Sản phẩm đạt giải Ba cuộc thi KHKT dành cho HS trung học lần thứ 2 tỉnh Thanh Hóa. Đề tài nghiên cứu về sự tương đồng, khác biệt, sự giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Thái và Mường ở Thường Xuân, Thanh Hóa qua tục lệ làm vía. Sản phẩm này sẽ cung cấp những tri thức bổ ích cho anh chị em làm đồ án, luận văn về văn hóa Thái, Mường.
Trang 1CUỘC THI KHOA HỌC KĨ THUẬT DÀNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
NĂM HỌC 2014-2015
ĐƠN VỊ DỰ THI: TRƯỜNG THPT THƯỜNG XUÂN 2
TÊN DỰ ÁN
TÌM HIỂUNÉT GIỐNG NHAU, KHÁC TRONG TỤC LÀM VÍA – SỰ GIAO THOA VĂN HÓA GIỮA HAI DÂN TỘC THÁI – MƯỜNG Ở
THƯỜNG XUÂN VÀ VÙNG LÂN CẬN
LĨNH VỰC DỰ THI: KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ HÀNH VI
CÁC TÁC GIẢ:
1 LÊ THỊ DUYẾN
2 LÊ THỊ ÁNH
Trang 2Mục lục
Trang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Dự án Tìm hiểu nét giống nhau, khác nhau trong tục làm vía – sự giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Thái – Mường ở Thường Xuân và vùng lân cận là kết quả ban đầu trong tiến trình tìm hiểu văn hóa, phong tục các dân tộc
thiểu số của chúng tôi Để có được những kết quả này chúng tôi xin chân thành cảm ơn các ông Phạm Văn Liền ở thôn Ba Ngọc, xã Xuân Phú, huyệnThọ Xuân;ông Lê Tiến Ngót ở thôn Thành Lợp, xã Tân Thành huyện Thường Xuân tỉnh Thanh Hóa đã nhiệt tình cung cấp những thông tin cho chúng tôi Xin cảm
ơn chính quyền địa phương đã tạo điều kiện để chúng tôi được tiếp xúc, khai thác thông tin từ các ông, bà tại những địa phương nói trên.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Cầm Bá Đường đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi trong việc định hướng chọn đề tài, thu thập và phân tích dữ liệu để hoàn thành dự án.
Cuối cùng nhóm tác giả xin gởi lời cảm ơn đến Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã tạo ra một sân chơi bổ ích; cảm ơn các cấp các ngành, Ban giám hiệu trường THPT Thường Xuân 2, các thầy cô giáo và các bạn học sinh đã nhiệt tình ủng hộ cho chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện dự án.
Trân trọng cảm ơn!
Trang 4TÓM TẮT DỰ ÁN
A ĐẶT VẤN ĐỀ
I- Lý do nghiên cứu
- Văn hóa là sản phẩm tinh thần của con người, là lĩnh vực cần được quan tâm thường xuyên Về vấn đề này, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã nêu rõ: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc là một yêu cầu quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế Nghị quyết cũng nêu
rõ định hướng: “Nền vǎn hóa mà chúng ta xây dựng là nền vǎn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Về bản sắc dân tộc của văn hóa, Nghị quyết chỉ rõ: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn nǎm đấu tranh dựng nước và giữ nước
Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong vǎn hóa các dân tộc khác Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ”.
Một vấn đề quan trọng khác cũng được đề cập trong Nghị quyết này là: bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số là hoạt động cần thiết đối
với xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện nay “Nền vǎn hóa Việt Nam là nền vǎn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái vǎn hóa riêng Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền vǎn hóa Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng
và phát huy tính đa dạng vǎn hóa của các dân tộc anh em” “Bảo tồn, phát huy
và phát triển vǎn hóa các dân tộc thiểu số Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới về vǎn hóa, vǎn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số Nhà nước cần phải “phát hiện, bồi dưỡng, tổ chức lực lượng sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu vǎn hóa, vǎn học, nghệ thuật là người dân tộc thiểu số Đầu tư và tổ chức điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến các giá trị vǎn hóa, vǎn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số”.
Học tập văn hóa thông qua di sản là một yêu cầu cơ bản của đổi mới giáo
dục và đào tạo “Bảo tồn và phát huy các di sản vǎn hóa Di sản vǎn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu vǎn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị vǎn hóa truyền thống (bác học và dân gian), vǎn hóa cách mạng, bao gồm cả vǎn hóa vật thể và phi vật thể”
Văn hóa các dân tộc Thái, Mường đã có nhiều nghiên cứu, song tục lệ làm vía của hai dân tộc này chưa được khám phá trong một cái nhìn tương quan Sự gần gũi về địa bàn cư trú đã tạo nên nét giống nhau trong tục lệ làm vía của người Thái và người Mường ở Thường Xuân và một số vùng lân cận Tìm hiểu
sự giống nhau, khác nhau trong tục lệ này sẽ góp phần khẳng định mối quan hệ
Trang 5gần gũi, gắn kết giữa hai dân tộc; sự ảnh hưởng qua lại trong phong tục tập quán của hai dân tộc là do sự gần gũi về địa bàn cư trú
II Câu hỏi nghiên cứu
- Làm vía có vai trò, vị trí như thế nào trong đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc Thái, Mường?
- Tục làm vía của người Thái, người Mường ở Thường Xuân và vùng lân cận có diểm giống nhau không? Tại sao giống nhau?
- Nét giống nhau và khác nhau trong tục làm vía của người Thái, người Mường
có phải là kết quả của sự giao thoa văn hóa hay không?
B MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu để thấy được sự thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam nói chung và mối quan hệ gần gũi giữa các dân tộc anh em, nhất là sự gần gũi giữa dân tộc Thái và dân tộc Mường
- Thấy được sự gần gũi, thậm chí xen kẽ nhau về địa bàn cư trú là một trong những yếu tố dẫn đến nét giống nhau trong tục làm vía
- Góp phần tuyên truyền gìn giữ, phát huy nét đẹp nhân văn trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của hai dân tộc Thái – Mường
C PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I Nghiên cứu tài liệu
- Tìm đọc sách nghiên cứu về văn hóa dân tộc thiểu số của Đặng Nghiêm Vạn, sách giáo khoa Ngữ Văn 10 tập I, mạng Internet và những tài liệu có liên quan đến dân tộc Thái, dân tộc Mường
II Thu thập dữ liệu trên thực địa
1 Tiến hành phỏng vấn ông (bà) ở Thôn xã huyện
- Tiến hành: một người biết tiếng Thái đến các xã Tân Thành, Luận Khê (huyện Thường Xuân) tìm hiểu, hỏi thăm đến các ông Mo, Một hoặc người biết làm vía
để lấy thông tin
- Một người biết tiếng Mường đến xã Xuân Cao (Thường Xuân), Xuân Phú (Thọ Xuân) tiến hành thu thập thông tin
2 Chụp ảnh, quay phim lễ làm vía tiêu biểu của dân tộc Thái tại thôn xã huyện; của dân tộc Mường tại
3 Khảo sát thực địa một số vấn đề liên quan
D KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I Các khái niệm trong nghiên cứu
1 Các khái niệm xuất hiện trong tục làm vía của người Thái ở Thường Xuân
- “Ế bẳn” hoặc “ết khoắn” (Thái đen) – làm vía, tổ chức làm vía cho ai đó.
- “Hoóng bẳn – người Thái trắng còn gọi là sẻ hình, Thái đen gọi là hoọng khoắn – gọi vía.
- Hăng cau, hăng bẳn/ hắng cáu hắng khoắn là cầm vía, giữ lấy vía - người khác
đến dự lễ làm vía cầm lấy, giữ lấy vía cho người được làm vía
- Ton bẳn (tón khoắn): là đón lấy vía về nhà.
- Phưởn bẳn: là mâm để bày các đồ lễ trong lễ làm vía.
- Tỏm bẳn (tóm khoắn): mọi người cùng thưởng thức những món có trong mâm
vía khi thầy vừa gọi vía trở về
- Phục hẻn hoặc phục sải hẻn: là buộc chỉ vào cổ tay.
Trang 6- Môt: là thầy cúng vía – người thực hiện nghi lễ làm vía; là người thông thuộc
cả ba cõi: cõi âm (Mướng Phỉ), cõi trời (Mướng Thẻn ná) và dương gian (Mướng Cốn hoặc Mướng lùm) Người biết làm vía có thể giao tiếp được với cả Trời, ma và vía của con người Muốn biết làm vía thì phải học với Một kè - người được trời phái xuống; khi học phải kiêng, khem trong ăn uống, sinh hoạt
- Cháu hỏ: là cái giỏ hoặc túi vía của thầy cúng vía.
- Cháu bẳn: giỏ hoặc túi đựng vía khi đã gọi được vía về.
2 Các khái niệm trong tục làm vía của người Mường ở Xuân Cao và Xuân Phú (Thọ Xuân)
- Lọc lố - dơc mụ (ống)
- Vái nạy – làm vía đặt tên
- Là Vái (Mấn Vái): làm vía
- Là Vái Sôn cón : làm vía con cháu
- Lá Vái Tàng khá : làm vía đường xa
- Là vái tấu nắm : làm vía đầu năm
- Cốt chỉ : buộc chỉ cổ tay
II Nguồn gốc, ý nghĩa của tục làm vía
- Từ xa xưa các dân tộc định cư trên đất nước Việt Nam đã luôn chăm lo cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần Người Thái, người Mường đặc biệt quan tâm đến phương diện đời sống tinh thần Họ cho rằng phần tinh thần đặc biệt quan trọng nên phải được quan tâm nhiều hơn Sự quan tâm ấy thể hiện rõ nét trong tục làm vía đã tồn tại, lưu truyền qua nhiều thế hệ, đến ngày nay tục này vẫn thường xuyên hiện hữu trong mỗi gia đình, dòng họ và từng cá thể Có thể nói tục cầm vía đã xuất hiện từ rất lâu đời trong đời sống tâm linh của người Thái, người Mường Ở đây xin giản lược về quan niệm, ý nghĩa của tục làm vía của hai dân tộc này
1 Người Thái
1.1 Quan niệm về vía và làm vía
Người Thái quan niệm: con người có vía (bẳn – khoắn) với quan niệm “Xảm xíp bẳn táng na, ha xíp bẳn táng lẳng” nghĩa là “ba mươi vía phía trước, năm mươi vía phía sau” ở mỗi người Vạn vật trong vũ trụ thì có “Xảm xíp mình bẳn cau, Cau hói mình láng bẳn”, nghĩa là “Ba mươi vía của người, Chín trăm vía của
muôn loài” Vía con người thường hay rời khỏi thân xác mỗi khi có biến cố về sức khỏe, về gia đình
- Làm vía theo Tiếng Thái là “ế bẳn/ết khoắn” Khi đứa trẻ mới chào đời, đầy
cữ, ra cữ; khi mới lớn lên (thiếu niên), khi trưởng thành (thanh niên), đi làm dâu (nữ), khi về già thì đều phải làm vía Người được làm vía là người mới chào đời, sắp đi xa, mới đi xa về, mới lấy chồng hoặc người mất vía hoặc già, ốm đau 1.2 Ý nghĩa của việc làm vía: mong hồn vía luôn ở bên mình, cầu mong sức khỏe, sống lâu
2 Người Mường
2.1 Quan niệm về vía và làm vía
- Người Mường quan niệm “Món khống lẻn tầng mưới hai bóng vái” nghĩa là Người sống trên đời mười hai bóng vía Đàn ông, con trai có 9 vía, con gái có 7
Trang 7vía Muốn cho vía được khỏe mạnh thì trong đời mỗi con người phải được làm vía
- Làm vía theo tiếng Mường là “Là Vái” với ý nghĩa là gọi vía trở về với chủ, về nhà với mọi người Làm vía còn thể hiện tinh thần gắn kết thế hệ trong gia đình, dòng họ hai bên nội ngoại; cầu mong sự an lành, mạnh khỏe
- Quan niệm về hồn vía của người Mường là vía có khỏe, có ở bên thân xác thì con người mới sống bình an Người Mường cho rằng mỗi khi ốm đau là lúc vía
đi khỏi thân xác và đang trú ngụ ở đâu đó Nếu không gọi vía về thì người sẽ ốm đau kéo dài
- Thực hiện nghi lễ làm vía của người Mường là thầy Mo (Ấu mó) – người thông thuộc việc trời, người, giao tiếp được với ma, thần linh Thầy Mo có khả năng gọi và đưa vía người đi lạc trở về Thầy Mo học cách cúng vía với ông Mo lớn – người được thần linh trao cho sứ mệnh đến giúp con người, được truyền cho những bài cúng, bài khấn từ người đi trước
- Người Mường thực hiện làm vía khi cháu nhỏ mới chào đời, khi bước vào tuổi thiếu niên, thanh niên, khi ốm đau, khi về già hoặc cuối năm thì sẽ làm vía để đón một năm mới nhiều sức khỏe, may mắn, phát đạt
II Thủ tục làm vía
1 Thủ tục làm vía của người Thái
1.1 Chuẩn bị
- Người Thái: Trước hết là đi “Nhướng sưa” (dượng sứa) – đi xem áo để biết vía
bị làm sao (trường hợp ốm đau, giật mình rơi vía) Chiếc áo trong quan niệm của người Thái là cái tượng trưng cho con người, là nơi mà hồn vía trú ngụ và theo
về mỗi khi vía rời khỏi thân xác Cho nên mỗi khi mất vía (ốm đau) thì việc đầu tiên phải làm là đi xem áo cho người đó Người nhà mang chiếc áo của người bị
ốm và trầu cau, rượu đến chỗ thầy cúng để xem Ông Mo, mụ Một phán tình trạng vía của người cần làm vía để quyết định cách thức làm vía Còn những trường hợp khác thì không cần tiến hành thủ tục này Thầy cúng là người chọn ngày, định ngày để làm vía
1.2 Lễ vật chính
Người Thái: Mỗi hình thức làm vía đều có lễ vật cụ thể, có thể có nét giống nhau hoặc khác nhau Song những lễ vật sau đây thường xuất hiện trong các nghi thức làm vía của người Thái: Trầu cau, Trứng, gạo, cơm, rượu, nước, cá,
gà, vịt, lợn, quần áo của người được làm vía, nến hoặc nhang, sợi chỉ
1.3 Phân loại cách làm vía
Người Thái có nhiều lễ làm vía Mỗi lứa tuổi, mỗi sự kiện, mỗi con người đều có những lễ làm vía riêng Kết quả tìm hiểu tục làm vía của dân tộc Thái cho thấy làm vía có những cách phân loại sau đây
1.3.1 Chia theo tuổi tác
+ Trẻ em có: ế bẳn oọc có (vía đầy cữ, ra cữ); “bẳn tốc chòng” (vía khỏi ốm đau, quấy khóc); bẳn chốm (vía mừng – của bên ngoại)
+ Người lớn: “ế bẳn Sùi” – làm vía cho người lấy vợ, lấy chồng trước anh, chị + Người già: “ế bẳn gioong cháu” – vía mừng tuổi già; “bẳn ke láng” – vía làm hòm dự phòng; bẳn pẻng máy – sửa hòm cho người già ốm nặng
Trang 81.3.2 Chia theo tính chất gồm: ế bẳn lúng tả - bên ngoại làm vía cho; bẳn phớ -
vía cho người hoảng loạn, ốm đau do mất vía; chốm bẳn – làm vía cho người đi
xa về, người thành đạt, người qua được kiếp nạn
2 Thủ tục làm vía của người Mường:
1.1 Chuẩn bị
- Người Mường: đi chọn ngày với thầy cúng, thầy phán ngày, giờ làm vía
1.2 Lễ vật chính
- Tùy vào mỗi hình thức làm vía mà lễ vật khác nhau Những thứ cần chuẩn bị làm vía thường có: gà, lợn, gạo nếp, rượu, bánh gói, quần áo, dây (vòng) bạc, trầu cau Những thứ lễ vật này phải được chuẩn bị đầy đủ trước khi tiến hành làm lễ
1.3 Phân loại cách làm vía
Người Mường có nhiều lễ làm vía Mỗi lứa tuổi, mỗi sự kiện, mỗi con người đều có những lễ làm vía riêng Kết quả tìm hiểu tục làm vía của dân tộc Mường cho thấy làm vía có những cách phân loại sau đây
+ Vái nạy – làm vía đặt tên cho trẻ
+ “Là vái cơm hôm vái họp” – làm vía cho con gái lớn đi làm dâu
+ “Là vái cả” – Làm vía đầu đời, nhà ngoại đi đặt tên cho cháu;
+ “Là vái Sôn Cón” – làm vía cho con cháu trong nhà có người ốm nặng
+ “Là vái Tàng khá” – bên ngoại làm vía dẫn đường về an toàn
+ “Là vái cuối năm” – làm vía cầu chúc cuối năm mạnh khỏe, làm ăn tốt, năm mới an khang
III Trình tự, cách tiến hành của mỗi hình thức làm vía
1 Người Thái
1.1 Chọn ngày
- Trong đời sống của đồng bào Thái, xem ngày, chọn ngày tháng là việc làm cần thiết hết sức quan trọng trong mọi hoạt động Người Thái có lịch riêng gồm mười ngày một tuần: cởn coỏng, xiêm coỏng, cởn xả, khỏa ngáng, khỏa hò, kỉm ngoái, xiêm ngoái Khi chọn ngày làm vía, người Thái tránh không chọn những ngày khỏa hò, vì đó là ngày không may mắn
1.2 Chuẩn bị, sắm sửa lễ làm vía
- Chuẩn bị làm vía của người Thái được tiến hành khá công phu Trước hết là gói bánh ú, đồ xôi, làm thịt gà (vịt, lợn) Tiếp theo là đi mời bà con, họ hàng nội ngoại, rồi sắm sửa đồ lễ cho mâm cúng vía
1.3 Tiến hành
1.3.1 Đón thầy
- Đi đón thầy phải là bà, hoặc mẹ trong gia đình Đến đón thầy cúng về làm vía phải mang theo một chai rượu, trầu cau để thầy báo với các thần linh Khi đón thầy, cả lúc đi, lúc về đều không được đi đường tắt, không được chui qua những nơi như: gầm nhà sàn, dây phơi quần áo Thầy về đến nhà phải cất “cháu hỏ” – túi vía của thầy vao nơi trang trọng nhất như dười bàn thờ Người nhà phải mang ghế mây cho thầy ngồi
1.3.2 Cúng vía
- Khi mâm vía được dọn bày lên nơi trang trọng nhất trong nhà (cạnh cây cột chính - sảu hoong đối với nhà sàn hoặc dưới bàn thờ gia tiên), thầy sẽ thực hiện
Trang 9cúng vía Phần này có thể được tiến hành cả ở nhà và ngoài trời Việc cúng vía ở ngoài trời khi người được làm vía bị ôm đau do mất vía ở đâu đó Thường thì thầy sẽ đến gần nơi người bị “mất vía” (nếu ở gần) để gọi vía Nhưng nơi gọi vía ngoài trời cũng có thể là nơi tượng trưng
- Thời gian cúng vía: trừ ngày đi xem áo, chọn ngày thì cả gia đình phải dành một ngày chuẩn bị các thứ Làm vía chính thức lâu là cả một ngày, nhanh thì hai giờ là xong, thường thường là một buổi
- Nội dung: vía đi nhầm, đi lạc đường, vía còn ở trên trời hoặc ở với ma thì về nhà để ăn cơm uống nước nhà mình Cầu mong cho vía luôn luôn được mạnh khỏe để gia đình khỏi lo, để người trẻ thì mau lớn, biết làm việc, biết lo toan, người già thì vui khỏe, sống lâu cùng con cháu
1.3.4 Cầm vía
- Việc cúng vía (sẻ hình) đã hoàn tất việc gọi vía trở về thi những người thân trong gia đình đến cầm vía (hăng bẳn – hắng khoắn); người lớn, người già thì buộc chỉ cổ tay (phục sải hẻn), vừa buộc vừa nói đại ý là tôi đến cầm/giữ lấy vía cho mạnh khỏe, khỏi ốm đau, không ốm đau trở lại nữa hoặc làm ăn khấm khá, phát đạt, trẻ em thi chỉ cần cầm lấy tay người đó; sau buộc vía cổ tay là “tỏm bẳn”(tóm khoắn) – cùng người được làm vía ăn, uống những món có trong mâm vía
- Buộc chỉ cổ tay của người Thái xuất phát từ quan niệm cổ tay là nơi trú ngụ của vía rất quan trọng; Thời điểm buộc: sau khi thầy cúng vía xong thì thầy cầm lấy mớ chỉ đã chuẩn bị buộc trước rồi chia cho mọi người Chỉ buộc là loại chỉ màu đen, nếu nhà có tang thì buộc chỉ trắng Nếu không có chỉ thì có thể thay bằng dây gai Chỉ buộc phải chuẩn bị từ trước, là thứ chỉ được bện lại từ nhiều sợi, để lên mâm vía từ khi mới bắt đầu cúng vía Thứ tự buộc: ông, bà cha mẹ buộc cho trước rồi mới đến bác, chú, cô, dì, anh em, con cháu số lượng chỉ buộc càng nhiều càng thể hiện sự quan tâm của gia đình, dòng họ Chỉ này không được tự tiện cắt bỏ, phải để đến khi nào tự đứt
2 Người Mường
2.1 Chọn ngày
Người Mường chọn ngày theo âm lịch Trong tháng thường chỉ có một số ngày tốt có thể tiến hành làm vía được Nếu không chọn được ngày đẹp tháng này thì phải đợi đến tháng tiếp theo mới có thể tổ chức làm vía
2.2 Chuẩn bị, sắm sửa cho lễ làm vía
Đêm trước khi tiến hành làm vía, người Mường tập trung gói bánh, đồ xôi, làm thịt gà (lợn) và cử người đi mời bà con họ hàng và mời thầy cúng (ấu mó)
2.3 Tiến hành
2.3.1 Đi đón Ấu Mó
Sắp đến giờ làm lễ, gia đình cử người đi đón thầy cúng Ngày nay, thầy cúng có thể tự đến theo lời giao hẹn với gia đình mà không phải đi đón nữa Khi thầy đến, đường đi lối lại phải thu dọn gọn gàng, sạch sẽ, không để thầy cúng phải chui qua gầm sàn, gác thang, chỗ phơi quần áo…
2.3.2 Cúng vía
- Việc cúng vía được tiến hành tại buồng ngủ chính của gia chủ
Trang 10- Nội dung: Mong vía ở đâu cũng phải trở về nhà an toàn, mạnh khỏe, con cháu lớn nhanh, cuộc sống luôn tràn đầy niềm vui, làm ăn phát đạt
- Thời gian: một ngày đi chọn ngày, xin ngày với thầy mo, thầy cúng Lễ làm vía chính thường hoàn tất trong một buổi, thường là buổi sáng
- Sau khi cúng xong xuôi, người Mường cũng tiến hành buộc chỉ vào cổ tay cho người được làm vía Chỉ dùng để buộc tay là chỉ đen, nếu nhà có tang thì dùng chỉ màu trắng Người Mường rất coi trọng việc buộc chỉ cổ tay, vì làm như vậy
sẽ luôn giữ cho vía được khỏe mạnh, không bị ma tà đến ám dẫn đến ốm đau Chỉ đã buộc vào tay thì không được tự ý cắt bỏ, phải để đến khi nó tự đứt để biểu thị việc làm vía có hiệu quả đối với mỗi người
IV Xử lí, phân tích dữ liệu
- Dữ liệu thu thập được khi đi thực địa sẽ được tập hợp thành các mục như đã nêu, tiến hành lập bảng so sánh, đối chiếu từng vấn đề; nhận xét những điểm giống nhau trong việc làm vía của hai dân tộc
Bảng so sánh về nguồn gốc, ý nghĩa của tục làm vía của người Thái và người Mường ở Thường Xuân và vùng lân cận
Nguồn gốc của
tục làm vía
Xuất phát từ quan niệm con người
có phần vía rất quan trọng; người
ta có thể bị mất, bị lạc vía, cần phải
an ủi hoặc làm lễ gọi vía về
Người Thái có đến 900 vía, người Mường có 12 vía
Ý nghĩa của
làm vía
Động viên, an ủi, chăm lo cho đời sống tinh thần con người Ở mỗi người, vía không tách rời thân xác
và người thân của mình
Không khác nhau
* Nhận xét, kết luận :
- Người Thái và người Mường đều có cùng quan điểm và cách nhìn nhận về nguồn gốc, ý nghĩa của tục làm vía Đó là tập tục của những cư dân nông nghiệp định cư ở vùng núi thấp, trong thung lũng ven các con sông, con suối
Bảng so sánh về hình thức làm vía của người Thái và người Mường ở Thường Xuân và vùng lân cận
Hình thức làm
vía
Có nhiều hình thức làm vía, làm cho mọi lứa tuổi, giới tính
- Người Thái làm vía theo từng lứa tuổi
- Người Mường làm vía theo mùa, theo tháng trong năm
- Nhận xét, kết luận:
- Ở mỗi lứa tuổi, mỗi thời điểm người Thái và người Mường đều có thể tổ chức làm vía cho ông bà, cha mẹ, anh chị em, cô, dì, chú, bác và con cháu trong gia đình, dòng tộc