1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả công tác quản lý các điểm di tích lịch sử văn hóa tại thành phố sơn la, tỉnh sơn la

79 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC ĐIỂM DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TẠI THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA .... 29 Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ MỘT SỐ ĐIỂM

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT

Giảng viên hướng dẫn : TH.S NGÔ ÁNH HỒNG Sinh viên thực hiện : MAI THỊ THƯ

Lớp : QLVH 12 Khóa học : 2011 - 2015

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo - những người đã tận tình

truyền thụ kiến thức quý báu cho em trong những năm qua Đặc biệt em xin cảm ơn sự

giúp đỡ của cô giáo Th.S Ngô Ánh Hồng - người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn

thành bài khóa luận tốt nghiệp Em rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ bảo và giúp đỡ

của các thầy, cô giáo trong quá trình học tập sau này

Nhân đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban quản lí Di tích lịch sử

Nhà tù Sơn La, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Sơn La, Bảo tàng tỉnh Sơn La…

đã quan tâm tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận của mình

Do còn nhiều hạn chế về thời gian, kiến thức và trình độ nên bài khóa luận không

tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong các thầy cô đóng góp ý kiến để bài khóa

luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC ĐIỂM DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TẠI THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA 10

1.1 Cơ sở lí luận về công tác quản lí di tích lịch sử văn hóa 10

1.1.1 Khái niệm quản lí 10

1.1.2 Khái niệm di tích và di tích lịch sử văn hóa 11

1.1.3 Khái niệm quản lí di tích lịch sử văn hóa 12

1.1.4 Nội dung công tác quản lí di tích lịch sử văn hóa 13

1.2 Giới thiệu vài nét về thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La 14

1.2.1 Lịch sử hình thành 14

1.2.2 Điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế, xã hội 16

1.2.3 Đặc điểm văn hóa và con người thành phố Sơn La 20

1.3 Một số di tích lịch sử văn hóa tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La 22

1.3.1 Giới thiệu Nhà tù Sơn La 22

1.3.2 Di tích Văn bia Quế lâm Ngự chế và Đền thờ Vua Lê Thái Tông 25 1.3.3 Di tích lịch sử Cầu trắng 29

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ MỘT SỐ ĐIỂM DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TẠI THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA 34

2.1 Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lí cho công tác quản lí di tích 34

2.1.1 Cơ sở khoa học 34

2.1.2 Cơ sở pháp lí 34

2.2 Bộ máy quản lí di tích lịch sử văn hóa tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La 36

Trang 4

2.2.1 Giới thiệu về Ban quản lí di tích lịch sử văn hóa tỉnh Sơn La 36

2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Ban quản lí tỉnh Sơn La 37

2.3 Thực trạng hoạt động quản lí di tích lich sử tại thành phố Sơn la 39

2.3.1 Cơ chế chính sách quản lí 39

2.3.2 Các công cụ quản lý nhà nước 42

2.3.3 Các hoạt động tổ chức tuyên truyền, quảng bá giới thiệu về di tích 43

2.3.4 Hoạt động bảo vệ, tôn tạo phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch 45

2.3.5 Thanh, kiểm tra việc chấp hành pháp luật giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về di tích lịch sử văn hóa 48

2.3.6 Quản lí đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực quản lí di tích 49

2.4 Những thành tựu và hạn chế của công tác quản lý các điểm di tích lịch sử văn hóa tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La 50

2.4.1 Những thành tựu 50

2.4.2 Những hạn chế 51

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 52

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC ĐIỂM DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TẠI THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA 56

3.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí và công tác cán bộ 56

3.1.1 Cần tổ chức Ban quản lí riêng tại mỗi di tích lịch sử 56

3.1.2 Đào tạo cán bộ Ban quản lí và tuyển dụng nguồn nhân lực 57

3.1.3 Cần có sự phân công trách nhiệm rõ ràng cho từng cán bộ nhân viên để tránh công việc chồng chéo 58

Trang 5

3.2 Đổi mới chính sách quản lí các di tích lịch sử văn hóa tại thành phố Sơn La 59 3.3 Bảo vệ cảnh quan khu di tích 61 3.4 Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 61 3.5 Nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, tôn tạo và phát huy giá trị

di tích 63 3.6 Phát triển giá trị di tích lịch sử văn hóa với hoạt động phát triển

du lịch 66 KẾT LUẬN 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nhắc đến Sơn La là ta nhắc đến những tác phẩm văn học như Người lái

đò Sông Đà (Nguyễn Tuân), Vợ Chồng A Phủ (Tô Hoài), Tiễn dặn người yêu

và đặc biệt hơn khi Sơn La được ví như là một viên ngọc của Tổ quốc với công trình Thủy điện Sơn La lớn nhất Đông Nam Á nằm bên con Sông Đà đầy thơ mộng và hùng vĩ ngoài ra còn nổi tiếng là xứ sở hoa ban, hoa đào và những bông lan rừng với những điệu xòe làm say đắm lòng người, với những bản nhạc lời ca ngọt ngào, vui tươi rộn ràng Sơn La hiện lên là một phố núi rực rỡ ánh điện sáng lung linh, huyền ảo đã được người nghệ sĩ ví như là một viên ngọc của Tổ quốc

Nằm ở phía Tây Bắc Việt Nam, Sơn La là vùng núi cao nằm ở biên giới Việt Nam - Lào Phía Bắc giáp với Lào Cai, Yên Bái Phía Đông giáp với Phú Thọ, Hòa Bình Phía Tây giáp với tỉnh Lai Châu, Điện Biên Phía Nam giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào có chung đường biên giới Việt Nam - Lào với 250km

Sơn La có khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, mùa đông lạnh khô, mùa

hè nóng ẩm, mưa nhiều Do địa hình bị chia cắt sâu và mạnh nên hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu, cho phép phát triển một nền sản xuất nông - lâm nghiệp phong phú Vùng cao nguyên Mộc Châu phù hợp với cây trồng và vật nuôi vùng ôn đới Vùng dọc sông Đà phù hợp với cây rừng nhiệt đới xanh quanh năm

Bên cạnh đó, Sơn La còn nổi tiếng với nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh như: Di tích nhà tù Sơn La, Tượng đài thanh niên xung phong Ngã

ba cò nòi, Bảo tàng tỉnh Sơn La, Hang Dơi - Mộc Châu, Suối nước nóng Bản

Trang 7

Mòng, Văn bia Quế lâm Ngự chế và Đền thờ Vua Lê Thái Tông, Di tích Cây

đa bản Hẹo, Di tích lịch sử Cầu trắng Sơn La…

Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện phong phú và đa dạng hơn

Di tích lịch sử văn hóa có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc Di tích lịch sử không phải là sự tái hiện, lặp lại lịch sử

mà đó chính là chứng tích của lịch sử đó Nó vừa có giá trị về lịch sử, văn hóa

xã hội, vừa có giá trị về kinh tế, giáo dục truyền thống của xã hội Di tích là những bằng chứng vật chất phản ánh cội nguồn và lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Có thể nói, các di tích lịch sử văn hóa tiềm ẩn dưới dáng vẻ cổ kính là một bảo tàng sống về kiến trúc, điêu khắc, trang trí và phong tục cổ truyền, tín ngưỡng niềm tin của nhân dân Việt Nam Những di tích ấy nếu được bảo vệ tốt sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc tìm hiểu cội nguồn văn hóa dân tộc để lựa chọn, khai thác cũng như bảo tồn phát huy những truyền thống thuần phong mĩ tục lấy đó làm nền tảng xây dựng một nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc

Quản lí di tích lịch sử văn hóa là định hướng tạo điều kiện tổ chức điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích lịch sử văn hóa làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực

Quản lí di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận quan trọng cấu thành di sản văn hóa, chính vì vậy việc quản lí di tích lịch sử văn hóa cũng cần tiến hành theo nội dung quản lí nhà nước về di sản được đề cập trong Luật di sản văn hóa do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Hiện nay, hệ thống các di tích lịch sử văn hóa tại thành phố Sơn La đang chịu tác động của thời gian, thiên nhiên, quá trình đô thị hóa, hậu quả là rất nhiều

di tích bị lấn chiếm, cần có sự đầu tư, tu bổ Hơn nữa, Ban quản lí cho từng di tích chưa được thành lập, hoạt động tuyên truyền phổ biến trong nội dung và giá

Trang 8

trị của các di tích chưa được đẩy mạnh, các hoạt động nghiệp vụ còn bộc lộ nhiều hạn chế, đội ngũ cán bộ còn thiếu cũng như năng lực quản lí còn hạn chế Công tác quản lí di tích vẫn chưa được địa phương quan tâm triệt để

Là một con người được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Sơn La, hơn nữa

là sinh viên chuyên ngành Quản lí văn hóa theo tôi việc tìm hiểu về các di tích, danh lam thắng cảnh là điều cần thiết Với những lí do trên, tôi đã chọn

đề tài : "Nâng cao hiệu quả công tác quản lý các điểm di tích lịch sử văn

hóa tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La" với mong muốn nhằm bảo vệ và

phát huy các giá trị văn hóa đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của quần chúng nhân dân, tăng cường hiệu lực quản lí của nhà nước, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm của những người làm công tác bảo vệ giá trị di sản văn hoá đồng thời giới thiệu, quảng

bá hình ảnh một số di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh tại thành phố Sơn La tới đông đảo quần chúng nhân dân trong cả nước

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung vào nghiên cứu công tác quản lí

di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

Phạm vi nghiên cứu : Một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu trên địa bàn thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La như : Nhà tù Sơn La, Di tích Văn bia Quế lâm Ngự chế và Đền thờ Vua Lê Thái Tông, Di tích lịch sử Cầu trắng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Tập hợp một cách đầy đủ có hệ thống toàn bộ tư liệu hiện có về các di tích nhằm đi sâu vào tìm hiểu thực trạng công tác quản lí di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Sơn La Từ đó, đề xuất một số giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lí di tích lịch sử

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp tài liệu

Trang 9

- Phương pháp phân tích SWOT

- Phương pháp liên ngành trong văn hóa học: lịch sử, bảo tàng, văn hóa học…

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế

5 Đóng góp của đề tài

Đề tài đi vào tìm hiểu thực trạng công tác quản lý các điểm di tích lịch

sử văn hóa tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, phân tích những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân chủ quan, khách quan làm cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý các điểm di tích lịch sử văn hóa tại thành phố

Sơn La, tỉnh Sơn La trong tình hình mới

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC ĐIỂM

DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TẠI THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

1.1 Cơ sở lí luận về công tác quản lí di tích lịch sử văn hóa

1.1.1 Khái niệm quản lí

Có nhiều học giả, nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về quản lí Theo

Henrry Fayol (1886 – 1925) là người đầu tiên tiếp cận khái niệm quản lí theo

quy trình và là người có tầm ảnh hưởng lớn trong lịch sử thời kì từ cận hiện

đại tới nay quan niệm rằng: “Quản lí là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của các cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra”

Stephan Robbins quan niệm rằng: “Quản lí là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra”

Chủ thể quản lí có thể là một cá nhân hay một nhóm người, một tổ chức Đối tượng quản lí cũng có thể là một cá nhân hay một nhóm người, cộng đồng hay một tổ chức nhất định Quản lí phải là một quá trình liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí sao cho sử dụng tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ hiện hành

Với ý nghĩa đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm quản lí như sau: Quản

lí là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí

để đạt được mục tiêu nhất định thông qua hệ thống luật pháp và các qui định

có tính pháp lí Nội dung cơ bản của quản lí là: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra

Trang 11

Có hai cấp độ quản lí cơ bản:

Quản lí cấp vĩ mô – Dưới góc độ văn hóa: Quản lí văn hóa vĩ mô là quản

lí các hoạt động văn hóa trong khuôn khổ rộng lớn, bao quát cần phải có đầy

đủ văn kiện pháp lí để quản lí

Quản lí cấp vi mô (chuyên ngành) – Dưới góc độ văn hóa: Quản lí các ngành thư viện, bảo tàng, nghệ thuật, di tích, danh thắng

1.1.2 Khái niệm di tích và di tích lịch sử văn hóa

Di tích

Đại từ điển Tiếng Việt giải thích: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khoa học nghiên cứu Theo nghĩa di tích văn hóa thì nó là di sản văn hóa lịch sử bất động”

[8,tr140]

Giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa của Nhà xuất bản Đại học

Quốc gia Hà Nội đưa ra khái niệm về di tích như sau: “Di tích là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại” [4,tr7]

Như vậy công trình xây dựng, địa điểm và cổ vật, các di vật, bảo vật Quốc gia thuộc công trình địa điểm đó phải có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học mới được coi là di tích lịch sử văn hóa có nghĩa chúng phải là vật chứng cho một sự kiện lớn hoặc gắn bó với cuộc sống, sự nghiệp của anh hùng giải

Trang 12

phòng dân tộc, danh nhân kiệt xuất hoặc chúng là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng có giá trị tư tưởng, giá trị thẩm mĩ đại diện cho một thời đại có tác dụng thúc đẩy sự phát triển xã hội ở một thời điểm nhất định

Tiêu chí để một công trình, một địa điểm trở thành di tích lịch sử văn hóa được quy định tại Điều 28 khoản 1 của Luật Di sản văn hóa như sau:

- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước

- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước

- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kì cách mạng kháng chiến

- Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ học

- Quần thể các công trình kiến trúc, nghệ thuật của một hay nhiều giai thoại lịch sử

Tóm lại, di tích lịch sử văn hóa là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hóa lâu đời của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hóa, về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời là một bộ phận cấu thành kho tàng di sản văn hóa nhân loại

1.1.3 Khái niệm quản lí di tích lịch sử văn hóa

Quản lí di tích lịch sử văn hóa là định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích lịch sử văn hóa làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực

Quản lí di tích lịch sử văn hóa là hoạt động nằm trong công tác quản lí di sản văn hóa Hiện nay, quản lí di sản văn hóa không chỉ đơn thuần là quản lí các di tích vật thể mà quan trọng hơn là những người làm công tác quản lí

Trang 13

phải biết đánh thức những giá trị văn hóa phi vật thể để có tác động tích cực đến đời sống cộng đồng

Trong Điều 4, Luật Di sản văn hóa cũng đề cập đến các hoạt động xung quanh vấn đề quản lí di tích lịch sử văn hóa như sau:

“Bảo quản di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, bảo vật, quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa, hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch

Như vậy, quản lí di tích là quá trình tác động liên tục của chủ thể (Nhà nước, Bộ Văn hóa, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, các cơ quan, chính quyền các cấp…) lên đối tượng quản lý (di tích lịch sử, danh thắng…) bằng hoạch định, cơ chế, chính sách, bằng pháp luật, bằng tổ chức lãnh đạo, kiểm tra để nhằm đạt được mục đích bảo tồn và phát huy giá trị của di tích, danh thắng thông qua hoạt động du lịch

1.1.4 Nội dung công tác quản lí di tích lịch sử văn hóa

Di tích lịch sử văn hóa một bộ phận cấu thành di sản văn hóa, chính vì vậy việc quản lí di tích lịch sử văn hóa cũng cần tiến hành theo nội dung quản

lí nhà nước về Di sản văn hóa được đề cập trong Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001 Việc quản lý di tích lịch sử văn hóa bao gồm những nội dung sau:

Trang 14

- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, chính sách cho

sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa;

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di tích lịch sử văn hóa;

- Tổ chức chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa: tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về di tích lịch sử văn hóa;

- Tổ chức quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di tích lịch sử văn hóa;

- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ, phát huy giá trị

- Thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật giải quyết khiếu nại tố cáo và

xử lí vi phạm pháp luật về di tích lịch sử văn hóa

Các nội dung về quản lí di tích lịch sử văn hóa có phạm vi rất rộng Do vậy, phải có phương thức quản lý thích hợp và được điều chỉnh theo từng thời

kỳ thì mới có thể thực hiện tốt chức năng Quản lí Nhà nước về Di tích lịch sử văn hóa

1.2 Giới thiệu vài nét về thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

1.2.1 Lịch sử hình thành

Sơn La là tỉnh miền núi cao nằm ở phía Tây Bắc Việt Nam trong khoảng tọa độ 21°15'- 21°31' Bắc và 103°45'- 104°00' Đông Phía Bắc giáp với Lào Cai, Yên Bái Phía Đông giáp với Phú Thọ, Hòa Bình Phía Tây giáp với tỉnh Lai Châu, Điện Biên Phía Nam giáp với Thanh Hóa và Sơn La có 250km đường biên giới với nước bạn Lào

Trang 15

Nằm cách Hà Nội 302km trên trục Quốc lộ 6 Hà Nội - Sơn La - Điện Biên, Sơn La là một tỉnh nằm sâu trong nội địa Tỉnh này có 2 cửa khẩu quốc gia với Lào là Chiềng Khương và Pa Háng Sơn La có độ cao trung bình 600 - 700m so với mặt biển, địa hình chia cắt sâu và mạnh, 97% diện tích tự nhiên thuộc lưu vực sông Đà, sông Mã, địa hình tương đối bằng phẳng Cùng với các tỉnh Hoà Bình, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La là mái nhà của đồng bằng Bắc Bộ Phần lớn tỉnh Sơn La ngày nay (gồm thành phố Sơn La, huyện Mộc Châu, Mai Sơn, Sông Mã, Thuận Châu, Mường La, Quỳnh Nhai, Sốp Cộp, Phù Yên, Bắc Yên, Yên Châu, Vân Hồ) Trước năm 1479 là lãnh thổ của vương quốc Bồn Man (gồm Tương Dương, Kỳ Sơn của Nghệ An, Quan Hoa, Quan Sơn, Mường Lát của Thanh Hóa, tỉnh Hủa Phan của Lào và phần lớn Sơn La) Năm 1479 Sơn La chính thức được sát nhập vào Đại Việt thời vua

Lê Thánh Tông và thuộc xứ Hưng Hóa

Ngày 24 tháng 5 năm 1886: Thành lập châu Sơn La (thuộc phủ Gia Hưng, tỉnh Hưng Hoá), tách từ tỉnh Hưng Hóa thành cấp tương đương với tỉnh

Ngày 27 tháng 2 năm 1892: thành lập tiểu quân khu Vạn Bú gồm 2 phủ

1962-1975: Sơn La tái lập tỉnh, thuộc Khu tự trị Tây Bắc (đổi tên từ Khu

tự trị Thái Mèo), có 7 huyện: thêm huyện Quỳnh Nhai và Sông Mã, còn huyện Phù Yên chuyển sang tỉnh Nghĩa Lộ mới thành lập

Trang 16

Sau khi giải thể Khu tự trị Tây Bắc, tỉnh Sơn La nhập thêm 2 huyện của tỉnh Nghĩa Lộ giải thể là Phù Yên và Bắc Yên

Năm 2013, huyện Vân Hồ được thành lập, được tách từ huyện Mộc Châu Như vậy, hiện nay, Tỉnh Sơn La bao gồm 1 Thành phố và 11 huyện

1.2.2 Điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế, xã hội

* Điều kiện tự nhiên

Với diện tích 32.382km2 nằm dọc trục quốc lộ 6A nên rất thuận tiện cho việc phát triển giao lưu kinh tế - văn hoá - xã hội giữa thành phố Sơn La với các vùng trong cả nước Đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao lưu văn hoá giữa các vùng trong và ngoài thành phố

* Khí hậu:

Thành phố chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè nóng

ẩm, mưa nhiều; mùa đông khô lạnh, ít mưa Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 lượng mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 7, 8, 9 Do địa hình nghiêng dốc nên vào các tháng này thường có lũ lụt, đất bị rửa trôi mạnh, bạc màu nhanh Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau cộng với gió Tây khô nóng gây thiếu nước nghiêm trọng ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế, đặc biệt quá trình sản xuất nông – lâm nghiệp gặp rất nhiều khó khăn Qua đó cũng ảnh hưởng một phần đến các hoạt động văn hoá chung của toàn thành phố Tuy vậy, so với các vùng khác thì thành phố Sơn La có khí hậu dễ chịu hơn

* Địa hình:

Thành phố Sơn La nằm trong vùng kaster (là hiện tượng phong hóa đặc trưng của những miền núi đá vôi bị nước chảy xói mòn), địa hình chia cắt phức tạp, núi đá cao xen lẫn đồi, thung lũng, bồn địa Diện tích đất canh tác nhỏ hẹp, thế đất dốc dưới 250 chiếm tỉ lệ thấp Một số khu vực có các phiêng bãi tương đối bằng phẳng thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, tập trung ở các xã Chiềng Ngần, Chiềng Đen, Chiềng Xôm và phường Chiềng Sinh Độ

Trang 17

cao trung bình từ 700 – 800m so với mực nước biển Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc di chuyển cũng như việc tổ chức các hoạt động lớn của thành phố

Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Sơn La đã từng bước phát triển thương mại, dịch vụ, tập trung phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, hình thành vùng cây công nghiệp, trang trại sản xuất nông nghiệp Những thành quả đã đạt được trong phát triển kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho thành phố không ngừng hoàn thiện kết cấu hạ tầng Một thành phố trẻ năng động dần hiện hữu với những khu phố sầm uất, những công trình xây dựng bề thế để thành phố Sơn

La khẳng định vai trò đầu tầu kinh tế của tỉnh Sơn La trong thời kì hội nhập

* Thương mại:

Phát huy lợi thế nằm ở trung tâm của tỉnh, thương mại – dịch vụ phát triển nhanh và khá ổn định, giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của thành phố Sơn La

Các loại hình dịch vụ ngày càng đa dạng về loại hình, phong phú về chủng loại, hoạt động giao thương được đẩy mạnh đã mở ra hướng chuyển dịch phù hợp cho sự phát triển của kinh tế đô thị Sự tham gia của các thành phần kinh tế đã tạo ra thị trường hàng hoá phong phú và sôi động

Trang 18

Trong những năm qua thành phố đã sắp xếp lại và đầu tư xây dựng mới

hệ thống chợ nhằm đẩy mạnh lưu thông hàng hoá, đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân trên địa bàn toàn thành phố Hiện nay toàn thành phố có gần 3000 cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ khách sạn, nhà hàng, tạo việc làm cho hàng nghìn lao động

Các loại hình dịch vụ, vận tải, viễn thông, ngân hàng phát triển vượt bậc,

hệ thống cơ sở hạ tầng được tăng cường, phương tiện được đổi mới

Hệ thống dịch vụ bưu chính viễn thông được tăng cường đầu tư theo hướng hiện đại hóa với việc đẩy mạnh phát triển mạng điện thoại, internet và ứng dụng công nghệ thông tin di động (GSM) được tập trung phát triển

Triển vọng phát triển thương mại của thành phố đang được hé mở khi công trình thuỷ điện Sơn La đang xây dựng và từng bước hoàn thiện Phát triển thương mại đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Trong năm 2009, chỉ số giá tiêu dùng tăng 8,3 % Tổng mức lưu chuyển bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 1.020 tỷ đồng, đạt kế hoạch và tăng 9,6 % so với năm 2008

Không chỉ phát triển thương mại, thành phố Sơn La đang đẩy mạnh khai thác tiềm năng du lịch với các địa danh nổi tiếng như: Nhà tù Sơn La, Văn bia Quế lâm Ngự chế và Đền thờ Lê Thái Tông, Suối nước nóng bản Mòng Các điểm phục vụ cho phát triển du lịch như khách sạn, nhà hàng cao cấp ngày càng được mở rộng và đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu cần thiết cho khách

du lịch

Để khai thác một cách hiệu quả tiềm năng này, thành phố sẽ quy hoạch các điểm du lịch sinh thái, văn hoá lịch sử gắn với các phong tục, tập quán và truyền thống văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc trong tỉnh Đồng thời

Trang 19

thành phố còn mở rộng các tour du lịch: Hoà Bình - Mộc Châu - Thành phố Sơn La - Thành phố Điện Biên Phủ và Thành phố Sơn La - Mường La - SaPa Trong tương lai thành phố Sơn La sẽ là điểm dừng chân lý tưởng của du khách góp phần đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố

* Công nghiệp:

Trong những năm qua Đảng bộ, chính quyền thành phố Sơn La đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho các đơn vị, cá nhân có cơ hội đầu tư và mở rộng sản xuất kinh doanh

Nhờ đó, công nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng chiếm ưu thế với 550

cơ sở, hộ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đang hoạt động, thu hút trên 3.000 lao động, trên 30 % doanh nghiệp được cổ phần hoá

Ngoài cụm công nghiệp Chiềng Sinh đã được hình thành rõ nét, thành phố đang xây dựng thêm một số cơ sở quan trọng về công nghiệp chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng

Một trong những thế mạnh phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại thành phố là chế biến nông – lâm sản và sản xuất vật liệu xây dựng Một

số sản phẩm đã khẳng định uy tín, thương hiệu như: cà phê, xi măng, gạch,

Sự khởi sắc của ngành công nghiệp đã được khẳng định bằng tốc độ tăng trưởng bình quân 13,9%/năm, công nghiệp phát triển mở ra triển vọng mới trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp

* Nông nghiệp:

Là một thành phố miền núi, quỹ đất cho sản xuất nông nghiệp rất hạn chế, với phương châm biến khó khăn thành lợi thế, thành phố đã nỗ lực chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và phương thức mùa vụ nhằm biến những vùng đất khó khăn thành khu trồng cây công nghiệp tập trung, những trang trại chăn nuôi quy mô lớn, góp phần phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá và phát triển bền vững

Trang 20

Sự chuyển biến rõ nhất là hình thành vùng cây công nghiệp chủ lực như cây cà phê Ngoài ra, còn phát triển cây ăn quả trên 14.000ha cho sản lượng hơn 6.000 tấn quả trên năm

Với nỗ lực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, giá trị sản xuất đạt 30 triệu đồng/1ha, nhiều mô hình đạt 100 triệu đồng/1ha

Cùng với trồng trọt, thành phố cũng tập trung phát triển chăn nuôi với tổng đàn lợn 62.000 con, trâu bò khoảng 8.350 con và 455.000 con gia cầm, ngành chăn nuôi của thành phố Sơn La đạt giá trị 62,2 tỷ đồng, chiếm 51,4 % giá trị sản xuất nông nghiệp

*Về xã hội: Sơn La là một tỉnh miền núi, có 12 đơn vị hành chính (1

thành phố, 11 huyện) với 12 dân tộc cùng sinh sống Dân số của tỉnh, theo số liệu thống kê năm 2006, là trên 1 triệu người Trong đó, dân số ở khu vực nông thôn là chủ yếu, chiếm tỷ trọng 88,7%; khu vực thành thị chiếm 11,3% Dân số trong độ tuổi lao động khoảng 541 ngàn người, chiếm 54% dân số toàn tỉnh Lao động nông, lâm nghiệp chiếm gần 90% tổng số lao động Lao động công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và chế biến chiếm khoảng 10%

Nhân dân các dân tộc Sơn La có truyền thống cách mạng, đoàn kết, yêu nước Chính trị, trật tự an ninh, quốc phòng trên địa bàn luôn được đảm bảo Trình độ dân trí, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tay nghề của lao động ở Sơn La còn thấp so với yêu cầu phát triển Cả tỉnh hiện nay chỉ có 01 trường đại học, 01 trường cao đẳng, một số trường trung cấp và trung tâm đào tạo nghề Do vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức và lao động ở tỉnh phụ thuộc chủ yếu vào các trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội và các tỉnh khác Điều này cũng gây khó khăn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

1.2.3 Đặc điểm văn hóa và con người thành phố Sơn La

Thành phố Sơn La với dân số là 107.282 người (năm 2008) Thành phố

có 7 phường là: Quyết Tâm, Quyết Thắng, Tô Hiệu, Chiềng Lề, Chiềng Sinh,

Trang 21

Chiềng An, Chiềng Cơi và 5 xã gồm: Chiềng Cọ, Chiềng Đen, Chiềng Ngần, Chiềng Xôm, Hua La, với 161 tổ bản và tiểu khu

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường thì vấn đề văn hoá xã hội cũng được lãnh đạo thành phố Sơn La đặc biệt quan tâm

Thành phố Sơn La là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hoá, giáo dục, y

tế, của cả tỉnh, có hệ thống giao thông đường bộ khá thuận lợi tạo điều kiện cho thành phố trong việc lưu thông hàng hoá, trao đổi thông tin kỹ thuật, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh

Thành phố có 5 bệnh viện, xã phường nào cũng có trạm xá, 40 cơ sở khám chữa bệnh, có bệnh viện đa khoa khu vực 500 giường, 280 đội văn nghệ

Trang 22

tổ chức học thường xuyên ở các tổ, bản Hiện nay còn lưu giữ hàng ngàn quyển sách chữ Thái cổ (về văn học, luật lệ, dân ca) trong thư viện, bảo tàng

Đồng bào nơi đây rất thích ca hát đặc biệt là Khắp và có nhiều điệu múa, trò chơi dân gian, vui thì có rượu cần

Thiếu nữ Thái nơi đây nổi tiếng với bộ váy áo Cóm, chiếc khăn Piêu đội đầu với nhiều màu sắc và hoa văn Các chàng trai dân tộc Thái đen mặc quần cắt theo kiểu chân quê có cạp để thắt lưng, áo cánh xẻ ngực có cánh ở hai bên gấu vạt Dân tộc Thái có nhiều dòng họ, mỗi dòng họ có một quy định kiêng

kị riêng, người Thái còn có tục ở rể Ở nơi đây mọi người sống rất tình cảm đoàn kết giúp đỡ nhau khi khó khăn hoạn nạn

Trình độ dân trí của người dân không ngừng được nâng cao, nhân dân trong các xã bản đã tổ chức nhiều buổi sinh hoạt câu lạc bộ: nuôi con khoẻ, dạy con ngoan, sinh hoạt đoàn, nữ công Các phong tục truyền thống tốt đẹp được bảo tồn, phát huy

Nhiều công trình văn hoá thể thao được đầu tư xây dựng như: Sân vận động, các nhà văn hóa tại các tổ, bản, tiểu khu, với 83 % hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá Hầu hết các hộ gia đình đều được xem truyền hình Hầu hết các xã, phường thường xuyên tổ chức nhiều hoạt động giao lưu văn hóa văn nghệ, đặc biệt vào các ngày lễ lớn, nhiều địa bàn trong thành phố đã

tổ chức những hoạt động vui chơi, giải trí, văn hoá văn nghệ, thể dục, thể thao rất đặc sắc và nhiều ý nghĩa, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người dân trong toàn thành phố

1.3 Một số di tích lịch sử văn hóa tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

1.3.1 Giới thiệu Nhà tù Sơn La

Di tích lịch sử Cách mạng Nhà tù Sơn La nằm trên đồi Khau Cả, Tổ 8, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La Đầu năm 1908, dưới sự đốc thúc của tên

Trang 23

công xứ Gioăng Mông Pêra, Nhà tù Sơn La được xây dựng và hoàn thành vào

cuối năm đó

Với tính chất ban đầu là Nhà tù hàng tỉnh nên thiết kế xây dựng chỉ có 500m2 Nhà tù xây dựng bằng đá lẫn gạch, mái lợp tôn, không có trần, giường nằm cho tù nhân cũng được xây dựng bằng đá, mặt láng xi măng, mép ngoài của sàn được gắn hệ thống cùm sắt dọc theo chiều dài của sàn Trong mỗi phòng giam đều có hệ thống hố xí nổi được xây dựng theo lối tự hoại nhưng không được dùng theo lối tự hoại và không có nắp đậy, không được xây dựng cao hơn sàn nằm, không có nước dội, không được vệ sinh Với lối thiết kế như vậy, mùa hè những đợt gió lào của vùng Tây Bắc gây nên cái nóng như thiêu như đốt, những đợt sương muối tạo ra cái lạnh giá rét thấu xương thịt vào mùa đông cộng với môi trường ô nhiễm ở trong mỗi phòng giam đã làm bệnh tật phát sinh và lây lan rất nhanh chóng trong tù nhân

Thực dân Pháp đã mở rộng nhà tù Sơn La thêm 1500m2 vào năm 1940

Và những đoàn tù chính trị bắt đầu được đưa lên giam giữ đoạ đầy tại đây Từ đây nhà tù Sơn La đã thay đổi hẳn về tính chất Từ một nhà tù hàng tỉnh chủ yếu giam tù nhân thường, nay đã được mở rộng và chủ yếu giam giữ tù chính trị và người Việt Nam yêu nước Thực dân Pháp đã đổi tên Nhà tù Sơn La thành Ngục Sơn La (Sơn La Penitercien)

Nhà ngục Sơn La được mở rộng ở chỗ nhà giam mới, gồm có 5 nhà giam chính, 3 chòi canh ở ba góc nhà tù và một chòi canh ở trung tâm giáp nhà giám binh Pháp Phía dưới chòi canh trung tâm là xưởng xay lúa, nhà kho, nhà bếp, nhà thuốc và bàn giấy Đặc biệt, trong đợt mở rộng này, thực dân Pháp cho xây một hệ thống xà lim ngầm nằm sâu dưới đất 3m Khu nhà bếp đun nấu bên trên nhằm che dấu hệ thống xà lim này Hệ thống xà lim ngầm nằm sâu dưới lòng đất 3m gần 5 phòng giam cá nhân và hai phòng giam tập thể ở hai đầu (trong đó có một xà lim tối) Mỗi phòng giam đều được thiết kế

Trang 24

theo kiểu có một bệ láng xi măng vừa ngắn, vừa hẹp để tù nhân nằm, cuối bệ

có một cùm sắt Ngang đầu bệ chúng khoét một hốc liền kề với bục, trên dùng

để cơm, nước uống, phía dưới dùng để bô đựng phân và nước tiểu Mỗi xà lim

cá nhân chỉ có một lỗ thông hơi ở phía sát trần có gắn song sắt và lưới mắt sàng nhìn ra đường đi tuần Khi cánh cửa gỗ đóng lại thì mỗi xà lim cá nhân biến thành một hộp kín, tù nhân phải nằm co và rất khó phân biệt thời gian giữa đêm và ngày bởi sự tối tăm

Năm 1940, ngục Sơn La được mở rộng thêm một trại giam lớn để dùng giam tù nhân và đưa một số tù nhân nữ lên Sơn La Nhưng âm mưu đưa tù nhân nữ lên Sơn La không thực hiện được

Tháng 7 năm 1941, Thống sứ Bắc kỳ ra lệnh cho Nha Công Chính lập kế hoạch xây dựng một nhà giam lớn với diện tích 3900m2 với mục đích giam thêm 500 đến 800 tù chính trị Địa điểm xây dựng khu nhà tù mới được chọn liền kề với khu nhà tù cũ, dưới chân đồi Khau Cả Đây là một nhà tù mới, được sử dụng đồng thời với cái cũ vẫn tồn tại, nhân công chính là tù nhân Mọi thứ gạch, vôi, cát, gỗ sẽ được sản xuất tại chỗ Việc cung cấp những vật liệu địa phương và thi công các công trình hoàn toàn do công sức của tù nhân Tuy nhiên dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng Nhà tù Sơn La, anh em tù nhân đã tìm mọi cách phá hoại âm mưu đó Đến cuối năm 1942, tuy toàn bộ móng và tường bao với diện tích 3900m2 đã được xây xong, nhưng đã bị sụp

đổ do thi công không được đảm bảo Như vậy, qua các lần xây dựng và mở rộng, nhà tù Sơn La có tổng diện tích là 2170m2, từ đó cho đến tháng 3 năm

1945, nhà tù Sơn La không có gì thay đổi về mặt kiến trúc

Hiện nay, Di tích nhà tù Sơn La đã bị trải qua 2 lần ném bom, lần thứ nhất vào năm 1952, khi thực dân Pháp rút khỏi Sơn La, đã ném bom nhằm xoá đi dấu vết tội ác của chúng Lần thứ hai vào năm 1965 đế quốc Mĩ đã đánh phá Sơn La và phá huỷ một phần của nhà tù

Trang 25

Năm 1980, Bảo tàng Sơn La tiến hành phục chế lại lần thứ nhất, san lấp

hố bom, xây lại một số đoạn tường rào bao quanh Lần thứ hai vào năm 1994, phục chế lại tháp canh, nhà bếp, trại giam lớn, gia cố lại hầm ngoài, xây các bức tường của các phòng giam theo dấu vết của nền móng cũ Năm 1994, Bảo tàng Sơn La đưa ra ý định phục chế lại toàn bộ khu di tích lại như nguyên dạng ban đầu nhưng không sưu tầm được đầy đủ hồ sơ, những bản vẽ chi tiết thiết kế của khu nhà tù Sơn La nên không đủ cơ sở khoa học để khôi phục lại toàn bộ mà chỉ xây các bức tường lên cao một chút để có thể hình dung được cấu trúc của khu nhà tù Sơn La

Đến thăm di tích lịch sử Nhà tù Sơn La, khách tham quan sẽ cảm nhận được sự dã man của thực dân Pháp qua những chứng cứ lịch sử và cảm nhận được sức chịu đựng, rèn luyện đấu tranh của những tù nhân chính trị cũng như được nghe những câu chuyện cảm động về hoạt động của Chi bộ Đảng Nhà tù Sơn La như: hoạt động đoàn kết tương trợ lẫn nhau, tuyên truyền giác ngộ cách mạng trong và ngoài nhà tù

Di tích lịch sử Nhà tù Sơn La cũng gắn liền với sự nghiệp phát triển cách mạng Việt Nam từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến năm

1945 khi cách mạng tháng Tám thành công, có 14 lượt tù chính trị với 1.007 chiến sỹ cách mạng đã bị đưa lên giam giữ tại đây được trưng bày trong Bảo tàng Sơn La

1.3.2 Di tích Văn bia Quế lâm Ngự chế và Đền thờ Vua Lê Thái Tông

Di tích Văn bia Quế lâm Ngự chế nằm trên tổ 2, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La Để bảo vệ vững chắc nền biên cương phía Tây của Tổ quốc, vị vua trẻ anh minh, tài thao lược Lê Thái Tông (1423 – 1442) đã 2 lần thân chinh cầm quân lên miền Tây dẹp loạn phản nghịch Lần đầu vào tháng 3 năm Canh Thân 1440, vua Lê Thái Tông thân chinh cùng quân sĩ lên chấn miền Tây đánh thổ quân phản nghịch tên là Thượng Nghiễm ở Châu Mường

Trang 26

Muổi (nay là huyện Thuận Châu - tỉnh Sơn La) Tới đâu cũng được nhân dân ủng hộ nên quân của triều đình đã nhanh chóng dẹp yên bọn phản loạn Trên đường về, vua cùng quân sĩ nghỉ chân tại Động La (Thẳm Báo Ké), thấy nơi đây cảnh đẹp, địa lý thuận lợi, trong tâm trạng thanh thản, phấn chấn, nhà vua

đã cho khắc trên vách đá cửa động bài thơ với nội dung như sau:

Quế Lâm Ngự Chế

"Nghĩ tới người xa đêm khổ tâm Thổ tù sao lại dám quên thân Thế gian đã có anh hùng chúa Thiên hạ ai tha kẻ nghịch thần Đường xá khó khăn đừng cậy hiểm Hang cùng đá ấm áp hơi xuân Yên được dân lành nhơ nhớp hết Dân xa được hưởng tấm lòng nhân”

Lần thứ hai, đúng một năm sau, tháng ba năm 1441 vua lại kéo quân lên dẹp loạn nghịch Thượng Nghiễm ở Châu Mường Muổi, đi đến đâu cũng được nhân dân hưởng ứng, giúp đỡ vì vậy quân của triều đình đã nhanh chóng bắt được tướng Ai Lao là Đạo Mông và vợ con hắn tại Động La đồng thời bắt được con của Thương Nghiễm là Sinh Tượng và Chàng Đồng Thượng Nghiễm ra hàng và chịu tội, dải đất biên cương phía Tây của tổ quốc đã được

bình yên

Di tích văn bia “Quế Lâm Ngự Chế” được phát hiện năm 1965 và được

Bộ Văn Hoá - Thông Tin xếp hạng Di tích quốc gia ngày 5/2/1994

Di tích nằm ở lưng chừng ngọn núi Cằm ngay trung tâm thành phố Sơn

La Hang bia này còn có tên gọi là “ Thẳm Báo Ké” (hang Trai Già) Sự tích

về hang Bia được một truyền thuyết kể lại rằng: Ngày xưa, có một chàng trai

đã đến tuổi lấy vợ nhưng vì gia đình nghèo quá không có của, không lấy được

Trang 27

vợ Tuổi ngày càng cao, chàng trai xấu hổ bỏ nhà ra đi để kiếm ăn qua ngày Một hôm chàng trai đi ngang qua núi, thấy một cái hang, vào trong thấy phong cảnh hữu tình, khí hậu mát mẻ, trong hang lại có nước, liền chọn chỗ

đó làm nhà ở cho mình Một ngày kia do số phận dun dủi, anh gặp được một

cô gái cao tuổi nhưng chưa có chồng, thấy người cùng cảnh ngộ với mình liền

rủ lên ở cùng Năm tháng trôi đi, gia đình chàng trai và cô gái tìm khắp nơi

mà không thấy hai người đâu cả Một hôm, họ kéo lên núi để tìm, gặp hai người đang ngồi tình tứ ở cửa hang Cô gái thấy đông người, xấu hổ liền bỏ đi mất, chàng trai vẫn ở đó một mình cho tới già Từ đó nhân dân địa phương gọi hang này là” Thẳm Báo Ké” (Hang Trai Già) hoặc “Thẳm Mỏ Tôm” (Hang Nồi Đồng)

Di tích văn bia “Quế Lâm Ngự Chế” là một di tích có giá trị về lịch sử - văn hoá Đến với di tích, chúng ta sẽ hiểu thêm về công lao của vị vua trẻ Lê Thái Tông và quân sĩ của ông, nhắc nhở mọi người nhớ về quá khứ vẻ vang, biết ơn những người đi trước đã làm lên sức sống của một vùng đất

*Đền thờ vua Lê Thái Tông

Để ghi nhớ công đức của vua Lê Thái Tông, để Di tích Văn bia “Quế Lâm Ngự Chế” mãi mãi trang nghiêm, toả sáng trong lòng các thế hệ nối tiếp cũng là đáp ứng tín ngưỡng lành mạnh và nguyện vọng của đông đảo nhân dân các dân tộc trong tỉnh, được sự nhất trí của Bộ Văn hoá - Thông tin, Tỉnh

Uỷ Sơn La và Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh đã cho khởi công xây dựng ngôi đền thờ vua Lê Thái Tông và quân sĩ của ông Ngôi đền được khởi công tháng 9 năm 2001 và khánh thành ngày 22/01/2003, có tên là “Quế Lâm Linh Tự” (Đền Thiêng Quế Lâm)

Đền được xây dựng theo hướng Nam chếch Đông, theo thế “Tiền giang hậu chẩm”, Lưng tựa vào núi Cằm tạo sự vững chắc thế uy nghiêm, trước mặt

là dòng sông Nậm La hiền hoà Đền được xây dựng trên diện tích 800m2 theo

Trang 28

lối kiến trúc ngôi đền cổ Việt Nam gồm các hạng mục: Cổng Tam Quan, Sân Đền, nhà Tả hữu mạc, toà Đại bái và hậu cung

Cổng Tam quan có ba cửa: một cửa chính, hai cửa phụ, kiến trúc hai tầng tám mái, tám góc mái trang trí hoa văn ngọn trúc uốn cong mềm mại, mái ngói mũi hài lợp theo lối âm dương, ở dưới là ngói âm hình chữ nhật có trang trí hoa văn chữ thọ lồng trong bông hoa cúc, ở trên là ngói dương hình mũi hài cong, mái được lợp san sát theo từng dãy, theo lối cài răng lược trông lấp lánh như vẩy cá Trên nóc có lưỡng kìm kẹo nóc chầu mặt nguyệt thể hiện

sự chắc chắn, sức mạnh Ngoài mặt chính cổng tam quan là tên Đền với bốn chữ Hán đắp nổi “Quế Lâm Linh Tự” (Đền Thiêng Quế Lâm), hai bên góc tường là hai cột đồng trụ có trang trí tứ phượng chầu về tứ phương Đông - Tây - Nam - Bắc như góp thêm nguồn sinh lực vũ trụ để tăng thêm quyền uy

và sức mạnh của các thần linh được thờ ở đây

Sân đền có diện tích 162m2 lát bằng gạch vuông, hai bên có hai nhà tả hữu mạc được xây dựng kiểu lưỡng hồi bít đốc, lợp ngói mũi hai, đầu nóc có đắp hình nắm cơm Nhà tả hữu được xây ba gian, là nơi đón tiếp khách, nơi nghỉ chân và sắp lễ trước khi vào đền Hết sân đền qua bảy bậc gạch lên tới sân của toà đại bái, sân có một con Rùa lớn đội lư hương để du khách cáo phép trước khi vào đền

Toà đại bái được xây dựng vuông góc với hậu cung của đền, hai công trình này là phần kiến trúc chính của ngôi đền Toà đại bái có diện tích 136m2gồm ba gian, hai chái là nơi du khách hành lễ Toàn bộ mái lợp bằng ngói mũi hài theo lối âm dương, bốn góc là bốn đầu đao cong vút có trang trí đầu rồng cuốn thuỷ và ngọn trúc, biểu hiện của tứ phủ anh linh, đầu đao làm tăng thêm

sự thoáng đãng và thể hiện vẻ đẹp của kiến trúc

Trên bờ nóc toà đại bái có đắp nổi hai con rồng chầu mặt nguyệt, hai đầu

có lưỡng kìm kẹp nóc Rồng nằm trong bộ tứ linh được coi là con vật linh

Trang 29

thiêng nhất có quyền lực vô biên Rồng là con vật hư cấu song gắn với quyền

uy thiên tử Rồng có mặt trong các đền, chùa là biểu hiện ước nguyện cầu mong cho các vị thần trong ngôi đền có quyền lực vô biên để đáp ứng mọi lời cầu khẩn và ước mong của du khách Hình tượng lưỡng long chầu nguyệt còn mang biểu tượng cho bầu trời, vũ trụ và nguồn sinh lực vũ trụ

Toà đại bái có 3 cửa: 1 cửa chính, 2 cửa phụ làm bằng gỗ lim có trang trí hình sao 8 cánh Trong toà đại bái có 8 cột chính đổ bê tông cốt thép, 2 cột cạnh cửa chính được trang trí rồng cuốn cột, vờn mây theo xoáy chôn ốc, đắp nổi Đôi rồng ở hai cột trang trí màu sắc khác nhau biểu hiên cho rừng và biển Ngoài ra trên các xà dọc, xà ngang, đòn bẩy, xà kẻ đều được trang trí rồng, đầu lân đắp nổi

Toà đại bái có 3 bàn thờ chính và 2 bàn thờ phụ, mỗi bàn thờ đều có bức võng, án thư, đồ thờ, hoành phi câu đối làm bằng gỗ sơn son thếp vàng, được trang trí tứ linh Long, Li, Quy, Phượng và Hổ phù là những con vật gắn liền với tâm linh cửa người Việt Ở gian chính giữa đặt bộ bát bửu và chấp kích là biểu tượng cho báu vật linh thiêng của vị thần trong ngôi đền, nó cũng được coi như binh khí thần diệu giúp cho vị thần cai quản miền đất thiêng và ban phát nguồn sức mạnh, tài lộc cho khách hành hương

Phần hậu cung gồm một gian xây vuông góc với toà đại bái, trong hậu cung đặt tượng vua Lê Thái Tông và bài vị thờ Ngài

Đến chiêm ngưỡng Di tích Văn bia “Quế Lâm Ngự Chế” và thăm viếng

“Quế Lâm Linh Tự” thắp nén nhang tưởng nhớ công đức của vua Lê Thái Tông và quân sĩ của ông, du khách sẽ cảm thấy thanh thản trước bức tranh thiên nhiên muôn màu sắc, gửi gắm một chút lòng mình vào chốn linh thiêng

1.3.3 Di tích lịch sử Cầu trắng

Di tích lịch sử Cầu Trắng nằm trên trục đường quốc lộ 6 thuộc trung tâm thành phố Sơn La, cầu nằm ở vị trí thuộc Tổ 2, phường Tô Hiệu, cầu được

Trang 30

xây dựng vắt qua dòng suối Nậm La, đây là đoạn đường rất quan trọng nối mạch giao thông từ thành phố Sơn La đi Điện Biên và xuôi Hà Nội Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Cầu Trắng có vị trí chiến lược cho quân và dân ta đánh bại kẻ thù

Năm 1955-1964, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, tỉnh Sơn La đã tập trung và nâng cấp Quốc lộ 6 theo tiêu chuẩn đường cấp V miền núi Bước đầu tỉnh đã chỉ đạo ngành Giao thông vận tải xây dựng một số công trình vĩnh cửu: Cầu Vòm đá, Cầu bê tông cốt thép (Cầu Tà Vài, cầu Chiềng Đông, cầu

308, cầu Suối Muội) đó là những công trình mang tính kỹ thuật cao

Sơn La là thủ phủ, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng của Khu tự trị Tây Bắc Do vậy, Sơn La trở thành một trong những trọng điểm bị hủy diệt của không quân Mỹ Chúng đánh phá vào các vị trí quân

sự, các phương tiện giao thông vận tải, các cơ sở kinh tế, văn hóa, các lâm, nông trường, trục quốc lộ 6, cầu cống nhằm cắt đứt liên lạc giữa địa phương và trung ương, giảm sút ý chí chiến đấu của quân và dân các dân tộc trong tỉnh

Trong chiến tranh phá hoại của Mỹ, chúng đã đánh vào các công trình giao thông vận tải tỉnh Sơn La, các công trình lớn, các tuyến đường trong tỉnh

và 10 cây cầu các loại đều bị phá hủy nặng nề Mục tiêu của đế quốc Mỹ đánh phá hệ thống cầu cống dọc tuyến Quốc lộ 6 và các trục đường giao thông trong tỉnh nhằm ngăn chặn chi viện cho tiền tuyến, gây khó khăn lớn cho đời sống của nhân dân Chúng không chỉ tăng cường bắn phá ban ngày mà còn cả ban đêm Tuyến đường quốc lộ 6 có nhiều hệ thống cầu cống như: Cầu Sắt, Cầu Tà Vài, cầu Chiềng Đông (Yên Châu), cầu Trắng (thị xã Sơn La), cầu Nà Hày (Thuận Châu)

Cầu Trắng, cây cầu giao thông huyết mạch tại thành phố Sơn La là một trong những trọng điểm bắn phá ác liệt của bom Mỹ, chỉ tính từ năm 1965-

1968 cầu Trắng phải hứng chịu tới 34 trận bom với 870 quả bom các loại, làm

Trang 31

hư hại hoàn toàn hệ thống bê tông cốt thép dài 50m và hỏng nhiều đoạn đường hai bên đầu cầu

Nhận được chỉ đạo của Bộ Tư lệnh quân khu, Tỉnh ủy, ủy ban hành chính tỉnh Sơn La quyết định thành lập đại đội pháo cao xạ 37 ly và các trung đội dân quân tự vệ có trang bị vũ khí; Đại liên, trung liên, được bố trí sẵn sàng ở những trọng điểm Khu vực cầu Trắng thị xã Sơn La có Đại đội cao xạ cùng dân quân, lực lượng thanh niên xung phong 118, lực lượng công nhân cung 5, Hạt giao thông 6 do đồng chí Nguyễn Kim Tiến là cung trưởng ngày đêm bán trụ vật lộn với với mưa lũ, bom đạn của kẻ thù, bắc cầu, phá đá, tháo mìn, mở đường ngâm mình dưới nước, đổ mồ hôi xương máu để nối liền mạch máu giao thông Nhân dân đã phải hy sinh tháo gỡ cả cột nhà, tre, gỗ, nứa làm đường ngầm cho

xe qua làm lán trại cho bộ đội, giúp bộ đội đào hầm trú ẩn trên trận địa, quyết tâm cùng nhau bảo vệ huyết mạch giao thông vùng Tây Bắc

Lực lượng bảo vệ cầu Trắng và Quốc lộ 6 còn có 120 dân quân du kích, trong đó có 70 người là công nhân của cung 5 hạt 6 do đồng chí Nguyễn Kim Tiến chỉ huy Chỉ trong 3 ngày đêm từ 3/7 đến 6/7 năm 1965 ta đã mở được đoạn đường tránh bom từ bản Giảng đến phố Chiềng Lề dài 2km Trong nhiều đợt địch bắn phá ác liệt, cán bộ chiến sỹ và các lực lượng dân quân, du kích, công nhân, nhân dân các dân tộc trên mặt trận này với trí thông minh và lòng dũng cảm không sợ hy sinh gian khổ, bám cầu, bám đường để quan sát theo dõi từng đợt bắn phá của không quân Mỹ, nắm chắc các khu vực địch bắn phá loại bom gì để kịp thời tổ chức rà soát tháo bom khắc phục hậu quả nhanh chóng để phục vụ tốt cho sản xuất và chiến đấu

Để đối phó với địch, ta đã lập trận địa trên quả đồi xung quanh khu vực cầu Trắng bố trí sẵn sàng phòng thủ bắn máy bay địch với quy mô tương đối hiện đại Nhiều trận địa pháo cao xạ 37 ly, pháo phòng không liên tục chiến đấu với các đợt bắn phá ác liệt của địch Hàng ngày địch cho máy bay địch ra

Trang 32

soát việc di chuyển của bộ đội, dân công trên dọc tuyến đường quốc lộ 6, máy bay địch đã tập trung oanh tạc dữ dội, liên tục ở địa điểm cầu Trắng Đặc biệt

là trận đánh ngày 18-7-1965, tại khu vực Cầu Trắng thành phố Sơn La, quân

và dân ta đã bắn rơi 9 chiếc máy bay F105D của đế quốc Mỹ Với những chiến công xuất sắc bảo vệ cầu, đường quốc lộ 6, các chiến sỹ dân quân tự vệ, công nhân, thanh niên xung phong đã có nhiều sáng tạo trong chiến đấu như: Tháo gỡ mìn, bom đảm bảo an toàn, thông xe, thông đường mặc cho bom Mỹ ngày đêm rình dập bắn phá giữ dội trên các tuyến đường Tại địa điểm này xuất hiện nhiều tấm gương quên mình vì nhiệm vụ tiêu biểu như đồng chí Nguyễn Kim Tiến cung trưởng cung 5 Hạt 6 đã xuất sắc trong 6 lần chui xuống gầm cầu tìm cách phá một loại bom mới của địch rất thành công

Năm 1972, đế quốc Mỹ ngừng ném bom chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam Tỉnh Sơn La cùng với nhân dân cả nước nhanh chóng hàn gắn lại vết thương chiến tranh, đồng thời khẩn trương xây dựng lại cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và làm hậu phương vững chắc cho cuộc cách mạng giải phóng Miền Nam Cùng với ngành giao thông vận tải tỉnh Sơn La, cán bộ, công nhân, thanh niên xung phong và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La đã anh dũng kiên cường dũng cảm không sợ hy sinh gian khổ vẫn bám cầu, bám trụ bảo vệ giao thông vận tải được thông suốt góp phần quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước Hòa bình lập lại, Cầu Trắng được sửa sang và xây dựng lại đáp ứng nhu cầu thông thương

từ miền xuôi lên Tây bắc trong công cuộc xây dựng vùng Tây Bắc của Tổ quốc ngày càng giàu mạnh

Di tích lịch sử Cầu Trắng là nơi ghi dấu những giá trị lịch sử trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của quân dân các dân tộc Sơn La – Tây bắc, là nơi thể hiện tình đoàn kết, lòng yêu nước và chiến đấu kiên

Trang 33

cường dũng cảm, chiến thắng vẻ vang của quân và dân các dân tộc thị xã nói riêng và quân dân Sơn La nói chung Vượt qua mọi khó khăn gian khổ kiên trì bám trụ để kịp thời khai thông tuyến đường vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí cho vùng Tây Bắc và tiếp viện cho vùng Thượng Lào Đây cũng là bằng chứng tố cáo tội ác dã man của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trong hai cuộc chiến tranh phá hoại ở Tây bắc

Tại di tích này có nhiều tấm gương lao động hăng say, thông minh, sáng tạo, chiến đấu dũng cảm để đảm bảo giao thông thông suốt Tiêu biểu là chiến

sỹ thi đua toàn quốc Nguyễn Kim Tiến Nơi đây sẽ trở thành một di tích lịch

sử khắc ghi và minh chứng cho tinh thần yêu nước, dũng cảm chiến đấu chống giặc ngoại xâm của nhân dân các dân tộc Sơn La

Di tích Cầu Trắng được xếp hạng cấp quốc gia ngày 15/9/2008

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ MỘT SỐ ĐIỂM DI TÍCH LỊCH SỬ

VĂN HÓA TẠI THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

2.1 Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lí cho công tác quản lí di tích

Các quan điểm đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước đối với vấn đề di sản văn hóa, cũng như quan điểm của Đảng về vai trò của các giá trị di tích lịch sử trong đời sống văn hóa xã hội để làm căn cứ trong quá trình nghiên cứu

2.1.2 Cơ sở pháp lí

Pháp luật là công cụ, phương tiện để nhà nước quản lý và điều chỉnh mối quan hệ xã hội, nó ra đời và phát triển cùng với sự ra đời của nhà nước Trong quản lí xã hội, bất kì lĩnh vực nào cũng cần đến pháp luật

Việc gìn giữ các di sản văn hóa truyền lại cho muôn đời sau là việc làm cần thiết Để bảo vệ, gìn giữ di sản văn hóa không có cách nào khác là phải bảo vệ theo pháp luật Ngay từ những ngày đầu đất nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí sắc lệnh số 65/SL ngày 23/11/1945, đây là một trong những văn bản pháp luật đầu tiên của Nhà nước Việt Nam về Quản

lý Di sản văn hóa Ngày 9 tháng 6 năm 2001, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa

X đã chính thức thông qua Luật di sản văn hóa số 28/2001-QH10 Kể từ khi Luật di sản văn hóa ra đời đã tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lí Sau

Trang 35

Luật Di sản, một loạt các văn bản liên quan đã ra đời nhằm hướng dẫn việc thực hiện công tác quản lý và bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc như:

- Quyết định số 1706/2001/QĐ – BVHTT ngày 24 tháng 7 năm 2001 của

Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin phê duyệt tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đến 2020

- Quyết định số 05/2003/QĐ – BVHTT ngày 06 tháng 02 năm 2003 của

Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin về việc ban hành quy chế bảo quản, tu bổ

và phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh

Sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa có hiệu lực từ năm 2009, đến nay các văn bản hướng dẫn thi hành Luật tiếp tục được nghiên cứu xây dựng Đã có 02 Nghị định của Chính phủ và 02 Thông

tư của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được ban hành liên quan đến hoạt động quản lí và phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch bao gồm:

- Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều lệ của Luật Di sản văn hóa;

- Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 9 năm 2012 quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh;

- Thông tư số 09/2001/TT-BVHTTVDL ngày 14 tháng 7 năm 2011 quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh;

- Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTVDL ngày 28 tháng 12 năm 2012 quy định chi tiết môt số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích;

- Chỉ thị số 73/CT – BVHTTVDL ngày 19 tháng 5 năm 2009 về việc tăng cường các biện pháp quản lí di tích và các hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích

Trang 36

Các văn bản pháp lí trong lĩnh vực quản lí di sản văn hóa được Nhà nước Việt Nam ban hành là cơ sở để các địa phương thực hiện tốt công tác quản lý các di tích lịch sử để từ đó gắn với nhiệm vụ phát triển du lịch thúc đẩy kinh

tế xã hội ngày càng phát triển

2.2 Bộ máy quản lí di tích lịch sử văn hóa tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

2.2.1 Giới thiệu về Ban quản lí di tích lịch sử văn hóa tỉnh Sơn La

Không có Ban quản lí riêng đối với mỗi di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Sơn La mà có một Ban quản lí chung đó là: Ban quản lí di tích tỉnh Sơn La

Ban quản lí hiện tại có 25 cán bộ được phân đều ra các phòng ban như sau:

1 Giám đốc và Phó giám đốc: 1 Giám đốc và 2 Phó Giám đốc

2 Các phòng chuyên môn nghiệp vụ:

a) Phòng hành chính tổng hợp: 1 Trưởng phòng và 4 chuyên viên b) Phòng Tuyên truyền – Giáo dục: 1 Trưởng phòng, 1 Phó phòng và 3 chuyên viên

c) Phòng nghiệp vụ di tích: 1 Trưởng phòng, 1 Phó phòng và 2 chuyên viên d) Phòng Sưu tầm - kiểm kê Di tích: 1 Trưởng phòng, 1 Phó phòng và 3 chuyên viên

đ) Phòng Kĩ thuật: 1 Kỹ sư Công nghệ Thông tin

e) Phòng bảo vệ: 2 nhân viên

Các cán bộ tại bảo tàng hầu hết là có trình độ đại học, cao đẳng được đào tào tại các trường đại học, cao đẳng, là những cử nhân văn hóa phục vụ tại bảo tàng

Trang 37

2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Ban quản lí tỉnh Sơn La

*Chức năng

Ban quản lí Di tích lịch sử văn hóa tỉnh Sơn La là đơn vị tổ chức sự nghiệp thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Cục di sản văn hóa

Ban quản lý Di tích tỉnh Sơn La có chức năng giúp Sở Văn hóa, Thể thao

và Du lịch tổ chức, quản lý, nghiên cứu, bảo tồn nguyên trạng yếu tố gốc của các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh theo quy định của Luật di sản văn hóa; sử dụng, khai thác, phát huy giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học của các di tích, các công trình nghệ thuật tượng đài,… nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, hưởng thụ về văn hóa của nhân dân, đồng thời góp phần phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh

*Nhiệm vụ

- Điều tra, khảo sát và tổ chức điền dã phát hiện các di tích lịch sử văn hóa, xây dựng các danh mục, phân loại, đánh giá về tính chất quy mô và ý nghĩa của từng di tích, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc đánh giá thực trạng trong công tác quản lý, bảo vệ các di tích

- Lập hồ sơ khoa học trình xếp hạng, phân cấp quản lý di tích lịch sử trong toàn tỉnh

- Thực hiện các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, hiện vật liên quan đến lĩnh vực bảo tồn phát huy giá trị của di tích

- Phối hợp tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học về các hoạt động di tích Tổ chức trao đổi, hợp tác khoa học, xây dựng các phương án bảo vệ, tu

bổ, tôn tạo chống xuống cấp, chống xâm phạm các di tích lịch sử đã được xếp hạng cấp tỉnh và cấp Quốc gia

Trang 38

- Xây dựng chương trình kế hoạch hàng năm về công tác bảo tồn, tôn tạo di tích, đảm bảo tính nguyên trạng của di tích

- Phối hợp với các cơ quan chức năng Trung ương và địa phương thực hiện công tác trùng tu, bảo tồn, tôn tạo quy hoạch các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Sơn La

- Tổ chức quản lý, sử dụng, khai thác, phát huy tác dụng các di tích lịch

sử văn hóa, các công trình tượng đài, bia truyền thống thông qua các hình thức trưng bày, tuyên truyền, quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên mạng Internet…

- Phối hợp với các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức các hoạt động lễ hội, phát triển dịch vụ du lịch, hướng dẫn tham quan phục vụ công tác giáo dục truyền thống cách mạng tại các khu di tích lịch sử văn hóa

- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh hoạt động bảo tồn di tích lịch sử văn hóa nhằm huy động tối đa các nguồn lực trong xã hội và nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ di tích lịch sử

- Xây dựng và trình lãnh đạo Sở phê duyệt các dự án, các chương trình,

kế hoạch hoạt động chuyên môn thường kỳ của đơn vị

- Trình lãnh đạo Sở quyết định việc bổ nhiệm, phân công, điều động, luân chuyển, nâng lương đối với cán bộ, viên chức đơn vị theo thẩm quyền được phân cấp

- Thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật trong tổ chức hoạt động: quản lý cán bộ, viên chức, chế độ báo cáo, kinh phí, tài sản…

- Thực hiện những nhiệm vụ khác do Lãnh đạo Sở giao

Trang 39

2.3 Thực trạng hoạt động quản lí di tích lich sử tại thành phố Sơn la

2.3.1 Cơ chế chính sách quản lí

Cơ chế chính sách là cách thức tổ chức, sách lược và các chủ trương biện pháp cụ thể được nhà nước đề ra để thực hiện đường lối và nhiệm vụ trong các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội

* Chính sách quản lí sử dụng di tích

Quản lí nhân sự: Một trong những nội dung cơ bản trong công tác quản lí

là việc quản lí nhân sự Tại các khu di tích có nguồn nhân lực cố định hoạt động trực tiếp và gián tiếp như: nhân viên ban quản lí, những người dân thường xuyên có mặt tại khu di tích phục vụ cho các hoạt động thường ngày ở khu di tích, cả nguồn nhân lực hoạt động khi có lễ hội, đội ngũ lái xe đưa đón khách tham quan, hướng dẫn viên du lịch…

Ban quản lí di tích bao gồm bộ máy lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo chung mọi công việc có liên quan đến công tác quản lí; Bộ phận bảo vệ để bảo vệ sự

an toàn tuyệt đối cho di tích cũng như các hoạt động lễ hội diễn ra bình thường; Bộ phận chuyên môn nghiệp vụ với các bộ phận chuyên trách vừa tiến hành các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ để nghiên cứu bảo tồn vừa thuyết minh hướng dẫn khách tham quan du lịch

Các cá nhân, tổ chức với số lượng phù hợp được bố trí hoạt động ở các

vị trí thích hợp với công việc kinh doanh các mặt hàng các dịch vụ hợp lý Ban quản lí cũng phân công, giao việc, tạo điều kiện công bằng để các nhân viên được khẳng định và thể hiện mình trong công việc chuyên môn cũng như trong cuộc sống Kịp thời phát hiện những sáng tạo, thu thập thông tin, lắng nghe sự phản ánh, trao đổi của nhân viên để trợ giúp họ trong khả năng và điều kiện cho phép

Ban quản lí cũng kiểm soát chặt chẽ những người lao động đến từ các địa phương khác tham gia vào lễ hội như: đội ngũ lái xe, hành nghề xe ôm,

Ngày đăng: 05/06/2021, 00:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w