1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa gia đình quân nhân (khảo sát tại một gia đình quân nhân ở các trung đoàn thuộc sư đoàn 361; 371, quân chủng phòng không không quân)

161 18 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 7,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nhận thức rõ một vấn đề lý luận về VHGĐ, luận văn tập trung nghiên cứu và đánh giá thực trạng, cách ứng xử của các thành viên trong các quan hệ của gia đì

Trang 1

Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O Bé V¡N HO¸, THÓ THAO Vµ DU LÞCH

TR¦êNG §¹I HäC V¡N HO¸ Hµ NéI

LÃ HẢI HÀ

V¡N HãA GIA §×NH QU¢N NH¢N

(KH¶O S¸T T¹I QU¢N CHñNG PHßNG KH¤NG - KH¤NG QU¢N)

LUËN V¡N TH¹C SÜ V¡N HãA häc

Hµ Néi - 2014

Trang 2

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO Bộ VĂN HOá, THể THAO Và DU LịCH

TRƯờNG ĐạI HọC VĂN HOá Hà NộI

********

LÃ HẢI HÀ

VĂN HóA GIA ĐìNH QUÂN NHÂN

(KHảO SáT TạI QUÂN CHủNG PHòNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN)

Chuyên ngành: Văn hoá học Mã số: 60310640

LUậN VĂN THạC Sĩ VĂN HóA học

Người hướng dẫn khoa học: Pgs.ts lê quý đức

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Quý Đức Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được

ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này

Hà Nội, tháng 12 năm 2014

Tác giả luận văn

Lã Hải Hà

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT 3

MỞ ĐẦU 4

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ LÝ LUẬN VĂN HÓA GIA ĐÌNH VÀ VỀ GIA ĐÌNH QUÂN NHÂN Ở QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN 12

1.1 Lý luận chung về Văn hóa gia đình 12

1.1.1 Quan niệm về gia đình và Văn hóa gia đình quân nhân 12

1.1.2 Cơ cấu và chức năng Văn hóa gia đình 22

1.2 Gia đình quân nhân trong Quân chủng Phòng không - Không quân 29

1.2.1 Sơ lược về Quân chủng Phòng không - Không quân 29

1.2.2 Khái lược về gia đình quân nhân ở Quân chủng Phòng không- Không quân 32

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2: THỰC TRẠNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH QUÂN NHÂN Ở QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN HIỆN NAY 40

2.1 Thực trạng ứng xử văn hóa trong mối quan hệ vợ - chồng 40

2.1.1 Trân trọng sự thủy chung 40

2.1.2 Tôn trọng tự do, bình đẳng, dân chủ 43

2.1.3 Quan tâm, yêu thương chăm sóc lẫn nhau 48

2.2 Thực trạng ứng xử văn hóa trong mối quan hệ cha mẹ - con cái 54

2.3 Thực trạng ứng xử văn hóa trong các mối quan hệ khác 68

2.4 Thực trạng ứng xử của gia đình quân nhân với xã hội 72

2.5 Đánh giá chung về văn hóa gia đình quân nhân ở Quân chủng Phòng không – Không quân hiện nay 77

2.5.1 Những mặt tích cực 77

2.5.2 Những mặt hạn chế 80

Tiểu kết chương 2 83

Trang 5

Chương 3: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VĂN HÓA GIA ĐÌNH QUÂN NHÂN TẠI QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG

- KHÔNG QUÂN 84

3.1 Những nhân tố ảnh hưởng và những vấn đề đặt ra với Văn hóa gia đình quân nhân Quân chủng Phòng không - Không quân 84

3.1.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến Văn hóa gia đình quân nhân Quân chủng Phòng không - Không quân 84

3.1.2 Những vấn đề đặt ra đối với Văn hóa gia đình quân nhân Quân chủng Phòng không - Không quân 88

3.2 Giải pháp phát huy vai trò của Văn hóa gia đình quân nhân 98

3.2.1 Nhóm giải pháp về nhận thức 98

3.2.2 Nhóm giải pháp về tuyên truyền giáo dục 101

3.2.3 Nhóm giải pháp về phát huy vai trò của các hệ thống thể chế, thiết chế văn hóa - xã hội 105

3.2.4 Nhóm giải pháp phát huy vai trò của các chủ thể Văn hóa gia đình 108

3.2.5 Nhóm giải pháp nâng cao điều kiện vật chất, tinh thần của gia đình 109

Tiểu kết chương 3 113

KẾT LUẬN 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

PHỤ LỤC 121

Trang 6

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

PKKQ Phòng không - Không quân

QC PKKQ Quân chủng Phòng không - Không quân

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình là môi trường quan trọng nhất để hình thành nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, gia đình là nơi bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc Sự ổn định và phát triển của xã hội phụ thuộc rất lớn vào gia đình Một

xã hội phát triển phồn vinh chỉ có thể xây dựng trên nền tảng của gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc Gia đình là tế bào của xã hội, văn hóa gia đình (VHGĐ) đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc Ở thời đại nào gia đình cũng là “hạt nhân” của xã hội, Chủ tịch

Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình

tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình…” [37 tr.523] Với tư cách là một thiết chế

xã hội, gia đình Việt Nam trong truyền thống và hiện đại, nơi hội tụ, gắn kết các thành viên trong gia đình với nhau, giúp con người tìm sự an ủi, chở che và sẻ chia vui buồn Gia đình là nơi thiêng liêng nhất đối với mỗi con người Việt Nam, mỗi người đều dành cho gia đình sự kính trọng và tình thương, trìu mến; Đảng ta

đã khẳng định: “Gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội” Do đó, xây dựng văn hóa gia đình sẽ góp phần bảo đảm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh Điều đó không những nói lên sự nhận thức của Đảng, Nhà nước ta về tầm quan trọng của gia đình và VHGĐ đối với vấn đề phát triển con người và xã hội trong quá trình phát triển đất nước, mà còn là định hướng cho việc xây dựng gia đình văn hoá VHGĐ Việt Nam sẽ mãi là nền tảng cho sự tồn tại bền vững của mỗi gia đình; trao truyền, vun đắp những giá trị văn hóa của thế hệ trước cho thế hệ sau và trao truyền văn hóa của cộng đồng cho mỗi cá nhân

Gia đình quân nhân là một bộ phận của các “tế bào” xã hội, VHGĐ quân nhân luôn có những đặc thù riêng, trên cơ sở các quan hệ đặc thù, của

Trang 8

môi trường quân đội (ngoài quan hệ hôn nhân, huyết thống còn là quan hệ đồng chí, đồng đội, kỷ cương, kỷ luật quân đội) VHGĐ quân nhân, hình thành từ các sinh hoạt thông thường qua thói quen ứng xử, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và trong các mối quan hệ với xã hội VHGĐ quân nhân có tác dụng sâu sắc đến nhận thức, hành vi của mỗi thành viên, cùng nhau xây dựng chuẩn mực cho gia đình của mình bằng sự no ấm, tiến bộ

và hạnh phúc Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay và những năm tới gia đình quân nhân sẽ tiếp tục khẳng định vai trò của mình trong việc tổ chức đời sống gia đình và đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa (XHCN), xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”

Tuy nhiên, VHGĐ quân nhân cũng đang chịu nhiều tác động tiêu cực từ mặt trái cơ chế thị trường, của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Những ảnh hưởng tiêu cực đó, đang từng bước làm băng hoại văn hóa, đạo đức lối sống của các gia đình quân nhân Những quan hệ thiêng liêng trong gia đình như cha mẹ/con cái, vợ/chồng, anh/em với những chuẩn mực đạo đức cơ bản là tình nghĩa, thủy chung, hiếu thảo, hòa thuận cũng đang có nguy cơ bị xâm hại, lấn át bởi sức mạnh của đồng tiền; mâu thuẫn xung đột giữa các thế hệ về ứng xử, về lối sống đang gia tăng, đặt ra những thách thức mới Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện VHGĐ quân nhân là vấn đề mang tính cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng VHGĐ quân nhân và có những định hướng, uốn nắn kịp thời, xây dựng đạo đức lối sống tốt đẹp, lành mạnh từ trong mỗi gia đình quân nhân, lấy gia đình làm “pháo đài” chống lại sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội

Xuất phát từ tầm quan trọng của VHGĐ quân nhân, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, xây dựng Quân đội “Cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, đòi hỏi phải tiếp tục phát huy VHGĐ truyền thống, lấy đó làm nền tảng để kế thừa, hun đúc ý trí cách

Trang 9

mạng trong mỗi gia đình quân nhân, xây dựng VHGĐ quân ngày càng tốt đẹp hơn, trở thành những giá trị chuẩn mực, nhân văn, góp phần xây dựng nếp sống trật tự, kỷ cương, hun đúc tâm hồn, bản lĩnh chính trị, xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc Gia đình ấm no, hạnh phúc - sẽ là hậu phương vững chắc để mỗi người lính (người chồng, người vợ, người con) dù ở nơi biên giới, hải đảo xa xôi, thêm chắc tay súng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do

của Tổ quốc Với ý nghĩa đó tôi đã lựa chọn đề tài: “Văn hóa gia đình quân

nhân” (Khảo sát tại một gia đình quân nhân ở các trung đoàn thuộc sư đoàn

361; 371, Quân chủng Phòng không - Không quân), làm luận văn tốt nghiệp

thạc sĩ, chuyên ngành Văn hoá học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Những năm gần đây ở nước ta đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về Gia đình và VHGĐ, của các tác giả trong và ngoài quân đội Kết quả nghiên cứu của các công trình đó đã được thể hiện trong các đề tài khoa học, các cuốn sách, và trên các tạp chí tiêu biểu như:

2.1 Đề tài khoa học và sách tham khảo

* Những công trình nghiên cứu về gia đình và VHGĐ của các tổ chức:

Viện Nghiên cứu Gia đình và giới, Ủy ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ, Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội, Viện Nghiên cứu giáo dục, Trung tâm Nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ… Với những

đề tài nghiên cứu như:

- Công trình khoa học “Một vài nét nghiên cứu về gia đình Việt Nam”

(1990), của tập thể tác giả Trung tâm Nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ, thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia Trong công trình này, các tác giả đã nghiên cứu về vai trò, vị trí của gia đình trong xã hội, nhưng mới chỉ đặt vấn đề chung nhất và mang tính gợi ý là chủ yếu

Trang 10

- Công trình khoa học “Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt

Nam” (1991), của tập thể tác giả của Viện Xã hội học thuộc Trung tâm Khoa học

Xã hội và Nhân văn quốc gia phối hợp với Khoa Xã hội học Trường Đại học Gothenburg (Thụy Điển), Nxb Khoa học xã hội xuất bản Trong công trình này, các tác giả Việt Nam và Thụy Điển đã tiến hành khảo sát thực tiễn ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước về đặc điểm gia đình Việt Nam trước những năm 1990

- Công trình khoa học “Văn minh phương Đông và gia đình Việt

Nam truyền thống” (1994), Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn

quốc gia do Quỹ Toyota Foundation tài trợ, đã có những khảo sát và nghiên cứu, đánh giá bước đầu về gia đình truyền thống ở Việt Nam qua một thời mốc lịch sử của Việt Nam

* Những đề tài nghiên cứu về vai trò của VHGĐ và sự biến đổi của gia đình, giá trị VHGĐ trong bối cảnh đổi mới của đất nước:

Sách: “Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hoá”, (1998) của tác giả Lê Ngọc Văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội; “VHGĐ với việc hình thành và phát

triển nhân cách trẻ em”, (2001) của PGS.TS Lê Như Hoa, Nxb Văn hoá

thông tin, Hà Nội; “VHGĐ và sự phát triển xã hội”, (2002) của nhiều tác giả,

do nhà văn Lê Minh chủ biên, Nxb Văn hoá dân tộc, Tạp chi văn hóa nghệ

thuật, Hà Nội; “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới” (2003)

của GS Lê Thi (kết quả Cuộc điều tra về gia đình Việt Nam có quy mô lớn

nhất từ trước tới nay), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; “Người phụ nữ trong

VHGĐ đô thị”, (2003) của TS Lê Quý Đức và Ths Vũ Thy Huệ, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội; “VHGĐ Việt Nam” (2007) của GS Vũ Ngọc Khánh,

Nxb Thanh Niên, Hà Nội…và rất nhiều bài viết trên các tạp chí nghiên cứu xã hội học, văn hóa học về gia đình và văn hóa gia đình…

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập tới những vấn đề lý luận và thực tiễn về gia đình, VHGĐ, sự biến đổi của gia đình và VHGĐ trong bối cảnh xã

Trang 11

hội mới, những vấn đề của gia đình Việt Nam từ truyền thống đến hiện tại, cũng như ảnh hưởng của VHGĐ đối với sự phát triển của cá nhân và xã hội

2.2 Luận văn, Luận án

Hiện nay ở nước ta đã có một số luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ của các tác giả có đề cập ít nhiều đến vấn đề gia đình và VHGĐ và vai trò của phụ nữ với

VHGĐ như: “Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện

nay”, (2001), Luận án tiến sĩ Triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học

của Nghiêm Sĩ Liêm (Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh);

“Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình Việt Nam hiện

nay”, (2003), Luận án tiến sĩ Triết học, Chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học,

của Dương Thị Minh (Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh);

“Gia đình trong việc bảo vệ chăm sóc trẻ em của nước ta hiện nay”, (2004), Luận

văn thạc sĩ Triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học của Phạm Thị Xuân

(Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh); “Phát huy vai trò của

người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hoá ở tỉnh Bạc Liêu hiện nay”, (2006),

luận văn thạc sĩ Triết học chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học của Lê Cẩm Lệ;

Luận án tiến sỹ “Sự biến đổi của VHGĐ đô thị ở Hà Nội từ năm 1996 đến nay”,

(2009) của Vũ Thị Huệ

Dưới những góc độ khác nhau, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến vấn đề cả về lý luận và thực tiễn: đặc điểm, chức năng của gia đình Việt Nam; vai trò của phụ nữ trong gia đình; vai trò của giáo dục trong gia đình Đồng thời, các đề tài cũng đưa những phương hướng, giải pháp thiết thực góp phần xây dựng gia đình Việt Nam, phát huy vai trò to lớn của gia đình, của người phụ nữ đối với sự phát triển con người, chủ thể của sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước trong giai đoạn mới Tuy nhiên, cho đến nay chưa

có công trình nào đi sâu nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về “Văn hóa gia

đình quân nhân” Từ mục đích và mức độ tiếp cận khác nhau, các công trình

Trang 12

khoa học nêu trên đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về gia đình và giá trị VHGĐ truyền thống cũng như vai trò của ông, bà, cha, mẹ, anh chị, em, với việc xây dựng VHGĐ Đây là những tư liệu bổ ích để tác giả tham khảo và kế thừa trong quá trình triển khai thực hiện luận văn

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nhận thức rõ một vấn đề lý luận về VHGĐ, luận văn tập trung nghiên cứu và đánh giá thực trạng, cách ứng xử của các thành viên trong các quan hệ của gia đình quân nhân tại QC PKKQ hiện nay Từ đó đưa ra những định hướng giải pháp mới nâng cao VHGĐ quân nhân góp phần xây dựng gia đình quân nhân ở QC PKKQ ngày càng no ấm, tiến bộ, hạnh phúc

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa một vấn đề lý luận cơ bản về VHGĐ;

- Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của những mặt mặt mạnh và hạn chế của VHGĐ quân nhân trong QC PKKQ hiện nay

- Đề xuất một định hướng mới, đưa ra các giải pháp nhằm phát huy vai trò VHGĐ quân nhân trong QC PKKQ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là VHGĐ của các gia đình quân nhân trong QC PKKQ (gia đình có 2 vợ chồng đều là quân nhân)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Khảo sát VHGĐ quân nhân tại các trung đoàn thuộc sư đoàn Phòng không

Hà Nội (F 361); Sư đoàn Không quân 371, QC PKKQ

- Thời gian khảo sát từ năm 2005 đến nay

Trang 13

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận, thực tiễn của luận văn

- Cơ sở lý luận: Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lê nin, tư

tưởng Hồ Chí Minh và những vấn đề lý luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam

về văn hóa và VHGĐ

- Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn đời sống gia đình và xây dựng VHGĐ

quân nhân của các đơn vị thuộc QC PKKQ trong những năm qua

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về gia đình và xây dựng gia đình văn hoá

Ngoài ra luận văn sử dụng các phương pháp khác như liên nghành của Văn hóa học, phương pháp lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp và phương pháp chuyên gia Trong đó, luận văn đặc biệt quan tâm đến phương pháp điều tra

xã hội học

6 Những đóng góp khoa học của luận văn

6.1 Đóng góp mới của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ một khái niệm về gia đình và VHGĐ, đánh giá thực trạng, dự báo những xu thế biến đổi của VHGĐ quân nhân QC PKKQ

từ năm 2005 đến nay

- Đề xuất một định hướng, giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả vai trò của gia đình nói chung và trong xây dựng văn hóa quân nhân hiện nay

6.2 Ý nghĩa của luận văn

- Luận văn phân tích một loại hình VHGĐ ít nhiều mang tính đặc thù (Gia đình quân nhân) đóng góp vào lĩnh vực nghiên cứu VHGĐ của khoa Văn hóa học ở nước ta hiện nay

Trang 14

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng cho các cấp ủy Đảng, Hội đồng quân nhân, Hội phụ nữ các cấp của QC PKKQ trong lãnh đạo, định hướng và thực hiện nhiệm vụ giáo dục đối với quân nhân, gia đình quân nhân trong QC PKKQ hiện nay

- Dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy và học tập các vấn đề

về VHGĐ cho cán bộ và chiến sỹ của QC Phòng không- Không quân và các

cơ quan hữu quan khác

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương

Chương 1: Khái quát về lý luận văn hóa gia đình và về gia đình quân nhân ở quân chủng Phòng không - Không quân

Chương 2: Thực trạng văn hóa gia đình quân nhân ở quân chủng Phòng không - Không quân hiện nay

Chương 3: Các nhân tố ảnh hưởng và những vấn đề đặt ra đối với văn hóa gia đình quân nhân tại quân chủng Phòng không - Không quân

Trang 15

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LÝ LUẬN VĂN HÓA GIA ĐÌNH VÀ VỀ GIA ĐÌNH QUÂN NHÂN Ở QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN

1.1 Lý luận chung về Văn hóa gia đình

1.1.1 Quan niệm về gia đình và Văn hóa gia đình quân nhân

1.1.1.1 Quan niệm về gia đình

Với tư cách là một hình thức tổ chức cộng đồng, gia đình được hình thành

từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài Xuất phát từ nhu cầu bảo tồn và duy trì nòi giống, từ sự cần thiết phải dựa vào nhau để sinh tồn, các hình thức quần tụ giữa nam và nữ giới, gia đình đã xuất hiện Nói cách khác gia đình - một cộng đồng người gắn bó mật thiết với nhau bởi quan hệ hôn nhân, huyết thống được chế ước bằng các quy định pháp lý và luật tục xã hội, một hiện tượng văn hóa Gia đình dần dần trở thành một thiết chế xã hội đặc thù, nhỏ nhất, cơ bản nhất Gia đình có vị trí đặc biệt quan trọng và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Xuất phát từ mục đích nghiên cứu khác nhau của mỗi ngành khoa học, khi xem xét về gia đình đều có thể đưa ra những khái niệm gia đình khác nhau, do vậy,

đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về gia đình

C.Mác và Ph.Ăngghen khi luận chứng về những điều kiện tiền đề cho sự

tồn tại của con người đã đưa ra quan điểm về gia đình: “Hàng ngày tái tạo ra đời

sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi, nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” [34,

tr.41] Với quan điểm này, các ông đã khẳng định đặc trưng của gia đình và tầm quan trọng đặc biệt của gia đình, nhấn mạnh mối quan hệ của hôn nhân, quan hệ huyết thống và chức năng duy trì nòi giống, bảo đảm tính kế tục lịch sử

Kingley Davis một nhà xã hội học Phương Tây, đưa ra khái niệm gia

đình: “Là một nhóm người mà quan hệ của họ với nhau dựa trên cơ sở dòng dõi

Trang 16

và do đó họ là họ hàng thân thích của nhau” [25, tr.24] Nhóm người này được

ràng buộc với nhau bởi những mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nhận con nuôi; tạo thành một hộ duy nhất, tác động qua lại và giao tiếp với nhau theo vai trò

xã hội riêng từng người trong họ là chồng/vợ, là mẹ/cha, anh trai và em gái, tạo thành một nhóm xã hội đặc thù

Còn trong “La Sociologie et les sciencesde societe” do Nhà xuất bản Les Encyclopédies du savoir moderne, ấn hành năm 1973 tr 233, định nghĩa gia đình được hiểu như sau:

Gia đình là một nhóm xã hội không thể qui về các nhóm khác: sự hình thành của nó, cấu trúc, các chiều hướng, các quan hệ giữa các thành viên và các quan hệ của nó với toàn bộ cơ chế xã hội, các chức năng biến đổi trong thời gian và không gian gắn liền với

hệ thống xã hội và các hình thức văn minh [60, tr.57]

Định nghĩa này xác định gia đình với các cấu trúc và chức năng của

nó trong mối quan hệ với hệ thống xã hội

Ở Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học về gia đình Giáo sư Lê Thi cho rằng khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ:

Một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, nảy sinh quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha

mẹ, con cái, ông bà, họ hàng, nội ngoại) Đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan

hệ huyết thống các thành viên gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm), giữa họ thường có những điều ràng buộc có tính pháp lý, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong Luật Hôn nhân và gia đình của nước ta) Đồng thời trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép và cấm đoán quan hệ tình dục giữa các thành viên [48, tr.42]

Trang 17

Đây là khái niệm đề cập tới nhiều nét đặc trưng, bản chất cơ bản của gia đình nhưng chưa mang tính khái quát cô đọng

Tác giả Nguyễn Đình Xuân thì quan niệm: “Gia đình là nhóm nhỏ

được liên kết vợ chồng (hôn nhân) theo quy luật xã hội trước tiên, sau đó mới

là quy luật tính dục tự nhiên” [62, tr.36] Dưới góc độ tâm lý học khái niệm

trên đã đề cấp tới bản chất của gia đình, nhưng tác giả đã chưa được khái quát được vai trò và quan hệ tác động của gia đình - xã hội Nhưng khi nhìn tõ góc

độ xã hội học hai tác giả Chung Á và Nguyễn Đình Tấn lại cho rằng:

Gia đình là một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm) giữa họ, là những quan hệ có tính pháp lý được nhà nước thừa nhận và bảo vệ, đồng thời có những qui định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên trong gia đình [3, tr.190]

Luật hôn nhân và gia đình của nước ta năm 2000, khẳng định: “Gia

đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau theo luật định” [42, tr.12] Đây là quan niệm chính thống

của nhà nước ta, là cơ sở pháp lý để giải quyết những vấn đề liên quan đến gia đình Tuy nhiên, quan niệm này vẫn chưa làm rõ nét chức năng quan trọng nhất của gia đình đó là vai trò to lớn của nó đối với xã hội

Gia đình nằm trong phạm trù cộng đồng với tư cách là một nhóm nhỏ

xã hội đặc thù, đồng thời như một thiết chế xã hội, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hoá con người Gia đình có vai trò rất lớn trong việc hình thành và phát triển của xã hội, góp phần xây dựng, tô thắm, làm

Trang 18

rạng rỡ thêm bản sắc văn hoá dân tộc; là nơi giữ gìn, vun đắp, phát huy những giá trị truyền thống quý báu của con người của dân tộc Việt Nam đã được hình thành trong quá trình lịch sử là lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, thủy chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù, sáng tạo trong lao động, bất khuất kiên cường vượt qua mọi khó khăn thử thách

Từ góc độ văn hoá học, cần nghiên cứu một cách cụ thể, sấu sắc, nêu bật được đặc trưng quan trọng và chức năng của gia đình trong việc sản sinh, giáo dục, nuôi dưỡng con người Đồng thời nhấn mạnh vai trò của gia đình trong việc

xã hội hóa con người, biến con người “tự nhiên” thành con người “xã hội” Chức năng quan trọng này của gia đình là cơ sở để nghiên cứu về VHGĐ

Từ những quan niệm trên tác giả luận văn đưa ra quan niệm về gia đình

như sau: “Gia đình là một trong những hình thức tổ chức cơ bản trong đời

sống cộng đồng của con người, một thiết chế xã hội - văn hoá đặc thù được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của những quan hệ hôn nhân, huyết thống, luật pháp và luật tục nhất định, là cái nôi sản sinh, nuôi dưỡng

và giáo dục con người đầu tiên góp phần cá nhân hoá nhân cách”

Như vậy, về cơ bản chúng ta có thể thống nhất gia đình là một tổ chức cộng đồng, một thiết chế xã hội và còn là một giá trị văn hoá xã hội

1.1.1.2 Quan niệm về Văn hóa gia đình

Văn hoá là hoạt động sáng tạo của con người trong quá trình lịch sử, chỉ trình độ người Nói cách khác, văn hoá là toàn bộ sự hiểu biết, kinh nghiệm của con người được tích luỹ trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch

sử - xã hội Toàn bộ những thành quả sáng tạo ấy được tích luỹ lại, thông qua các thiết chế xã hội - văn hoá như gia đình, nhà trường mà truyền lại cho các thế hệ tương lai Văn hoá là chất keo liên kết làm cho xã hội bền vững và phát triển, là cầu nối giữa các thế hệ, giữa các cộng đồng người và giữa cá nhân

Trang 19

với cộng đồng, tạo nên tính liên tục và đa dạng của đời sống xã hội Văn hoá

còn là các thiết chế xã hội nhằm đảm bảo cho sự trao truyền, vận thông các giá

trị, chuẩn mực văn hoá

Hệ thống thiết chế xã hội - văn hoá bao gồm: gia đình, nhà trường, nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội, tôn giáo Các tổ chức ấy hình thành trên cơ sở các mối quan hệ giữa các thành viên của nhóm, của cộng đồng với các quy định, thể chế, giá trị, truyền thống của nhóm, của cộng đồng ấy Các thiết chế xã hội

đó có sức mạnh vật chất, tinh thần để thực hiện các chức năng văn hoá mà xã hội đặt ra Trong các mô hình thiết chế xã hội đó, tổ chức gia đình có một vị trí đặc biệt quan trọng, gắn bó cả cuộc đời con người Gia đình là thiết chế xã hội - văn hoá quan trọng trong các loại hình thiết chế xã hội

Văn hoá cũng chính là phương thức ứng xử của con người Con người

để tồn tại và phát triển, không chỉ ứng xử với môi trường tự nhiên mà còn ứng

xử với môi trường xã hội (quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và văn hoá xã hội) Các phương thức, quy tắc ứng xử tạo nên hệ thống giá trị chuẩn mực, khuôn mẫu được tích luỹ trong đời sống cộng đồng tạo thành hệ giá trị văn hoá của mỗi cộng đồng Văn hoá gắn liền với giáo dục, đào tạo con người, một phương thức trao truyền văn hoá Nếu không có giáo dục, con người sẽ

về trạng thái dã man, mông muội như động vật Như vậy, văn hoá chỉ có ở loài người, đó là năng lực học hỏi, thích ứng, sáng tạo ra những quan niệm, phương thức ứng xử, hệ thống biểu tượng, thiết chế, thể chế xã hội nhờ đó loài người có thể vận thông với nhau để tồn tại và phát triển

Gia đình là một giá trị văn hoá khi nó đáp ứng nhu cầu tồn tại và các nhu cầu đặc biệt thiêng liêng không vụ lợi của con người Đó là tình thương, tình yêu, hạnh phúc, trách nhiệm, nghĩa vụ tinh thần mang “tính người” của con người Chúng ta biết rằng gia đình là tổ ấm, khi mới cất tiếng khóc chào đời, gia đình là vành nôi yêu thương, che chở để con người lớn lên, trưởng thành

Trang 20

Tình yêu trai gái xét đến cùng là khát khao hướng tới một gia đình, hướng tới hạnh phúc ấm êm, đó cũng là một giá trị văn hoá Hạnh phúc của việc sinh nở sự

ng cũng là một giá trị văn hoá Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng, giáo dục con người từ tuổi ấu thơ, có sự gắn bó cả cuộc đời con người từ thuở lọt lòng cho đến khi nhắm mắt xuôi tay Gia đình là môi trường đặc biệt, thể hiện phương thức ứng xử đầu tiên của con người Trong tiến trình vận động và phát triển, gia đình luôn có một vị trí và vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ và giữ gìn các giá trị văn hóa Gia đình là nơi tiếp nhận, kế thừa và chuyển giao những giá trị truyền thống của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác Trải qua thời gian, những di sản quý báu của dân tộc Viêt Nam như lòng yêu nước, tình cảm đoàn kết thương yêu nhau trong cộng đồng, sự say mê trong lao động, sáng tạo, ý chí kiên trì, nhẫn nại vượt qua mọi khó khăn, thử thách; lòng chung thuỷ, hiếu nghĩa đã được truyền dạy trong gia đình và cộng đồng từ thời tổ tiên ông bà cho tới đời cháu con trong suốt dòng lịch sử Từ nội dung của văn hoá, ta

có thể thấy rằng gia đình là một hiện tượng văn hoá của con người, xuất hiện và tồn tại vì sự tồn tại và phát triển của con người VHGĐ biến đổi cùng sự biến đổi của các cộng đồng người trong quá trình lịch sử văn hoá của các dân tộc, các thời đại có vai trò quan trọng đối với gia đình Văn hoá là tiền đề quan trọng trong sự hình thành gia đình và là yếu tố cơ bản của gia đình

Văn hoá gia đình là một nội dung quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu gia đình Nghiên cứu VHGĐ giúp chúng ta có sơ sở khoa học để hiểu đúng bản chất và truyền thống của gia đình Việt Nam, thấy được những nét tương đồng và khác biệt giữa gia đình Việt Nam và gia đình các dân tộc khác trong khu vực và trên thế giới Trên cơ sở đó chúng ta có thể tìm kiếm những giả i pháp và chiến lược phát huy vai trò to lớn của gia đình trong việc giữ gìn truyền thống quý báu của dân tộc, góp phần củng cố sự bền vững của gia đình, giữ vững ổn định xã hội, phát triển kinh tế, nuôi dưỡng, giáo dục

Trang 21

và cung cấp nguồn lực con người đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công HĐH Nghiên cứu VHGĐ còn giúp chúng ta hiểu được bản chất của văn hoá Việt Nam, bởi vì gia đình Việt Nam là một thiết chế nền tảng của xã hội Việt Nam truyền thống, có chức năng lưu giữ và chuyển giao các giá trị văn hoá của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác

CNH-VHGĐ luôn thuộc về phạm trù cái đúng, cái tốt, cái đẹp, đối lập với những cái sa i, cái xấu, cá i không tốt Nói cách khác nó đối lập cái văn hoá với cái phi văn hoá Cách tiếp cận này được chấp nhận rộng rãi trong đời sống thực tế và là cơ sở để tiến hành cuộc vận động xây dựng gia đình văn hoá ở nước ta trong nhiều thập kỷ qua, gắn với các nhiệm vụ chính trị của đất nước Tuy nhiên, cách tiếp cận trên đây đã đơn giản hoá khái niệm VHGĐ, làm cho VHGĐ nghiêng về khía cạnh đạo đức, chính trị nhiều hơn

là khía cạnh văn hoá Ở đây, văn hoá gia đình trở thành sản phẩm chủ quan của ý chí con người, chứ không phải là hệ quả khách quan của quá trình tương tác giữa những con người với nhau trong bối cảnh của một môi trường tự nhiên, lịch sử và xã hội nhất định

Hiện nay, quan niệm VHGĐ được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau VHGĐ là một trong những cấp độ của văn hoá cộng đồng như: văn hoá nhân loại, văn hoá dân tộc, văn hoá giai cấp Khái niệm VHGĐ có nội hàm rộng, trong đó nổi lên các giá trị, chuẩn mực, khuôn phép trong quan hệ sinh hoạt, ứng xử, các quan hệ tình cảm, việc chăm sóc, giáo dục con cái, các tập quán thờ cúng tổ tiên Có quan niệm cho rằng:

VHGĐ là những sản phẩm vật chất và tinh thần do những người có quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết thống tạo ra trong các thời điểm lịch sử nhất định Những giá trị vật chất và tinh thần ấy mang lại dấu ấn tốt đẹp, tạo thành truyền thống được giữ gìn và truyền lại

Trang 22

qua các thế hệ, có tác dụng giáo dục cho thế hệ sau, nhằm hình thành

và phát triển tài năng, phẩm chất, thể chất và xây dựng con người ngày càng hoàn thiện, có ích cho gia đình và xã hội [45, tr64]

Tác giả Huyền Giang lại cho rằng VHGĐ “được hiểu như là một tập

hợp của những biểu hiện văn hóa gắn liền với các mặt quan hệ và đời sống gia đình” [22, tr.27] Có thể nói, khái niệm này nằm trong chuỗi khái niệm

“văn hóa xã hội”, “văn hóa cộng đồng”, chỉ khác nhau về cấp độ mà không khác nhau về tính phức hợp

Tác giả Nguyễn Khắc Viện lại cho rằng, trong xã hội Việt Nam truyền thống, từ góc độ lối sống có thể hiểu VHGĐ chính là gia phong (nếp nhà) Gia phong là biểu hiện đặc trưng của VHGĐ Gia đình có gia phong là gia đình ng có nền nếp, gia giáo, thuần phong, mỹ tục, có sự ứng dụng những tri thức y học, giáo dục học, tâm lý học, thẩm mỹ… để tổ chức gia đình, giáo dục con người, nhất là về mặt tinh thần; có sự hiếu thuận đối với cha mẹ, sự tôn kính tổ tiên ông bà Biểu hiện ở tấm gương sáng về nhân cách văn hoá trong gia đình và truyền thống gia phong của gia đình, dòng họ VHGĐ là một dạng văn hóa cộng đồng đặc thù, một môi trường văn hoá đặc thù mang tính kế thừa, trong đó các hệ giá trị, chuẩn mực trở thành định hướng mà mỗi thành viên trong gia đình chấp nhận, tuân theo và có nghĩa vụ thực hiện

Giá trị VHGĐ Việt Nam được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử, hình thành và duy trì lâu đời nền nếp “gia phong, gia giáo, gia lễ”, những quy chuẩn chủ yếu để tạo dựng một gia đình, trong đó “gia phong” là lề thói mà các thành viên trong gia đình phải noi theo, là bản sắc văn hoá của một gia đình; “gia lễ” là những quy định chặt chẽ về cách ăn, nét ở của mỗi thành viên trong gia đình từ lời nói, cách ăn mặc đến cử chỉ, điệu bộ và cách ứng xử giữa các thành viên trong gia đình và xã hội; “gia giáo” là cách giáo dục các thành

Trang 23

viên trong gia đình, trong đó nội dung chủ yếu là giáo dục về đạo đức, phẩm chất và lối sống Ngoài ra, còn có “gia pháp”, là chế tài, là quyền uy của những người có vai vế để giữ nghiêm “gia lễ” Cơ sở hình thành nên VHGĐ truyền thống là:

1 Gia sản: là nói đến cơ sở vật chất (kinh tế) của gia đình: giàu, trung bình hay nghèo

2 Gia cảnh: là nói đến cơ cấu của gia đình: đông đủ, neo đơn, ly tán

3 Gia thế: là nói đến thế đứng của gia đình trong xã hội: Sang hay hèn, cao hay thấp, có quyền hay không có quyền của bố mẹ hay con cái

4 Gia phong: là nói đến lối sống hàng ngày, đối xử với nhau như thế nào: gia trưởng, dân chủ, bình đẳng

5 Gia đạo: là nói đến đạo lý nuôi dạy con: theo tôn giáo nào, quan điểm của cha mẹ, ông bà về việc nuôi dạy con: theo tôn giáo nào, quan điểm của cha mẹ, ông bà về việc nuôi dạy con: nối nghiệp tổ tông hay theo xu thời [27]

Tác giả Lê Thi trong sách Vai trò của gia đình trong việc xây dựng con người Việt Nam đưa ra quan điểm, gia đình là một hiện tượng văn hoá và là một giá trị văn hoá cho nên tất cả các quan hệ và hoạt động ng của gia đình

đều biểu hiện đặc trưng văn hoá của con người: “Gia đình được coi là giá trị

tinh thần vô cùng quý báu của nhân loại, cần được giữ gìn và phát huy” [48,

tr.14] Hệ thống giá trị văn hoá của gia đình khi đã hình thành có vai trò chi phối, điều tiết các quan hệ của gia đình, chi phối các phương thức ứng xử của các thành viên trong gia đình Đồng thời nó được thể chế hoá bằng: gia đạo, gia huấn, gia lễ và bằng pháp luật của nhà nước, bằng dư luận xã hội Hệ thống giá trị đó là cơ sở tồn tại của gia đình và giữ cho đời sống gia đình bền vững và an sinh hạnh phúc Do đó, cần phải xem xét gia đình trong mối tương

Trang 24

quan, thống nhất chặt chẽ với VHGĐ, bởi đây là là hai yếu tố hòa quyện, lồng trong nhau, giữa truyền thống và hiện đại

Tác giả Lê Quý Đức và Vũ Thị Huệ, đã đưa ra khái niệm: “VHGĐ là

dạng đặc thù của văn hoá cộng đồng bao gồm tổng thể ng động các hoạt động

ng của gia đình mang đặc trưng văn hoá, bị chi phối bởi các giá trị, chuẩn mực, truyền thống, thị hiếu của một cộng đồng mà các thành viên gia đình đã chọn lựa để ứng xử với nhau trong gia đình và ngoài xã hội” [21, tr.33] Học viên sẽ

sử dụng quan niệm trên trong luận văn này vì nó mang tính khái quát cao

1.1.1.3 Quan niệm về Văn hóa gia đình quân nhân

VHGĐ quân nhân là một thành tố của VHGĐ Việt Nam truyền thống, trong đó các giá trị chuẩn mực xã hội được vận hành, thể hiện các quan hệ ứng

xử trong gia đình như sự hoà thuận, thuỷ chung “phu nghĩa, phu kính” (quan hệ

vợ chồng); yêu thương, hiếu thuận “thờ mẹ, kính cha” (quan hệ cha mẹ - con cái); kính trên, nhường dưới, hiếu đễ, “chị ngã em nâng” (quan hệ ông bà - con cháu; anh - chị - em, ) Với những giá trị và chuẩn mực nhất định, VHGĐ quân nhân chi phối đời sống, quan hệ trong nội bộ gia đình, quan hệ gia đình với xã hội giống như VHGĐ Việt Nam nói chung Tuy nhiên, các giá trị VHGĐ chung như tình thương, trách nhiệm, hòa thuận, chung thủy… trong VHGĐ quân nhân, ít nhiều mang tính đặc thù cho phù hợp với môi trường quân đội

Dựa trên kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, luận văn đưa ra

quan niệm về VHGĐ quân nhân như sau: “VHGĐ Quân nhân là một bộ phận

của VHGĐ Việt Nam nói chung, ngoài ra nó còn mang những đặc thù riêng của môi trường quân đội và mối quan hệ đồng chí, đồng đội của quân nhân trong đời sống gia đình”

Nghiên cứu VHGĐ quân nhân giúp chúng ta có sơ sở khoa học để hiểu đúng bản chất và truyền thống của gia đình quân nhân, thấy được những nét

Trang 25

tương đồng và khác biệt giữa gia đình quân nhân và gia đình Việt Nam nói chung Trên cơ sở đó ta có thể đưa ra những giải pháp và chiến lược phát huy vai trò to lớn của gia đình quân nhân trong giữ gìn truyền thống quý báu của văn hóa dân tộc, góp phần củng cố sự bền vững của gia đình, giữ vững ổn định xã hội, phát triển kinh tế, nuôi dưỡng, giáo dục và cung cấp nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và xây dựng Quân đội

“cách mạng chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”

1.1.2 Cơ cấu và chức năng Văn hóa gia đình

1.1.2.1 Cơ cấu của Văn hóa gia đình

Nghiên cứu về cấu trúc VHGĐ có thể theo nhiều dạng thức khác nhau, nhưng cơ bản nhất theo các nhà nghiên cứu VHGĐ có ba dạng:

Một là, VHGĐ được thể hiện ở trình độ, kỹ năng, đặc điểm văn hóa trong các dạng hoạt động cơ bản của gia đình: Sản sinh nuôi dạy con cái, sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm vật chất, sản xuất và hưởng thụ các sản phẩm tinh thần

Hai là, VHGĐ thể hiện ở hệ giá trị của gia đình: các giá trị cấu trúc (các giá trị gắn với quan hệ bên trong của gia đình); các giá trị chức năng (giá trị thể hiện vai trò của gia đình đối với xã hội) Các thành tố của VHGĐ không tồn tại một cách cô lập mà liên kết với nhau tạo thành một hệ thống, thực hiện các chức năng của VHGĐ Đó là các chức năng truyền tải văn hóa từ thế hệ này sang thế

hệ khác; duy trì đời sống gia đình; bảo đảm sự tiếp nối văn hóa; giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa cộng đồng và hình thành các giá trị văn hóa mới

Thứ ba: VHGĐ thể hiện ở phương thức ứng xử trong các mối quan hệ của gia đình: Vợ/chồng, cha mẹ/con cái; anh chị/em và các quan hệ khác trong gia đình

Luận văn này nghiên cứu VHGĐ theo dạng thức (cơ cấu) thứ ba, tức là nghiên cứu phương thức ứng xử (trình độ, kỹ năng, nghệ thuật ứng xử) trong các quan hệ cơ bản của gia đình

Trang 26

Ứng xử là một biểu hiện của sự giao tiếp, giữa con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng xã hội Đồng thời nó cũng là sự phản ứng của người này trước sự tác động của người khác trong một tình huống nhất định, một hoàn cảnh nhất định được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau Tuy nhiên, hành vi ứng xử văn hóa của mỗi cá nhân là khác nhau, nó được hình thành qua quá trình học tập, rèn luyện và trưởng thành của mỗi cá nhân đó trong một môi trường gia đình và xã hội nhất định Hành vi ứng xử văn hóa được coi là các biểu hiện văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi

cá nhân Nó được biểu hiện trong mối quan hệ với những người xung quanh, trong học tập, công tác, với bạn bè và thậm chí ngay cả với chính bản thân mỗi người Nó bao gồm hàng loạt hệ thống: ứng xử trong gia đình, trong họ mạc, làng xã, giữa các dòng họ, giữa các thành viên trong cộng đồng, giữa tình yêu đôi lứa…Đạo lý của ông ta trong giao tiếp ứng xử là: Quan hệ trên dưới tôn kính; Quan hệ cha con chí hiếu; Quan hệ vợ chồng ân tình; Quan hệ anh em thuận hoà; Quan hệ bạn bè tình nghĩa

Chúng ta bàn nhiều về đạo đức, nhân cách của một con người, nhưng ít

ai bàn đến phép lịch sự, cách đối nhân, xử thế trong các mối quan hệ giao tiếp diễn ra hàng ngày trong gia đình và ngoài xã hội Con người chúng ta ng giữa các mối quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp Các mối quan hệ này có ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển nhân cách và xu hướng hành động của họ Chính cuộc sống đòi hỏi mỗi người phải có cách ứng xử đúng đắn, thể hiện qua phép lịch sự trong quá trình giao tiếp với các đối tác khác nhau Cách xử thế của mỗi cá nhân trong sự giao tiếp xã hội, được gắn với nền văn minh của từng thời đại và đặc điểm văn hoá của từng dân tộc, khu vực dân cư Các biểu hiện của cách ứng xử mang tính dân tộc, tính giai cấp, giới tính, tuổi tác Nó chịu ảnh hưởng của nghề nghiệp, địa vị xã hội và cũng mang đặc điểm cá tính

Trang 27

của mỗi con người Gia đình là nơi trú ngụ yên lành, thỏa mãn nhu cầu tinh thần, tâm tư, tình cảm làm vơi nhẹ nỗi khó khăn nhọc nhằn của con người trong cuộc sống Giao tiếp ứng xử trong gia đình là hoạt động quan trọng góp phần thực hiện các chức năng sinh, giáo, dưỡng của gia đình Thông qua giao tiếp ứng xử, các thành viên gia đình “đan dệt” quan hệ gia đình với cộng đồng xã hội

Ứng xử thường mang tính chất tình huống và phụ thuộc vào nhiều yếu

tố khách quan và chủ quan, bên trong, bên ngoài của chủ thể: khí chất, dư luận xã hội, vào hoàn cảnh cụ thể… Xã hội càng văn minh thì nhu cầu giao tiếp của con người càng cao, nhiều tình huống xảy ra cần có cách ứng xử hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng, phù hợp với sự tiến bộ và phát triển của con người, xã hội và thiên nhiên Ứng xử văn hóa là khía cạnh giá trị mang yếu tố tích cực, được chắt lọc thành các kinh nghiệm, qui tắc xã hội, chuẩn mực đạo đức thể hiện ở các tình huống ứng xử văn hóa trong đời sống văn hóa của một cộng đồng, dân tộc Ứng xử trong đời sống gia đình là cách, một người đối xử với các thành viên trong gia đình, gia tộc và các mối quan hệ khác, là cách bản thân xử sự trước các qui chuẩn xã hội và với thiên nhiên được xem là biểu hiện của VHGĐ

1.1.2.2 Chức năng của Văn hóa gia đình

Ở thời đại nào VHGĐ xét về phương diện nhân bản cũng là “hạt nhân” của văn hóa xã hội VHGĐ giàu tính nhân văn, nhân bản, đề cao giá trị đạo đức, xây dựng nếp sống văn hóa trật tự, kỷ cương, hun đúc tâm hồn, bản lĩnh cho con người trong từng tế bào của xã hội Nếu gia đình không trở thành một thực thể văn hóa, hay một cộng đồng văn hóa thì gia đình chỉ có thể biến thành tù ngục đối với các thành viên của nó Chức năng của VHGĐ và chức năng của văn hóa nói chung được biểu hiện trong việc văn hóa hóa chức năng của gia đình Nói cách khác chức năng của VHGĐ là chức năng của gia đình được thực hiện ở một trình độ văn hóa nhất định và với những đặc thù văn

Trang 28

hóa của mỗi cộng đồng, ở mỗi thời đại nhất định Do vậy, có thể xem xét chức năng của VHGĐ cụ thể như sau:

Một là, chức năng tái sản xuất ra con người:

Đây là chức năng đặc thù của gia đình, chức năng này đáp ứng nhu cầu tự nhiên của con người là sinh con đẻ cái, đồng thời mang ý nghĩa chung lớn lao là cung cấp lớp người mới, đảm bảo sự phát triển liên tục của lịch sử và trường tồn của xã hội loài người Trong mỗi gia đình, việc coi trọng chức năng sinh đẻ thể hiện ở việc trực tiếp quan tâm đến điều kiện vật chất, thể chất và tinh thần thuận lợi cho việc mang thai sinh nở của các bà mẹ Việc sinh đẻ diễn ra ở từng gia đình nhưng lại quyết định đến mật độ dân cư, lượng, chất lượng, sự phân bố dân

cư của mỗi địa phương cũng như mỗi quốc gia

Gia đình Việt Nam hiện nay, việc thực hiện tái sản xuất ra con người đang diễn ra được các cá nhân và các gia đình nhận thức đúng đắn, thực hiện tốt cuộc vận động quốc gia về kế hoạch hóa gia đình, sinh chỉ một đến hai con, nuôi con khỏe, dạy con ngoan; tạo điều kiện để các gia đình có cuộc sống

ấm no, hạnh phúc Kế hoạch hóa gia đình vừa đảm bảo sức khỏe cho người

mẹ vừa có điều kiện để chăm sóc sức khỏe tốt cho những đứa con, người mẹ

có điều kiện nghỉ ngơi giải trí và tham gia các hoat động xã hội Đó là một cuộc vận động mang tính văn hóa không chỉ là một lĩnh vực công tác xã hội hay một vấn đề xã hội

Hai là, chức năng nuôi dưỡng, giáo dục và hình thành nhân cách:

Sinh con, nuôi con, dạy dỗ con là những hoạt động không thể tách rời nhau trong gia đình Đây là chức năng hết sức quan trọng của gia đình, góp phần tạo ra những thế hệ công dân mới có ích cho gia đình và cho xã hội, là lớp người kế cận lớp người đi trước, là những chủ nhân tương lai của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Gia đình là nơi dưỡng dục về thể chất, tinh thần, hình

Trang 29

thành nhân cách cho mỗi thành viên Con cái trong gia đình được ông bà, cha

mẹ, anh chị giáo dục kiến thức, kỹ năng sống để có thể thích ứng, hòa nhập vào đời sống cộng đồng Cha mẹ thương yêu, nuôi dưỡng giáo dục con cái, chăm lo việc học tập và sự phát triển lành mạnh của con cái về cả thể chất lẫn tinh thần

Sự yêu quý và nghiêm khắc và bao dung với con cháu, trọng nhân nghĩa, làm điều thiện, ng chan hòa, ghét thói gian tham, điều giả dối… qua đó giúp con cháu tiếp thu một cách tự nhiên, nhẹ nhàng những bài học cuộc đời nhưng lại

tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách Gia đình

luôn đóng vai trò quan trọng trong giáo dục, hình thành và phát triển nhân cách với con cái Cũng cần tránh những tư tưởng của một gia đình quân nhân còn ỷ lại, dồn trách nhiệm giáo dục con cái cho nhà trường, để giáo dục gia đình có hiệu quả cha mẹ cần phải thường xuyên quan tâm đến con trẻ và phối hợp với nhà trường, với các tổ chức xã hội, đoàn thể để giáo dục con cái tốt hơn

Ba là, chức năng kinh tế:

Chức năng kinh tế là chức năng cơ bản của mỗi gia đình, chức năng này

sẽ đóng góp cho sự phát triển kinh tế của mỗi gia đình và của quốc gia Hoạt động kinh tế, hiểu theo nghĩa đầy đủ gồm có hoạt động sản xuất kinh doanh

và hoạt động tiêu dùng để thoả mãn các yêu cầu ăn mặc, ở, đi lại của mỗi thành viên và của gia đình Thực tế hiện nay nhiều gia đình có điều kiện đều

có thể trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh Để có thể phát huy mọi tiềm năng sáng tạo trong kinh tế, Đảng và Nhà nước đề ra và thực hiện các chính sách sao cho mọi gia đình, mọi cá nhân có thể làm giàu chính đáng bằng hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật Cùng với sản xuất kinh doanh, các gia đình công nhân viên chức, cán bộ hành chính sự nghiệp, giáo viên, nhà khoa học, trí thức văn nghệ sỹ cũng được khuyến khích trong lao động sáng tạo, tăng thu nhập chính đáng từ lao động sáng tạo của mình Các loại gia đình này tuy không trực tiếp thực hiện chức năng

Trang 30

sản xuất kinh doanh, nhưng cũng thực hiện một nội dung quan trọng của hoạt động kinh tế: bảo đảm hoạt động tiêu dùng đáp ứng các nhu cầu vật chất cơ bản của con người, qua đó kích thích sự phát triển hoạt động kinh tế của xã hội

Bốn là, chức năng tổ chức đời sống vật chất:

Gia đình một tế bào thu nhỏ của xã hội, nó có chức năng tổ chức đời sống vật chất và văn hoá tinh thần cho mỗi thành viên trong gia đình Gia đình cũng cần thỏa mãn nhu cầu về vật chất như: ăn, ở, mặc, vui chơi giải trí

và học tập, tu dưỡng Bên cạnh nhu cầu về vật chất gia đình còn phải thoả mãn về nhu cầu tinh thần Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình đã tạo ra sự thương yêu trên kính, dưới nhường, bầu không khí gia đình luôn đầm ấm, ít có những xung đột căng thẳng không đáng có Mục tiêu chính của việc tổ chức đời sống gia đình là nhằm mang lại hạnh phúc cho mỗi thành viên trong gia đình và bảo đảm về sức khoẻ, gắn bó, thông cảm, hiểu biết cũng như tôn trọng lẫn nhau cùng chung sức để xây dựng gia đình hạnh phúc

Hiện nay việc tiêu dùng vật chất và tinh thần ngày càng được mở rộng và

đa dạng hơn bằng hệ thống các dịch vụ và phúc lợi xã hội, nhưng điều đó không thay thế hoàn toàn chức năng tiêu dùng của gia đình Tổ chức tiêu dùng về đời sống vật chất và tinh thần của gia đình có chiều hướng đi sâu vào đáp ứng nhu cầu phong phú, duy trì sở thích sinh hoạt riêng của từng gia đình, của các thành viên trong gia đình Việc động viên các gia đình nâng cao thu nhập trên cơ cở đó định hướng cho sự tiêu dùng lành mạnh, tạo điều kiện tốt để kiến thức khoa học

và các phương tiện kỹ thuật đi vào công việc nội trợ góp phần giải phóng phụ nữ

là những vấn đề thiết thực cho sự nghiệp xây dựng gia đình mới

Dù trong điều kiện nào, dưới bất kỳ hình thức nào gia đình vẫn đảm bảo nhu cầu sinh hoạt vật chất, tinh thần của các thành viên trong gia đình Thực hiện tốt chức năng này sẽ tạo ra tiền đề và cơ sở vật chất vững chắc cho

tổ chức đời sống tinh thần của gia đình

Trang 31

Thứ năm, chức năng thỏa mãn nhu cầu tinh thần, tâm lý - tình cảm:

Đây là chức năng đặc biệt quan trọng trong gia đình, việc chia sẻ trách nhiệm, tình yêu thương gắn bó giữa các thành viên trong gia đình Gia đình nói chung, gia đình quân nhân nói riêng là nơi nuôi dưỡng cho con người trưởng thành, đồng thời cũng là nơi bao dung, an ủi, dạy dỗ cho mỗi cá nhân trước những rủi ro, sóng gió của cuộc đời Các thành viên trong gia đình luôn có tình yêu thương và ý thức, trách nhiệm với nhau, mỗi thành viên được chăm sóc cả về vật chất lẫn tinh thần, được thỏa mãn nhu cầu tình cảm, cân bằng tâm lý, giải tỏa ức chế từ các quan hệ xã hội

Trong gia đình người già được chăm sóc khỏe mạnh, vui vẻ lạc quan, truyền lại cho con cháu vốn ng, cách ứng xử đẹp Con cái biết yêu kính, vâng lời cha mẹ, vợ chồng quan tâm chia sẻ vui buồn cực nhọc với nhau làm cho mỗi người cảm nhận được sự gần gũi, thân thương Khi một thành viên gặp biến cố, gia đình, họ hàng, luôn có sự quan tâm, chia sẻ và có sự giúp đỡ để niềm vui được nhân đôi, nỗi buồn được vơi đi một nửa Điều đó sẻ tạo nên sợi dây vô hình nhưng bền chặt kết nối nghĩa tình những người trong gia đình, họ hàng, xóm giềng lại với nhau Mối quan hệ đó trở thành nền tảng của tình yêu quê hương, đất nước

Như vậy, gia đình là một thiết chế đa chức năng, trên đây là những chức năng cơ bản nhất Thông qua việc thực hiện những chức năng của mình mà gia đình tồn tại và phát triển, đồng thời tác động đến tiến bộ chung của xã hội Các chức năng được thực hiện trong sự thúc đẩy hỗ trợ lẫn nhau, việc phân chia nội dung các chức năng chỉ là tương đối Nhiều khi các chức năng được thực hiện tổng hợp trong một công việc hoặc nhiều hoạt động của gia đình ở từng nơi và các giai đoạn lịch sử khác nhau, nội dung và vị trí của mỗi chức năng có sự biến đổi phù hợp Các chức năng đều ảnh hưởng sâu sắc, mang lại những giá trị đích thực, đến việc phát triển nhân cách, phẩm chất của mỗi người trong xã hội

Trang 32

1.2 Gia đình quân nhân trong Quân chủng Phòng không - Không quân

1.2.1 Sơ lược về Quân chủng Phòng không - Không quân

Ra đời trong thời điểm lịch sử quan trọng của đất nước (22/10/1963) QC PKKQ vinh dự được Đảng và nhân dân giao phó nhiệm vụ bảo vệ bầu trời Tổ quốc; là lực lượng nòng cốt trong tác chiến trên không QC PKKQ đảm nhiệm

cả nhiệm vụ của bộ đội PKKQ và Phòng không quốc gia QC PKKQ là lực lượng nòng cốt quản lý, bảo vệ vùng trời, bảo vệ các mục tiêu trọng điểm của đất nước, bảo vệ nhân dân đồng thời tham gia bảo vệ các vùng biển đảo của

Tổ quốc Lực lượng PKKQ có thể độc lập thực hiện nhiệm vụ hoặc tham gia tác chiến trong đội hình quân binh chủng hợp thành QC PKKQ được tổ chức thành Bộ tư lệnh QC, các đơn vị chiến đấu; khối bảo đảm; khối nhà trường và các đơn vị kinh tế Bộ Tư lệnh QC có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh; Chính uỷ, Phó Chính uỷ, các cơ quan đảm nhiệm các mặt công tác quân sự; công tác đảng, công tác chính trị; kỹ thuật; hậu cần và các đơn vị trực thuộc Quân chủng có các sư đoàn không quân, Sư đoàn phòng không và một đơn vị không quân trực thuộc là các đơn vị chiến đấu chủ yếu QC PKKQ là đơn vị tiến thẳng lên hiện đại, được trang bị các loại máy bay, tên lửa, pháo phòng không và các phương tiện kỹ thuật hiện đại khác, trong đó có máy bay tiêm kích đa năng, tên lửa phòng không tầm xa, tên lửa S300, rađa thế hệ mới…Trong quá trình xây dựng và phát triển, Quân chủng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu đồng thời quản lý vùng trời của Tổ quốc và tham gia tìm kiếm cứu nạn, giảm nhẹ hậu quả của thiên tai Trong cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập dân tộc, lực lượng PKKQ đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ ra miền Bắc, bảo vệ giao thông vận tải chi viện cho miền Nam, góp phần xứng đáng vào nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Do những thành tích trong chiến đấu và thực hiện các nhiệm vụ

Trang 33

khác, cả lực lượng không quân và phòng không đều được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Có thể chia quá trình hình thành và thành lập QC PKKQ ra làm các giai đoạn sau

Ngày 22/10/1963 - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh và Bộ Quốc phòng ra Quyết định 50/QĐ thành lập QC PKKQ trên cơ sở hợp nhất Bộ Tư lệnh Phòng không và Cục Không quân QC PKKQ ra đời là bước phát triển mới

về tổ chức và sức mạnh chiến đấu của quân đội ta Từ một quân đội lúc đầu chỉ

có bộ binh, trang bị vũ khí thô sơ đã phát triển thành quân đội có đủ quân, Binh chủng hiện đại QC PKKQ vào thời điểm thành lập đã có 3 binh chủng: Cao xạ,

ra đa và không quân Ngày 07/01/1965, Bộ Quốc phòng ra quyết định

03/QĐ-QP thành lập Trung đoàn tên lửa 236 - Trung đoàn tên lửa đầu tiên của QĐNDVN Từ đây Quân chủng Không quân có đầy đủ 4 binh chủng hiện đại: cao xạ, ra đa, tên lửa và không quân, làm nòng cốt trong tác chiến phòng không trong thế trận phòng không nhân dân Đây là sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Quân đội ta và của bộ đội PKKQ

Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thắng lợi hoàn toàn, Tổ quốc Việt Nam thống nhất, non sông thu về một mối, cả nước đi lên CNXH Yêu cầu bảo vệ Tổ quốc đặt ra cho QC PKKQ những nhiệm vụ hết sức nặng nề, đòi hỏi phải triển khai lực lượng ra đa, tên lửa, pháo phòng không và không quân trên cả nước; không quân phải có khả năng giải quyết được nhiều nhiệm vụ trong tác chiến quân binh chủng hợp thành Trước yêu cầu nhiệm vụ mới (ngày 16/5/1977), Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã ký Sắc lệnh 34/L-CT tách QC PKKQ thành hai Quân chủng độc lập là Quân chủng Phòng không và Quân chủng Không quân

Quân chủng Phòng không sau khi được tách ra đã nhanh chóng triển khai tổ chức xếp sắp lại thế chiến lược phòng không trong cả nước, các lực

Trang 34

lượng pháo phòng không, ra đa, tên lửa đều được phát triển cả về lượng, chất lượng và trang bị, kỹ thuật để đủ điều kiện nhanh chóng cơ động chiếm lĩnh trận địa tạo thành thế trận phòng không liên hoàn khép kín trên cả nước, không

để Tổ quốc bị bất ngờ vì các tình huống trên không Quân chủng Không quân cũng khẩn trương thành lập các sư đoàn, trung đoàn không quân, tiếp thu, khai thác sử dụng hàng chục sân bay, hàng trăm máy bay chiến đấu, trực thăng chiến lợi phẩm, vừa làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, vừa tích cực huấn luyện, rèn luyện xây dựng đơn vị trong điều kiện thời bình

Sau 22 năm hoạt động độc lập, trước yêu cầu của cuộc đấu tranh bảo vệ

Tổ quốc XHCN trong tình hình mới, thực hiện Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị, Nghị quyết 33 của Đảng uỷ Quân sự TW về chấn chỉnh tổ chức, biên chế và xây dựng Quân đội cách mạng chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ngày 03/3/1999, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký Sắc lệnh 03/L-CT về việc hợp nhất hai Quân chủng Phòng không và Không quân thành QC PKKQ Việc hợp nhất hai Quân chủng là sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong sự nghiệp xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng; là sự kế tiếp lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của bộ đội Phòng không và bộ đội Không quân Hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành QC PKKQ phát triển lực lượng đủ bốn binh chủng: pháo cao xạ, tên lửa, không quân, ra đa với vũ khí, trang bị kĩ thuật hiện đại đáp ứng ngày càng cao yêu cầu nhiệm vụ quản lí, bảo vệ vững chắc bầu trời Tổ quốc Dù ở thời điểm nào, trong bất kì nhiệm vụ, hoàn cảnh nào, các thế hệ cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên quốc phòng của Quân chủng luôn nêu cao truyền thống “Đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể” vượt qua gian khổ, hy sinh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Hiện nay QC PKKQ luôn đẩy mạnh huấn luyện, nâng cao chất lượng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, tăng cường xây dựng thế trận tác chiến PKKQ nhân dân trên phạm vi cả nước Trang

bị vũ khí, khí tài hiện đại đáp ứng yêu cầu quản lý, bảo vệ vững chắc vùng trời

Trang 35

vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân

1.2.2 Khái lược về gia đình quân nhân ở Quân chủng Phòng không- Không quân

1.2.2.1 Đặc điểm cư trú

Là một Quân chủng lớn, có vai trò, vị trí quan trọng trong đội hình chiến đấu của quân đội Địa bàn đóng quân lại rất phân tán trải dài, rộng khắp ở 58 tỉnh thành trên cả nước Từ thành phố, đến nông thôn, vùng sâu vùng xa, nơi biên giới, hải đảo xa xôi cho nên, các gia đình quân nhân ở

QC PKKQ có những đặc điểm cư trú sau:

Thứ nhất, các gia đình quân nhân ở QC PKKQ cư trú phân tán trên

rộng trên toàn quốc theo địa bàn đóng quân của đơn vị Gia đình quân nhân QC có thể phân chia theo một khu vực như: Các gia đình quân nhân trong các thành phố trên địa bàn cả nước; gia đình quân nhân ở các khu vực ngoại thành, gia đình quân nhân ở các vùng nông thôn; gia đình quân nhân ở khu vực miền núi và hải đảo Do điều kiện địa lý, văn hóa của các vùng miềm khác nhau do đó, VHGĐ quân nhân trong QC PKKQ đóng quân, sinh ng tại đó cũng ảnh hưởng và mang những sắc thái văn hóa riêng của mỗi vùng miền

Thứ hai, các gia đình quân nhân thường ng tập trung trong một khu tập

thể, “khu gia binh” Các quân nhân khi lập gia đình (cưới vợ, chồng) thì họ được mượn, hoặc cấp nhà trong các khu tập thể của đơn vị; các khu tập thể, khu gia đình này thường gần nơi đơn vị đóng quân, một khác không có tiêu chuẩn được cấp, mượn thì họ cũng mua hoặc thuê, mượn nhà ở gần đơn vị để tiện việc đi lại, công tác Do đặc thù các gia đình quân nhân ng tập trung trong một nơi như vậy, nên tình cảm lối xóm giữa các gia đình càng thêm đoàn kết gắng bó, đùm bọc, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau

Trang 36

Thứ ba, các gia đình quân nhân ở nhiều vùng miền khác nhau, do yêu cầu

nhiệm vụ của công việc nên họ xây dựng gia đình, lấy vợ, lấy chồng, sinh ng ở các địa phương nơi đơn vị đóng quân Do đó, các gia đình quân nhân có sự giao thoa, tiếp xúc với nhân dân địa phương, giao thoa về kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán, lối sống…Rõ ràng, các thành viên trong gia đình quân nhân QC PKKQ không thể bó hẹp đời sống trong khuôn viên ngôi nhà của mình hay trong môi trường của một đơn vị quân đội, mà nhiều sinh hoạt của họ còn được diễn ra thường xuyên trên các không gian của cộng đồng nơi mình sinh ng Như vậy, không gian cư trú của gia đình quân nhân đã trải dài từ không gian cư trú của một gia đình đến không gian cư trú của cộng đồng

Thứ tư, không gian ng của các gia đình quân nhân rất rộng, ở nhiều nơi,

nhiều vùng miền, nên họ dễ tiếp nhận, ảnh hưởng và hòa đồng giữa những thói quen, nếp sốnghĩ, văn hóa ở những vùng miền mà họ sinh ng Ít nhiều VHGĐ quân nhân trong QC PKKQ cũng bị ảnh hưởng bởi cách thức sinh hoạt, làm ăn, sinh ng, phong tục tập quán ở các vùng miền mà họ cư trú Đây cũng là một điều kiện thuận lợi để gắn kết tình tình cảm xóm giềng, tình cảm quân - dân, cấu kết cộng đồng trong từng gia đình ở khu dân cư, góp phần xây dựng đời sống văn hóa, tạo nên sự đa dạng văn hóa trong chính các gia đình quân nhân trong QC PKKQ

Thứ năm, vấn đề giáo dục trong gia đình quân nhân QC PKKQ cũng

ảnh hưởng bởi bản sắc văn hóa và môi trường giáo dục của địa phương nơi

đóng quân Bởi khi các gia đình quân nhân sinh con đẻ cái thì ngoài việc bố

mẹ nuôi dưỡng giáo dục con cái trong gia đình, thì họ cũng phải đưa con đến học tập tại các trường trong hệ thống giáo dục từ mẫu giáo đến đại họcở địa phương Ngoài việc học tập ở trường con em của các gia đình quân nhân được

sự rèn rũa, giáo dục của bố mẹ, chính vì thế giáo dục trong gia đình quân nhân QC PKKQ là giáo dục tương đối toàn diện cả về tri thức và kinh

Trang 37

nghiệm, giáo dục đạo đức và lối sống, giáo dục nhân cách và thẩm mỹ, ý thức cộng đồng… trở thành những con người chân chính, có đời sống ấm no, tự

do, hạnh phúc, có năng lực, trí tuệ, có lối sống lành mạnh, đạo đức trong sáng, hết mình vì mọi người, vì quê hương

1.2.2.2 Đặc điểm xã hội văn hóa

Gia đình truyền thống của Việt Nam được hình thành trên nền tảng xã hội nông nghiệp và chịu ảnh hưởng mạnh của tư tưởng Nho giáo Gia đình truyền thống của Việt nam được coi là đại gia đình mà các thành viên liên kết với nhau bằng chuỗi quan hệ huyết thống, có các ưu điểm như có sự gắn bó cao về tình cảm theo huyết thống, bảo lưu được các truyền thống văn hóa, tập tục, nghi lễ, phát huy tốt các gia phong, gia lễ, gia đạo Các thành viên trong gia đình có điều kiện giúp đỡ nhau về vật chất và tinh thần, chăm sóc người già và giáo dưỡng thế hệ trẻ

Gia đình Việt Nam ngày nay phần lớn là gia đình hạt nhân trong đó chủ yếu chỉ có một cặp vợ chồng (bố mẹ) và con cái mà họ sinh ra Hầu hết các gia đình trí thức, viên chức nhà nước, công nhân công nghiệp, gia đình quân đội, công an đều là gia đình hạt nhân Xu hướng hạt nhân hóa gia đình ở Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng vì nhiều ưu điểm và lợi thế của nó Trước hết, đặc điểm của gia đình hạt nhân tồn tại như một đơn vị độc lập, gọn nhẹ, linh hoạt và có khả năng thích ứng nhanh với các biến đổi xã hội Gia đình hạt nhân có sự độc lập về quan hệ kinh tế Kiểu gia đình này tạo cho mỗi thành viên trong gia đình khoảng không gian tự do tương đối lớn để phát triển tự do

cá nhân, đề cao tính cá nhân Trong xã hội hiện đại, mức độ độc lập cá nhân được coi là một yếu tố biểu hiện chất lượng cuộc sống gia đình Tính độc lập

cá nhân được gia đình tạo điều kiện nuôi dưỡng, phát triển sẽ tạo ra phong cách ng, tính cách, năng lực sáng tạo riêng khiến cho mỗi người đều có bản sắc Một gia đình hạnh phúc, hoà thuận sẽ tác động tới cộng đồng, thúc đẩy xã

Trang 38

hội vận động tạo ra sự biến đổi và phát triển Gia đình hạnh phúc bền vững không chỉ có sự “no ấm, bình đẳng, tiến bộ” mà còn là nơi hội tụ tổng thể những nét đẹp văn hoá của mỗi gia đình, cộng đồng và xã hội Nó được thể hiện qua thái độ, hành vi, cách cư xử của các thành viên trong gia đình trong gia đình, trong đó phải đảm bảo các nguyên tắc: Đối với người trên phải tôn kính, lễ độ, khiêm tốn và quan tâm, chăm sóc; đối với người dưới phải biểu lộ thái độ thông cảm, nhường nhịn, giúp đỡ, vị tha; đối với người cùng thế hệ phải hết sức tôn trọng, chân thành, bác ái; trong quan hệ vợ chồng phải hoà thuận trên cơ sở tình yêu thương chung thuỷ và sự hiểu biết lẫn nhau…

Gia đình quân nhân QC PKKQ đã kế thừa những giá trị tốt đẹp của gia đình Việt Nam truyền thống, đồng thời tiếp thu những tiến bộ của thời đại về gia đình, biết “gạn đục khơi trong” gạt bỏ và hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm tạo sự phát triển, xây dựng mối quan hệ bình đẳng, thương yêu, có trách nhiệm giữa các thành viên trong gia đình và xây dựng mối quan hệ giữa gia đình và cộng đồng với các tổ chức chính trị, xã hội Là một bộ phận của gia đình Việt Nam, gia đình quân nhân QC PKKQ mang trong mình cả đặc điểm, phẩm chất, nổi bật của gia đình Việt Nam và có những đặc điểm riêng biệt sau:

Thứ nhất, vợ chồng hoặc cả con cái trong gia đình quân nhân QC

PKKQ đều là quân nhân Việc hướng sốnghiệp cho con cái trong các gia đình quân nhân thường là “cha truyền con nối” đây là nét đặc thù của các gia đình quân nhân: “Lớp cha trước, lớp con sau/ Đường ra mặt trận chung câu quân hành” Con cái trong gia đình quân nhân QC PKKQ phần lớn được bố, mẹ định hướng theo con đường binh nghiệp.Với kiểu gia đình này các thành viên cùng công tác, phục vụ trong môi trường quân đội, cho nên họ có sự thông cảm, hiểu rõ về nhiệm vụ cũng như tính chất công việc của nhau, do đó các thành viên trong gia đình luôn động viên, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; bố mẹ luôn là người gần gũi, truyền đạt kinh nghiệm ng,

Trang 39

các kiến thức giữa các thế hệ trong gia đình cũng như công việc trong công tác, luôn là tấm gương có sức cảm hoá, thuyết phục con cái và các thành viên trong gia đình Con cái thế hệ đang kế tục, bước tiếp con đường của cha mẹ

họ phấn đấu không ngừng xứng đáng với những gì mà cha mẹ đang mong đợi, tiếp tục xây dựng QĐNDVN cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, mãi mãi xứng danh Bộ đội cụ Hồ, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó

Thứ hai, các thành viên trong gia đình quân nhân QC PKKQ đều có trình

độ văn hóa nhất định Quân nhân trong QĐNDVN nói chung, QC PKKQ nói riêng những người phục vụ lâu dài trong quân đội đều là những người có trình

độ văn hóa khá đông đều, có phẩm chất đạo đức, được tuyển chọn kĩ càng, có định hướng sốnghề nghiệp quân sự rõ ràng Họ được đào tạo một cách bài bản, chính qui tại các học viện, nhà trường trong Quân đội để trở thành sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp phục vụ lâu dài trong quân đội, nên họ có một trình

độ học vấn tương đối cao về các lĩnh vực chuyên môn cụ thể, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần có giá trị đối với quân đội và xã hội Do các thành viên trong gia đình quân nhân QC PKKQ đều có trình độ hiểu biết về văn hóa xã hội, do

đó mối quan hệ trên dưới giữa bố mẹ và con cái là mối quan hệ hai chiều bình đẳng, bởi ngoài tình phụ tử ra họ còn có tình đồng chí, đồng đội

Thứ ba, các thành viên trong gia đình quân nhân QC PKKQ thuần nhất về

nghề nghiệp, đa dạng về công tác Như trên đã nói các gia đình quân nhân đều có một hoặc hai người, thậm chí cả nhà đều là quân nhân, cho nên có thể nói các gia đình quân nhân QC PKKQ thuần nhất về nghề (cùng một nghề) Tuy nhiên, mỗi cá nhân lại ở một đơn vị và khác nhau về nhiệm vụ chuyên môn Ví dụ như có gia đình bố công tác ở Bộ Tổng tham mưu, mẹ lại công tác tại một đơn vị thuộc Bộ tư lệnh Thủ đô và con lại ở một đơn vị khác, hơn nữa mỗi người đều đảm nhiệm công

Trang 40

việc riêng theo chuyên môn được đào tạo, do vậy, các thành viên trong gia đình quân nhân rất đa dạng về công việc

Thứ tư, các thành viên trong gia đình quân nhân QC PKKQ có thu nhập và

mức ng trung bình Trong xã hội hiện nay, thu nhập bình quân của những người làm trong các công ty liên doanh bên ngoài, hay các công ty nhà nước…thu nhập và mức ng của họ tương đối cao Tuy nhiên, đối với các gia đình quân nhân thì thu nhập bình quân và mức ng của họ tuy không cao nhưng ở họ luôn sáng lên tinh thần vượt khó, chi tiêu có kế hoạch, vừa đảm bảo trang tải cuộc sống vừa đảm bảo tích lũy cũng như nuôi dạy con cái

Thứ năm, gia đình quân nhân trong QC PKKQ có lối sống, nếp sống

văn hóa Nói đến lối sống, nếp sống của gia đình quân nhân trong QC PKKQ

là nói đến nếp sống thanh lịch hay cách ứng xử, giao tiếp văn hóa Các thành viên trong gia đình quân nhân là những người có đạo đức, lối sống giao tiếp, hành vi, nếp sốnghĩ trong tất cả các lĩnh vực: Lao động, sinh hoạt, các hoạt động chính trị-xã hội, hoạt động văn hóa, giáo dục, thể thao, giới tính Gia đình quân nhân là một “tế bào” của xã hội và mỗi tế bào đó phải tỏa sáng xung quanh và tạo nên một khu dân cư, trở thành một điểm sáng văn hóa Các thành viên trong gia đình quân nhân là quân nhân trong QĐNDVN đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, có động cơ đúng đắn, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch lành mạnh, nhiệt tình, trách nhiệm trong công tác, sẵn sàng nhận

và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần làm nổi bật giá trị nhân văn VHGĐ quân nhân Gia đình quân nhân hình thành một lối sống, nếp sống mang đặc thù của Quân đội Đó là kỷ luật, tính tự giác chấp hành kỷ luật, tự giác trong lao động, học tập và trong rèn luyện tác phong quân nhân Đây sẽ là điều kiện để mỗi cá nhân phát huy tính chủ động, sáng tạo, góp phần định hướng cho

họ những quan điểm, nhận thức đúng đắn trong hưởng thụ, sáng tạo ra các giá trị văn hóa và hình thành những chuẩn mực trong giao tiếp, trong ứng xử xã hội

Ngày đăng: 06/06/2021, 00:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w