1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa tại thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam

100 316 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tiễn thị xã Điện Bàn và nhiều năm làm việc trong lĩnh vực quản lý di tích lịch sử - văn hóa, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy gi

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN

VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TẠI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN,

TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN

VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TẠI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng luận văn thạc sĩ chính sách công “Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” là kết quả qua quá trình học tập, nghiên cứu của bản thân Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các

đề tài khác trong cũng lĩnh vực Tôi xin chịu trách nhiệm lời cam đoan của mình./

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Bích Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA 11

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa ở nước ta 11 1.2 Khái quát về chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa 20 1.3 Nội dung thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử

- văn hóa 24 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các

di tích lịch sử - văn hóa……….31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TẠI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 36

2.1 Giới thiệu về thị xã Điện Bàn 36 2.2 Thực trạng ban hành và thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các

di tích lịch sử - văn hóa hiện nay tại thị xã Điện Bàn 39 2.3 Đánh giá kết quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa hiện nay tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 57

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH

SỬ - VĂN HÓA TẠI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY 66

3.1 Mục tiêu, định hướng tăng cường thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa 66 3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn thị xã Điện Bàn trong giai đoạn tới 68

KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo chiều dài hàng nghìn năm lịch sử, con người Việt Nam đã sáng tạo nên biết bao thành tựu văn hóa, phần nhiều trong số đó đã được lưu lại thành các di sản văn hóa Di sản văn hoá tồn tại dưới dạng vật thể và phi vật thể Trải qua thời gian, những giá trị di tích lịch sử - văn hóa vẫn hiện hữu trong nền văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam

Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý

giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [9, tr.17] Nghị quyết Trung ương 5, Khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và

phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa Nghị quyết đã chỉ rõ nhiệm vụ này

như sau: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của

bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [25, tr.27-31]

Di sản văn hóa là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong đó có các di tích lịch sử - văn hóa là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân

Trong xu thế giao lưu hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng, bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc góp vào nền văn hóa chung một sắc màu độc đáo, đa dạng về các loại hình văn hóa trong đó có di tích

Trang 8

LS-VH Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trên cả nước có 3.447 nghìn di tích được xếp hạng cấp quốc gia trong đó có 95 di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, hàng vạn di tích được xếp hạng cấp tỉnh Tính đến tháng 12 năm

2017, Việt Nam có 20 di sản văn hóa được UNESCO vinh danh (gồm 8 Di sản văn

hóa vật thể và 12 Di sản văn hóa phi vật thể) [8]

Những năm qua, công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa của dân tộc đã đạt được nhiều tiến bộ Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo vệ và phát huy giá trị, nhiều nghệ nhân được tôn vinh, công tác xã hội hóa được tăng cường và thu hút được đông đảo các tổ chức và cá nhân tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, tăng cường giao lưu văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế, thúc đẩy phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn

Do những đặc thù về địa lý – lịch sử, địa lý - nhân văn, tỉnh Quảng Nam đã trở thành một trung tâm văn hóa – du lịch lớn của cả nước nhờ sự phong phú và đa dạng của kho tàng di sản văn hóa đậm chất đặc trưng của đất và con người Xứ Quảng Dưới góc độ di sản văn hóa vật thể, tỉnh Quảng Nam có hai di sản văn hóa thế giới là Thánh địa Mỹ Sơn và Khu đô thị cổ Hội An Ngoài ra Quảng Nam có đủ các loại hình di tích LS-VH tiêu biểu từ các di chỉ khảo cổ đến các di tích lịch sử - văn hóa truyền thống

cách mạng [40]

Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam là vùng đất địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống cách mạng với 51 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 6 di tích lịch sử cấp quốc gia và 45 di tích lịch sử cấp tỉnh Tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh kể từ khi Điện Bàn trở thành thị xã Chính quyền tỉnh Quảng Nam và thị xã Điện Bàn đã ban hành nhiều chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa nhằm gìn giữ

và góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Bên cạnh những kết quả đạt được, thị xã Điện Bàn đã gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH Xuất phát từ thực tiễn thị xã Điện Bàn và nhiều năm làm việc trong lĩnh vực quản lý di tích lịch sử - văn hóa, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn tốt nghiệp Thạc

sỹ chuyên ngành Chính sách công tại Học viện Khoa học xã hội

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn

Các công trình nghiên cứu về chính sách công

Công trình “Chính sách công – những vấn đề cơ bản” (2016) của tác giả Nguyễn

Hữu Hải đã cung cấp những lý luận chung nhất về chính sách công như: quá trình phát triển khoa học chính sách; đặc điểm, vai trò và phân loại CSC; cấu trúc nội dung và chu trình CSC; nguyên tắc, căn cứ, các bước và phương pháp, công cụ hoạch định CSC; yêu cầu, các hình thức, phương pháp tổ chức thực thi CSC và phân cấp quản lý CSC; nguyên tắc, tiêu chí, quy trình, nội dung và phương pháp phân tích CSC; nội dung đánh giá CSC; tổ chức công tác phân tích, đánh giá CSC Đặc biệt tác giả còn chú trọng đến việc vận dụng những kiến thức cơ bản vào thực tiễn đánh giá CSC ở

Việt Nam [17]

Bài giảng “Những vấn đề cơ bản về chính sách công” (Ban hành kèm theo

Quyết định số: 26/QĐ-HVKHXH ngày 9/11/2012 của Giám đốc Học viện Khoa học

xã hội) của tác giả Đỗ Phú Hải đã nêu ra khái niệm chung về CSC, bản chất CSC, các loại và phạm vi CS; Vai trò, mục đích và quy trình xây dựng CSC; xác định các vấn đề

và giải pháp CSC [16]

Hai tác giả Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa với công trình “Đại cương về Chính

sách công” (2013) đã cung cấp những kiến thức đại cương về phân tích CSC như: khái

quát về phân tích CSC, đặc trưng của phân tích CSC, tiêu chuẩn nhân sự làm chuyên

môn về phân tích CSC, quy trình, nội dung và phương pháp phân tích CSC [18,

tr.786]

Các công trình nghiên cứu về chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

Công trình “Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập

quốc tế” được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm xuất bản năm 2011 của

tác giả Phan Hồng Giang đã đề cập đến nhiều lĩnh vực cụ thể của hoạt động quản lý văn hóa ở nước ta hiện nay trong đó có quản lý DSVH Ở lĩnh vực này, các tác giả đưa

ra thực trạng quản lý di tích LS-VH, bảo tàng và DSVH phi vật thể Trong các nội dung quản lý được đề cập có việc tập trung phân tích những ưu điểm trong hoạt động bảo tồn di tích như nhà nước đã đầu tư toàn bộ kinh phí cho các di tích cách mạng

Trang 10

kháng chiến, các di tích được đầu tư tu bổ, chống xuống cấp đã trở thành các điểm tham quan hấp dẫn; đồng thời nêu ra những hạn chế, đề ra những giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực của di tích như: đầu tư đồng bộ trong bảo tồn, tôn tạo, triển khai việc

quy hoạch chi tiết đối với các di tích để giải quyết hợp lý, hài hòa, bền vững [15,

tr.486]

Cuốn sách “Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển DSVH dân tộc” của tác giả

Hoàng Vinh được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 1997 gồm 3 chương và phần phụ lục đề cập đến những vấn đề lý luận về DSVH dân tộc; về vai trò, chức năng của DSVH đối với việc lựa chọn mô hình phát triển văn hóa dân tộc Căn

cứ vào những đòi hỏi thực tiễn của cuộc sống, tác giả đã tiến hành phân loại và bước đầu mô tả thực trạng vốn DSVH dân tộc và làm nổi rõ những mặt tồn tại, những nguyên nhân đã và đang gây nên sự xuống cấp vốn DSVH trong thời gian qua; từ đó,

đưa ra những kiến nghị, biện pháp cụ thể [48, tr.127,128,131,133]

Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển văn hóa

Việt Nam” được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội xuất bản năm 2011

là kết quả nghiên cứu của hai tác giả Nguyễn Thị Hương và Trần Kim Cúc Cuốn sách

đã tổng hợp các bài viết được đăng tải trên các tạp chí về lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế dưới sự chỉ đạo của Đảng Các tác giả đã đề cập nhiều nội dung tư tưởng nhân văn - tư tưởng

cơ bản nhất trong học thuyết Mác mà không ai có thể phủ nhận được; quan niệm của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa lãnh đạo và quản lý; thị trường hàng hóa văn hóa,…Ngoài ra, các tác giả còn bàn đến kinh nghiệm, chính sách của một số nước trên thế giới trong việc xây dựng, phát triển và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm áp dụng vào thực tế của nước ta hiện nay Bên cạnh đó, cuốn sách còn tập hợp một số bài viết đề cập đến thực tiễn xây dựng

và phát triển văn hóa Việt Nam trong những năm đổi mới cùng những giao lưu của

văn hóa Việt Nam với thế giới trong thời kỳ hội nhập [28]

Công trình “Bảo tồn, phát huy giá trị DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội”

(2010, Nxb Hà Nội, Hà Nội) là một trong những công trình được biên soạn trên cơ sở

kế thừa kết quả nghiên cứu của chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước, mã số KX.09:

Trang 11

Phát huy điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và giá trị lịch sử văn hóa 1000 năm Thăng Long - Hà Nội phục vụ phát triển toàn diện Thủ đô Cuốn sách đã tập trung làm rõ cơ

sở lý luận, thực tiễn kinh nghiệm bảo tồn, phát huy giá trị của DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội, tiếp thu những quan điểm mới về quản lý di sản một số nước trên thế giới để vận dụng vào công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản vật thể Thăng Long -

Hà Nội; xuất phát từ thực trạng DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội làm rõ giá trị của

nó trong thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Cuốn sách chỉ ra những nguy cơ, thách thức của công cuộc bảo tồn DSVH và đề xuất các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả của công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản vật thể Thăng Long - Hà Nội trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc khuyến nghị của UNESCO về bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới; và vận dụng sáng tạo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta vào sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa vật thể tiêu biểu của Thăng Long- Hà Nội, hướng

tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội [5]

Luận án Tiến sĩ Triết học “Vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH ở Thừa Thiên Huế

hiện nay” (2014, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) của tác giả Trần Thị

Hồng Minh là một công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH; phân tích, đánh giá tình trạng giữ gìn và phát huy các DSVH ỏa Thừa Thiên Huế; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc giữ gìn

và phát huy các DSVH tại địa phương này hiện nay [31, tr.3]

Ngoài ra vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH ở Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu bàn và công bố trên các báo và tạp chí có giá trị như:

Bài viết “Bảo tồn, phát huy giá trị các DSVH - thiên nhiên thế giới phục vụ

phát triển ở nước ta” của tác giả Nguyễn Quốc Hùng đăng trên tạp chí DSVH số

1/2006 nhấn mạnh nhiệm vụ của ngành văn hóa và chính quyền địa phương cần tập trung hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, thống nhất tổ chức bộ máy quản lý, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị

DSVH và thiên nhiên thế giới nói riêng, DSVH nói chung [21, tr.18-24]

Bài viết “Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH và thiên nhiên trong quá trình hội

nhập và phát triển” của tác giả Nguyễn Quốc Hùng đã đánh giá các hoạt động tích cực

Trang 12

của nhà nước ta để hội nhập và phát huy giá tri DSVH và thiên nhiên Hội nhập là cơ hội cũng là thách thức đối với người làm công tác bảo vệ và phát huy giá trị DSVH và thiên nhiên Bên cạnh những mặt tích cực, hội nhập cũng có những tác động tiêu cực đến DSVH và thiên nhiên của nước ta đòi hỏi sự chung tay góp sức của cộng đồng và

từng người dân với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế [23, tr.4-7]

Bài viết “Phát huy giá trị di tích phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát

triển đất nước” của tác giả Nguyễn Thế Hùng đã nhận định hệ thống di tích lịch sử văn

hóa và danh lam thắng cảnh có giá trị to lớn và là nguồn tài nguyên vô giá của đất nước Tác giả cũng phản ảnh tình hình bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh, đồng thời nêu một số quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích góp phần vào sự

nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước [25, tr.27-31]

Bài viết “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa - Cơ hội mới, thách thức

mới”, của tác giả Hoàng Tuấn Anh [3, tr.3-5] đã đề cập những ảnh hưởng tích cực và

hạn chế của Luật Di sản văn hóa đến các hoạt động giữ gìn và phát huy giá trị các DSVH, đồng thời nhấn mạnh việc sửa đổi, bổ sung một số điều của luật DSVH để tạo

ra những ảnh hưởng tích cực, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn bảo vệ và phát huy giá trị DSVH trong thời kỳ hội nhập

Ngoài ra còn có các bài nghiên cứu khác đề cập đến công tác bảo tồn, phát huy

giá trị các di tích lịch sử - văn hóa như: “Mấy vấn đề về nguồn nhân lực trong hoạt

động bảo tồn di tích – lịch sử văn hóa” của tác giả Lưu Trần Tiêu đăng trên tạp chí

DSVH, số 3 (40) - 2012 [39, tr.17-21]; bài viết “Một chặng trên một ngả đường bảo

tồn di tích” của tác giả Lê Quốc Vụ đăng trên tạp chí DSVH, số 2 (39) - 2012 [49, tr.14-17]; Bài viết “Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng của phát triển bền vững” của

tác giả Lê Thành Vinh đăng trên tạp chí DSVH, số 4 (13) - 2005 [47, tr.24-26]; Bài viết “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đặng Thị Tuyết đăng trên tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam [43] Bài viết “Những thuận lợi,

khó khăn và thách thức trong quản lý bảo tồn di sản ở Hội An” của tác giả Vũ Hoài

An đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng, số 58/2014 [2, tr.61-67] Bài viết “Di sản văn hóa biển đảo Việt Nam – Vài ý kiến về công tác bảo vệ, phát huy

Trang 13

giá trị” của tác giả Phạm Quốc Quân đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà

Nẵng, số 64/2015 [32, tr.45-49] Bài viết “Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn và

phát huy giá trị DSVH” của tác giả Nguyễn Quốc Hùng đăng trên tạp chí DSVH số

1/2015 [24, tr.22-26] Bài viết “Mấy suy nghĩ về phạm vi điều chỉnh chính sách phát

triển văn hóa ở nước ta hiện nay” của tác giả Đỗ Huy đăng trên tạp chí DSVH số

3/2007 [29, tr.10-14],

Các công trình nghiên cứu về Bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa ở tỉnh Quảng Nam và thị xã Điện Bàn

Tuyển tập tài liệu chuyên khảo “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Quảng

Nam” của tác giả Hồ Xuân Tịnh được Trung tâm Quản lý Di tích và Danh Thắng

Quảng Nam phát hành năm 2011 Trong tuyển tập này, tác giả Hồ Xuân Tịnh đã nêu lên những vấn đề về DSVH nói chung và DSVH Quảng Nam nói riêng, phân tích về di tích và lễ hội trên nền cảnh của môi trường, môi sinh, bằng cái nhìn địa – văn hóa Những kinh nghiệm và kiến thức mới trong quá trình cộng các với các chuyên gia

trong nước và quốc tế để đưa vào hoạt động quản lý [40]

Tuyển tập “Thông tin Di sản di tích Quảng Nam” của nhiều tác giá được Trung

tâm Quản lý Di tích và Danh thắng Quảng Nam phát hành năm 2009 Trong tuyển tập này là tổng hợp các đã được chọn lọc từ các tờ “Thông tin Di sản – Di tích Quảng Nam” đã được phát hành từ năm 2003 – 2009 Các tác giả đã giới thiệu đặc điểm, giá trị của các DSVh Quảng Nam đồng thời chia sẻ những kinh nghiệm, kiến thức của các nhà khoa học, nhà quản lý, về quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH trong và

ngoài tỉnh [41]

Cuốn sách “Địa chí Quảng Nam – Đà Nẵng” được Nhà xuất bản Khoa học và

xã hội xuất bản năm 2010 do hai tác giả: Nguyễn Đình An và Thạch Phương chủ biên

cùng sự tham gia của Ban biên soạn [1] “Địa chí Quảng Nam – Đà Nẵng” là công

trình do tỉnh Quảng Nam và TP Đà Nẵng tổ chức biên soạn, thực hiện trong 12 năm kể

từ năm 1997, dày gần 1.850 trang gồm 6 phần, khảo tả từ địa lý tự nhiên, địa lý hành chính đến lịch sử, kinh tế, văn hóa – xã hội và những người con tiêu biểu của đất Quảng, trong đó có các di tích lịch sử - văn hóa

Trang 14

Bài viết “Bảo tồn các di sản văn hóa ở Quảng Nam, những vấn đề đặt ra và

định hướng giải quyết” của tác giả Trần Ánh [41, tr.424] đã nêu ra những vấn đề phát

sinh trong quản lý DSVH ở Quảng Nam và nêu ra những giải pháp kịp thời trong việc ban hành và thực hiện các quy chế quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích danh thắng Quảng Nam

Ngoài ra, UBND tỉnh Quảng Nam đã tổ chức thành công Hội thảo Khoa học

“Dinh trấn Thanh Chiêm và Chữ Quốc ngữ” góp phần khẳng định, làm sáng tỏ vai trò,

vị trí của dinh trấn Thanh Chiêm – dinh trấn Quảng Nam hai thế kỷ XVII – XVIII trong việc mở bờ cõi, đẩy mạnh phát triển thương mại với bên ngoài – cảng thị Hội

An Đồng thời, làm sáng tỏ vai trò dinh trấn Thanh Chiêm, tiếng nói xứ Quảng là nơi đầu tiên hình thành chữ Quốc ngữ đồng thời các tác giả tham gia tham luận về các vấn

đề bảo tồn và phát huy giá trị di tích LS-VH Dinh trấn Thanh Chiêm

Qua việc điểm các công trình nghiên cứu ở trên, có thể nói, vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về chính sách và việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH tại thị xã Điện Bàn Vì vậy, tác giả chọn đề tài này để đánh giá đúng thực trạng thực hiện chính sách và đề ra những giải pháp hoàn thiện chính sách phát bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH ở thị xã Điện Bàn, tỉnh

Quảng Nam trong thời gian đến

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả của việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trong giai đoạn tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

- Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả việc thực hiện chính sách bảo tồn

và phát huy giá trị các di tích LS-VH thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Trang 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Việc ban hành và thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch

sử - văn hóa thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Từ năm 2006 – 2016

- Về không gian: Thị xã Điện Bàn

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn vận dụng quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về văn hóa nói chung và chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa nói riêng

Luận văn sử dụng hai cách tiếp cận chính là chính sách công (với việc tìm hiểu đối tượng nghiên cứu theo chu trình của chính sách công) và văn hóa học (với việc tìm hiểu đối tượng nghiên cứu từ góc độ các thiết chế văn hóa – di tích và giá trị văn hóa – giá trị của di sản)

5.3 Phương pháp nghiên cứu

- Điều tra thực địa: Tiến hành đi khảo sát thực tế các di tích lịch sử - văn hóa tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

- Phỏng vấn sâu các cán bộ văn hóa, những người đang trực tiếp làm công tác quản lý văn hóa, quản lý di sản và người dân của các xã, phường trên địa bản thị xã Điện Bàn để thu thập thông tin

- Nghiên cứu tài liệu thứ cấp bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, chủ trương của Đảng, Nhà nước và kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trong cả nước nói chung, thị xã Điện Bàn nói riêng Đồng thời, thu thập các số liệu thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa Thể thao, Du lịch tỉnh Quảng Nam, các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài

Trang 16

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Từ việc tổng hợp về các quan điểm chỉ đạo của Đảng về việc xây dựng và thực thi chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa nói chung, thị xã Điện Bàn nói riêng, luận văn đưa ra các nghiên cứu cụ thể hơn về mối quan hệ giữa chính quyền của các cấp với nhân dân trong việc bảo vệ, quản lý và phát huy giá trị các di tích nhằm giáo dục truyền thống cách mạng cho mọi thế hệ

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Qua việc phân tích những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân đạt và không đạt được của việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa thị xã Điện Bàn, luận văn đề xuất những giải pháp để tăng cường thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa tại thị xã Điện Bàn trong thời gian đến

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa tại thị xã Điện Bàn

Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa tại thị xã Điện Bàn

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH BẢO TỒN

VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa ở nước ta

1.1.1 Các khái niệm liên quan

1.1.1.1 Các khái niệm về Chính sách công và Chính sách văn hóa

Chính sách là của nhà nước, được xây dựng trên cơ sở chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia theo từng thời kỳ lịch sử, mỗi quốc gia đều có những chính sách để điều hành

“Chính sách là hệ thống các thể chế, các định hướng, các quy định tạo nên những thực hành của Nhà nước vào một đối tượng quản lý nào đó Công cụ thực hành chính của các chính sách là luật pháp và phương pháp hành chính, ngân sách và hệ thống thuế Các dạng tồn tại của chính sách gồm có các định hướng mang tính nguyên tắc, các văn bản thể chế, các chính sách đầu tư và thuế, các phương pháp hành chính

khác” [19, tr.19]

“Chính sách” là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu, phương tiện truyền thông và đời sống xã hội Tuy nhiên đây là thuật ngữ rất khó có thể định nghĩa một cách cụ thể rõ ràng Cụm từ “chính sách” khi gắn với vai trò, chức năng của

“Khu vực công” được gọi là chính sách công Đây không chỉ đơn giản là sự ghép từ thuần túy, mà đã có sự thay đổi cơ bản về nghĩa, bởi nó có sự khác biệt về chủ thể ban hành chính sách, về mục đích tác động của chính sách và vấn đề mà chính sách hướng tới giải quyết Trên thế giới, đã có nhiều nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa về chính sách công như:

Thomas Dye (năm 1972) đã định nghĩa “Chính sách công là bất kỳ những gì

nhà nước lựa chọn làm” [17, tr.47]

William Jenkins (năm 1978) đưa ra định nghĩa: “CSC là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền

Trang 18

với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó” [17,

tr.48] Theo ông, CSC là một quá trình chứ không chỉ đơn giản là một sự lựa chọn;

đồng thời, định nghĩa này cũng cho thấy một cách rõ ràng CSC là “một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau”, và xem quá trình chính sách là hành vi định hướng mục tiêu của nhà nước Theo giác độ này, có thể hiểu các chính sách công là các quyết định do nhà nước ban hành để xác định mục tiêu và các phương tiện (hay giải pháp) để đạt được mục tiêu đó

Guy Peter (năm 1990) cho rằng: “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của

nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân” [30,

tr.41] Ông đã bổ sung thêm một khía khía cạnh quan trọng của CSC, đó là tác động

của CSC đến đời sống của mọi người dân hay cộng đồng xã hội, thay vì tác động lên một cá nhân hoặc một tổ chức cụ thể Có thể hiểu, chính sách công hướng tới giải quyết những vấn đề công và việc giải quyết những vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến một hoặc nhiều tầng lớp dân cư trong xã hội

Tác giả Đỗ Phú Hải đã định nghĩa CSC như sau: “Chính sách công là một tập hợp quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã

xác định” [16, tr.12]

Tác giả Nguyễn Hữu Hải đã đưa ra khái niệm về CSC như sau: “Chính sách công

là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định

có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng, mục tiêu và cách thức giải quyết

những vấn đề công trong xã hội” [17, tr.51] Theo tác giả, khái niệm này vừa thể hiện

đặc trưng của CSC là do Nhà nước chủ động xây dựng để tác động trực tiếp lên các đối tượng quản lý một các tương đối ổn định, cho thấy bản chất của CSC là công cụ định hướng cho hành vi của các cá nhân, tổ chức phù hợp với thái độ chính trị của nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong xã hội

Trang 19

một bộ phận của chính sách công, chính sách văn hóa cũng chỉ có thể ra đời khi có nhà nước Tuy nhiên, cũng như chính sách công, thuật ngữ “chính sách văn hóa” ra đời rất muộn, phải đến những năm nửa sau thế kỷ XX Năm 1967, trong Hội nghị bàn tròn, các chuyên gia văn hóa tại Manaco đã đưa ra một quan niệm về chính sách văn hóa như sau: Chính sách văn hóa là một tổng thể những thực hành xã hội hữu thức và có suy tính kỹ về những can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động văn hóa nhằm vào việc đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân, bằng cách sử dụng tối ưu tất cả những nguồn vật chất và nhân lực mà một xã hội nào đó sắp đặt vào một thời điểm thích hợp Chính sách văn hóa “là hệ thống các nguyên tắc, các thực hành của nhà nước trong lĩnh vực văn hóa nhằm phát triển và quản lý thực tiễn đời sống văn hóa theo những quan điểm phát triển và cách thức quản lý riêng, đáp ứng nhu cầu phát triển đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trên cơ sở vận dụng các điều kiện vật chất và tinh

thần sẵn có của xã hội” [6, tr.21]

1.1.1.2 Khái niệm “di tích LS-VH” và “thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH”

Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định: Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá

của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta [9, tr.17]

Điều 1 Luật Di sản văn hóa (sửa đổi, bổ sung năm 2009) ghi rõ: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua

thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [9, tr.17]

Tại Điều 4, Chương 1, Luật Di sản văn hóa (sửa đổi, bổ sung năm 2009) ghi rõ

Di sản văn hóa vật thể là “sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao

gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [9,

tr.18]

Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật,

bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học [9,

tr.48]

Trang 20

Di tích LS-VH phải có một trong các tiêu chí: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của đại phương trong các thời kỳ lịch sử; Địa điểm khảo cổ tiêu biểu; Công trình kiến trúc nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Tại Điều 5 của Luật di sản văn hóa (sửa đổi, bổ sung năm 2009), quyền sở hữu đối với các di sản văn hóa được xác định theo pháp luật chung là Bộ luật Dân sự, các quy định khác của pháp luật có

liên quan và theo luật chuyên ngành là Luật Di sản văn hóa [9, tr.48-49]

Nói đến bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH, có nhiều khái niệm, định

nghĩa về thuật ngữ “bảo tồn” và “phát huy” nhưng để làm rõ hơn khái niệm về bảo tồn

và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa, ta có thể hiểu như sau: bảo tồn di sản

(heritage preservation) được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó Phát huy di sản (heritage promotion) có

nghĩa là những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong thực hiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội

Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH là một bộ phận của chính sách văn hóa, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH đã được

cụ thể hóa ở nhiều loại văn bản như: Văn kiện của các kỳ đại hội Đảng, Nghị quyết các hội nghị Trung ương Đảng, Hiến pháp, Chiến lược phát triển văn hóa, Luật di sản văn hóa và các Thông tư, Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật di sản văn hóa

Tổ chức thực hiện chính sách công là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng

[37, tr.1]

Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa là

triển khai thực hiện Luật di sản văn hóa, Hiến pháp, các Nghị định của Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật và các Nghị định bằng những hoạt động thiết thực

Trang 21

hiện bảo tồn và giữ gìn, phát huy giá trị to lớn của các di tích lịch sử - văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân; nhu cầu nghiên cứu, tham quan du lịch của khách trong, ngoài nước, tạo nên móng vững bền góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo đúng hướng, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước

1.1.2 Đặc điểm thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa

Việc ban hành và thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích

LS-VH cũng cần phải phù hợp với mục tiêu đặt ra là phải gắn di tích với đời sống đương đại, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ mục tiêu phát triển, nhất là phát triển du lịch bền vững và tăng cường giao lưu văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế Di sản văn hóa đã được xác định là bộ phận quan trọng cấu thành môi trường sống của con người Di sản văn hóa là loại tài sản quý giá không thể tái sinh và không thể thay thế nhưng rất dễ bị biến dạng do tác động của các yếu tố ngoại cảnh (khí hậu, thời tiết, thiên tai, chiến tranh, sự phát triển kinh tế một cách ồ ạt, sự khai thác không

có sự kiểm soát chặt chẽ, việc bảo tồn, trùng tu thiếu chuyên nghiệp không theo đúng

những chuẩn mực khoa học v.v….) [4]

Hiện nay, việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH dựa trên nhiều quan điểm khác nhau Bàn về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di tích LS-VH, trước tiên cần quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước thể hiện qua các Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng các khóa IX, X, XI, XII, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết đã khẳng định nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa

trong bối cảnh mới ở nước ta như sau: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng

đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian) văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” Bảo tồn di sản văn hóa phải gắn liền với phát triển bền vững

nghĩa là hướng tới sự phát triển lâu dài và liên tục mà không làm ảnh hưởng, tổn hại và suy giảm môi trường thiên nhiên cũng như di sản văn hóa Tăng trưởng kinh tế phải song song với việc quan tâm duy trì, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn và xây

Trang 22

dựng môi trường văn hóa – xã hội lành mạnh, bảo tồn di sản văn hóa là thúc đẩy mà không cản trở các mục tiêu phát triển Hơn nữa còn phải tạo ra điều kiện để di sản của quá khứ và hiện tại trở thành nền tảng tinh thần cho phát triển trong tương lai Các di tích LS-VH phải được bảo tồn đồng bộ theo đúng các nguyên tắc khoa học chuyên ngành: bảo vệ pháp lý và khoa học, bảo vệ về mặt vật chất và kỹ thuật Các di tích LS-

VH phải được sử dụng và phát huy giá trị phục vụ nhu cầu hiện đại do xã hội đề ra Nhà nước đã xác định rõ các đối tượng và mục tiêu cần được ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước và huy động nguồn lực xã hộ cho việc tu bổ, tôn tạo gắn với phát triển du

lịch [6, tr.8-11] Việc bảo tồn phải luôn gắn với nhu cầu sử dụng và phát huy giá trị

của di tích Các di tích LS-VH được duy trì tu bổ để tham gia trực tiếp vào nhu cầu đa dạng của đời sống xã hội như: giáo dục truyền thống, nhu cầu về tôn giáo tín ngưỡng, các hoạt động văn hóa, phát triển du lịch, giao lưu quốc tế, tạo nguồn thu

Có hai quan điểm tương ứng với ba mô hình chung nhất trên thế giới về bảo tồn là: Bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa

- Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn

Theo Gregory J.Ashworth, quan điểm bảo tồn nguyên vẹn được phát triển đầu tiên

từ những năm 50 của thế kỷ XIX Quan điểm này được khá nhiều học giả ủng hộ, đặc biệt các nhà bảo tồn, bảo tàng trong lĩnh vực di sản văn hóa Quan điểm này gần như đã đóng vai trò chủ đạo trong cách thức quản lý Những người theo quan điểm Bảo tồn nguyên vẹn cho rằng, những sản phẩm của quá khứ, nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn, như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể và phi vật

thể cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại [46]

Họ cho rằng, mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hóa - xã hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại có thể hiểu biết một cách cụ thể để có thể phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp Hơn nữa, những giá trị văn hóa ấy luôn biến đổi theo thời gian do những tác động của xã hội hiện tại và sẽ tạo nên những lớp văn hóa khác không trùng nghĩa với lớp văn hóa mà thế hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau, vì thế, có thể làm cho các thế hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị di sản đang tồn tại Chính vì như vậy, những người theo quan điểm này cho rằng, do chúng ta chưa có đủ thông tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải giá trị của các di sản văn hóa,

Trang 23

chúng ta nên giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện, các thế hệ tiếp nối có thể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn

- Quan điểm bảo tồn kế thừa

Với quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa thì được các học giả nước ngoài hiện nay quan tâm nhiều hơn và là một xu thế khá phổ biến khi bàn đến di sản Có thể kể đến như Alfrey, Putnam, Ashworth và P.J Larkham xem di sản như một ngành công nghiệp và cần phải có cách thức quản lý di sản tương tự với cách thức quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa với những logic quản lý đặc biệt, phù hợp với tính đặc thù của các di sản Hoặc các nhà nghiên cứu Anh, Mỹ như Boniface, Fowler, Prentice,… cho rằng không thể không đề cập đến phát triển du lịch trong vấn đề bảo tồn và phát huy di sản Cách tiếp cận của các nhà khoa học này sống động hơn, quan tâm di sản văn hóa để phát triển du lịch, để khẳng định tính đa dạng trong sáng tạo của con người Còn các tác giả như Corner và Harvey cũng cho rằng việc quản lý di sản cần đặt dưới một cách tiếp cận toàn cầu hóa Ngoài ra, các tác giả như Moore và Caulton cũng cho rằng cần quan tâm làm thế nào lưu giữ được các di sản văn hóa thông qua cách tiếp

cận mới và phương tiện kỹ thuật mới [33]

Nhìn chung, quan điểm lý thuyết này dựa trên cơ sở mỗi di sản cần phải được thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể Khi di sản ấy tồn tại ở thời gian và không gian hiện tại, di sản ấy cần phát huy giá trị văn hóa - xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ đi những gì không phù hợp với xã hội ấy

Quan điểm thứ nhất muốn giữ gìn các sản phẩm văn hóa cần được bảo vệ trong môi trường khép kín để tránh mọi tác động bên ngoài làm phương hại đến chúng Khuynh hướng này mang lại một số kết quả rất đáng quan tâm Nhờ các hoạt động bảo tồn đó, trong nhiều năm qua, chúng ta đã lưu giữ được nhiều sắc thái văn hóa dân tộc Ngược lại, quan điểm thứ hai là quan điểm thả nổi Sản phẩm văn hóa nào có sức sống mãnh liệt, có giá trị, có nền tảng vững chắc do được chất lọc, chưng cất, được thử thách qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử sẽ có nhiều cơ hội và lợi thế tự khẳng định mình nhiều hơn Điều đó phụ thuộc vào các tiêu chí và hệ giá trị Bởi vậy, khi chúng ta sử dụng hệ giá trị hôm nay làm thước đo sự thay đổi các sản phẩm văn hóa truyền thống, khuynh hướng thả nổi sẽ đẩy nhanh quá trình làm biến dạng các tiêu chí

Trang 24

và chuẩn mực vốn đã được định hình từ lâu Những sản phẩm văn hóa truyền thống tuy mang đậm nét đặc thù nhưng khi đặt trong hệ quy chiếu mới nếu không được điều

chỉnh sẽ khó có cơ hội tồn tại lâu dài [33]

Bỏ qua những tranh cãi xung quanh quan điểm bảo tồn nguyên vẹn hay bảo tồn trên cơ sở kế thừa, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra quan điểm tiếp cận thứ ba biện chứng hơn đó là:

- Quan điểm bảo tồn - phát triển

Quan điểm này không bận tâm vào việc tranh cãi nên bảo tồn y nguyên như thế nào, nên kế thừa cái gì từ quá khứ mà đặt trọng tâm vào việc, làm thế nào để di sản sống và phát huy được tác dụng trong đời sống đương đại Theo cách tiếp cận này, người ta coi di sản là sản phẩm của thời hiện tại, phát triển nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của hiện tại và được định hình bởi yêu cầu ấy

Bảo tồn là một nhân tố cần thiết của phát triển, phát triển tạo nguồn lực cho bảo tồn, bảo tồn và phát triển là nhiệm vụ thiết yếu của mội quốc gia Đảm bảo mối quan

hệ hữu cơ giữa bảo tồn và phát triển là cách ứng xử thông minh của thời đại [47]

Từ thực tiễn và những bài học có tính phổ quát trên phạm vi toàn thế giới, UNESCO, ICOMOS đã ban hành nhiều công ước, hiến chương trong đó có nêu những nguyên tắc cơ bản để giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển như Hiến

chương về bảo vệ thành phố và đô thị lịch sử: ''việc bảo vệ các thành phố lịch sử và

các khu đô thị'' cần được hiểu là những bước cần thiết để bảo vệ, bảo tồn và trùng tu

những thành phố và khu vực như thế cũng như là để phát triển và thích ứng những thành phố, khu vực đó vào đời sống đương đại”, “những chức năng mới và các mạng kết cấu hạ tầng do đời sống đương đại đòi hỏi phải thích hợp với đặc trưng của thành

phố lịch sử” [47] Hiến chương cũng nêu rõ việc đưa các yếu tố đương đại vào mà hài

hòa đước với tổng thể khung cảnh là có thể chấp nhận, bởi vì các yếu tố mới đó có thể góp phần làm cho khư vực thêm phong phú

Thực hiện bảo tồn và phát huy giá trị di tích LS-VH trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi có sự sáng tạo không ngừng nghỉ và khả năng linh hoạt trong việc vận dụng các nguyên tắc khoa học để lựa chọn phương án xử lý thích hợp cho từng di tích cụ thể, tùy thuộc vào điều kiện lịch sử và tự nhiên, nét đặc thù và các mặt giá trị tiêu biểu của

Trang 25

các di tích, phải lựa chọn để bảo tồn những gì phù hợp với thời đại Bảo tồn di tích

LS-VH phải đi kèm với khai thác, phát huy giá trị của nó trong đời sống và phát triển của

xã hội Việc ban hành và thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược Thực hiện tốt chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH sẽ đem lại những hiệu quả thiết thực cho phát triển đất nước

1.1.3 Vai trò của việc thực hiện thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa

Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH là việc triển khai thực hiện Luật di sản văn hóa, Hiến pháp, các Nghị định của Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật và các Nghị định bằng những hoạt động thiết thực hiện bảo tồn và giữ gìn, phát huy giá trị to lớn của các di tích LS-VH nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân; nhu cầu nghiên cứu, tham quan du lịch của khách trong, ngoài nước, tạo nên móng vững bền góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo đúng hướng, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Hoạt động bảo tồn di tích đã trở thành một hoạt động không thể thiếu của xã hội văn minh, hiện đại Bảo tồn với tư cách là một bộ môn khoa học hoạt động với mục đích giữ gìn, bảo lưu các tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ Bảo tồn di tích góp phần nuôi dưỡng cuộc sống đương đại, đặc biệt là trong lĩnh vực văn hóa tinh thần lưu truyền từ đời này sang đời khác, góp phần quan

trọng trong sự phát triển bền vững [42]

Việc thực hiện thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH

có vai trò quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong chu trình chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH Đây là bước thực hiện hóa chính sách trong đời sống xã hội

Để có được một chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH tốt, các nhà hoạch định phải trải qua quá trình nghiên cứu, khảo sát kỹ càng, công phu Đặc biệt, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH chỉ có ý nghĩa khi được đưa vào thực hiện

Tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH là giai đoạn biến mục tiêu, ý đồ chính sách thành hiện thực Việc thực hiện chính sách bảo

Trang 26

tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH đưa Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng, các văn bản Luật, các Nghị định, Thông tư của chính phủ đến gần với người dân Các chính sách về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH trở thành hiện thực nhằm kịp thời gìn giữ và phát huy trước sự phát triển mạnh mẽ của nhiều lĩnh vực như kinh

tế, công nghệ, khoa học, chất lượng cuộc sống của người dân được tăng lên Thực hiên chính sách nhằm từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung chính là mục tiêu của Đảng đã khẳng định “xây dựng đất nước tiên tiến, đậm đà bản

sắc dân tộc” [11] Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng đã khẳng định nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa trong bối cảnh mới ở nước ta “Di sản văn hóa là tài

sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [25]

Việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH khẳng định tính đúng đắn của chính sách Từ các hoạt động thực tiễn, các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực di sản văn hóa ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ hơn, giúp các chính sách ngày càng hoàn chỉnh, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước

từ Trung ương đến địa phương và góp phần thiết thực vào việc hoàn thiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH, phát huy tác dụng tích cực công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH Đặc biệt, hiện nay, trước sức ép toàn cầu hóa, việc ban hành và thực hiện các chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH hóa trở nên quan trọng trong phát triễn bền vững

1.2 Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa ở nước

ta hiện nay

Đất nước Việt Nam có 54 dân tộc anh em và có nền văn hóa đa dạng, phong phú

Sự đa dạng và phong phú thế hiện qua từng con người, từng vùng đất, từng địa phương Đất nước Việt Nam tự hào khi có cả kho tàng di sản văn hóa phi vật thể và vật thể vô cùng giá trị, nhiều về số lượng, phong phú về loại hình, đa dạng các nét đặc trưng của từng vùng miền và từng thời kỳ trong lịch sử Trong kho tàng di sản văn hóa vật thể có các di tích LS-VH và danh lam thắng cảnh đã đóng góp một phần không nhỏ

Trang 27

tạo ra bản sắc của con người Việt Nam

Từ khi nước ta mở cửa hội nhập và phát triển, Việt Nam đã khẳng định vị thế trên trường quốc tế về mọi mặt, trong đó việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa bao gồm các di tích LS-VH Việc ban hành và thực hiện các chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH trở nên quan trọng trong phát triễn bền vững

Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn nếu bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi Đồng thời di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển kinh tế, một nguồn lực rất lớn sẵn có nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và nó còn có ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển

Có thể coi di tích LS-VH như một loại “tượng đài” mà trên đó, các thế hệ đi trước

đã ghi dấu những giá trị lịch sử, văn hóa nghệ thuật, kỹ thuật, tài năng sáng tạo, đạo lý

“uống nước nhớ nguồn”, tinh thần yêu nước, sự hy sinh cao cả, bản lĩnh khí phách anh hùng vượt qua vô vàng thử thách gam go trong chiến đấu giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước Di tích LS-VH là bản “thông điệp” được vật chất hóa của cha ông gửi lại cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau; là một thành tố quan trọng thể

hiện sinh động và cụ thể bản sắc văn hóa của dân tộc [39]

Hệ thống di tích Việt Nam được phân thành 4 loại hình cơ bản là di tích lịch sử,

di tích kiến trúc – nghệ thuật, di tích khảo cổ và danh lam thắng cảnh Khái quát hệ thống di tích LS-VH của Việt Nam có thể đi đến nhận định rằng: số lượng di tích của

cả nước rất lớn, đa dạng về loại hình và có giá trị to lớn về nhiều mặt Bảo tồn và phát triển là hai nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược ở mỗi quốc gia Trong lĩnh vực

di sản văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị VH – LS sẽ đem lại những hiệu quả thiết thực cho phát triển kinh tế xã hội

Với tầm nhìn xa, trông rộng của một vĩ nhân về giá trị và tầm quan trọng của di sản văn hóa đối với dân tộc, trong lúc đất nước còn biết bao công việc cấp bách cần giải quyết, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 65 ngày 23 tháng 11 năm 1945 về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam, nghĩa là chỉ sau khi Người đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại quản trường Ba Đình lịch sử

Trang 28

vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, trong đó quy định: “Cấm phá hủy đình chùa, đền miếu

hoặc những nơi thờ tự khác, như cung điện, thành quách cùng lăng mộ Cấm phá hủy những bia ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử ” [43] Qua thực tiễn, các nhà nghiên cứu sử học, văn hóa

học, bảo tàng học đều tôn vinh Sắc lệnh lệnh số 65 ngày 23 tháng 11 năm 1945 của chủ tịch Hồ Chí Minh là văn bản pháp lý đầu tiên của sự nghiệp bảo tồn văn hóa dân tộc và kiến nghị với Đảng, Nhà nước hằng năm, lấy ngày 23 tháng 11 là ngày Di sản văn hóa Việt Nam và kiến nghị đó đã được chấp thuận

Kể từ thời điểm Việt Nam chính thức tham gia Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm của từ năm UNESCO 1976, đến nay trên cơ sở kế thừa những quy định pháp luật và các hoạt động thực tiễn bảo vệ, phát huy giá trị di tích trước đó, cùng với việc tiếp cận, nghiên cứu, tham khảo các văn bản quốc tế về lĩnh vực bảo tồn và phát huy di sản, nước ta đã ngày càng quan tâm hoàn thệ hệ thống pháp luật, ban hành và thực thi các chính sách về di sản văn hóa nói chung, di tích LS-VH nói riêng có hiệu quả, ảnh hưởng tích cực đến việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH Có thể kể đến như sau:

Hiến pháp năm 1992, trong đó xác định: “Nhà nước và xã hội bảo tồn và phát

triển các di sản văn hóa dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hóa, công trình nghệ thuật, các danh lam, thắng cảnh”

Nội dung Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII (năm 1998) về “Xây dựng nền văn

hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” thể hiện tầm cao mới về lý luận của

Đảng đối với vai trò của văn hóa trong phát triển Nghị quyết cũng đã xác định một trong những nhiệm vụ cụ thể trong thời gian tới là “Bảo tồn và phát huy cá di sản văn hóa”, trong đó có các di tích LS-VH

Kết luận của Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) trong những năm sắp tới

cũng nêu mục tiêu “Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triễn kinh tế là trung tâm,

xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội” và “tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các

Trang 29

giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, bắt kịp sự phát triển của thời đại” [7, tr 5-10]

Quốc hội đã thông qua Luật Di sản văn hóa ngày 14/6/2001 tại kỳ họp thứ 9 Khóa X và sửa đổi, bổ sung năm 2009 tại kỳ họp thứ 5 khóa XII Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, phù hợp với luật pháp quốc tế Sau khi có Luật Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cơ quan thuộc chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có chức năng quản lý Nhà nước về văn hóa trong phạm vi cả nước đã soạn thảo và trình chính phủ ban hành hàng loạt các văn bản pháp lý quan trọng, như:

- Chỉ thị số 05/2002/CT-TTg ngày 18 tháng 02 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ cổ vật trong di tích và ngăn chặn đào bới trục vớt trái phép di chỉ khảo cổ học

- Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24 tháng 7 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử-văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020

- Nghị định số 86/2005/NĐ-CP ngày 8/7/2005 của Chính phủ về Quản lý, bảo

vệ di sản văn hóa dưới nước

- Quyết định số 125/2007/QĐ-TTg ngày 31 tháng 7 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2006 –

- Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14 tháng 7 tháng 2011 của Bộ trưởng Bộ VHTTDL quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích LSVH

và danh lam thắng cảnh

Trang 30

- Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ VHTTDL quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích

- Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH

- Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 9 năm 2012 của Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích LSVH, danh lam thắng cảnh

- Quyết định số 1211/2012/QĐ-TTg ngày 5 tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoan 2012 – 2015”

Có thể nhận định rằng, các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực di sản văn hóa trong đó có di tích LS-VH ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ hơn nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý thích hợp cho các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH Các chính sách về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH góp phần thể hiện rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương, quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân, tổ chức xã hội và cộng đồng trong việc bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa

1.3 Nội dung thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch

sử - văn hóa

1.3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa

“Đề cương về văn hóa Việt Nam” đã ra đời năm 1943 định hướng cho sự nghiệp

xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đây được coi là một sự kiện chính trị quan trọng, tạo nền tảng ban đầu cho xây dựng nền văn hóa Việt

Nam [15, tr.316-321]

Sắc lệnh số 65 đã được chủ tịch Hồ Chí Minh ký vào ngày 23 tháng 11 năm

1945, chỉ sau 2 tháng Người đọc Tuyên ngôn độc lập Trong sắc lệnh nêu rõ: “Cấm phá hủy đình chùa, đền miếu hoặc những nơi thờ tự khác, như cung điện, thành quách

Trang 31

cùng lăng mộ Cấm phá hủy những bia ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách

vở có tính cách tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử mà chưa được bảo tồn” Năm 1984,

Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa,

danh lam thắng cảnh Trong đó xác định “Nghiêm cấm việc làm hư hại, tiêu hủy,

chiếm giữ trái phép di tích lịch sử, văn hóa hoặc danh lam thắng cảnh Nghiêm cấm việc trao đổi, mua bán trái phép di tích lịch sử, văn hóa”

Tại các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc vấn đề “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc”, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa được quan tâm sâu sắc Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa Nghị quyết đã chỉ rõ nhiệm vụ này

như sau: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của

bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [25, tr.27-31]

Năm 2014, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về “xây dựng và

phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước”, đề ra nhiệm vụ bảo tồn và phát huy DSVH gắn với phát triển kinh tế xã hội và

tuyên truyền đối ngoại: “Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn

và phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế xã hội Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch” [38, tr.6-9]

Luật di sản văn hóa được quốc hội nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam khóa X kỳ

họp thứ 9 thông qua đã khẳng định “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của

cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [9, tr.17]

Năm 2014, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết Trung ương 9 Khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu bền vững đất nước và đề ra

nhiệm vụ: “Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di

sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn

Trang 32

hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phat triển du lịch” [38, tr.6-9]

Trong những năm qua, nước ta đã không ngừng quan tâm đến di sản văn hóa nói chung và di tích LS-VH nói riêng thông qua việc không ngừng nâng cao nhận thức, bổ sung kịp thời vào các chỉ đạo và định hướng của Đảng; từng bước thể chế hóa thành luật pháp, chính sách về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa Việc thực hiện chính sách này là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội

1.3.2 Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa

Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH là một khâu hợp thành chu trình chính sách, công đoạn này quan trọng không thể thiếu trong chu trình chính sách, là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống Để có được một chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH tốt, các nhà hoạch định chính sách đã phải nghiên cứu, tìm tòi rất công phu Nhưng nếu các chính sách ấy không được thực hiện thì đều trở thành vô nghĩa Khi thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH, ta cần nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của thực thi chính sách công, từ đó chủ động tích cực tham gia thực thi một cách có hiệu quả

Sau khi các chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH được hoạch định và ban hành, các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước thực thi chính sách tuân thủ theo các bước sau:

- Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH

Đây là bước quan trọng, cần thiết việc tổ chức thực thi chính sách là quá trình phức tạp, lại diễn ra trong thời gian dài vì thế cần có kế hoạch, chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện một cách hoàn toàn chủ động Kế hoạch này phải được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các cơ quan triển khai thực hiện chính sách từ trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện Kế hoạch bao gồm các nội dung sau đây: Kế hoạch về tổ chức, điều hành như hệ thống các cơ quan tham gia, số lượng và chất lượng nhân sự, cơ chế thực

Trang 33

thi; Kế hoạch cung cấp nguồn vật lực như tài chính, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho

tổ chức thực thi chính sách; Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện; Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách; Dự kiến về quy chế, nội quy về tổ chức và điều hành thực thi chính sách, dự kiến kế hoạch thực thi ở cấp nào thì do lãnh đạo cấp đó xem xét thông qua

- Bước 2: Phổ biến tuyên truyền chính sách:

Sau khi bản kế hoạch triển khai thực hiện chính sách được thông qua, các cơ quan nhà nước tiến hành triển khai thực hiện theo kế hoạch Việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách là một hoạt động quan trọng Nó giúp cho nhân dân, các cấp chính quyền hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách, về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định, về tính khả thi của chính sách và giúp cho chính sách được triển khai thuận lợi và có hiệu quả Việc tuyên truyền này cần phải được thực hiện thường xuyên liên tục, kể cả khi chính sách đang được thực thi để các đối tượng cần được tuyên truyền luôn củng cố lòng tin vào chính sách và tích cực thực hiện

- Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách:

Chính sách thường được thực hiện trên phạm vi rộng, các cá nhân và tổ chức tham gia với số lượng lớn Các hoạt động thực hiện chính sách diễn ra phong phú và phức tạp theo không gian và thời gian.Vì vậy để tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả, cần phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham qia thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách Hoạt động này phải diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của chính sách

- Bước 4: Duy trì chính sách công

Hoạt động duy trì chính sách công là toàn bộ hoạt động đảm bảo cho chính sách phát huy tác dụng trong đời sống chính trị xã hội Phải thường xuyên quan tâm tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực thi chính sách Tạo lập môi trường thuận lợi cho thực thi chính sách Chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh mới Các cơ quan nhà nước có thể kết hợp sử

Trang 34

dụng các biện pháp hành chính để duy trì chính sách Tăng cường thực hiện dân chủ để người dân tham gia và chấp hành chính sách đồng thời đóng góp, đề xuất các biện pháp để hoàn thành mục tiêu

- Bước 5: Điều chỉnh chính sách

Điều chỉnh chính sách là hoạt động cần thiết, diễn ra thường xuyên trong quá trình tổ chức thực thi chính sách Hoạt động này diễn ra để chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh cơ chế, biện pháp chính sách để thực hiện có hiệu quả không làm thay đổi mục tiêu của chính sách Yêu cầu chỉ điều chỉnh cơ chế, biện pháp hoặc bổ sung hoàn chỉnh mục tiêu cho phù hợp với tình hình thực tế Nếu điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, thì coi như chính sách không tồn tại

- Bước 6: Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách

Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách là hoạt động cảu cơ quan, cán bộ, công chức có thẩm quyền thực hiện thông qua các công cụ hữu ích nhằm làm cho các chủ thể thực thi nêu cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện các biện pháp theo định hướng chính sách Thông qua hoạt động này, phát hiện đánh giá khách quan về những điểm mạnh, điểm yếu của công tác tổ chức thực thi chính sách; giúp phát hiện những thiếu xót trong công tác lập kế hoạch tổ chức thực thi để điều chỉnh bổ sung, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách đồng thời phòng, chống những hành vi vi phạm quy định trong thực thi chính sách

- Bước 7: Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm

Hoạt động đánh giá thực thi chính sách có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực thi chính sách, trong đó đánh giá toàn bộ được thực hiện sau khi kết thúc chính sách Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách là các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến đại phương Cơ sở để đánh giá

là kế hoạch được giao và những nội quy, quy chế được xây dựng, các văn bản liên tịch giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội và các văn bản quy phạm khác Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả điều hành của cơ quan nhà nước, còn xem xét, đánh giá việc thực thi của các đối tượng tham gia trực tiếp hay gián tiếp thực hiện chính sách, nghĩa là tất cả các thành viên trong xã hội với tư cách là công dân Cơ

Trang 35

sở, thước đo để đánh giá là tinh thần hưởng ướng với mục tiêu chính sách và ý thức chấp hành những quy đinh, cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện không gian và thời gian

1.3.3 Kết quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa ở nước ta hiện nay

Nhìn chung, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã cố gắng nỗ lực trong công tác thực hiện các chính sách bảo tồn và phát huy các di tích LS-VH Kể từ khi hội nhập và phát triển, nước ta đã ngày càng quan tâm, hoàn thiện hệ thống pháp luật về di sản văn hóa nói chung và di tích LS-VH nói riêng Các chính sách về lĩnh vực di sản văn hóa ngày càng hoàn thiện, xác định rõ trách nhiệm cho chính quyền và nhân dân, tạo động lực định hướng thực hiện thực hiện các chính sách bảo tồn và phát huy các di tích LS-VH và đạt được những kết quả nhất định Hệ thống các chính sách về bảo tồn, phát huy di tích LS-VH đã được ban hành phù hợp với tình hình thực tiễn, được sự tham gia tích cực của toàn xã hội và nhận được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế

Nước ta đã không ngừng nâng cao nhận thức, tiếp thu ý kiến đóng góp của cộng đồng, xã hội từ thực tiễn thực hiện các chính sách về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH bổ sung vào các văn bản chỉ đạo, định hướng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; từng bước thể chế hóa thành luật phá, chính sách, đảm bảo quyền

Trang 36

và nghĩa vụ văn hóa của công dân đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH vì lợi ích chính đáng của mỗi người dân, mỗi dân tộc

Đất nước ta đã có hơn ba ngàn di tích được xếp hạng cấp quốc gia và hơn bảy vạn di tích được xếp hạng cấp tỉnh Việc đầu tư tu bổ di tích đã từng bước đi vào nề nếp và tuân thủ chặt chẽ hơn các quy định của pháp luật Đặc biệt, dù đất nước ta còn nhiều khó khăn, thử thách, song để đạt được mục tiêu ngăn chặn có hiệu quả tình trạng xuống cấp của hệ thống các di tích LS-VH có nguy cơ mất mát vĩnh viễn bằng các cách ban hành và thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH cụ thể, thiết thực

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH vẫn còn tồn tại những hạn chế về mặc nhận thức về vai trò, ý nghĩa của việc thực hiện bảo tồn và phát huy giá trị các di tích và trách nhiệm của toàn

xã hội đối với di tích LS-VH chưa sâu sắc, toàn diện và cũng chưa được cụ thể hóa bằng các biện pháp, kế hoạch và chương trình cụ thể Chúng ta còn lúng túng trong việc xử lý một cách hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, chưa nhận thức thật sâu sắc vị trí, vai trò của di tích trong quá trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc

tế, cá biệt có nơi, có lúc vẫn tồn tại xu thế thương mại hóa di tích, đặt các mục tiêu, dự

án phát triển kinh tế, đô thị hóa cao hơn các mục tiêu về bảo vệ di tích, thậm chí có những dự án về phát triển kinh tế được triễn khai tại khu vực có di tích nhưng dự án không hề đề xuất bất cứ biện pháp nào đề bảo tồn di tích Tâm lý của nhiều nhà lãnh đạo ở các địa phương có dự án về bảo tồn di tích muốn làm cho di tích của mình to đẹp hơn; thậm chí có nơi khai quật được nền móng kiến trúc quý, nhưng không được quan tâm đầu tư thỏa đáng để bảo tồn, phát huy giá trị mà chỉ phỏng dựng khi không có một

tư liệu khoa học làm cơ sở Nhận thức còn hạn chế ở việc thực hiện không đúng những nguyên tắc trong quản lý, tu bổ, phục hồi hoặc “làm mới” di tích LS-VH Chính việc giữ gìn tính “chân xác” của di tích mới tạo được sức hút đối với khách du lịch

Hạn chế về công tác xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích

LS-VH, cụ thể như: thiếu định hướng, thiếu những chính sách, chế tài để khuyến khích, kêu gọi sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân Các nguồn lực do dân đóng góp chưa được quy tụ dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước, nên không được định hướng để sử

Trang 37

dụng có hiệu quả Đồng thời, việc sử dụng nguồn xã hội hóa cũng như phân cấp quản

lý bộc lộ hạn chế so với yêu cầu của khoa học, không theo Luật di sản văn hóa, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa gây ra tình trạng làm sai lệch yếu

tố gốc, làm mới di tích, không theo đúng mục tiêu của chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích LS-VH

Hạn chế về nguồn ngân sách, nguồn ngân sách nhà nước đầu tư cho việc thực hiện các chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích LS-VH trong thời gia qua là rất lớn, nhưng so với nhu cầu thực tiễn vẫn còn khá khiêm tốn, với vài trăm tỷ đồng trên một năm, chia ra cho mỗi tỉnh cũng chỉ vài tỷ đồng một năm Con số đó chỉ đủ tu bổ một di tích kiến trúc đơn giản theo thời giá hiện nay Trong khi việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích LS-VH còn rất nhiều khâu, công việc quan trọng, cấp bách khác

Chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong tổ chức thực thi chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích LS-VH Hạn chế trong việc ban hành các chính sách để đảm bảo sự hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và huy di tích LS-VH Việc khai thác du lịch và dịch vụ tại di tích còn ồ ạt, thiếu sự đồng bộ Hạn chế về công tác tuyên truyền, công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực Trong khi nhu cầu khoa học ngày càng cao của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích thì khả năng của cán bộ làm công tác này còn hạn chế

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa

* Hệ thống chính trị

Yếu tố chính trị là toàn bộ các yếu tố tạo nên đời sống chính trị của xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, bao gồm môi trường chính trị, hệ thống các chuẩn mực chính trị, chủ trương, cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng và quá trình tổ chức thực hiện chúng; các quan hệ chính trị và ý thức chính trị; hoạt động của hệ thống chính trị; Yếu tố chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả của hoạt động thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các di tích LS-VH Việt Nam có hệ thống chính trị luôn ổn định, phát triển bền vững chính là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực hiện các chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH Nhờ đó củng cố ý

Trang 38

thức và niềm tin chính trị của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của đảng và nhà nước Đây là điều kiện quan trọng để việc thực thi chính sách được diễn ra và đạt kết quả nhất định

* Nền kinh tế - thị trường và phát triển du lịch

Kinh tế thị trường là thành tựu chung của nền văn minh nhân loại Ở nước ta, phát triển kinh tế thị trường có nhiều ưu điểm và tích cực đối với sự phát triển xã hội trên tất

cả các lĩnh vực trong đó có việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH Phát triển du lịch góp phần phát huy giá trị các di tích LS-VH Tuy nhiên, bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường cũng dễ làm mai một đi phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp của dân tộc, biến những di tích lịch sử - văn hóa của dân tộc thành sản phẩm hàng hóa theo mục đích tất cả vì lợi nhuận, làm cho tư tưởng, lối sống, đạo đức vốn được tạo dựng trong truyền thống, trong cách mạng, trong kháng chiến ngày càng mất đi, v.v Bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH chính là để giúp cho sự phát triển kinh tế - xã hội được bền vững, đặc biệt trong phát triển du lịch Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH là việc làm có ý nghĩa quan trọng trong mọi thời đại Nếu một sự phát triển chỉ có thể mang lại những lợi ích kinh tế trước mắt mà khai thác nguồn thu không phù hợp, không đúng đối tượng, khai thác du lịch có khả năng hủy hoại di tích thì sự phát triển không phải là bền vững, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH

* Hội nhập quốc tế và đô thị hóa

Hội nhập quốc tế là xu thế thu hút mọi quốc gia trong đó có Việt Nam Thời gian qua, nước ta đã từng bước chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới Những kết quả đạt được trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần quan trọng vào tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế Bên cạnh đó Hội nhập quốc tế cũng có ảnh hưởng đến các chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH ở nước ta

Đô thị hóa là quá trình phát triển tất yếu của thời đại, đó là xu thế chung của toàn cầu hiện nay, đặc biệt trong quá trình hội nhập quốc tế Đô thị hóa tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của một quốc gia nói chung và của vùng nông thôn Việt Nam nói riêng Nền kinh tế càng phát triển thì đô thị hóa càng diễn ra nhanh chóng Nếu không

Trang 39

có giải pháp và chiến lược cụ thể thì sẽ gặp vướng mắt trong quá trình qui hoạch, quản

lý, sử dụng đất đai nông nghiệp, đất di tích Tổ chức không gian đô thị mà không theo định hướng, giải pháp, quy hoạch phù hợp sẽ gây hệ lụy về văn hoá, xã hội, môi trường, ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH

* Các yếu tố bên ngoài và bên trong

Quá trình tổ chức và thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH diễn ra trong một thời gian dài, một không gian rộng lớn và liên quan đến nhiều tổ chức cá nhân, vì thế kết quả của tổ chức thực thi chính sách công nói chung

và chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH cũng sẽ chịu nhiều yếu tố tác động cả bên ngoài lẫn bên trong, cụ thể như sau:

Một là tính chất của vấn đề chính sách công, đây là yếu tố khách quan ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức thực thi chính sách nhanh hay chậm, thuận lợi hay khó khăn Hai là môi trường thực thi chính sách công, đây là yếu tố liên quan đến các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường tự nhiên và môi trường quốc tế Các hoạt động này diễn ra theo quy luật trong những điều kiện cụ thể, nên nó độc lập với quá trình thực thi chính sách

Ba là, mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách công, yếu tố này thể hiện sự thống nhất hay không về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu hính sách công Nếu lợi ích của các đối tượng tham gia thực hiện CSC không mâu thuẫn với nhau và với đối tượng thụ hưởng thì chính sách được triễn khai thực hiện dễ dàng, hiệu quả và ngược lại

Bốn là, tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách công, yếu tố này được hiểu

là thực lực và tiềm năng mà mỗi nhóm có được trong mối quan hệ so sánh với các nhóm đối tượng khác; tiềm lực này được thể hiện trên các phương diện chính trị, kinh

tế, xã hội và cả quy mô và trình độ;

Năm là, đặc tính của các đối tượng CSC, đây là những tính chất đặc trưng mà các đối tượng có được bản tính cố hữu hoặc do môi trường sống tạo nên qua quá trình vận động mang tính lịch sử (tính tự giác, tính kỷ luật, tính sáng tạo, lòng quyết tâm, tính truyền thống )

Năm là, năng lực thực thi CSC của cán bộ, công chức, đây là yếu tố có vai trò

Trang 40

quyết định đến kết quả tổ chức thực thi CSC Năng lực thực thi của cán bộ, công chức

là thước đo bao gồm nhiều tiêu chí phản ảnh về đạo đức công vực, về năng lực thiết

kế, tổ chức, năng lực thực tế, năng lực phân tích, dự báo để có thể chủ động ứng phó với những tình huống phát sinh trong tương lai Cán bộ, công chức có năng lực thực thi chính sách tốt, không những chủ động điều phối được các yếu tố chủ quan tác động theo định hướng, mà còn khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của các yếu tố khách quan để công tác tổ chức thực thi CSC mang lại kết quả thực sự

Sáu là mức độ tuân thủ các bước trong quy trình tổ chức thực thi CSC Mỗi bước trong quy trình đều có vị trí, ý nghĩa to lớn đối với quá trình thực thi chính sách Điển hình như vai trò của công luận và truyền thông, trước thực thi, chính sách được phổ biến rộng rãi đến mỗi đối tượng và toàn dân để họ nhận thức được đầy đủ ý nghĩa, mục tiêu của chính sách, đồng thời cũng mang lại lợi ích từ CS Qua đó củng cố thêm niềm tin của nhân dân và các đối tượng tích cực thực hiện CS Đồng thời họ còn vận động lẫn nhau chấp hành CS, tạo thành những phong trào thi đua thực hiện chính sách Như vậy họ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tổ chức thực thi chính sách

Bảy là các điều kiện vật chất để thực thi chính sách công Yếu tố này ngày càng

có ý nghĩa quan trọng để cùng nhân sự và các yếu tố khác thực hiện thắng lợi chính sách của nhà nước Để quản lý mọi mặt hoạt động trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay, nhà nước luôn phải tăng cường các nguồn lực vật chất và nhân sự, trong

đó nguồn lực vật chất tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu Nếu thiếu các điều kiện vật chất kỹ thuật cho công tác phổ biến và tuyên truyền chính sách thì các cơ quan nhà nước khó có thể chuyển tải những nội dung CS đến với mọi đối tượng một cách thường xuyên

Tám là sự đồng tình, ủng hộ của người dân Đây là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của một chính sách Chỉ khi nào nhận thức của toàn bộ cộng đồng thay đổi theo hướng mới, nhận thức những việc cần làm, những việc không được làm, không nên đối với di tích LS-VH theo quy định của pháp luật, theo các chính sách đã ban hành việc quản lý, thực thi chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DS-VH mới thuận lợi Sức mạnh của cộng đồng sẽ phát huy mạnh mẽ, tạo cơ sở cho việc bảo tồn và phát huy di tích LS-VH ở nước ta ngày một tốt hơn

Ngày đăng: 08/06/2018, 17:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm