1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý di tích lịch sử văn hóa tại địa bàn tỉnh ninh bình

187 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự phát triển về kinh tế và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công tác quản lý, bảo tồn giá trị di sản văn hóa, đặc biệt là trong lĩnh vực bảo tồn giá trị hệ thống di tíc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN QUỐC HÙNG

Hà Nội, 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo Phòng Sau đại học - Trường Đại học Văn hóa Hà Nội; đồng chí Trần Thị Thanh Nga – Trưởng phòng Di sản văn hóa, Ban Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch tỉnh Ninh Bình; gia đình, bạn bè đồng nghiệp trong ngành và Phòng Di sản văn hóa, những người đã động viên, giúp đỡ tôi trong việc lựa chọn và thực hiện để hoàn thành đề tài

Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS-TS Nguyễn Quốc Hùng - Cục phó Cục Di sản Văn hóa, người đã chỉ bảo và hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình lựa chọn, thực hiện đề tài Lòng nhiệt tình, kiến thức sâu rộng và sự tâm huyết với nghề nghiệp của Thầy đối với lĩnh vực Bảo tồn Di sản văn hóa sẽ được chúng tôi tiếp tục kế thừa và phát huy để xứng đáng là một cán bộ đang tham gia thực hiện công tác quản lý, bảo tồn di sản văn hóa tại tỉnh Ninh Bình

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!

Ninh Bình, tháng 5 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Quyên

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

MỞ ĐẦU 05

1 Tính cấp thiết của đề tài 05

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 06

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 07

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 08

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 09

6 Đóng góp của luận văn 09

7 Bố cục của luận văn 10

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH 11

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử-văn hóa 11

1.1.1 Khái niệm về di tích 11

1.1.2 Khái niệm về di tích lịch sử-văn hóa 12

1.1.3 Khái niệm về quản lý và quản lý di tích lịch sử-văn hóa 14

1.1.4 Cơ sở pháp lý cho công tác di tích lịch sử-văn hóa 17

1.2 Khái quát chung về tỉnh Ninh Bình 21

1.2.1 Vị trí địa lý, dân cư 21

1.2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội 24

1.2.3 Yếu tố lịch sử hình thành 27

1.2.4 Yếu tố văn hóa 28

1.2.5 Yếu tố truyền thống 29

1.3 Tổng quan về hệ thống di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn tỉnh 31

1.3.1 Những tiền đề cơ bản cho việc hình thành hệ thống di tích 31

1.3.2 Đặc điểm chung của các di tích trên địa bàn tỉnh 32

1.3.3 Thống kê số lượng, phân loại di tích 33

1.3.4 Hiện trạng và tình trạng kỹ thuật các di tích lịch sử-văn hóa của tỉnh .43

1.3.5 Giá trị của hệ thống di tích lịch sử-văn hóa 45

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY (2013) 50

2.1 Công tác của hệ thống quản lý các di tích lịch sử-văn hóa ở tỉnh Ninh Bình từ năm 2008 đến nay (2013) 50

2.1.1 Tổ chức bộ máy và cơ cấu nhân sự 50

2.1.2 Tình hình phân cấp quản lý 59

Trang 4

2.1.3 Việc triển khai hoạt động quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử-văn

hóa 61

2.1.4 Tổ chức hoạt động quản lý bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử- văn hóa 65

2.1.5 Công tác tu bổ, tôn tạo và phục hồi di tích 74

2.1.6 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ về quản lý di tích lịch sử-văn hóa 81

2.1.7 Thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm pháp luật về di tích lịch sử-văn hóa 83

2.1.8 Khen thưởng, kỷ luật các tổ chức, cá nhân trong công tác bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử-văn hóa 85

2.2 Đánh giá chung về công tác quản lý di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong thời gian qua 86

2.2.1 Những ưu điểm 86

2.2.2 Những hạn chế 89

2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế 93

2.2.4 Những vấn đề đặt ra cho hoạt động quản lý di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hiện nay 94

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH 97

3.1 Phương hướng 97

3.1.1 Phương hướng chung 97

3.1.2 Phương hướng cụ thể 98

3.2 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 99

3.2.1 Giải pháp về tổ chức bộ máy và chỉ đạo ban hành các văn bản pháp qui 100

3.2.2 Giải pháp về cơ chế chính sách quản lý 106

3.2.3 Giải pháp về chỉ đạo nghiệp vụ di sản văn hóa 109

3.2.4 Giải pháp về nguồn lực 125

3.3 Một số khuyến nghị 128

3.3.1 Khuyến nghị đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 128

3.3.2 Khuyến nghị với Tỉnh 129

KẾT LUẬN 132

TÀI LIỆU THAM KHẢO 134

PHỤ LỤC LUẬN VĂN 139

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

[9, t.2, tr.29] : Xem tài liệu tham khảo số 9, tập 2, trang 29

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Di tích là những trang sử sống mang dấu ấn về sự biến động, thăng trầm của nhiều thời kỳ lịch sử, đồng thời cũng chính là một bộ phận quan trọng cấu thành kho tàng di sản văn hóa của dân tộc Do đó, việc quản lý nhằm bảo vệ và phát huy

có hiệu quả giá trị của di tích trong cuộc sống đương đại, trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục truyền thống, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, trở thành yêu cầu cấp thiết hơn bao giờ hết ở mọi địa phương

Ninh Bình là một tỉnh nằm ở khu vực phía tây của cực nam đồng bằng Bắc

Bộ với địa hình vừa có đồng bằng, vùng đồi núi, sông, biển Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình tính đến tháng 12 năm 2013, Ninh Bình có 1499 di tích được phân bố đều khắp 146 xã, phường, thị trấn trong đó có

301 ngôi chùa, 229 đình, 381 đền, 98 miếu, 51 phủ, 236 nhà thờ họ, 149 nhà thờ Công giáo, 54 loại hình khác Toàn tỉnh có 304 di tích đã xếp hạng trong đó có 79 di tích xếp hạng cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt, 225 di tích xếp hạng cấp tỉnh Tất

cả các di tích được xếp hạng đã được Sở Tài nguyên Môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Các di tích được khoanh vùng bảo vệ và cắm mốc giới 100% các điểm thuộc chiến khu cách mạng Quỳnh Lưu đã được cắm mốc biển báo

di tích bằng chất liệu đá

Cùng với sự phát triển về kinh tế và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công tác quản lý, bảo tồn giá trị di sản văn hóa, đặc biệt là trong lĩnh vực bảo tồn giá trị hệ thống di tích lịch sử - văn hoá (DTLS-VH) đã luôn được các ngành, các cấp tỉnh Ninh Bình quan tâm thực hiện đạt được nhiều kết quả tốt Tuy nhiên,

do điều kiện thời gian và đứng trước nhu cầu đổi mới phát triển kinh tế hiện đại nên nhiều giá trị DTLS-VH của tỉnh đang có nguy cơ mai một Tình trạng xâm hại di tích, trùng tu di tích không đúng các quy định của Luật Di sản văn hóa (DSVH) làm biến dạng giá trị di tích, thất thoát cổ vật trong di tích đã xảy ra ở một số di tích

Trang 7

Trước những nguy cơ và thực trạng đó, vấn đề đặt ra là phải khẩn trương tiến hành công tác quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa đó trên địa bàn tỉnh

Là một cán bộ công tác trong ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch nhận thức được tầm quan trọng cũng như tính bức thiết của vấn đề nêu trên ở tỉnh Ninh Bình,

tôi đã chọn đề tài: “Quản lý di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn tỉnh Ninh Bình”

làm luận văn tốt nghiệp bậc Cao học chuyên ngành Quản lý Văn hóa Qua đó hy vọng được đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào công tác quản lý DTLS-VH của tỉnh trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nhìn từ góc độ nghiên cứu lịch sử-văn hóa, xin đề cập một số bài viết liên

quan đến đề tài: Sách Cố đô Hoa Lư- lịch sử và danh thắng, Nxb Thanh niên, 1998; Hoa Lư di tích và danh thắng, Nguyễn Thị Kim Cúc biên soạn, năm 2004; các tác phẩm của Nguyễn Văn Trò như: Danh thắng Ninh Bình (Sở Văn hóa Thông tin Ninh Bình, 1994), Cố đô Hoa Lư (Nxb Văn hóa dân tộc, năm 2004), di tích lịch sử- văn hóa về hai triều Đinh-Tiền Lê ở Ninh Bình (Nxb Văn hóa dân tộc, năm 2007); Chùa Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, 2007; Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê trong công cuộc dựng nước và giữ nước, Viện nghiên cứu tôn giáo, năm 2010; Nho Quan miền đất cổ, Lã Đăng Bật và Nguyễn Thị Kim Khánh, năm 2010; Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biên, Nguyễn Tử Mẫn, năm 2001; Di sản văn hóa tiêu biểu Ninh Bình, TS Lưu Minh Trí chủ biên, năm 2010; Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình, Trương Đình Tưởng biên soạn, năm 2004; Ninh Bình Di sản văn hóa và tiềm năng

Du lịch, chuyên đề phối hợp giữa Tạp chí Thế giới Di sản và Sở Văn hóa, Thể thao

và Du lịch Ninh Bình, năm 2008 …

Năm 2011, học viên Ngô Kim Tuyến, công tác tại Trường Đại học Văn hóa

Hà Nội đã nghiên cứu viết Luận văn bậc cao học chuyên ngành Quản lý văn hóavới

đề tài: “Đình Trùng Hạ-giá tri văn hóa nghệ thuật”. Năm 2012, học viên Nguyễn

Trang 8

Xuân Trường, công tác tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã nghiên cứu viết Luận

văn bậc cao học chuyên ngành Quản lý du lịch với đề tài: “ Nghiên cứu sự phát triển

du lịch của Ninh Bình” Năm 2012, học viên Nguyễn Cao Tấn, công tác tại Ban Quản

lý quần thể danh thắng Tràng An đã nghiên cứu viết Luận văn bậc cao học chuyên

ngành Khảo cổ học với đề tài: “Vật liệu kiến trúc thời Đinh-Tiền Lê ở khu trung tâm

di tích Cố đô Hoa Lư” Năm 2014, học viên Phạm Hồng Quyên, công tác tại Sở Văn

hóa, Thể thao và Du lịch đã nghiên cứu viết Luận văn bậc cao học chuyên ngành Du lịch với đề tài: “Khu du lịch sinh thái Vân Long gắn với phát triển du lịch”

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu, luận văn, bài viết nêu trên chủ yếu vào việc giới thiệu, khảo tả, bình luận, chú giải về di sản văn hóa, các di tích lịch sử-văn hóa tiêu biểu ở Ninh Bình mà chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về toàn bộ hệ thống đó, đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác quản lý DTLS-

VH trên địa bàn tỉnh Ninh Bình với tư cách là một công trình chuyên biệt

Trong quá trình triển khai đề tài: “Quản lý di tích lịch sử-văn hóa trên địa

bàn tỉnh Ninh Bình” tác giả luận văn đã cố gắng nghiên cứu kỹ, tiếp thu và kế thừa

những kết quả của các tác giả đi trước, vận dụng vào một số nội dung của công trình nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nhận thức đầy đủ và sâu sắc về vai trò của công tác quản lý Nhà nước đối với hệ thống DSVH nói chung và DTLS-VH nói riêng trong giai đoạn hiện nay, luận văn đã đi sâu khảo sát, phân tích, đánh giá những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý DTLS-VH trên địa bàn tỉnh Ninh Bình từ năm 2008 đến nay (2013), từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, bảo tồn các giá trị của DTLS-VH trên địa bàn tỉnh trong những năm tiếp theo

Trang 9

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề sau:

- Trình bày những cơ sở khoa học và pháp lý trong công tác quản lý DSVH nói chung và DTLS-VH nói riêng;

- Tìm hiểu về giá trị hệ thống DTLS-VH trên địa bàn tỉnh, trong đó sẽ tập trung nghiên cứu kỹ một số di tích, cụm di tích tiêu biểu của tỉnh;

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý DSVH nói chung

và DTLS-VH nói riêng;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa về chất lượng, hiệu quả

và vai trò trong công tác quản lý DTLS-VH trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Việc khai thác giá trị hệ thống DTLS-VH góp phần vào việc giáo dục truyền thống đối với cộng đồng cũng như gắn với việc phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của tỉnh, trong

đó đặt trọng tâm là gắn với việc phát triển du lịch, chú trọng về du lịch tâm linh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Luận văn đi sâu nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống DTLS-VH trên địa bàn tỉnh Ninh Bình;

- Nghiên cứu về Bộ máy và thực trạng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý

từ tỉnh tới cơ sở;

- Trong điều kiện cần thiết, tác giả luận văn đã mở rộng đối tượng nghiên cứu sang một số tỉnh khác để đối chiếu, so sánh trao đổi kinh nghiệm về công tác QLDT, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để vận dụng vào việc giải quyết đối với công tác quản lý DTLS-VH tỉnh Ninh Bình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

* Về không gian nghiên cứu

- Các DTLS-VH trên địa bàn tỉnh Ninh Bình;

Trang 10

- Trong điều kiện cần thiết, có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số tỉnh, thành khác để so sánh, đối chiếu, trao đổi kinh nghiệm làm rõ hơn nội dung cần nghiên cứu

* Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2008 đến nay (2013)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Mính, vận dụng các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các văn bản chỉ đạo hướng dẫn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình đối với công tác quản lý DTLS-VH Luật Di sản văn hóa được thông qua năm 2001 và được sửa đổi bổ sung năm 2009

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và Nhà nước chỉ đạo về DSVH

- Các phương pháp chủ yếu được tiến hành là: phương pháp điều tra thực tế, khảo sát điền dã; phương pháp thống kê phân loại; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, phương pháp phỏng vấn sâu Ngoài ra còn sử dụng phương pháp nghiên cứu đa/liên ngành về: Quản lý văn hóa, lịch sử, bảo tàng, giáo dục…

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn đưa ra một cái nhìn toàn diện về thực trạng công tác quản lý từ năm 2008 đến nay (2013) và những giá trị tiêu biểu của hệ thống DTLS-VH trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

- Đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý DTLS-VH trong những năm tiếp theo

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý DSVH và độc giả có nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu về quản lý DTLS-VH từ tỉnh đến cơ sở trên địa bàn tỉnh

Trang 11

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về quản lý di tích lịch sử-văn hóa và tổng quan về di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

Chương 3: Phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử-văn hóa

Trước khi đi vào thực trạng về công tác quản lý DTLS-VH trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, tác giả xin được trình bày một số vấn đề về lý luận chung liên quan đến DTLS-VH để làm công cụ hỗ trợ giải quyết các vấn đề có liên quan

1.1.1 Khái niệm về di tích

Di tích là một bộ phận của DSVH, là thành tố quan trọng của môi trường xã hội, góp phần vào việc giáo dục truyền thống cho cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ ngày nay, Di tích là thông điệp của quá khứ truyền lại cho các thế hệ mai sau, nó có chức năng giáo dục và sống cùng thời gian

Việc đưa ra khái niệm về di tích là rất ít nhưng thuật ngữ nói đến di tích thì

được nhiều tài liệu và sách đề cập đến như: Từ điển tiếng Việt đưa ra “Di tích là dấu vết xưa còn lại” [60, tr.292], hoặc “Di tích là cái của người xưa để lại”, tất cả

những thuật ngữ trên đều có nghĩa: "Di tích là dấu vết hoặc di vật của con người và những giai đoạn lịch sử đã qua còn hiện hữu đến tận ngày nay thì được gọi là di tích" [44, tr.246]

Từ điển Từ và ngữ Việt Nam giải thích, di có nghĩa là còn lại, tích có nghĩa

là dấu vết, hay nói cách khác di tích là dấu vết của thời quá khứ tương đối xa còn để

lại và có giá trị lịch sử Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói “Một nước không có di tích lịch sử thì mất đi ý nghĩa” Vì vậy, di tích có thể coi như nền tảng

để xây dựng nên truyền thống đạo đức uống nước nhớ nguồn, tôn sư trọng đạo và giáo dục truyền thống đối với cộng đồng dân cư trong đó có thế hệ trẻ ngày nay

Nói đến khái niệm về di tích không chỉ có các tài liệu, sách chuyên khảo bằng tiếng Việt mà các sách song ngữ, chẳng hạn như từ điển Việt – Anh cũng đề

Trang 13

cập đến: "Di tích được dịch là Vestiges hay Remains, có nghĩa là những cái còn lại sau khi các phần khác đã bị loại bỏ hay những tòa nhà cổ xưa còn lại khi những tòa nhà khác đã bị phá hủy" [63, tr.207] Di tích được hình thành trong quá trình sáng tạo của cộng đồng người hoặc cá nhân riêng lẻ trong lịch sử để lại, nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau với màu sắc phong phú về loại và loại hình, được cấu thành với nhiều bộ phận như môi trường, địa hình, địa mạo, cảnh quan thiên nhiên, công trình kiến trúc nghệ thuật…Tuy nhiên, tùy theo những đặc tính của mỗi loại, loại hình mà tạo nên sự khác biệt của di tích

Di tích dù được hiểu theo khía cạnh và góc độ nào, theo ngôn ngữ của quốc gia, dân tộc nào thì nó vẫn có ý nghĩa là những hiện vật của quá khứ còn lại và đang hiện hữu như một tất yếu của lịch sử Tại điều 29 của Nghị định số 92/2002/NĐ-CP đã nói rõ: "Tất cả các di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ học, danh lam thắng cảnh thì được gọi là di tích" [34, tr.57]

1.1.2 Khái niệm về di tích lịch sử-văn hóa

Di tích lịch sử-văn hóa là một thành tố quan trọng cấu thành DSVH Khái niệm DTLS-VH được đề cập ở nhiều ngôn ngữ khác nhau và hàm nghĩa của nó rất phong phú, đa dạng như:

Tiếng Anh là Vestige, tiếng Pháp cũng gọi là Vestige, tiếng Nga gọi là Pomiatnik, tiếng Trung Quốc gọi là Cổ tích Đối với các chuyên gia về tu sửa di tích, trong hiến chương Vinece-Italia năm 1964 quy ước DTLS-VH bao gồm những công trình xây dựng lẻ loi, những khu di tích ở đô thị hay ở nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến

Trang 14

Ở Nhật Bản, Luật số 214 ngày 01/7/1975 quy định về bảo vệ DSVH, các DTLS-VH được gọi chung là DSVH vật chất và DSVH phi vật chất, DSVH dân gian, các công trình kỷ niệm

Ở Việt Nam, vấn đề này được khẳng định trong Pháp lệnh số HĐNN7 ngày 04/4/1984 về “Bảo vệ và sử dụng DTLS-VH và danh lam thắng cảnh (DLTC)” thì DTLS-VH được quy định như sau: DTLS-VH là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị về văn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội [43]

14/LCT-Căn cứ vào các quan niệm cho thấy DTLS-VH là những địa điểm còn lưu giữ được những giá trị hoặc một bộ phận giá trị của lịch sử về khảo cổ học, về sự

ra đời của loài người, hoặc ghi dấu về sự kiện chính trị cách mạng đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc hoặc của địa phương Ngoài ra, DTLS-VH còn bao gồm những công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự nghiệp của anh hùng dân tộc, của danh nhân văn hóa, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến

sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử,

DTLS-VH còn là công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc

đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật [31, tr.46]

Ngày 22/7/2001, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký sắc lệnh số: 09/2001/L-CTN công bố Luật DSVH đã được kỳ họp thứ IX Quốc hội khóa X thông qua ngày 29/6/2001 Ngày 11/11/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số: 92/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH

Ngày 18/6/2009, tại kỳ họp thứ V, Quốc hội khóa XII thông qua Luật sửa đổi, bổ xung một số điều của Luật DSVH năm 2001 Theo nội dung của Luật DSVH và Nghị định của Chính phủ, DTLS-VH được hiểu như sau:

Chương 1: Những quy định chung của Luật DSVH, điều 4 điểm 3 nêu các

khái niệm, trong đó có khái niệm về DTLS-VH: “Di tích lịch sử-văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình,

Trang 15

địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [31, tr.33] Mỗi di tích được xếp

hạng là DTLS-VH phải đảm bảo các tiêu chí được quy định tại điều 29 của Luật DSVH [31, tr.46]

Thông qua những khái niệm được đưa ra cho thấy từ Pháp lệnh “Bảo vệ sử dụng DTLS-VH và DLTC” đến “Luật DSVH năm 2001 và 2009”, các văn bản dưới luật hướng dẫn ngày càng được bổ sung về nội dung chặt chẽ hơn trong câu từ nhằm phù hợp với sự phát triển của xã hội và thế giới, đáp ứng và hạn chế những tiêu cực, những vấn đề này sinh đối với lý luận và thực tiễn

Việc đưa ra những khái niệm về DTLS-VH và những lý giải, phân tích dựa trên cơ sở khoa học là tiền đề để tiếp tục xây dựng các văn bản qui phạm pháp luật quan trọng trong công tác quản lý DTLS-VH và thực hiện một cách hiệu quả đối với việc bảo tồn, khai thác và phát huy tác dụng tốt các DTLS-VH từ đó góp phần vào sự thúc đẩy về kinh tế-xã hội trong dòng chảy công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước và thế giới

1.1.3 Khái niệm về quản lý và quản lý di tích lịch sử-văn hóa

Con người sinh ra, lớn lên và tồn tại trong một cộng đồng cư dân nhất định, được sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật Con người muốn tồn tại và phát triển phải dựa vào sự nỗ lực của bản thân và tuân thủ theo quy định chung của cộng đồng, pháp luật, theo thể chế của tổ chức chính trị dù ở tầm vi mô hay vĩ mô, tầm quốc gia hay quốc tế, địa vực khác nhau đều phải tuân thủ những quy định chung và chịu sự quản lý về một lĩnh vực cụ thể nào đó trong điều kiện nhà nước cho phép

Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời từ nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia

và ở mọi thời đại "Quản lý" là một khái niệm khá rộng và mang tính bao trùm tất

cả mọi mặt của đời sống xã hội Về nội dung, thuật ngữ “Quản lý” có thể hiểu theo nhiều cách diễn đạt khác nhau Theo nghĩa thông thường trong từ điển tiếng Việt thuật ngữ “Quản lý” được hiểu là "trông nom, chịu trách nhiệm về công việc" [61, tr.953] Nếu hiểu theo âm Hán Việt thì “Quản” là lãnh đạo một việc, “Lý” là trông

Trang 16

nom, coi sóc Đối với các nước phương Tây dùng từ “Management” có nghĩa là quản lý, là bàn tay hoặc liên quan đến hoạt động của bàn tay, từ đó chuyển sang nghĩa là hành động theo một quan điểm tác động để dẫn dắt

Theo Các Mác: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động" [9, t.2, tr.29] Nhấn mạnh cho nội dung này ông viết:

Tất cả mọi hoạt động trực tiếp hay mọi cơ chung nào tiến hành trên quy

mô tương đối lớn thì ít nhiều đều cần sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động

cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng [10, t.23, tr.480]

F.Ăngghen cho rằng “Quản lý” là một động thái tất yếu phải có khi nhiều người cùng hoạt động chung với nhau khi có sự hợp tác của một số đông người, khi

có hoạt động phối hợp của nhiều người [10,t.23, tr.32]

Tóm lại, các quan niệm trên đây, đều có điểm chung thống nhất xác định

“Quản lý” là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định, phát triển, đạt được những mục tiêu đã định

Bản chất của quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động Quản lý là hoạt động khách quan nảy sinh khi cần nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Trình độ dân trí của con người trong xã hội càng cao đòi hỏi công tác quản lý càng lớn và vai trò của quản lý càng tăng lên Hoạt động quản lý bao gồm các yếu tố sau:

Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý, chủ thể luôn là con

người hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định

Trang 17

Đối tượng quản lý: Tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tùy từng

loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau

Khách thể quản lý: Chịu sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý,

đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội

Mục tiêu của quản lý: Là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định, do

chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Quản lý ra đời chính

là nhằm nâng cao hiệu quả, năng suất công việc

Ngày nay, việc dùng thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, đặc biệt ở các nước phát triển, nhưng chưa có định nghĩa nào thống nhất Tổng hợp các ý kiến chung từ nhiều định nghĩa có thể đưa ra “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đưa ra” [22, tr.15]

Do vậy, quản lý cần đảm bảo 2 yếu tố cơ bản là: Đối tượng thực hiện chức năng quản lý và đối tượng bị quản lý Chính vì thế, quản lý là một trong những khái niệm khá rộng, bao gồm nhiều ngành, nhiều lĩnh vực như: Kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, an ninh quốc phòng… Ở lĩnh vực nào cũng cần có chức năng này, nhằm định hướng cho các chương trình, kế hoạch hoạt động đi đúng hướng, đúng lộ trình và thời gian đề ra, từ đó mang lại hiệu quả cao hơn trong việc thực hiện mục đích đề ra

Quản lý văn hóa là một thuật ngữ mới, chính vì vậy mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nên chăng sử dụng thuật ngữ quản lý về lĩnh vực văn hóa, bởi lĩnh vực

về văn hóa là khá rộng Từ đó chữ “quản lý” có thể dùng ghép với bất kỳ một hoạt động nào cần có sự quản lý

Đối với lĩnh vực DSVH, trong đó DTLS-VH là đối tượng đặc biệt, quan trọng cần được gìn giữ, bảo quản và phát huy tác dụng Vì vậy, quản lý DTLS-VH

có thể được xem như là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý

Trang 18

DTLS-VH giúp DTLS-VH tồn tại một cách bền vững không chỉ về chiều rộng mà còn về chiều sâu, nhằm góp phần vào mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội

Quản lý DTLS-VH là một hoạt động nằm trong công tác quản lý DSVH Theo quan điểm khoa học phổ biến hiện nay, quản lý DSVH không chỉ đơn thuần là quản lý những giá trị vật thể và quan trọng hơn là người làm công tác quản lý phải

biết “đánh thức” những giá trị văn hóa phi vật thể để có tác động tích cực đến đời

sống cộng đồng

Quản lý DTLS-VH cũng chính là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các DTLS-VH, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực Các DTLS-VH cần được tôn trọng và bảo vệ, vì đây là tài sản vô giá, là tài nguyên kinh tế du lịch không bao giờ cạn kiệt nếu chúng ta biết khai thác một cách khoa học Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng có hiệu quả những di tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân

1.1.4 Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý di tích lịch sử-văn hóa

Dưới các triều đại phong kiến, ý thức gìn giữ, bảo quản, kiểm kê và tu bổ di tích

đã được cả chính quyền trung ương và toàn xã hội chú ý Trong các bộ sử ký, các sách địa chí đều có các ghi chép về di tích như: Đền, đình, chùa, quán, miếu, thành quách….và các nhân vật lịch sử Bộ Luật Hồng Đức ban hành dưới triều vua Lê Thánh Tông có điều khoản ghi việc trừng phạt những người lấy cắp, phá hủy tượng Phật và chuông đồng cổ Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, người Pháp đã tiến hành điều tra, nghiên cứu về các di tích kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ học trên đất nước ta nhưng việc ban hành các văn bản pháp lý để quản lý và điều hành các hoạt động có tính chất bảo vệ di tích thì hầu như chưa có

Ngay từ những ngày đầu giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65/SL ngày 23/11/1945, đây là một trong những văn bản pháp luật đầu tiên của Nhà nước Việt Nam về quản lý DSVH Sắc lệnh gồm 6 điều, trong đó nội dung chính

ấn định nhiệm vụ của Học viện Đông Phương Bác cổ, nhấn mạnh việc bảo tồn cổ tích

Trang 19

là việc làm cần thiết của nhà nước Việt Nam Sắc lệnh coi toàn bộ DTLS-VH là tài sản của nhân dân, nghiêm cấm việc phá hủy đình, chùa, đền, miếu và các di tích khác chưa được bảo tồn; cấm phá hủy bia ký, văn bằng có ích cho lịch sử; quy định nhà nước chi ngân sách cho việc bảo vệ, tu sửa di tích và công nhận các khoản trợ cấp cho Học viện Đông phương Bác cổ

Giai đoạn 1954 - 1975, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản lãnh, chỉ đạo về quản lý DSVH: Ban Bí thư TW Đảng ban hành Thông tư số 38-TT/TW ngày 28/6/1956 về việc bảo vệ DTLS-VH và DLTC Chính phủ, Hội đồng chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật gồm:

Nghị định số 519/NĐ-TTg ngày 29/10/1957 quy định về thể lệ bảo tồn cổ tích;

Thông tư số 954/TT-TTg ngày 03/7/1957 về việc bảo vệ di tích và DLTC; Thông tư

số 268/TT-TTg ngày 09/11/1960 về bảo vệ DSVH dân tộc; Thông tư số 81/CP ngày 29/4/1966 về việc bảo vệ DTLS, di tích nghệ thuật và hang động được sử dụng vào công tác sơ tán phòng không; Chỉ thị số 188/TTg ngày 24/10/1966 về việc bảo vệ

và phát huy tác dụng của DTLS trong thời gian chống Mỹ cứu nước; Chỉ thị số 59/TTg ngày 26/6/1969 về việc bảo tồn di tích chống Mỹ cứu nước Nội dung các văn bản đã yêu cầu các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức xã hội và toàn dân nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ DTLS, DLTC; đình chỉ ngay những hoạt động kinh

tế đang có nguy cơ phương hại đến các di tích; tiến hành phân loại và xây dựng kế hoạch tu bổ các di tích Đó là những chỉ đạo, định hướng có giá trị thiết thực trong việc bảo vệ, gìn giữ các DSVH trong suốt hai thập kỷ chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta; là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của công tác quản lý DSVH, đã phát huy tác dụng to lớn trong đời sống xã hội và trong bảo tồn, gìn giữ, phát huy giá trị DSVH Việt Nam

Từ khi đất nước thống nhất (năm 1975), Đảng và Nhà nước ta tiếp tục quản

lý DSVH và DLTC Ngày 04/4/1984, Pháp lệnh số 14/LCT/HĐNN7 của Hội đồng Nhà nước về việc bảo vệ và sử dụng DTLS-VH và DLTC ra đời có ý nghĩa to lớn,

là bước tiến về mặt pháp lý với mục đích làm cho công tác quản lý DSVH dân tộc hoàn thiện hơn Pháp lệnh quy định Nhà nước thống nhất quản lý các DSVH và

Trang 20

quy định rõ chức năng của các cơ quan trong việc quản lý DTLS-VH và DLTC, đồng thời khẳng định: “DSVH và DLTC là tài sản vô giá trong kho tàng di sản lâu đời của dân tộc Việt Nam Bảo vệ và sử dụng có hiệu quả DTLS-VH và DLTC trong việc giáo dục truyền thống dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam, góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, yêu CNXH và lòng tự hào dân tộc, nâng cao kiến thức, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu về thẩm

mỹ và văn hoá của nhân dân, xây dựng nền văn hoá mới và con người mới XHCN, làm giàu đẹp kho tàng DSVH dân tộc và góp phần làm phong phú văn hoá thế giới” [43, tr.1]

Thực hiện Pháp lệnh số 14/LCT/HĐNN7, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 288/HĐBT ngày 31/12/1985 quy định về việc thi hành Pháp lệnh bảo

vệ và sử dụng DTLS-VH và DLTC; Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin ban hành Thông tư số 206/VHTT ngày 22/7/1986 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng DTLS-VH và DLTC

Nghị quyết TW 5 (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc chỉ rõ: “DSVH là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của các dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá hết sức quan trọng”; Nhà nước phải đề ra những chính sách cụ thể đối với DSVH “Chính sách bảo tồn, phát huy DSVH dân tộc hướng cả vào văn hoá vật thể và phi vật thể ”[62, tr.12]

Chiến lược phát triển KTXH 2001 - 2010 được thông qua tại Đại hội IX của Đảng, đã chỉ rõ quan điểm: "Chú trọng gìn giữ, phát triển các DSVH phi vật thể, tôn tạo và quản lý tốt các DSVH vật thể, các DTLS " Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục xác định chủ trương: “Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các DTLS, các

DSVH vật thể và phi vật thể của dân tộc ”

Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (khóa X), kỳ họp thứ 9 ngày 29/6/2001 đã thông qua Luật DSVH, đây là lần đầu tiên nước ta có một văn bản luật cao nhất tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý DTLS-VH; đã cụ thể hóa đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước ta, điều chỉnh những vấn đề

Trang 21

mới và hoàn thiện nâng cao những vấn đề đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật trước đây cho phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế; tạo động lực giúp cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy DSVH dân tộc có những bước phát triển mới Nội dung quản lý nhà nước về DSVH đã được quy định rõ: "Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về DSVH; Bộ VHTT chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về DSVH; các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về DTLS-VH theo sự phân công của Chính phủ; UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý DTLS-VH ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ"

Để thực thi Luật DSVH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các văn bản pháp lý trong lĩnh vực quản lý DSVH: Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH; Chỉ thị số 05/2002/CT-TTg ngày 18/02/2002 về việc tăng cường các biện pháp quản lý, bảo

vệ cổ vật trong di tích và ngăn chặn, đào bới, trục vớt trái phép di chỉ khảo cổ học; Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 về việc Quy định thẩm quyền, trình

tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi DTLSVH, DLTC Bộ trưởng Bộ VHTT ban hành: Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001 phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị DTLS-VH và DLTC đến năm 2020; Quyết định số 05/2003/QĐ-BVHTT ngày 06/02/2003 về việc ban hành quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi DTLS-VH và DLTC; Chỉ thị số 73/CT-BVHTT&DL ngày 19/5/2009 về việc tăng cường công tác quản

lý di tích và các hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích; Chỉ thị số BVHTT&DL ngày 03/02/2010 về việc tăng cường công tác chỉ đạo quản

16/CT-lý hoạt động văn hóa, tín ngưỡng tại di tích

Công tác quản lý là vô cùng rộng lớn, bao trùm ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, trong đó có quản lý DSVH DTLS-VH là một dạng vật thể của DSVH, quản lý DSVH không chỉ đơn thuần là quản lý cái hiện có, điều quan trọng và đáng quan tâm chính là vai trò của việc quản lý làm sống lại các giá trị văn hóa phi vật thể

Trang 22

đang tồn tại thông qua yếu tố vật thể, nhằm góp phần vào việc tuyên truyền, quảng

bá, giới thiệu hình ảnh và giáo dục truyền thống cho các thế hệ người Việt Nam

DSVH có tầm quan trọng và được khẳng định trong Nghị quyết Trung ương

V khóa VIII, nhưng vấn đề đặt ra là quản lý ra sao? Quản lý như thế nào? Đang là vấn đề được nhiều hội nghị và trên các phương tiện thông tin đại chúng đề cập tới Việc quản lý nhà nước về DSVH được quy định cụ thể tại chương V của Luật DSVH:

Chương V: Quản lý nhà nước về DSVH, gồm 15 điều, từ điều 54 đến điều

64, được chia thành 4 mục:

Mục 1: Nội dung quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về DSVH

gồm 34 điều, từ điều 54 đến điều 56, trong đó điều 54 quy định 8 nội dung cụ thể quản lý nhà nước về DSVH [31, tr.65-tr.67]

Mục 2: Nguồn lực cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH

gồm 6 điều từ điều 57 đến điều 62 [31, tr.67-tr.68]

Mục 3: Hợp tác quốc tế về DSVH gồm 3 điều từ điều 63 đến điều 65 [31,

tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia, vùng miền

1.2 Khái quát chung về tỉnh Ninh Bình

1.2.1 Vị trí địa lý, dân cư

- Vị trí địa lý: Tỉnh Ninh Bình nằm phía tây của cực nam đồng bằng Bắc Bộ,

phía bắc giáp huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam, với chiều dài là 12,7km; phía tây

Trang 23

bắc giáp huyện Lạc Thủy và huyện Yên Thủy tỉnh Hòa Bình, với chiều dài 77,4km; phía nam là vịnh Bắc Bộ với chiều dài 20,5km; phía đông và phía đông bắc giáp huyện Ý Yên và huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định, có sông Đáy làm ranh giới với chiều dài 78,9km; phía tây và tây nam giáp huyện Thạch Thành, huyện Hà Trung, huyện Nga Sơn và thị xã Bỉm Sơn của tỉnh Thanh Hóa với chiều dài là 84,4km

Theo cách tính tọa độ, tỉnh Ninh Bình nằm trên tọa độ sau:

+ Vĩ độ bắc: Từ 19047' (cửa sông Đáy xã Kim Đông, huyện Kim Sơn) đến

20028' (xóm Lạc Hồng, xã Xích Thổ, huyện Nho Quan)

+ Kinh độ Đông: Từ 105032' (núi Điện, xã Cúc Phương, huyện Nho Quan) đến 105053'20" (Bến đò Mười, xã Xuân Thiện, huyện Kim Sơn)

Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Ninh Bình là 1.389,1km2 Nếu so sánh với các tỉnh, thành trong cả nước ta thấy: Ninh Binh là tỉnh có diện tích tự nhiên nhỏ

Ninh Bình lại nằm ở vị trí trung chuyển giữa miền Bắc và miền Trung, là

"cổ" là "họng" của Bắc Kỳ Ninh Bình có con đường Thiên Lý Bắc - Nam chạy xuyên suốt (nay là Quốc lộ 1A) Ninh Bình cũng là địa điểm đầu mút của tuyến đường huyền thoại Hồ Chí Minh Ninh Bình cũng có tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua Ninh Bình chỉ cách Thủ đô Hà Nội - trung tâm văn hóa - kinh tế - chính trị của cả nước không xa, 93km Đây là thuận lợi rất lớn trong việc phát triển kinh tế

- văn hóa - xã hội của Ninh Bình

- Vị trí quốc phòng: Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, vùng

đất Ninh Bình luôn giữ một vị trí chiến lược quan trọng Nhà Trần đã dựa vào vùng đất Ninh Bình làm căn cứ kháng chiến chống quân xâm lươc Nguyên Mông Nhà Mạc đã lấy núi Tam Điệp làm địa giới chống nhau với quân nhà Lê,

từ Trường An trở ra gọi là Đông Việt, còn từ Trường An trở vào gọi là Tây Việt Trong cuộc chiến với quân Thanh, Tam Điệp đã được dùng làm phòng tuyến chặn địch lấn sâu xuống, chờ viện binh của Quang Trung kéo ra Ngoài biển là cửa Thần Phù, căn cứ hải quân của quan quân đất Việt Trong kháng chiến chống

Trang 24

thực dân Pháp, Ninh Bình cũng có một vị trí đặc biệt trong tuyến phòng thủ của quân dân Liên khu III trong Chiến khu II, đây là vị trí cửa ngõ từ các căn cứ của

ta xuống đồng bằng Trong thế trận quốc phòng toàn dân hiện nay, Ninh Bình là một mắt xích quan trọng bảo vệ đồng bằng sông Hồng và là giao điểm của hai Quân khu III và IV

- Dân cư: Theo thống kê năm 2010, dân số Ninh Bình là 900.620 người,

chiếm trên 5% dân số của vùng Đồng bằng sông Hồng Mật độ dân số 648 người/km2, thấp hơn mật độ trung bình của vùng (1.241 người/km2) Độ tuổi trung bình của dân số tỉnh tương đương với độ tuổi trung bình của cả nước và đang nằm

trong "thời kỳ dân số vàng"

Tỷ lệ nam/nữ của tỉnh đạt 49%/50%, dân số dưới 25 tuổi chiếm tỷ lệ cao Phân

bố dân cư theo lãnh thổ không đồng đều, có sự chênh lệch về mật độ dân cư giữa các huyện, thị xã, thành phố (thành phố Ninh Bình có mật độ trên 2.371 người/1

km2 trong khi Nho Quan chỉ có 312 người/1 km2)

Theo điều tra dân số, người dân tộc Kinh chiếm trên 98% tổng dân số, tiếp theo là người dân tộc Mường chiếm 1,7% và số ít còn lại là các dân tộc khác; tỷ lệ người theo đạo Thiên chúa giáo khá cao tới 15% tổng dân số, tập trung chủ yếu ở huyện Kim Sơn

Nguồn nhân lực của Ninh Bình phát triển khá về cả số lượng cùng chất lượng

và đang ở thời kỳ đầu khá thuận lợi cho tăng trưởng nhanh và phát triển kinh tế - xã hội bền vững Hiện tại, tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 514,4 nghìn người (năm 2010), trong đó lao động công nghiệp là 92.700 người và lao động đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ tới trên 30%

Như vậy, tỷ lệ lao động nông nghiệp năm 2010 khoảng 48,54% so với tổng số lao động Tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực công nghiệp, xây dựng 31,40%; dịch vụ 20,06% Tỷ lệ lao động thất nghiệp đô thị trong thời gian qua khá thấp (3,7%) Trong 10 năm đã giải quyết việc làm trên 171.000 lượt người với mức bình quân mỗi năm giải quyết khoảng 17.000 chỗ làm việc [57, tr 35-tr.37]

Trang 25

Tuy nhiên, lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ tương đối cao, năng suất lao động thấp và lao động nông nhàn chiếm khá lớn (khoảng 25%) trong năm Nhìn chung nguồn lao động của tỉnh tương đối dồi dào, là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội; tuy nhiên, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao chưa nhiều, do vậy trong tương lai cần có hướng đào tạo nghề cho người lao động, mới

có thể đáp ứng được nhu cầu lao động trong điều kiện khoa học - kỹ thuật ngày càng phát triển

1.2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

- Điều kiện tự nhiên:

+ Địa hình: Địa hình Ninh Bình khá đa dạng và phức tạp; có vùng đồi núi (chiếm 24,7% diện tích tự nhiên), vùng đồng bằng (chiếm 71,1% diện tích tự nhiên), vùng ven biển (chiếm 4,2% diện tích tự nhiên) mang đầy đủ sắc thái địa hình Việt Nam thu nhỏ

Với kiến tạo hàng triệu năm của tự nhiên, Ninh Bình có những dãy núi hùng

vỹ, với nhiều dáng vẻ phong phú mà bên trong lại tiềm ẩn nhiều hang động kỳ tú với những thạch nhũ muôn hình muôn vẻ Những hang động với những sắc thái, dáng vẻ khác nhau và các hình khối thạch nhũ đa dạng phong phú tạo nên sắc thái riêng của miền quê Ninh Bình khác với những miền quê khác trong vùng Cũng tiềm ẩn trong những sơn phận, những hang động kỳ tú ấy, bàn tay khéo léo của tiền nhân xây dựng nhiều di chỉ, nhiều di tích kết hợp một cách hài hoà giữa bàn tay thiên tạo và ý chí, tâm hồn, bản lĩnh người Việt

+ Khí hậu: Khí hậu Ninh Bình mang những đặc điểm của tiểu khí hậu đồng bằng sông Hồng (khí hậu nhiệt đới ẩm), có mùa đông lạnh ít mưa, mùa hè nắng nóng mưa nhiều Ngoài ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc, Đông Nam còn chịu ảnh hưởng của khí hậu ven biển, khí hậu rừng núi và nửa rừng núi Lượng mưa trung bình năm 1.800-1.900mm

+ Giao thông: Nằm cách thủ đô Hà Nội 93km trên tuyến đường giao thông quan trọng vào bậc nhất ở nước ta, Quốc lộ 1A chạy qua địa phận Ninh Bình dài 34

Trang 26

km, đường sắt Bắc - Nam qua Ninh Bình dài 19,6 km có 04 nhà ga Quốc lộ 10 nối Ninh Bình với các tỉnh đồng bằng sông Hồng, đặc biệt là vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Đường 12 đi Hoà Bình nối với Quốc lộ 6 là cửa ngõ giao lưu với vùng Tây Bắc

Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có hệ thống giao thông đường thuỷ qua các sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Vân, sông Vạc, sông Lạng,… với tổng chiều dài khoảng 496 km, phân bố rộng khắp trong tỉnh, mật độ sông suối là 0,5 km/km2, các sông thường chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam để đổ ra biển tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giao lưu kinh tế, văn hoá với các tỉnh trong vùng và cả nước

+ Tài nguyên: Tài nguyên đất của Ninh Bình có độ phì trung bình với 3 loại địa hình là ven biển, đồng bằng và đồi núi; Đây là một thế mạnh của tỉnh để phát triển Nông, Lâm, Ngư nghiệp theo hướng đa dạng hoá, chuyên môn hoá Vùng đồi

gò còn có nhiều tiềm năng để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển công nghiệp nhất là công nghiệp vật liệu xây dựng Tuy nhiên, cũng còn một diện tích đáng kể đất dốc, tầng đất mỏng bị thoái hoá, đất bị nhiễm mặn, nhiễm phèn chưa được khai thác sử dụng hoặc hiệu quả sử dụng thấp cần được quan tâm đầu tư, cải tạo để đưa vào sử dụng

Nguồn nước của Ninh Bình khá dồi dào, thuận lợi cho việc cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và giao thông vận chuyển hàng hoá Ninh Bình có hệ thống sông, suối ở mức trung bình, với tổng chiều dài trên 496 km, diện tích 3.401 ha; ngoài ra còn có 21 hồ chứa nước, diện tích 1.447 ha, dung tích 14,5 triệu m3nước, với năng lực tưới 4.438 ha Với nguồn nước dồi dào và đa dạng, nếu xây dựng được hệ thống cấp nước, tưới tiêu hoàn chỉnh thì sẽ đảm bảo cung cấp nước cho phát triển công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân

Do quá trình khai thác lâu dài, rừng ở Ninh Bình đã bị tàn phá, ngoài Vườn quốc gia Cúc Phương, rừng tự nhiên ở Ninh Bình không còn nhiều và nguyên vẹn Tuy nhiên so với các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, Ninh Bình vẫn là tỉnh có diện tích rừng lớn nhất 27.543 ha, chiếm 34% diện tích rừng của vùng và chiếm 19,8% diện tích tự nhiên toàn tỉnh

Trang 27

Bờ biển Ninh Bình dài 20,5 km, với hơn 5.000 ha bãi bồi, hàng chục ngàn ha lãnh hải; cửa Đáy có độ sâu khá, đảm bảo tàu thuyền lớn, trọng tải hàng ngàn tấn ra vào để khai thác ngoài khơi và dịch vụ hậu cần nghề cá Ninh Bình có tiềm năng nuôi trồng, khai thác, đánh bắt nguồn lợi hải sản với sản lượng từ 2.000 đến 2.500 tấn/năm

Đá vôi là nguồn khoáng sản lớn nhất của tỉnh và đây cũng là thế mạnh của tỉnh, với dãy núi đá vôi khá lớn chạy dài từ Hoà Bình qua Nho Quan, Gia Viễn, Hoa

Lư, Tam Điệp, Yên Mô chạy ra biển, kéo dài hàng chục km trên diện tích 12.000

ha, với trữ lượng hàng chục tỷ mét khối đá vôi với chất lượng cao để sản xuất xi măng Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có các loại khoáng sản khác như: Đôlômit với tổng trữ lượng gần 2,5 tỷ tấn, phân bố tập trung ở các khu vực như huyện Nho Quan, huyện Yên Mô, thị xã Tam Điệp, chất lượng tốt, có hàm lượng MgO đạt 19,26-21,44%, có thể khai thác, chế biến quy mô công nghiệp để cung cấp nguyên liệu, chất phụ gia cho các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, sản xuất và phân phối điện, cung cấp nước sạch và xử lý môi trường; nước khoáng Ninh Bình có chất lượng khá tốt, có thể khai thác cho sinh hoạt trong vùng, du lịch, chế phẩm nước giải khát và chữa bệnh như nước suối Kênh Gà, nước khoáng Cúc Phương; than bùn trữ lượng nhỏ khoảng 2 triệu tấn, có thể sử dụng để sản xuất phân

vi sinh phục vụ phát triển nông nghiệp

- Kinh tế-xã hội: Giai đoạn 2001-2005, tăng trưởng kinh tế đạt

11,9%/năm, gấp gần 1,3 lần giai đoạn 1996-2000, cao hơn mức bình quân chung

cả nước (7,5%) và có bước cải thiện rõ rệt về chất lượng tăng trưởng Giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 16,5% Tăng trưởng bình quân của giá trị sản xuất các ngành đạt cao: Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đạt 4,3%; công nghiệp-xây dựng đạt 24,1% và dịch vụ đạt 19,5%

Bình quân GDP/người năm 2005 gấp 2,1 lần năm 2000, đạt 5,6 triệu đồng, nhưng chỉ bằng 53% so với mức chung của cả nước và bằng 54,2% của vùng Đồng bằng sông Hồng Giai đoạn 2006-2010, GDP/người tăng mạnh do quy mô nền kinh

Trang 28

tế tăng nhanh và thực hiện tốt chủ trương phát triển dân số hợp lý, đến năm 2010 đạt trên 20,6 triệu đồng, gấp 3,7 lần so với năm 2005, bằng 92% bình quân vùng Đồng bằng sông Hồng và bằng 94% bình quân chung cả nước

Cơ cấu kinh tế của Ninh Bình chuyển dịch theo hướng giảm nhanh tỷ trọng nông nghiệp (năm 2000 là 43,6% đến năm 2010 còn 16,5%) và tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng (năm 2000 có 26,18% đến năm 2010 đạt 47,69%), dịch vụ tăng từ 30,2% năm 2000 lên 35,8% vào năm 2010) [57, tr.97-tr.119]

Như vậy, trong các năm qua nền kinh tế của tỉnh có bước tăng trưởng khá nhưng vẫn còn rất thấp so sới mặt bằng chung của cả nước Cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, kết cấu hạ tầng kém, nền sản xuất chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp; Công nghiệp chưa phát triển, thương mại - dịch vụ có tăng nhưng chưa chắc chắn và bền vững

1.2.3 Yếu tố lịch sử hình thành

Lịch sử hình thành vùng đất: Từ các kết quả nghiên cứu địa chất và khảo cổ,

có thể khẳng định Ninh Bình đã có con người sinh sống từ rất sớm và tiến dần từ vùng rừng núi ra vùng đồng bằng, ven biển Điều đó cho thấy sự hình thành và phát triển đa dạng của vùng đất Ninh Bình, vừa có vùng đất cổ, vừa có vùng đất mới Cùng với sự xuất hiện của các tộc người, qua quá trình đấu tranh sinh tồn, các dân tộc được hình thành Đến nay, ở Ninh Bình có hai dân tộc chiếm đa số là dân tộc Kinh và Mường Giữa các vùng đất, các dân tộc đều có sự sáng tạo, kế thừa, giao thoa văn hóa, tạo nên sự phong phú cho nền văn hóa tỉnh nhà

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, Ninh Bình với vị trí là “cổ họng” Bắc Nam, có ý nghĩa chiến lược, thiên nhiên hiểm trở, tiến lui đều thuận lợi, vì vậy, trong thời kỳ phong kiến, Ninh Bình là nơi đóng quân hoặc dừng chân của nhiều đạo quân Đến nay vẫn còn lưu truyền nhiều truyền thuyết về cửa biển Thần Phù, cảng Ngọc Thỏ, phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn…

Lịch sử hình thành và phát triển các tôn giáo, tín ngưỡng có ảnh hưởng đến việc thờ cúng, các nghi lễ dân gian của nhân dân Đạo Phật du nhập vào Việt

Trang 29

Nam nói chung, Ninh Bình nói riêng từ khoảng hơn 2000 năm trước và nhanh chóng được người dân đón nhận Đã nhiều thời kỳ, đạo Phật được coi trọng, phổ biến rộng rãi, đặc biệt, thời Đinh, Lê, Lý nó có ý nghĩa như quốc giáo Đạo Phật

từ khi du nhập không bị mất đi, vì vậy chùa được xây dựng nhiều Theo số liệu thống kê năm 2012, toàn tỉnh Ninh Bình có 301 ngôi chùa, chưa kể đến những ngôi chùa nay chỉ còn dấu vết, chưa được phục dựng

Đạo giáo khi du nhập vào Việt Nam, khoảng cuối thế kỷ thứ 2, đã hòa quyện với văn hóa tín ngưỡng dân gian nên được nhân dân đón nhận rất nhanh Lý do Đạo giáo được nhân dân đón nhận là khi hòa quyện với văn hóa bản địa, Đạo giáo đề cao

và thờ những vị thánh được nhân dân sùng bái như Tản Viên, Mẫu Liễu Hạnh, Đức Thánh Trần Ngày nay, tuy Đạo giáo không còn tồn tại nhưng những ảnh hưởng của

nó đến đời sống văn hóa, xã hội vẫn còn lưu truyền

Nho giáo trong thời kỳ phong kiến cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa, xã hội của nhân dân Việc các xã, các huyện có văn từ, văn chỉ thờ Khổng

Tử và tôn thờ việc học cũng là do ảnh hưởng của Nho giáo Đến nay, những ảnh hưởng đó vẫn được lưu truyền trong nhân dân

Đạo Thiên chúa du nhập vào Ninh Bình muộn hơn, nhưng cũng được người dân ủng hộ và tin theo Ở huyện Kim Sơn, mật độ dân số Công giáo được đánh giá

là cao nhất trong cả nước (khoảng 44% dân số của huyện), vì vậy, nhiều nhà thờ được xây dựng, có những nhà thờ kiến trúc gỗ cổ kính, có giá trị cao về mặt nghệ thuật Ở góc độ nào đó, đây là những di tích quý, cần được kiểm kê, bảo vệ

Sự hình thành và phát triển của các tín ngưỡng dân gian cũng là yếu tố góp phần làm phong phú các loại hình di tích và nghi thức thờ cúng Tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ thành hoàng, thờ thổ địa, thờ cúng tổ tiên… đều gắn với các di tích nhất định

1.2.4 Yếu tố văn hóa

Ninh Bình là tỉnh có nhiều địa hình khác nhau, hình thành nên những vùng miền văn hóa đa dạng: vùng rừng núi, vùng đồng bằng, vùng ven sông, ven biển… Mỗi vùng miền thường thờ các nhân vật liên quan Vùng đồi núi như huyện Nho

Trang 30

Quan, Gia Viễn, Hoa Lư thường thờ các vị thần núi như Tản Viên Sơn Thánh, Cao Sơn Đại Vương, Quý Minh Đại Vương, Sơn Tinh công chúa, mẫu Thượng Ngàn Vùng ven sông, ven biển thường thờ các vị thần sông nước như Đông Hải Đại Vương, Lực Lộ Đại Vương, Thánh Tứ Dương Hầu Phạm Tử Nghi, Hải Tề Long Vương Vùng đất cổ như Nho Quan, Gia Viễn, Mô Độ (nay thuộc Yên Mô) thường thờ các nhân vật lịch sử được thần thánh hóa thời vua Hùng, thời Hai Bà Trưng, thời Đinh, Lê, Lý, Trần, họ được tôn thờ ở rất nhiều nơi trong cả nước Vùng đất mới như Kim Sơn, Yên Khánh, một số xã của Yên Mô thường thờ các vị chiêu mộ

có công lập làng, họ là những con người bình thường, có công lao với dân, với dòng

họ, được một vùng cụ thể thờ cúng, tưởng niệm

Quê hương hoặc vùng có dấu ấn của các nhân vật lịch sử thường có nhiều di tích thờ họ Điển hình như vua Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh) sinh ra ở làng Đại Hữu (nay thuộc xã Gia Phương, huyện Gia Viễn), thuở ấu thơ và buổi đầu dựng căn

cứ ở vùng động Hoa Lư (nay thuộc xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn), khi lên ngôi Hoàng đế, ông đóng đô ở Hoa Lư, vì vậy, các nơi này đều có nhiều di tích thờ ông Các nhân vật tiêu biểu của tỉnh Ninh Bình như Đinh Điền, Nguyễn Bặc, được thờ nhiều ở những nơi liên quan như quê hương, nơi các ông hoạt động, xây dựng căn cứ, nơi tử trận… Quốc sư Nguyễn Minh Không cũng được thờ ở nhiều nơi vùng Gia Viễn, Nho Quan, nơi quê hương và nơi ông lập chùa tu hành, làm thuốc chữa bệnh

Ninh Bình cũng nằm trên dòng chảy của tín ngưỡng thờ Mẫu (một tín ngưỡng bản địa của dân tộc), từ đền Sòng, phố Cát (Thanh Hóa) về đền Dâu, Quán Cháo (Tam Điệp), qua phủ Đồi Ngang (Nho Quan), qua núi Bái Đính (Gia Viễn), rồi về núi Gôi (Nam Định) - nơi gắn liền với nhân vật mẫu Liễu Hạnh ba lần sinh,

ba lần hóa Xung quanh trục tín ngưỡng này có rất nhiều đền, phủ thờ Mẫu Liễu

1.2.5 Yếu tố truyền thống

Vùng đất, dòng họ có truyền thống khoa bảng, sản sinh ra các danh nhân có công với dân, với nước Khi làm quan, họ quan tâm phát triển đời sống văn hóa cho nhân dân trong vùng Tiêu biểu như dòng họ Nguyễn Tử, làng Thư Điền, xã Ninh

Trang 31

Nhất Đây là dòng họ có truyền thống khoa bảng, một số nhân vật tiêu biểu như Nguyễn Tử Dự, Nguyễn Tử Mẫn, Nguyễn Tử Tương… Theo thống kê năm 2011, dòng họ Nguyễn Tử có 10 nhà thờ có niên đại từ hơn 100 năm tuổi, đến nay vẫn được các thế hệ con cháu giữ gìn tốt

Vùng đất Yên Khánh, Yên Mô cũng là nơi có nhiều nhà khoa bảng, làm quan thời phong kiến Đóng góp công lao cho dân cho nước và đặc biệt họ quan tâm đến đời sống văn hóa của nhân dân quê hương Họ cho xây đình, đền, xây nhà thờ họ hoặc tu sửa các di tích đã có để nhân dân và con cháu trong dòng họ có nơi thờ cúng Ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa của các nhân vật đó được nhân dân và các thế

hệ sau tự hào và học tập, khẳng định thêm truyền thống yêu nước của dân tộc ta Cũng ở những vùng đất có nhiều người đỗ đạt, từ huyện đến xã đều dựng văn từ, văn chỉ lưu danh Hiện nay, loại hình văn từ, văn chỉ đang được nhiều địa phương quan tâm phục dựng

Tập tục di dân, di thần: Khi người dân đến sinh sống ở vùng đất mới, họ

“mang” theo vị thần linh quê nhà, với mong muốn vị thần linh đó “tiếp tục” phù trì cho họ nơi đất mới Điều này thể hiện rõ ở vùng đất Kim Sơn Có thể kể đến như chiêu mộ Nguyễn Thọ Vực, quê gốc ở thôn Hàm Thủy, xã Cống Thủy (nay là xóm Đồi, xã Khánh Hội, huyện Yên Khánh), khi đến vùng đất mới ở Kim Sơn chiêu dân lập nên ấp Quyết Bình, tổng Chất Thành (nay thuộc xã Chất Bình, huyện Kim Sơn), ông đã lập đền thờ ngài Linh Ngự Đại Vương tôn là thành hoàng làng Hiện nay ở hai nơi này đều có di tích thờ ngài Linh Ngự Đại Vương Xã Kim Định, huyện Kim Sơn, do cụ Phạm Đăng Hanh (quê ở Phúc Nhạc, huyện Yên Khánh) cùng các chiêu

mộ khác khai hoang lập nên vào năm 1829 Khi lập ấp Tức Hiêu (nay là xã Tức Hiêu) nhân dân trong ấp đã xây dựng đình và rước chân nhang thờ Tề Hải Long Vương tại đền thôn Đỗ (xã Khánh Nhạc - quê cụ Phạm Đăng Hanh) về thờ tại đình với vai trò vị thành hoàng làng

Trang 32

1.3 Tổng quan về hệ thống di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn tỉnh

1.3.1 Những tiền đề cơ bản cho việc hình thành hệ thống di tích

Ninh Bình có nhiều điều kiện về tự nhiên, con người, môi trường xã hội nên đã tạo ra những tiền đề cơ bản cho việc hình thành hệ thống di tích ở Ninh Bình như sau:

- Là vùng đất có mặt sớm trong tiến trình lịch sử dân tộc: Thời Tiền sử trên mảnh đất Ninh Bình đã có dấu vết của con người sinh sống với minh chứng là đã tìm thấy răng của người Homo Erectus cách đây khoảng 30.000 năm ở Thung Lang (Nam Sơn-Tam Điệp; phát hiện nhiều di cốt của làng người cổ cách ngày nay khoảng 3.000 đến 4.000 năm ở Mán Bạc (Yên Thành-Yên Mô); sự phát hiện nhóm

di vật trong Quần thể Danh thắng Tràng An (Ninh Bình), tại đây đã tìm thấy vỏ sò, hến, di cốt người tiền nhân, công cụ lao động bằng đá, gốm, đồng…thể hiện của tầng văn hóa Hòa Bình cách ngày nay khoảng 10.000 năm

- Ninh Bình là tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, cư dân cư trú sớm, chiếm lĩnh vùng ô trũng làm nên nền văn minh lúa nước

- Là địa bàn diễn ra nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm: Thập đạo tướng quân Lê Hoàn gắn với cuộc kháng chiến “phá Tống bình Chiêm” lấy Hoa Lư làm kinh đô; Trần Nhật Duật lấy vùng đất Yên Mô làm căn cứ trong cuộc kháng chiến lần thứ 2

và thứ 3 chống quân Nguyên Mông xâm lược; Vũ Đình Huấn tham gia cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, trấn thủ vùng Hoàng Long và giữ đồn Gián Khẩu (Gia Viễn)…

- Vùng đất hiếu học, được biết đến với nhiều dòng họ, đặc biệt là họ Nguyễn

Tử, xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình đã sản sinh và nuôi dưỡng nhiều thế hệ tiễn sĩ nối tiếp nhau và giữ các chức vụ quan trọng trong triều đình

- Mảnh đất Ninh Bình, nơi hội tụ, sản sinh và nuôi dưỡng nhiều danh nhân, anh hùng đất Việt như: Đinh Tiên Hoàng, Lê Hoàn, Nguyễn Bặc, Trần Nhật Duật, Nguyễn Tử Mẫn, Vũ Đình Huấn…

- Nơi tiếp thu, bảo lưu tôn giáo tín ngưỡng

Trang 33

- Ninh Bình bảo tồn được nhiều DSVH có giá trị như: Nghề chạm khắc đá Ninh Vân (Hoa Lư), dệt chiếu cói Kim Sơn, thêu ren Ninh Hải (Hoa Lư), nghề mộc Ninh Phong (thành phố Ninh Bình)…

Đó là những tiền đề, cơ sở và minh chứng cho việc hình thành các di tích lịch sử-văn hóa, cách mạng, di chỉ khảo cổ học…để lại cho hậu thế những di sản có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học…

1.3.2 Đặc điểm chung của các di tích trên địa bàn tỉnh

Ninh Bình là tỉnh giàu truyền thống lịch sử, văn hóa với nhiều DSVH, tuy bị chiến tranh, thiên tai và những biến động xã hội tàn phá, nhưng được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự tôn trọng lịch sử nên Ninh Bình vẫn còn giữ được rất nhiều các di tích có giá trị

Số liệu tổng kiểm kê di tích trên địa bàn tỉnh Ninh Bình năm 1994 là 796 di tích Trải qua 20 năm, đời sống kinh tế, xã hội của địa phương phát triển, đời sống văn hóa được quan tâm hơn, nhiều di tích được phục dựng nhằm phục vụ đời sống văn hóa tâm linh của nhân dân Mật độ phân bố di tích không đậm đặc nhưng Ninh Bình còn lưu giữ được nhiều công trình kiến trúc có giá trị về lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, về văn hóa tâm linh…Di tích phong phú về loại hình, chất liệu được làm bằng

gỗ tứ thiết còn khá chắc chắn, một số di tích có niên đại khoảng 200 - 350 năm Bố cục mặt bằng các công trình được làm theo kiến trúc kiểu chữ đinh(J), chữ nhị (=), chữ nhất(-), hoặc tiền nhất (-) hậu đinh (J) Nhân vật được thờ hoặc phối thờ tại các di tích khá phong phú, đa dạng gồm các vị thánh, thành hoàng làng, tổ nghề: Đinh Tiên Hoàng thờ tại đền vua Đinh (Trường Yên-Hoa Lư), Lê Đại Hành tại đền vua Lê (Trường Yên-Hoa Lư), Trần Nhật Duật tại đền Trần Nhật Duật (Yên Thắng-Yên Mô), Trần Hưng Đạo tại đền thờ Đức Thánh Trần (Ninh Tiến-Ninh Bình), Nguyễn Bặc tại nhà thờ và mộ Nguyễn Bặc (Gia Phương-Gia Viễn), Nguyễn Công Trứ tại đền thờ Nguyễn Công Trứ (Quang Thiên-Kim Sơn), Nguyễn Minh Không tại đền Thánh Nguyễn (Gia Thắng, Gia Tiến-Gia Viễn)…Có thể nói rằng, bên cạnh các di tích như đình, đền, chùa, miếu, Ninh Bình còn các di tích thuộc loại hình

Trang 34

khác như: Văn chỉ, văn bia, nhà bia tưởng niệm, nhà thờ họ, nhà thờ đạo Công giáo,

có những di tích mới được phục dựng lại trong thời gian gần đây nhưng cũng có vai trò nhất định trong vốn di sản kiến trúc của tỉnh

1.3.3 Thống kê số lượng, phân loại di tích

1.3.3.1 Số lượng

Từ năm 2009 đến năm 2012, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH,TT&DL)

đã tiến hành tổng kiểm kê di tích trên địa bàn toàn tỉnh với số lượng là 1.499 di tích

Di tích ở Ninh Bình phong phú về loại hình như: Đình, đền, chùa, miếu, phủ, nhà thờ họ, nhà thờ đạo, hang động…Các di tích được phân bố trong phạm vi 8 huyện, thị xã, thành phố

Theo số liệu thống kê của Phòng Di sản Văn hóa (Sở VH,TT&DL), số lượng các DTLS-VH được phân bố trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố như sau:

Trang 35

1.3.3.2 Phân loại di tích

Di tích ở Ninh Bình, gồm các loại hình như: Đình, đền, chùa, miếu, phủ…rất phong phú, đa dạng ở nhiều loại hình khác nhau, trong đó có 301 chùa chiếm 20,10%, 229 đình chiếm 15,27%, 381 đền chiếm 25,41%, 98 miếu chiếm 6,54%, 51 phủ chiếm 3,40%, 236 nhà thờ họ chiếm 15,74%, 149 nhà thờ Công giáo chiếm 9,94% và 54 di tích khác (gồm danh lam thắng cảnh, núi, hang, động, văn chỉ, văn từ, lăng mộ, cầu cổ…) chiếm 3,60% Huyện có nhiều di tích nhất là Nho Quan với số lượng 254, chiếm 17%.Huyện, thị xã có di tích ít nhất là thi xã Tam Điệp với số lượng 37, chiếm 2,5%

Tính đến tháng 4 năm 2013, Ninh Bình có 304 di tích được xếp hạng, gồm 79 di tích xếp hạng cấp quốc gia (trong đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt là

Cố đô Hoa Lư và khu danh thắng Tràng An - Tam Cốc - Bích Động); 225 di tích xếp hạng cấp tỉnh Các di tích xếp hạng cấp quốc gia chủ yếu xếp hạng trước năm 2001 (thời điểm Luật Di sản văn hóa ra đời), một số di tích được xếp hạng đợt đầu tiên của cả nước (năm 1962) như Cố đô Hoa Lư, động Thiên Tôn, núi Non Nước, núi Cánh Diều Di tích cấp quốc gia tập trung ở huyện Hoa Lư (26 di tích), huyện Gia Viễn (13 di tích), huyện Yên Khánh (12 di tích), huyện Yên Mô (11 di tích) Từ khi có Luật Di sản văn hóa, các di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương được xem xét, xếp hạng cấp tỉnh Những di tích cấp tỉnh sớm nhất ở Ninh Bình được xếp hạng từ năm 2004, tiêu biểu như đình Cam Giá (phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình), đền Đồng Bến (phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình), chùa Hưng Quốc, đình Trai (xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn), đình Mống, đình Lá (xã Yên Quang, huyện Nho Quan), đình làng Nộn Khê (xã Yên Từ, huyện Yên Mô), đền Duyên Phúc (xã Khánh Hồng, huyện Yên Khánh), đền Trì Chính (xã Kim Chính, huyện Kim Sơn) Đến nay, khắp các huyện, thị, thành đều có di tích cấp tỉnh (chi tiết xem biểu số 2)

Trang 36

Đơn vị Tổng số Xếp hạng cấp

quốc gia

Xếp hạng cấp tỉnh

Biểu số 2: Phân loại di tích theo cấp xếp hạng

(Nguồn: Phòng Di sản văn hóa) Các di tích đã xếp hạng có 38 chùa, 61 đình, 95 đền, 09 miếu, 05 phủ, 34 nhà thờ họ, 06 hang động, 29 cụm di tích (từ 2 di tích trở lên), 12 di tích khác (như danh lam thắng cảnh, núi, lăng mộ, địa điểm cách mạng…)

Hệ thống di tích trên địa bàn tỉnh không chỉ đậm đặc về số lượng mà còn đa dạng và phong phú về loại hình: Lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, danh lam thắng cảnh

và tổng hợp Điều 13, chương III, Nghị định số 92/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH thì di tích được phân làm 4 loạị hình: Di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ học

và di tích danh lam thắng cảnh [34]

Ở Ninh Bình, các di tích đã xếp hạng trên địa bàn tỉnh (cả cấp quốc gia và cấp tỉnh) chủ yếu là loại hình di tích lịch sử: 268 di tích chiếm 87,54%; các loại hình khác chiếm số lượng ít, loại hình kiến trúc nghệ thuật 21 di tích chiếm 7,27%,

Trang 37

loại hình danh lam thắng cảnh với 5 di tích chiếm 1,73%, loại hình tổng hợp (gồm lịch sử - kiến trúc nghệ thuật, lịch sử - danh thắng) với10 di tích chiếm 3,46% Riêng loại hình di tích khảo cổ, đến nay ở tỉnh Ninh Bình chưa có di tích nào được xếp hạng (Chi tiết xem biểu số 3)

Đơn vị

Tổng

số

Loại hình di tích Lịch

sử

Kiến trúc nghệ thuật

Danh lam thắng cảnh

Khảo

cổ

Tổng hợp

Trang 38

lượng nhiều nhất Trong đó có những di tích gắn với các danh nhân, anh hùng dân tộc như Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tử Mẫn, Nguyễn Bặc, Trương Hán Siêu, Triệu Quang Phục, Tô Hiến Thành, Yết Kiêu…

- Khu Cố đô Hoa Lư (Trường Yên- Hoa Lư):Di tích có tên là Khu di tích Cố

đô Hoa Lư, vì đây là một kinh đô cổ, là vùng đất của 03 triều đại Đinh - Lê - Lý, tồn tại 42 năm (968-1010) Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế đóng đô ở Hoa

Lư, năm 980 Lê Hoàn lên ngôi đóng đô ở Hoa Lư, năm 1009 Lý Công Uẩn lên ngôi vua cũng đóng đô ở Hoa Lư, năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long, kinh

đô Hoa Lư được gọi là Cố đô từ đấy Đây là kinh đô đầu tiên của chế độ phong kiến trung ương tập quyền Việt Nam Khi nhà nước phong kiến độc lập non trẻ và nền thống nhất mới được củng cố, Hoa Lư là bước đệm vững chắc để nhà Lý, nhà Trần xây dựng kinh đô Thăng Long xứng đáng với nền văn minh Đại Việt rực rỡ Khu di tích Cố đô Hoa Lư được bao quanh bằng hàng loạt dãy núi đá hình vòng cung, cảnh quan thiên nhiên kỳ thú và hùng vĩ Khu di tích Cố đô Hoa Lư được trải rộng trên khoảng diện tích 300 ha bao trùm cả xã Trường Yên Trung tâm Khu di tích Cố đô Hoa Lư là khu vực hai ngôi đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành Nơi đây còn lưu giữ nhiều dấu tích kiến trúc ở thế kỷ 10 Hiện còn tồn tại hai ngôi đền thờ mang phong cách kiến trúc nghệ thuật thế kỷ 17 Đền thờ vua Đinh và vua Lê được xây dựng trên chính điện kinh đô Hoa Lư xưa, kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc”, tường xây 3 mặt với tổng diện tích khoảng 03 mẫu Bắc bộ Đền vua Đinh toạ lạc ngay chính giữa trông ra núi Mã Yên, phía sau đền là núi Phi Vân, đường đi lối lại theo hình chữ vương, các công trình kiến trúc đối xứng nhau Họa tiết trang trí trên các mảng cốn, các con rường…đều được chạm khắc tinh sảo, nét chạm bong kênh và chạm nổi mềm mại với đề tài long, ly, quy, phượng và tùng, cúc, trúc, mai…Khu di tích Cố đô Hoa Lư lưu giữ được nhiều di vật quý gồm hiện vật bằng giấy, hiện vật bằng gỗ, hiện vật bằng đá, hiện vật khảo cổ học, hiện vật bằng sứ, hiện vật bằng sành, đặc biệt là hai ngôi đền thờ vua Đinh và vua Lê có kiến

Trang 39

trúc đẹp mang phong cách thời Hậu Lê Khu di tích Cố đô Hoa Lư không chỉ có giá trị lịch sử, khảo cổ, kiến trúc nghệ thuật mà còn có giá trị về mặt danh thắng, ở đây

có nhiều hang động đẹp như Xuyên Thuỷ động, Liên Hoa động, Hang sáng, Hang Tối, Hang Lỗ, Hang Lôi, núi Ông Trạng, núi Hòm Sách với những cảnh đẹp của thiên nhiên kì vĩ, cảnh đẹp của núi đá vôi Lễ hội chính tại di tích được tổ chức từ ngày mùng 8 đến 10 tháng 3 âm lịch Năm 1962, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay

là Bộ VH,TT&DL) xếp hạng là di tích quốc gia với tên gọi Khu vực núi đá Trường Yên và đền thờ vua Đinh, vua Lê; năm 2011 di tích đã được Chính phủ xếp hạng là

di tích cấp quốc gia đặc biệt với tên gọi Khu di tích Cố đô Hoa Lư

- Đền thờ Nguyễn Công Trứ (Quang Thiện – Kim Sơn): Đền có tên chữ là

“Truy tư từ” nghĩa là đền Truy tư “Truy tư” có nghĩa là suy nghĩ nhớ lại công ơn của ông Nguyễn Công Trứ đối với mảnh đất huyện Kim Sơn Nguyễn Công Trứ là người đứng lên lập ra kế hoạch khai khẩn thành công huyện Kim Sơn vào năm

1829, sau khi mất ông được nhân dân địa phương lập đền thờ Đền thờ kiến trúc

theo kiểu chữ Đinh (J), tiền đường 5 gian, hậu cung 3 gian, nằm trên mảnh đất diện

tích khoảng 1500m2 Nguyên xưa kia đây là nơi ở và làm việc của ông Nguyễn Công Trứ Các bộ vì chia gian có kết cấu kiểu giá chiêng chồng rường, đề tài chạm khắc, trang trí tại di tích khá đẹp, nét chạm tinh sảo, sắc nét, với kiểu chạm lộng trên các con rường, các mảng cốn, các bẩy, các đầu dư…với nhiều đề tài lưỡng long, tùng, cúc, trúc, mai Hệ thống các cột, xà, hoành, rui, mè đều được làm bằng chất liệu gỗ lim, mái lợp ngói nam, toàn bộ công trình còn khá chắc khỏe, vững chãi Lễ hội tại di tích được diễn ra hàng năm vào ngày 14 tháng 11 âm lịch Với những giá trị và công lao to lớn của ông, di tích đã được Bộ VH,TT&DL xếp hạng cấp quốc gia vào năm 1991

- Đền Thái Vi (Ninh Hải-Hoa Lư): Thờ các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Hiền từ Hoàng Thái hậu và thờ vọng vua Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông Theo Thái Vi quốc tế Ngọc ký (tài liệu còn lưu trong bảo tàng tỉnh Ninh Bình) và gia phả của các dòng họ Đỗ, Lê, Nguyễn thì đền Thái Vi đã có từ thời Trần nhưng

Trang 40

không phải ở vị trí hiện nay mà ở trong khu vực hang Cả Lúc đầu Trần Thái Tông cho dựng một am nhỏ ở khu đất cao trong hang Cả (Vườn Am) làm nơi nghỉ ngơi, tụng niệm, thờ Phật nhưng vì đất hẹp, lầy lội, là nơi hang cùng núi thẳm, bèn tìm ra lối ngoài động và thấy khu đất có thế đất đẹp “hình rồng”, vua sai dân phu đẵn gỗ dựng am làm chốn nương thân để tụng niệm chân kinh và gọi nơi này là Am Thái

Vi Trải quan thời gian Am Thái Vi đã bị hư hỏng, sau này dân làng chuyển về vị trị như hiện nay và gọi là đền Thái Vi Đền được xây dựng trên mảnh đất rộng 2220m2, xung quanh đều có tường bằng đá bao bọc Đền quay hướng Nam, các hạng mục công trình mang kiến trúc thời Nguyễn Đền gồm 3 cung: Cung đệ tam 5 gian, cung

đệ nhị 3 gian, cung đệ nhất 5 gian, phía sau cung đệ nhất hiện còn lăng vua Trần Thái Tôn Cung đệ nhất và đệ tam quay theo hướng Đông Tây, cung đệ nhị quay theo hướng Bắc Nam Đền Thái Vi hiện còn khá nhiều đồ thờ tự và hiện vật quý có giá trị lịch sử và kiến trúc nghệ thuật như: Ba bệ đá chạm khắc long, ly khá tinh sảo; nhang án bằng đá chạm nổi cầm kỳ thi họa, bên phải khắc bàn cờ, bên trái khắc cây đèn, phía dưới bên phải khắc túi thơ, ngòi bút, phía dưới hai bên phải, trái hình hai long mã khá đẹp, chính giữa mặt nhang án đặt bộ tam sự (đỉnh và hai cây đèn bằng đồng) Tại di tích lễ hội được tổ chức hàng năm vào ngày 15 tháng 3 âm lịch Di tích được xếp hạng cấp quốc gia năm 1994

* Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật

Mỗi loại di tích đều chứa đựng và mang trong mình đậm dấu vết lịch sử của quá trình hình thành và phát triển Trong số các di tích kiến trúc nghệ thuật gắn với tôn giáo, tín ngưỡng thì đình, đền, chùa chiếm vị trí chủ đạo trong hệ thống di tích

- Đình Trùng Thượng (Gia Tân-Gia Viễn): Là di tích thờ Đông Hải đại vương Nguyễn Phục, Tô Hiến Thành, Trần Quốc Tảng và Nguyên từ Quốc mẫu (mẹ Trần Quốc Tảng) Theo tấm bia còn lưu giữ tại di tích thì đình được xây dựng vào năm Đinh Sửu triều Lê Đức Nguyên thứ 2 (1675) Đình quay hướng nam trông

ra sông Hoàng Long, đình nằm trên thế nghiêm bút đằng sau có gò sứ dài 5-6 m Đình kiến trúc kiểu chữ nhị (=), tiền đường 5 gian, hậu cung 3 gian Đình Trùng

Ngày đăng: 06/06/2021, 04:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm