Luận văn, khóa luận, kinh tế, quản trị, thương mại
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút khách du lịch quốc tế của
Di sản văn hóa Phi vật thể
“Nhã nhạc Cung đình Huế”
HOÀNG THỊ DIỄM PHƯƠNG
Trang 2
Khóa học 2007 - 2011
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút khách du lịch quốc tế của
Di sản văn hóa Phi vật thể
“Nhã nhạc Cung đình Huế”
Sinh viên thực hiện: Giáo viên hướng dẫn :
Lớp: K41 QTKD Du lịch
Niên khóa: 2007 -2011
Trang 3Huế, 05-2011
Lời Cảm Ơn
Quãng thời gian trên giảng đường Đại học là thời gian quan trọng và đặc biệt có ý nghĩa đối với mỗi chúng ta, để mỗi sinh viên có thể trang bị cho mình những hành trang kiến thức chuẩn bị bước vào đời.
Và tất cả những kiến thức học được bốn năm qua, những kinh nghiệm có được sau một thời gian thực tập tại Sở văn hóa thể thao
và du lịch Tỉnh Thừa Thiên Huế đã hội tụ lại đầy đủ trong Khóa luận tốt nghiệp Đại học này.
Để hoàn thành tốt Khóa luận tốt nghiệp, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Quý thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế Huế.
Quý cô chú và các anh chị ở Sở văn hóa thể thao và du lịch Tỉnh Thừa Thiên Huế
Các bạn sinh viên ở lớp K41 – QTKD du lịch.
Và đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn đến cô giáo: TS Nguyễn Thị Minh Hòa, người đã tận tình hướng dẫn để tôi có thể hoàn thành tốt Khóa luận tốt nghiệp của mình.
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên Hoàng Thị Diễm Phương
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 01
1 Tính cấp thiết của đề tài 01
2 Mục tiêu nghiên cứu 03
2.1 Mục tiêu chung 03
2.2 Mục tiêu cụ thể 03
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 03
4 Phương pháp nghiên cứu 03
4.1 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử 03
4.2 Phương pháp chuyên gia 04
4.3 Phương pháp thu thập tài liệu, điều tra và phỏng vấn 04
4.3.1 Thu thập số liệu thứ cấp 04
4.3.2 Thu thập số liệu sơ cấp 04
4.3.3 Phương pháp thống kê tổng hợp và phân tích bằng phần mềm SPSS 04
5 Kết cấu của khóa luận 05
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 06
Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 06
1.1 Cơ sở lý luận 06
1.1.1 Khái niệm du lịch và khách du lịch 06
1.1.1.1 Khái niệm du lịch 06
1.1.1.2 Khách du lịch 06
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, sản phẩm du lịch .08
1.1.2.1 Khái niệm sản phẩm du lịch 08
1.1.2.2 Đặc điểm sản phẩm du lịch 08
Trang 51.1.3.1 Khái niệm nhu cầu du lịch 08
1.1.3.2 Động cơ du lịch 09
1.1.3.3 Thị trường du lịch 10
1.1.4 Tính thời vụ trong kinh doanh du lịch 13
1.1.5 Di sản văn hóa thế giới 15
1.1.6 Vai trò và ý nghĩa của hoạt động thu hút khách 16
1.1.6.1 Vai trò 16
1.1.6.2 Ý nghĩa 17
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 17
1.2.1 Vài nét về hoạt động thu hút khách du lịch 17
1.2.1.1 Hoạt động thu hút khách du lịch của Việt Nam 17
1.2.1.2 Hoạt động thu hút khách du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế 20
Chương 2: Đánh giá khả năng thu hút khách du lịch quốc tế của Di sản Văn hóa phi vật thể “Nhã nhạc Cung đình Huế” 22
2.1 Tổng quan về di sản Văn hóa Phi vật thể “Nhã nhạc Cung đình Huế” 22
2.1.1 Qúa trình hình thành, phát triển và con đường trở thành Di sản văn hóa Phi vật thể của “Nhã nhạc Cung đình Huế” 22
2.1.1.1 Giới thiệu về “Nhã nhạc Cung đình Huế” 22
2.1.1.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của “Nhã nhạc Cung đình Huế” 25
2.1.1.3 Giới thiệu về nhà hát Duyệt Thị Đường 32
2.1.1.4 Sơ lược công tác bảo tồn và hợp tác quốc tế trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị của Di sản Văn hóa phi vật thể “Nhã nhạc Cung đình Huế” 34
2.1.2 Vai trò của Di sản Văn hóa phi vật thể “Nhã nhạc Cung đình Huế” 36
2.1.3 Tình hình khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế giai đoạn 2008 – 2010 36
2.1.4 Kết quả kinh doanh của “Nhã nhạc Cung đình Huế” 38
2.1.4.1 Biến động lượt vé khách quốc tế thưởng thức “Nhã nhạc Cung đình Huế” tại nhà hát Duyệt Thị Đường và Minh Khiêm Đường giai đoạn (2008-2010) 38
2.1.4.2 Kết quả doanh thu lượt vé xem” Nhã nhạc Cung đình Huế” của khách quốc tế giai đoạn (2008-2010).) 42
Trang 62.2 Đánh giá hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế của Di sản Văn hóa Phi
vật thể “Nhã nhạc Cung đình Huế” 43
2.2.1 Sơ lược về quá trình điều tra 43
2.2.1.1 Quy mô mẫu 43
2.2.2.1 Phương pháp chọn mẫu 43
2.2.2 Thông tin về đối tượng điều tra 44
2.2.2.1 Về giới tính 44
2.2.2.2 Về độ tuổi 44
2.2.2.3 Về nghề nghiệp 45
2.2.2.4 Về quốc tịch 46
2.2.2.5 Về mặt trình độ 47
2.2.3 Thông tin về chuyến đi của khách du lịch quốc tế 48
2.2.3.1 Số lần đến Huế 48
2.2.3.2 Hình thức đi du lịch 49
2.2.3.3 Mục đích đi du lịch 50
2.2.4 Phân tích đánh giá các chỉ tiêu về “Nhã nhạc Cung đình Huế” 51
2.2.4.1 Kết qủa kiểm định One Sample T Test về các tiêu chí của “Nhã nhạc Cung đình Huế” 51
2.2.4.2 Phân tích đánh giá về số lượng khách biết Di sản văn hóa Phi vật thể “Nhã nhạc Cung đình Huế” 55
2.2.4.3 Phân tích đánh giá về nguồn thông tin của Di sản văn hóa Phi vật thể “Nhã nhạc Cung đình Huế” 58
2.2.4.4 Kết qủa kiểm định sự bằng nhau phương sai các nhóm - Test of Homogeneity of Variances các tiêu chí của “Nhã nhạc Cung đình Huế” 59
2.2.4.5 Phân tích đánh giá của khách quốc tế về giá trị của Di sản văn hóa Phi vật thể “Nhã nhạc cung đình Huế” 60
2.2.4.6 Phân tích đánh giá về số lượng khách quốc tế đã thưởng thức “Nhã nhạc cung đình Huế” 62
Trang 72.2.4.8 Phân tích đánh giá của khách quốc tế về mức độ thẩm mỹ của khu vực
biểu diễn Nhã nhạc 69
2.2.4.9 Phân tích đánh giá của khách quốc tế về chất lượng của chương trình biểu diễn Nhã nhạc 71
2.2.4.10 Đánh giá chung của khách quốc tế về sự hấp dẫn của “Nhã nhạc Cung đình Huế” 73
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút khách du lịch quốc tế của Di sản Văn hóa Phi vật thể “Nhã nhạc Cung đình Huế” 76
3.1 Định hướng phát triển của “Nhã nhạc Cung đình Huế” trong giai đoạn 2010 - 2020 76
3.1.1 Định hướng trước mắt 76
3.1.2 Định hướng lâu dài 77
3.2 Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức của “Nhã nhạc Cung đình Huế” khi tiến hành hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế 78
3.2.1 Những thuận lợi 78
3.2.2 Những khó khăn 80
3.2.3 Những cơ hội 80
3.2.4 Những thách thức 81
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút khách du lịch quốc tế của Di sản Văn hóa Phi vật thể “Nhã nhạc Cung đình Huế” 82
3.3.1 Tăng cường công tác xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá 82
3.3.2 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 84
3.3.3 Phục hồi môi trường diễn xướng nguyên thủy của “Nhã nhạc Cung đình Huế” 85
3.3.4 Tăng cường công tác bảo tồn và phát huy giá trị của “Nhã nhạc Cung đình Huế” 85
3.4.5 Giải pháp khác 86
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
3.1 Kết luận 88
Trang 83.2 Kiến nghị 90
3.2.1 Đối với Sở văn hóa thể thao & du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế 90
3.2.2 Đối với Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế 91
3.2.3 Đối với nhà hát Nghệ thuật truyền thống Cung đình Huế 91
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
UNESSCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc
TT BTDTCĐ Huế Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế
NHNTTTCĐ Huế Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Cung đình Huế
Tỉnh TT – Huế Tỉnh Thừa Thiên Huế
UNWTO Tổ chức du lịch thế giới
Bộ VHTTDL Bộ Văn hóa thể thao Du lịch
ITE Hội chợ triển lãm quốc tế Du lịch
Sở VHTT& DL Sở văn hóa thể thao & du lịch
MICES Loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự
kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ.
Bảng 1: Tình hình khách quốc tế đến TT – Huế giai đoạn 2008 – 2010
Bảng 2: Tổng lượt vé của khách quốc tế giai đoạn 2008 – 2010
Bảng 3: Biến động lượt vé khách quốc tế của nhà hát theo các tháng giai đoạn 2008 –
2010
Bảng 4: Kết quả doanh thu biểu diễn “Nhã nhạc Cung đình Huế” của khách quốc tế giai
đoạn 2008 – 2010
Bảng 5: Quốc tịch của đối tượng điều tra.
Bảng 6: Kết quả kiểm định đánh giá của khách quốc tế về mức độ hấp dẫn các giá trị của
Nhã nhạc với giá trị kiểm định = 4
Bảng 7: Kết qủa kiểm định One-Sample T Test với giá trị kiểm định = 4
Bảng 8: Kết quả kiểm định đánh giá của khách quốc tế về mức độ hấp dẫn các giá trị của
Nhã nhạc
Bảng 9: Kết qủa kiểm định One-Sample T Test với giá trị kiểm định = 5
Bảng 10: Số khách biết Di sản văn hóa Phi vật thể “Nhã nhạc Cung đình Huế”.
Bảng 11: Tổng hợp thông tin mẫu điều tra về khách biết Nhã nhạc.
Bảng 12: Kiểm định sự bằng nhau phương sai các nhóm các chỉ tiêu của
“Nhã nhạc Cung đình Huế”
Bảng 13: Đánh giá của khách về các giá trị của “Nhã nhạc cung đình Huế”.
Bảng 14: Số khách đã thưởng thức “Nhã nhạc Cung đình Huế”.
Bảng 15: Tổng hợp thông tin mẫu điều tra về khách đã thưởng thức Nhã nhạc.
Bảng 16: Đánh giá của khách về trang phục của các nhạc công.
Bảng 17: Đánh giá của khách về mức độ thẩm mỹ của khu vực biểu diễn.
Trang 11Bảng 19: Đánh giá chung của khách về sự hấp dẫn của “Nhã nhạc Cung đình Huế” Bảng 20: Khả năng thưởng thức lại “Nhã nhạc Cung đình Huế”.
Bảng 21: Khả năng khách du lịch sẽ giới thiệu với bạn bè về “Nhã nhạc Cung đình Huế”
sau khi thưởng thức
Biểu đồ 1: Biến động lượt vé của nhà hát theo các tháng, giai đoạn 2008 – 2010.
Biểu đồ 2: Chỉ số thời vụ lượt vé của nhà hát giai đoạn 2008-2010.
Biểu đồ 3: Giới tính của đối tượng điều tra.
Biểu đồ 4: Cơ cấu khách điều tra theo độ tuổi.
Biểu đồ 5: Phân loại nghề nghiệp.
Biểu đồ 6: Trình độ của đối tượng điều tra.
Biểu đồ 11: Nguồn thông tin khách biết đến “Nhã nhạc Cung đình Huế”.
Biểu đồ 12: Lý do khách không thưởng thức Nhã nhạc.
Biểu đồ 13: Lý do khách thưởng thức Nhã nhạc.
Biểu đồ 14: Số lần thưởng thức Nhã nhạc.
Biểu đồ 15: Địa điểm thưởng thức “Nhã nhạc Cung đình Huế”.
Trang 12PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xãhội và phát triển với tốc độ ngày càng nhanh trên phạm vi toàn thế giới Số lượng ngườitham gia vào chuyến đi du lịch quốc tế tăng lên rất nhanh Nếu như năm 1996, thế giới cókhoảng 592 triệu lượt người ra nước ngoài du lịch thì đến năm 2010 thế giới có khoảng
937 triệu người đi du lịch và đến năm 2020 sẽ lên khoảng 1,6 tỷ người Cũng theo WTOthì nguyên nhân khiến du lịch đi xa hơn trong 25 năm tới chính là sự hấp dẫn của danhlam thắng cảnh
Du lịch là một ngành kinh tế siêu lợi nhuận, nhiều nước trên thế giới đã xem đây làmũi nhọn kinh tế Nhưng riêng về điều kiện phát triển du lịch, đất nước Việt Nam ta vớinhững cảnh thiên nhiên hoang dã, những di tích mang tính đặc thù của nền văn hóa dântộc qua nhiều thời đại mà chúng ta còn lưu giữ, bảo tồn là những lợi thế rất mạnh của ta,
có thể thu hút mạnh mẽ khách du lịch trên toàn thế giới
Ngành du lịch phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của một loạt các ngành khác nhưvận tải, bưu điện, thương nghiệp, tài chính, các hoạt động phục vụ sinh hoạt cá nhân, cácdịch vụ phục vụ nhu cầu giải trí, các hoạt động văn hoá thể thao Mặt khác, hoạt động dulịch còn có tác dụng tăng cường các mối quan hệ xã hội, tình hữu nghị và sự hiểu biết lẫnnhau giữa các dân tộc, các quốc gia
Với hiệu quả như vậy, nhiều nước chú trọng phát triển du lịch, coi du lịch là mộtngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mình
Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, du lịch Việt Nam, trong những năm gầnđây, ngày càng được cải thiện về mọi mặt Việt Nam được xem là vùng đất an toàn, thânthiện và là một trong những địa chỉ du lịch hấp dẫn trên thế giới Với bề dày lịch sử, vănhóa truyền thống cùng với những lợi thế do thiên nhiên ban tặng, những món ăn hấp dẫn,các làng nghề truyền thống, lễ hội văn hóa đặc sắc, những bãi biển đẹp… đã thu hút ngàycàng nhiều du khách quốc tế đến với Việt Nam
Trang 13Cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch trong cả nước, Thừa Thiên Huế đượcđánh giá là một tỉnh có nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển du lịch Được thiênnhiên ưu đãi, mảnh đất Huế với nhiều danh lam thắng cảnh đẹp như: sông Hương, núiNgự, các bãi tắm Thuận An, Lăng Cô, Cảnh Dương, Vườn quốc gia Bạch Mã…Bên cạnh
đó, với vị trí địa lý nằm giữa khúc ruột miền Trung và là nhịp cầu nối giữa hai miền NamBắc, cố đô Huế đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc
Trong quá khứ Huế đã từng là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa của dân tộc với nhiều ditích lịch sử có giá trị đến ngày nay như: Kinh thành Huế, hệ thống lăng tẩm, chùa chiền,bảo tàng cổ vật… Chính vì vậy ngày 11/12/1993, Huế đã vinh dự được UNESCO chínhthức công nhận “Quần thể di tích Cố đô Huế” là di sản Văn hóa thế giới
Ngày 07/11/2003, thêm một vinh dự nữa đến với Huế là UNESCO đã chính thứccông bố việc công nhận Âm nhạc cung đình Huế, Nhã nhạc là kiệt tác di sản văn hóa Phivật thể và truyền khẩu của nhân loại bởi sự độc đáo, tinh tế và những giá trị to lớn vềphương diện lịch sử lẫn nghệ thuật Sự kiện này mở ra một cơ hội nữa cho du lịch tỉnhThừa Thiên Huế phát triển lớn mạnh
Trong các định hướng phát triển du lịch Thừa Thiên Huế giai đoạn 2007 – 2015,định hướng trọng tâm về việc phát triển triệt để lợi thế du lịch văn hoá được coi là mấuchốt để tìm ra các sản phẩm du lịch đặc trưng của Cố đô, trong đó có vấn đề phát triển cácloại hình du lịch văn hoá phi vật thể
Những năm qua, du lịch Thừa Thiên Huế đã tập trung khai thác loại hình du lịchvăn hoá phi vật thể, trong đó tập trung nhiều vào các vấn đề như lễ hội truyền thống, pháttriển du lịch làng nghề và đặc biệt là khai thác các giá trị nghệ thuật biểu diễn truyềnthống như ca múa cung đình, Nhã nhạc, hay các giá trị văn hoá dân gian
Do đó, luận văn xin được đề cập đến khía cạnh văn hoá phi vật thể “Nhã nhạcCung đình Huế” của du lịch Thừa Thiên Huế, trong đó tập trung đánh giá thực trạng củaviệc thu hút khách du lịch quốc tế của Di sản văn hóa phi vật thể “Nhã nhạc Cung đình
Huế” Qua đó, đề ra các Giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút khách du lịch
quốc tế của di sản Văn hóa Phi vật thể “Nhã nhạc Cung đình Huế”
Trang 142 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở lý luận về hoạt động thu hút khách quốc tế trong du lịch, đề tài đi sâunghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế của Di sản Vănhóa Phi vật thể “Nhã nhạc Cung đình Huế”, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nângcao khả năng thu hút khách quốc tế đối với Di sản Văn hóa Phi vật thể này
- Qua những thực trạng, từ đó đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằmnâng cao khả năng thu hút khách du lịch quốc tế của Di sản Văn hóa Phi vật thể “Nhãnhạc Cung đình Huế”
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Khách du lịch quốc tế.
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Thành phố Huế
Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra, thu thập ý kiến của du khách được thực hiện vàotháng 2, 3 năm 2011
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đó là phương pháp nghiêncứu các hiện tượng kinh tế - xã hội trong trạng thái vận động và có mối quan hệ chặt chẽ
Trang 15như bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động thu hút khách du lịch của Di sản Văn hóa Phi vậtthể “Nhã nhạc cung đình Huế”.
4.2 Phương pháp chuyên gia.
Sử dụng phương pháp chuyên gia với những nhận định mang tính định hướng;những đánh giá định tính, chuyên sâu nhưng chưa đủ nguồn số liệu để phân tích địnhlượng Phương pháp được phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia là các cán bộ đầu ngànhthuộc các cơ quan quản lý nhà nước có kinh nghiệm trong lĩnh vực văn hóa và du lịch: Sởvăn hóa thông tin, Sở văn hóa thể thao và du lịch, Trung tâm bảo tồn Di tích Cố đô Huế.Các ý kiến chuyên gia được sử dụng làm định hướng phân tích, đánh giá và xây dựng cácgiải pháp
4.3 Phương pháp thu thập tài liệu, điều tra và phỏng vấn
4.3.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Là nguồn số liệu đã được tính toán, công bố từ các cơ quan thống kê, Sở văn hóa thểthao và du lịch, các tạp chí Số liệu thứ cấp sử dụng trong đề tài được tổng hợp từ cácbáo cáo, kết quả hoạt động
Ngoài ra, số liệu còn thu thập từ: Sách, báo, internet, một số khóa luận nghiên cứucác vấn đề có liên quan của các khóa trước
4.3.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Để có sự đánh giá đúng về hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế của Di sản vănhóa Phi vật thể “Nhã nhạc cung đình Huế”, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải phápnhằm nâng cao khả năng thu hút khách du lịch quốc tế của Nhã nhạc Ngoài việc thu thập
số liệu thứ cấp còn sử dụng số liệu sơ cấp, thông qua việc điều tra du khách bằng phiếuphỏng vấn
4.3.3 Phương pháp thống kê tổng hợp và phân tích bằng phần mềm SPSS
Số liệu được tổng hợp và phân tích dựa trên việc ứng dụng phần mềm SPSS 15.0
- Đối với các vấn đề định tính được nghiên cứu trong đề tài, sử dụng thang đo 5 mức
độ (thang điểm Likert) để lượng hóa các mức độ của du khách
Trang 16+ Khi đánh giá về trang phục của các nhạc công, mức độ thẫm mỹ của khu vựcbiểu diễn, chất lượng của chương trình biểu diễn tôi sử dụng thang đo với 5 mức độ: 1=rất hài lòng, 2= hài lòng, 3= bình thường, 4= không hài lòng, 5= rất không hài lòng.
+ Khi đánh giá về các giá trị của “Nhã nhạc cung đình Huế” sử dụng thang đovới 5 mức độ: 1= rất hấp dẫn, 2= hấp dẫn, 3= bình thường, 4= không hấp dẫn, 5= rấtkhông hấp dẫn
- Thống kê Frequency để thống kê tần suất và tỷ lệ phần trăm các ý kiến
- Sử dụng Crosstabs để nghiên cứu xử lý chéo các thông tin và ý kiến của du khách
để đưa ra những kết quả tốt hơn, cụ thể hơn
- Sử dụng kiểm định Independent Samples Test xem xét có sự khác biệt về cách thứcđánh giá của các nhóm du khách theo tiêu thức giới tính
- Sử dụng kiểm định One-sample T Test, các giá trị trung bình được kiểm định bằngkiểm định trung bình theo phương pháp One-Sample T Test để khẳng định xem nó có ýnghĩa về mặt thống kê hay không
- Sử dụng kiểm định ANOVA để xem xét có sự khác biệt về cách thức đánh giá củacác nhóm du khách theo các tiêu thức phân tích như: độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ, quốctịch
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài mở đầu, kết luận và phụ lục đề tài có 3 chương
Chương I: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Chương II: Đánh giá khả năng thu hút khách du lịch quốc tế của Di sản Văn hóa phi vật thể “Nhã nhạc Cung đình Huế”
Chương III: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút khách du lịch quốc tế của Di sản Văn hóa Phi vật thể “Nhã nhạc Cung đình Huế”
Trang 17PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Theo luật du lịch Việt Nam ban hành ngày 14/06/2005: “Du lịch là các hoạt động
có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằmđáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhấtđịnh”
1.1.2 Khách du lịch
1.1.2.1 Khái niệm
Theo điều 10 khoản 2, Pháp lệnh Du lịch Việt Nam: Khách du lịch là người đi dulịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc, hoặc hành nghề đề nhận thunhập ở nơi đến
Theo khoản 3, điều 34, chương 5 Luật du lịch Việt Nam: “Khách du lịch quốc tế làngười nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch, công dânViệt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”
Trang 18* Khách du lịch nội địa
Theo định nghĩa của Tổ chức du lịch thế giới UNWTO: “Khách du lịch nội địa lànhững người cư trú trong nước, không kể quốc tịch thăm viếng một nơi cư trú thườngxuyên của mình trong thời gian ít nhất 24 giờ cho mục đích nào đó ngoài việc hành nghề
để kiếm tiền tại nơi được thăm viếng”
Khoản 2, điều 34, chương 5 Luật du lịch Việt Nam: “Khách du lịch nội địa là côngdân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổViệt Nam”
b, Theo mục đích chuyến đi:
- Khách du lịch đi vì mục đích nghỉ ngơi, giải trí
- Khách đi thăm viếng người thân, bạn bè
- Khách đi du lịch công vụ kết hợp giải trí
c, Theo cách tổ chức chuyến đi:
- Khách du lịch theo đoàn: các thành viên tham dự đi theo đoàn và có sự chuẩn bịchương trình từ trước
- Khách du lịch đi lẻ: là những người đi du lịch một mình hoặc đi cùng với ngườithân,bạn bè Họ có những chương trình riêng ,có thể họ tự sắp xếp hoặc đăng ký với công
ty du lịch về chương trình dành riêng cho họ
d, Theo đặc điểm kinh tế xã hội:
-Theo độ tuổi
-Theo giới tính
-Theo nghề nghiệp
- Theo thu nhập
e, Theo độ dài thời gian chuyến đi:
- Khách du lịch ngắn ngày: là những khách có thời gian lưu lại ở nơi đến từ 2-3ngày, thường là đi nghỉ cuối tuần, theo tour của công ty du lịch
Trang 19thường là các chuyến đi chơi xa, nghỉ hè, nghỉ tết…
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại sản phẩm du lịch
1.1.2.1 Khái niệm sản phẩm du lịch
Theo cuốn Giải thích thuật ngữ Du lịch và khách sạn : “Sản phẩm du lịch là tất cảcác dịch vụ và hàng hóa do các doanh nghiệp có chức năng du lịch cung cấp cho du kháchnhằm thỏa mãn nhu cầu của họ Nó được tạo nên bởi sự kết hợp của các yếu tố như tàinguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động”
Theo Luật du lịch Việt Nam: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết đểthỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”
Sản phẩm du lịch bao gồm hai nhóm: dịch vụ và hàng hóa, trong đó dịch vụ là chủyếu gồm có các loại dịch vụ sau: lưu trú, vận chuyển, ăn uống, tham quan, giải trí, dịch vụmôi giới và dịch bán lẻ
1.1.2.2 Đặc điểm sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch mang tính tổng hợp nên có nhiều đặc điểm riêng biệt
- Trong sản phẩm du lịch, bộ phận dịch vụ chiếm tỷ trọng cao
- Sản phẩm du lịch thỏa mãn nhu cầu thứ yếu, cao cấp của con người
- Khách hàng không thể kiểm tra chất lượng trước khi mua
- Quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn tra đồng thời
- Sản phẩm du lịch không thể lưu kho cất giữ được
- Sản phẩm du lịch do nhiều cá thể tạo ra, tổng hợp nhiều ngành kinh doanh, cácngành này có sức tác động qua lại
1.2.3 Nhu cầu du lịch
1.2.3.1 Khái niệm:
- Lý thuyết của Maslow về nhu cầu của con người:
+ Nhu cầu sinh lý
+ Nhu cầu về an toàn( tính mạng, tài sản…)
+ Nhu cầu xã hội
+ Nhu cầu được kính trọng
+ Nhu cầu tự thể hiện mình
Trang 20Nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người, được hìnhthành và phát triển trên nền tảng của nhu cầu sinh lý (sự đi lại) và các nhu cầu tinh thần(nhu cầu nghỉ ngơi Tự khẳng định, nhận thức, giao tiếp,…).
- Nhu cầu du lịch ngày càng phát triển mạnh mẽ là vì:
+ Du lịch đã trở thành một hiện tượng phổ biến trong cuộc sống
+ Xu hướng dân số theo kế hoạch hóa gia đình
+ Thu nhập cá nhân ngày càng cao
+ Phí tổn du lịch giảm dần
+ Trình độ học vấn, giáo dục của con người ngày càng cao
+ Cơ cấu nghề nghiệp đa dạng
+ Đô thị hóa, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất (khách sạn, nhà hàng…) ngày cànghoàn thiện
+ Thời gian nhàn rỗi nhiều
+ Du lịch vì mục đích kinh doanh
+ Phụ nữ có điều kiện đi du lịch hơn
+ Du lịch trở thành tiêu chuẩn của cuộc sống
+ Tình hình chính trị, an ninh ổn định đã tạo điều kiện cho du lịch phát triển
1.2.3.2 Động cơ du lịch
- Tò mò, khám phá, tìm hiểu:
+ Thích phiêu lưu, mạo hiểm
+ Thích đến những nơi xa xôi
+ Thích tìm tòi những cái mới và cái lạ
+ Thích thỏa mình vào nền văn hóa địa phương
+ Thích di chuyển nhiều và mua sắm hàng hóa độc đáo…
- Nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn:
+ Thích đến những nơi nổi tiếng
+ Thích đi theo nhóm và tham gia vào những hoạt động vui chơi dân dã
+ Thích giao tiếp, thăm viếng người thân bạn bè
Trang 21+ Thích mua những tour trọn gói
- Nghiên cứu, học hỏi:
+ Thích tìm tòi, khám phá, chất lượng dịch vụ hợp lý…
- Du lịch kết hợp với công vụ:
+ Kết hợp vui chơi để tìm hiểu thị trường
- Du lịch cuối tuần, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng…
+ Thư giản, gặp gỡ bạn bè, đi sâu vào loại hình mong muốn…
1.2.3.3 Thị trường du lịch
- Khái niệm:
Thị trường du lịch là nơi diễn ra quan hệ giữa người mua (khách du lịch) và ngườibán (người cung du lịch: các công ty du lịch, các hãng, các khách sạn…) nhằm xác địnhgiá cả, khối lượng hàng hóa dịch vụ du lịch cần trao đổi
- Đặc trưng của thị trường du lịch:
+ Thị trường du lịch xuất hiện muộn hơn thị trường hàng hóa về mặt thời điểm, và
nó khác với thị trường hàng hóa ở chỗ đối tượng của việc mua bán không chỉ là hàng hóa
mà còn là dịch vụ du lịch mà phần dịch vụ lại chiếm đa số (gọi là sàn phẩm du lịch)
+ “Sản phẩm du lịch” trên thị trường du lịch không có dạng hiện hữu trước chongười mua Khi mua sản phẩm, khách hàng không biết thực chất của sản phẩm, mà chỉnhận biết đến sau khi đã mua và sử dụng nó Như vậy quan hệ giữa người bán và ngườimua là quan hệ gián tiếp Người mua biết đến sản phẩm du lịch thông qua các hoạt độngquảng cáo, giới thiệu hay tư vấn của các đại lý du lịch Người bán giới thiệu sản phẩm dulịch thông qua các hình thức trên mà không có sản phẩm để trưng bày
+ Trong thị trường du lịch bao gồm những mối quan hệ kinh tế gắn liền với địađiểm, thời gian, điều kiện của việc bán các dịch vụ du lịch và hàng hóa, do sự phát triển
đô thị, kinh tế các vùng, do nâng cao đời sống ở các vùng, do thời gian nhàn rỗi
+ Trên thị trường du lịch, đối tượng mua bán ngoài hàng hóa vật chất và dịch vụcòn có những đối tượng mua bán mà ở thị trường khác không coi là hàng hóa, đó là cácgiá trị nhân văn, tài nguyên thiên nhiên: phong cảnh, khí hậu, mặt trời
Trang 22+ Quan hệ thị trường giữa người mua và bán được bắt đầu từ khi khách quyết địnhmua hàng đến khi khách về nơi cư trú của họ Không như thị trường hàng hóa, quan hệmua bán sẽ chấm dứt ngay sau khi đã trả tiền.
+ Sản phẩm du lịch không bán được có nghĩa là nó tồn tại dưới dạng năng lực,không thể lưu kho, lưu bãi Các dịch vụ du lịch nếu không được tiêu dùng sẽ không có giátrị ví dụ: một chuyến tham quan, một đêm ngủ tại khách sạn, một chỗ ngồi đã được chọntrước…
+ Thị trường khách du lịch mang tính chất thời vụ rõ rệt Vì vậy quan hệ cung vàcầu ở đây cũng khác quan hệ cung và cầu của hàng hóa vật chất
- Phân loại thị trường du lịch:
Khái niệm:
Phân loại thị trường du lịch là quá trình phân chia toàn bộ thị trường du lịch thànhcác nhóm có đặc trưng chung, các nhóm này được gọi là các đoạn thị trường mục tiêu haythị trường mục tiêu
+ Thị trường du lịch nội địa
Xét trên giác độ hiện thực và khả năng thực hiện cung cầu du lịch:
+ Thị trường du lịch thực tế
+ Thị trường du lịch tiềm năng
Xét theo mức độ tích cực của hành vi mua bán trên thị trường du lịch:
+ Thị trường tích cực
+ Thị trường tích cực hiện thời
Trang 23+ Thị trường tích cực lâu dài
Căn cứ vào tính chất thời vụ của nơi khai thác tài nguyên du lịch và của thị trườnggửi khách:
+ Thị trường du lịch quanh năm
+ Thị trường du lịch theo mùa
Ý nghĩa của việc phân loại thị trường du lịch:
+ Đối với các nhà kinh doanh du lich: Giúp họ nhận thức được đầy đủ về vai tròtừng loại thị trường cụ thể trong thị trường du lịch nói chung Để từ đó phân tích và lậpcác chiến lược tiếp cận thị trường một cách dễ dàng, tiện lợi và có hiệu quả
+ Đối với người tiêu dùng: Để có cơ sở lựa chọn các sản phẩm của từng nhà kinhdoanh phù hợp với nhu cầu, mong muốn và khả năng thanh toán của mình trong mỗichuyến đi Hơn thế nữa, đó là cách giúp người tiêu dùng đơn giản hóa quá trình ra quyếtđịnh mua
+ Có bao nhiêu nhu cầu cần được thỏa mãn mà được xã hội thừa nhận thì có bấynhiêu thị trường du lịch
- Nghiên cứu thị trường:
Khái niệm:
Nghiên cứu thị trường là tổng hợp có hệ thống các thông tin, ghi nhận và phân tíchcác dữ liệu về các vấn đề có liên quan đến công việc tiếp thị sản phẩm và dịch vụ du lịch.Tiếp theo đó là việc tổ chức các hoạt động để tìm ra câu trả lời khách quan cho những câuhỏi mà một nhà kinh doanh du lịch muốn thành công cần phải làm
+ Ai là khách hàng hiện tại, tiềm năng của doanh nghiệp?
+ Quy mô của thị trường hiện tại, tiềm năng?
Trang 24Để xác định khả năng bán hàng bán được là bao nhiêu từ đó dự đoán lợn nhuậncho doanh nghiệp mình.
+ Nghiên cứu các nhà cung ứng, kênh phân phối
+ Nghiên cứu về quảng cáo…
1.1.4 Tính thời vụ trong kinh doanh du lịch
* Khái niệm:
Theo “Viện nghiên cứu và phát triển du lịch”: Thời vụ trong du lịch là những daođộng được lặp đi lặp lại theo thời gian của cung và cầu dịch vụ hàng hóa xảy ra dưới tácđộng của một số nhân tố xác định
Sự chênh lệch về thời gian giữa các thể loại và cường độ biểu hiện của các thể loại
đó, nếu tập hợp lại sẽ thấy được các biến động thời vụ của toàn bộ hoạt động du lịch.Công thức tính chỉ số thời vụ:
Trong đó: Ii là chỉ số thời vụ của từng tháng
Yi là số khách bình quân của các tháng j cùng tên qua các năm
Yo là số khách bình quân trong dãy số của một tháng
* Đặc điểm của tính thời vụ:
- Tính thời vụ trong du lịch là một hiện tượng phổ biến và khách quan
Trang 25- Thời gian và cường độ của các mùa có sự khác biệt phụ thuộc vào mức độ khai thác tàinguyên du lịch và có sự khác biệt của từng loại hình du lịch.
- Thời gian và cường độ du lịch khác nhau tùy thuộc vào điều kiện phát triển du lịch củamỗi vùng, mỗi quốc gia
- Cường độ của thời vụ du lịch là không bằng nhau theo chu kỳ kinh doanh hình thànhnên các mùa trong du lịch
* Sự tác động của tính thời vụ trong kinh doanh du lịch:
- Đối với nhà kinh doanh du lịch:
+ Tính thời vụ ảnh hưởng bất lợi đến cả cung và cầu trong du lịch
+ Làm cho việc sử dụng tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật không sử dụnghết công suất, gây lãng phí lớn trong mua vắng khách
+ Ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn lao động không hết trong năm
+ Mùa cao điểm thường làm giảm chất lượng phục vụ du khách vì những nhânviên phục vụ phải tăng ca làm việc
+ Mùa thấp điểm gây ra tình trạng thất nghiệp tạm thời đối với một bộ phận nhânviên phục vụ và gây lãng phí các nguồn lực
+ Làm cho nguồn thu của các doanh nghiệp du lịch không ổn định
- Đối với khách du lịch:
+ Làm hạn chế khả năng tìm chỗ nghỉ thích hợp với thời gian tự chọn theo ý muốn.+ Vào mùa cao điểm, thương xảy ra tình trạng tập trung các nhu cầu của khách dulịch, làm giảm tiện nghi sử dụng các tài nguyên du lịch nên giảm chất lượng phục vụ
1.1.5 Di sản văn hóa thế giới
Theo Công ước di sản thế giới thì di sản văn hóa là:
- Các di tích: Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay cáccấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình có sự liênkết giữa nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật
và khoa học
- Các quần thể các công trình xây dựng: Các quần thể các công trình xây dựng tách biệthay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí của
Trang 26chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật
và khoa học
- Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữathiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bậttoàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học
Có 2 loại di sản văn hóa:
1/ Di sản văn hóa vật thể: đó là các công trình kiến trúc lớn của người xưa, ví dụKinh Thành Huế của các Vua nhà Nguyễn, Thánh Địa Mỹ Sơn của Champa
2/ Văn hóa phi vật thể: đó là công trình nghệ thuật như khúc ca, khúc nhạc ví dụnhư Nhã Nhạc Cung Đình Huế, Cồng Chiêng Tây Nguyên, Ca Trù, Hát Quan Họ
Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoahọc, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề,trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tácphẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lốisống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổtruyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân giankhác
1.1.6 Vai trò và ý nghĩa của hoạt động thu hút khách
1.1.6.1 Vai trò
Nhu cầu đi du lịch kết hợp với các mục đích khác như thăm thân, tìm hiểu cơ hộiđầu tư làm ăn, nghỉ ngơi, của con người trên thế giới ngày càng tăng, nguồn thu được từngành du lịch đối với các nước (nhất là các nước có tiềm năng du lịch) là vô cùng lớn,ngành du lịch được gọi với cái tên “ngành công nghiệp không khói” Ngành du lịch còngiúp phát triển các ngành nghề khác giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều lao động
vì bản chất của du lịch là dịch vụ, và cũng chỉ có ngành du lịch mới có khái niệm “xuấtkhẩu tại chỗ” đó là hàng hóa tại chỗ được xuất khẩu ra nước ngoài thông qua bán hàngtrực tiếp cho khách du lịch quốc tế Một khối lượng lớn nhân lực, nhiều ngành nghề liênquan phục vụ khách du lịch cũng phát triển theo GDP của đất nước tăng cao trong đó
Trang 27Các nhà quản lý du lịch và các hãng lữ hành đã nhìn nhận đúng đắn về tầm quantrọng mang tính chiến lược của khách du lịch quốc tế đối với ngành du lịch nên đã có rấtnhiều nỗ lực trong việc quảng bá cho du lịch Việt Nam như thay đổi kịp thời các khẩuhiệu quảng bá du lịch Việt Nam (Việt Nam điểm đến của du lịch) cho phù hợp với từnggiai đoạn phát triển của du lịch Tổ chức ngày càng tốt hơn, đi vào trọng tâm hơn các lễhội truyền thống, lễ hội du lịch, hội chợ du lịch trong nước; tổ chức các doanh nghiệp lữhành tham gia các hội chợ du lịch thế giới để tiếp cận với thế giới và quảng bá cho du lịchViệt Nam Những hoạt động tích cực có định hướng đúng đắn đó đã và đang tạo động lựcthu hút khách du lịch quốc tế ngày càng có hiệu quả Khách du lịch quốc tế cũng chính lànguồn nhập khẩu đáng kể ngoại tệ cho Việt Nam Nhìn nhận đúng đắn về những tác độngtích cực thúc đẩy các ngành nghề trong nước phát triển mang lại hiệu quả kinh tế lớn laocủa nguồn khách du lịch quốc tế nên các nhà quản lý ngành du lịch Việt Nam, các doanhnghiệp lữ hành Việt Nam chú trọng tới nguồn khách này và khẳng định việc thu hút khách
du lịch quốc tế là vấn đề vô cùng cần thiết
Vấn đề thu hút khách có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của bất
kỳ tổ chức du lịch nào vì đặc thù của sản phẩm du lịch là không thể mang đi bán ở nơikhác mà khách hàng phải đến tận nơi bán sản phẩm để tiêu dùng Do đó, nếu như lượngkhách đến lưu trú và tiêu dùng dịch vụ du lịch thì sẽ làm cho doanh thu và lợi nhuận thuđược sẽ cao nên các tổ chức có điều kiện nâng cấp, cải tạo, đầu tư, thực hiện công tác bảotồn và phát huy di sản thông qua nguồn vốn tích lũy được, hoàn thành ý nghĩa nộp thuếcũng như cải thiện thu nhập cho cán bộ công nhân viên Ngược lại, khi nguồn khách ít, sẽkhông đảm bảo được nguồn thu cho nhà hát, làm cho hoạt động kinh doanh trì trệ, không
có kinh phí để phục hồi và phát huy “Nhã nhạc Cung đình Huế”, không đảm bảo đượcquyền lợi cho các diễn viên, có thể sẽ dẫn đến nguy cơ thất truyền
Như vậy, thu hút khách là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với ngành kinh doanh dulịch nói chung và kinh doanh sản phẩm du lịch nói riêng Vì thế, để đảm bảo cho sự pháttriển của “Nhã nhạc Cung đình Huế”, các cơ quan, tổ chức nghiên cứu và phát huy “Nhãnhạc cung đình Huế” phải xác định được thị trường khách hàng của mình nhằm đáp ứng
Trang 28tốt nhất nhu cầu của họ để từ đó có các chiến lược quảng bá, giới thiệu tích cực và có hiệuquả đến thị trường khách này.
1.1.6.2 Ý nghĩa
Thu hút khách ngày càng nhiều sẽ:
+ Đảm bảo sự tồn tại và phát triển, phát huy được giá trị của Di sản Văn hóa Phivật thể “Nhã nhạc Cung đình Huế”
+ Làm tăng doanh thu, đảm bảo cho quá trình kinh doanh diễn ra liên tục và ngàycàng phát triển
+ Hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước, cải thiện đời sống cho các cán bộ côngnhân viên, tạo được công việc yêu thích cho các diễn viên, nghệ nhân
+ Tạo ra nhiều việc làm cho các cư dân địa phương, góp phần làn giảm tỷ lệ thấtnghiệp
+ Thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển…
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
1.2.1 Vài nét về hoạt động thu hút khách du lịch.
1.2.1.1 Hoạt động thu hút khách du lịch của Việt Nam.
Theo “Lễ bình chọn các hoạt động tiêu biểu của Du lịch Việt Nam năm 2010 doBáo Du lịch tổ chức dưới sự ủy nhiệm của Tổng cục Du lịch” Du lịch Việt Nam đã đón
vị khách quốc tế thứ 5 triệu vào cuối năm 2010 Đây được coi là sự kiện quan trọng, đánhdấu bước trưởng thành vượt bậc của ngành du lịch trong giai đoạn 2005-2010 Đồng thờikhẳng định sức hấp dẫn, vị thế của du lịch Việt Nam trên bản đồ du lịch khu vực và thếgiới.Đây là sự kiện quan trọng trong năm 2010 của Du lịch Việt Nam (DLVN), đồng thờiđánh dấu cột mốc lần đầu tiên DLVN đạt kỷ lục tăng trưởng về lượng khách quốc tế Năm
2010 lần đầu tiên DLVN đạt kỷ lục tăng trưởng về lượng khách quốc tế với trên 1,2 triệulượt so với năm 2009 - là năm có lượng khách quốc tế đến cao nhất trong lịch sử 50 nămhình thành và phát triển của Ngành Tính trong năm 2010, lượng khách quốc tế đến ViệtNam hàng tháng đều cao so với những năm trước, đạt trung bình gần 420.000 lượtkhách/tháng Chỉ riêng trong quý I/2010, khách quốc tế đến Việt Nam tăng 36,2% so với
Trang 29mức kế hoạch đề ra cho cả năm 2010 (mục tiêu đón 4,2 triệu lượt khách quốc tế), lượngkhách du lịch nội địa đạt trên 28 triệu lượt; thu nhập từ du lịch dự kiến đạt khoảng 96nghìn tỷ đồng, tăng 37% so với năm 2009, ước tính đóng góp 4,5 % cho tổng GDP đấtnước – đây cũng sẽ là tiền đề để DLVN có những bước phát triển mới, hướng tới mục tiêuđón 5,3 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam vào năm 2011.
+ Phát động chiến dịch hướng về cội nguồn giành cho Việt kiều
+ Đẩy mạnh chương trình du lịch nội địa nhân dịp các sự kiện lớn của dân tộc vàngành du lịch
+ Đẩy mạnh các hoạt động xây dựng, phát triển sản phẩm và nâng cao chất lượngdịch vụ
+ Đẩy mạnh chiến dịch bình chọn cho Vịnh Hạ Long là kỳ quan thiên nhiên thếgiới, với thông điệp “mỗi du khách một phiếu bầu cho Vịnh Hạ Long”
Chiến dịch quảng bá xúc tiến Du lịch tại Trung Quốc, Thái Bình Dương, Tây
Âu và Đông Nam Á.
Chiến dịch quảng bá ở các thị trường tiềm năng này đã đánh dấu dấu bước trưởngthành vượt bậc về chất của công tác xúc tiến, quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam Cácchiến dịch quảng bá, xúc tiến của du lịch Việt Nam đã đi vào đúng trọng điểm cần xúctiến, đạt hiệu quả thu hút khách Nếu như trước đây việc xúc tiến chỉ tập trung với quy mônhỏ và vừa là chủ yếu thì năm 2010 đã tăng về quy mô, chất lượng
“Tour Du lịch quốc tế leo núi cắm cờ Thăng Long - Hà Nội 1000 năm tuổi” trên đỉnh Fansipan năm 2010.
Trang 30Chương trình Tour du lịch quốc tế leo núi cắm cờ “Thăng Long – Hà Nội 1000năm tuổi” trên đỉnh Fansipan năm 2010 do Bộ VHTTDL phối hợp với UBND tỉnh LàoCai tổ chức với quy mô Quốc gia, nhằm kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội và cácngày lễ lớn của đất nước trong năm 2010 Hưởng ứng chương trình Hành động quốc gia
về du lịch giai đoạn 2006 – 2010
Hội thảo quốc gia: “Phát triển Du lịch Việt Nam trong bối cảnh tích cực, chủ động hội nhập quốc tế” và Hội thảo quốc tế: “Du lịch - Động lực quan trọng phát triển kinh tế xã hội”.
Hội thảo “Phát triển Du lịch Việt Nam trong bối cảnh tích cực, chủ động hội nhậpquốc tế” do Bộ VHTTDL, TCDL phối hợp với Báo Nhân Dân tổ chức vào ngày29/6/2010 Hội thảo có 40 tham luận trình bày, nhằm xác định mục tiêu, đánh giá bất cập,
đề xuất những giải pháp để Du lịch Việt Nam phát triển trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Khai trương Kênh truyền hình Du lịch.
Được xây dựng nhằm tuyên truyền, quảng bá về Du lịch Việt Nam Nội dung kênhtập trung giới thiệu chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về Du lịch, tô đậm hìnhảnh điểm đến Việt Nam an toàn, thân thiện và hấp dẫn, cung cấp thông tin và quảng básản phẩm du lịch Việc mở kênh truyền hình Du lịch sẽ là bước đột phá không chỉ có ýnghĩa đối với ngành Du lịch mà rộng ra là tuyên truyền đối nội và đối ngoại về hình ảnhđất nước, về con người và văn hóa dân tộc Việt Nam – Mục tiêu và Động lực của sự pháttriển Thời lượng phát sóng của kênh truyền hình Du lịch là 18/24 tiếng liên tục tại kênh
Du lịch trên hệ thống Truyền hình cáp thuộc Đài truyền hình Việt Nam, được phủ sóngtoàn quốc và tiến tới phủ sóng trên phạm vi quốc tế
Hội chợ triển lãm Quốc tế Du lịch (ITE) TP Hồ Chí Minh 2010.
Hội chợ triển lãm quốc tế Du lịch (ITE) TP HCM năm 2010 là sự kiện thươngmại du lịch lớn nhất Việt Nam, Lào và Campuchia được tổ chức từ ngày 30.9 đến2.10.2010 tại TP.HCM Hội chợ đã thu hút 236 đơn vị tham gia triển lãm đến từ 16 quốcgia trên thế giới và khu vực Qua đây các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh
Trang 311.2.1.2 Hoạt động thu hút khách du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế.
Theo chương trình kích cầu du lịch năm 2010 “Thừa Thiên Huế - điểm đến của
bạn” Thừa Thiên Huế với thế mạnh về các tài nguyên du lịch, điểm đến du lịch văn hóa
độc đáo, có giá trị cao, phân bố tập trung, nằm xen kẽ hoặc không xa các danh lam thắngcảnh đẹp đã tạo cho du lịch Thừa Thiên Huế khả năng thuận lợi để phát triển nhiểu loạihình, sản phẩm du lịch chất lượng cao Bên cạnh đó, với vị trí địa lý khá thuận lợi là nằmtrong vùng có mật độ các di sản văn hóa thế giới tập trung của quốc gia: Quần thể di tích
Cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế, Thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An( Quảng Nam) vàPhong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình) Cùng với hệ thống giao thông thuận lợi cả đường bộ,đường hàng không và đường biển, trong tương lai Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng
sẽ là nơi thu hút và trung chuyển khách du lịch lớn của miền Trung và cả nước
- Mục tiêu cụ thể:
Tăng trưởng lượng khách, kéo dài thời gian lưu trú của khách đến Thừa ThiênHuế; phấn đấu năm 2010 đạt chỉ tiêu đón và phục vụ 1,7 triệu lượt khách, trong đó có800.000 khách quốc tế, kéo dài thời gian lưu trú bình quân của khách tại Thừa Thiên Huếlên 2,2 ngày
- Góp phần xây dựng thương hiệu “Du lịch Thừa Thiên Huế - điểm đến không thểthiếu trong hành trình du lịch Việt Nam”
- Thu hút được sự quan tâm hưởng ứng và làm tăng nhận thức của các cấp cácngành, các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư về tầm quan trọng của việc phát triển dulịch
- Các hoạt động cụ thể:
Chiến dịch bán hàng giảm giá
+ Tổ chức Hội chợ bán hàng giảm giá: Giảm 10 – 30% giá các mặt hàng
+ Công bố chương trình giảm giá, khuyến mại tại các siêu thị, cửa hàng mua sắm,các điểm du lịch: Giảm 10-30% giá một số mặt hàng, các hình thức khuyến mại
+ Công bố chương trình giảm giá tại các khách sạn, nhà hàng, các đơn vị vậnchuyển khách du lịch: Giảm 10 – 30% giá các dịch vụ, các hình thức khuyến mại
Tổ chức các đoàn Famtrip, Presstrip
+ Hưởng ứng chương trình của Bộ
Trang 32+ Chủ động tổ chức đoàn Famtrip: Sự tham gia có hiệu quả của khoảng 50 hãng lữhành quốc tế và báo giới.
Hưởng ứng các sự kiện lớn trong và ngoài tỉnh
+ Công bố các chương trình giảm giá hàng hoá, dịch vụ cho khách du lịch
+ Bình ổn giá trong dịp Festival Huế 2010
+ Triển khai kỷ niệm 50 năm thành lập ngành
Xây dựng, phát triển sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch
+ Tổ chức tốt các Lễ hội Tam Giang, Thuận An, Lăng Cô
+ Xây dựng và hoàn thiện tour DL biển-Đầm phá
Các chiến dịch về môi trường
+ Xây dựng và chấn chỉnh hệ thống các nhà vệ sinh tại các điểm tham quan, trêntuyến du lịch
+ Làm sạch môi trường cảnh quan thiên nhiên
+ Làm sạch môi trường Văn hoá xã hội
Tuyên truyền quảng bá
+ Truyền thông thông tin
+ Thi sáng tác LOGO Du lịch TT Huế
+ Sản xuất quà lưu niệm tặng du khách
Có ít nhất 25 hoạt động văn hóa diễn ra ở Thừa Thiên – Huế trong năm 2010 gắnliền với hoạt động du lịch Trong đó, những lễ hội trong Festival Huế diễn ra vào tháng 6– 2010 như: lễ hội thao diễn thủy binh thời chúa Nguyễn, lễ hội tái hiện hành trình mỡcõi, lễ tế Nam Giao, chương trình Huyền thoại sông Hương, lễ hội Hương xưa làng cổ tạilàng Phước Tích, chương trình Chợ quê ngày hội tại cầu ngói Thanh Toàn, chương trìnhĐêm hoàng Cung,…
Ngoài ra còn có các lễ hội, sinh hoạt văn hóa đặc sắc khác, gồm: Hội vật làng Thủ
Lễ và hội cầu ngư tại Lăng Cô (19-2), lễ hội đền Huyền Trân (22-2), Hội vật làng Sình(23-2), lễ tế Xã Tắc (12-4), lễ hội điện Huệ Nam (15,16-4 và 17,18,19-8), lễ hội TamGiang (1,2-5), lễ hội đền Trần Nhân Tông (16-12) và lễ hội Quang Trung (22-12)…
Trang 33CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ CỦA DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ “NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ”.
2.1 Tổng quan về di sản Văn hóa Phi vật thể “Nhã nhạc Cung đình Huế”.
2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển và con đường trở thành Di sản văn hóa Phi vật thể của “Nhã nhạc Cung đình Huế”.
2.1.1.1 Giới thiệu về “Nhã nhạc Cung đình Huế”.
Mang ý nghĩa “âm nhạc tao nhã”, Nhã nhạc đề cập đến âm nhạc cung đình ViệtNam được trình diễn tại các lễ thường niên, bao gồm các lễ kỷ niệm và những ngày lễ tôngiáo cũng như các sự kiện đặc biệt như: lễ đăng quang, lễ tang hay những dịp đón tiếpchính thức Trong các thể loại âm nhạc phong phú đã từng được phát triển ở Việt Nam,chỉ có Nhã nhạc mang tầm quốc gia
Mặc dầu, nguồn gốc của Nhã Nhạc có từ thế kỷ thứ 13, nhưng nó chỉ đạt đến độmức điêu luyện tại cung đình Huế dưới triều Nguyễn (1802 - 1945) Các vị vua đã dành
sự ưu đãi khi ban cho Nhã nhạc một địa vị đặc biệt là âm nhạc chính thức của cung đình,bằng cách đó đã chính thức hóa nó như là biểu tượng về quyền uy và sự trường thọ củatriều đại mình Nhã nhạc đã trở thành một phần thiết yếu của quá trình nghi lễ và mỗi năm
nó được trình diễn trong toàn bộ thời gian của gần 100 buổi lễ khác nhau Có thể chia cáccuộc tế lễ ra làm 2 loại: loại thường kỳ và bất thường kỳ
+ Loại lễ tế thường kỳ: gồm có lễ Đại Triều ở điện Thái Hòa (mỗi tháng 2 lần), lễThường Triều ở điện Cần Chánh (mỗi tháng 1 lần), lễ tế trời đất ở Đàn Nam Giao, lễ tếthần lúa và thần đất ở Đàn Xã Tắc, lễ vua ra cày ruộng ở Tịch Điền, lễ mừng sinh nhậtVua, Hoàng Hậu,…
+ Loại lễ bất thường kỳ: gồm lễ Đăng Quang, lễ tang của Vua vừa quá cố, củaHoàng Thái Hậu, lễ đón tiếp các sứ thần ngoại quốc,…
Ngoài ra nó còn phục vụ như là một phương tiện cho việc truyền đạt những ýtưởng mang tính triết lý và những khía cạnh về vũ trụ của người Việt Nam Trong ý nghĩa bao quát nhất của nó, thuật ngữ Nhã Nhạc không chỉ chứa đựng hệ thống
âm nhạc cung đình dựa trên thang ngũ âm, mà còn bao hàm cả sự trình diễn thực tế, nó
Trang 34được đặc trưng bởi sự đa dạng của các loại nhạc cụ, và chỉ được biểu diễn vào những dịpnào đó, với các ca công và vũ công riêng Trống đóng vai trò quan chủ đạo trong các dànnhạc cung đình vốn bao gồm một số lượng lớn các nhạc công và mỗi người trong số họyêu cầu phải có sự tập trung cao để theo được mạch tất cả giai đoạn lễ nghi kéo dài.
Ý nghĩa của thuật ngữ Nhã nhạc có khác nhau qua từng thời kỳ, nhưng nhìn chung
nó vẫn giữ nguyên là loại âm nhạc chính thống của triều đình, đối lập với âm nhạc dângian Ngoài ra, Nhã nhạc còn mang một nghĩa hẹp, khi thì chỉ một tổ chức âm nhạc cungđình nhà Lê (thự nhã nhạc), khi thì chỉ một loại dàn nhạc trong cung đình triều Nguyễn.Nhưng những nghĩa hẹp này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn và biến mất Ngày nay,trong bối cảnh giao lưu quốc tế, Nhã nhạc được hiểu theo ý nghĩa nguyên thuỷ của nó, tức
là nhạc chính thống mang tính lễ nghi, được sử dụng trong các triều đình quân chủ ViệtNam cũng như tại các nước đồng văn
Tháng 11 năm 2003, Nhã nhạc Việt Nam chính thức được tổ chức Giáo dục, Khoahọc và Văn hoá của Liên hiệp quốc - Gọi tắt là UNESCO, công nhận là “Kiệt tác di sảnphi vật thể và truyền khẩu của nhân loại” Đây là di sản văn hoá phi vật thể đầu tiên củaViệt Nam được thế giới công nhận tính đến thời điểm hiện tại Nhã nhạc hiện nay chỉ tồntại dưới hai tổ chức dàn nhạc, đó là: Đại nhạc và Tiểu nhạc
- Đại Nhạc:
Là dàn nhạc hết sức quan trọng trong hệ thống nhạc lễ cung đình Huế Nó là dànnhạc diễn tấu với những trình thức quan trọng nhất trong các buổi lễ, thường được dùngtrong các lễ tế như: Tế Nam giao, tế miếu, Đại triều …Đây là dàn nhạc có âm lượng lớn Nhạc cụ chủ yếu vẫn là dàn trống và kèn Cấu tạo của dàn Đại nhạc:- 2 bộ gõ và bộ hơi,gồm 4 chủng loại, với trên 40 nhạc cụ Tuy nhiên, so với các dàn Đại nhạc được mô tảtrong các dữ liệu thì dàn Đại nhạc hiện nay có biên chế gọn nhẹ hơn
Trang 35- Não bạt ( xập xoã) : 01 cái
Bộ dây: - Đàn nhị (nhạc cụ phụ, chỉ dùng duy nhất khi tấu bài nam bình)
Các bài bản của đại nhạc gồm: Tam luân cửu chuyển (ba hồi chín chuyển), Đăng
đàn cung, đăng đàn đơn, đăng đàn kép, đăng đàn chạy, xàng xê, nam bằng, nam ai, cung
ai, cung bằng, man, mã vũ, tẩu mã, bài kèn thoét, thái bình cổ nhạc, bài kèn bóp, phú lục, bài bông, nam trĩ, kèn chiến, phần hoá, phát, hiệp, khai trường.
- Tiểu nhạc:
So với Đại nhạc, thì các bài bản âm nhạc của hệ thống Tiểu nhạc tương đối ổn địnhhơn Bài bản âm nhạc mang màu sắc trang nhã, vui tươi, thường được dùng trong các buổiyến tiệc của triều đình, trong các lễ đại khánh, dịp tết nguyên đán Chất liệu dễ đi vàolòng người, không quá trang nghiêm hoặc quá sầu bi như các bài bản của đại nhạc, về âmlượng nó không quá lớn như đại nhạc Nhiều bài bản tiểu nhạc còn có lời ca
Các bài bản chính thống của tiểu nhạc hiện nay đang được biểu diễn: Hệ thống 10
bài liên hoàn ( hay thập thủ liên hoàn) gồm: Phẩm tuyết, nguyên tiêu, hồ quảng, liên hoàn, bình bán, tây mai, kim tiền, xuân phong, long hổ, tẩu mã Các bài bản khác: - Ngũ đối
Trang 36thượng, ngũ đối hạ, long ngâm, long đăng, tiểu khúc, phú lục địch, phụng vũ, bài thiều.
2.1.1.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của Nhã nhạc.
Nhã nhạc Cung Đình Huế là một sự kế thừa, kể từ khi những dàn nhạc - trong đó
có mặt nhiều nhạc khí cung đình - xuất hiện dưới dạng tác phẩm chạm nổi trên các bệ đá
kê cột chùa thời Lý, thế kỉ XI-XII, đến lúc ông vua cuối cùng triều Nguyễn thoái vị vàogiữa thế kỷ XX
Thời vua Lê Đại Hành (trị vì 980-1005): Năm 982, vua xâm nhập lãng thổ vươngquốc láng giềng Chămpa, chiếm kinh đô Indrapura rồi đưa về Hoa Lư 100 cung kỹ (canhi, vũ nữ) Chăm Kể từ ấy, ảnh hưởng Chăm thâm nhập âm nhạc cung đình Việt
- Đời Lý : triều đại quân chủ đầu tiên (thế kỷ 11 và 12)
Trên nhiều bệ đá kê các cột chùa Vạn Phúc (còn gọi là chùa Phật Tích, vùng KinhBắc - Bắc Ninh) thấy chạm nổi một dàn nhạc 10 người chơi 8 nhạc khí : thổi tiêu, sanh(ống sáo), đánh phách, trống cơm, kéo nhị, gảy đàn cầm, đàn tam, tỳ bà Dàn nhạc gồm 4nhạc khí dây, 2 nhạc khí thổ, 2 nhạc khí gõ này gồm những nhạc khí thuần Việt, hoặc cógốc gác Ấn Độ, Chămpa, Trung Quốc
- Thời vua Lý Thái Tông (1028-1054)
Năm 1044, vua đánh Chămpa chiếm thành Phật Thệ, đưa về Thăng Long nhiềucung nữ giỏi hát múa Khúc điệu Tây Thiên (khúc hát, điệu múa Chăm gốc gác từ Ấn Độ)
Năm 1060, là người giỏi thơ văn, thích múa nhạc, vua đích thân phiên dịch một khúcnhạc Chămpa, ghi chép một điệu trống Chămpa rồi sai nhạc công tập luyện, biểu diễn
- Thời vua Lý Nhân Tông (1066 – 1128)
Dựa trên sách sử và văn bia, nhà sử học – văn hóa học Trần Quốc Vượng đã “Phác
họa chân dung nhạc sĩ Lý Nhân Tông” : đặc biệt giỏi âm luật, vua đích thân sáng tác
những bài ca khúc nhạc cho nhạc công ca nữ cung đình luyện tập Văn bia chùa Đọi ghi
“Vua ta : tứ thơ thâu tóm thiên biến vạn hóa của Đất, Trời, nhạc phổ hòa hợp âm thanh
của Đường, Phạn” (3)
- Thời vua Lý Cao Tông (1176-1204)
Năm 1202, vua sai nhạc sĩ cung đình đặt ra Khúc nhạc Chăm (“Chiêm Thành âm”)
Trang 37- Đời Trần : thế kỷ 13-14
Năm 1306, công chúa Huyền Trân, em vua Trần Anh Tông (1293-1314), “nướcnon ngàn dặm ra đi” sánh duyên cùng vua Chăm Chế Mân, và sính lễ là hai châu Ô và Rí(nam Quảng Trị, Thừa Thiên, bắc Quảng Nam) Sau khi công chúa ca bài Lý qua đèo,nhân dân hai vương quốc Đại Việt và Chămpa xích lại gần nhau hơn chút nữa, nhạc cungđình Thăng Long và nhạc dân gian Thuận Quảng “nhuộm màu Chàm” hơn chút nữa
Năm 1307, Lê Tắc, trong An Nam chí lược, cho biết : nhạc cung đình đời Trần cóĐại nhạc, trong dân gian có Tiểu nhạc với cả thảy 12 loại nhạc khí : đàn gáo, đàn cầm, tỳ
bà, thất huyền, tranh, tam, kèn tất lật, sáo dọc (tiêu), sáo ngang (địch), phách, tiểu bạt vàtrống cơm (phạn cổ) Trống này, Lê Tắc nói rõ là có gốc gác Chăm
- Đời Lê sơ : đầu thế kỷ 15 - đầu thế kỷ 16
Trị vì từ 1428 đến 1433, lê Thái Tổ (Lê Lợi) đã giao cho Nguyễn Trãi, tác giả Đạicáo bình Ngô, định ra qui chế triều phục và nhã nhạc Chưa kịp triển khai thì vua mất
Lê Thái Tông (1434-1442) lại giao việc đó cho Nguyễn Trãi tiếp tục làm, cùng vớiquan hoạn Lương Đăng Do trình độ tầm thường và tinh thần vọng ngoại của người này,Nguyễn Trãi xin trả lại công việc được giao Vua ưng thuận rồi sau đó nghe theo ý kiếncủa Lương Đăng bất chấp sự phản đối của Nguyễn Trãi và bốn đại thần khác
Năm 1437, Lương Đăng trình vua hai loại nhạc cung đình mới sao chép theo quichế nhã nhạc triều Minh : Nhạc ở trên điện vua và Nhạc ở dưới điện vua Nguyễn Trãitiếp tục phản đối và trình vua một quan điểm nhân văn và dân chủ cao quí về âm nhạc:
“Đời loạn dụng võ, thời bình chuộng văn… Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn
của nhạc Xin bệ hạ yêu nuôi muôn dân để chốn xóm thôn không còn tiếng oán hận buồn than Như thế mới không mất cái gốc của âm nhạc” (Toàn thư) Vua khen ngợi tư tưởng
của Nguyễn Trãi, nhưng việc thụ động sao chép nhạc nước ngoài là việc đã rồi Năm nămsau, ngày 19-9-1442 cả nhà Nguyễn Trãi bị kết án tru di tam tộc
Năm 1470, Lương Thế Vinh, tác giả Hí phường phả lục, đã cùng Thân Nhân Trung
và Đỗ Nhuận lại tham khảo nhã nhạc triều Minh với vua Lê Thánh Tông (1460-1497),người đã chính thức tẩy oan và khôi phục danh dự cho Nguyễn Trãi năm 1464, hai loại
nhạc cung đình mới : Đồng văn (khí nhạc) và Nhã nhạc (thanh nhạc).
Trang 38Giai đoạn tốt đẹp nhất của đời Lê là thời Hồng Đức của Lê Thánh Tông
(1470-1497) Đó là giai đoạn của Hội Tao đàn, của Thánh Tông di thảo, Hồng Đức quốc âm thi
tập, Hồng Đức bản đồ, Thiên Nam dư hạ tập… Nhạc cung đình đời Lê đạt đến đỉnh cao
với 8 thể loại : nhạc Tế giao, nhạc Tế miếu, nhạc Tế ngũ tự (5 vị thần), nhạc cứu MặtTrời, Mặt Trăng (khi có Nhật thực, Nguyệt thực), nhạc Đại triều, nhạc Thường triều,Nhạc cử 9 lần khi đại yến, nhạc dùng trong cung
- Thời Mạc, Lê trung hưng, Trịnh và Lê mạt ở Thăng Long và Đàng Ngoài : thế kỷ 16-18
Trong ba thế kỷ sau đời Lê sơ, ngoài các loại nhạc cung đình kể trên còn có Cổ
xúy đại nhạc, Nhạc huyền, Quân nhạc, Nhạc Bả lệnh (dùng trong phủ chúa Trịnh), Nhạc Giáo phường (vốn là nhạc dân gian, được đưa vào cung đình thay thế cho Đồng văn và
Nhã nhạc bị sa sút) Ba thế kỷ ấy cũng là thời nội chiến Mạc-Lê, Trịnh-Nguyễn liên miên,phân tranh chia cắt kéo dài, chúa tiếm quyền vua, nông dân khởi nghĩa, xã hội lầm thanloạn lạc ; đó là những nguyên nhân góp phần làm cho nhạc cung đình Đàng Ngoài ngưngđọng và dần dần đình đốn
- Thời các chúa Nguyễn xứ Đàng Trong : 1623-1777
Từ những năm 30 của thế kỷ 17, nhà văn hóa lớn của Đàng Trong là Đào Duy Từ(1572-1634) - tác giả của Hổ trướng khu cơ, Ngọa long cương vãn, Tư dung vãn, của hailũy Trường Dục và Nhật Lệ còn gọi là Lũy Thầy - tương truyền là tác giả một số bài hát,điệu múa và vở hát bội cung đình Về sau ông được thờ như một trong những vị tổ của âmnhạc và sân khấu Huế tại nhà từ đường Thanh Bình ở Huế đầu thế kỷ 19 Ông đã tiếp thu
âm nhạc và sân khấu Đàng Ngoài để giúp chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1623-1634) lập ramột hệ thống lễ nhạc, triều nhạc mới ở Đàng Trong: Hòa thanh thự của các chúa ở PhúXuân là một tổ chức nhạc cung đình lớn gồm ban nhạc, đội ca, đội múa đông đảo (ĐạiNam thực lục tiền biên)
Vào cuối thế kỷ 17 – đầu thế kỷ 18, nhạc cung đình Phú Xuân (Huế) đã khá hoànchỉnh, phong phú, hấp dẫn, theo những ghi chép và đánh giá của nhà sư Trung QuốcThích Đại Sán, thượng khách của chúa Nguyễn Phúc Chu (1692-1725)
Trang 39- Thời Tây Sơn : 1788-1802
Nhờ những ghi chép sinh động, cụ thể của Đại Thanh hội điển sự lệ và tập vănkiện ngoại giao Đại Việt quốc thư thời Tây Sơn mà nhạc cung đình của ta cuối thế kỷ 18hiện ra khá rõ nét
Hội điển triều Thanh mô tả chính xác trang phục các nhạc công, ca công, vũ côngcủa ta
Về phần nhạc khí, theo giáo sư Trần Văn Khê, nghệ nhân cung đình Tây Sơn chơi
8 loại nhạc khí mà hội điển triều Thanh đã ghi lại bằng chữ Nôm : “Một cái cổ (kai kou :trống), một cái phách (kai p’o), hai cái sáo (kai chao), một cái đàn huyền tử (kai-t'an hien-tse), một cái đàn hồ cầm (kai t’an hou k’in), một cái đàn song vận (kai t’an choang wen),tức là đàn nguyệt, một cái đàn tỳ bà (kai t’an p’i p’a), một cái tam âm la (kai san in lo)”
Về phần hát xướng, Đại Việt quốc thư của ta bổ sung như sau : Nhân dịp lễ thượngthọ của Càn Long 80 tuổi, đoàn quốc nhạc Đại Việt gồm 6 nhạc công và 6 ca công cungđình Phú Xuân đã biểu diễn cho hoàng đế nhà Thanh nghe “Nhạc phủ từ khúc thập điệu”
Có thể đây chính là liên khúc 10 bản Thập thủ liên hoàn, còn gọi là Mười bản Tấu hayMười bài Ngự nổi tiếng trong nhã nhạc cung đình Huế, thậm chí có nghệ nhân còn gọi sai
là "Mười bản Tàu" (có sự lẫn lộn giữa Tấu và Tàu, Tầu) (5)
- Thời thịnh triều Nguyễn : 1802-1885
Theo những tài liệu chủ yếu như Lịch triều hiến chương loại chí của Phan HuyChú (đầu thế kỷ 19) và các công trình lớn của Quốc sử quán (giữa thế kỷ 19) như Đại
Nam thực lục chính biên, Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ thì nhã nhạc cung đình Phú Xuân trong suốt 80 năm đã được phục hồi, chấn chỉnh và phát triển Các loại Giao nhạc,
Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Yến nhạc, Cung trung chi nhạc đã ảnh hưởng qua lại, thâm nhập lẫn nhau với nhạc cổ điển thính phòng (ca Huế,
đờn Huế) và nhạc tuồng cung đình (thanh nhạc và nhạc múa của hát bội Huế)
Đáng chú ý là nhiều nhà hát, rạp hát lớn nhỏ của vua chúa, đại thần và của cả dânthường được xây dựng : đài Thông minh trong cung Ninh Thọ đời Gia Long, Duyệt thịđường trong hoàng cung đời Minh Mạng, Minh khiêm đường trong Khiêm cung (lăng TựĐức), rạp hát Ông Hoàng Mười, nhà hát Mai Viên trong tư dinh thượng thư Đào Tấn đã
Trang 40không loại trừ hay lấn lướt sự tấp nập dân gian của những rạp hát Ông Sáu Ớt (NguyễnNhơn Từ), rạp hát gia đình họ Đoàn (ở An Cựu), rạp hát Bà Tuần (tồn tại đến 1975), v.v.
Đời Gia Long (1802-1820), Việt tương đội, kế thừa Hòa thanh thự của các chúaNguyễn, là một tổ chức âm nhạc cung đình lớn với 200 nghệ nhân ưu tú tuyển từ nhiềunơi trong nước Sân khấu ca múa nhạc và hát bội đầu tiên được dựng lên là đài Thôngminh, dành cho vua và hoàng gia
Đến đời Minh Mạng (1820-1840), nhà vua cho dựng nhà hát lớn đầu tiên trong lịch
sử âm nhạc và kịch nghệ Việt Nam : Duyệt thị đường (1824), đổi Việt tương đội thànhThanh bình thự với qui mô lớn hơn, lại lập thêm đội Nữ nhạc với 50 ca nữ, vũ nữ, nhạc
nữ ; đặc biệt triều đình còn cho dựng Nhà thờ các tổ sư nghệ thuật âm nhạc và hát bội Huếthờ Đào Duy Từ và hàng chục vị khác
Đời Tự Đức (1841-1883), âm nhạc thính phòng (ca Huế, đờn Huế), nhã nhạc vàhát bội cung đình đạt tới đỉnh cao Nhà hát lớn Minh Khiêm đường được dựng trongKhiêm cung (sau khi vua mất sẽ trở thành Khiêm lăng) Ông hoàng bà chúa tham giadựng rạp hát, sáng tác nhạc và tuồng hát bội Tương truyền Tứ đại cảnh là một tác phẩmcủa Tự Đức, ông vua này đã lập ra một thứ Hội Tao đàn mang tên Hiệu thư phòng, nơivua và các danh nho thời ấy xướng họa thơ văn, thưởng thức âm nhạc, sáng tác và nhuậnsắc các vở tuồng hát bội Nhà thơ và nhà soạn tuồng lỗi lạc Đào Tấn (1845-1907) là mộttrong những cột trụ của cơ quan văn hóa cung đình ấy Thời Tự Đức, nhiều tác phẩm viết
về nhạc Huế cổ điển và cung đình ra đời (được các nhạc sĩ Vĩnh Phan, Nguyễn Hữu Ba,
giáo sư Hoàng Xuân Hãn sưu tầm, gìn giữ) : đó là những Nam cầm phổ, Nguyệt cầm
phổ… ghi dấu một thời vang bóng.
- Thời suy triều Nguyễn : 1885 -1945
Thực dân Pháp gây hấn và bắt đầu xâm lược vương quốc Đại Nam từ Đà Nẵng rồilấn chiếm dần các tỉnh Nam bộ, Bắc bộ (1858-1883) Triều đình vội ký hàng ước rồitháng 8-1885 kinh đô Phú Xuân (Huế) thất thủ Các vua Nguyễn sau Tự Đức đều đượcPháp đưa ra ngồi làm vì, mất hết thực quyền Đời sống cung đình tẻ nhạt, âm nhạc cungđình ngày càng sa sút