Nghiên cứu về Miếu Quan Công, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận ở những góc độ khác nhau như: khảo tả di tích, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể trong Miếu, tín ngưỡng thờ Quan Côn
Trang 1***********
SỰ GIAO THOA VĂN HÓA VIỆT – HOA
TẠI MIẾU QUAN CÔNG – HỘI AN – QUẢNG NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN QUẢN LÝ VĂN HÓA
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Phan Văn Tú
Sinh viên : Bùi Thị Thu Linh
Lớp : QLVH8C Khóa học : 2007-2011
Hà Nội - 2011
Trang 2Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo, các anh chị nhân viên của Trung tâm Quản lý bảo tồn di tích Hội An, Ban quản lý di tích Miếu Quan Công, ông Lê Nguyễn – thủ từ của Miếu…là những người đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp các thông tin, tài liệu cần thiết trong suốt quá trình tôi làm khóa luận
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người thân yêu đã luôn động viên và hỗ trợ để tôi thực hiện tốt đề tài
Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Bùi Thị Thu Linh
Trang 3Tôi xin cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo
Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2011
Tác giả khóa luận
Bùi Thị Thu Linh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……….5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO THOA VĂN
HÓA, DI SẢN VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐÔ THỊ CỔ HỘI AN, MIẾU QUAN CÔNG……… 9
1.1 Một số vấn đề lý luận về “Giao thoa văn hoá” và “Di sản văn hóa” 1.1.1 Khái niệm “Giao thoa văn hoá” ……….……… ….9
1.1.2 Khái niệm “Di sản văn hóa” ……….………12
1.2 Tổng quan về Đô thị cổ Hội An và Miếu Quan Công……… 13
1.2.1 Khái quát về đô thị cổ Hội An………13
1.2.1.1 Vị trí địa lý ……….….….13
1.2.1.2 Lịch sử hình thành……… …….15
1.2.1.3 Kinh tế - Chính trị……….……15
1.2.1.4 Đặc điểm dân cư……… …15
1.2.1.5 Quá trình giao thoa văn hóa Việt – Hoa tại đô thị cổ Hội An 18
1.2.2 Khái quát về Miếu Quan Công……… ………24
1.2.2.1 Vị trí di tích……… …….24
1.2.2.2 Tín ngưỡng thờ Quan Vân Trường……… ……24
1.2.2.3 Nguồn gốc hình thành……… … 27
1.2.2.4 Hoạt động tại di tích……… ……… 28
CHƯƠNG 2: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA SỰ GIAO THOA VĂN HÓA VIỆT – HOA TẠI MIẾU QUAN CÔNG……… ……….30
2.1 Sự giao thoa văn hóa biểu hiện trong tên gọi của di tích… …30
2.2 Sự giao thoa văn hóa biểu hiện trong các di sản văn hóa vật thể 2.2.1 Kiến trúc……… 32
2.2.1.1 Cấu trúc………32
2.2.1.2 Vì kèo……… 34
2.2.1.3 Hệ mái……….……… 35
2.2.2 Điêu khắc………36
2.2.3 Hội hoạ………41
Trang 5thể……….……… 42
2.3.1 Hệ thống câu đối, thơ văn……….….43
2.3.2 Hoạt động tín ngưỡng……… 52
2.3.2.1 Lễ cúng……….………52
2.3.2.2 Lễ hội……….……… 53
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ GIAO THOA VĂN HÓA TẠI MIẾU QUAN CÔNG……… 55
3.1 Đánh giá thực trạng công tác quản lý tại Miếu Quan Công: 55
3.1.1 Công tác quản lý của các cơ quan chức năng……… 55
3.1.2 Công tác quản lý của ban quản lý di tích……….………….…58
3.2 Một số đề xuất cá nhân: ……… 60
KẾT LUẬN……….……… … 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ….….… 65
PHỤ LỤC……….………….……… 68
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phố cổ Hội An được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới năm
1999 Đây là không gian văn hóa đặc biệt còn lưu giữ nhiều chứng tích của sự hội tụ văn hóa Đông – Tây từ ngàn năm trước, nhất là giai đoạn phát triển cường thịnh thế kỉ XV-XIX Sự cởi mở trong việc tiếp nhận các dòng văn hóa trên thế giới đã mang đến cho Hội An một hiện tượng văn hóa đặc biệt: giao thoa văn hóa Trong đó, giao thoa văn hóa Việt – Hoa đóng vai trò rất quan trọng, là một bộ phận không thể thiếu trong bức tranh văn hóa đa sắc màu của vùng đất này
Miếu Quan Công ở Hội An – Quảng Nam là một trong những công trình thể hiện sự giao thoa văn hóa Việt – Hoa ở Hội An Nghiên cứu về Miếu Quan Công, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận ở những góc độ khác nhau như: khảo tả di tích, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể trong Miếu, tín ngưỡng thờ Quan Công,…Tiểu luận này muốn tiếp cận ở góc độ tìm hiểu những giá trị của sự giao thoa văn hóa Đây là hiện tượng diễn ra trong bất cứ nền văn hóa nào khi đã có sự gặp gỡ lâu dài với dòng văn hóa khác Tìm hiểu
về sự giao thoa văn hóa có thể giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về tiến trình văn hóa của riêng vùng đất đó, những biến đổi trong đời sống của cộng đồng dân cư, những giá trị văn hóa truyền thống của chính vùng văn hóa,…Hơn nữa việc khảo sát sự giao thoa văn hóa tại một cơ sở hoạt động tín ngưỡng có thể giúp soi rõ những vấn đề thuộc về chính trị, xã hội, giáo dục, tâm linh… của vùng đất Hội An
Đồng thời, việc tìm hiểu về sự giao thoa văn hóa tại Miếu Quan Công cũng sẽ góp phần làm sáng rõ những đóng góp của người Hoa Minh Hương – chủ nhân xây dựng nên di tích Miếu Quan Công - khi đến lập nghiệp tại vùng đất này
Về phương diện cá nhân, tôi là một người con xứ Quảng và tôi có niềm
tự hào về vùng đất anh hùng cũng như chiều dày lịch sử, văn hóa quê hương
Trang 7cứu nhỏ để vừa tự thu nhận kiến thức vừa góp thêm một cách nhìn về di sản quê hương mình Đó cũng lời cảm ơn dành cho những con người đã vượt nghìn trùng xa xôi đến xây dựng và để lại trên quê hương tôi những di sản văn hóa quý giá
Với những căn cứ mang tính khóa học và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài
“Sự giao thoa văn hóa Việt – Hoa tại Miếu Quan Công, Hội An, Quảng Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu về sự giao thoa văn hóa Việt – Hoa
3 Phạm vi nghiên cứu
Sự giao thoa văn hóa Việt – Hoa được khảo sát tại Miếu Quan Công (hay còn gọi là Chùa Ông) tại Hội An, Quảng Nam từ khi Miếu được xây dựng (khoảng thế kỉ XVII) đến nay
4 Mục đích nghiên cứu
Người viết muốn nghiên cứu về sự giao thoa văn hóa Việt- Hoa tại Miếu Quan Công nhằm tìm hiểu những vấn đề thuộc về sự giao thoa văn hóa nói chung và những giá trị của sự giao thoa văn hóa tại Hội An nói riêng Hội An
là cảng biển quốc tế đã trở thành nơi gặp gỡ của nhiều dòng văn hóa Đông – Tây ngay từ những năm đầu công nguyên Khóa luận sẽ là sự khám phá về những dấu ấn Việt – Hoa tại một trong những nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cư dân đô thị cổ Hội An
5 Đóng góp của đề tài
Sự giao thoa văn hóa Việt – Hoa tại Việt Nam nói chung và tại Hội An nói riêng là một trong những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu lưu tâm và có nhiều bài viết có giá trị
Về sự giao thoa văn hóa Việt – Hoa, Trong Hội thảo Quốc tế về Đô thị
cổ Hội An tại Đà Nẵng từ 22 - 23/3/1991, các nhà nghiên cứu lớn trong và
ngoài nước đã có những khảo sát rất cụ thể Tham luận “Tiếp xúc văn hóa ở
Trang 8Hội An – nhìn từ góc độ kiến trúc” của Trịnh Cao Tưởng – Viện Khảo cổ học
- đã có những đánh giá về sự giao thoa văn hóa Việt – Hoa – Nhật ở góc độ kiến trúc, trong đó ông xoáy sâu vào dấu ấn Việt – Hoa của những công trình
nhà cổ tại đô thị này Sách “Phố cổ Hội An và sự giao lưu văn hóa ở Việt Nam” của Nguyễn Mạnh Hùng có những nghiên cứu chung về sự giao lưu
văn hóa tại Hội An, cụ thể là những biểu hiện trong giao lưu văn hóa Việt – Hoa – Nhật Miếu Quan Công cũng được Nguyễn Mạnh Hùng đưa vào bài viết như một minh chứng cho sự giao lưu văn hóa này
Về Miếu Quan Công, cho đến nay có khá nhiều bài viết tìm hiểu công trình này, tuy nhiên các nghiên cứu này đều tìm hiểu dưới góc độ khảo tả di tích với phương pháp mô tả là chủ yếu Tài liệu được người viết xin tại Miếu
Quan Công là cuốn “Lịch sử Chùa Ông” do nhà sử học Hán Nôm, cụ Nguyễn
Bội Liên viết năm 1999 chủ yếu là mô tả về nội, ngoại thất và các hoạt động tín ngưỡng tại Miếu Trung tâm quản lý và bảo tồn di tích Hội An tại Hội An cũng có tài liệu do trung tâm nghiên cứu, lưu giữ tại phòng tư liệu song tài liệu này chỉ ở cấp độ khảo tả ban đầu, phục vụ việc tìm hiểu thông tin cho
công tác quản lý Trong các sách viết về Hội An như “Hội An – Di sản thế giới” của Nguyễn Phước Tương, “Di sản phi vật thể Hội An” do Bùi Quang Thắng chủ biên, “Di sản văn hóa văn nghệ dân gian Hội An” của Trần Văn
An, “Lễ lệ, lễ hội Hội An” do Trung tâm quản lý và bảo tồn di tích Hội An nghiên cứu, “Cư dân Faifo trong lịch sử” của Nguyễn Chí Trung,…Miếu
Quan Công được các nhà nghiên cứu khảo sát khá kĩ về kiến trúc, lễ hội, tín ngưỡng thờ thần,…Các nghiên cứu này giúp người viết thấy được vị trí cả Miếu Quan Công trong hệ thống di sản tại phố cổ Hội An Có thể nói Miếu là một phần không thể thiếu minh họa sự đa dạng và phong phú các giá trị văn hóa tại vùng đất này
Qua những khảo sát trên, chúng ta có thể thấy cho đến nay chưa có một tác phẩm nào nghiên cứu một cách cụ thể và toàn diện, hệ thống về sự giao thoa văn hóa Việt – Hoa tại Miếu Quan Công Liệu có hay không hiện tượng
Trang 9và đang được phát huy có đủ để minh chứng cho vị trí quan trọng của Miếu trong bức tranh chung về sự giao thoa văn hóa tại Hội An? Cần làm gì để những giá trị văn hóa đó được gìn giữ và đưa vào khai thác trong thực tế, góp phần giáo dục các thế hệ sau những dấu ấn văn hóa đặc sắc của một thời đã qua? Người viết mong muốn có thể góp thêm một cách nhìn nhận và tìm hiểu cụ thể hơn về những biểu hiện của sự giao thoa văn hóa tại Miếu Quan Công
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp di vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành như thống kê, xã hội học, ngôn ngữ học,…
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp điền dã (phỏng vấn, ghi âm, ghi hình)
- Phương pháp quan sát đánh giá
7 Bố cục của khóa luận gồm
Trang 10CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ GIAO THOA VĂN HÓA, DI SẢN VĂN HÓA
VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐÔ THỊ CỔ HỘI AN, MIẾU QUAN CÔNG 1.1 Một số vấn đề lý luận về “Giao thoa văn hoá” và “Di sản văn hóa”
1.1.1 Khái niệm “Giao thoa văn hoá”
Từ xưa đến nay, bất cứ quốc gia nào cũng không thể tồn tại riêng độc lập mà cần phải có sự tiếp xúc và trao đổi với các quốc gia khác Chính điều này sẽ giúp làm phong phú nền văn hóa của quốc gia, dân tộc đó, đưa quốc gia đó đến với những nền văn hóa lớn và tiến bộ của thế giới, góp phần thúc đẩy sự phát triển trong các lĩnh vực khác
Những hiện tượng xã hội này phản ánh mối quan hệ và sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc hay các nhóm người trong các lĩnh vực thuộc về văn hóa Đó chính là thế giới quan, nhân sinh quan, hệ tư tưởng, phong tục tập quán, đạo đức và nghệ thuật, khoa học công nghệ, Trong đó, cơ sở ban đầu là bản sắc văn hóa của hai bên
Từ Acculturation 1 (khái niệm xuất phát từ Hoa Kì) được dịch sang tiếng
Việt là văn hóa hóa, đan xen văn hóa, hỗn dung văn hóa, giao thoa văn hóa,
giao lưu- tiếp xúc và biến đổi văn hóa Quá trình chuyển ngữ này khiến việc
hiểu các khái niệm bị nhiễu và không tránh khỏi những quan điểm khác nhau
về quá trình giao lưu – tiếp biến văn hóa Tuy nhiên các quan điểm đều thống
nhất với chuỗi hệ thống các hiện tượng từ tiếp xúc - giao lưu - tiếp biến văn hóa Trong sách “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, GS Trần Quốc Vượng sử dụng các khái niệm “giao lưu”, “tiếp (xúc) và biến (đổi) văn hóa” Nhà nghiên cứu cho rằng “Giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận văn hóa nước ngoài bởi dân tộc chủ thể…Hai yếu tố này luôn có khả năng chuyển hóa cho nhau
1 Trần Quốc Vượng (chủ biên) (2008), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội
Trang 11hiện tượng văn hóa này gồm hai yếu tố chính là giao lưu – tiếp biến văn hóa
Trước hết, người viết muốn tìm hiểu bản chất của những khái niệm này
Tiếp xúc là quan hệ bình đẳng giữa hai đối tượng bất kỳ chưa đi đến trao
đổi và chưa đem lại kết quả gì Tiếp xúc văn hóa là sự gặp gỡ giữa hai nền văn hóa tuy nhiên chưa có sự trao đổi, chuyển hóa nào giữa hai nền văn hóa này
Giao lưu là có sự tiếp xúc và trao đổi qua lại giữa hai dòng, hai luồng
khác nhau Giao lưu văn hóa là sự trao đổi qua lại hai chiều những sản phẩm văn hóa giữa các cộng đồng dân tộc quốc gia với nhau, bắt đầu đã có sự ảnh hưởng lẫn nhau, bổ sung cho nhau để làm phong phú cho văn hóa của mình
Tiếp biến là tiếp nhận và biến đổi Tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận
(một chiều) các yếu tố văn hóa từ bên ngoài (ngoại sinh) và biến đổi cho phù hợp với các yếu tố văn hóa bên trong (nội sinh) để làm giàu cho văn hóa của
mình “Tiếp biến văn hóa - đó là quá trình một nhóm sắc tộc tiếp nhận, biến cải và đồng hóa văn hóa của một nhóm sắc tộc khác nhau trong tiến trình giao lưu văn hóa hai bên Mức độ, phương hướng và tính chất của việc tiếp biến văn hóa tùy thuộc vào hàng loạt yếu tố khách quan và chủ quan của mỗi bên tham gia tiếp xúc và giao lưu văn hóa”2
Qua phân tích và giải thích khái niệm ta thấy rằng từ “tiếp xúc” đến
“giao lưu” là một quá trình diễn ra hợp lý và có tính tất yếu Quá trình tiếp theo là giao lưu - tiếp biến văn hóa, ta nhận thấy “giao lưu” mang ý nghĩa ở
mức độ trao đổi và bắt đầu ảnh hưởng lẫn nhau để sinh ra những yếu tố văn hóa mới Hình thái giao lưu chưa cho thấy sự gắn bó và hòa hợp giữa hai chủ
thể Còn “tiếp biến” thì lại đạt đến mức đã hình thành và định hình các giá trị
văn hóa mới được biến đổi từ sự tiếp nhận những giá trị văn hóa ngoại lai
Như vậy, trong chuỗi hệ thống từ giao lưu - tiếp biến văn hóa cần có một khái
niệm mang nghĩa chuyển giao giữa hai hiện tượng này
2 Mai Văn Hai- Mai Kiệm (2009), Xã hội học văn hóa, Nxb ĐHQG, Hà Nội, tr.229
Trang 12Trong khi đó, khi khảo sát qua khái niệm Giao thoa giữa các sóng đến
từ hai điểm trong vật lý, người viết nhận thấy đây là hiện tượng nhiều luồng
sóng phát ra từ hai điểm, tạo thành những vùng sóng nhiễu xen vào nhau
Khái niệm “Giao thoa văn hóa” trong văn hóa cũng có sự tương đồng Đó là hiện tượng đụng độ, cọ sát và tác động lẫn nhau để sinh ra những giá trị văn hóa mới nhưng chưa định hình cụ thể Người viết mạnh dạn thêm vào chuỗi này cụm từ “giao thoa văn hóa” để có một chuỗi mới mô tả quá trình tác động của hai nền văn hóa là: tiếp xúc - giao lưu – giao thoa - tiếp biến văn hóa
Những hiện tượng này được sắp xếp theo quy trình tiến triển như sau:
TIẾP XÚC VĂN HÓA:
A- B
Các giá trị văn hóa
A của quốc gia, dân
tộc, nhóm người A
Các giá trị văn hóa
B của quốc gia, dân tộc, nhóm người B
GIAO LƯU VĂN HÓA:
A- B
GIAO THOA VĂN HÓA:A- B
TIẾP BIẾN VĂN HÓA:
A- B
Các giá trị văn hóa B của quốc gia, dân tộc, nhóm người B
B
Các giá trị văn
hóa A, A’ của
quốc gia, dân tộc,
nhóm người A
Trang 13- tiếp biến văn hóa luôn diễn ra một cách sinh động và có khuynh hướng vừa
tiếp thu tinh hoa thế giới, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc Quá trình này diễn ra khi văn hóa Việt gặp gỡ với cả văn hóa phương Đông lẫn phương Tây Với văn hóa phương Đông, ảnh hưởng sâu sắc nhất phải kể đến là văn hóa Trung Hoa Sau hàng ngàn năm, kết quả để lại là những biểu hiện trong các di sản văn hóa vô giá của dân tộc
1.1.2 Khái niệm “Di sản văn hóa”
Luật Di sản văn hóa được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/6/2001 quy định tại điều 1:
“Di sản văn hóa là sản phẩm văn hóa, tinh thần, vật chất của xã hội loài người và các di vật tiêu biểu, vật mẫu của giới tự nhiên có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác”
Luật này cũng nêu ra khái niệm về “di sản văn hóa vật thể”:
“Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”
Các di sản văn hóa vật thể luôn tồn tại dưới dạng vật chất và con người
có thể nhìn, sờ trong thực tế
Luật Di sản văn hóa cũng đã có định nghĩa về “di sản văn hoá phi vật thể” như sau:
“Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm văn hoá tinh thần có giá trị lịch
sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác”
Có thể nhận thấy rằng văn hóa phi vật thể đúng như tên gọi của nó không thể hiện hữu ra cái vật chất để ta nhìn thấy được mà thể hiện thông qua
Trang 14hoạt động của con người trong khoảng không gian, thời gian nhất định Hình thái biểu hiện của di sản này là các dấu hiệu ngôn ngữ nói như thơ văn, ca dao truyền miệng, hò vè,…; dấu hiệu ngôn ngữ âm thanh như ca, nhạc…; biểu hiện qua hành vi cư xử của cộng đồng như các phong tục, tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo,…; và các hình thái mang tính lai pha các hình thái trên như lễ, tết, lễ hội…Mỗi một hình thái như trên chứa đựng một giá trị riêng mang tính chiều sâu về bản sắc văn hoá truyền thống mà chủ nhân của nó chính là nghệ nhân, nghệ sĩ dân gian sáng tạo ra, truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác
1.2 Tổng quan về Đô thị cổ Hội An và Miếu Quan Công
1.2.1 Khái quát về đô thị cổ Hội An
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Hội An là đô thị cổ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa Thế giới năm 1999 Nằm ở vùng hạ lưu ngã 3 sông Thu Bồn thuộc vùng đồng bằng ven biển Tỉnh Quảng Nam, cách Thành phố Ðà Nẵng về phía Nam 28 km, Hội An giáp với Biển Đông về phía Đông, giáp với huyện Duy Xuyên về phía Nam và giáp với huyện Điện Bàn về phía Tây – Bắc, Hội An nằm ở vị trí trung độ của miền Trung đất nước, là vùng chuyển giao giữa hai đầu tổ quốc
Là “con mắt” để xứ Quảng nhìn ra biển, vị trí này thuận lợi cho việc xây
dựng cảng biển, giao thương với các thuyền buôn trong khu vực và thế giới
Ở vị trí đó, Hội An có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc giao thương buôn bán như một thương cảng lớn của xứ Đàng Trong thời kì trung đại, tạo cơ hội cho sự giao thoa với nhiều nền văn hóa lớn trên thế giới
Hiện tại Thành phố Hội An có tổng diện tích là 6.040 ha với dân số
83.000 người
1.2.1.2 Lịch sử hình thành
Hội An là đô thị cổ nổi tiếng ở Việt Nam, sự hình thành và phát triển của
đô thị này có một lịch sử khá lâu đời
Trang 15hóa Sa Huỳnh lớn ở khu vực miền Trung Tầng văn hóa Sa Huỳnh đã để lại nơi đây nhiều di chỉ có giá trị, cho thấy đây là nơi có điều kiện thuận lợi cho việc trở thành nền tảng phát triển của nhiều nền văn hóa
Kỉ nguyên Sa Huỳnh được thay thế bằng nền văn hóa Champa vốn được hình thành trên cơ sở tiếp thu văn hóa Ấn Độ của cư dân Sa Huỳnh Đóng đô
ở miền Trung trong khoảng thời gian nhiều thế kỉ, Vương Quốc Champa xem Hội An là của ngõ vươn ra biển để giao lưu thương mại và văn hóa với thế giới
Song song cùng sự tồn tại của Vương Quốc Champa là nước Đại Việt ở phía Bắc Năm 1306, vua Chămpa là Chế Mân dâng hai ô Châu Ô, Châu Lý cho vua Trần để làm lễ vật xin cưới công chúa Huyền Trân, từ đó vùng Đại Chiêm và Lâm Ấp phố thuộc về nhà Trần Năm 1307, vua Trần Anh Tông đặt tên cho hai vùng đất này là Thuận Hóa và Hóa Châu Vùng đất Hội An lúc đó thuộc phủ Triệu Phong, Hóa Châu (nay là huyện Điện Bàn, Quảng Nam)
Từ khi thuộc về lãnh thổ nhà Trần, Hội An được nhà nước phong kiến Đại Việt tạo điều kiện phát triển thành thương cảng buôn bán với các thuyền buôn đến từ khắp nơi trên thế giới: Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp,… Thế kỉ XVI- XVIII, Hội An nổi tiếng là trung tâm trung chuyển của con đường tơ lụa và con đường gốm sứ xuyên đại dương Người Hoa và Nhật đã xây dựng tại Hội An hai khu phố mang phong cách đặc trưng của đất nước mình, để lại cho Hội An di sản quý là chứng tích của một thời kì hưng thịnh
Giai đoạn Pháp sang xâm lược Việt Nam, người Pháp đã xây dựng Hội
An thành tỉnh lị của tỉnh Quảng Nam, để lại nơi đây nhiều công trình kiến trúc
có giá trị
Sau khi đất nước được thống nhất năm 1975, Hội An trở thành huyện của tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng Năm 1997, khi Quảng Nam và Đà Nẵng được tách thành hai tỉnh riêng biệt thì Hội An trở thành thị xã của tỉnh Quảng
Trang 16Nam Năm 1999, Hội An được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thể giới Năm 2009, Hội An được công nhận là thành phố loại 3 của tỉnh Quảng Nam
1.2.1.3 Kinh tế - Chính trị
Xứ Quảng có địa hình khá đa dạng: núi, đồng bằng, thung lũng, biển,…thuận lợi cho việc đa dạng nguồn sản vật gồm khoáng sản, nông – lâm – thủy sản để cung cấp cho cảng biển quốc tế Hơn nữa vị trí trung độ với sự thuận lợi trong việc vận chuyển hàng hóa Bắc - Nam về miền Trung tạo điều kiện cho việc xây dựng Hội An thành một cảng biển phát triển, nhất là cung cấp hàng hóa cho thương gia nước láng giềng Trung Quốc
Về chính trị, Hội An của xứ Quảng có vị trí là vùng đệm của kinh thành Huế Chúa Nguyễn muốn xây dựng một cảng biển không quá gần kinh thành như Thanh Hà nhưng cũng không quá xa như Quy Nhơn, Phố Hiến,… vừa phát triển thương nghiệp cho việc kinh doanh của các chúa, vừa đảm bảo tính
an toàn về quân sự nên Hội An trở thành lựa chọn của triều đình Đàng Trong Sau những đợt di cư của người Hoa, chúa Nguyễn đưa nhóm dân di cư là thương gia, nho sĩ, thợ thủ công về Hội An cũng là vì mục đích bình ổn chính trị, phục vụ cho phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục của chính quyền Đàng
Trong
1.2.1.4 Đặc điểm dân cư
Những yếu tố về địa lý, lịch sử hình thành, kinh tế - chính trị nói trên đều là những điều kiện thuận lợi cho sự giao thoa văn hóa Việt – Hoa tại Hội
An Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất phải kể đến là đặc điểm dân cư Khảo sát về vấn đề này, người viết muốn làm rõ thêm về vai trò của nhân tố con người trong hiện tượng giao thoa văn hóa ở Miếu Quan Công nói riêng và Đô thị cổ Hội An nói chung
Hội An nằm trong tiểu vùng văn hóa xứ Quảng và là đại diện tiêu biểu cho tiểu vùng văn hóa này Song song với quá trình vùng châu thổ sông Hồng
và Nam Bộ bước vào thời kì hình thành tộc người và nhà nước với sự phát
Trang 17hòa đồng văn hóa với nền tảng là văn hóa Sa Huỳnh – tiền Chămpa, chịu ảnh hưởng bởi những nền văn hóa lân cận như Việt cổ, Trung Hoa, Ấn Độ Với lịch sử phát triển lâu dài có nền tảng đa văn hóa như trên, tại Hội An diễn ra
sự gặp gỡ và hòa đồng đa chủng tộc
Sau thế hệ cư dân của nền văn hoá Sa Huỳnh và Chămpa, trên mảnh đất hội thuỷ, hội nhân này lần lượt có những lớp cư dân di cư đến do những biến động lịch sử giữa chính quyền phong kiến Đại Việt và Đàng Trong
Hầu như cư dân di cư đến Hội An một phần là cư dân đồng bằng Bắc
Bộ, còn lại chủ yếu có nguồn gốc ở vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh Dân trong các đoàn di cư này hầu như là nông dân nghèo, thợ thủ công, dân lưu đày,… Họ đến vùng đất này chủ yếu vì mục đích tìm kiếm một môi trường sống mới có điều kiện về sở hữu ruộng đất, ít cạnh tranh làng xã, do đó họ không bảo thủ trong việc tiếp thu văn hoá ngoại
Đại diện đối tác của sự giao thoa văn hoá Việt – Hoa với cư dân bản địa Hội An là cư dân người Hoa Di dân Trung Quốc đến Hội An từ rất sớm, song điểm mốc cho những ảnh hưởng sâu sắc nhất của văn hoá Hoa tại vùng đất này là từ khi có người Minh Hương đến lập làng, lập nghiệp Cuộc di dân của người Minh Hương được Chúa Nguyễn Phúc Lan cai quản xứ Đàng Trong lúc bấy giờ rất quan tâm vì nhóm cư dân này đến đây trong lúc tình hình chính trị ở Trung Quốc rất bất ổn Nhà Thanh lật đổ nhà Minh vào năm 1644,
sự hoán đổi mang tính lịch sử này dẫn đến những biến động lớn trong xã hội Trung Quốc vì nhà Minh đã tồn tại hơn 300 năm (1368-1644) và gốc rễ tư tưởng đã ăn sâu vào nhiều tầng lớp nhân dân nhất là tầng lớp quý tộc phong kiến, vua quan, binh tướng…Tháng 8 năm 1645, triều đình Mãn Thanh ra
lệnh “chi phát nghiêm chỉnh”, bắt dân cắt tóc và theo tục người Thanh bím
tóc đuôi sam Nhà Thanh cũng thi hành nhiều chính sách cai trị độc đoán, hà khắc nhất là đối với những người còn tư tưởng trung thành với nhà Minh Những người bất mãn với chế độ cai trị Mãn Thanh đã dời bỏ đất nước ra đi,
Trang 18tìm đến những vùng đất khác để lập nghiệp, trong đó có Đàng Trong của Đại Việt Di dân lúc này chủ yếu là nạn dân, trong đó có một số ít thương nhân và các sĩ phu nên được Chúa Nguyễn rất tận dụng, cho về Hội An định cư để giúp phát triển thương nghiệp tại cảng thị này
Các tài liệu sử học còn lại cho thấy Hội An là nơi đầu tiên thành lập làng Minh Hương trên cả nước Chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) là người đã ban sắc chỉ thành lập làng Minh Hương:
“…Thừa nhận Minh Hương xã do các người di cư của nhà Minh tổ chức thành nơi cư địa tập trung của họ và nhập tịch làm biện dân…Coi như đồng bào quý hóa”
Bia kí tại Tụy Tiên Đường làng Minh Hương còn ghi lại cho biết sắc chỉ này cho thành lập 36 làng Minh Hương trên cả nước và làng đầu tiên được lập chính là làng tại Hội An
Tại Miếu Quan Công còn có tấm sắc phong với dòng chữ:
“Khánh Đức Quý Tỵ niên cốc đán thư tam giới phục ma đế
Sắc phong
Thần oai viễn chấn Thiên Tôn Minh Hương viên quan các chức đồng lập xã”
Theo nghiên cứu của Nguyễn Phước Tương trong “Làng Minh Hương
và sự phát triển kinh tế, giao lưu văn hoá, của cảng thị Hội An trong thế kỉ XVII- XIX” thì “…xã Minh Hương được thành lập vào khoảng năm 1640 cho đến năm 1653 mới ổn định…”
Thy Hảo Trương Hương Dy viết trong “Vai trò làng Minh Hương qua quá trình hình thành phố cổ Hội An” cho rằng “…làng Minh Hương có thể lập vào năm 1645…”
Căn cứ vào mốc thời gian xảy ra sự kiện nhà Thanh ra lệnh “chi phát nghiêm chỉnh” dẫn đến hiện tượng di dân; thời gian Chúa Nguyễn Phúc Lan
trị vì Đàng Trong trong từ 1635 -1648 và những di chỉ văn bia, sắc phong còn
Trang 191653 thì ổn định
Làng Minh Hương là cộng đồng làng của người Minh di tản đến Đại
Việt và tự nguyện nhập quốc tịch Đại Việt Chữ “Minh” được cư dân ở đây lấy từ tên của triều Minh để tưởng nhớ về nguồn gốc của mình, chữ “Hương”
có nghĩa là “Thơm” Từ Minh Hương lúc này trọn nghĩa là làng của người
gốc nhà Minh di cư đến Đại Việt, tuy sống trên đất khách quê người nhưng vẫn giữ hương thơm, hương hỏa của tổ tông, đất nước Lấy tên người làng Minh Hương cũng là để phân biệt cư dân Trung Quốc đến buôn bán hằng năm
tại Hội An gọi là Khách Trú Tuy nhiên, theo bài viết “Làng Minh Hương, phố Thanh Hà” của Trần Kính Hòa thì đến năm Minh Mạng thứ 8 (1827) thì chữ “Hương” được viết lại với nghĩa là “Làng” Như vậy Minh Hương nghĩa
là làng của người Hoa triều Minh di cư sang Việt Nam
Những người Hoa này khi di cư rời khỏi đất nước là xác định tìm kiếm một vùng đất mới, thoát khỏi vòng kiểm soát của chính quyền phong kiến nhà Thanh nên họ xác định lập nghiệp, sinh sống yên ổn tại Hội An Họ mang ơn chính quyền sở tại tạo điều kiện cho cuộc sống mới của họ, hơn nữa họ cũng muốn chính làng xã mình được phát triển nên đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục của địa phương Họ mang theo đến vùng đất mới những phong tục văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc mình như chỗ dựa tinh thần khi xa quê cha đất tổ Tuy nhiên, họ vẫn sẵn sàng tiếp nhận những giá trị văn hóa bản địa, tạo nên sự hòa điệu với bản sắc văn hóa người Việt, và những di tích còn lại trên mảnh đất Hội An chính là minh chứng rõ nhất cho sự giao thoa này
1.2.1.5 Quá trình giao thoa văn hóa Việt – Hoa tại đô thị cổ Hội An Như người viết đã phân tích ở phần tìm hiểu về khái niệm “giao thoa văn hóa”, những giá trị văn hóa là kết quả của sự trao đổi văn hóa Việt – Hoa
tại Hội An vượt trên mức độ giao lưu song chưa đạt đến mức hình thành một hình thái văn hóa mới thì vẫn còn đang ở giai đoạn giao thoa Sự giao thoa
Trang 20văn hóa luôn cần một quá trình lâu dài với sự tiếp xúc bởi nhiều điều kiện xúc tác thuận lợi Căn cứ vào lịch sử hình thành của Hội An, lịch sử giao lưu văn hóa giữa Hội An với các nước trong khu vực và trên thế giới, người viết đã lập bảng về quá trình giao thoa văn hóa tại đô thị cổ Hội An:
Trang 21Thời gian Thời kì
Tình hình trao đổi văn hóa Di tích tại Hội An Việt Nam Trung Quốc
Thế kỉ I- II
TCN
Văn hóa Sa Huỳnh
Nhà Hán Sự giao lưu buôn bán giữa cư dân
bản địa với các thuyền buôn các nước trong khu vực và thế giới trong đó có nhà Hán
Di tích khảo cổ học đã tìm được di tích tiền đồng Trung Quốc: Ngũ Thù, Vương Mãng; gốm có hình hoa văn kiểu ô vuông thời Hán; hiện vật sắt kiểu Tây Hán dáng dấp Đông Sơn (phía Bắc)
Thế kỉ II –
XIII
Nhà Hán đô
hộ ở phía Bắc – Phía Nam là Văn hóa Chăm-
pa
Nhà Hán - Người Champa ở Tượng Lâm nổi
dậy đánh Hán thành lập nhà nước Lâm Ấp
- Quan hệ Trung Quốc – Champa thông qua giao thương và di dân từ Trung Quốc sang
- Những di tích khảo cổ trong đợt điền dã 89 khai quật thăm dò ở Cẩm
Hà –Chùa Âm Bổn – Trung Đường, Bến Cồn Chăm – Thanh Chiêm – Trà Kiệu về thời kì này cho thấy có xuất hiện tại Hội An gốm sứ Trung Quốc
- Tài liệu, thư tịch cổ Trung Quốc Thế kỉ Nhà Lý – Nhà Tống – Cư dân ven biển từ Phúc Kiến tới Vùng Cửa Đại – Trung Phường có
Trang 22XIII- XVII Trần – Lê ở
phía Bắc, phía Nam là Vương quốc Champa
Minh Quảng Đông đến giao lưu buôn bán
Cuối Minh, đầu Thanh
Sự giao lưu, giao thoa văn hóa diễn
ra mạnh mẽ sau sự kiện Nhà Thanh lật đổ Nhà Minh:
chiến Đài Loan “Phản Thanh phục
Thành lập làng Minh Hương, xây dựng Miếu Quan Công
Trang 23Minh” nên Trịnh Thành Công phải
đưa các thương thuyền đến nhiều nước ở Đông Nam Á, trong đó có Đàng Trong để mua lương thực, khí tài Đến khi phong trào kháng chiến ở Đài Loan tan vỡ (1683), các di thần nhà Minh đã kéo nhau
ra đi, đến Đàng Trong định cư lâu dài Tiêu biểu là đoàn người 3000 binh lính với trên 50 chiến thuyền của Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch
Thế kỉ XIX Nhà
Nguyễn
Cuối Thanh Sau sự kiện chiến tranh thuốc phiện,
cư dân từ Ngũ Bang (Phúc Kiến, Gia Ứng, Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nam) di dân sang Hội An định
cư lập nghiệp
Thành lập các Hội quán, đình chùa…của Ngũ Bang người Hoa
Trang 24Qua bảng trên, người viết có những nhận xét về quá trình giao thoa văn hóa Việt – Hoa tại Hội An như sau:
- Quá trình tiếp xúc – giao lưu - giao thoa – tiếp biến văn hóa Việt – Hoa
diễn ra trong một thời gian lâu dài, trải qua nhiều biến động lịch sử Điều kiện
cho sự giao lưu văn hóa là gặp gỡ tiếp xúc bằng con đường buôn bán, giao thương, di dân và đặc biệt là những biến động lịch sử dẫn đến di cư số lượng lớn đến Hội An lập nghiệp, tạo điều kiện cho sự thẩm thấu mạnh hơn văn hóa Hoa trong nền văn hóa Việt
- Dòng cư dân đến buôn bán và di cư đến Hội An thuộc các tầng lớp thương gia, dân làm nghề tự do còn binh lính, sĩ quan, nho sĩ đều là dân “chạy nạn”, không hoàn toàn trung thành với “chính triều” Thanh lúc bấy giờ ở Trung Quốc nên không có tư tưởng phản động và ý đồ chính trị Họ đến Hội An với mục đích sinh sống, thậm chí có xu hướng ổn định và góp phần thúc đẩy sự
phát triển kính tế, văn hóa, giáo dục tại địa phương Chính vì thế yếu tố văn hóa
mang đến Hội An của người Hoa mang tính “hồn nhiên” và tự phát, dần dần khi đời sống đã ổn định thì họ sẵn sàng tiếp nhận các yếu tố tín ngưỡng của người Việt bản địa
- Sự giao thoa văn hóa Việt – Hoa tại Hội An có sự tác động của yếu tố
chính trị từ nhà nước phong kiến Hai đợt di dân lớn thời Thanh đều được Chúa
Nguyễn Đàng Trong và nhà Nguyễn tạo điều kiện Điều này không chỉ thể hiện lòng nhân ái, sẵn sàng giúp đỡ dân tị nạn của các vua chúa mà còn có sự tác động của yếu tố chính trị
- Miếu Quan Công được xây dựng trong khoảng thời gian văn hóa Đại Việt chuyển vào miền Trung, không còn ở kinh thành Thăng Long ở Bắc Bộ nữa Không gian văn hóa bản địa của Hội An lúc này lại mang yếu tố của một cảng thị quốc tế sầm uất, người Hoa xây dựng nên Miếu Quan Công mang với
Trang 25mục đích cầu cho buôn bán thuận lợi nên Miếu Quan Công trở thành một di
tích kết tinh được các yếu tố Việt – Hoa vừa bác học vừa dân gian, vừa tôn giáo vừa tín ngưỡng, vừa có dấu ấn mãi thương vừa đặc sắc các giá trị văn hóa truyền thống
1.2.2 Khái quát về Miếu Quan Công
1.2.2.1 Vị trí di tích
Miếu Quan Công nằm tại số 24 đường Trần Phú, trên ngã ba Trần Phú - Nguyễn Huệ, thuộc khu vực I phường Minh An, thành phố Hội An Mặt trước của Miếu hướng về phía Nam, đối diện chợ Hội An, khu chợ có dòng sông Hoài chảy qua Phía sau Miếu là Chùa Quan Âm được xây dựng cùng thời với Miếu Hiện tại Chùa Quan Âm được chuyển thành Bảo tàng Lịch sử - Văn hóa Hội An
do Trung tâm Quản lý, bảo tồn di tích Hội An quản lý
1.2.2.2 Tín ngưỡng thờ Quan Vân Trường
Tôn giáo tín ngưỡng chính là cái nôi nuôi dưỡng đời sống tinh thần của cư dân bất cứ dân tộc nào Soi rọi qua cái nôi đó chúng ta có thể thấy được những khía cạnh khác thuộc về văn hóa của mỗi vùng, mỗi địa phương Khảo sát về Miếu Quan Công, điều mà người viết lưu tâm chính là tín ngưỡng thờ Quan Vân Trường
Về căn bản, tín ngưỡng thờ Quan Vân Trường là tín ngưỡng dân gian của dân tộc Trung Hoa do người Hoa Minh Hương mang sang Việt Nam
“Tín ngưỡng dân gian là sự phản ánh về một tư tưởng, trình độ phát triển nhất định của nền sản xuất vật chất và thể hiện sự bất lực của của người nguyên thủy trước hoàn cảnh tự nhiên và xã hội bao quan họ”3
3 Võ Thanh Bằng (2005), Tín ngưỡng dân gian của người Hoa Nam Bộ, Luận án TS Lịch sử, Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ, Tp Hồ Chí Minh, tr.21
Trang 26Trước sự bất lực đối với tự nhiên và xã hội, con người tìm chỗ dựa tinh thần ở các thế lực thần thánh siêu nhiên Đó chính là sự ngưỡng vọng vào cái thiêng liêng, nơi con người nhận được sự bảo trợ an toàn nhất
Cũng là “niềm tin” vào “cái thiêng” nhưng tôn giáo và tín ngưỡng khác
nhau Tín ngưỡng không có hệ thống giáo lý, thần điện, nghi lễ, giáo hội và mang tính dân gian, gắn với sinh hoạt dân gian
cúng tổ tiên; tín ngưỡng vòng đời người; tín ngưỡng nghề nghiệp; tín ngưỡng thờ thần
Trong các loại hình trên thì tín ngưỡng thờ thần mang tính chất cộng đồng nhiều hơn Thần ở đây có thể là thần vô hình hoặc hữa hình, có thể là con người hoặc đồ vật, con vật Con người hữu hình được thờ ở đây là những người anh hùng, vua chúa có công với dân, với nước, với làng bản Khi họ mất đi, nhân dân ngưỡng vọng tôn thành thần thánh và lập đền miếu để thờ
Hiện nay tại Hội An có nhiều thiết chế tín ngưỡng khác nhau được phân thành nhiều loại:
- Thiết chế tín ngưỡng của cộng đồng làng xã có đình, nhà thờ, Miếu Âm linh, chùa làng, ;
- Thiết chế tín ngưỡng theo nghề nghiệp có Lăng Ông, Miếu Thần Nông, Miếu thờ tổ nghề,…
- Thiết chế tín ngưỡng theo địa, giáp, phe: Miếu Ngũ hành, Miếu Bà, Lục
Trang 27- Một số thiết chế tín ngưỡng khác như: Miếu Quan Công, Miếu Văn chỉ, Miếu thờ thần Bắc Đế Trấn Võ, Miếu thờ Bà Thiên Hậu
Trong đó, Miếu Quan Công được xem là miếu thờ lớn nhất và duy nhất chung cho tín ngưỡng của cả cộng đồng dân cư, không phân biệt dân tộc, phe giáp, lứa tuổi, nghề nghiệp
Miếu Quan Công thờ Quan Vân Trường - một vị tướng thời Tam quốc của Trung Quốc, thường được lấy làm tấm gương về lòng trung hiếu tiết nghĩa dưới thời phong kiến
Quan Công (162-220) nguyên họ là Thi, tên thật là Thọ Xương, người làng Giải Lượng, Châu Bồ, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc Sau ông đổi tên là Võ (hay Vũ), hiệu là Vân Trường Dân gian còn gọi là Trừng Hán Cung
Ông là người đã góp công lớn vào việc thành lập nhà Thục Hán, với vị hoàng đế đầu tiên là Lưu Bị Ông cũng là người đứng đầu trong số ngũ hổ tướng của nhà Thục Hán, bao gồm: Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Hoàng Trung và Mã Siêu Ông là anh em kết nghĩa với Lưu Bị và Trương Phi
Trong tác phẩm “Tam Quốc diễn nghĩa”, với quan điểm của một nhà viết
tiểu thuyết có khuynh hướng cổ suy nhà Hán, La Quan Trung đã xây dựng Quan Vũ thành một nhân vật tướng tài ngời ngời Trung – Tín – Tiết – Nghĩa Ông là tướng có tài của Lưu Bị Trong suốt thời gian ngoài trận mạc, Quan
Vũ đã chém 17 viên tướng, lập nhiều công trận cho nhà Hán Với ngoại hình khác thường: cao chín thước, mặt đỏ như gấc, mắt phượng mày tằm, râu dài hai thước, oai phong lẫm liệt; mỗi khi ra trận, Quan Vũ để lại nỗi khiếp sợ và nể trọng trong lòng kẻ địch Chuyện Quan Vũ trị Lỗ Túc khi bị đến hội ở Lục Khẩu để suýt mất Kinh Châu hay chuyện Hoa Đà cạo xương Quan Vũ vì bị nhiễm độc từ tên của Tào Nhân trong lúc Quan Vũ vẫn đánh cờ chuyện đều khiến hậu thế khâm phục tài năng và dũng khí phi thường của ông
Trang 28Điều đáng khâm phục hơn ở con người này chính là lòng trung thành và tín nghĩa Trong lần Tào Tháo cố ý sắp đặt cho Quan Vũ và hai bà vợ Lưu Bị ở cùng một phòng để ông mắc lỗi đạo với Lưu Bị và không trở về với họ Lưu được nữa, Quan Vũ đã đứng cầm đuốc bên ngoài canh gác suốt đêm cho tới sáng khiến Tào Tháo rất khâm phục Chính Quan Vũ cũng lại là người tha cho Tào Tháo để trả ơn đối đãi của Tào Tháo khi đã trở về với Lưu Bị Những hành động đó cho thấy lẽ sống hết lòng vì chữ Tín, một trong những đức tính quan trọng mà người quân tử trong xã hội nào cũng phải có
Với những thần tích như thế, Quan Công đã được người Hoa tôn sùng và lập đền thờ ở nhiều nơi Tào Tháo là người đầu tiên dựng am thờ Quan Vũ, ngay tại quận Tiêu nước Bái quê mình – đó chính là am Linh Thổ Do ảnh
hưởng từ tiểu thuyết “Tam Quốc diễn nghĩa”, hình tượng ông càng trở nên thần
thánh trong sự ngưỡng mộ của nhân dân, việc thờ Quan Vũ có ảnh hưởng sâu rộng trong dân gian Ông được nhân dân Trung Quốc thờ như Thần độ mạng; giới thương nhân coi ông như thần tài; giới nho sĩ coi ông như thần văn học (tượng Quan Vũ trên 1 tay có cầm Kinh Xuân Thu); giới quân sự coi ông như vị thần bảo vệ bản mệnh Trên bước đường lưu lạc, người Hoa càng coi Quan Vũ
là chỗ dựa tinh thần, bảo vệ họ nơi đất khách quê người
1.2.2.3 Nguồn gốc hình thành
Người Hoa Minh Hương mang trong tâm thức ý nghĩ của những người con lưu lạc và bị mặc cảm trước nhiều thế lực đe dọa từ thiên nhiên và xã hội Khi đi đến đâu họ cũng xây dựng tại nơi sinh sống các thiết chế tín ngưỡng thờ những vị thần của dân tộc mình Bà Thiên Hậu, Quan Công, Bà Chúa Tiên, Khổng Tử,…chính là chỗ dựa tinh thần cho họ trong quá trình sinh sống, lập nghiệp, kinh doanh,…Trong đó Quan Công là vị thần lý tưởng đại diện cho người quân tử, chính trực, có nghĩa khí Phẩm chất của vị anh hùng này cần
Trang 29thiết cho việc giáo dục đạo đức và phù độ công việc kinh doanh của người Hoa
ở hải ngoại Người Hoa thờ Quan Công trong cộng đồng và trong gia đình mình
Khi người Hoa Minh Hương di cư đến Hội An, nhóm cư dân này đã xây dựng tại nơi sinh sống Miếu thờ Quan Công Thời gian đầu, khi người Hoa đến sống ở Thăng Bình rồi chuyển đến Trà Nhiêu, họ xây Miếu Quan Công tại đây
Về sau khi chuyển đến làng Minh Hương thì mới xây dựng Miếu cố định Căn
cứ vào những phân tích trên ta biết được làng Minh Hương được thành lập năm
1645 đến năm 1653 thì ổn định Làng ổn định khi các thiết chế dân sinh và tín ngưỡng phục vụ cho hoạt động của cư dân trong làng được xây dựng hoàn chỉnh Mặt khác, căn cứ vào tấm bảng sắc phong của Chúa Nguyễn đặt trước Miếu thì có thể xác định Miếu được xây dựng vào năm 1653
Miếu Quan Công là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cư dân người Hoa, về sau cả cư dân bản địa cũng đến đây để cúng viếng
1.2.2.4 Hoạt động tại di tích
Miếu Quan Công là cơ sở hoạt động tín ngưỡng của cư dân Hội An và được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1985 Hiện nay, tại di tích diễn ra 2 hình thức hoạt động chính là hoạt động tín ngưỡng và hoạt động du lịch
Hoạt động tín ngưỡng tại Miếu Quan Công gồm lễ lệ và lễ hội Lễ lệ là lễ vào ngày mồng 1 và 15 Âm lịch hằng tháng Lễ hội là lễ tổ chức vào ngày 15 tháng Giêng Âm lịch, ngày Vía Quan Công 24/6 Âm lịch, ngày Vía Quan Bình 13/5 Âm lịch, ngày Vía Châu Thương vào 20/10 Âm lịch
Miếu Quan Công còn thờ Bà Thiên Hậu (hay còn gọi là Bà Chúa Tiên) và Đức Khổng Tử Bà Thiên Hậu là vị thần phù hộ kinh doanh cho người Hoa còn Khổng Tử là người sáng lập Nho Giáo Hoạt động thờ cúng hai nhân vật này tại
Trang 30Miếu là sự kết hợp có tính chủ ý của người Hoa Họ đến với Miếu vừa để cầu xin tài lộc từ Quan Công và Bà Thiên Hậu vừa để soi sáng lòng mình, thể hiện lòng tôn kính đối với truyền thống đạo đức của dân tộc mình qua hình tượng Quan Công và Khổng Tử
Hoạt động du lịch tại di tích lịch sử là hình thức kết hợp quảng bá du lịch với việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc theo chủ trương của Đảng
và nhà nước ta Từ năm 1988, Miếu Quan Công mở cửa đón khách du lịch thập phương đến tham quan trong tour du lịch Hội An Khách du lịch có thể đến tham quan vào ban ngày của tất cả các ngày trong năm
Các hoạt động trên tạo điều kiện cho việc gìn giữ và phát huy tốt các giá trị văn hóa vô giá tại Miếu Quan Công, trong đó có những thành tựu của sự giao thoa văn hóa Việt – Hoa
Trang 31CHƯƠNG 2 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA SỰ GIAO THOA VĂN HÓA VIỆT – HOA
TẠI MIẾU QUAN CÔNG
2.1 Sự giao thoa văn hóa biểu hiện trong tên gọi của di tích
Miếu Quan Công là tên gọi do các nhà nghiên cứu và du khách thập
phương đặt cho ngôi Miếu thờ Quan Vân Trường ở Hội An Ngoài ra Miếu còn
có những tên khác như Trừng Hán Cung, Chùa Ông Tên gọi Trừng Hán Cung được đặt theo tên của vị anh hùng Tên Chùa Ông do người dân địa phương và
nhà quản lý gọi, là sự độc đáo đáng chú ý thể hiện sự giao thoa văn hóa Việt – Hoa rất chủ động tại ngôi Miếu này
Trước hết, chúng ta cần có sự phân biệt giữa đền, miếu và chùa Theo quan niệm của người Việt, đền là nơi thờ những nhân vật lịch sử đã được thần thánh hóa Miếu là ngôi đền nhỏ, không phải là nơi thờ các vị thần lớn, tuy nhiên trong một số trường hợp cụ thể thì Miếu lại là nơi có những hoạt động văn hóa lớn của cộng đồng như Văn Miếu, Võ Miếu (Hà Nội) Còn chùa là nơi thờ Phật của Phật Giáo
Trong khi đó, người Hoa lại gọi cả nơi thờ thần và nơi thờ Phật là Chùa
Đó là lý do người Hoa gọi Miếu Quan Công là Chùa Ông
Tên gọi Chùa Ông là do người Hoa đặt còn để phù hợp với tín ngưỡng bản địa Khi người Hoa đến với vùng đất này thì ngoài các tín ngưỡng bản địa và tôn giáo chính là Phật Giáo thì chưa có một tôn giáo nào có ảnh hưởng lớn Với tín ngưỡng bản địa (thờ thần Cá Voi, thờ Âm hồn), người Hoa chưa thể tiếp cận
dễ dàng và hòa nhập thuận lợi Với tôn giáo thì lại khác, người Hoa cũng có khuynh hướng Phật giáo và sùng đạo Phật Giáo lý và đạo đức Phật giáo gần gũi với tinh thần phương Đông và đó là dấu nối trong đời sống tâm linh của những người Hoa vừa mới đến lập nghiệp với người Việt Khi người Hoa đến
Trang 32Hội An, họ đã nhanh chóng xây dựng nhiều ngôi chùa lớn như chùa Chúc Thánh (thế kỉ XV), chùa Mụ (do Thập Lão người Hoa xây dựng vào thế kỉ XVII) Những ngôi chùa này trở thành nơi sinh hoạt tôn giáo của không chỉ người Hoa mà cả người Việt Trong khi đó Miếu Quan Công thờ một vị thần tận đất nước Trung Hoa, vị thần hoàn toàn xa lạ với người Việt bản địa Quá trình sinh sống tại đây đã khiến người Hoa muốn có sự hòa nhập với đời sống tín ngưỡng bản địa, gia nhập vị thần của dân tộc mình vào hệ thống đa thần của người Việt Người Hoa đã chọn cách gọi Miếu là Chùa để tạo cảm giác thân
thiện và gần gũi Phật giáo “Chùa” không thờ Phật mà được gọi là Chùa là vì
vậy
Mặt khác, tên gọi “Chùa” gắn liền với một hiện tượng tôn giáo, tín
ngưỡng rất phổ biến ở Việt Nam: sự hòa nhập của Phật giáo vào tín ngưỡng Khi Phật giáo đến Việt Nam thì nước ta chưa hề có một tôn giáo chính thống nào, đời sống tâm linh người Việt hoàn toàn do các vị thần, thánh trong tín ngưỡng bản địa bảo bọc, che chở Quá trình tồn tại trên đất nước Việt Nam đã khiến đạo Phật nhận ra rằng cần phải biến đổi để phù hợp với văn hóa tín ngưỡng bản địa Đó là lý do trong Chùa thờ Phật dần dần xuất hiện những bàn thờ thánh Mẫu, Đức Thánh Trần, Bà Chúa Xứ,…Theo thời gian, nhân dân không còn phân biệt Chùa, Đền, Miếu mà xem đó là nơi thờ những đấng linh thiên cần phải tôn kính và ngưỡng vọng Theo sử cũ chép lại thì vào thế kỉ XVII, Hòa thượng người Hoa Thạch Liêm Thích Đại Sán được Chúa Nguyễn mời đến Phú Xuân lập chùa và truyền đạo Phật đã đến Hội An vào tháng 8/1695 Trước khi quay về nước, hòa thượng đã sống tại Trừng Hán Cung để đợi thuyền chờ gió mùa Đông Nam (tháng 8) Điều đó càng cho thấy sự quan tâm của nhà sư đến tín ngưỡng thờ Quan Công của người dân Hội An Người
Trang 33Hoa cũng dựa vào những yếu tố đó để khiến tên gọi Chùa Ông trở nên thân thiện và gần gũi
Về chữ “Ông”, đó trước hết là cách gọi tôn kính của người Hoa dành cho
vị thần của dân tộc mình “Ông”thể hiện sự linh thiêng, to lớn và kì vĩ, thiên về tính “dương”, giống “đực” hay chính là sức mạnh trong quan niệm của cả
người Hoa và người Việt Người Hoa gọi Chùa Ông là tương xứng với Chùa Bà thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu – một vị thần quan trọng cũng phù độ cho cư dân Hoa di cư như Quan Vân Trường Đặc biệt, người Việt phía Bắc cũng có tín ngưỡng thờ Ông – là những vị nam thần có công với dân với nước như Vua Hùng, Thần tản Viên, Đức Thánh Trần,…Cách gọi này càng khiến Quan Vân
Trường không còn xa lạ với người dân bản địa và việc đi cúng lễ ở một “Chùa” thờ “Ông” dần trở thành sự kết nối trong sinh hoạt văn hóa tinh thần người Hội
An Hiện tượng này cũng xuất hiện ở các tỉnh Nam Bộ - nơi tập trung đông nhất
cư dân người Hoa sinh sống Họ xây dựng Miếu Quan Công và Miếu Bà Thiên Hậu ở những nơi mà cộng đồng mình an cư lập nghiệp, dần dần người dân địa phương cũng đến đó thờ cúng như vị thần của dân tộc mình Có thể nói, ngay trong cách gọi tên ngôi Miếu chúng ta đã nhận thấy một tinh thần hòa nhập và giao thoa văn hóa rất tích cực của cả người Hoa và người Việt không chỉ ở Hội
An mà trên mọi vùng đất mà người Hoa đặt chân đến
2.2 Sự giao thoa văn hóa biểu hiện trong các di sản văn hóa vật thể 2.2.1 Kiến trúc
2.2.1.1 Cấu trúc
Miếu Quan Công được xây theo kiểu chữ khẩu Miếu gồm có bốn toà nhà, một tiền đình, hai tả hữu vu, giếng trời và một chính điện Kiểu cấu trúc này được du nhập từ Trung Quốc và đã đã được xây dựng nhiều trong các công trình đền, miếu tại Việt Nam
Trang 34Trong kiểu cấu trúc này thì điểm đặc sắc đáng chú ý là sân trời Sân trời là khoảng trống lộ thiên các tác dụng làm cho miếu sáng sủa và thông thoáng Trước đây, chỗ sân trời của miếu chỉ là khoảng đất trống, có trang trí cây cảnh,
du khách thưởng ngoạn có thể đi lại giữa hai nhà Đông – Tây thông qua sân trời này Kiểu cấu trúc sân trời không xuất phát từ Việt Nam mà gốc từ Trung Quốc Người Trung Quốc xây nhà theo lối đối xứng, bốn gian cùng quay về hướng sân trời ở giữa để tránh gió rét, nắng nóng và lấy không khí thoáng đãng cho cả khu nhà Trong kiến trúc miếu, đình, đền, chùa; người Hoa (nhất là Hoa Nam) cũng lấy mô hình này làm mẫu mực
Việc xây dựng hồ nước trong sân trời là dụng ý của những người tu bổ miếu nhằm làm cho cảnh quan miếu thêm sinh động, đồng thời tạo sự hài hòa
về mặt phong thủy Hồ nước là yếu tố thủy, sự tích thủy trong Miếu chính là tích phúc, lộc Trong hồ nước có xây hòn non bộ và dựng lại các hoạt cảnh kể chuyện về Quan Công Ta nhận thấy trong cấu trúc này có dương trong âm, âm trong dương, thể hiện sự hài hòa, phát triển và thịnh vượng Đáng chú ý là trên
hòn non bộ có dựng lại những hoạt cảnh kể lại tích cũ Quan Công Cảnh “Kết
nghĩa vườn đào” kể lại chuyện anh em nhà Lưu Bị- Quan Công- Trương Phi
kết nghĩa anh em, ca ngợi tình bằng hữu của ba vị anh hùng nhà Hán Cảnh
“Quan Công phò hai chị” trong đó Quan Công cưỡi ngựa Xích Thố hộ tống chị
dâu ngồi trên xe ngựa từ Hứa Xương đến Lữ Nam để gặp lại Lưu Bị Cuối cùng
là cảnh “Quan Công bắt Tào Tháo và tha tào Tháo” tả Quan Công đang ngồi
trên con tuấn mã, vũ khí cầm trong tay và Tào đang quỳ dưới chần ngựa vị
tướng Tất cả những cảnh này đều thể hiện chữ “Nghĩa”, chữ “Trung” và chữ
“Tín” vốn được người đời ca ngợi ở Quan Vân Trường
Từ năm 1987 đến nay, người làm thủ từ tại Miếu Quan Công là ông Lê Nguyễn (1936), người phường Minh An, gốc Việt Hồ nước được xây dựng
Trang 35trong khoảng thời gian này cho thấy chính người Việt bản địa là người tiếp thu những tinh hoa kiến trúc Trung Hoa và tiếp tục kết hợp nó cùng các yếu tố bản địa để dần dần hoàn thiện Miếu
2.2.1.2 Vì kèo
Mỗi một vùng đất có đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu và phông văn hóa riêng nên trong cách kiến trúc nhà cửa của mỗi vùng cũng sẽ có khuynh hướng khác nhau Kết cấu bộ khung gỗ, trong đó có vì kèo ở mỗi địa phương vì thế cũng khác nhau, tìm hiểu hệ thống này tại Miếu Quan Công sẽ góp phần làm sáng rõ những nét riêng giao thoa văn hóa Việt – Hoa
Trước khi khảo sát bộ vì kèo tại Miếu Quan Công, người viết muốn có cái nhìn toàn diện về hệ thống vì kèo trong kiến trúc cổ tại Hội An bởi đó chính là
cơ sở để thấy được vị trí của sự giao thoa văn hóa Việt – Hoa trong bức tranh sự giao lưu văn hóa chung Theo nhà nghiên cứu Hội An Nguyễn Quốc Hùng thì
(chồng giường giả thủ); vì chồng (vì kèo lận); vì luôn; vì vỏ cua
Vì trính chồng – trụ đội là sự kết hợp giữa trính chồng và trụ đội Trính chồng gồm hai cột cái nối với nhau bằng trính lãng, trên trính lãng đặt hai trụ đội Trụ này vươn lên đỡ đòn tay, lưng trụ đón một con giường Hai bên trính lãng có bông trính lãng trang trí bằng các họa tiết truyền thống Trụ đội là một thanh gỗ liền khối, đầu to gối lên thân trính, đầu nhỏ vươn đỡ đòn tay Một số trụ đội có phần dưới hình trái bí ngô nên gọi là trụ trái bí Vì trính chồng – trụ đội có 3 biến thể được ứng dụng vào xây dựng trong các công trình ở Hội An:
- Những vì có trụ nhỏ hai nấc, nấc dưới hình trái bí đặt trên trính lãng, đầu nấc trên đỡ đòn tay, hai bên gắn hai bông trụ Điểm ngăn cách hai nấc trên, dưới
ở nơi trổ mộng nối trính nghén
5 Nguyễn Quốc Hùng (1995), Phố cổ Hội An và việc giao lưu văn hóa ở Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, tr.43
Trang 36- Những vì trụ dài hình “chày” trên thót dưới loe, không có trang trí thêm
- Những vì sử dụng liên kết trụ bí 4 tầng Trụ đỡ đòn nóc thì thần trụ gắn thêm 4 lớp nạnh ở hai bên thân trụ đội vươn lên đỡ nóc
Trong những mô tả trên thì kiểu trính chồng – trụ đội có nguồn gốc từ Trung Hoa rõ nhất Nếu như vì vỏ cua có những họa tiết, hoa văn và hình hài cầu kì thì loại vì này chú trọng độ chắc chắn của khung, thường sử dụng trong các công trình hội quán, miếu, chùa của người Hoa Vì luôn thì đơn giản hơn vì trính chồng – trụ đội và thường được làm ở những phần kiến trúc có phần che
bộ vì Miếu Quan công có kiểu biến thể thứ ba của loại hình vì kèo trính chồng – trụ đội Bộ khung vì trính chồng – trụ đội của Miếu có liên kết trụ bí 4 tầng nhìn rất đồ sộ, khiến ta có cảm giác mái nhà nâng cao hơn và vững chãi hơn Với nguồn gốc Hoa Bắc đó những nghệ nhân xây dựng Miếu lại có sự kết hợp rất hài hòa với hệ mái mang dáng dấp Việt Nam
2.2.1.3 Hệ mái
Do đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng của Việt Nam không giống vùng Hoa Bắc (nơi xuất xứ của bộ vì kèo) nên mái của Miếu buộc phải xây dựng theo phong cách Việt Nam Mặc dù ngói được sử dụng lợp mái là ngói ống có nguồn gốc từ Trung Hoa nhưng độ dốc của mái vẫn là tỉ lệ 5/10 của hệ mái truyền thống Việt Nam Với hệ mái này thì mái ngói có thể chịu được nắng nóng mùa
hè và mưa ẩm vào mùa đông
Ở các góc của hệ mái nghệ nhân dân gian trang trí các hình rồng, giao là những chi tiết thường thấy trong các công trình tín ngưỡng, tôn giáo ở cả Trung Quốc và Việt Nam
Với hệ mái này, Miếu Quan Công vừa đảm bảo tính thích ứng với điều kiện khí hậu vừa đảm bảo được các yếu tố thẫm mỹ thể hiện phong cách truyền thống của Trung Hoa và Việt Nam
Trang 372.2.2 Điêu khắc
Miếu Quan Công có bộ khung được làm bằng gỗ, ngoài ra các phụ kiện khác của ngôi nhà cũng được làm chủ yếu bằng gỗ nên rất thuận lợi cho việc điêu khắc kèm vào kiến trúc của ngôi nhà Nghệ nhân dân gian ở làng Mộc Kim Bồng nổi tiếng đã đưa và các tác phẩm điêu khắc tại Miếu những tác phẩm mang hơi thở Việt – Hoa rất độc đáo Khảo sát về khía cạnh giao thoa văn hóa này, người viết tìm hiểu về nghệ thuật điêu khắc tượng, phù điêu và mắt cửa Trong Miếu Quan Công có 5 bức tượng chính: tượng Quan Vân Trường, tượng Quan Bình, tượng Châu Thương, tượng ngựa Bạch Mã và ngựa Xích Thố Mỗi bức tượng này có một phong thái riêng đặc trưng cho sự linh thiêng riêng của từng nhân vật được thờ
Tượng Quan Vân Trường được khắc rất oai vệ, kì vĩ và trang nghiêm Tượng được làm bằng gỗ, chiều cao của tượng từ bệ đến đỉnh mũ hơn 2,5m, ngang đầu gối ra sau lưng rộng 1,2m Tượng Quan Công đội mũ Tam Kim Khôi, các dấu hiệu bề ngoài của tượng được thể hiện hệt như trong tích truyện
kể về Quan Công: mặt đỏ sẫm, râu 5 chòm Trong hệ thống các tượng thần của người Việt hầu như không có các vị thần có sắc mặt đỏ mà là hồng hoặc vàng Sắc màu đỏ trên mặt tượng Quan Vân Trường không chỉ thể hiện Quan Công là người trượng nghĩa, anh hùng theo mô tả của dân gian mà còn tăng tính linh thiêng cho nơi tôn nghiêm Trong quan niệm của người Trung Quốc và cả Việt Nam, màu đỏ là màu may mắn, thành công và sức mạnh, quyền năng Sắc đỏ cùng nét mặt của tượng nhìn ban đầu có vẻ dữ dằn nhưng chính điều đó đã kết hợp được với đôi mắt sáng quắc và dáng oai vệ của tượng Nếu so sánh với các tranh vẽ Quan Công, hình tượng Quan Công trên sân khấu Kinh Kịch Trung Quốc thì vẻ dữ dằn đó lại có vẻ gần gũi và thân thiện hơn Có lẽ bàn tay người thợ làng Kim Bồng đã cố ý tạo nên những đường nét đó để bức tượng vừa tạo
Trang 38uy quyền lại vừa dễ gây thiện cảm với cư dân bản địa Người đến cúng viếng nhìn lên tượng đều cảm nhận được vẻ oai nghiêm, trượng nghĩa anh hùng và cảm giác được che chở, phù độ từ vị thánh Tượng Quan Công có hai hình tượng rồng được thể hiện ở ghế ngồi và trong chiếc áo bào của vị tướng Màu vàng và xanh của kim tuyến thêu hình rồng trên chiếc bào làm nổi bật khuôn mặt đỏ như hồng đào của Quan Công Hai đầu rồng khắc trên hai bệ để tay của ghế rất tinh xảo, khéo léo càng làm tôn thêm uy quyền của vị tướng Cả khối tượng nhìn đồ sộ nhưng lại rất cân đối, hài hòa; màu sắc của tượng hòa hợp trong từng bộ phận, chi tiết làm tăng thêm tính linh liêng cho chốn tôn nghiêm Bên phải tượng Quan Công là tượng Quan Bình- con nuôi của vị tướng, còn bên trái là tượng Châu Thương – người nô tì dũng cảm và trung thành Hai bức tượng này được nghệ nhân dân gian sáng tạo với những nét đối lập khác biệt rất rõ nét Nếu như ý tượng sáng tạo Quan Bình là nhã nhặn, điềm đạm và thân thiện thì Châu Thương được biểu hiện bằng những đường nét dữ tợn, gân gút rất mạnh mẽ Quan Bình toát lên phong thái của một quan văn đi theo hầu cận Quan Vân Trường, còn Châu Thương thì cầm Long đao, màu da tay nám đen gợi lên khí chất của một quan võ cùng Quan Vân Trường xông pha trận mạc Hai bức tượng chầu hai bên tượng Quan Công càng làm cho hình tượng Quan Công thêm oai nghiêm và kì vĩ
Hai bức tượng ngựa Bạch Mã và Xích Thố được đưa vào xa giá để thờ Cả hai đều được làm bằng gỗ, đứng oai vệ ở tư thế ngẩng cao đầu Ngựa Bạch Mã màu trắng có đủ hàm thiếc, yên cương, bàn đạp, vòng lục lạc quanh cổ, yếm nỉ hồng phủ trên lưng,…tất cả được trang trí tỉ mỉ như các họa tiết trong áo bào của chủ nhân Ngựa Xích Thố cũng được trang trí tương tự tương xứng với Bạch Mã Hai chú ngựa như luôn trong tư thế chuẩn bị để cùng Quan Vân Trường ra trận, gợi nên sự sinh động cho gian thờ Toàn hệ thống tượng trong
Trang 39Miếu đều gắn liền với tích chuyện Quan Công, minh họa lại chiến công và đạo đức của vị anh hùng Điều đáng chú ý là dưới bàn tay của nghệ nhân điêu khắc Việt Nam, vị thánh vẫn vừa toát lên được hào khí của một vị tướng người Hoa vừa gần gũi, thiện cảm với người cư dân bản địa
Bên cạnh điêu khắc tượng, điêu khắc phù điêu tại Miếu Quan Công đã để lại nhiều tác phẩm thể hiện sự giao thoa văn hóa Việt – Hoa rất đặc sắc Nghệ nhân dân gian đã thể hiện nghệ thuật chạm nổi điêu luyện ở bộ phận xà nhà và các đồ thờ trong Miếu
Ở đuôi xà nhà, ta nhận thấy sự kết hợp hài hòa giữa điêu khắc và hội họa khi đầu xà được hình ảnh hóa bằng những đóa hoa sen bằng gỗ rất thanh thoát
Có ba đóa hoa sen được chạm ở mỗi đuôi xà, trong đó đẹp nhất là đóa sen có nhụy hướng xuống đất Người dân địa phương gọi đấy là lồng đèn và hầu như chùa miếu nào ở Hội An cũng có những lồng đèn độc đáo này
Hoa sen là biểu tượng của Phật Giáo, thể hiện sự thanh cao, linh thiêng và huyền bí Những đóa sen nở hồng khiến trần nhà như được nâng cao hơn, gợi cảm giác về chốn thiêng liêng cõi Phật Đây cũng là một minh chứng cho thấy
sự thâm nhập của Phật giáo vào tín ngưỡng dân gian của cả người Việt lẫn người Hoa
Bên cạnh đó, hoa sen là biểu tượng của người quân tử, sự trong sạch và thanh cao trong tâm hồn Nhìn đóa sen người Việt Nam nào cũng nghĩ ngay đến câu ca dao:
“Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng Nhụy vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”
Trang 40Hương sen vượt lên trên mọi cám dỗ, thử thách trong bài ca dao khi đến với Miếu Quan Công phải chăng là ngầm ý ca ngợi nhân cách và đạo đức của
vị tướng anh hùng? Cùng với hương trầm ấm áp, những đường nét chạm trổ điêu luyện trên từng cánh sen đã mang đến cho Miếu Quan Công sự thanh cao
và trang nghiêm vô cùng
Đặc biệt, điều mà người viết chú ý là hình ảnh hạt sen đầy đặn trong mỗi bông hoa Cánh sen được chạm uốn lượn rất sinh động gợi cảm giác về sự chuyển động liên hoàn của các cánh hoa Hoa không ngừng hé lộ, che chở cho đài sen bên trong với rất nhiều hạt đầy đặn Hạt lại chính là mầm sống thể hiện
sự sinh sôi, phát triển và hưng thịnh Không phải ngẫu nhiên mà tại Miếu Quan Công, nghệ nhân dân gian đã lựa chọn hình ảnh đầy sức sống này Người Hoa quan niệm đến Miếu Quan Công kính lễ là để cầu xin tài lộc và hưng thịnh; hoa sen sẽ không chỉ gợi mở về cõi linh thiêng của một vị anh hùng có đức độ mà còn là sự phù độ cho những cầu xin của khách thập phương
Các hình ảnh chạm nổi sinh động cũng được đưa vào bộ đồ thờ của Miếu Những bộ đồ thờ này hầu như được làm mới vào những năm Miếu mới khôi phục lại (cuối thập niên 80) và đều được làm bởi bàn tay người việt Phượng, hoa mai, dơi, chữ Phúc, bát bửu, quả đào, quả lựu…là những hình ảnh điêu khắc truyền thống của Trung Hoa đã đi vào đền, chùa khu vực phía Bắc vào thế
ảnh hưởng vào thế kỉ XIX và thành tựu tại các chùa, miếu Hội An là minh chứng rất rõ cho sự tiếp nhận này
Mắt cửa là một trong những nét đặc sắc về điêu khắc thể hiện dấu ấn riêng của không chỉ Miếu Quan Công mà còn của đô thị cổ Hội An
6 Chu Quang Trứ (1991),Hội An nhìn từ góc độ Mỹ thuật, Hội thảo Quốc tế về đô thị cổ Hội An năm 1990, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.317