Đứng trước tình hình cấp thiết như vậy, với vai trò là một bảo tàng quốc gia, BTCMVN đã từng bước đổi mới hoạt động của mình: khắc phục những vấn đề bất cập để tìm ra cho mình nội dung v
Trang 1Trường đại học văn hoá Hμ Nội
tại bảo tμng cách mạng việt nam
Khoá luận tốt nghiệp
Ngμnh bảo tồn – bảo tμng
Người hướng dẫn khoa học: ThS Nguyễn Hữu Toμn
Hμ Nội - 2008
Trang 2Mục lục
Lời mở đầu
1 Lý do chọn đề tμi……… 1
2 Mục đích nghiên cứu ……… ….2
3 Đối tương vμ phạm vi nghiên cứu……… ……… ….2
4 Phương pháp nghiên cứu……… ….…3
5 Bố cục của khoá luận……….……… 3
Chương 1: Bảo tμng Cách mạng Việt Nam với vấn đề trưng bμy chủ đề Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975……… 5
1.1 Khái quát về Bảo tμng Cách mạng Việt Nam ……….… 8
1.2 Nội dung hệ thống trưng bμy thường trực của BTCMVN………… ……8
1.2.1 Vị trí, tầm quan trọng của công tác trưng bμy trong hoạt động của Bảo tμng Cách mạng Việt Nam………8
1.2.2 Khái quát nội dung hệ thống trưng bμy thường trực của BTCMVN….12 1.3 Tầm quan trọng, nội dung, ý nghĩa của chủ đề “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975”……….16
1.3.1 Khái quát nội dung lịch sử thời kỳ 1946-1975………… ………….16
1.3.2 Tầm quan trọng của chủ đề trưng bμy “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975” ……….21
Chương 2: Nội dung vμ giải pháp trưng bμy chủ đề Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975 ……… 24
1.1 Nội dung trưng bμy chủ đề “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975” ……… … 24
1.2 Tổng hợp tμi liệu hiện vật trưng bμy ở chủ đề “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975” ……… 65
1.3 Giải pháp trưng bμy chủ đề “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975”……… 73
1.3.1 Giải pháp trưng bμy theo đề cương……… … 73
1.3.2 Trang thiết bị trưng bμy……….…77
1.3.3 Hệ thống chiếu sáng……… …79
1.3.4 Hệ thống nghe nhìn……….… 80
1.3.5 Hệ thống điều hoμ không khí………80
Trang 31.3.6 Các phương tiện gắn giữ hiện vật……….….80 1.3.7 Tuyến tham quan……….…… 81
Chương 3: Một số nhận xét, đánh giá vμ ý kiến đề xuất nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả nội dung vμ giải pháp trưng bμy chủ đề Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975……….……83
1.1 Một số nhận xét, đánh giá về nội dung vμ giải pháp trưng bμy….… 83 1.1.1 Một số nhận xét, đánh giá về nội dung vμ các tμi liệu hiện vật trưng bμy
……… 83 1.1.2 Một số nhận xét, đánh giá về giải pháp trưng bμy……….… 87 1.2 Một số ý kiến đề xuất nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả nội dung vμ giải pháp trưng bμy……… 91 1.2.1 Một số ý kiến đề xuất về nội dung vμ các tμi liệu hiện vật trưng
bμy……….91 1.2.2 Một số ý kiến đề xuất về giải pháp trưng bμy……….………94
Kết luận……… 98 Tμi liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình đổi mới các hoạt động Bảo tàng ở nước ta trong thời gian qua
đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó có vấn đề về nội dung
và giải pháp trưng bày Có nhiều ý kiến của các cán bộ quản lý, các nhà Bảo tàng học, về vấn đề này Hầu hết những ý kiến đó đều thống nhất cho rằng: Sức hấp dẫn của các Bảo tàng với công chúng ngày càng giảm sút, mà nguyên nhân cơ bản là sự trùng lặp về nội dung, sử dụng quá nhiều tài liệu khoa học phụ, lạm dụng hiện vật làm lại…, trong trưng bày của các Bảo tàng;nội dung
và giải pháp trưng bày trở nên lạc hậu so với sự phát triển của bảo tàng học thế giới, sự đổi mới của các bảo tàng còn chậm so với sự phát triển của trình
độ dân trí cũng như nhu cầu cảm thụ văn hóa nghệ thuật ngày càng nâng cao
và đa dạng của quảng đại công chúng Việt Nam
Đứng trước tình hình cấp thiết như vậy, với vai trò là một bảo tàng quốc gia, BTCMVN đã từng bước đổi mới hoạt động của mình: khắc phục những vấn đề bất cập để tìm ra cho mình nội dung và giải pháp trưng bày mới.Có thể nhận thấy những chuyển biến tích cực trong công tác trưng bày ở BTCMVN qua từng chủ đề trưng bày, trong đó, nội dung và giải pháp trưng bày chủ đề “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975” là một minh chứng cụ thể rõ nét
Là một sinh viên theo học chuyên ngành bảo tàng, đã được nhiều lần tiếp xúc với hệ thống trưng bày của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, nên vấn
đề nội dung và giải pháp trưng bày cho từng chủ đề trưng bày của bảo tàng đã gây chú ý cho em Được sự hướng dẫn giúp dỡ của các cô chú trong Ban lãnh đạo, các cán bộ của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam và Thạc sĩ Nguyễn Hữu
Toàn, em mạnh dạn chọn đề tài “Nội dung và giải pháp trưng bày chủ đề
“Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc,
Trang 5thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975” tại
BTCMVN làm khóa luận tốt nghiệp ra trường
2 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ nội dung và giải pháp trưng bày của chủ đề “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ nam 1946 đến nam 1975” tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
- Bước đầu đánh giá về những ưu điểm và hạn chế về nội dung trưng bày và giải pháp trưng bày của chủ đề “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ nam 1946 đến nam 1975” tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
- Đề xuất một số ý kiến về việc tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả nội dung và giải pháp trưng bày của chủ đề nêu trên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu giới hạn ở hệ thống trưng bày của Bảo tàng Cách mạng đặc biệt là các gian trưng bày của chủ đề “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975” từ phòng trưng bày số
10 đến phòng trưng bày số 24
Phạm vi về thời gian, thực hiện đề tài này em chủ yếu nghiên cứu thực trạng nội dung và giải pháp trưng bày của Bảo tàng cho chủ đề.Tính từ năm 1994-1995 sau lần chỉnh lý thứ 3 đến năm 2003 BTCMVN đã xây dựng đề cương trưng bày mới và thực hiện tổng kiểm kê hiện vật Bảo tàng, chỉnh lý
bổ sung cho hệ thống trưng bày thường trực Đến nay, về cơ bản nội dung và giải pháp trưng bày của Bảo tàng không thay đổi nhiều
- Đối tượng là nội dung trưng bày, toàn bộ tài liệu, hiện vật trưng bày của chủ đề “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975” và giải pháp trưng bày của Bảo tàng Cách mạng trong chủ đề này
Trang 64 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận sử học Mác – Lênin va các nguyên tắc Bảo tàng học để nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích đề tài
- Phương pháp khảo sát thực tế, miêu tả, thống kê, phân loại phân tích các nguồn sử liệu để giải quyết vấn đề
- Bước đầu kết hợp lý luận và thực tiễn diễn ra ở Bảo tàng Cách mạng Việt Nam từ đó rút ra nhận xét, đánh giá
5 Bố cục của Khóa luận
Khóa luận gồm ba chương (không kể phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục)
Chương 1: Bảo tàng Cách mạng Việt Nam với vấn đề trưng bày chủ đề
“Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975”
1.1 Khái quát về BTCMVN
1.2 Nội dung về hệ thống trưng bày thường trực của BTCMVN
1.3 Tầm quan trọng, nội dung, ý nghĩa của chủ đề trưng bày “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975”
Chương 2: Nội dung và giải pháp trưng bày chủ đề “Cuộc kháng
chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ nam 1946 đến nam 1975”
1.1 Nội dung trưng bày của chủ đề “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ nam 1946 đến nam 1975”
1.2 Giải pháp trưng bày của chủ đề “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1946 đến 1975”
Chương 3: Một số nhận xét, đánh giá và ý kiến đề xuất nhằm góp phần
nâng cao chất lượng về nội dung và giải pháp trưng bày chủ đề “Cuộc kháng
Trang 7chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
sự cảm thông và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để bài Khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn
Qua đây, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Thạc sỹ Nguyễn Hữu Toàn, các thầy cô trong Khoa Bảo tàng, trường Đại học Văn Hóa Hà Nội, các cô chú trong Ban lãnh đạo, các cán bộ của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành bài Khóa luạn này
Trang 8Chương 1 BẢO TÀNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM VỚI VẤN ĐỀ TRƯNG BÀY CHỦ ĐỀ “CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG CÁC THẾ LỰC XÂM LƯỢC ĐỂ BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM TỪ NĂM 1946 ĐẾN NAM 1975”
1.1 Khái quát về Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
“Bảo tàng – theo nghĩa rộng nhất, là cơ quan được ủy thác giữ gìn các tài sản của con người và vì lợi ích trong tương lai của loài người Giá trị của
nó là ở sự phục vụ xứng đáng cho đời sống cảm xúc và tinh thần của loài người”1
Xuất phát từ nhu cầu bảo vệ và phát huy những tài sản quý giá về vật chất và tinh thần của con người mà các bảo tàng trên thế giới lần lượt ra đời Trải qua các thời kỳ, giai đoạn khác nhau, hệ thống bảo tàng của thế giới ngày càng đa dạng và phát triển
Cùng với xu thế chung, hệ thống các bảo tàng ở Việt Nam cũng đã dần hình thành và ngày càng phát triển Ngay sau chiến thắng vĩ đại của chiến dịch Điện biên phủ 1954, trong bối cảnh miền bắc được giải phóng, với bao bộn bề của một đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh, nhưng Đảng, Chính phủ
và chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn quan tâm đến việc giữ gìn và phát huy truyền thống, nét đẹp văn hóa của dân tộc Công tác văn hóa vẫn được thúc đẩy kịp thời.Vì vậy để lưu giữ tư liệu hiện vật phản ánh quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam trong cuộc chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược, giành độc lập cho dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng, Chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định thành lập viện Bảo tàng Cách mạng
Sau 5 năm tích cực và khẩn trương chuẩn bị, sáng 5 – 1- 1959 chủ tịch
Hồ Chí Minh trực tiếp xem và duyệt lần cuối cùng nội dung trưng bày
1 Cẩm nang bảo tàng, BTCMVN H.2001, tr.24
Trang 9Sáng 6 – 1- 1959, Thủ tướng Phạm Văn Đồng thay mặt Đảng, Quốc hội, Chính phủ cắt băng khánh thành Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam – Bảo tàng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa
Trong diễn văn khánh thành Bộ trưởng Bộ Văn hóa Hoàng Minh Giám
đã nêu rõ: “Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam mà hôm nay chúng ta làm lễ khánh thành nhằm mục đích cao cả là ghi lại cho đời nay và do các thế hệ sau này những kỷ niệm quý báu tượng trưng cho tinh thần đấu tranh anh dũng và trí sáng tạo vĩ đại của nhân dân ta trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đang tiến hành ở miền Bắc nước ta Cho nên viện Bảo tàng này là một công trình tư tưởng và chính trị của toàn dân ta – Nó sẽ được nhân dân ta trìu mến, nâng niu và ra sức góp phần làm cho nó ngày càng phong phú”2
Bảo tàng Cách mạng Việt Nam ra đời là một trong những trung tâm lớn
về khoa học xã hội và nhân văn, có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm và bảo quản, trưng bày và tuyên truyền giáo dục về cuộc đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đảng và nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ nền độc lập, tự do, thống nhất đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội
Vì vậy “Việc khánh thành Bảo tàng Cách mạng Việt Nam là một thắng lợi có ý nghĩa lớn trọng đại của nhân dân Việt Nam trong quá trình đấu tranh cách mạng gian khổ anh dũng và chiến thắng của mình”3
Bảo tàng Cách mạng Việt Nam có trụ sở số 25 phố Tông Đản, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Đó là một khuôn viên khoảng 1ha, giáp ba mặt phố: Trần Quang Khải, Tràng Tiền, Tông Đản Bảo tàng được xây dựng trên cơ sở cải tạo và nâng cấp Sở thương chính Đông Dương do người Pháp xây dựng năm 1917 Cho đến nay ngôi nhà bảo tàng được tu sửa và nâng cấp lên rất nhiều với hệ thống trang thiết bị khá tốt và đầy đủ
Sau gần 50 năm xây dựng và không ngừng phát triển BTCMVN đã đạt được những thành tựu to lớn đáng khích lệ: trong công tác sưu tầm hiện vật
Trang 10nếu như trong giai đoạn đầu khi bảo tàng mới hoạt động chỉ có gần 1 vạn hiện vật thì cho đến nay với sự nỗ lực cố gắng nỗ lực nhiệt tình của cán bộ sưu tầm con số đã lên đến gần 8 vạn hiện vật tài liệu So với các Bảo tàng quốc gia khác như Bảo tàng Lịch sử Việt Nam hiện có 10 vạn hiện vật ; Bảo tàng Hồ Chí Minh có trên 10 vạn hiện vật; Bảo tàng Mỹ thuật có gần 20 vạn hiện vật
và tác phẩm nghệ thuật…thì số lượng tài liệu hiện vật của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam là tương đối lớn Đó là một trong những thuận lợi để Bảo tàng có thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình Trong công tác kiểm
kê bảo quản hiện vật; nếu như trong giai đoạn đầu Bảo tàng chỉ có 4 kho (kho Văn bản, kho Thể khối tổng hợp, kho Tặng phẩm, kho Phim ảnh) thì đến nay Bảo tàng đã phát triển thành 7 kho hiện vật phân theo chất liệu đó là:4
- Kho kim loại: 2466 đơn vị bảo quản
- Kho thể khối tổng hợp: 1724 đơn vị bảo quản
- Kho văn bản: 25000 đơn vị bảo quản
- Kho tặng phẩm: 5837 đơn vị bảo quản
- Kho phim ảnh: 22178 phiếu ảnh, 24007 phim
- Kho Đồ dệt: 1621 đơn vị bảo quản
- Kho tạm thời và trao đổi: 4829 đơn vị bảo quản
Bảo tàng cũng đã xây dựng được 6 hệ thống phích phiếu với 4 bộ gồm hang vạn phiếu tra cứu theo địa danh, theo tên hiện vật, theo chuyên đề, theo
sổ kiểm kê,… tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, sử dụng và khai thác tài liệu hiện vật được nhanh chóng, khoa học.Trong công tác trưng bày, với nhiều hình thức tuyên truyền phong phú BTCMVN đã thu hút được một
số lượng lớn khách tham quan trong nước và ngoài nước: 5
Năm 2002 Bảo tàng đã đón 203276 lượt khách tham quan
Năm 2003 Bảo tàng đã đón 202749 lượt khách tham quan
Năm 2004 Bảo tàng đã đón 338783 lượt khách tham quan
Năm 2005 Bảo tàng đã đón 335928 lượt khách tham quan
Năm 2006 Bảo tàng đã đón 347541 lượt khách tham quan
Trang 11Trong công tác nghiên cứu khoa học, Bảo tàng đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo chuyên ngành, thực hiện 5 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, 14 đề tài nghiên cứu cấp Viện, biên soạn để xuất bản các ấn phẩm về Bảo tàng, về lịch sử,
Về cơ cấu tổ chức của BTCMVN gồm có Giám đốc và các Phó giám đốc, Hội đồng khoa học làm tư vấn với 4 phòng ban: phòng Hành chính tổng hợp, phòng Nghiên cứu sưu tầm, phòng Kiểm kê bảo quản, phòng Trưng bày-tuyên truyền-đối ngoại
Hiện nay trong tổng số 50 Cán bộ của Bảo tàng có 45 cán bộ có trình
độ Đại học và trên Đại học, có 2 tiến sĩ và 13 thạc sĩ Đây là nội lực chính đóng góp cho sự phát triển của Bảo tàng
1.2 Nội dung hệ thống trưng bày thường trực của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
1.2.1 Vị trí, tầm quan trọng của công tác trưng bày trong hoạt động của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
* Khái niệm chung về trưng bày bảo tàng
Trưng bày bảo tàng là trình bày một cách khoa học hiện vật gốc nhằm giúp người xem nhận thức được lịch sử
Cũng có định nghĩa cho rằng: “Trưng bày bảo tàng là sự trình bày các hiện vật bảo tàng có mục đích, có định hướng mà những hiện vật đó được lựa chọn sắp xếp và giải thích có khoa học phù hợp với đề tài đã đặt ra trên cơ sở một khoa học tương ứng với loại hình khoa học của bảo tàng và môn khoa học đó, đồng thời phù hợp với những nguyên tắc hiện đại về cách giải quyết nghệ thuật – kiến trúc”6
Như vậy, có thể hiểu trưng bày bảo tàng là sự giới thiệu hiện vật bảo tàng có mục đích mà hiện vật đó tương ứng với loại hình bảo tàng, được lựa chọn, sắp xếp và giải thích trong sự tương ứng với chủ đề đã đưa ra trên cơ sở khoa học nhất định nhằm giúp cho người xem nhận thức được lịch sử và khoa học
Trang 12- Hiện vật trưng bày: Là những hiện vật bảo tàng đưa ra trưng bày để
giới thiệu cho người xem nắm được bản chất của sự kiện và hiện tượng4
Bảo tàng không trưng bày những vật chung chung mà là hiện vật bảo tàng-nguồn sử liệu đầu tiên của kiến thức phản ánh sự muôn màu muôn vẻ của thiên nhiên và xã hội tác động đến người xem bằng sự chính xác khoa học của bản thân nó
“Hiện vật bảo tàng là nguồn nhận thức trực tiếp cảm tính cho nhận thức của con người, tiêu biểu về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử cùng với những hiện vật về thế giới
tự nhiên xung quanh ta, bản thân nó chứng minh cho sự hiện vật hiện tượng nhất định nào đó trong quá trình phát triển của xã hội và tự nhiên, phù hợp với loại hình bảo tàng được sưu tầm, bảo quản nhằm phục vụ cho nghiên cứu và giáo dục khoa học”5
Trong bảo tàng không chỉ sử dụng hiện vật bảo tàng mà còn sử dụng những hiện vật trung gian (môi giới) để giúp cho người xem nhận thức được hiện vật gốc6 Đó là các tư liệu khác do bảo tàng làm ra: các hiện vật làm lại
có tính khoa học từ hiện vật gốc, các tác phẩm nghệ thuật được sáng tác nhằm làm sáng tỏ hiện vật gốc và sự kiện nào đó; các tài liệu khoa học phụ như: biểu đồ, bản đồ, bản thống kê, sơ đồ, lược đồ (do bảo tàng làm ra), các tài liệu viết như: bản trích, phụ đề và các bản chú thích…
- Thiết bị trưng bày: Muốn trưng bày được phải có các phương tiện
(thiết bị) để trưng bày các hiện vật Các thiết bị đó làm cho người xem quan sát hết được hiện vật và nội dung trưng bày, bảo vệ hiện vật khỏi mất mát và bảo quản hiện vật khỏi bị hủy hoại Các thiết bị trưng bày bảo tàng gồm có: các phương tiện treo, các loại tủ kính, khung kính, bục, giá kệ, bệ… Tùy theo từng bảo tàng mà các thiết bị trên có yêu cầu thiết kế kĩ thuật và kiểu dáng khác nhau sao cho phù hợp với hiện vật và nội dung trưng bày
4 Cơ sở Bảo tàng học – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, xuất bản 1990, tập III, tr.11
5 Cơ sở Bảo tàng học – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, xuất bản 1990, tập I, tr.18
6 Hiện vật gốc: là hiện vật được trực tiếp lấy ra từ hiện thực của tự nhiên và xã hội
Trang 13* Vị trí, tầm quan trọng của công tác trưng bày trong hoạt động của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
Trưng bày Bảo tàng là một hình thức đặc biệt để phân biệt bảo tàng với các cơ quan văn hóa khác Nó là cầu nối liền quần chúng với các hiện vật bảo tàng Không có trưng bày, bảo tàng chỉ là một kho bảo quản, kho lưu trữ đặc biệt các sưu tập hiện vật mà thôi Những hiện vật bảo tàng quý hiếm, là vật chứng cho những sự kiện lịch sử, được bảo tàng sưu tầm, nghiên cứu, bảo quản chỉ được tiếp xúc với công chúng thông qua trưng bày Vì vậy, có thể nói, nếu không có hiện vật thì không có bảo tàng và cũng không có bảo tàng nếu không có trưng bày
Công tác trưng bày bảo tàng vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật, do đó, đòi hỏi phải được tiến hành một nghiêm túc và sáng tạo
Nó hoàn toàn không phải là công việc máy móc đem hiện vật bảo tàng trưng bày minh họa cho một đề tài hay một quy luật nào đó Vì vậy, người cán bộ bảo tàng phải nghiên cứu kỹ và nghiêm túc các hiện vật bảo tàng, lựa chọn sắp xếp chúng nhằm truyền đạt nội dung tư tưởng của trưng bày tới công chúng, đồng thời phải nghiên cứu nắm vững nhu cầu của các đối tượng công chúng tham quan Bảo tàng để từ đó thỏa mãn nhu cầu của họ thông qua trưng bày Bảo tàng và việc tổ chức các hoạt động khác có liên quan của Bảo tàng
* Công tác trưng bày tư liệu hiện vật của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
Bảo tàng Cách mạng Việt Nam hiện có 29 phòng trưng bày tại hệ thống trưng bày thường trực với diện tích trưng bày là 1.325m2, bảo tàng hiện đang trưng bày trên 2.157 hiện vật tài liệu trong đó có 1.062 hiện vật khối7 Ngoài ra Bảo tàng còn tổ chức nhiều cuộc trưng bày lưu động phục vụ nhân dân ở các tỉnh và thành phố trong nước Đến nay, Bảo tàng đã tổ chức trên 60 cuộc trưng bày chủ đề, gần 400 lần tổ chức triển lãm lưu động ở 51 tỉnh, thành phố trong cả nước8
7 Bảo tàng Cách mạng Việt Nam H 1999 Tr.202
8 Sổ tổng kết phòng trưng bày – tuyên truyền - đối ngoại – Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
Trang 14Hoạt động quan trọng nhất trong công tác trưng bày của Bảo tàng Cách mạng là trưng bày hiện vật tài liệu tại hệ thống trưng bày thường trực Nội dung trưng bày hiện nay gồm ba phần chính:
- Phần thứ nhất: (Từ phòng số 1 đến phòng số 9) Thời kỳ đấu tranh
giành độc lập của nhân dân Việt Nam từ năm 1858 đến 1945
- Phần thứ hai: (Từ P10 – P24) Cuộc kháng chiến chống các thế lực
xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất đất Tổ quốc 1946– 1975
- Phần thứ ba: (Từ phòng 25 đến phòng 27) Việt Nam trên con đường
xây dựng dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh 1976 – 1999
Ngoài ba phần trưng bày nói trên, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam còn dành hai phòng 28 và 29 để trưng bày sưu tập tặng phẩm của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới tặng chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta với gần 300 hiện vật nguyên gốc
Cùng với những hoạt động đổi mới về nội dung, hình thức hệ thống trưng bày thường trực, Bảo tàng đã tiến hành đẩy mạnh việc trưng bày lưu động, nhằm đưa văn hóa về cơ sở phục vụ đông đảo nhân dân lao động: đó là nhân dân ở các địa phương ít hoặc không có điều kiện về xem lại hệ thống trưng bày của bảo tàng tại Hà Nội
Từ năm 1961 đến 1975, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đãxây dựng nhiều bộ trưng bày lưu động với các hình thức và quy mô phù hợp, với nội dung xoay quanh hai đề tài chủ yếu là: Lịch sử Cách mạng Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, để mang đi trưng bày ở các địa phương Hoạt động này đã góp phần thực hiện những nhiệm vụ chính trị của Đảng, động viên nhân dân lao động sản xuất và chiến đấu
Trong những năm đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã chú trọng tăng cường phát triển công tác trưng bày lưu động, đưa hiện vật tới các địa phương trưng bày, song hiệu quả chưa cao, do trưng bày chỉ là tập ảnh tư liệu đen trắng, với vài chục tư liệu sao chụp và một
số ít hiện vật phục chế Bắt đầu từ năm 1990 trở đi, bảo tàng đã cho xuất kho đưa ra trưng bày sưu tập các hiện vật quý mà bấy lâu vấn giữ gìn cẩn thận
Trang 15trong kho như: sưu tập tranh cổ động chính trị 1945 – 1990; sưu tập tặng phẩm của các kỳ Đại hội Đảng; sưu tập tư liệu gốc về Mặt trận Việt Minh… Những cuộc trưng bày lưu động này đã thu hút được đông đảo người xem
Ngoài những cuộc trưng bày lưu động đưa về các tỉnh, thành trong cả nước, trong những năm qua, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam còn đến trưng bày ở các trường phổ thông, đại học… nhằm giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ Bên cạnh đó, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam còn trưng bày lưu động tại một số nước: Liên xô, Bungari, Hunggari, Trung Quốc, Cộng hòa Dân chủ Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc, Lào, Campuchia…
Song song với công tác trưng bày tại bảo tàng và trưng bày lưu động, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam cũng thường xuyên tổ chức các cuộc trưng bày chuyên đề Theo con số thống kê thì từ năm 1984 đến cuối năm 1998 Bảo tàng đã tổ chức 29 cuộc trưng bày chuyên đề; từ năm 2000 đến năm 2007
đã có thêm 31 cuộc trưng bày chuyên đề Những số liệu trên chứng tỏ hoạt động trưng bày chuyên đề tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đang phát triển mạnh, không những giúp ích cho các mặt nghiệp vụ của Bảo tàng mà còn có tác dụng giáo dục lòng tự hào dân tộc đối với người xem Vì thế công tác trưng bày chuyên đề tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam là rất cần thiết cho sự đổi mới hoạt động trưng bày của bảo tàng
1.2 Khái quát nội dung hệ thống trưng bày thường trực của Bảo tàng cách mạng
Ngày 6/1/1959, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam chính thức thành lập,
mở cửa đón khách tham quan
Qua hệ thống trưng bày, ngôn ngữ đặc biệt của bảo tàng, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã thể hiện lịch sử đấu tranh cách mạng vẻ vang của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa
Trang 16Từ 29 phòng làm việc to nhỏ khác nhau có sẵn của Sở Thương chính Đông Dương, Bảo tàng đã chuyển thành 29 phòng trưng bày với 5 phần trưng bày chính9
+ Đất nước Việt Nam giàu đẹp, dân tộc Việt Nam có truyền thống văn hóa lâu đời và truyền thống chống giặc ngoại xâm anh dũng (phòng số 1)
+ Phong trào yêu nước chống Pháp xâm lược trước khi có Đảng (phòng
- Về nội dung: Rút gọn phần kháng chiến chống Pháp từ 12 phòng
xuống còn 5 phòng Định hình phần trưng bày sau năm 1954 trong 15 phòng cuối với cấu tạo: nội dung xây dựng và chiến đấu ở miền Bắc trưng bày riêng, cuộc chiến đấu ở miền Nam trưng bày riêng Sử dụng 5 loại hiện vật để trưng bày diễn giải các sự kiện lịch sử
- Về phương tiện trưng bày: Giữ nguyên các khối Pa nô, gỗ bọc nhung
áp tường kết hợp với khung hình ngoài Pa nô và tủ gỗ rời
- Về hiện vật trưng bày: Sử dụng nhiều ảnh, văn bản sao chụp bản trích,
hiện vật khối chiếm tỉ lệ thấp
- Giải pháp trưng bày: Dùng các vật bày đơn lẻ để diễn giải các chi
tiết, sự kiện lịch sử, chú trọng trưng bày giới thiệu lịch sử
* Lần thứ hai: năm 1977
9 “40 năm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam” H.1999, tr.228
10 “40 năm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam” H.1999, tr.228
Trang 17- Về nội dung: Chỉnh lý phần trưng bày sau năm 1954 ở phòng 15 với
cấu tạo nội dung trưng bày hai miền Nam – Bắc đan cài chung trong từng chặng đường lịch sử phân kỳ ngắn (1955 – 1957; 1958 – 1960; 1961 – 1965;
1965 – 1968 và 1968 – 1975)
- Về phương tiện trưng bày; hiện vật trưng bày; giải pháp trưng bày cơ
bản vẫn giữ nguyên như trước
Sau lần chỉnh lý thứ hai, những năm 1981, 1983, 1989 cũng có những cuộc trưng bày lại song không thay đổi mấy về mặt kết cấu và thể hiện nội dung, chỉ thay đổi về hình thức và phát triển trưng bày Trong những lần đó, toàn bộ trưng bày trên trên diện tường được thay đổi đồng loạt bằng gỗ dán hoặc cót ép cao cấp, tre ghép Thay thế những tủ rời, được tạo dáng, bề thế trước đây bằng tủ gỗ mảnh hơn gắn liền dưới đai, đồng thời sử dụng tủ tường thay đai; những tài liệu khoa học phụ có từ ngày đầu được làm cong pu được thay thế bằng những tài liệu gia công đơn giản (ví dụ như: Bản trích đã khảm vàng thay bằng bản trích gỗ dán đơn giản)
-Về hiện vật trưng bày và giải pháp trưng bày: Vẫn như cũ
* Lần thứ ba: năm 1994 - 1995
Chỉnh lý lại toàn bộ hệ thống trưng bày trên cơ sở tôn trọng tỷ lệ các phần trưng bày đã được cố định
- Về nội dung: Kết cấu gồm ba phần theo lịch sử dân tộc thay thế kết
cấu 5 phần theo lịch sử Đảng Mở rộng nội dung trưng bày từ lịch sử cách mạng tiếp cận với lịch sử dân tộc thời kỳ cận và hiện đại
- Về phương diện trưng bày: Thay thế toàn bộ hệ thống đai mặt bằng
bằng đai tạo khối: tủ kính tường là chính, đai mặt phẳng là phụ Chất liệu kính thay bằng chất liệu gỗ (trừ khung ảnh và bệ hộp kính rời)
- Về hiện vật trưng bày: Hạn chế tới mức tối thiểu sử dụng ảnh, văn bản
sao chụp, bản trích, tăng hiện vật thể khối (trước năm 1994 có 1091 ảnh thì đến năm 1994 còn 588 ảnh)
- Về giải pháp trưng bày: Hạn chế các hiện vật bày đơn lẻ để diễn giải
chi tiết các sự kiện lịch sử, chú trọng sử dụng nhiều các nhóm hiện vật để thể
Trang 18hiện một vấn đề lịch sử Chú trọng giới thiệu hiện vật để phản ánh chứ không phải để minh họa cho lịch sử Xuất hiện hai phòng dành riêng cho trưng bày giới thiệu tập hiện vật gốc…
Hiện nay, hệ thống trưng bày thường trực của Bảo tàng Cách mạng sử dụng 2211 hiện vật, hình ảnh, tài liệu trong 29 phòng trưng bày với diện tích gần 1293 m2 11 Nội dung trưng bày gồm ba phần:
* Phần thứ nhất: (từ phòng 1 đến phòng 9) Thời kỳ đấu tranh giành
độc lập của nhân dân Việt Nam từ năm 1858 đến 1945
Các đề mục cụ thể như sau:
- Đề mục 1: (phòng 1) Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của
nhân dân Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ 19
- Đề mục 2: (phòng 2) Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân
Việt Nam đầu thế kỷ XX
- Đề mục 3: (phòng 3) Sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
- Đề mục 4: (phòng 4) Phong trào cách mạng 1930 – 1931
- Đề mục 5: (phòng 5) Phong trào vận động dân chủ 1936 – 1939
- Đề mục 6: (phòng 6 và 7) Phong trào Việt Minh 1941 – 1945
- Đề mục 7: (phòng 8 và 9) Cách mạng Tháng 8 thành công và nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời
* Phần thứ hai: (Từ phòng 10 đến phòng 24) Cuộc kháng chiến chống
các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất tổ quốc từ năm
1946 đến năm 1975
Các đề mục cụ thể như sau:
- Đề mục1: (phòng 10) Năm đầu tiên xây dựng và bảo vệ nước Việt
Nam Dân chủ cộng hòa
- Đề mục 2: (phòng 11 đến phòng 14) Cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược để bảo vệ nền độc lập dân tộc
- Đề mục 3: (phòng 15 đến phòng 16) Khôi phục kinh tế ở miền Bắc,
đấu tranh hòa bình thống nhất đất nước (1955 – 1957)
11 Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Thông báo khoa học Hà Nội 2005, số 3 Tr.51
Trang 19- Đề mục 4: (phòng 17 đến phòng 18) Bước đầu xây dựng miền Bắc,
phong trào Đồng Khởi ở miền Nam
- Đề mục 5: (phòng 19 đến phòng 20) Xây dựng miền Bắc, đánh bại
chiến tranh đặc biệt ở miền Nam (1960 – 1964)
- Đề mục 6: (phòng 21 đến 24) Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân
dân cả nước (1965 đến 1975)
* Phần thứ ba: (Từ phòng 25 đến phòng 27) Việt Nam trên con đường
xây dựng dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh từ 1975 đến nay
Đề mục trưng bày cụ thể:
- Đề mục 14: (phòng 25) Những nhiệm vụ thống nhất trên con đường
xây dựng dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh 1976 –
1.3 Tầm quan trọng, nội dung, ý nghĩa của chủ đề trưng bày “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975”
1.3.1 Khái quát nội dung lịch sử thời kỳ 1946 – 1975
Thời kỳ 1946 – 1975 là một thời kỳ đầy gian khổ, khó khăn nhưng vẻ vang, oai hùng của lịch sử dân tộc Việt Nam, lịch sử đấu tranh cách mạng chống các thế lực xâm lược giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước Thời
kỳ lịch sử này được chia ra làm 2 giai đoạn
* Giai đoạn 1946 – 1954: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân
Pháp xâm lược và bọn can thiệp Mỹ
Trang 20Sau Cách mạng tháng Tám, chính quyền nhân dân vừa mới được thành lập đã phải đương đầu với những khó khăn, thử thách rất nghiêm trọng Đất nước bị các thế lực đế quốc, phản động bao vây và chống phá quyết liệt
Cuối tháng 8 năm 1945 theo thỏa thuận của đồng minh ở hội nghị Pôtsdam, gần 20 vạn quân của chính phủ Tưởng giới thạch ồ ạt kéo vào nước
ta từ vĩ tuyến 16 trở ra làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, với âm mưu tiêu diệt Đảng ta, phá tan Việt Minh, đánh đổ chính quyền cách mạng, lập chính quyền phản động tay sai của chúng
Phía Nam vĩ tuyến 16, quân đội Anh với danh nghĩa đồng minh giải giáp quân đội Nhật, đã đồng lõa và tiếp tay cho thực dân Pháp quay lại Đông Dương Trên nước ta lúc đó còn có khoảng 6 vạn quân Nhật đang chờ giải giáp Một số đã thực hiện mệnh lệnh của quân Anh cầm súng cùng với quân Anh dọn đường cho Pháp mở rộng vùng chiếm đóng ở miền Nam Việt Nam
Trong lúc đó ta còn phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng về kinh tế, xã hội: nạn đói, nạn dốt tràn lan…
Trước tình hình đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra chủ trương, giải pháp sáng suốt để vừa khắc phục khó khăn trong nước vừa đấu tranh giữ vững chính quyền bảo vệ nền độc lập, tự do
Đối với các thế lực xâm lược: Đảng, Chính phủ thực hiện chính sách hòa hoãn, tranh thủ thời cơ, có thời gian để chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài Đối với quân Tưởng: Giai đoạn đầu trước 6/3/1946, ta thực hiện sách lược hòa hoãn nhân nhượng với quân đội và tay sai của chúng ở miền Bắc để tập trung chống Pháp ở miền Nam Nhưng từ đầu 1946, các nước đế quốc dàn xếp mua bán quyền lợi với nhau để cho thực dân Pháp đưa quân ra miền Bắc Việt Nam thay đội quân Tưởng Đảng đã chọn giải pháp hòa hoãn, dàn xếp với Pháp để đuổi Tưởng về nước
Trước âm mưu xâm lược và hành động khiêu khích của Thực dân Pháp nhân dân ta chỉ có một con đường: Cầm vũ khí đứng lên bảo vệ tổ quốc Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ Tiêu biểu cho cả nước là cuộc chiến đấu oanh
Trang 21liệt suốt 60 ngày đêm của nhân dân Hà Nội để bảo vệ cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ với tinh thần “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh
Đường lối kháng chiến đã được Đảng ta vạch ra là kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh Thắng lợi về các mặt kinh tế, văn hóa, chính trị, ngoại giao góp phần tạo ra sức mạnh thúc đẩy thực hiện thắng lợi về quân sự ngày càng lớn của quân dân ta trên các chiến trường: Chiến trường Việt Bắc Thu Đông (1947) đã đập tan âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp Thắng lợi này đã minh chứng sự đúng đắn đường lối kháng chiến lâu dài của ta Năm 1950 chiến thắng Biên giới Thu Đông đã phá tan thế bao vây phong toa của kẻ thù, giành thế chủ động ở chiến trường chính Bắc Bộ
Từ năm 1951 đến 1953, quân ta mở nhiều chiến dịch, đẩy địch vào thế lúng túng: Chiến dịch Trung Du (12/1950), Chiến dịch đường số 18 (3/1951), chiến dịch Hà Nam Ninh (5/1951), Hòa Bình (Đông Xuân 1951 – 1952), Tây Bắc (10/1952), Thượng Lào (4/1953)…
Về nước Pháp: để giành một thắng lợi quân sự làm cơ sở cho một giải pháp chính trị có “danh dự”, Pháp phải dựa vào sự viện trợ của Mĩ để lúc kéo dài chiến tranh (vì sau nhiều thất bại nền kinh tế, tài chính của Pháp gặp khó khăn, nhân dân thế giới và nhân dân Pháp lên án cuộc đấu tranh của Pháp ở Đông Dương) Tháng 5/1953, tướng Nava được bổ nhiệm làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương Kế hoạch quân sự Nava ra đời, với hai bước thực hiện trong vòng 18 tháng
Trước tình hinh đó Đảng chủ trương toàn quân và dân ta tích cực chuẩn
bị và khẩn trương thực hiện kế hoạch tác chiến trong Đông – Xuân 1953 –
1954 Quân đội nhân dân Việt Nam đã liên tiếp mở các cuộc tấn công trên các hướng chiến lược trên chiến trường Đông Dương: tiến công địch ở Tây Bắc, giải phóng Lai Châu, uy hiếp Điện Biên Phủ; Tiến công địch ở Trung Lào; Hạ Lào về đông Campuchia, tiến công địch ở Tây Nguyên giáp thị xã Kon Tum, uy hiếp Play Cu Kế hoạch quân sự Na va bước đầu bị phá vỡ
Trang 22Ngày 6 tháng 12 năm 1953, Trung ương Đảng họp và quyết định: mở chiến dịch Điện Biên Phủ, biến Điện Biên Phủ thành điểm quyết chiến chiến lược của ta và địch Chiến dịch đã diễn ra từ ngày 13/3 đến 7/5/1954, trải qua
ba đợt và giành toàn thắng sau 56 ngày đêm chiến đấu anh dũng với những cuộc chiến đấu ác liệt nhất như: Cuộc chiến đấu ở đồi A1, C1, E1… 17h30’ ngày 7/5, tướng Đờ Cát Tơ ri cùng toàn bộ Ban tham mưu của địch đầu hàng
và bị bắt sống Lá cờ quyết thắng của quân ta tung bay trên nóc hầm Đờ cát tơ ri…
Thắng lợi ở Điện Biên Phủ đã buộc Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán,
ký hiệp định Giơnevơ về việc lặp lại hòa bình ở Đông Dương Ngày 27/1/1954 Hiệp định Giơnevơ được ký kết, ghi nhận sự thất bại của Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, bảo vệ các quyền xâm lược của nhân dân Việt Nam, mở ra một thời đại mới: Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng làm cơ sở vững chắc cho đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
* Giai đoạn 1954 – 1975: Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của
dân tộc Việt Nam
Sau hiệp định Giơnevơ đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền với chế độ chính trị xã hội khác nhau
+ Miền Bắc được giải phóng, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam Từ năm 1954 đến năm
1957, miền Bắc hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, trong những năm 1958 – 1960 tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế văn hóa Với sự cố gắng nỗ lực, nhân dân miền Bắc đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trong xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, thông qua thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhấtn (1961 – 1965) mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra
Từ những năm 1965 đến 1968, nhân dân miền Bắc chiến đấu chống cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mỹ, vừa chiến đấu vừa sản xuất, làm nghĩa vụ hậu phương lớn
Trang 23Thất bại trong chiến lược “chiến tranh cục bộ” (1965 – 1968), Mĩ lại đang đứng trước nguy cơ bị phá sản trong chiến lược chiến tranh “Việt Nam hóa” và “Đông Dương hóa”, tổng thống Nich xơn tuyên bố chính thức cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai Nhân dân miền Bắc, đặc biệt là nhân dân thủ đô Hà Nội và nhân dân thành phố Hải Phòng đã chiến đấu anh dũng đập tan cuộc tập kích bằng máy bay trong 12 ngày đêm của Mỹ làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không” oanh liệt, hào hùng Ngày 30/12/1972 Chính phủ Mỹ tuyên bố ngừng mọi hoạt động chống phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở
ra, và đến 15/1/1973 thì tuyên bố ngừng hoàn toàn các hoạt động chống phá
để ký với chính phủ ta hiệp định Pari
+ Trong giai đoạn 1954 – 1975, nhân dân miền Nam chiến đấu chống chế độ Mĩ – Diệm, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của Đế quốc Mỹ: “chiến tranh đơn phương”(1958-1960); “chiến tranh Đặc biệt”(1961-1965); “chiến tranh Cục bộ”(1965-1968); “chiến tranh Việt Nam hóa”(1968-1972); hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện mục tiêu chung: Hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước
Sau những thất bại liên tiếp ở hai miền, đặc biệt là cuộc tập kích bằng máy bay B52 của Mỹ vào hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng bị thất bại, Mỹ buộc phải xuống thang chiến tranh vào bàn đàm phán Hiệp định Pari được ký kết ngày 27/01/1975 Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam Tạo thời cơ để ta “đánh cho ngụy nhào” Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 đã diễn ra với ba chiến dịch lớn:
Chiến dịch Tây Nguyên (4/3 đến 24/3/1975) chiến dịch Huế - Đà Nẵng (từ 21/3 đến 3/4/1975) và đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh (từ 26/4 đến 30/4/1975)
Thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy là thắng lợi quyết định kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 21 năm, đồng thời kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc của nhân dân Việt Nam
Trang 241.3.2 Tầm quan trọng của chủ đề trưng bày: “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975”
Trong đề cương trưng bày của Bảo tàng cách mạng được xây dựng và chỉnh sửa 2003 có ghi rõ mục đích nội dung trưng bày là: thể hiện tiến trình lịch sử Việt Nam thời kỳ cận đại (bao gồm toàn bộ hình thái kinh tế, ý thức xã hội ở Việt Nam từ năm 1958 đến nay) trong đó thể hiện đậm nét lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
Chủ đề trưng bày: “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ năm
1946 đến năm 1975” thể hiện sâu sắc và rõ nét nhất mục đích nội dung trưng bày của bảo tàng về lịch sử đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam Đó là cuộc kháng chiến trường kỳ, anh dũng đầy gian khổ, hào hùng, oanh liệt của toàn dân tộc Việt Nam để chống lại sự xâm lăng của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
- Về nội dung trưng bày: Chủ đề đã phản ánh và tái hiện lại nhiều sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển trong đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954) với sư kiện chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử kết thúc thắng lợi, hiệp định Giơnevơ được ký kết (21/7/1954) buộc thực dân Pháp phải thừa nhận độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương, phá tan âm mưu kéo dài và mở rọng chiến tranh Đông Dương và quốc tế há chiến tranh của đế quốc Mỹ Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc với thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, đỉnh cao là chiến dịch
Hồ Chí Minh lịch sử Đó là cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc tiểu biểu của nhân dân ta Cuộc chiến tranh kéo dài hơn hai thập niên (từ 7/1954 đến 5/1975) dài hơn bất cứ cuộc chiến tranh nào trong lịch sử và phải chống lại một cường quốc lớn mạnh nhất
là Mỹ trong thế kỷ XX Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử của dân tộc ta như một trong những trang chói
Trang 25lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự bàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế lớn lao và tính thời đại sâu sắc
Có thể nói,bàn luận về hai cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân Việt Nam đã có rất nhiều sách báo trong nước cũng như nước ngoài đề cập đến, nhiều tài liệu được in ấn xuất bản, các phương tiện thông tin đại chúng khác cũng nói rất nhiều như:đài, tivi, internet…Đối với thế hệ trẻ giáo dục lịch sử dân tộc là việc làm quan trọng và đầy ý nghĩa, đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Với chức năng là cơ quan nghiên cứu, giáo dục BTCMVN cũng đã góp phần không nhỏ vào việc giáo dục tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống, góp phần hoàn thiện nhân cách con người cho các thế hệ;cụ thể qua chủ đề trưng bày “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từnăm 1946 đến năm 1975”, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam giới thiệu tới công chúng trong nước và du khách nước ngoài về lịch sử đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Qua đó giáo dục truyền thống yêu nước đối với mọi thế hệ con người Việt Nam đặc biệt là thế
hệ trẻ, đồng thời cũng phản ánh một cách hệ thống những sự kiện lịch sử cơ bản của dân tộc trong giai đoạn 1946-1975; giúp cho người xem hiểu biết thêm về lịch sử đấu tranh cách mạng , tinh thần vì độc lập, tự do, yêu chuộng hòa bình của nhân dân Việt Nam
- Hơn nữa trong chủ đề này, Bảo tàng cách mạng tập trung một số lượng lớn các hiện vật tai liệu hình ảnh để tái hiện phản ánh những sự kiện quan trọng trong tiến trình cách mạng Việt Nam, nhận thức tầm quan trọng của chủ đề trưng bày, bảo tàng đã dành 15 phòng trong tổng số 29 phòng
Trang 26trưng bày tư liệu hiện vật của chủ đề Nhiều hiện vật gốc và các sưu tập hiện vật của bảo tàng cũng tập trung được giới thiệu trong chủ đề này
Khác với các cơ quan văn hoá như thư viện, cửa hàng sách, nhà văn hóa, nhà triển lãm, các câu lạc bộ dùng hình thức trực quan như đọc, nói chuyện, sân khấu…Bảo tàng nói chung BTCM VN nóí riêng dùng trưng bày hiện vật gốc làm ngôn ngữ truyền tải thông tin đến người xem – đó là những vật chứng xác thực của các thời kì lịch sử Tham quan từng phần trưng bày người xem được tiếp cận với một hệ thống tài liệu hiện vật phong phú trực quan sinh động từ đó tác động trực tiếp vào cảm giác cảm xúc tinh thần của khách tham quan làm cho họ biết yêu ghét căm giận chia sẻ cảm thương khi tiếp xúc với hiện vật Thông qua các sưu tập, hiện vật, các tài liệu hình ảnh trưng bày cho chủ đề, những sự kiện của lịch sử cách mạng Việt Nam giai đoạn 1946 – 1975 được thể hiện một cách sinh động và chân xác Nhìn chiếc máy chém và sưu tập các loại vũ khí phương tiện chiến tranh mà thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã tiến hành ở Việt Nam, người xem có thể cảm nhận được mức độ khốc liệt và tàn bạo của các cuộc chiến tranh nói chung trong đó
có cuộc chiến tranh Việt Nam, đồng thời những mũi lao, mũi chông chiếc gậy tầm vông và các loại vũ khí thô sơ tự tạo của nhân dân Việt Nam đã xử dụng trong cuộc chiến đấu vì tự do, độc lập dân tộc đã giúp người xem có những hiểu biết cụ thể xâu sắc về lòng yêu nước tinh thần dũng cảm trí thông minh
và sáng tạo cũng như những gian khổ hy sinh của các thế hệ cha anh và qua
đó thêm vững tin thêm tự hào về dân tộc đất nước mình
Như vậy, có thể thấy nội dung trưng bày của chủ đề này có vai trò rất quan trọng trong hệ thống trưng bày của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam Đây
là một trong những phần trưng bày gây ấn tượng, cảm xúc mạnh mẽ cho người xem
Trang 27Chương 2 NỘI DUNG VÀ GIẢI PHÁP TRƯNG BÀY CHỦ ĐỀ:
“CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG CÁC THẾ LỰC XÂM LƯỢC ĐỂ BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM TỪ NĂM 1946 ĐẾN NĂM 1975” TẠI BẢO
TÀNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1.1 Nội dung trưng bày chủ đề “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975” tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
Chủ đề “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ nam 1946 đến nam 1975” là một chủ đề quan trọng và cũng là nội dung trọng tâm trong toàn bộ nội dung trưng bày của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam Chủ đề này hiện được trưng bày ở cả hai tầng nhà bảo tàng trong 15 phòng (từ phòng số 10 đến phòng số 24) Tổng diện tích trưng bày gần 600m2
Nếu nói rằng Bảo tàng Cách mạng Việt Nam là một “cuốn sử sống” thì những hiện vật, tài liệu trưng bày là những con chữ trong cuốn sổ ấy Chính vì vậy, để giúp khách tham quan hiểu được chủ đề “Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1975” Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã sử dụng những hiện vật, tài liệu trưng bày tiêu biểu, đặc biệt là hiện vật gốc để khách tham quan tìm hiểu và nghiên cứu về một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược
Nội dung chủ đề được chia thành hai tiểu đề:
Trang 28Tiểu đề 1: Cuộc kháng chiến chống Pháp để bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1946 – 1954)
Nội dung của tiểu đề được chia thành các đề mục cụ thể, trưng bày ở tầng hai của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam từ phòng số 10 đến phòng số 14 với diện tích trưng bày gần 180 m2
* Đề mục 1: Năm đầu tiên xây dựng và bảo vệ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, chính quyền còn non trẻ, đất nước phải đối phó với nhiều khó khăn về kinh tế, tài chính, văn hóa: nạn đói kéo dài, tài chính kiệt quệ, 90% dân số mù chữ, tệ nạn xã hội tràn lan,… đặc biệt là nạn ngoại xâm đang đe dọa nghiêm trọng.Các thế lực thù địch bên ngoài bao vây nước ta: Từ vĩ tuyến
16 trở ra Bắc hơn 20 vạn quân Tưởng lấy danh nghĩa đồng minh vào giải giáp Nhật, thực chất chúng mang theo bọn Việt Quốc, Việt Cách để âm mưu tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương ,thành lập chính quyền phản Cách mạng.Từ
vĩ tuyến 16 trở vào Nam, thực dân Anh cũng với danh nghĩa đồng minh vào giải giáp Nhật xong thực chất là dọn đường tiếp sức cho quân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta Bọn phản động trong nước âm mưu ngóc đầu dậy chống phá cách mạng để khôi phục lại ngai vàng đã mất của chúng
Như vậy sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải đối với những khó khăn to lớn: nạn đói, nạn dốt, nạn ngoại xâm Chính quyền cách mạng đang đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”
Để tái hiện tình thế hiểm nghèo của nước ta sau Cách mạng Tháng Tám, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã trưng bày những tài liệu hiện vật tiêu biểu như:
- Hiện vật: Bản đồ - Những lực lượng quân sự nước ngoài vào Việt Nam sau cách mạng Tháng Tám năm 1945
-Tài liệu: Những hành động khiêu khích của thực dân Pháp 1946
Trang 29- Tài liệu: Truyền đơn của các phần tử phản động kêu gọi đồng bào biểu tình chống Chính phủ
- Hình ảnh: Quân đội Trung Hoa dân quốc đến Hải Phòng 1945
- Hình ảnh: Quân Pháp đổ bộ vào Hải Phòng 3/1946
Trước âm mưu lật đổ, bành trướng của quân Tưởng và âm mưu xâm lược trở lại của thực dân Pháp, tại Hội nghị toàn quốc tháng 8/1945, Đảng ta
đã vạch rõ: Quân đồng minh sắp vào nước ta và đế quốc Pháp đang lăm le khôi phục lại địa vị của chúng ở Đông Dương Hội nghị đề ra chủ trương phải tránh trường hợp một mình đương đầu với nhiều kẻ thù, phải hết sức lợi dụng mâu thuẫn giữa hai phe đồng minh Anh – Pháp và Mỹ - Tưởng để bảo vệ chính quyền còn non trẻ.Đảng và nhà nước ta do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã vận dụng đường lối chính trị nhạy bén và sáng suốt, vừa cứng rắn về nguyên tắc vừa mềm dẻo về sách lược nên đã từng bước đẩy lùi âm mưu của
- Hình ảnh: Nhân dân Nam Bộ trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp 1945
- Hiện vật: Cờ của đội cảm tử thành Sài Gòn – Chợ Lớn
Trang 30Cuối tháng 10/1945, nhờ tăng viện binh, quân Pháp phá vỡ vòng vây xung quanh Sài Gòn – Chợ Lớn, mở rộng đánh chiếm Nam Bộ và Nam Trung
Bộ Quân dân miền Nam vẫn tiếp tục chiến đấu
- Hình ảnh: Quân Pháp mở rộng chiến tranh ở miền Nam 10/1945
- Hình ảnh: Quân ta chiến đấu tại hầm xe lửa số 1 Nha Trang 1946 Trong giai đoạn này, cuộc kháng chiến của quân dân miền Nam gặp phải nhiều khó khăn Ban thường vụ Trung ương Đảng vạch rõ nhiệm vụ quân sự lúc này là động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến, tổ chức
và lãnh đạo kháng chiến lâu dài Đảng, Chính phủ cũng phát động phong trào ủng hộ, tổ chức chi viện cho Nam Bộ và Nam Trung Bộ Hàng vạn thanh niên
nô nức nhập ngũ, nhân dân khắp nơi tổ chức biểu tình phản đối thực dân Pháp xâm lược
- Hình ảnh: Đoàn quân Nam tiến từ Hà Nội lên đường vào Nam kháng chiến chống quân xâm lược
- Hình ảnh: Nhân dân Hà Nội biểu tình phản đối phái bộ Anh dùng vũ lực chiếm đóng Nam Bộ, 14/9/1945
Sự đóng góp sức người sức của và mọi chi viện khác của nhân dân Bắc
Bộ và Bắc Trung Bộ là hình ảnh của dân tộc thống nhất, cả nước chiến đấu để bảo vệ tổ quốc
Tuy hiện vật không nhiều, chỉ với một số hình ảnh, tài liệu trưng bày, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam cũng đã tái hiện lại cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ trong những ngày đầu chống Pháp
Để tập trung lực lượng chống thực dân Pháp ở miền Nam, Đảng và Chính phủ đã thực hiện chủ trương hòa hoãn, nhân nhượng, đẩy lùi từng bước
âm mưu chính trị quân sự của quân đội Tưởng và tay sai Từ 6/3/1946 trở đi,
ta chủ trương hòa hoãn với Pháp để đuổi Tưởng Vào 16h ngày 6/3/1946, tại ngôi nhà số 38 Lý Thái Tổ, Hiệp định sơ bộ được ký kết giữa chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ Pháp Ký Hiệp định sơ
bọ là một bước “hòa để tiến” của Đảng và Chính phủ ta
Trang 31Để minh chứng cho kiện này, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã trưng bày những tư liệu tiêu biểu như:
- Tài liệu: Hiệp định sơ bộ 6/3/1946
- Tài liệu: Chỉ thị “Hòa để tiến” của Ban thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương 9/3/1946
Mặc dù đã cùng chính phủ Việt Nam ký hết Hiệp định, song phía Pháp vẫn cố tìm mọi cách để trì hoãn cuộc đàm phán chính thức Vì thế cuộc đàm phán họp tại Phongteloblo từ ngày 6 /7 đến ngày 10/9/1946 đã thất bại, do phía Pháp vẫn cố giữ lập trường thực dân Để tỏ rõ hơn thiện chí hòa bình của Việt Nam, tranh thủ thêm thời gian hòa hoãn có lợi cho việc xây dựng đất nước, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài đoán chắc là sẽ xảy ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Mute (Moutet) – đại diện của Chính phủ Pháp bản Tạm ước 14/9/1946
- Hình ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay “LE BOUNGET” Paris Pháp 22/6/1946
- Hiện vật: Cờ - cắm trên xe ô tô của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người thăm nước Pháp 1946
- Hình ảnh: Trưởng đoàn đại biểu nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Phạm Văn Đồng – phát biểu tại hội nghị Phongtennoblo (Pháp) 6/7/1946
Những hình ảnh, hiện vật trưng bày đã phần nào phản ánh rõ thiện chí muốn hòa bình của nhân dân Việt Nam Điều đó cũng khẳng định việc ký Hiệp định sơ bộ và bản Tạm ước của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn
Việt Nam đã nhân nhượng, nhưng càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới, chúng đã trắng trợn phá hoại Hiệp định, ngang nhiên nắm quyền kiểm soát thuế quan Hải Phòng, tiến công đánh chiếm Lạng Sơn Tháng 11/1946, Pháp bắt đầu mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược trên quy mô lớn và quyết liệt đối với miền Bắc Đầu tháng 12/1946 tình hình càng nghiêm trọng hơn Thực dân Pháp tăng thêm quân, chiếm đóng trái phép ở Đà Nẵng và Hải Dương, đưa thêm viện binh đến Hải Phòng, gây ra nhiều vụ xung đột, khiêu
Trang 32khích ở Hà Nội Đặc biệt chúng đã ném lựu đạn, nổ súng vào nhiều nơi ở Hà Nội trong các ngày 15, 16 tháng 12/1946
- Hình ảnh: Quân Pháp trên đường quốc lộ 5 (Hải Phòng – Hà Nội) 3/1946
- Hình ảnh: Quân Pháp ở Cầu Long Biên (Hà Nội) 3/1946
- Hình ảnh: Quân Pháp gây chiến ở Hà Nội 17/12/1946
Ngày 18/12 tướng Pháp Moolie gửi cho Chính phủ ta hai tối hậu thư đòi chiếm đóng Sở Tài chính, đòi ta phá bỏ công sự và chướng ngại vật trên các đường phố, đòi quyền kiểm soát Hà Nội Chúng tuyên bố nếu những yêu cầu trên không được Chính phủ Việt Nam chấp nhận thì chậm nhất vào sáng ngày 20/12/1946 quân Pháp sẽ chuyển sang hành động
Ngọn lửa chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đã bùng cháy trên toàn quốc, đó là điều không thể tránh khỏi được nữa vì Pháp quyết định châm ngòi trong ngày 20/12 vào bất cứ giờ phút nào
* Đề mục 2: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược để bảo
vệ nền độc lập dân tộc (1946 – 1954)
Trước sự bội ước và hành động xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân
ta chỉ còn một con đường: cầm vũ khí chiến đấu để bảo vệ độc lập cho dân tộc Ngày 18, 19/12/1946, tại Vạn Phúc, Hà Đông, Ban thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, đã quyết định chủ trương kháng chiến của Đảng là: toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh Để phát huy sức mạnh toàn dân, tập hợp quần chúng, kêu gọi nhân dân
cả nước kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” Ngay giữa lúc tiếng súng kháng chiến toàn quốc vang rền ở Hà Nội và trên toàn quốc, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được được phát truyền khắp cả nước:
Tài liệu: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (20/12/1946) của Chủ tịch
Hồ Chí Minh
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến là tiếng gọi của non sông đất nước, động thấu trái tim và khối óc của mọi người Việt Nam yêu nước, khơi dậy
Trang 33mạnh mẽ chủ nghĩa dân tộc, truyền thống anh hùng bất khuất khích lệ cả nước đứng lên chiến đấu bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của con người Việt Nam với mọi thứ vũ khí có sẵn, với một ý chí “quyết
tử cho tổ quốc quyết sinh”, một thái độ chính trị dứt khoát và kiên định “Thà
hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”
Với ý nghĩa và giá trị lịch sử ấy, có thể nói tài liệu “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tài liệu quý giá, thể hiện nổi bật tư tưởng, quan điểm, đường lối chiến tranh nhân dân của chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn Đảng, toàn dân tộc Việt Nam
Ngoài ra, Bảo tàng còn trưng bày một số tư liệu, hình ảnh khác như:
- Hình ảnh: Ngôi nhà ở Vạn Phúc (Hà Đông) nơi họp của Ban thường
Để minh chứng và tái hiện lại không khí chiến đấu tại Hà Nội, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã trưng bày những hiện vật, tư liệu, hình ảnh tiêu biểu như:
- Hình ảnh: Cảm tử quân Hà Nội ôm bom ba càng trong ngày đầu kháng chiến 1946
- Hình ảnh: Nhân dân phố Mai Hắc Đế (Hà Nội) dùng chướng ngại vật trong kháng chiến
Trang 34- Hiện vật: Nòng đại bác ở pháo đài Láng (Hà Nội) trong kháng chiến 12/1946
- Hiện vật: Súng ngắn của một cán bộ Trung đoàn Thủ đô sử dụng 12/1946
Thực hiện khẩu hiệu “mỗi góc phố, mỗi căn nhà là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ”, quân dân Hà Nội đã nêu cao quyết tâm chiến đấu
“Sống chết với thủ đô”, anh dũng kiên cường mưu trí chiến đấu
Cùng với Hà Nội, quân dân các thành phố, thị xã khác ở Bắc vĩ tuyến
16, nơi có địch đóng, cũng kịp thời đứng lên chiến đấu Nội dung này được Bảo tàng phản ánh qua các hình ảnh sau:
- Hình ảnh: Nhân dân Phú Thọ cắm chông chống quân nhảy dù của Pháp
- Hình ảnh: Đội thiếu nhi du kích Đình Bảng – Bắc Ninh trong kháng chiến chống Pháp
- Hiện vật: Bàn chông nhân dân Khánh Thiện dùng trong kháng chiến Song song với cuộc chiến đấu, các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Mặt trận các cấp nhất là ở Trung ương đã di chuyển lên căn cứ kháng chiến Việt Bắc an toàn
Từ ngày 7/10 đến ngày 21/10/1947 trải qua 75 ngày đêm chiến đấu quân và dân ta đã đập tan cuộc tấn công lớn của giặc Pháp vào khu Việt Bắc(chiến thắng Việt Bắc) Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong năm đầu toàn quốc kháng chiến, giáng một đòn quyết định vào chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh của địch”, đưa kháng chiến của dân tộc sang một giai đoạn mới
- Tài liệu: Chỉ thị “Phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của thực dân Pháp” 1947
- Hình ảnh: Xác tàu chiến của Pháp bị bắn chìm tại Sông Lô, 1947
- Hình ảnh: Nhân dân Bắc Ninh thực hiện tiêu thỉ kháng chiến, 1946 Sau khi đánh bại chiến dịch Việt Bắc của thực dân Pháp mở ra năm 1947, nắm bắt thời cơ thuận lợi,Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ
Trang 35động mở chiến dịch Biên giới 1950 với mục đích tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, khai thông biên giới, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc Bộ Chỉ huy chiến dịch đã quyết định tập trung một lực lượng mạnh để tiến công giải phóng từ Cao Bằng đến Thất Khê; Hồ Chí Minh đã “chống gậy lên non xem trận địa” kiểm tra kế hoạch tác chiến, công tác chuẩn bị và động viên cán
bộ, chiến sĩ dân công tham gia chiến dịch
-Hình ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh quan sát mặt trận Đông Khê (Cao Bằng) 9/1950
Có thể nói hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh quan sát Mặt trận Đông Khê trưng bày tại Bảo tàng đã gây được sự chú ý và xúc động cho khách tham quan Với vai trò là một vị trí chủ tịch nước, vị lãnh tụ của cả dân tộc, người vẫn không ngại khó ngại khổ đến tận Mặt trận chiến đấu để động viên chiến sĩ chiến đấu, kiểm tra mọi công tác chuẩn bị cho kháng chiến Người xem cảm động chính bởi tình yêu nước thương dân, gần dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Ngày 16/9/1950, chiến dịch bắt đầu với trận mở màn đánh vào cứ điểm Đông Khê Sau 54 giờ chiến đấu ác liệt gay go, quân ta đã giành thắng lợi Đến 22/10/1950, địch hoảng loạn rút khỏi căn cứ đã bị ta truy kích tiêu diệt Chiến dịch biên giới kết thúc thắng lợi sau 29 ngày đêm chiến đấu, từ đây quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ đã về tay chúng ta
- Hình ảnh: Bộ đội làm chủ thị xã Cao Bằng trong chiến dịch Biên Giới
Thắng lợi của Chiến dịch Biên giới đã giáng một đòn choáng váng vào
ý đồ xâm lược của địch, thúc giục nhân dân Pháp đấu tranh phản đối chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam, đẩy địch ngày càng lún sâu vào thế bị động về chiến lược
Trang 36Với một số lượng tư liệu hiện vật trưng bày rất ít xong bảo tàng cũng
đã tái hiện và phản ánh được những sự kiện lịch sử quan trọng, những thắng lợi có ý nghĩa quyết định trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Để thực hiện đường lối kháng chiến “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ và
tự lực cánh sinh”, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục nhằm xây dựng hậu phương vững chắc cho tiền tuyến, vừa có khả năng tự túc, tự cấp, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của kháng chiến, cải thiện đời sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân, vừa trực tiếp đấu tranh chống lại mọi âm mưu phá hoại của địch
Đảng và Chính phủ đã động viên nông dân, cán bộ, bộ đội đẩy mạnh thi đua canh tác, cải tiến kĩ thuật, khai hoang phục hóa, đắp đê chống hạn, lũ lụt, để thu được kết quả cao trong sản xuất nông nghiệp
- Hình ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cán bộ tăng gia sản xuất trong kháng chiến
- Hình ảnh: Vườn sắn tự túc của cán bộ miền Tây Nam Bộ trong kháng chiến
- Hình ảnh: Nhân dân liên khu V làm thủy lợi chống hạn trong kháng chiến
- Hình ảnh: Anh hùng lao động Hoàng Hanh trong thời kỳ kháng chiến
- Hiện vật: Cờ “canh tác gương mẫu” tặng anh hùng lao động Hoàng Hanh
Trong công nghiêp, tiểu thủ công nghiệp: xây dựng và phát triển sản xuất vũ khí đạn dược, dệt, giấy, sản xuất hàng tiêu dùng như: đường, muối… Nội dung này được bảo tàng phản ánh thông qua những hiện vật, hình ảnh tiêu biểu như:
- Hình ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm công binh xưởng ở Việt Bắc trong kháng chiến
- Hiện vật: Máy dập viên thuốc – Cán bộ công nhân y tế trung ương sản xuất để dập thuốc 1948
Trang 37- Hiện vật: Bi đông – Bộ đội Gia Định tự chế tạo 1950
- Hiện vật: Hộp mực in – xưởng in của Bộ Tài chính dùng 1/1946 Trong lĩnh vực Văn hóa giáo dục: sự nghiệp văn hóa, giáo dục tiếp tục được phát triển trong chiến tranh nhằm bồi dưỡng sức mạnh tinh thần và trí tuệ của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược
Mọi hoạt động văn hóa văn nghệ đều hướng vào phục vụ kháng chiến theo khẩu hiệu “Tất cả để chiến thắng” với tính chất: “Dân tộc – khoa học và đại chúng”
Để minh chứng cho nội dung trên bảo tàng sử dụng một số hình ảnh tư liệu hiện vật như:
- Hình ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia văn nghệ tại Việt Bắc
1953
- Hình ảnh: Hoạt động thông tin triển lãm tại thị xã Thái Nguyên 19/8/1948 đặc biệt là một số tài liệu: Tài liệu: Một số bản nhạc cách mạng được sáng tác trong thời kỳ 1946 – 1954
- Hình ảnh: Lớp Bình dân học vụ xã Mỹ Hậu – Mỹ Tho
- Hình ảnh: Lớp bình dân học vụ của đồng bào các dân tộc miền núi trong kháng chiến
- Tài liệu: Một số bài báo trong kháng chiến
- Tài liệu: Một số bản ghi chép bài thơ của chiến sĩ cách mạng ở Côn Đảo 1946 – 1954 giáo dục cũng không ngừng được quan tâm và phát triển trong kháng chiến
- Hiện vật: Một số sách xuất bản trong kháng chiến 1946 – 1954
Như vậy dù chỉ với một số lượng hiện vật ít, chủ yếu là hình ảnh trưng bày, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã phản ánh được hoạt động về kinh tế, văn hóa giáo dục và những cố gắng của nhân dân trong việc xây dựng và nâng cao đời sống, phản ánh sự quan tâm của Đảng, Chính phủ trong mọi mặt để phục vụ cho cuộc kháng chiến giành thắng lợi
Vào đầu năm 1954, giữa lúc cuộc kháng chiến củaba dân tộc ở bán đảo Đông Dương đang trên đà phát triển mới, cục diện chiến tranh ở Đông Dương
Trang 38thay đổi có lợi cho kháng chiến, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng Cộng Sản Đông Dương đã hop ở Vinh Quang - Chiêm Hóa (Tuyên Quang) từ ngày 11 đến 19/2/1951 Đây là một sự kiện chính trị có ý nghĩa quan trọng đối với cách mạng Việt Nam Đại hội đã thảo luận và thông qua Báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày, báo cáo “Bàn về Cách mạng Việt Nam” do đồng chí Trường Chinh trình bày, thông qua tuyên ngôn, chính cương và điều lệ mới của Đảng, quyết định đổi tên Đảng là Đảng Lao động Việt Nam Đặc biệt, Đại hội đã xác định nhiệm vụ cơ bản hiện nay của cách mạng Việt Nam là chống đế quốc và phong kiến; giành độc lập thống nhất thật sự cho dân tộc; xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội
Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng là một sự kiện lịch sử trọng đại đánh dấu bước trưởng thành mới về tư tưởng, đường lối chính trị của Đảng Việc Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, có cương lĩnh, đường lối, chính sách đúng đắn phù hợp với thực tiễn có ý nghĩa quyết định đưa kháng chiến tiến lên giành những thắng lợi ngày càng lớn Quan hệ giữa Đảng với quần chúng mật thiết hơn, sức mạnh của Đảng được tăng cường về mọi mặt
Đại hội cũng quyết định thống nhất mặt trận Việt Minh và hội Liên Việt thành Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận Liên Việt) thông qua tuyên ngôn, chính cương, điều lệ của Mặt trận
Để phản ánh sự kiện quan trọng này, Bào tàng cách mạng đã trưng bày những hình ảnh tài liệu hiện vật tiêu biểu đó là:
- Hiện vật: Tranh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương 2/1951
- Hình ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần II Đảng Cộng sản Đông Dương
- Hình ảnh: Trường Chinh – Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương đọc báo cáo “Bàn về Cách mạng Việt Nam” tại đại hội lần II
Trang 39- Hình ảnh: Đại hội toàn quốc thống nhất Mặt trận Liên Việt 3/3/1951 Vào đầu năm 1953, trước yêu cầu động viên sức người sức của cho tiền tuyến và vấn đề bồi dưỡng sức dân, nhất là nông dân, đang đặt ra những đòi hỏi mới cao hơn trước, Đảng và Chính phủ đã quyết định phát động quần chúng triệt để giảm tô và cải cách ruộng đất ngay ở các vùng tự do Tháng 11/1953, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã thông qua cương lĩnh ruộng đất
và quyết định cải cách ruộng đất trong kháng chiến
Để thực hiện nhiệm vụ lịch sử đó, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã họp kỳ thứ III tại Việt Bắc từ ngày 1 đến ngày 4/12/1953 Quốc hội đã nghiên cứu báo cáo “Tình hình trước mắt và nhiệm vụ cải cách ruộng đất” của Chủ tịch Hồ Chí Minh Báo cáo về thành tích kháng chiến và dự thảo luật cải cách ruộng đất của Chính phủ do Phó thủ tướng Phạm Văn Đồng trình bày
- Tài liệu: Luật cải cách ruộng đất, được Quốc hội thông qua ngày 14/12/1953
- Hiện vật: Một số sách về cải cách ruộng đất
- Hình ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo tại kỳ họp Quốc hội thứ III, 12/1953
- Hình ảnh: Các đại biểu quốc hội tại kỳ họp Quốc hội thứ III 4/12/1953
Về phía Pháp, càng lún sâu vào chiến tranh, thực dân Pháp càng suy yếu và thất bại Trước tình hình đó, Pháp phải dựa vào sự viện trợ của Mỹ để kéo dài chiến tranh, tìm “thắng lợi” trong quân sự và “đi ra” trong “danh dự”
Vì vậy, tháng 5/1953 Pháp quyết định cử tướng Nava sang làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương Kế hoạch Nava ra đời
Để thực hiện kế hoạch, thực dân Pháp tập trung quân cơ động gồm 84 tiểu đoàn, trong đó ở đông bắc Bắc Bộ 44 tiểu đoàn, mở nhiều cuộc hành quân càn quét lớn ở Bắc Bộ, Bình – Trị - Thiên, Nam Bộ, bình định bắt lính, phá hoại vùng tự do của ta…
Trang 40- Hình ảnh: Tổng thống Mỹ D.Aixenhao cùng thủ tướng Anh và thủ tướng Pháp, họp bàn mưu kéo dài chiến tranh 1953
- Tư liệu: Sơ đồ tổ chức phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ “MAAG” 10/1950 – 7/1954
- Hình ảnh: Tàu chiến Mỹ chở máy bay và các phương tiện chiến tranh sang Việt Nam cho quân Pháp – Cảng Sài Gòn – 1950
- Hình ảnh: Tướng Nava đến Việt Nam thay tướng Stalan 8/5/1953
- Hình ảnh: R.Níchxơn – phó tổng thống Mỹ tại chợ Ghênh – Ninh Bình 11/1953 đang kiểm tra quân đội Pháp
- Hình ảnh: Tướng Nava cùng tướng Cô Nhi và đại tá Đờcáttơri đi kiểm tra tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, 12/1953
Trước kế hoạch quân sự của Pháp, Trung ương Đảng đã thông qua chủ trương chiến lược của ta trong Đông Xuân 1953 – 1954: Tập trung lực lượng tấn công vào những hướng quan trọng mà địch tương đối yếu Với phương châm: tích cực chủ động, cơ động, linh hoạt, đánh ăn chắc, chắc thắng thì đánh, không chắc thì kiên quyết không đánh Theo đó, ta đã mở các cuộc tiến công quân sự bước đầu làm phá sản kế hoạch Nava: 11/1953 quân ta tấn công lên thị xã Lai Châu, bao vây Điện Biên Phủ; đầu tháng 12/1953 cùng với quân dân Lào tiến công Trung Lào; đầu tháng 2/1954 ta tấn công Bắc Tây Nguyên giải phóng Kon Tum, uy hiếp Playcu, rồi tấn công sang thượng Lào… buộc địch phải phân tán lực lượng để đối phó với ta ở những vùng xung yếu mà chúng không thể bỏ
Để làm nổi bật cho những sự kiện này, Bảo tàng sử dụng các tài liệu hình ảnh hiện vật tiêu biểu như:
- Hình ảnh: Tiểu khi Măng đen của quân Pháp tại Kon Tum bị tiêu diệt 27/1/1954
- Hình ảnh: Hai cánh quân Việt – Lào gặp nhau sau giải phóng Thượng Lào 1/1954