1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển các sản phẩm và dịch vụ văn hóa tại bảo tàng dân tộc học việt nam

75 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động của bảo tàng trong những năm gần đây hết sức phát triển, những sản phẩm văn hóa mà bảo tàng mang lại hết sức độc đáo, mới lạ và thu hút đông đảo sự quan tâm của công chúng tron

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

KHOA QUẢN LÝ VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT

- -

PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ VĂN HOÁ TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC

VIỆT NAM

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN VĂN HOÁ

NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HOÁ

Giảng viên hướng dẫn : ThS Phạm Bích Huyền Sinh viên : Phan Phương Thảo

Khoá học : 2007 - 2011

Hà Nội - 2011

Trang 2

Đặc biệt, trong thời gian viết khóa luận vừa qua em đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của Th.S Phạm Bích Huyền, cô đã giúp em rất nhiều trong việc đưa ra những cơ sở lý luận cho bài viết Em xin chân thành cám ơn

Trong thời gian hoàn thành khóa luận với mong muốn cung cấp những thông tin về hoạt động của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam nhưng không tránh khỏi những thiếu sót trong bài viết, em mong nhận được đóng góp của quý thầy cô, các bạn sinh viên

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Phan Phương Thảo

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3 Mục tiêu của khóa luận 3

4 Những đóng góp của khóa luận 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Bố cục khóa luận 4

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về sản phẩm dịch vụ văn hóa và quản lý các sản phẩm và dịch vụ văn hóa 5

1.1 Sản phẩm và dịch vụ văn hóa văn hóa 5

1.2 Quản lý hoạt động kinh doanh sản phẩm và dịch vụ văn hóa 10

Chương 2: Thực trạng các sản phẩm văn hóa và dịch vụ văn hóa tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 13

2.1 Giới thiệu chung về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 13

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 13

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ 14

2.1.3 Cơ cấu tổ chức 15

2.2 Thực trạng các sản phẩm văn hóa và dịch vụ văn hóa tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 16

2.2.1 Các sản phẩm văn hóa 17

2.2.1.1 Các ấn phẩm 17

2.2.1.2 Đồ lưu niệm 21

2.2.2 Các dịch vụ văn hóa 23

2.2.2.1 Hướng dẫn thăm quan tại khu trưng bày tòa nhà Trống Đồng 23

2.2.2.2 Hướng dẫn thăm quan về các ngôi nhà tại khu trưng bày ngoài trời 32

2.2.2.3 Trình diễn nghệ thuật truyền thống 38

2.2.2.4 Tổ chức các chương trình nhân dịp các ngày lễ 42

Trang 4

2.2.2.5 Tổ chức chương trình hội thảo, giao lưu về các vấn đề văn hóa, dân

tộc, con người 45

2.2.2.6 Hoạt động phục vụ thiếu nhi - giáo dục nghệ thuật 47

2.2.2.7 Dịch vụ quay phim, chụp ảnh 49

2.2.2.8 Dịch vụ ẩm thực 50

Chương 3: Một số giải pháp phát triển các sản phẩm và dịch vụ văn hóa tại Bảo tàng dân tộc học Việt Nam 51

3.1 Đối với tổ chức 51

3.1.1 Phát triển nguồn nhân lực 51

3.1.2 Đầu tư cơ sở vật chất 51

3.1.3 Tài chính 53

3.1.4 Thúc đẩy hoạt động Marketing 54

3.1.5 Đa dạng hóa các hoạt động của bảo tàng 55

3.2 Đối với xã hội 55

3.2.1 Đa dạng hóa các nguồn tài trợ 55

3.2.2 Hướng dẫn du khách thăm quan 58

Kết luận 60

Tài liệu tham khảo 61

Phụ lục 62

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Các hoạt động văn hóa hiện nay đang diễn ra hết sức phong phú và đa dạng, những sản phẩm được đưa tới công chúng qua nhiều phương thức, đem lại nhiều những món ăn tinh thần bổ ích Với riêng mỗi một lĩnh vực cũng như là các ngành nghiên cứu, văn hóa, du lịch, kinh tế… khác nhau thì việc phát triển các loại hình sản phẩm văn hóa du lịch lại có ý nghĩa khác nhau, đem lại nhiều lợi ích; đối với ngành văn hóa đó là công cuộc đưa những giá trị văn hóa, những giá trị vật thể và phi vật thể đến với đông đảo công chúng, để

họ hiểu và có ý thức bảo vệ, giữ gìn; đối với lĩnh vực du lịch, kinh tế đây là

cơ hội đem lại nhiều mặt lợi ích, khi sử dụng các sản phẩm này đã chính là góp phần thúc đẩy sự phát triển của chúng, đưa chúng trở thành những sản phẩm không chỉ đơn thuần là hàng hóa vật chất mà cao hơn là hàng hóa văn hóa, thứ hàng hóa đặc biệt, đem lại những điều kiện để có thể làm tốt việc bảo tồn và phát huy các giá trị, duy trì và phát triển một cách có hiệu quả để đưa tới công chúng

Bảo tàng - một thiết chế văn hóa mang ý nghĩa hết sức quan trọng với đời sống xã hội, với sự phát triển của một nền văn hóa trong xu hướng toàn cầu hóa - hội nhập nhưng không hòa tan Bảo tàng với nhiệm vụ lưu giữ, sưu tầm trưng bày những hiện vật có giá trị đem lại cho công chúng có cái nhìn đầy đủ hơn về lịch sử, văn hóa, các giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc Với chức năng và nhiệm vụ như vậy hiện nay có rất nhiều những bảo tàng đang làm hết sức mình, đem lại cho công chúng những sản phẩm văn hóa tốt nhất, đúng với lĩnh vực nghiên cứu, sưu tầm, trưng bày của bảo tàng, mở cửa tham quan giới thiệu cho du khách những giá trị chân thực Hoạt động của bảo tàng trong những năm gần đây không chỉ đơn thuần là nghiên cứu, bảo quản, phục chế, trưng bày những hiện vật, mở cửa đón khách thăm quan nữa mà đứng trước nhu cầu ngày càng cao của xã hội về khám phá, tìm hiểu các giá trị văn

Trang 6

hóa và những di sản văn hóa thì các bảo tàng luôn hướng tới khai thác các giá trị lịch sử, văn hóa của các hiện vật, đưa ra những hoạt động, chương trình thăm quan du lịch bổ ích, kết hợp thăm quan, tìm hiểu, khám phá và có cơ hội trực tiếp tham gia vào chính những hoạt động văn hóa, du lịch đó

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, một bảo tàng mang đậm tính nhân văn, tính lịch sử và tính dân tộc học được hình thành và phát triển trong hơn một thập kỉ qua đã đem lại những ý nghĩa to lớn trong việc đưa hình ảnh 54 dân tộc Việt Nam tới công chúng trong nước và quốc tế Hoạt động của bảo tàng trong những năm gần đây hết sức phát triển, những sản phẩm văn hóa mà bảo tàng mang lại hết sức độc đáo, mới lạ và thu hút đông đảo sự quan tâm của công chúng trong nước và quốc tế cũng như nhận được sự đánh giá cao khi đưa tới công chúng không chỉ là những giá trị văn hóa mà tác động tới nhận thức của công chúng để họ hiểu và có ý thức trong việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, nhân văn…

Trong thời gian thực tập tại bảo tàng ngoài tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển của bảo tàng cũng như về những hoạt động của bảo tàng

em còn được thăm quan và tìm hiểu về cuộc sống, về con người của các dân tộc anh em qua những hiện vật sống tại bảo tàng trong khu trưng bày trong nhà và ngoài trời Đây là cơ hội tốt để em có thể tìm hiểu và học tập những vấn đề liên quan tới chuyên ngành và công việc sau này của mình

Với những điều kiện trong thời gian thực tập cũng như với sự tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân em đã quyết định chọn đề tài liên quan tới Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cụ thể là các sản phẩm và dịch vụ văn hóa tại Bảo tàng

Dân tộc học Việt Nam với tên đề tài: “Phát triển các sản phẩm và dịch vụ

văn hóa tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”

Với thời gian và điều kiện có hạn, khóa luận chỉ giới thiệu những nét khái quát nhất về các sản phẩm và dịch vụ văn hóa hiện có tại Bảo tàng, qua

đó đưa ra một số nhận định cá nhân cũng như một số ý kiến, giải pháp nhằm

Trang 7

phát triển hơn nữa giá trị của các sản phẩm, dịch vụ nhằm mục tiêu đem lại cho công chúng những sản phẩm có chất lượng

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các sản phẩm văn hóa: các

hình thức thăm quan tại bảo tàng, các loại hình nghệ thuật truyền thống được trình diễn tại bảo tàng, các dịch vụ tổ chức sự kiện, các chương trình nghệ

thuật hiện có tại bảo tàng

- Phạm vi nghiên cứu là các sản phẩm văn hóa nói trên có từ khi hoạt động của bảo tàng được bắt đầu và sẽ được triển khai trong thời gian sắp tới

Cụ thể là từ năm 1997 đến nay

3 Mục tiêu của khóa luận

- Giới thiệu về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, những hoạt động mà Bảo tàng đã làm được có ý nghĩa với việc bảo tồn, giới thiệu và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử và với lĩnh vực nghiên cứu dân tộc học

- Giới thiệu những sản phẩm, dịch vụ văn hóa tại Bảo tàng dân tộc học, làm nổi bật sự khác biệt của Bảo tàng với những Bảo tàng khác

- Đưa ra một số nhận định cá nhân và những ý kiến đóng góp cho việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ văn hóa và giới thiệu, quảng bá hơn nữa hình ảnh của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tới công chúng trong và ngoài nước

4 Những đóng góp của khóa luận

- Giới thiệu một cách có hệ thống các sản phẩm văn hóa hiện đang có tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

- Bước đầu đưa ra một số những giải pháp nhằm phát triển hoạt động của Bảo tàng và giới thiệu hơn nữa các sản phẩm văn hóa du lịch chất lượng của Bảo tàng tới công chúng

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điền dã

- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu

Trang 8

- Phương pháp nghiên cứu kế thừa

Chương 3: Một số giải pháp phát triển các sản phẩm và dịch vụ văn hóa tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trang 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ VĂN HÓA

1.1 Sản phẩm và dịch vụ văn hóa

Sản phẩm văn hóa tinh thần là các hình thái, quan niệm văn hóa, nghệ thuật, tư tưởng, chính trị, pháp luật, tôn giáo, đạo đức, thẩm mỹ do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn

Sản phẩm văn hóa tinh thần tập hợp trong nó các giá trị tinh thần,

có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tinh thần của con người, hướng con người tới các giá trị nhân văn cao đẹp

Sản phẩm văn hóa tinh thần có thể được chia làm hai loại như sản phẩm văn hóa tinh thần tri thức gồm ca dao, tục ngữ, triết học, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội,… Và sản phẩm văn hóa tinh thần loại văn nghệ gồm văn học, các loại hình nghệ thuật, sân khấu, âm nhạc, hội họa, mỹ thuật,…

Sản phẩm văn hóa tinh thần là kết quả hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình tác động vào thế giới tự nhiên, con người đã biết

sử dụng các công cụ lao động làm thay đổi các hình thái vật chất của

tự nhiên để phục vụ nhu cầu vật chất của con người Đồng thời, con người cũng xuất hiện những nhu cầu tinh thần và giá trị tinh thần Vì vậy, chúng đã trở thành sản phẩm đặc biệt chỉ có ở con người và tồn tại trong xã hội loài người, chứa đựng những đặc trưng cơ bản sau:

- Sản phẩm văn hóa tinh thần lúc đầu gắn với kinh nghiệm nhiều hơn

- Sản phẩm văn hóa tinh thần ban đầu là công hữu phi hàng hóa

- Giá trị của sản phẩm văn hóa tinh thần thường được tính theo lao động

cá biệt không tính theo lao động bình quân

- Nhiều sản phẩm văn hóa tinh thần không chịu giới hạn về thời gian, không gian có thể truyền bá rộng khắp với số lượng không hạn chế

Hàng hóa văn hóa tinh thần là loại hàng hóa đặc biệt được tạo nên

từ sự kết hợp của hai yếu tố là sản phẩm tinh thần và hàng hóa Nói cách khác,

Trang 10

hàng hóa văn hóa tinh thần là những sản phẩm văn hóa tinh thần được đem ra trao đổi, mua bán, với tư cách là hàng hóa văn hóa tinh thần nó phải thỏa mãn hai tiêu chí sau:

- Là sản phẩm của lao động bằng trí tuệ và cảm xúc

- Có khả năng thỏa mãn nhu cầu của một cá nhân hay một cộng đồng

xã hội

Hàng hóa văn hóa tinh thần với tư cách là hàng hóa, nó phải thực hiện được giá trị và giá trị sử dụng, được trao đổi, mua bán trên thị trường Giá trị sử dụng của hàng hóa văn hóa có những đặc tính riêng trong nền sản xuất vật chất, giá trị sử dụng của vật phẩm do thuộc tính tự nhiên của vật phẩm đó quy định do vậy giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn

Giá trị sử dụng của hàng hóa là thuộc tính của hàng hóa gắn liền với vật phẩm hàng hóa nhưng nó không phải hoàn toàn là giá trị sử dụng cho người

sử dụng hàng hóa mà là giá trị sử dụng cho người khác, giá trị sử dụng cho

xã hội Bởi vậy, trong nền sản xuất hàng hóa giá trị sử dụng đồng thời

là giá trị thay đổi

Giá trị sử dụng của hàng hóa văn hóa tinh thần có khác, nó không phải

là thuộc tính tự nhiên, nội dung vật chất của vật phẩm đó mà mang trong

nó là thuộc tính xã hội, là nội dung giá trị tinh thần Đối với vật phẩm hàng hóa vật chất giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn nhưng đối với vật phẩm là hàng hóa văn hóa tinh thần luôn mang trong nó là phạm trù lịch sử

Ví dụ: Giá trị sử dụng của một tác phẩm nghệ thuật như Bức tranh “Thiếu nữ bên hoa huệ”, của cuốn Truyện Kiều… không phải là nội dung vật chất của

nó mà là nội dung nghệ thuật của tác phẩm ấy Nội dung nghệ thuật của những tác phẩm này ở những thời điểm lịch sử khác nhau về mặt nhận thức

và công dụng, nghĩa là về tác động tư tưởng, cảm xúc, thẩm mỹ,… Giá trị sử dụng của vật phẩm hàng hóa vật chất có thể là đối tượng chiếm hữu và sử dụng của một cá nhân, có thể hao phí hoàn toàn trong quá trình sử dụng còn giá trị sử dụng của vật phẩm văn hóa tinh thần luôn là

Trang 11

tài sản chung của xã hội cho dù vật phẩm tồn tại, thuộc sở hữu của nhà nước hay cá nhân

Như vậy, quá trình sử dụng của hàng hóa văn hóa tinh thần luôn mang tính hữu dụng, nó vừa phản ánh hiện thực đời sống thông qua các hình tượng đặc trưng của các loại hình nghệ thuật, nó vừa thỏa mãn nhu cầu và yêu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của con người

Giá trị của hàng hóa văn hóa tinh thần là sản phẩm của hoạt động trí tuệ

và cảm xúc mang tính trừu tượng của con người kết tinh trong nó Vì vậy, việc sản xuất, sáng tạo các sản phẩm văn hóa tinh thần phải dựa trên ba yếu tố:

- Nguồn vật liệu để sử dụng, sáng tạo, sản xuất không chỉ là vật chất

mà còn cả dạng phi vật chất, trình độ hiểu biết, tri thức, vốn sống, tình cảm, quan điểm đạo đức và thị hiếu thẩm mỹ

- Phương tiện công nghệ trong quá trình sản xuất sáng tạo các sản phẩm văn hóa tinh thần không chỉ đơn thuần là máy móc, công nghệ mà phần quan trọng được cấu thành là từ ý tưởng, trí tuệ, tài năng và phương pháp sáng tạo của người lao động

- Sức lao động đòi hỏi về mặt tinh thần, nhiệt tình, tâm huyết, có ý thức trách nhiệm cao, sự nhạy cảm về tư tưởng, tình cảm, về tài năng, nguồn cảm hứng thăng hoa sáng tạo

Sự phân công lao động đi vào chuyên môn hóa, đã tạo ra các loại sản phẩm khác nhau làm nảy sinh nhu cầu được trao đổi đối với các sản phẩm

Sự trao đổi này đã biến các sản phẩm lao động sáng tạo trước đó không phải

là hàng hóa đã trở thành hàng hóa Việc trao đổi ban đầu mang tính trực tiếp giữa các loại sản phẩm và những nhà sản xuất sáng tạo ra các sản phẩm ấy, dần dần việc trao đổi được thực hiện thông qua một môi trường trung gian

là chợ, thương trạm và phát triển thành thị trường

Thị trường và một vật trung gian để đo giá trị của sản phẩm hàng hóa

là tiền tệ Sự xuất hiện các yếu tố trao đổi trung gian chính là điều kiện quan trọng để xuất hiện quá trình thương mại hóa Như vậy, thương mại hóa đó

Trang 12

là quá trình mà các sản phẩm hàng hóa được lao động sản xuất, sáng tạo ra chỉ để kiếm lời lãi, trung thu lợi nhuận, một hình thức cao hơn của quá trình hàng hóa

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, quá trình hàng hóa văn hóa và thương mại hóa cũng diễn ra dưới những mức độ khác nhau Đối với sản phẩm hàng hóa văn hóa lúc ban đầu là phi hàng hóa dần dần được vật chất hóa để trở thành hàng hóa được thương mại hóa theo từng sản phẩm

Thương mại hóa các sản phẩm văn hóa tinh thần là quá trình biến một

số hoạt động sản xuất tạo ra các sản phẩm văn hóa trở thành các hoạt động mang tính chất kinh doanh kiếm lời Nghĩa là một số sản phẩm văn hóa trở thành hàng hóa thực hiện giá trị trao đổi, được mua bán trên thị trường Tuy nhiên, quá trình xã hội hóa văn hóa tinh thần phải dựa trên đặc trưng của từng loại sản phẩm, có tính hàng hóa và phi hàng hóa, vừa

có giá trị cá nhân và vừa có giá trị xã hội Nói cách khác, xã hội hóa

là sự mở rộng sản xuất và phân công lao động xã hội, để các hoạt động mang tính cá nhân trở thành hoạt động mang tính xã hội Bản chất của xã hội hóa

là nhà nước và nhân dân cùng làm

Thị trường văn hóa là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán lưu thông các sản phẩm hàng hóa văn hóa Với đặc thù hàng hóa văn hóa luôn mang trong nó đặc tính xã hội và giá trị sử dụng là phạm trù là phạm trù lịch

sử, nên thị trường văn hóa không chỉ có mua bán đơn thuần, không thể lấy lợi nhuận làm thước đo giá trị, vì mang trong nó những giá trị tinh thần có ý nghĩa giáo dục, chính trị, tư tưởng và cảm xúc thẩm mỹ, nó là nền tảng tinh thần, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội và xây dựng hình thái ý thức xã hội, là đời sống tinh thần của con người Thị trường văn hóa vận hành theo cơ chế thị trường, nó cũng thực hiện bốn chức năng cơ bản của thị trường hàng hóa, đó là chức năng thừa nhận, chức năng thực hiện, chức năng điều tiết và kích thích, chức năng thông tin Đồng thời nó cũng bị chi phối chịu ảnh hưởng của năm nhân tố tác động đến thị trường và hóa, đó

Trang 13

là kinh tế, chính trị xã hội, tâm sinh lý con người, nhân tố thời tiết về khí hậu

và quy luật cung cầu, giá cả sản phẩm hàng hóa Nhưng thị trường văn hóa nó cũng có những đặc thù riêng làm nên tính độc lập với các thị trường hàng hóa vật chất, đó là nó thực hiện chuyển quyền sở hữu và quyền sử dụng hàng hóa

Vì vậy, trên thị trường văn hóa, các sản phẩm hàng hóa được mua bán, trao đổi theo hai phương thức: thứ nhất là trao đổi quyền sở hữu hàng hóa, nghĩa

là người bán trao cho người mua toàn quyền quyết định tác phẩm, sản phẩm của mình mà chỉ giữ lại quyền tác giả Thứ hai là trao đổi quyền sử dụng hàng hóa tức là người bán giữ lại quyền định đoạt hàng hóa mà chỉ đồng ý cho phép người sử dụng sản phẩm, tác phẩm của mình ở một cấp độ nhất định hay mức độ khác nhau Tính đặc thù thứ hai của thị trường văn hóa, Nhà nước vừa

là người thực hiện chức năng công quản, song vừa đại diện cho xã hội thực hiện chức năng tiêu dùng Đặc thù thứ ba của thị trường văn hóa đó là giá trị của sản phẩm hàng hóa văn hóa được hình thành theo quy luật giá trị vừa tuân thủ tính đặc thù của hàng hóa văn hóa

Từ những đặc trưng của hàng hóa văn hóa và thị trường văn hóa đã hình thành ở nước ta hiện nay gồm bảy thị trường văn hóa, đó là: thị trường diễn xuất, thị trường điện ảnh, thị trường nghe nhìn, thị trường sách báo, thị trường ấn vật phẩm văn hóa, thị trường mỹ thuật và thị trường văn hóa giải trí

Thông qua những nhận định chung về sản phẩm văn hóa cũng như là về thị trường văn hóa nêu trên chúng ta có thể nhận thấy rằng các dịch vụ văn hóa là các sản phẩm thuộc các thị trường văn hóa nêu trên, mỗi một thị trường lại có những sản phẩm và dịch vụ văn hóa nói riêng, đáp ứng nhu cầu của công chúng

Cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường, mọi sản phẩm và dịch

vụ gắn với việc thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần đều có thể trở thành hàng hóa

Trang 14

Trước hết, đó là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của các làng nghề truyền thống, mỗi mặt hàng thường gắn với một tên làng, tên núi, tên sông và ngày nay, người ta đã phát triển lên thành các doanh nghiệp làng nghề, một

sự kết hợp giữa truyền thống và công nghệ hiện đại để sản xuất hàng loạt lớn các sản phẩm truyền thống đã từ lâu hình thành nên các thương hiệu nổi tiếng

Ví dụ, gốm Bát Tràng, gốm Chu Đậu, đồ gỗ Đồng Kỵ, đúc đồng Đại Bái, dệt chiếu cói Nga Sơn… Đây không hẳn là nhóm sản phẩm văn hóa với tư cách là kết quả trực tiếp của các hoạt động văn hoá, nhưng xét theo tính lịch sử và truyền thống, nhóm này mang đặc trưng văn hóa rất cần giữ gìn, tôn vinh và phát triển

Tiếp đến, đó là nhóm sản phẩm với tư cách là kết quả trực tiếp của hoạt động văn hóa, như sản xuất băng đĩa nhạc, phim ảnh, tranh, tượng… Đây là nền tảng hình thành nên nền công nghiệp văn hóa Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp kinh doanh loại mặt hàng này

đã và đang phát triển rộng khắp, cạnh tranh quyết liệt với sự hiện diện của ngày càng nhiều các chủ thể kinh doanh: nhà nước, tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và sự tham gia của đông đảo nhân dân

Những năm gần đây, thích ứng với chiều hướng chung của thế giới, ở Việt Nam đã xuất hiện rất nhiều các dịch vụ văn hóa mà trước kia không bao giờ có; hoặc nếu có thì chủ yếu là do Nhà nước đảm trách Đó là các dịch vụ

về tổ chức biểu diễn nghệ thuật, tổ chức sự kiện văn hóa; tổ chức thi đấu thể thao; dựng biển thương hiệu quảng cáo, tư vấn phát triển các loại hình văn hóa nghệ thuật…Và có thể nhận thấy rằngs ở Việt Nam, ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa đã hình thành và từng bước phát triển

1.2 Quản lý hoạt động kinh doanh sản phẩm và dịch vụ văn hóa

Theo PSG.TS Phan Văn Tú: “Quản lý là một phương thức làm cho những hoạt động được hoàn thành với một hiệu suất cao, bằng và thông qua những người khác Quản lý là những hoạt động cần thiết khi con người kết

Trang 15

hợp với nhau trong một tổ chức để làm thành đạt mục tiêu chung của tổ chức.”

Có thể nhận thấy hoạt động quản lý là một việc làm vô cùng quan trọng,

nó giúp tổ chức, định hướng các mục tiêu của tổ chức, làm gia tăng hiệu quả hoạt động cũng như đánh giá được những kết quả đạt được hay những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực hiện

Quản lý được thể hiện ở mọi mặt của đời sống xã hội, ngày nay vai trò của quản lý càng được thể hiện rõ, hoạt động quản lý diễn ra đảm bảo các nguyên tắc và phương pháp sẽ thu được nhiều kết quả gần sát với mục tiêu và sau cùng là đạt được lợi ích chung cho tổ chức

Đối với hoạt động kinh doanh sản phẩm và dịch vụ văn hóa cũng có những cách thức quản lý riêng biệt, như đã nêu ở phần trên, khi có sản phẩm

và dịch vụ sẽ có Thị trường, nơi trao đổi mua bán, nơi phát triển cung - cầu của xã hội.Vì thế, có thể nhận thấy quản lý các sản phẩm và dịch vụ văn hóa chính là quản lý thị trường văn hóa

Thị trường văn hóa là nơi diễn ra các quá trình trao đổi, mua bán các sản phẩm hàng hóa văn hóa Với đặc thù của sản phẩm hàng hóa văn hóa tinh thần nên thị trường văn hóa không chỉ có mua bán đơn thuần, không thể lấy lợi nhuận làm thước đo giá trị của sản phẩm hàng hóa văn hóa vì nó có ảnh hưởng đến hình thái xã hội (nền kinh tế, ý thức công dân)

Quản lý thị trường văn hóa thì nhà nước cần có những văn bản pháp luật, những chính sách, chế tài để định hướng và khuyến khích lĩnh vực sản xuất, sáng tạo và kinh doanh dịch vụ văn hóa, việc hưởng thụ, thưởng thức và tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa văn hóa lành mạnh, có nội dung tư tưởng cao, có giá trị nghệ thuật đồng thời, ngăn chặn, nghiêm cấm, xử phạt hành chính và hình sự đối với các hành vi sản xuất, kinh doanh mua bán các sản phẩm hàng hóa văn hóa làm phương hại đến lợi ích quốc gia, đến đạo đức lối sống, đến thuần phong mỹ tục

Trang 16

Việc áp dụng những chính sách sẽ tạo điều kiện, cơ hội cho những hoạt động được tiến hành đúng luật pháp, đúng với lĩnh vực hoạt động và quan trọng hơn là không làm ảnh hưởng tới các lĩnh vực, ngành nghề khác thậm chí

là việc thực hành đúng theo pháp luật sẽ là cơ sở pháp lý để chính những hoạt động đó được pháp luật bảo vệ Đối với các sản phẩm văn hóa là loại hàng hóa, sản phẩm đặc biệt, không chỉ mang đặc trưng của hàng hóa đơn thuần mà còn có những đặc điểm riêng biệt không chỉ mang lại giá trị sử dụng mà cả những giá trị tinh thần và những tác động của nó khi được đưa tới người sử dụng là những mặt tích cực mà loại hình sản phẩm này đem lại

Luật du lịch, luật di sản văn hóa, luật kinh tế là những văn bản quy phạm pháp luật rõ ràng và gần nhất đối với việc sử dụng các sản phẩm và dịch

vụ văn hóa, kèm theo đó là việc áp dụng những quy định đối với các dịch vụ văn hóa để không chỉ đơn thuần là dịch vụ mà còn là sự hài lòng của người sử dụng

Một hoạt động nữa cũng cần tiến hành đó là hoạt động thanh tra Phải tiến hành liên tục, thường xuyên để đảm bảo mối quan hệ giữ cung cầu cũng như là quy luật giá cả - giá trị của hàng hóa văn hóa

Đặc biệt hơn những sản phẩm và dịch vụ văn hóa ngày nay lại vô cùng phong phú và đa dạng, đó có thể là một buổi trình diễn, một chương trình thăm quan, một buổi giao lưu tìm hiểu các giá trị văn hóa, các ấn phẩm: băng, đĩa, sách, tạp chí… Chính sự phong phú của các sản phẩm ấy lại gắn liền với những ngành nghề lĩnh vực khác nhau nên mỗi một lĩnh vực sẽ có những quy định riêng Bao gồm: quy chế về hoạt động biểu diễn và tổ chức biểu diễn, luật xuất bản, …Đó là những quy định giúp cho các hoạt động được diễn ra theo đúng pháp luật, các sản phẩm và dịch vụ văn hóa được đưa tới công chúng một cách chân thực và mang đầy đủ giá trị của nó nhất

Trang 17

CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM VÀ THỰC TRẠNG CÁC SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ VĂN HÓA TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM

2.1 Giới thiệu chung về Bảo tàng dân tộc học Việt Nam

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Bảo tàng dân tộc học Việt Nam có quá trình hình thành và phát triển từ những năm 80 của thế kỉ XX, tiền thân của bảo tàng là một Phòng của Viện Dân tộc học Trải qua nhiều những hoạt động vào tháng 10/1995, theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ bảo tàng được thành lập, trực thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia Ngày 12/11/1997, sau quá trình

chuẩn bị Bảo tàng khai trương trưng bày trong tòa nhà lớn “Trống Đồng”,

bắt đầu mở của đón khách phục vụ thăm quan Việc bắt đầu này giống như là

sự dấn thân vào con đường của sự tìm tòi và phấn đấu không ngừng nghỉ để giúp cho sự phát triển cũng như theo kịp của bảo tàng đối với các bảo tàng khác trên thế giới Việc xây dựng khu trưng bày ngoài trời trong những năm đầu ấy cũng được đánh giá là bước đi khá táo bạo và mới mẻ của Bảo tàng, hứa hẹn nhiều những điểm hấp dẫn

Việc mở cửa Bảo tàng trong năm 1997 được đánh giá là một trong mười sự kiện nổi bật nhất thì tiếp sau đó với những hoạt động đặc biệt của mình thì bảo tàng lại nhận được sự đánh giá rất cao của không chỉ giới chuyên môn trong và ngoài nước mà còn là sự ủng hộ của đông đảo công chúng Tuy

sự thành lập và phát triển của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là sau muộn nhưng với những gì đã cống hiến cho công chúng Bảo tàng trở nên có uy tín

và được đánh giá là một trong những bảo tàng tầm cỡ quốc gia có chất lượng với công chúng trong nước và bạn bè quốc tế

Tiếp sau đó việc khẩn trương cho ra mắt công chúng Bảo tàng ngoài trời với việc trưng tái hiện lại các ngôi nhà của một số dân tộc tại Việt Nam, tính đến nay đã có 10 công trình về các ngôi nhà của các dân tộc Chăm, Việt,

Trang 18

Ba Na, Ê Đê, Dao, HMông, Tày, Nhà mồ Gia rai và Nhà mồ Cơtu cũng là một trong những điểm nhấn đặc biệt của Bảo tàng, thực sự thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng quan tâm tới văn hóa, lịch sử, kiến trúc nghệ

thuật

Trong năm 2005, sau gần 10 năm hoạt động Bảo tàng Dân tộc học Việt

Nam đã được hơn 30 cơ quan báo chí truyền thông bình chọn là “Một trong

10 sự kiện văn hóa văn nghệ nổi bật”, đó chính là sự công nhận lớn lao đối

với những gì mà Bảo tàng đã làm được

Đến nay sau hơn 15 năm hoạt động Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình, không chỉ giới thiệu tới công chúng những giá trị mang tính dân tộc học của các dân tộc anh em trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam mà còn làm cho hình ảnh con người, đất nước Việt Nam trở nên rõ nét và mang đậm tính nhân văn tới bạn bè quốc tế

Bảo tàng đã nhận được những danh hiệu cao quý biểu dương cho những nỗ lực cố gắng của mình:Huân chương Lao động hạng ba (năm 2000), Huân chương Lao động hạng hai (năm 2006), Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ vì những thành tích trong công tác từ năm 2007 đến 2009, Cờ Thi đua khen thưởng của Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam, của Công đoàn Viên chức Việt Nam, Trung Tâm khoa học Xã hội và Nhân văn Việt Nam (nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam)

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có nhiệm vụ: tổ chức nghiên cứu khoa học, sưu tầm, phân loại đánh giá, bảo quản, phục chế, trưng bày, giới thiệu, khai thác các giá trị lịch sử, văn hóa - về phương diện dân tộc học của 54 dân tộc Việt Nam, cung cấp tư liệu nghiên cứu dân tộc học cho các ngành đào tạo cán bộ nghiệp vụ và quản lý cho Bảo tàng dân tộc học

Về chức năng của bảo tàng đã được quy định trong Quy chế về tổ chức

và hoạt động của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Giám đốc Trung tâm

Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia ban hành năm 2001), cũng bao gồm

Trang 19

những chức năng sưu tầm nghiên cứu, giới thiệu và khai thác các giá trị lịch

sử văn hóa nhằm cung cấp tài liệu cho các ngành đào tạo

2.1.3 Cơ cấu tổ chức

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam với đội ngũ nhân viên tâm huyết, với

sự lao động miệt mài không ngừng nghỉ đã cống hiến cho sự phát triển của Bảo tàng cũng như là cống hiến cho công chúng những hoạt động, sản phẩm văn hóa có chất lượng cao Cơ cấu tổ chức của Bảo tàng với nhiều những phòng ban khác nhau, đảm bảo các chức năng và nhiệm vụ của Bảo tàng và với lĩnh vực chuyên ngành đặc biệt của mình là về dân tộc học thì các phòng ban nghiên cứu lại trở nên khác biệt hơn Theo "Quyết định về việc Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam” của Chủ tịch Viện Khóa học Xã hội Việt Nam ngày 26/11/2010, trong cơ cấu tổ chức của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có 11 đơn vị cấp phòng như sau:

* Các phòng nghiên cứu khoa học:

- Phòng Nghiên cứu – sưu tầm văn hoá Việt Nam (gọi tắt là Phòng Việt Nam)

- Phòng Nghiên cứu – sưu tầm văn hoá nước ngoài (gọi tắt là Phòng Nước ngoài)

* Các phòng nghiệp vụ

- Phòng Kiểm kê, bảo quản và phục chế (gọi tắt là Phòng Bảo quản)

- Phòng Trưng bày

- Phòng Giáo dục

- Phòng Truyền thông và Công chúng

- Phòng Phim - Âm nhạc dân tộc học (gọi tắt là Phòng Nghe - nhìn)

- Phòng Bảo tàng ngoài trời

- Thư viện

* Các phòng ban giúp việc Giám đốc Bảo tàng

- Phòng Quản lý khoa học và hợp tác quốc tế

- Phòng Hành chính - Tổng hợp

Trang 20

Ngoài ra trong thời gian sắp tới Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam sẽ

Ban lãnh đạo của Bảo tàng Dân tộc học gồm 1 Giám đốc và 2 Phó giám đốc Hiện nay PGS.TS Vũ Quang Trọng đang giữ cương vị giám đốc, 2 phó giám đốc là TS.Lưu Anh Hùng và PGS.TS Nguyễn Duy Thiệu

Hiện nay, trước sự phát triển của Bảo tàng và sự cần thiết phải mở rộng quy mô cũng như quảng bá hình ảnh, cung cấp thông tin cho công chúng cũng như để thu hút họ đến với Bảo tàng thì Phòng truyền thông đã được ra đời, ngoài ra một bộ phận thuộc phòng Giáo dục cũng đang có những bước tiền đề đầu tiên để cho ra đời một phòng phụ trách Marketing cho các hoạt động của

Bảo tàng cũng như công tác thu hút tài trợ và làm các công tác đối ngoại 2.2 Thực trạng các sản phẩm văn hóa và dịch vụ văn hóa tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là nơi đưa du khách thăm quan tới với những giá trị mang tính dân tộc học với hình ảnh của 54 dân tộc Việt Nam

Đó là những hình ảnh chân thực và đầy sức thuyết phục đối với mỗi một du khách khi đến nơi đây thăm quan

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu tại bảo tàng khi xây dựng và tiến hành các hoạt động trưng bày, các hoạt động thăm quan đã hết sức quan tâm tới việc làm sao để đưa tới công chúng những sản phẩm tốt nhất, những sản phẩm

có chất lượng, không chỉ đáp ứng nhu cầu tham quan tìm hiểu mà còn đưa tới

du khách sự cảm nhận và hòa mình vào với những sản phẩm đó, thông qua sản phẩm sẽ hiểu hơn những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, con người,

Trang 21

hiểu về những nét đẹp trong sinh hoạt, phong tục, đời sống tinh thần của con người Việt Nam

Có thể nói những hoạt động trưng bày mà Bảo tàng giới thiệu trong khuôn viên trưng bày trong nhà và ngoài trời đã thực sự đem lại cho du khách

sự thích thú, những cảm nhận mới mẻ về một không gian trưng bày mở, dành cho tất cả mọi đối tượng: nhà nghiên cứu, nhân dân cả nước, du khách quốc tế, học sịnh, sinh viên…

Qua quá trình tìm hiểu về hoạt động của Bảo tàng, thu thập tài liệu, trực tiếp tham gia vào tìm hiểu những sản phẩm văn hóa tại Bảo tàng em nhận thấy các sản phẩm ở đây rất đa dạng và phong phú, có thể kể đến như: tìm hiểu bảo tàng qua các ấn phẩm: sách giới thiệu do bảo tàng nghiên cứu và xuất bản, tờ rơi, tờ giới thiệu; các đĩa CD, băng video giới thiệu về bảo tàng,

về các khu trưng bày và hoạt động của Bảo tàng; đồ lưu niệm

Bên cạnh những sản phẩm văn hóa đa dạng và phong phú như vậy Bảo tàng cũng có một số dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách khi tới thăm quan như: hướng dẫn thăm quan tại Khu trưng bày trong nhà và khu trưng bày ngoài trời, thuyết minh cho du khách trong và ngoài nước, trình diễn các loại hình nghệ thuật truyền thống, tạo điều kiện cho việc quay phim chụp ảnh làm

tư liệu cho các bộ phim khoa học, những bài nghiên cứu, nhà hàng ẩm thực phục vụ nhu cầu của du khách tìm hiều các món ăn Việt Nam…

2.2.1 Các sản phẩm văn hóa

2.2.1.1 Các ấn phẩm

* Hoạt động quản lý

Luật xuất bản năm 2004 quy định: "Xuất bản phẩm là tác phẩm, tài liệu

về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn học, nghệ thuật được xuất bản bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu

số Việt Nam, tiếng nước ngoài và được thể hiện bằng hình ảnh, âm thanh trên các vật liệu, phương tiện kĩ thuật khác nhau Trong các loại hình Xuất bản phẩm, sách là bộ phận cơ bản nhất, phổ biến nhất và ra đời sớm nhất Hiện

Trang 22

nay, Xuất bản phẩm còn tồn tại ở nhiều dạng khác: băng, đĩa, sách, báo điện

tử "

Các ấn phẩm tại bảo tàng Dân tộc học Việt Nam rất phong phú và đa dạng, không chỉ đáp ứng nhu cầu của du khách trong nước mà kể cả những du khách nước ngoài cũng có thể tìm hiểu bởi các ấn phẩm này đã được xuất bản với nhiều những thứ tiếng phổ thông khác trên thế giới như: Việt, Anh, Pháp

Các ấn phẩm của Bảo tàng rất phong phú,bao gồm: sách, tờ rơi, catalogue, bưu ảnh Ở mỗi một dạng ấn phẩm Bảo tàng luôn chú trọng đầu tư

về chất lượng nội dung và hình ảnh

Đối với sách nghiên cứu, là tài liệu tổng hợp lại các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu tại Bảo tàng về các vấn đề dân tộc, văn hóa, cộng đồng cư dân, các ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài tới cộng đồng Hàng năm,

có rất nhiều những công trình nghiên cứu của Bảo tàng được đăng kí lên Viện Khoa học xã hội Khi tiến hành nghiên cứu các vấn đề đặt ra trong công trình nghiên cứu của mình các tác giả phải nghiên cứu trong một thời gian dài, khi các công trình này được nghiên cứu hoàn thành phải tiến hành báo cáo và nghiệm thu đề tài Các công trình này sẽ được in ấn trong cuốn tuyển tập

“Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”, đến nay

Cuốn tuyển tập này đã xuất bản tới tập VI, dự định triển khai trong năm 2011

sẽ cho ra đời tập VII

Catalogue, tờ rơi, bưu ảnh là những ấn phẩm phục vụ cho công tác giới thiệu về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, tin hoạt động của Bảo tàng của từng quý, tờ gấp phát miễn phí cho du khách khi họ thăm quan tại phòng bán vé, lễ tân

Các ấn phẩm này được lên kế hoạch nội dung dựa trên hoạt động của bảo tàng cũng như giới thiệu về toàn bộ tổng thể những khu trưng bày, thăm quan và hoạt động của bảo tàng nên các thông tin đưa ra sẽ do phòng Truyền thông đảm nhiệm

Trang 23

- Catalogue: Thông qua hình ảnh giới thiệu các khu trưng bày, tóm tắt các cuộc triển lãm, trưng bày chuyên đề

- Tờ rơi: phát cho du khách khi họ mua vé hướng dẫn họ thăm quan tại Bảo tàng, nêu thông tin hoạt động bảo tàng…

Các ấn phẩm trên được trưng bày trước lối vào của tòa nhà “Trống

Đồng” giới thiệu cho du khách tìm hiểu và nếu có nhu cầu có thể mua, tìm

đọc

* Kết quả đạt được

- Sách nghiên cứu

Với những công trình nghiên cứu mang tính dân tộc học và những vấn

đề nghiên cứu liên quan tới các dân tộc Việt Nam thì Bảo tàng Dân tộc học đã tiến hành in ấn và công bố các công trình nghiên cứu ấy nhằm giới thiệu những phát hiện mới hay sự nghiên cứu về những vấn đề thời sự tới công

chúng có thể kể đến rất nhiều những đầu sách như:

- “Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam” (tập I, II,

III, IV, V,VI)

- “Từ Dân tộc học đến Bảo tàng Dân tộc học – Con đường học tập và nghiên cứu” (Tập I, II)

- “Góp phần tìm hiểu Văn hóa Cơ tu”

- “Việt Nam - Hành trình của Con người, Tinh thần và Linh hồn”

- Catalogue

- “Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam - những ngôi nhà dân gian” (catalogue

khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng)

- “Đồ vải Thái ở tiểu vùng sông Mê Công: Tiếp nối và biến đổi” (Catalogue

về cuộc trưng bày trưng bày chuyên đề cùng tên)

- “Tranh thờ các dân tộc thiểu số phía bắc Việt Nam”

Trang 24

trong sinh hoạt và lao động: hình ảnh của các dân tộc Dao, Việt, Mường,

Chăm, Bana, Hmông… hay như bộ Bưu ảnh đồ vải Thái, giới thiệu những

mẫu vải dệt của người Thái

- Đĩa CD, băng video

Đây là hình thức giới thiệu thông qua hình ảnh ghi lại được về cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, những tục lệ, những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của một số dân tộc Thông qua những băng, đĩa này người xem có thể hiểu một cách gần như là sinh động và gần gũi với cuộc sống của người dân tộc đó nhất

- CD: Đồ vải Thái ở tiểu vùng sông Mê Công: Tiếp nối và biến đổi

- CD: Bản sắc La Ha - Hội nhập và Biến đổi

* Đánh giá

Với số lượng các ấn phẩm kể trên chúng ta có thể thấy Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam rất chú trọng tới việc đưa thông tin của mình tới khán giả,

có thể nhận thấy một số ưu điểm sau:

- Giới thiệu được hình ảnh, hoạt động của Bảo tàng

- Các hình thức ấn phẩm phong phú, đa dạng

Trang 25

- Giá cả hợp lý đối với các sản phẩm bưu ảnh, catalogue, băng, đĩa video

- Nội dung của các ấn phẩm giới thiệu được con người, cuộc sống của

54 dân tộc anh em Việt Nam

Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể không nói tới một số hạn chế nhất định khi lưu hành cũng như là tác động của các ấn phẩm này tới du khách chẳng hạn như: các tờ rơi gần như chỉ là lưu hành nội bộ hay chỉ là phát cho các du khách tới bảo tàng mà chưa quảng bá rộng rãi tới các đối tượng là các

du khách tiềm năng khác, Các ngôn ngữ được sử dụng trong Catalogue cần được phát triển hơn

2.2.1.2 Đồ lưu niệm

*Hoạt động quản lý

Các đồ lưu niệm được trưng bày và giới thiệu tại hai quầy lưu niệm của Bảo tàng tại khu vực trước cổng bảo tàng và trong khu trưng bày ngoài trời Ngoài ra, sản phẩm truyền thống tranh Dân gian Đông Hồ cũng được trưng bày và giới thiệu tại khuôn viên nhà Việt - Bảo tàng Ngoài trời Công ty tranh thêu XQ cũng phối hợp với Phòng Bảo tàng ngoài trời, thuê một gian của Khu nhà người Việt để trưng bày, giới thiệu và bán các sản phẩm tranh thêu

*Kết quả thực hiện

Có rất nhiều những sản phẩm thủ công, các nghề truyền thống của các dân tộc Thái, Việt, Mường,… các món quà tinh xảo làm bằng bàn tay khéo léo của người dân địa phương được giới thiệu tại Bảo tàng Dân tộc học Chúng ta có thể kể đến một số đồ lưu niệm như: Túi thổ cẩm, giấy dó tranh dân gian Đông Hồ, đồ gốm sứ, vải dệt của người dân tộc, các tượng gỗ, đánh dấu sách bằng những vật liệu như vải, da; áo được dệt bằng vải dân tộc…

Hiện nay trong Bảo tàng Việt Nam có hai khu trưng bày đồ lưu niệm nằm ở ngay phía trước cổng và trong khu trưng bày ngoài trời Các sản phẩm

ở đây đã giới thiệu được tay nghề của những người thợ thủ công: khéo léo và

Trang 26

tài hoa, họ đã cho ra đời những sản phẩm mang tính đặc trưng của Dân tộc mình, giới thiệu được văn hóa truyền thống cũng như sinh hoạt của dân tộc

Khu trưng bày tranh Dân gian Đông Hồ cũng giới thiệu cho du khách gần 100 loại tranh dân gian truyền thống, mô tả đời sống sinh hoạt, lễ hội và

những mong ước của người xưa, có thể kể đến như: “Chọi trâu”, “Hứng

dừa”, “Phú Quý”, “Đại Cát”, “Đánh ghen”… Mỗi một bức tranh có giá bán

là 15.000đồng/ bức

Khu trưng bày các sản phẩm tranh thêu XQ cũng thu hút được sự quan tâm của du khách về nghề truyền thống thêu tay, các sản phẩm thủ công tinh xảo có giá bán khá đắt, cho thấy được giá trị tinh hoa của nghề truyền thống

cũng như là làm nên thương hiệu Tranh thêu XQ

*Đánh giá

Các sản phẩm lưu niệm tại Bảo tàng cũng hết sức phong phú Không chỉ giới thiệu cho du khách những nét tinh hoa trong lao động và tài năng, sự khéo léo của người thợ thủ công, những nghệ nhân mà còn cho thấy được phong tục, tập quán của các dân tộc, cách thức sản xuất…

Chẳng hạn như tranh dân gian Đông Hồ đã thể hiện được đời sống của người dân Đồng Bằng Bắc bộ xưa, nền văn minh lúa nước, những sinh hoạt lễ tết, hội hè…Đó là nét đẹp và giá trị văn hóa cần lưu giữ, giá của những bức tranh truyền thống lại rất phù hợp với du khách khi họ muốn mua về làm đồ trang trí hay tặng cho bạn bè, người thân

Các sản phẩm lưu niệm được giới thiệu và bày bán tại quầy lưu niệm cũng hết sức phong phú đa dạng, giới thiệu được văn hóa, phong tục của các dân tộc khác trong cộng đồng dân tộc Việt Nam

Tuy nhiên có thể nhận thấy, có một số mặt hàng lưu niệm có giá cả cao, không phù hợp với túi tiền của các đại đa số khách du lịch như: tranh thêu XQ, các con giống bằng gốm bày bán tại quầy lưu niệm…Việc giới thiệu và quảng

bá các sản phẩm cũng chưa có cách thức cụ thể khiến cho hiệu quả không cao như tiềm năng vốn có của Bảo tàng

Trang 27

2.2.2 Các dịch vụ văn hóa

Với những sản phẩm văn hóa kể trên chúng ta không thể không kể đến những dịch vụ văn hóa hiện có tại bảo tàng, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của du khách

2.2.2.1 Hướng dẫn thăm quan tại khu trưng bày Tòa nhà Trống Đồng

Trưng bày thường xuyên là hoạt động cần thiết của bất cứ bảo tàng nào Các trưng bày thường xuyên phải đảm bảo chất lượng cao, có quy chuẩn rõ ràng; cập nhật, phù hợp với các xu thế hiện đại trong quan niệm và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới; cung cấp nhiều thông tin; song/đa ngữ với chất lượng cao.

Trong toà nhà Trống đồng 2 tầng, phần lớn diện tích bố trí trưng bày

thường xuyên về các hiện vật sưu tầm của 54 dân tộc Việt Nam, bên cạnh đó

có không gian để tổ chức các trưng bày chuyên đề Bố cục phổ biến của mỗi phần nội dung đều có trưng bày ngay bên lối đi, có các tủ kính trưng bày chính và có tái tạo

Phần trưng bày thường xuyên tại tòa nhà Trống đồng này được coi là một trong những điểm mới của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Không chỉ đơn thuần là trưng bày những hiện vật tới du khách mà bên cạnh đó còn là sự giới thiệu một cách sinh động trực quan tới cảm nhận của người xem

Các hiện vật trưng bày được phân chia theo khu vực rõ ràng, người xem có thể lần lượt đi từ các nhóm ngôn ngữ này tới các nhóm ngôn ngữ khác với rất nhiều những hiện vật tiêu biểu, không chỉ là những cổ vật đắt tiền, quý hiếm mà chủ yếu là nhiều thứ bình thường trong đời sống hàng ngày của người dân: con dao, cái gùi, chiếc khố, ống sáo… Chúng phản ánh mọi khía cạnh văn hóa vật thể cũng như phi vật thể của cộng đồng cư dân, thể hiện tiêu biểu mọi mặt cuộc sống và sáng tạo văn hoá của họ Có 54 bộ sưu tập về từng dân tộc như: về người Thái, về người Hmông, về người Gia Rai…Từ đó có thể hình thành nhiều sưu tập theo các tiêu chí sắp xếp khác nhau như: theo

Trang 28

công dụng có các sưu tập về y phục, các đồ trang sức, về nông cụ, về nhạc cụ…; theo chức năng có các sưu tập hiện vật về tôn giáo-tín ngưỡng, cưới xin,

ma chay hay nhiều hoạt động tinh thần và xã hội… Trên cơ sở đó Bảo tàng tổ chức trưng bày, xuất bản sách ảnh theo các dạng thức sưu tập khác nhau, bổ ích và lý thú đối với mọi đối tượng, mọi trình độ học vấn

Bảo tàng Dân tộc học lưu giữ 10.000 hiện vật, 15.000 ảnh đen trắng, hàng trăm băng video, băng cát-sét phản ánh mọi mặt đời sống, sinh hoạt, phong tục, tập quán của 54 dân tộc trên khắp đất nước Việt Nam

Bảo tàng có trang thiết bị hoàn chỉnh và hiện đại, trưng bày theo cách tiếp cận bảo tàng tiên tiến hiện nay Kèm hiện vật trưng bày là các etikét, bài viết, bài thuyết minh ngắn gọn bằng ba ngôn ngữ Việt, Anh và Pháp Bảo tàng

có chương trình giáo dục bảo tàng quy mô, thực hiện chức năng giáo dục văn hoá Kèm theo là Phòng Khám phá âm thanh và hình ảnh, Phòng Nghe – nhìn

Khu trưng bày thường xuyên là hoạt động của Phòng Trưng bày cùng với sự tiến hành kiểm kê giám sát của phòng Bảo quản Các hiện vật trưng bày được lựa chọn sao cho phù hợp với các tiêu chí của từng dân tộc cũng như là phải thể hiện được nét độc đáo, mới lạ

Hoạt động hướng dẫn thăm quan trong khu nhà được tiến hành dưới các hoạt động của Phòng giáo dục, với các nhân viên hướng dẫn, có trình độ chuyên môn về các dân tộc và am hiểu về cách thức trưng bày trong khu trưng bày thường xuyên Đây là một hoạt động cần thiết bởi du khách có thể

tự tìm hiểu khám phá nhưng thông tin chính xác về các hiện vật trưng bày cũng như là những điểm mới, những nét độc đáo thì phải thông qua nhân viên hướng dẫn thì du khách mới tiếp nhận và hiểu rõ bản chất được

Riêng đối với trưng bày chuyên đề tại bảo tàng, đòi hỏi nhân viên có

am hiểu chuyên sâu về nội dung của chuyên đề được thực hiện, phải hướng dẫn du khách, thuyết minh cho du khách về nội dung, hình thức trưng bày, không gian trưng bày, các bên tham gia và ý nghĩa của cuộc trưng bày chuyên

đề đó

Trang 29

Ngoài ra, hàng năm bảo tàng tiếp nhận các sinh viên tại các trường Đại học về Văn hóa, Xã hội, Lịch sử, Bảo tàng, Ngôn ngữ nên đáp ứng được một phần nào về nhu cầu hướng dẫn thuyết minh tiếng Việt khi khách du lịch đông

Các hoạt động hướng dẫn và thuyết minh có thể được đăng kí trước tại quầy lễ tân hay khu vực bán vé nếu như đi theo đoàn đông, các khách lẻ cũng

có thể đăng kí trực tiếp tại hai khu vực nói trên Dịch vụ thuyết minh trong khu trưng bày trong nhà có các nhân viên thuyết minh bằng tiếng Việt, Pháp, Anh, do những nhân viên phòng giáo dục đảm nhiệm

Giá cho dịch vụ thuyết minh: - Tiếng Việt: 30.000 đồng/lượt, tiếng Anh: 50.000 đồng/lượt , tiếng Pháp: 50.000 đồng/lượt

* Kết quả thực hiện

Khi tiến hành hướng dẫn khách thăm quan thì các nhân viên sẽ hướng dẫn theo từng khu vực trưng bày của tòa nhà Trống Đồng, cụ thể là : khu trưng bày trong nhà Trống Đồng gồm hai tầng, bố cục phổ biến của mỗi phần nội dung đều có trưng bày ngay bên lối đi, có các tủ kính trưng bày chính và

có tái tạo Hiện tại, trưng bày thường xuyên trong toà nhà này được chia làm

từ lâu đời Nghề làm nón ở làng Chuông cũng như nghề đan đó ở làng Thủ Sỹ được tái tạo không chỉ thể hiện sự tinh tế, khéo léo, cần mẫn trong các nghề thủ công này mà còn chứng minh làng ở đồng bằng Bắc Bộ từ lâu đã có mối quan hệ kinh tế và xã hội rộng rãi trong việc làm ra sản phẩm cũng như tiêu thụ sản phẩm Cảnh làm nón và chợ bán nón, cảnh làm đó và vận chuyển đó

Trang 30

đi bán được thể hiện trên màn hình Một số nét văn hoá cổ truyền người Việt được giới thiệu trong 11 tủ kính trưng bày với các chủ đề: Múa rối nước, nhạc

cụ, tín ngưỡng thờ Mẫu, các đồ chơi dân gian của trẻ em, thờ Tổ nghề hát bội Một số nghề thủ công tiêu biểu như nghề đúc đồng, chạm khắc gỗ, nghề sơn, nghề làm tranh Đông Hồ được giới thiệu trong các tủ kính Người xem vừa được thấy một số sản phẩm của nghề thủ công, vừa được biết công cụ, dụng

cụ và quy trình sản xuất ra các sản phẩm ấy Thờ cúng tổ tiên, nét văn hoá tiêu biểu của người Việt được thể hiện qua trưng bày bàn thờ tổ tiên ở một gia đình nông dân

+ Dân tộc Thổ

Người Thổ là một cộng đồng thuộc các nhóm Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai - Ly Hà, Tày Poọng Dân số khoảng 51.000 người Họ cư trú ở miền Tây tỉnh Nghệ An và Thanh Hoá Tuỳ từng nơi, họ sống chủ yếu bằng nương rẫy hay bằng ruộng nước

Hiện vật trưng bày là những vật dụng hết sức gần gũi với đời sống của dân tộc này, chẳng hạn như võng gai, chiếc cối gỗ hình thuyền, trang phục thường ngày của người phụ nữ…

+ Dân tộc Chứt

Cộng đồng Chứt gồm có 5 nhóm: Sách, Mày, Rục, A-rem, Mã Liềng Dân số khoảng 3.000 người Họ cư trú rải rác trong các thung lũng hẹp của dải Trường Sơn thuộc các huyện Minh Hoá, Tuyên Hoá, Bố Trạch (Quảng Bình), một số ít ở Hương Khê (Hà Tĩnh)

Các hiện vật trưng bày ở đây cũng là những vật dụng của gia đình, đời sống sinh hoạt thường nhật của người dân, những vật dụng làm nông và chăn nuôi gia súc

+ Dân tộc Mường

Dân tộc Mường phân bố chủ yếu ở tỉnh Hoà Bình (trong đó nổi tiếng là

4 Mường: Bi, Vang, Thành, Động) và các tỉnh Thanh Hoá, Phú Thọ, Sơn La

Trang 31

Các hiện vật trong khu trưng bày là các công cụ liên quan tới: chăn nuôi gia súc, gia cầm, săn bắn, đánh cá, hái lượm và làm thủ công nghiệp của

họ

- Chăm, Hoa, Khơ me

Người Chăm thuộc ngữ hệ Nam Đảo, người Hoa nói ngôn ngữ Hán, người Khơ Me thuộc ngữ hệ Nam Á Mỗi dân tộc được giới thiệu trên 1 panô riêng và có thêm 1 panô thứ tư về kiến trúc chùa tháp và đạo Phật Tiểu thừa Một số nét văn hoá của mỗi dân tộc được giới thiệu thích hợp Với người Chăm là tôn giáo, nghề dệt, nghề gốm, hình thức vận chuyển bằng xe bò Với người Hoa là đám cưới, hội múa lân Với người Khơ Me là tôn giáo, chữ viết, nghề nhuộm vải, lụa và nông cụ Bên cạnh người Việt cộng cư, văn hoá của 3 dân tộc này giữ vai trò quan trọng và hiện diện tập trung ở vùng ven biển nam Trung Bộ và ở Nam Bộ

- Ngữ hệ Nam Đảo ở miền núi

Tại cao nguyên miền Trung có 4 dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Đảo: Gia Rai, Ê Đê, Raglai và Chu Ru, tổng số khoảng trên 300.000 người Đây là những dân tộc đang bảo lưu khá đậm nét những truyền thống văn hoá mẫu hệ

và những dấu tích của văn hoá biển Sự phân bố của họ nối liền với địa bàn cư trú của người Chăm, tạo thành vùng văn hoá Nam Đảo ở Đông Dương trong lịch sử Những dân tộc này có mặt ở đây từ rất sớm, nhưng chắc chắn là sau những cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me và trước sự hình thành Vương quốc Chăm-pa

Những hiện vật trưng bày là về cuộc sống làm nông với những nông cụ đơn sơ Trang phục của các dân tộc cũng được giới thiệu khá chi tiết, gồm các tấm vải, tấm chăn được dệt từ bàn tay khéo leo của người phụ nữ

- Nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me ở miền núi

+ Nhóm Môn - Khơ Me ở Trường Sơn - Tây Nguyên

Ở Trường Sơn - Tây Nguyên, có 15 dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn

- Khơ me Với dân số chung khoảng 730.000 người, họ cư trú chủ yếu trong

Trang 32

một vùng lịch sử văn hoá từ tây Quảng Bình đến miền đông Nam Bộ Họ có truyền thống canh tác lúa rẫy theo hình thức luân khoảnh Một số nơi có ruộng sình, canh tác theo hình thức “trâu quần và sạ giống” Ở miền trung và nam Tây Nguyên, phổ biến hình thức gia đình mẫu hệ Các dân tộc ở bắc Trường Sơn theo chế độ gia đình phụ hệ Ngoài ra, ở một số nơi còn gặp những trường hợp không thuộc hẳn về hình thức nào

Các hiện vật thể hiện vốn văn hoá cổ truyền đặc sắc và phong phú biểu hiện ở các sử thi, tập quán pháp ca, truyện cổ ở lễ hội đâm trâu, nghi lễ đoạn tang ở kiến trúc nhà dài, nhà rông, nhà mồ và nghệ thuật cồng chiêng Bên ngoài các tủ kính còn có hiện vật để trên các giá đỡ và treo ở tường Văn hoá truyền thống của các cư dân này đa dạng, có nhiều nét rất đặc sắc Người ta còn thấy được những dấu ấn của văn hoá Đông Sơn, văn hoá Sa Huỳnh trên miền Thượng Mặc dù cách bố trí trưng bày có tạo nên sự phân cách nhất định giữa các tộc người ở miền Bắc và các tộc người ở Trường Sơn - Tây Nguyên nhưng vẫn dễ nhận ra những điểm thống nhất, tương đồng bên cạnh các đặc điểm tộc người và khu vực Các chủ đề chính ở đây là: trang phục phụ nữ Khơ Mú, Mảng, các vật dụng hàng ngày của các dân tộc Kháng, Xinh Mun, Ơ Đu , vỏ bầu trong đời sống, vật dụng bằng vỏ cây, các loại gùi, nghề dệt vải, nhạc cụ Có 3 tủ giới thiệu về từng tiểu vùng: bắc Trường Sơn, bắc Tây Nguyên, nam Tây Nguyên và đông Nam Bộ Có riêng một tủ lớn giới thiệu về người Xơ Đăng Lễ hội lớn nhất của các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên là lễ hội đâm trâu cúng thần Do đó, lễ hội đâm trâu của người Ba Na được lấy làm chủ đề tái tạo ở đây và được thể hiện trên băng video

Trang 33

Các hiện vật trưng bày tái hiện cuộc sống canh tác lúa rẫy, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nghề đan mây tre, trang phục…

- Nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao

+ Dân tộc Dao

Người Dao có nhiều nhóm địa phương với sắc thái riêng thể hiện trong ngôn ngữ, trang phục nữ và phong tục, tập quán Họ có mặt ở Việt Nam khoảng từ thế kỷ XIII, cư trú ở hầu hết các tỉnh miền núi, trung du Bắc Bộ

+ Dân tộc Hmông

Người Hmông có mặt ở Việt Nam khoảng thế kỷ XVIII Hầu hết địa bàn sinh sống của họ là vùng cao biên giới, có núi non hiểm trở, đầu nguồn các con sông lớn, khí hậu thuận lợi cho việc phát triển một số loại cây đặc sản, chăn nuôi gia súc nhưng ít đất nông nghiệp

Trang 34

Hiện vật trưng bày của hai dân tộc này mang đặc trưng của cuộc sống hằng ngày như: các hiện vật thể hiện một số nghề thủ công như rèn, dệt, làm giấy của người Dao; dụng cụ khoan nòng súng kíp và trang phục độc đáo của người Hmông

- Ngữ hệ Thái - Ka Đai

+ Nhóm ngôn ngữ Ka Đai

Nhóm ngôn ngữ Ka Đai gồm có 4 dân tộc: La Chí, La Ha, Cờ Lao và

Pu Péo Họ cư trú ở những vùng núi cao hẻo lánh giáp biên giới phía Bắc thuộc các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang Trong ngôn ngữ còn lại nhiều dấu vết biểu hiện mối quan hệ giữa những cư dân Đông Nam á lục địa

và hải đảo

Hiện vật trưng bày là công cụ sinh hoạt hằng ngày và y phục đặc trưng của họ:

y phục có màu đen hay xanh lam do nhuộm chàm hoặc màu sặc sỡ do ghép vải mà thành

+ Nhóm ngôn ngữ Tày – Thái

Cộng đồng ngôn ngữ Tày - Thái có 8 dân tộc với dân số 3,1 triệu người, chiếm 4,8% dân số cả nước Các dân tộc Tày, Nùng, Sán Chay, Giáy, Bố Y sinh sống ở miền đông bắc Bắc bộ Còn các dân tộc Thái, Lào, Lự phân bố từ miền Tây Bắc đến miền Tây Thanh Hoá

Hiện vật trưng bày là những khung dệt vải, dệt thổ cẩm, các hiện vật thể hiện kĩ thuật canh tác lúa nước, thâm canh: cày, cuốc…

- Khu Giao lưu văn hóa

Bảo tàng tái tạo lại chủ đề phiên chợ vùng cao biên giới phía Bắc, cụ thể là tái hiện lại phiên chợ Đồng Văn ở Hà Giang với các hoạt động diễn ra trong phiên chợ: mua, bán trao đổi hàng hóa

- Khu trưng bày chuyên đề

Trưng bày chuyên đề giữ vai trò rất quan trọng trong mỗi bảo tàng, là một trong những hoạt động then chốt của bảo tàng Nếu như trưng bày thường xuyên chỉ có thể giới thiệu, nêu vấn đề một cách chung chung, điểm xuyết thì

Trang 35

trưng bày chuyên đề, tạm thời là dịp để bảo tàng có thể khai thác một khía cạnh chuyên sâu nào đó mà trưng bày thường xuyên không đáp ứng được

Mỗi một trưng bày chuyên đề thực sự sẽ đem lại cho người xem cảm nhận một cách chân thực và sâu sắc hơn với nội dung được đề cập trong trưng bày Có rất nhiều những cuộc trưng bày chuyên đề lớn nhỏ đã được tổ chức tại Bảo tàng Dân tộc Việt Nam và thực sự đó là sự đa dạng và nhiều màu sắc

ở tất cả các lĩnh vực của cuộc sống và xã hội

Hiện nay, tại khu trưng bày chuyên đề của tòa nhà đang diễn ra trưng

bày: “Một thoáng Đông Nam Á”, hướng tới việc mở cửa khu trưng bày thứ

ba của Bảo tàng trong tòa nhà Cánh Diều, giới thiệu về các dân tộc trên thế

giới, chủ yếu là thuộc khu vực Đông Nam Á Trưng bày ‘Nỗi đau và hy vọng

– 20 năm HIV/AIDS ở Việt Nam, hướng tới một cái nhìn đầy chia sẻ và cảm

thông của cộng đồng tới những nạn nhân của HIV/AIDS

Số lượng khách trong năm 2010 là hơn 400.000 lượt khách, du khách

có nhu cầu tự tìm hiểu khám phá cao và trong số những lượt khách kể trên thì khách thuyết minh bằng tiếng Việt chiếm 30%, khách quốc tế là rất ít do khách quốc tế tới bảo tàng thường theo đoàn và đã có hướng dẫn viên đi cùng, còn lại là chủ yếu khách đi với số lượng đoàn nhỏ hay khách lẻ mới cần hướng dẫn và thuyết minh

* Đánh giá

Khu trưng bày trong tòa nhà Trống Đồng của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam giới thiệu được tới du khách về văn hóa, cuộc sống của các dân tộc Việt Nam, với hiện vật phong phú và đa dạng đã góp phần đưa không gian trưng bày trở nên hấp dẫn và có nhiều điểm thu hút khách Các nhận xét của

du khách về Bảo tàng là rất tốt, đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu của họ

Nhân viên hướng dẫn nhiệt tình, có kiến thức chuyên môn về dân tộc

và am hiểu cách thức trưng bày để giới thiệu tới du khách

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt ưu điểm của việc hướng dẫn khách thăm quan nên trên chúng ta vẫn nhận thấy một số những hạn chế như:

Trang 36

- Số lượng nhân viên và hướng dẫn của bảo tàng chưa đáp ứng được nhu cầu về số lượng trong mùa du lịch cao điểm

- Thuyết minh khách nước ngoài: tiếng Trung, Nhật, Hàn, Tây Ban Nha còn thiếu

2.2.2.2 Hướng dẫn thăm quan về các ngôi nhà tại khu trưng bày ngoài trời

và đưa cho nhân viên trực các ngôi nhà để họ tiến hành hướng dẫn và thuyết minh

Mỗi một nhân viên trực tại các ngôi nhà có nhiệm vụ bảo quản, trông

và đảm bảo các hiện vật nguyên vẹn, hướng dẫn khách thăm quan, thuyết minh cho khách khi có yêu cầu Họ có chuyên môn về lĩnh vực bảo tàng, có kiến thức am hiểu về các ngôi nhà mà họ trực cũng như về đặc điểm của các dân tộc và tổng thể khuôn viên trưng bày ngoài trời để hướng dẫn cho du khách thăm quan

Thuyết minh cho các ngôi nhà tại khu trưng bày ngoài trời là

30.000đồng/phiếu, thuyết minh lần lượt tại các ngôi nhà

* Kết quả hoạt động

Khi tiến hành hướng dẫn khách thăm quan, mỗi một nhân viên đều hướng dẫn về tổng thể khuôn viên của khu trưng bày ngoài trời và giới thiệu

về khu nhà mình trực và giới thiệu thứ tự thăm quan của ngôi nhà tiếp theo

Không gian trưng bày ngoài trời rộng khoảng 2 ha, giới thiệu những phong cách kiến trúc đặc trưng của một số dân tộc ở Việt Nam: Nhà dài người

Ê Đê, nhà sàn người Tày, nhà nửa sàn nửa trệt của người Dao, nhà lợp bằng

Trang 37

gỗ pơ-mu của người Hmông, nhà mồ người Gia Rai, nhà mồ người Cơ Tu, nhà rông người Ba Na, khuôn viên cư trú của người Chăm, nhà trình tường của người Hà Nhì, khuôn viên cư trú của người Việt Phía trước nhà người Việt có thủy đình là nơi trình diễn múa rối nước của các phường rối đến từ những làng quê ở Nam Định, Hải Dương, Hà Nội Ngoài ra, cũng trong khu trưng bày này, còn có cối giã gạo người Dao dùng sức nước, lò rèn của người Nùng, lò đúc gang của người Hmông, ghe ngo của người Khơ Me và một số kiểu thuyền đưa về từ những vùng miền khác nhau Không chỉ trưng bày như

sự bổ sung, tiếp nối với phần trưng bày trong toà nhà "Trống đồng" về văn hoá và cuộc sống của các tộc ngườiở Việt Nam, khu ngoài trời của Bảo tàng còn như một công viên với suối nước cùng rất nhiều thảm cỏ, cây xanh, có những loại cây đưa về từ các địa phương và nhiều loại cây thuốc

Mỗi một ngôi nhà trong khu trưng bày ngoài trời đều có một nhân viên trực có nhiệm vụ bảo quản và giới thiệu cho du khách thăm quan về đặc điểm của ngôi nhà, những giá trị lịch sử, văn hóa mang nét đặc trưng của mỗi một dân tộc

Nhà người Hà Nhì

Ngôi nhà được làm theo mẫu nhà của anh Tráng A Lù, người Hà Nhì ở thôn Lao Chải 1, xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Tráng A Lù là con thứ 6, cũng là con út trong gia đình Anh cưới vợ năm 1986, đến năm 1987 sinh con đầu lòng và được cha mẹ làm nhà cho ra ở riêng năm 1988 Ngôi nhà được đắp bằng đất để có thể chống lại cái lạnh, được gọi là nhà trình tường

Ngôi nhà được dựng lại tại Bảo tàng vào 2 tháng 3 và tháng 4 năm

2004 tại khu trưng bày ngoài trời

Đến thăm quan tìm hiểu ngôi nhà chúng ta sẽ thấy được cuộc sống của người dân Hà Nhì, về phong tục dựng nhà, phong tục trong sinh hoạt cũng như những nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa của họ

Ngày đăng: 05/06/2021, 00:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w