sưu tầm, nghiên cứu, tổ chức, trưng bày trình diễn về dân tộc ở miền núi phía Bắc

3 Phòng nghiên cứu sưu tầm vùng Trường Sơn – Tây Nguyên (gọi tắt là

phòng Trường Sơn – Tây Nguyên): có nhiệm vụ nghiên cứu , sưu tầm, tổ chức, trưng bày, trình diễn về các dân tộc ở Trường Sơn – Tây Nguyên

4 Phòng nghiên cứu và sưu tầm Đông Nam Á và khu vực (gọi tắt là phòng

Đông Nam Á): có nhiệm vụ sưu tầm, tổ chức trưng bày, trình diễn về các dân tộc

ở Đông Nam Á

Các phòng thuộc khối phòng nghiệp vụ:

1 Phòng Dân tọc học âm nhạc và phim dân tộc học (gọi tắt là phòng nghe

nhìn): có nhiệm vụ tạo ra các sản phẩm nghe nhìn, chứa đựng nhiều thông tin để giới thiệu với công chúng đặc biệt là tầng lớp học sinh, sinh viên hiểu rõ về phong tục tập quán, lễ hội, âm nhạc, dân vũ, ẩm thực… của các dân tộc hiện

Trang 26

đang sinh sống tại Việt Nam thông qua các đĩa hình, tiếng dưới dạng đĩa DVD, VCD, CD, CD room…

2 Phòng kiểm kê – bảo quản – phục chế (gọi tắt là phòng bảo quản): có

nhiệm vụ đăng ký hiện vật,lưu giữ, bảo quản hiện vật, kiểm kê và quản lý hiện vật – những di sản Văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam và các nước Đông Nam Á, Châu Á

3 Phòng trưng bày: Có nhiệm vụ thiết kế, tổ chức trưng bày, giới thiệu về

Văn hóa của các Dân tộc Việt Nam và các nước khác

4 Phòng bảo tàng ngoài trời: có nhiệm vụ bảo quản, giới thiệu về các ngôi

nhà được trưng bày ngoài trời

5 Phòng Thư viện: thu thập, lưu giữ và xử lý các thông tin, các tài liệu, ấn

phẩm giới thiệu về văn hóa của 54 dân tộc, các dân tộc trên Thế giới và các ấn phẩm mang tính học thuật về nhiều lĩnh vực khác nhau phục vụ cho việc nghiên cứu, giáo dục, trưng bày, bảo quản, phổ biến kiến thức

6 Phòng lưu trữ tài liệu và thiết bị nghe nhìn (gọi tắt là phòng kỹ thuật): có

nhiệm vụ thu thập, lưu giữ và xử lý thông tin về phim ảnh, về văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam và của các nước Đông Nam Á, Châu Á

7 Phòng giáo dục: Gồm các bộ phận:

- Bán vé, thống kê lượng khách đến tham quan bảo tàng (1 người)

- Lễ tân (1 người): soát vé, chỉ dẫn cho khách tham quan, nhận và điều phối các đoàn khách đăng ký tham quan, đăng ký hướng dẫn tham quan, thống kê lượng khách tham quan đi theo đoàn do các công ty du lịch hoặc trường học tổ chức

Trang 27

- Trực trưng bày(4 người): Quản lý các hiện vật được trưng bày trong nhà trưng bày, đánh giá tình trạng hiện vật, pano, bảng dẫn trong nhà trưng bày để phản ánh lại cho phòng bảo quản và phòng trưng bày

- Bộ phận hướng dẫn khách tham quan và xây dựng các chương trình giáo dục, chương trình công chúng (9 người) Bao gồm:

+ Xây dựng các chương trình đa dạng văn hóa hay còn gọi là chương trình công chúng

+ Xây dựng các tài liệu hướng dẫn dành cho giáo viên tiểu học, trung học

cơ sở, phổ thông trung học

+ Xây dựng các chương trình giáo dục và các tài liệu giáo dục dành cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở

+ Phòng khám phá cho trẻ em

+ Tổ chức những trưng bày, trình diễn đặc biệt dành riêng cho trẻ em

+ Tổ chức các hoạt động học tập tại Bảo tàng cho sinh viên đại học

+ Tổ chức các trưng bày lưu động và các buổi nói chuyện chuyên đề giới thiệu về Di sản văn hóa tới các trường học

2.2 Công tác Marketing tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

2.2.1 Công tác phát triển khán giả tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Nước ta, mặc dù còn chậm so với nhiều nước trên thế giới về khoa học bảo tàng, nhưng đến nay cũng có hơn nhà bảo tàng trên toàn quốc bao gồm các bảo tàng quốc gia, bảo tàng khảo địa phương và bảo tàng chuyên ngành Trong

đó tập trung đông nhất là ở thủ đô Hà Nội với nhiều bảo tàng quốc gia Vốn đã

nổi tiếng “ngàn năm văn vật”, Hà Nội hấp dẫn khách tham quan bởi các loại

Trang 28

hình du lịch văn hóa như: di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội, nghệ thuật dân gian, các món ăn dân tộc…lại càng hấp dẫn khách du lịch bởi hệ thống các bảo tàng Nằm trong hệ thống Bảo tàng quốc gia Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ra đời muộn hơn so với các Bảo tàng khác nhưng một điều đáng quan tâm đó là tại sao Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam lại thu hút được nhiều khách tham quan hơn cả về khách quốc tế lẫn khách trong nước Trong khi đó, các bảo tàng khác như Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Quân đội… có tuổi đời đầy đặn, cộng với danh tiếng của các hiện vật trưng bày

và nhiều yếu tố khác bổ trợ nhưng vẫn rơi vào tình trạng tẻ nhạt, buồn chán, lặng lẽ… Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có được sự sôi động hiện nay là bởi công tác phát triển khán giả trong Bảo tàng luôn luôn được chú trọng Ngoài những hiện vật trưng bày, trong Bảo tàng luôn tổ chức các hoạt động giáo dục, các chương trình sự kiện… nhằm thu hút nhiều khách tham quan đến Bảo tàng Theo

số lượng thống kê từ năm 2005 đến 2009, số lượng khách tham quan đến Bảo tàng như sau:

Năm Khách

trong nước

Tỷ lệ % Khách

nước ngoài

Tỷ lệ % Tổng Tỷ lệ %

2005

82.092 50,2

81.543 49,8 163.635 100

2006

115.696

55,7

91.821 44,3 207.517 100

Trang 29

192.925 57,2 144.307 42,8 337.232 100

2008

248.461 62

152.119 38

400.580 100

270.756 67,6

130.00

32,4

400.756 100

( nguồn : Báo cáo tổng kết cuối năm của Bảo tàng DTHVN)

Có thể khái quát số lượng khách tham quan đến Bảo tàng qua biểu đồ sau:

0 50 100 150 200 250 300

năm 2005

năm 2006

năm 2007

năm 2008

năm 2009

khách trong nước Khách nước ngoài

Biểu đồ số lượng khách tham quan bảo tàng từ 2005-2009

Nhìn vào cả bảng số liệu và biểu đồ ta thấy, lượng khách tham quan tới Bảo tàng luôn luôn tăng và số lượng khách tham quan trong nước luôn nhiều hơn số lượng khách nước ngoài Cụ thể:

Năm 2005, số lượng khách trong nước là 82.092 lượt người chiếm 50,2%; số lượng khách nước ngoài là 81.543 lượt người chiếm 49,8% => Khách trong nước nhiều hơn khách nước ngoài là 549 lượt người chiếm 0,4%

Trang 30

Năm 2006, số lượng khách trong nước là 115.696 lượt người chiếm 55,7%; số lượng khách nước ngoài là 91.821 lượt người chiếm 44,3% => Khách trong nước nhiều hơn khách nước ngoài là 23.875 lượt người, chiếm 11.4%

Năm 2007, số lượng khách trong nước là 192.925 lượt người chiếm 57,2%; số lượng khách nước ngoài là 144.307 lượt người chiếm 42,8% => Khách trong nước nhiều hơn khách nước ngoài là 48.618 lượt người, chiếm 14,4%

Năm 2008, số lượng khách trong nước là 248.461 lượt người chiếm 62%;

số lượng khách nước ngoài đạt 152.119 chiếm 38% => Khách trong nước nhiều hơn khách nước ngoài là 96.342 lượt người, chiếm 24%

Năm 2009, số lượng khách trong nước là 270.756 lượt người chiếm 67,6%; số lượng khách nước ngoài đạt 130.000 lượt người chiếm 32,4% => Khách trong nước nhiều hơn khách nước ngoài là 140.756 lượt người, chiếm 35,2%

Có thể nhận thấy, số lượng khách trong nước vẫn là khách tham quan chủ yếu của Bảo tàng Việc khách nước ngoài bắt đầu có xu hướng giảm từ năm

2007 có thể là do bối cảnh chung Theo Tổng cục Du lịch thì số lượng du khách quốc tế đến Việt Nam năm 2009 giảm 11,5% so với năm 2008 Nguyên nhân là

do ảnh hưởng của cuộc kinh tế thế giới và dịch cúm H1N1 bùng phát ở nhiều

quốc gia, khiến cho nhu cầu đi du lịch giảm rõ rệt

 So sánh với năng lực hiện có của Bảo tàng

Như vậy, số lượng khách tham quan đến Bảo tàng luôn luôn tăng Tuy nhiên so với năng lực hiện có của Bảo tàng thì số lượng khán giả này vẫn có thể phát triển hơn nữa

Hiện nay, Bảo tàng Dân tộc học đang xây dựng thêm Bảo tàng Đông Nam

Á với diện tích là 1ha, cuối năm 2010 sẽ mở cửa đón khách tham quan, với những trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại sẽ thu hút đông đảo số lượng khách tham

Trang 31

quan Đặc biệt đây sẽ là khu trưng bày về văn hóa các dân tộc nước ngoài sẽ làm tăng tính thích thú, tò mò cho du khách khi đến xem

Được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và các tổ chức văn hóa nghệ thuật khác Hiện nay ngoài số vốn đầu tư hàng năm của Nhà nước, Bảo tàng còn nhận được khoảng 20 nguồn tài trợ khác như: Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Pháp, Đại sứ quán Cộng hòa Pháp tại Việt Nam, Bộ Ngoại giao Cộng hòa Liên bang Đức, Đại sứ quán Cộng hòa Liên bang Đức tại Việt Nam, Đại sứ quán Na Uy tại Việt Nam, Đại sứ quán Cộng hòa Phần Lan tại Việt Nam, Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, Đại sứ quán Hà Lan tại Việt Nam, Bộ Văn hóa và Du lịch Hàn Quốc, Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam,Tổ chức AIF tại Việt Nam, Quỹ Rockefeller, Quỹ Japan, Trung tâm Châu Á Tổ chức ACC (Hội đồng Văn hóa châu Á), Quỹ Toyota, Tổ chức ATA (Hỗ trợ những người thợ thủ công),UNESCO Hà Nội, Quỹ France, AXA – VAP, Quỹ Thúc đẩy văn hóa Việt Nam - Thụy Điển, Công ty LG Electronics Việt Nam, Công ty IBM Việt Nam

Đội ngũ cán bộ công nhân viên của Bảo tàng có năng lực chuyên môn, được đào tạo về nghiệp vụ, năng động Đặc biệt là thái độ rất nhiệt tình và thân thiện với khách làm cho khách có cảm giác thoải mái khi mới bước chân vào Bảo tàng

Tất cả những yếu tố đó chứng tỏ Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam hoàn toàn có thể thu hút khách tham quan hơn nữa nếu biết tận dụng triệt để những gì đang có

Để phục cho công tác phát triển khán giả, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam không chỉ tổ chức những hoạt động giáo dục, những chương trình sự kiện, những cuộc trưng bày đặc biệt mà quan trọng hơn, Bảo tàng luôn tiếp thu ý kiến đánh giá của khách tham quan để tự hoàn thiện mình phục vụ tốt hơn nhu cầu của

Trang 32

công chúng Việc tiếp nhận và phân tích các ý kiến của khách tham quan trên mọi lĩnh vực từ thái độ phục vụ của các nhân viên đến nội dung và phương pháp trưng bày của bảo tàng là rất quan trọng đối với hoạt động Marketing của bảo tàng Đây là những cơ sở hữu ích để bảo tàng điều chỉnh hoạt động Marketing, cải tiến nâng cao mọi hoạt động phục vục của mình ngày càng phù hợp hơn với nhu cầu của khách

Việc thu nhận những đánh giá của khách về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam bao gồm các nguồn sau:

- Từ phiếu thăm dò ý kiến khách tham quan trực tiếp do bảo tàng thực hiện

và các cuốn sổ ghi cảm tưởng

- Từ những cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học, từ những hoạt động hỗ trợ văn hóa theo chương trình “Truyền thống dân gian của chúng ta” được tiến hành thường kỳ tại Bảo tàng

- Từ những chương trình truyền hình, phát thanh và các đài đăng trên các tạp chí và các báo cáo trong và ngoài nước

Cả ba nguồn trên đều rất lớn Theo thống kê, từ năm 2005 đến năm 2009, Bảo tàng đã đón 1.509.630 lượt người Con số này chỉ dừng lại ở những người mua vé vào cửa Do mục đích phục vụ văn hóa là trên hết nên bảo tàng có những

ưu tiên, miễn vé cho các đoàn khách là người dân tộc thiểu số, các đoàn ngoại giao, các khách của Đảng và Nhà nước Các đoàn học sinh, sinh viên đến bảo tàng thì được giảm vé nên trên thực tế lượng khách tham quan đến Bảo tàng lớn hơn con số nêu trên

Giống như ở các Bảo tàng khác, ở quầy lễ tân của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam lúc nào cũng đặt cuốn sổ ghi cảm tưởng và bút viết để khách tham quan ghi những cảm tưởng, nhận xét hay góp ý kiến xây dựng cho Bảo tàng Sau

Trang 33

đó chúng đƣợc thu nhận và phân tích Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam còn có cuốn sổ vàng dành riêng để các vị nguyên thủ Quốc gia và các vị khách cao cấp ghi

Điểm khác là Bảo tàng Dân tộc học còn có các phiếu thăm dò ý kiến khách tham quan để họ có thể ghi chi tiết hơn những nhận xét, đóng góp ý kiến sau khi tham quan Bảo tàng Những phiếu này đƣợc soạn thảo cẩn thận, khoa học, có tham khảo ý kiến của các chuyên gia Bảo tàng học đến từ Pháp, Hoa Kỳ Chúng đƣợc in bằng 3 thứ tiếng: Anh, Pháp, Việt, nên hầu nhƣ các khách đều có thể hiểu và tham gia góp ý Nội dung chính của các phiếu này nhằm tìm hiểu:

+ Công tác truyền thông của Bảo tàng và kết quả của nó

+ Đánh giá của khách tham quan về hoạt động phục vụ của Bảo tàng

+ Các thông tin khác liên quan đến bản thân khách

Nhƣ vậy công tác phát triển khán giả của Bảo tàng đã và đang rất phát triển,

từ việc tìm hiểu ý kiến của khách, đánh giá của họ về Bảo tàng sẽ giúp cho Bảo tàng Dân học Việt Nam có thể đáp ứng đƣợc nhu cầu của họ và có thêm sự ủng

hộ của nhiều công chúng hơn nữa

Trang 34

Khu trưng bày tòa nhà Trống Đồng bao gồm nhà trưng bày, cơ sở nghiên cứu, thư viện, hệ thống kho bảo quản, hệ thống các bộ phận kỹ thuật, hội trường… Khu vực này có diện tích 2.480m2, trong đó 750m2

dành cho kho bảo quản hiện vật Trong khu trưng bày của tòa nhà Trống Đồng này chủ yếu là dành cho trưng bày cố định, bao gồm các nội dung sau:

Phần giới thiệu chung: Trong phần này, trước hết khách tham quan sẽ

gặp một tấm pano lớn với nhan đề “Việt Nam những chặng đường lịch sử đã qua” giới thiệu về các mốc lịch sử lớn của đất nước, sự hội nhập của các dân tộc

và các nền văn minh vào Việt Nam Tiếp theo là một tấm bản đồ lớn được in màu chỉ ra sự phân bố của các dân tộc nước ta theo các nhóm ngôn ngữ, đồng thời có ba mặt cắt ở các vị trí Bắc, Trung, Nam để thấy được các đặc điểm cư trú của các dân tộc theo độ cao Bên cạnh đó có 5 tấm pano giới thiệu chân dung người của 54 dân tộc theo 5 ngữ hệ Cũng ở đây khách tham quan có thể cảm nhận được sự đa dạng về tiếng nói của từng dân tộc nước ta

Chủ đề thứ nhất: Dân tộc Việt (Kinh)

Trên lối vào phòng trưng bày chủ đề này có tấm pano giới thiệu một thông tin chung nhất về dân tộc Việt cùng với ảnh và bản đồ Bảo tàng đã dành một không gian ấn tượng cho việc tái tạo lại quá trình làm nón và hoạt động của nghề đan đó Trong chủ đề này còn có phim video giới thiệu nghề làm nón làng Chuông – Hà Tây (Hà Nội)

Bên cạnh đó một số nét văn hóa cổ truyền của người Việt được giới thiệu trong 11 tủ kính trưng bày với các chủ đề: múa rối nước, nhạc cụ, tín ngưỡng thờ mẫu, các đồ chơi dân gian của trẻ em, thờ tổ nghề hát bội, một số nghề thủ công tiêu biểu như nghề đúc đồng, chạm khắc gỗ, nghề làm tranh Đông Hồ Đồng thời

Trang 35

Bảo tàng còn giới thiệu nét văn hóa tiêu biểu của người Việt – thờ cúng tổ tiên qua việc trưng bày bàn thờ tổ tiên của một gia đình

Chủ đề thứ ba: Các dân tộc ngôn ngữ Tày – Thái – Kađai

Trong chủ đề thứ ba này có 5 pano giới thiệu những thông tin chung về các nhóm ngôn ngữ Tày – Thái – Kađai, kiến trúc Tày, Nùng, nhà ở của người Thái, cảnh quan vùng cư trú

Nét nổi bật trong phòng trưng bày là tái tạo một căn nhà sàn Thái Khách tham quan có thể thấy được đặc trưng của kiến trúc nhà sàn Thái Đen qua các mái nhà hình mai rùa, khau cút, lan can nhà Những hiện vật về văn hóa người Tày, Nùng, Sán Chay, Giáy, Bố Y, Lào, Lự (thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái) được trưng bày trong tủ kính Nghi thức đám then của người Tày được chọn làm chủ đề tái tạo ở đây, ngay cạnh đó có màn giới thiệu về lễ làm then cảu người Tày

Trang 36

Các dân tộc La Chỉ, Cờ Lao, Pu Péo, La Ha có những bộ y phục sặc sỡ bên cạnh những hiện vật của điệu múa sinh thực khí theo tục người La Ha và cái kèn cảu người Cờ Lao

Chủ đề thứ tư: Các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ H’Mông – Dao, Tạng

Miến và người Sán Dìu, người Ngái

Trong chủ đề này, sau những thông tin chung nhất về các dân tộc này qua

4 pano và một số ít hiện vật ở hai bên lối vào là hai nhóm tủ trưng bày, một nhóm gồm những tủ trưng bày về 3 dân tộc : Hmông, Dao, Pà thẻn Còn các nhóm với các chủ đề như kỹ thuật tạo hoa văn sáp ong, các đồ gia dụng bằng gỗ,

lễ phục của người Hmông, các đồ gia dụng của người Pà thẻn Còn nhóm kia có một tủ dành cho người Sán Dìu và người Ngái, các tủ khác giới thiệu về trang phục phụ nữ, công cụ săn bắn, đời sống hàng ngày và nhạc cụ của dân tộc : Lô

Lô, Hà Nhì, La Hủ, Phù Lá, Si La và Cống

Chủ đề thứ 5: Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme ở miền núi

Đây là phần trưng bày về văn hóa 5 dân tộc ở miền Bắc và 15 dân tộc ở vùng Trường Sơn – Tây Nguyên Trong phần trưng bày này có 5 pano giới thiệu

về các dân tộc nhóm Môn – Khơme ở miền Bắc, ở Trường Sơn – Tây Nguyên,

về nông nghiệp nương rẫy, về làng, về nhà và tín ngưỡng

Văn hóa truyền thống ở các dân cư này khá đa dạng, có những nét đặc sắc,

và khá nguyên sơ Người ta còn nhận thấy được những dấu ấn văn hóa Đông Sơn

- Tây Nguyên, nhưng vẫn dễ nhận ra những điểm thống nhất, tương đồng bên cạnh các đặc điểm tộc người và khu vực Các chủ đề chính ở đây là : trang phục

nữ Khơmú, Mảng, các vật dụng hàng ngày của các dân tộc Kháng, Xinh mun, Ơđu, vỏ bầu trong đời sống, vật dụng bằng vỏ cây, các loại gùi, nghề dệt vải,

Trang 37

nhạc cụ Có 3 tủ kính giới thiệu về từng vùng: Bắc Trường Sơn, Bắc Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Có riêng một tủ lớn giới thiệu về người Xơ Đăng

Lễ hội lớn nhất của các dân tộc Thượng là lễ hội đâm trâu cúng thần, do

đó lễ hội đâm trâu được lấy làm chủ đề tái tạo ở đây và cũng được thể hiện qua phim video

Chủ đề thứ 6: Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo ở miền núi

Có 4 dân tộc được giới thiệu trong phần này: Gia rai, Ê đê, Rarai, Chứt Giữa họ với cư dân nhóm ngôn ngữ Môn Khơme láng giềng có nhiều điểm giống nhau song ở họ còn cả bảo lưu được khá rõ nét yếu tố văn hóa biển và vẫn duy trì chế độ mẫu hệ rộng khắp Tượng mồ, lễ bỏ mả, nhạc cụ, công cụ là những hiện vật phản ánh văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần của cư dân này Chúng được trưng bày trong tủ kính và hai bộ đỡ Phần này có hai pano giới thiệu chung và lễ bỏ mả của người Giarai

Chủ đề thứ 7: Các dân tộc Chăm, Hoa, Khơme

Người Chăm thuộc ngữ hệ Nam đảo, người Hoa nói ngôn ngữ Hán, người Khơme thuộc ngữ hệ Nam Á Mỗi dân tộc được giới thiệu trên một tấm pano riêng Một số nét văn hóa của mỗi dân tộc được giới thiệu thích hợp Với người Chăm, đó là: Tôn giáo, nghề dệt, nghề gốm, hình thức vận chuyển bằng xe bò… Với người Hoa: đám cưới, hội múa lân… Với người Khơme: tôn giáo, chữ viết, nghề nhuộm vải và lụa… Bên cạnh người Việt cộng cư, văn hóa 3 dân tộc này giữ vai trò quan trọng và hiện diện tập trung ở vùng ven biển Nam Trung Bộ và Nam Bộ

Chủ đề thứ 8: Sự giao lưu giữa các dân tộc

Tất cả các dân tộc đều đã và đang có sự chuyển biến về kinh tế, văn hóa Trong thời kỳ mở rộng quan hệ giao lưu và tăng cường phát triển kinh tế - xã hội

Trang 38

như ngày nay, quá trình ấy diễn ra ngày càng nhanh và mạnh hơn, nó tạo ra một diện mạo mới trong đời sống các dân tộc Việt Nam

Chúng ta có thể thấy, trong các nhân tố tác động đến việc giao lưu và biến đổi văn hóa, chợ đóng vai trò quan trọng đáng kể từ xưa đến nay Chỉ cần qua phiên chợ ta có thể hình dung được đời sống vật chất, tinh thần cũng như cư dân sống đan xen nhau Trong phần này Bảo tàng đã tái tạo chủ đề phiên chợ vùng cao biên giới phía Bắc với một số hoạt động đang diễn ra trong phiên chợ

Có thể nói với hệ thống trưng bày thường xuyên ở trên, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam xứng đáng là một cơ quan nghiên cứu dân tộc học với những chuyên gia về các dân tộc học, lĩnh vực chuyên ngành, đồng thời là một trung tâm lưu giữ quý giá về văn hóa của 54 dân tộc Theo thống kê năm 2000, Bảo tàng có khoảng 15.000 hiện vật, 42.000 phim (kèm ảnh màu), 2.190 phim dương bản, 273 băng ghi âm của các cuộc phỏng vấn, âm nhạc, 373 băng video và 25 đĩa CD – Rom Theo thống kê vào đầu năm 2005, bảo tàng đã có khoảng 25.000 hiện vật về văn hóa, hơn 60.000 phim âm bản, hơn 600 băng phim video và 30 đĩa CD - Room Tính đến năm 2008, Bảo tàng đã tích lũy được hơn 25.000 hiện vật ( trong đó có trên 2000 hiện vật về các dân tộc nước ngoài); khoảng 95.000 phim âm bản (có ảnh kèm theo) và 3.200 phim dương bản, 1.600 băng hình, 700 băng cassette và 400 đĩa CD, VCD, DVD

Như vậy, chúng ta thấy hiện vật của Bảo tàng không chỉ là những cổ vật đắt tiền mà chủ yếu bao gồm nhiều thứ rất bình thường trong đời sống thực tại của người dân, như: con dao, cái gùi, chiếc khố, ống sao, cái tẩu, tấm chiếu… Chúng phản ánh mọi khía cạnh văn hóa phi vật thể của cộng đồng cư dân, thể hiện tiêu biểu mọi mặt của cuộc sống và mọi sáng tạo văn hóa của họ Bởi vậy, trong Bảo tàng này, hiện vật ngày càng phong phú, có thể hình thành được nhiều

Trang 39

sưu tập theo các tiêu chí sắp xếp khác nhau Trên cơ sở đó, Bảo tàng tổ chức trưng bày và xuất bản sách, ảnh theo các dạng sưu tập đó Nguồn hiện vật và tư liệu quý giá này không chỉ là cơ sở quan trọng để phục vụ cho những hoạt động khác nhau của Bảo tàng mà còn góp phần tích cực và thiết thực vào sự nghiệp bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa của các dân tộc Việt Nam Khối lượng hiện vật và tư liệu đó là kết quả từ sự nỗ lực cao độ của tập thể cán bộ nhân viên Bảo tàng luôn tích cực và sáng tạo trong công việc Chính vì vậy nên Bảo tàng đã thu hút được rất nhiều khách tham quan Khách đến đây không chỉ để tham quan, giải trí mà còn để tìm hiểu, nghiên cứu về các dân tộc, các sắc thái văn hóa đa dạng của từng dân tộc, từng vùng cũng như những giá trị truyền thống chung của các dân tộc

Tiếp đến là khu trưng bày Ngoài trời, được bắt đầu chuẩn bị vào năm 1997

và hoàn thành vào năm 2006, với diện tích là 2ha Một trong những thế mạnh của loại hình này là tạo cho công chúng những không gian văn hóa, tiếp cận thực

tế, qua đó làm cho hiện vật trưng bày có sức hấp dẫn hơn và công chúng cảm thấy sự trải nghiệm sâu sắc hơn về nền văn hóa đa dạng mà họ đang khám phá

Sự trải nghiệm ấy được biểu hiện khi du khách bước chân vào ngôi nhà trong một khuôn viên, bối cảnh phù hợp, khi du khách được ngắm nhìn những xưởng thủ công, hay chứng kiến các hoạt động trình diễn nghệ thuật dân gian mang đậm sắc thái cuộc sống Phần trưng bày ngoài trời chỉ thực sự bắt đầu từ năm

1998, với công trình đầu tiên là nhà mồ Gia Rai

Trong khoảng diện tích 2 ha, phần trưng bày ngoài trời đã thể hiện nét đa dạng văn hóa của 3 vùng miền thích ứng với các môi trường sinh thái khác nhau: vùng đồng bằng và ven biển, vùng núi thấp và cao nguyên, vùng núi cao Với sự hạn chế về không gian và diện tích, bảo tàng đã lựa chọn để giới thiệu tới khách

Trang 40

tham quan trên dưới 10 công trình kiến trúc tiêu biểu cho văn hóa 54 dân tộc Những công trình này không chỉ thể hiện nét văn hóa đa dạng trong kiến trúc, chất liệu, kỹ thuật mà còn ngay cả trong tri thức dân gian của những chủ nhân văn hóa: đó là nhà sàn của người Tày, nhà nửa sàn nửa trệt của người Dao, nhà sàn thấp của người Chăm, nhà trệt của người Việt, người H’Mông, nhà dài của người Ê đê, nhà Rông của người Ba Na, nhà trình tường của người Hà Nhì, nhà

mồ Cơ Tu và nhà mồ Gia Rai Ngoài những hiện vật được trưng bày trong ngôi nhà, khách tham quan còn được biết thông tin về chủ nhân ngôi nhà, về nền văn hóa của dân tộc đó với những tục kiêng và phong tục riêng biệt Khu trưng bày ngoài trời hứa hẹn để lại cho khách tham quan những trải nghiệm kỳ thú

Khu Bảo tàng Ngoài trời của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được thực hiện dần từng bước trong suốt 10 năm qua kể từ công trình đầu tiên năm 1998 Mỗi năm ở đây đều có những công trình mới, những hoạt động mới Hiện nay, khu trưng bày ngoài trời là điểm thu hút nhất của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Để có được thành công này, trước hết phải kể tới những quan điểm đúng đắn của những nhà lãnh đạo, đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ, am hiểu về đối tượng nghiên cứu và sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế Chính những nhân tố ấy

đã giúp khu Bảo tàng Ngoài trời hoạt động có hiệu quả

Khu trưng bày cuối cùng là khu trưng bày Đông Nam Á, được khởi công

xây dựng vào năm 2007, với diện tích 1ha, mang tên “Nhà Cánh Diều” dự kiến

sẽ mở cửa phục vụ khách tham quan vào cuối năm 2010 Đây sẽ là khu để trưng bày về văn hóa các dân tộc nước ngoài, chủ yếu các dân tộc ở Đông Nam Á Ngoài các sản phẩm trưng bày thường xuyên, Bảo tàng còn tiến hành nhiều cuộc trưng bày đặc biệt (các cuộc trưng bày chuyên đề và trình diễn) Sau đây là một số cuộc trưng bày tiêu biểu năm 2008 và năm 2009

Ngày đăng: 05/06/2021, 09:58

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w