Vấn đề đặt ra là Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất đã sử dụng có hiệu quả các tài sản cố định đó hay chưa, hiệu quả này là cao hay thấp so với một số đơn vị khai thác cảng trong khu vực Du
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
NGUYỄN VĂN HUỆ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI CẢNG QUỐC TẾ GEMADEPT DUNG QUẤT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
NGUYỄN VĂN HUỆ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI CẢNG QUỐC TẾ GEMADEPT DUNG QUẤT
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Phạm Văn Dũng
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các tài liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Kết quả nghiên cứu cuối cùng chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác trước đây
Hà Nội, ngày 08 tháng 8 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Văn Huệ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian quản lý về công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực cảng biển tại tỉnh Quảng Ngãi, và khảo sát, nghiên cứu thực tế về cảng biển trong toàn quốc nói chung, tại Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất nói riêng, luận văn thạc sỹ được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo PGS.TS Phạm Văn Dũng, Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia và các thầy cô giáo Khoa Kinh tế, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Tập thể lãnh đạo và các phòng ban, Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất tại Công ty CP Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất, cùng nhiều ý kiến đóng góp của các nhà khoa học kinh tế và các bạn đồng nghiệp
Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới PGS.TS Phạm Văn Dũng, Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia, các nhà khoa học và cán bộ giảng dạy của Khoa Kinh tế, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Ban lãnh đạo, Các Phòng ban, Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất tại Công ty CP Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất, các bạn đồng nghiệp và các bạn cùng lớp Cao học Kinh tế K26 đã giúp tác giả hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Trang 5VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG DOANH NGHIỆP 4 1.1 Tổng quan lý luận về tài sản cố định và hiệu quả quản lý tài sản cố định trong doanh nghiệp 4 1.1.1 Khái niệm về tài sản cố định 4 1.1.2 Đặc điểm và phân loại tài sản cố định 6 1.1.3 Hiệu quả và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định trong doanh nghiệp 10 1.2 Thực tiễn sử dụng tài sản cố định trong các doanh nghiệp khai thác cảng biển Việt Nam và bài học kinh nghiệm 23 1.2.1 Thực tiễn sử dụng TSCĐ trong các doanh nghiệp khai thác cảng biển 23 1.2.2 Bài học kinh nghiệm về sử dụng tài sản cố định trong các doanh nghiệp khai thác cảng biển 25 1.3.Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 26 Kết luận chương 1 28 Chương 2:THỰC TRẠNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI CẢNG QUỐC TẾ GEMADEPT DUNG QUẤT GIAI ĐOẠN 2011 -
2013 30 2.1 Khái quát chung về công ty CP cảng quốc tế Gemadept Dung Quất 30 2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Gemadept và Cảng Quốc
tế Gemadept Dung Quất 30
Trang 62.1.2.Cơ cấu tổ chức của Công ty CP Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất và
Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất 38
2.1.3 Các đặc điểm mang tính chất đặc thù trong hoạt động kinh doanh của Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất 40
2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty CP Cảng Quốc tế Gemadept giai đoạn 2011 – 2013 42
2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng TSCĐ tại cảng quốc tế Gemadept Dung Quất giai đoạn 2011 – 2013 46
2.2.1 TSCĐ của Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất 46
2.2.2 Thực trạng nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ tại Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất 56
2.2.3 Một số chỉ tiêu hiệu quả sử dụng TSCĐ ở Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất 62
2.3 Đánh giá thực trạng nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ của cảng quốc tế Gemadept Dung Quất 68
2.3.1.Kết quả đạt được 68
2.3.2.Hạn chế còn tồn tại 70
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI CẢNG QUỐC TẾ GEMADEPT DUNG QUẤT 71
3.1 Định hướng phát triển Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất và nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ 71
3.1.1 Định hướng phát triển của ngành Hàng Hải Việt Nam 71
3.1.2 Định hướng phát triển của Công ty Cổ phần Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất và Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất 72
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ tại Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất 73
3.2.1 Xây dựng kế hoạch sử dụng TSCĐ hợp lý 74
3.2.2 Đầu tư hợp lý vào tài sản cố định 74
3.2.3 Đồng bộ hóa tài sản cố định 75
3.2.4 Nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị, phương tiện vận tải 75
3.2.5 Xác định cơ cấu tài sản cố định hợp lý 76
Trang 73.2.6 Xây dựng kế hoạch sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định hợp lý 77
3.2.7 Phối hợp nhịp nhàng với các bộ phận trong công ty và với các đơn vị bên ngoài 78
3.3 Một số giải pháp cụ thể trước mắt nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ tại Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất 78
3.3.1 Cân đối lại năng lực sản xuất và thực trạng tài sản cố định 78
3.3.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định 80
3.3.3 Một số giải pháp chung khác 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GPS Hệ thống định vị toàn cầu
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
Bảng 2 1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty 43
Bảng 2 2: Hệ thống cầu bến 46
Bảng 2.3: Danh mục phương tiện thiết bị 47
Bảng 2 4: Các phương tiện thiết bị đã được đầu tư trong năm 2011 - 2013 49
Bảng 2 5: Nguyên giá TSCĐ của Công ty năm 2011 - 2013 50
Bảng 2 6: Giá trị còn lại của TSCĐ tại công ty giai đoạn 2011 - 2013 52
Bảng 2 7: Cơ cấu tài sản cố định của công ty giai đoạn 2011 - 2013 53
Bảng 2 8: Tình hình biến động TSCĐ của công ty giai đoạn 2011 - 2013 55
Bảng 2 9: Tình hình trích khấu hao TSCĐ tại công ty giai đoạn 2011 - 2013 60
Bảng 2 10: Chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng TSCĐ 63
Bảng 2 11: Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của TSCĐ 64
Bảng 2 12: Chỉ tiêu tỷ suất đầu tư TSCĐ 65
Bảng 2 13: Chỉ tiêu phản ánh mức khấu hao TSCĐ của công ty giai đoạn 2011 - 2013 66
Bảng 2.14: Chỉ tiêu phản ánh hàm lượng TSCĐ 67
Tên hình Hình 2 1: Cơ cấu tổ chức của Công ty Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất 38
Hình 2 2: Tổ chức quản lý của Đội dịch vụ Cảng Quốc tế Dung Quất 39
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Tài sản cố định (TSCĐ) là cơ sở vật chất quan trọng của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đóng vai trò quyết định đến năng suất lao động cũng như kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tài sản cố định, được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau do doanh nghiệp huy động trong quá trình đầu
tư Sử dụng hiệu quả tài sản cố định giúp doanh nghiệp tiết kiệm được vốn đầu tư, nâng cao được năng suất lao động và là cơ sở vô cùng quan trọng trong việc giảm giá thành sản phẩm
Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu, các ngân hàng tiến hành thắt chặt tín dụng, việc huy động được nguồn vốn cho đầu tư tài sản cố định mới phục
vụ sản xuất là hết sức khó khăn Do vậy, việc tận dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định nói riêng, tăng cường sử dụng tài sản cố định nói chung là việc làm hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện tại
Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất thuộc Công ty CP cảng quốc tế Gemadept Dung Quất là một đơn vị khai thác cảng biển Trong những năm gần đây Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất đã đầu tư một lượng vốn rất lớn từ nhiều nguồn khác nhau để mua sắm TSCĐ phục vụ cho quá trình khai thác cảng biển Vấn đề đặt
ra là Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất đã sử dụng có hiệu quả các tài sản cố định
đó hay chưa, hiệu quả này là cao hay thấp so với một số đơn vị khai thác cảng trong khu vực Dung Quất và so với mức trung bình ngành cung cấp dịch vụ, việc sử dụng theo dõi nó có chặt chẽ, cần có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả sử dụng chúng … thì chưa có một công trình nào đánh giá đúng mức Do vậy, cần phải có một công trình nghiên cứu toàn diện nhằm tìm ra được những mặt tốt, xấu trong quá trình sử dụng gồm các khâu xác định nhu cầu về tài sản cố định cho sản xuất kinh doanh, lập kế hoạch huy động vốn đầu tư, mua sắm, huy động tài sản cố định vào sản xuất và công tác theo dõi đánh giá, kiểm tra… để có thể phát huy tối đa nguồn vốn đầu tư, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chung cho Cảng Quốc tế Gemadept, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước Việc lựa chọn đề tài
Trang 11“Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất” là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay cả về cơ sở lý luận và thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng cơ sở khoa học cho những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ nhằm đảm bảo sản xuất liên tục, nhịp nhàng, giảm chi phí sửa chữa, tận dụng thời gian, công suất TSCĐ, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là các hoạt động liên quan đến hiệu quả sử dụng TSCĐ tại Cảng biển Quốc tế Gemadept Dung Quất
Phạm vi nghiên cứu: là hoạt động khai thác, sử dụng TSCĐ của Cảng Quốc
tế Gemadept Dung Quất giai đoạn 2011 - 2013 và các giải pháp áp dụng cho giai đoạn tới
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quanlý luận và thực tiễn về TSCĐ và hiệu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp
- Đánh giá thực trạng sử dụng và hiệu quả sử dụng TSCĐ của Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất có só sánh với một số đơn vị khai thác cảng biển khác nhằm chỉ ra những mặt mạnh và mặt còn tồn tại cũng như nguyên nhân của nó
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ của Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất
5 Phương pháp nghiên cứu
Để xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ của cảng biển, tác giả sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng hợp; phương pháp tiếp cận hệ thống, diễn dịch, quy nạp…
Để đưa ra các đánh giá về tình hình sử dụng tài sản cố định Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất cũng như một số đơn vị khai thác cảng biển khác, tác giả sử dụng phương pháp toán học, phương pháp mô hình hóa, phương pháp phân tích định lượng, phương pháp khảo sát, so sánh, thống kê
Trang 12Để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ, tác giả dùng phương pháp dự báo, chuyên gia, mô hình hóa…
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở bài, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 3 chương với kết cấu trong 92 trang, 14 bảng và 02 hình:
Chương 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về tài sản cố định và hiệu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất giai đoạn 2011-2013
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan lý luận về tài sản cố định và hiệu quả quản lý tài sản cố định trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về tài sản cố định
Doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) đều phải có một nguồn lực nhất định Nguồn lực của doanh nghiệp có thể được hình thành từ chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc từ các nguồn tài trợ bên ngoài và được sử dụng để đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu SXKD Trong số tài sản đầu tư cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp, tài sản cố định (TSCĐ) chiếm tỷ trọng chủ yếu
Các nhà nghiên cứu, xây dựng chế độ kế toán cho rằng: TSCĐ là biểu hiện của một nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, được phát sinh từ các sự kiện trong quá khứ và doanh nghiệp chắc chắn sẽ thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Theo quan điểm này, TSCĐ bao gồm nguồn lực hữu hình và vô hình mà doanh nghiệp đã đầu tư nhằm tạo ra lợi ích kinh
tế tương lai cho doanh nghiệp Mỗi TSCĐ trên có tính hữu ích khác nhau, yêu cầu
sử dụng cũng khác nhau nên phải tổ chức ghi chép trên những tài khoản khác nhau
Tư liệu lao động là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đó là những tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc một
hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào thì cả hệ thống không thể hoạt động được Để thuận tiện cho việc sử dụng, người ta chia tư liệu lao động ra thành 2 loại: Tài sản cố định và Công cụ, dụng cụ Từ đó ta đưa ra khái niệm Tài sản cố định như sau:
Tài sản cố định ( TSCĐ) trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, giá trị được chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm Theo quy định hiện hành, những tư liệu lao động nào có đủ cả 4 tiêu chuẩn sau thì được gọi là tài sản cố định:
Trang 14+ Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai;
+ Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy;
+ Thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên;
+ Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành
Theo thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25 tháng 4 năm 2013 của Bộ tài chính
áp dụng từ 10/6/2013 (thay Thông tư số 203/2009/TT-BTC) quy định:
+TSCĐ hữu hình: tư liệu lao động là những tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thỏa mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài sản cố định:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó
- Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên
Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải sử dụng riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thỏa mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập
+TSCĐ vô hình: Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thỏa mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn trên mà không hình thành TSCĐ hữu hình thì được coi là TSCĐ vô hình Những khoản chi phí không đồng thời thỏa mãn cả ba tiêu chuẩn trên được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
Riêng các chi phí phát sinh trong giai đoạn triển khai được ghi nhận TSCĐ
vô hình, được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp nếu thỏa mãn các điều kiện sau:
- Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo cho việc hoàn thành và đưa TSCĐ vô hình vào sử dụng theo dự tính hoặc để bán
Trang 15- Doanh nghiệp dự định hoàn thành TSCĐ vô hình để sử dụng hoặc để bán
- Doanh nghiệp có khả năng sử dụng hoặc bán ra TSCĐ vô hình đó
- TSCĐ vô hình đó phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương lai
- Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn triển khai để tạo ra TSCĐ vô hình đó
- Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định cho TSCĐ vô hình
Như vậy, với quan điểm trên, đứng trên góc độ kế toán, TSCĐ được ghi nhận
và theo dõi trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp
Tóm lại, TSCĐ là những tư liệu sản xuất không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khác với các loại tài sản khác, TSCĐ
là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, chúng tham gia trực tiếp vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tiêu chuẩn giá trị của chúng được quy định phù hợp với tình hình thực tế và các chính sách kinh tế, tài chính của Nhà nước
1.1.2 Đặc điểm và phân loại tài sản cố định
1.1.2.1 Đặc điểm của tài sản cố định
TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn, thuộc quyền sử dụng của doanh nghiệp Xuất phát từ đặc điểm này, doanh nghiệp cần theo dõi, sử dụng chặt chẽ TSCĐ về hiện vật và chất lượng, tránh hiện tượng mất mát hay không sử dụng Doanh nghiệp căn cứ vào nhu cầu, đặc điểm hoạt động SXKD cũng như khả năng tài chính để lựa chọn hình thức đầu tư TSCĐ phù hợp
Đặc điểm chung và cơ bản nhất của TSCĐ là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất Trong quá trình sản xuất, TSCĐ hao mòn dần và giá trị của nó được chuyển dịch dần dần từng phần vào chi phí kinh doanh và sản xuất ra sản phẩm Chính vì vậy, doanh nghiệp phải quan tâm đến việc bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa TSCĐ để tăng tuổi thọ sử dụng của tài sản, và lựa chọn phương pháp tính khấu hao thích hợp nhất nhằm đánh giá mức độ hao mòn để thu hồi giá trị đầu tư ban đầu của tài sản cố định Có hai loại hao mòn TSCĐ, đó là hao mòn hữu hình và vô hình Trong đó,
Trang 16hao mòn hữu hình là sự hao mòn vật lý trong quá trình sử dụng do bị cọ sát, ăn mòn, bị hư hỏng từng bộ phận; Còn hao mòn vô hình là sự giảm giá trị của TSCĐ
do tiến bộ khoa học kỹ thuật, sản xuất những loại TSCĐ có nhiều tính năng và công suất cao hơn với chi phí thấp hơn
Đánh giá TSCĐ có vai trò quan trọng trong việc đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, chúng được thể hiện rõ trên Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Vì vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng và sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần quan tâm sử dụng tốt và
tổ chức hạch toán TSCĐ cho phù hợp với tình hình SXKD của doanh nghiệp mình
Với những đặc điểm trên, sử dụng và sử dụng tốt TSCĐ sẽ góp phần giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất, thu hồi vốn đầu tư nhanh để tiếp mở rộng và trang
bị thêm cho chính doanh nghiệp mình
1.1.2.2 Phân loại tài sản cố định
TSCĐ trong doanh nghiệp có công dụng khác nhau, để sử dụng tốt cần phân loại TSCĐ Phân loại TSCĐ là việc sắp xếp các TSCĐ trong doanh nghiệp thành các loại, các nhóm TSCĐ có cùng tính chất, đặc điểm theo những tiêu thức nhất định Có nhiều cách phân loại TSCĐ khác nhau, trong đó một số cách phân loại thông dụng được nêu ra như sau:
Phân loại theo mục đính kinh doanh:
Theo Thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25 tháng 4 năm 2013 của Bộ tài chính
về chế độ sử dụng và trích khấu hao TSCĐ, doanh nghiệp tiến hành phân loại TSCĐ theo các chỉ tiêu sau:
* TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: là những TSCĐ do doanh nghiệp sử
dụng cho các mục đích kinh doanh của doanh nghiệp
+ Đối với TSCĐ hữu hình, doanh nghiệp phân loại như sau:
Nhà cửa, vật kiến trúc: là TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành sau quá trình thi công xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống, đường sắt, đường băng, sân bay, cầu cảng
Trang 17Máy móc thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị chuyên dùng, máy móc thiết bị công tác và dùng trong sản xuất kinh doanh
Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải ôtô, máy kéo, máy xúc, tàu thủy… dùng trong vận chuyển, các thiết bị truyền dẫn như:
hệ thống đường ống dẫn nước, dẫn điện, truyền thanh, …
Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho các sản phẩm thường là trong các doanh nghiệp nông nghiệp
Các loại TSCĐ hữu hình khác, bao gồm các TSCĐ chưa được sắp xếp vào nhóm TSCĐ trên
+ Đối với TSCĐ vô hình: là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp nắm giữ sử dụng cho sản xuất kinh doanh phù hợp, bao gồm một số loại sau:
- Quyền sử dụng đất: về giá trị được tính bằng tổng chi phí doanh nghiệp bỏ
ra để sử dụng đất, bao gồm: Tiền chi ra để có quyền sử dụng đất, chi phí đền bù san lấp, giải phóng mặt bằng…
- Nhãn hiệu hàng hóa: về giá trị, được tính bằng chi phí mà doanh nghiệp
bỏ ra để có được quyền sử dụng một loại nhãn hiệu, thương hiệu hàng hóa nào đó
- Bản quyền, bằng sáng chế: giá trị bằng phát minh, sáng chế là các chi phí doanh nghiệp phải trả cho các công trình nghiên cứu, sản xuất thử được Nhà nước cấp bằng
- Phần mềm máy tính do doanh nghiệp bỏ tiền ra mua hoặc tự xây dựng, thiết kế
- Giấy phép và giấy phép chuyển nhượng: về giá trị, chúng bao gồm chi phí
mà doanh nghiệp bỏ ra để có được các loại giấy phép, giấy phép nhượng quyền để doanh nghiệp có thể thực hiện các nghiệp vụ nhất định
Quyền phát hành: là chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có quyền phát hành các loại sách báo, tạp chí, ấn phẩm văn hóa, nghệ thuật khác
* TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng: là
những TSCĐ do doanh nghiệp sử dụng cho các mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng trong doanh nghiệp
Trang 18* TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ: là những TSCĐ doanh nghiệp bảo
quản hộ, giữ hộ, cho các đơn vị khác hoặc cất giữ hộ Nhà nước theo quy định của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu
Cách phân loại này giúp cho nhà sử dụng cũng như đối tượng có quan tâm đến doanh nghiệp nhìn vào biết được tài sản nào là của doanh nghiệp, tài sản nào không phải là của doanh nghiệp Căn cứ vào quyền sở hữu của doanh nghiệp chia thành 2 loại: TSCĐ tự có và TSCĐ thuê ngoài
+ TSCĐ tự có: là các TSCĐ được xây dựng, mua sắm và hình thành từ nguồn vốn ngân sách cấp, cấp trên cấp, nguồn vốn vay, nguồn vốn liên doanh, các quỹ của doanh nghiệp và các TSCĐ được biếu tặng Đây là những TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
+ TSCĐ thuê ngoài: là những TSCĐ đi thuê để sử dụng trong thời gian nhất định theo hợp đồng thuê tài sản
Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng
Cách phân loại này giúp cho nhà sử dụng cũng như những đối tượng có quan tâm đến doanh nghiệp nhìn vào biết được tài sản nào là sử dụng cho sản xuất kinh doanh, tài sản nào chưa dùng hoặc chưa cần dùng, tài sản nào chờ thanh lý
TSCĐ dùng cho sản xuất kinh doanh: là TSCĐ được sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất xây lắp của doanh nghiệp Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ của từng thời kỳ, TSCĐ được chia thành 2 loại:
+ TSCĐ dùng cho sản xuất kinh doanh: là TSCĐ được sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất xây lắp của doanh nghiệp
+ TSCĐ dùng ngoài sản xuất kinh doanh: là TSCĐ dùng cho những hoạt động sản xuất kinh doanh phụ, phụ trợ và những TSCĐ không có tính chất sản xuất
+ TSCĐ chưa dùng: là những tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay hoạt động khác của doanh nghiệp xong hiện tại chưa cần dùng đang được lưu trữ để sau này sử dụng
+ TSCĐ đang chờ thanh lý: là những TSCĐ đã hư hỏng hoặc quá lạc hậu
Trang 19Mỗi cách phân loại, ngoài việc có tác dụng khác nhau trong quá trình sử dụng tài sản, nó còn giúp kế toán thuận lợi trong việc xác định thời gian khấu hao phù hợp với mỗi loại tài sản
1.1.3 Hiệu quả và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định trong doanh nghiệp
1.1.3.1 Khái niệm về sử dụng tài sản cố định
Sử dụng theo nghĩa chung nhất là tổng thể những nhiệm vụ cần có của chủ thể
sử dụng nhằm tác động vào đối tượng bị sử dụng hướng đến mục tiêu định trước
Từ khái nhiệm chung trên có thể hiểu sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp là tổng thể các quyết định có liên quan đến việc mua sắm, sử dụng tài sản cố định phù hợp với mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp
Hay nói cách khác, sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp là tổng thể các quyết định về hoạch định kế hoạch, tổ chức thực hiện các biện pháp liên quan đến đầu tư vào TSCĐ, huy động TSCĐ vào sản xuất cũng như sử dụng chúng trong quá trình
sử dụng cả về hiện vật lẫn giá trị nhằm sử dụng có hiệu quả TSCĐ, giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao
Sử dụng TSCĐ đóng vai trò quan trọng, giúp doanh nghiệp theo dõi và sử dụng chặt chẽ số vốn đã đầu tư, có biện pháp và kế hoạch sử dụng hợp lý tài sản, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Như đã trình bày ở trên, TSCĐ là cơ sở vật chất kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, do đó TSCĐ cần được sử dụng chặt chẽ nhằm phát huy hiệu quả cao nhất trong quá trình sử dụng Việc sử dụng TSCĐ cần phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu sau:
- Thứ nhất, phải sử dụng được toàn bộ TSCĐ hiện có ở doanh nghiệp cả về hiện vật và giá trị
Việc sử dụng TSCĐ về mặt hiện vật ở hai khía cạnh: Về số lượng, sử dụng TSCĐ phải đảm bảo cung cấp đầy đủ máy móc thiết bị và các tài sản cần thiết để
Trang 20đáp ứng yêu cầu về công suất sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; Về chất lượng, việc bảo quản TSCĐ phải đảm bảo tránh hỏng hóc, mất mát làm giảm giá trị TSCĐ Để làm được điều đó, mỗi doanh nghiệp cần xây dựng nội quy bảo quản và
sử dụng TSCĐ một cách hợp lý, phù hợp với đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp mình; đồng thời mỗi doanh nghiệp cũng nên xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật đối với từng loại TSCĐ đang sử dụng
Việc sử dụng TSCĐ về mặt giá trị thể hiện ở việc doanh nghiệp có phương pháp xác định chính xác giá trị tài sản Không chỉ tính đúng, tính đủ chi phí liên quan đến hình thành tài sản, doanh nghiệp còn phải có biện pháp xác định mức độ hao mòn của tài sản và phân bổ chi phí hao mòn đó vào chi phí sản xuất một cách hợp lý Việc sửa chữa, tháo dỡ, lắp đặt thêm, cải tiến hay đánh giá lại tài sản đều phải dựa trên những nguyên tắc nhất định Trên cơ sở sử dụng về mặt giá trị TSCĐ, doanh nghiệp mới có thể xây dựng kế hoạch điều chỉnh tăng hoặc giảm TSCĐ theo từng loại TSCĐ cho phù hợp với yêu cầu hoạt động của doanh nghiệp
- Thứ hai, phải sử dụng quá trình thu hồi vốn đầu tư TSCĐ hiện có
Đây là yêu cầu rất quan trọng, vì việc lựa chọn và áp dụng phương thức nào
để thu hồi vốn đầu tư cho các TSCĐ trong doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến việc đánh giá tài sản trong quá trình sử dụng, từ đó ảnh hưởng đến chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động SXKD, … vì thế ngay từ khi đầu
tư hình thành TSCĐ, doanh nghiệp phải xác định yếu tố như giá trị phải thu hồi, thời gian sử dụng hay phương pháp thu hồi một cách hợp lý Ngay trong quá trình
sử dụng cũng phải phân tích, xem xét phương pháp đó có phù hợp hay không để có biện pháp điều chỉnh kịp thời
1.1.3.2 Hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Mọi hoạt động trong cơ chế thị trường đều bị chi phối bởi các quy luật thị trường Các quy luật này đều đòi hỏi các hoạt động kinh tế phải hiệu quả Do đó, TSCĐ (về giá trị là vốn cố định) là một nguồn lực đầu tư cho sản xuất – kinh doanh nên cũng phải được sử dụng hiệu quả
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định là hiệu suất (hay năng suất) sử dụng TSCĐ,
Trang 21được tính bằng tỷ số giữa kết quả kinh doanh với chi phí bỏ ra để mua TSCĐ
Do chi phí đầu tư cho TSCĐ không phải là nhỏ, quá trình sử dụng TSCĐ lại tương đối dài nên việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu sử dụng và đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ sẽ giúp nhà sử dụng trả lời những câu hỏi cơ bản như: việc sử dụng TSCĐ đó hiệu quả chưa, cơ cấu tài sản hiện tại có phát huy được năng lực sản xuất hay không ?… Nếu xét thấy tài sản được sử dụng không hiệu quả, không thích ứng với hoạt động của doanh nghiệp hoặc tài sản trở nên lạc hậu… doanh nghiệp có thể phải thay đổi phương pháp quản lý hoặc tiến hành thanh lý, nhượng bán để đầu tư thay thế bằng tài sản khác
1.1.3.3 Nội dung nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định, doanh nghiệp phải thực hiện các công việc sau:
a) Lựa chọn mua sắm TSCĐ
- Quy định chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ chặt chẽ giữa bộ phận sử dụng trong doanh nghiệp về mặt hiện vật và chất lượng của TSCĐ (bộ phận kỹ thuật, các bộ phận có liên quan đến sử dụng TSCĐ) với bộ phận sử dụng về giá trị của TSCĐ (bộ phận kế toán) trong việc xây dựng các kế hoạch mua sắm, đầu tư và
kế hoạch huy động TSCĐ vào sản xuất
- Việc mua sắm TSCĐ cần được cân nhắc, lựa chọn kỹ càng về số lượng, chất lượng, giá cả, công nghệ sử dụng Chỉ mua sắm những TSCĐ thật sự cần thiết, tránh lãng phí Đồng thời, cần chú ý lựa chọn TSCĐ phù hợp điều kiện sử dụng ở doanh nghiệp
- Xây dựng và áp dụng các quy trình, thủ tục trong sử dụng TSCĐ như: thủ tục đầu tư mua sắm, thủ tục điều chuyển, thủ tục thanh lý, nhượng bán và sửa chữa TSCĐ Thẩm quyền phê duyệt có thể gắn với chức danh sử dụng hoặc gắn với quy
mô tài sản hoặc giao dịch
b) Sắp xếp, bố trí TSCĐ
Để sử dụng hiệu quả,TSCĐphải được bố trí phù hợp với yêu cầu của quá trình sản xuất – kinh doanh Điều này xuất phát từ tính năng, tác dụng của TSCĐ, từ quy trình hoạt động của doanh nghiệp
Trang 22Sắp xếp, bố trí TSCĐ hợp lý sẽ cho phép phát huy tối đa công suất của TSCĐ, giảm bớt chi phí bảo quản, sửa chữa…
c) Khai thác, sử dụng TSCĐ theo đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật
- Người sử dụng TSCĐ phải có những hiểu biết cần thiết và có kỹ năng
thành thạo để sử dụng TSCĐ
- Quy định cụ thể trách nhiệm vật chất của các đơn vị, bộ phận trong doanh nghiệp đối với việc bảo quản, sử dụng TSCĐ nhằm tăng cường tính kỷ luật, nâng cao ý thức của các cá nhân, bộ phân liên quan, tránh mất mát và sử dụng lãng phí tài sản của doanh nghiệp
- Xây dựng các định mức hao phí yếu tố đầu vào cho hoạt động của TSCĐ
- Xây dựng các quy trình, quy phạm kỹ thuật của TSCĐ, hệ thống chỉ tiêu đánh giá tình hình trang bị và hiệu quả sử dụng TSCĐ thích hợp với đặc điểm hoạt động SXKD của doanh nghiệp và đáp ứng được yêu cầu thông tin ra quyết định của
sử dụng
- Thu thập thông tin từ các bộ phận sử dụng để đánh giá về tình trạng vật chất của TSCĐ, từ đó xây dựng các kế hoạch điều chuyển, đầu tư và sửa chữa TSCĐ phù hợp
d) Thống kê, kế toán TSCĐ
- Định kỳ tiến hành kiểm kê TSCĐ với sự tham gia của đại diện các bộ phận
kế toán, kỹ thuật, đơn vị sử dụng, bộ phận cơ giới hoặc xe, máy móc Mọi trường hợp chênh lệch sai sót phải lập biên bản xác định nguyên nhân và kiến nghị hướng
xử lý cụ thể
- Quy định cụ thể tiêu chuẩn và điều kiện ghi nhận TSCĐ trong doanh nghiệp Trên cơ sở quy định của Nhà nước và thông lệ chung, căn cứ vào đặc điểm hoạt động và đặc thù tài sản, doanh nghiệp xây dựng tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ, trong đó cần thiết phải đề cập đến tiêu chuẩn giá trị và thời gian sử dụng
- Tổ chức đánh số hiệu cho từng đối tượng ghi nhận TSCĐ nhằm thống nhất trong sử dụng TSCĐ toàn doanh nghiệp Việc đánh giá số hiệu TSCĐ phải khoa học, hợp lý, thống nhất
Trang 23- Mở và ghi sổ theo dõi TSCĐ tại nơi sử dụng, thẻ TSCĐ và sổ TSCĐ nhằm cung cấp các thông tin tăng, giảm TSCĐ theo từng bộ phận sử dụng phục vụ cho việc kiểm tra, đối chiếu, thực hiện trách nhiệm vật chất, theo dõi nguyên giá, khấu hao, giá trị còn lại và tình hình tăng giảm TSCĐ
Mọi TSCĐ trong doanh nghiệp phải có bộ hồ sơ riêng (gồm biên bản giao nhận TSCĐ, hợp đồng, hóa đơn mua TSCĐ và các chứng từ, giấy tờ khác có liên quan) Mỗi TSCĐ phải được sử dụng theo nguyên giá, số hao mòn lũy kế và giá trị còn lại trên sổ sách kế toán
Đối với những TSCĐ không cần dùng, chờ thanh lý nhưng chưa hết khấu hao, doanh nghiệp phải sử dụng, theo dõi, bảo quản theo quy định hiện hành và trích khấu hao theo quy định
e) Sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ
Việc sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐnhằm phát huy hết công suất và kéo dài thời gian sử dụng là nội dung quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụngTSCĐ Việc sửa chữa khi hỏng hóc là rất cần thiết nhưng điều quan trọng hơn là sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ Việc sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ không chỉ có tác dụng kéo dài tuổi thọ TSCĐ, mà còn tránh được những hỏng hóc bất thường, duy trì kế hoạch làm việc theo đúng tiến độ
1.1.3.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Theo quan điểm của tác giả, hiệu quả sử dụng TSCĐ được phản ánh gián tiếp qua các chỉ tiêu đánh giá tình hình biến động và hiệu quả sử dụng TSCĐ Bởi
vì, nếu cơ cấu đầu tư vào TSCĐ trong doanh nghiệp hợp lý, kế hoạch huy động và
sử dụng TSCĐ phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh, công tác theo dõi, kiểm tra, sửa chữa kịp thời, … thì hiệu suất sử dụng TSCĐ sẽ cao Mặt khác, việc lựa chọn cách tính khấu hao phù hợp, đánh giá đúng giá trị TSCĐ để phản ánh giá trị của chúng vào các bảng cân đối kế toán cũng là cơ sở quan trọng để các nhà sử dụng đưa ra các giải pháp sử dụng TSCĐ cho phù hợp
Vì vậy, sau mỗi chu kỳ kinh doanh, việc đánh giá lại tình hình và hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào cho hoạt động sản xuất, nhất là tình hình và hiệu quả sử
Trang 24dụng TSCĐ có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả sử dụng doanh nghiệp nói chung và TSCĐ nói riêng Đó sẽ là cơ sở để có thể so sánh giữa hiệu quả thực hiện thực tế và kế hoạch, giữa kỳ này với các kỳ trước, để từ đó đề ra các giải pháp, kế hoạch cải tiến tổ chức lao động, tổ chức sản xuất nhằm khai thác và sử dụng tài sản một cách hợp lý, hiệu quả cao nhất Việc đánh giá đó được thực hiện qua việc phân tích một cách hệ thống các chỉ tiêu sau:
a Các chỉ tiêu đánh giá chung hiệu quả sử dụng TSCĐ
Hiệu quả sử dụng TSCĐ được đánh giá qua 2 chỉ tiêu tổng hợp là:
- Hệ số hiệu suất sử dụng TSCĐ:
Là chỉ tiêu cho biết một đơn vị giá trị TSCĐ đã tham gia làm ra bao nhiêu đơn vị sản phẩm (được tính bằng hiện vật hoặc giá trị) trong thời kỳ nghiên cứu (thường lấy là 1 năm)
Q - Khối lượng sản phẩm làm ra trong kỳ
G - Giá trị sản phẩm sản xuất ra trong kỳ (giá trị tổng sản lượng)
1 1
i vi vi dk
bq
t V t
V V
Vdk, Vck: Giá trị TSCĐ đầu kỳ và cuối kỳ
Vvi, Vrj: Giá trị TSCĐ thứ i đưa vào hoặc thứ j đưa ra khỏi quá trình sản xuất
tvi, trj: Số ngày đưa loại TSCĐ i vào và thứ j ra khỏi quá trình sản xuất trong kỳ
- Hệ số huy động TSCĐ (còn được gọi là hệ số đảm nhiệm TSCĐ)
Là chỉ tiêu nghịch đảo của hệ số hiệu suất sử dụng TSCĐ
Trang 25hs d
b Các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng tài sản cố định (TSCĐ)
- Đánh giá tình hình huy động số lượng máy móc thiết bị hiện có vào sản xuất
Tiến hành so sánh máy móc thiết bị hiện có với số lượng máy móc thiết bị lắp đặt và số máy móc thiết bị đang hoạt động của doanh nghiệp để đưa ra kết quả
về tình hình đầu tư và tình hình sử dụng TSCĐ Nếu số máy móc thiết bị đang hoạt động chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số hiện có thì gây bất lợi cho sản xuất và điều
đó cũng phản ánh công tác sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp kém Những nguyên nhân thuộc về sử dụng TSCĐ có thể dẫn tới tỷ trọng này nhỏ do: đầu tư mua sắm máy móc thiết bị không phù hợp, không đảm bảo về kế hoạch sửa chữa, thay thế phụ tùng, do tổ chức sản xuất và phân bổ nguồn lực TSCĐ không tốt, …
- Đánh giá tình hình sử dụng thời gian làm việc của máy móc thiết bị
Các chỉ tiêu sử dụng thời gian làm việc của máy móc thiết bị cho phép đánh giá trình độ sử dụng và sử dụng chúng theo chiều rộng Để phân tích người ta dùng các hệ
số sử dụng thời gian theo lịch, theo chế độ và theo kế hoạch với công thức sau:
tt 1
Trang 26Ttt, T1, Tcd và Tkh - Tương ứng là thời gian làm việc thực tế, thời gian làm việc theo lịch, theo chế độ và theo kế hoạch trong kỳ của máy móc thiết bị
- Đánh giá tình hình sử dụng năng suất của máy móc thiết bị
Mục đích là đánh giá trình độ sử dụng máy móc thiết bị theo chiều sâu Đây
là phương hướng chủ yếu hiện nay để tăng hiệu quả sử dụng TSCĐ nói chung và máy móc thiết bị sản xuất nói riêng
Để đánh giá, cần thống kê về năng suất thực tế của máy móc thiết bị, về số lượng và hiện trạng của máy móc thiết bị chủ yếu Ngoài ra khi cần thiết, cần khảo sát kỹ thuật về năng suất thiết bị để có số liệu Tiến hành so sánh năng suất thực tế đạt được với kế hoạch để chỉ ra trình độ tận dụng năng suất của máy móc thiết bị
- Đánh giá tình hình tăng giảm và kết cấu TSCĐ
Mục đích là đánh giá tình hình biến động TSCĐ và liên hệ với tình hình sản xuất để đánh giá tính hợp lý của biến động cũng như kết cấu TSCĐ Qua đó phản ánh trình độ sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp là tốt hay chưa tốt Những nhận định
cụ thể cần rút ra qua quá trình đánh giá này là:
+ Sự tăng giảm của TSCĐ có xuất phát từ nhu cầu của sản xuất không, có phù hợp với xu thế phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật không?
+ Doanh nghiệp đã chú trọng đến tính hợp lý của tỷ trọng TSCĐ dùng trong sản xuất, trong đó nhóm TSCĐ có tác động tích cực và trực tiếp?
+ Doanh nghiệp đã chú trọng đến tính hợp lý của tỷ trọng TSCĐ dùng trong sản xuất, trong đó nhóm TSCĐ có tác động tích cực và trực tiếp đến sản xuất như máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện sản xuất, phương tiện vận tải, dụng cụ sản xuất, … hay chưa?
Để đánh giá rõ hơn sự biến động tăng giảm TSCĐ ta có thể dùng các hệ số:
Tổng nguyên giá TSCĐ cuối kỳ
Tổng nguyên giá TSCĐ đầu kỳ
- Đánh giá tình trạng kỹ thuật của máy móc thiết bị
Trang 27Nhằm đánh giá khả năng đáp ứng về tình trạng kỹ thuật của thiết bị so với nhu cầu sản xuất sản phẩm Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc kế hoạch hóa tái sản xuất TSCĐ là một nội dung quan trọng trong công tác sử dụng TSCĐ Tình trạng kỹ thuật được xác định thông qua mức độ hao mòn của tài sản ở các thời điểm khác nhau Có thể đánh giá mức hao mòn bằng 1 trong những cách sau:
+ Đánh giá theo tình trạng kỹ thuật của các chi tiết, bộ phận:
Cán bộ kỹ thuật kiểm tra đánh giá tình trạng kỹ thuật của các bộ phận, chi tiết, sau đó xác định mức độ hao mòn của máy móc thiết bị bằng phương pháp tính bình quân gia quyền, với trọng số là tỷ trọng giá trị của các bộ phận so với giá trị của thiết bị
+ Đánh giá mức độ hao mòn theo khối lượng công tác thực tế:
,%
100.T.Q
T.QT
dm dm
tt tt
Trong đó:
Ttt và Tdm – Số năm đã làm việc thực tế và số năm làm việc theo định mức
Qtt và Qdm- Khối lượng công tác thực tế bình quân hàng năm và khối lượng theo định mức tiêu chuẩn của thiết bị
+ Đánh giá mức độ hao mòn theo số tiền đã khấu hao
Theo quan điểm về sự luân chuyển vốn cố định, khi TSCĐ tham gia vào sản xuất thì bị hao mòn, để bù đắp các hao mòn đó người ta tiến hành trích khấu hao TSCĐ Khi TSCĐ tham gia càng nhiều lần vào quá trình sản xuất kinh doanh thì càng bị hao mòn nhiều và tiền trích khấu hao TSCĐ càng lớn Vì vậy, tỉ lệ giữa tổng
số tiền trích khấu hao TSCĐ tại thời điểm nghiên cứu so với giá trị ban đầu của TSCĐ cũng phản ánh gián tiếp mức độ hao mòn TSCĐ
Trang 28Công thức này có thể áp dụng cho từng loại TSCĐ hoặc toàn bộ TSCĐ Ngoài tỷ lệ hao mòn, để đánh giá tình trạng kỹ thuật của máy móc thiết bị, người ta còn phân chúng thành các nhóm theo thời gian sử dụng hoặc phân loại theo phẩm cấp chất lượng kỹ thuật (A, B, C, …)
- Đánh giá trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động
Đánh giá trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động phản ánh trình độ cơ giới hóa trong lao động cũng như tiềm năng của năng suất lao động (NSLĐ) trong doanh nghiệp đồng thời phản ánh trình độ sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp Để đánh giá
Số công nhân lớn nhất trong ca sản xuất Các phương tiện kỹ thuật gồm thiết bị động lực, máy móc thiết bị sản xuất, thiết bị truyền dẫn, phương tiện vận tải, dụng cụ làm việc và đo lường Sở dĩ lấy số công nhân lớn nhất trong 1 ca vì khi đó đạt được mức huy động công suất cao nhất
- Đánh giá trình độ sử dụng năng lực sản xuất
Năng lực sản xuất của doanh nghiệp là khả năng sản xuất lớn nhất khi tận dụng một cách đầy đủ máy móc thiết bị cả về công suất và thời gian, trong điều kiện
áp dụng các hình thức tổ chức sản xuất và tổ chức lao động hợp lý phù hợp với thực
tế Việc đánh giá trình độ sử dụng năng lực sản xuất nhằm: Đánh giá quy mô sản xuất hợp lý với lượng TSCĐ đã có nhằm đạt tới hiệu quả kinh tế cao nhất; Xác định mức độ tận dụng các nguồn tiềm năng và trình độ tổ chức sử dụng TSCĐ phục vụ cho SXKD Từ đó, doanh nghiệp có cơ sở định hướng phát triển theo quy mô đầu tư
và quy mô sản xuất kinh doanh Các chỉ tiêu chủ yếu dùng để phân tích năng lực sản xuất bao gồm:
+ Hệ số tận dụng năng lực sản xuất về mặt công suất:
Trang 29tt
cs kn
P H P
Trong đó:
Ptt – Cường độ sản xuất đạt được trên thực tế
Pkn – Cường độ sản xuất theo khả năng (năng lực sản xuất)
+ Hệ số tận dụng năng lực sản xuất về mặt thời gian:
cđ
tt tg
T
T
Trong đó:
Ttt – Thời gian làm việc thực tế của khâu sản xuất
Tcđ – Thời gian làm việc theo chế độ công tác quy định
+ Hệ số tận dụng tổng hợp năng lực sản xuất
+ Hệ số tận dụng tổng hợp năng lực sản xuất
kn tt cd
tt kn
tt th
Q
Q T
T x P
P
Trong đó:
Qtt – Sản lượng thực tế kỳ phân tích
Qkn – Năng lực sản xuất của kỳ
Sau khi tính toán các chỉ tiêu kết hợp với việc tìm hiểu thực tế sản xuất sẽ giúp các nhà sử dụng doanh nghiệp và sử dụng TSCĐ nhận định được: tính cân đối
về năng lực sản xuất giữa các khâu và các quá trình sản xuất; Sự đáp ứng của năng lực sản xuất ở từng khâu của toàn doanh nghiệp với nhu cầu phát triển của sản xuất; trình độ tận dụng năng lực sản xuất, … và qua đó phản ánh trình độ sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp
1.1.3.5 Đặc điểm của doanh nghiệp kinh doanh cảng biển và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản cố định trong các doanh nghiệp hoạt động cảng biển
Trang 30Các doanh nghiệp cảng biển thực hiện chức năng sản xuất đặc biệt so với những các doanh nghiệp ở những ngành sản xuất khác, các doanh nghiệp này không sản xuất ra các sản phẩm vật chất trực tiếp đáp ứng nhu cầu sinh hoạt xã hội mà nó
là cầu nối cho quá trình sản xuất, đáp ứng nhu cầu vận chuyển, bốc dỡ, lưu giữ tạm thời hàng hóa, máy móc, thiết bị để phục vụ cho quá trình lưu thông hàng hóa, sản xuất của các đơn vị kinh doanh khác Chính vì vai trò quan trọng này và đặc điểm sản xuất riêng mà việc sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp khai thác cảng biển cũng
bị ảnh hưởng bởi những nhân tố khác nhau trong đó có những nhân tố chung giống như doanh nghiệp khác và có những nhân tố mang các nét đặc thù Trong đó:
a Các nhân tố khách quan
* Môi trường kinh tế:
Thuộc về môi trường này có một số nhân tố sau:
- Lạm phát: Do tác động của nền kinh tế có lạm phát, sức mua của đồng tiền
bị giảm sút, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay dẫn đến giá cả thị trường thay đổi tăng nhanh một cách bất ngờ Vì vậy, doanh nghiệp không điều chỉnh kịp thời thì sẽ gây thiệt hại kinh tế đáng kể và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản cố định
- Rủi ro kinh tế: Khi tham gia kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, nếu thị trường không ổn định, sức mua có hạn thì làm tăng lên các rủi ro cho doanh nghiệp Ngoài ra, doanh nghiệp có thể gặp nhiều rủi ro bất thường như thiên tai, hỏa hoạn, tại nạn, … sự thay đổi chính sách của Nhà nước cũng ảnh hưởng tới doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp
* Môi trường công nghệ:
Môi trường công nghệ ảnh hưởng mạnh đến công tác sử dụng TSCĐ và hiệu quả sử dụng TSCĐ Với lĩnh vực cảng biển là lĩnh vực sử dụng nhiều máy móc, thiết bị siêu trường, siêu trọng, hiện đại và có giá trị lớn như tàu lai, xe cẩu, xe nâng
và các loại xe tải, vì vậy để tăng cường hiệu quả sử dụng TSCĐ, trong quá trình mua sắm và sử dụng doanh nghiệp luôn cập nhập các thông tin khoa học, kỹ thuật tiên tiến nhất để có thể mua sắm được cái loại máy móc hiện đại, có chất lượng tốt với giá hợp lý
Trang 31* Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên có tác động đến doanh nghiệp Ngày nay khoa học phát triển thì sự lệ thuộc của con người vào tự nhiên ngày càng giảm đi, ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng cũng ít hơn trừ các doanh nghiệp mang tính thời vụ hoặc mang tính khai thác
TSCĐ của doanh nghiệp cảng biển không chỉ hoạt động ngoài trời, mà còn hoạt động ở môi trường ven biển, chịu tác động của nhiều yếu tố rủi ro, các yếu tố
về địa vật lý, địa hình, độ sâu, luồng lạch, điều kiện khí hậu, môi trường nước mặn, khả năng ăn mòn cao, vì vậy các loại TSCĐ đặc biệt là hệ thống cầu cảng, các loại máy móc thiết bị thường xuyên cần được bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp để đảm bảo hoạt động thường xuyên của cảng
* Môi trường pháp lý: Việc sử dụng TSCĐ phải tuân theo nhưng quy định chung của Nhà nước, cụ thể là các chính sách thuế, các quy định về hạch toán kế toán, quy định về sử dụng, bảo dưỡng TSCĐ, khấu hao, thanh lý các loại tài sản có giá trị lớn này
b Các nhân tố chủ quan
* Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp: Để mua sắm TSCĐ đầu tư mở rộng hoặc nâng cấp tại các cảng biển cần một lượng vốn lớn, nguồn vốn này có thể do doanh nghiệp tự trang trải hoặc đi thuê tài chính ngắn hạn và dài hạn Thực tế, để
mở rộng hoạt động của mình, các doanh nghiệp cảng biển thường tiến hàng đi thuê tài chính để xây dựng, mua sắm các loại TSCĐ này, phát sinh nhiều chi phí vốn
* Ngành nghề kinh doanh: Là nơi bốc dỡ, vận chuyển các loại hàng hóa nên các TSCĐ của cảng biển thường có giá trị rất lớn và chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp cảng biển Trong tổng giá trị TSCĐ thì TSCĐ hữu hình chiếm tỷ lệ cao nhất, phần lớn trên 85%, trong đó chủ yếu bao gồm nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị bốc dỡ, vận chuyển cụ thể như: Hệ thống cầu tàu, bến bãi, nhà làm việc, tàu lai dắt, xe đầu kéo, hệ thống các loại xe cẩu, xe nâng,
xe tải, xe con, … TSCĐ vô hình chiếm tỷ trọng nhỏ, chủ yếu bao gồm giá trị quyền
sử dụng đất, phần mềm máy tính Chính vì lý do này việc sử dụng và sử dụng
Trang 32TSCĐ cần có kế hoạch cụ thể, tránh tình trạng lãng phí, mất mát, hỏng hóc trong quá trình hoạt động
* Lực lượng lao động: Trình độ người lao động cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng TSCĐ trong các doanh nghiệp khai thác cảng biển Một lực lượng lao động có chuyên môn và kỷ luật cao sẽ giúp doanh nghiệp sử dụng hiệu quả TSCĐ, kéo dài tuổi thọ các tài sản này, góp phần giảm chi phí sản xuất của doanh nghiệp
1.2 Thực tiễn sử dụng tài sản cố định trong các doanh nghiệp khai thác cảng biển Việt Nam và bài học kinh nghiệm
1.2.1 Thực tiễn sử dụng TSCĐ trong các doanh nghiệp khai thác cảng biển
TSCĐ là bộ phận quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cảng biển Các doanh nghiệp khai thác cảng biển rất quan tâm đến công tác sử dụng tài sản nói chung, sử dụng TSCĐ nói riêng Khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp khai thác cảng biển, ví dụ như Bến số 1 cảng PTSC Quảng Ngãi, Cảng Doosan Vina tại Dung Quất, có thể thấy công tác sử dụng TSCĐ có những đặc điểm sau:
Bộ phận kế toán chịu trách nhiệm theo dõi, phản ánh tình hình hiện có và biến động của từng loại TSCĐ và tất cả TSCĐ của doanh nghiệp theo chỉ tiêu giá trị Đối với Cảng Quốc tế Gemadept, Phòng kế hoạch, Phòng kỹ thuật sản xuất, Phòng An toàn chất lượng và bộ phận sử dụng TSCĐ có trách nhiệm theo dõi, sử dụng TSCĐ về mặt hiện vật, số lượng, tình trạng kỹ thuật, khả năng hoạt động của TSCĐ, ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSCĐ, quy trình vận hành bảo dưỡng sửa chữa TSCĐ Giữa Phòng kế toán và các bộ phận này có mối quan hệ chặt chẽ trong việc thực hiện đầu tư, thanh lý, nhượng bán, sửa chữa, điều chuyển TSCĐ
Trách nhiệm sử dụng TSCĐ tại các bộ phận sử dụng trực tiếp, giao cho người sử dụng các bộ phận trên cơ sở quyết định điều chuyển TSCĐ của Giám đốc
và biên bản giao nhận Trên cơ sở kế hoạch SXKD của doanh nghiệp và nhu cầu sử dụng TSCĐ của các bộ phận, Phòng kế hoạch và Phòng kỹ thuật sản xuất sẽ đề nghị Giám đốc phê duyệt điều chuyển TSCĐ
Trang 33Đối với sửa chữa TSCĐ, đầu năm mỗi đơn vị, bộ phận sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp có trách nhiệm kiểm tra tình trạng kỹ thuật, số lượng và chất lượng TSCĐ, lập kế hoạch sửa chữa thường xuyên, sửa chữa lớn và sửa chữa nâng cấp TSCĐ Phòng Kế hoạch và Phòng Kỹ thuật sản xuất tổng hợp kế hoạch sửa chữa trong toàn doanh nghiệp, trình Giám đốc phê duyệt làm căn cứ sử dụng công tác sửa chữa TSCĐ trong năm Khi tiến hành sửa chữa, trên cơ sở đề nghị của bộ phận sử dụng TSCĐ và kết quả kiểm tra của phòng Kỹ thuật sản xuất Giám đốc phê duyệt quyết định sửa chữa Căn cứ vào quyết toán chi phí sửa chữa, kế toán ghi nhận toàn
bộ hoặc phân bổ dần đều vào chi phí SXKD hoặc ghi tăng nguyên giá TSCĐ tùy thuộc vào từng loại sửa chữa
Việc quyết định thời gian sử dụng dự kiến để tính khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp thuộc về Hội đồng quản trị và ban Giám đốc, bên cạnh việc tuân thủ các quy định về trích khấu hao đối với từng loại tài sản của Bộ tài chính Thẩm quyền quyết định số kỳ phân bổ chi phí sửa chữa lớn TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh thuộc về Kế toán trưởng và Giám đốc doanh nghiệp
Trong trường hợp thanh lý, nhượng bán TSCĐ thì thành lập hội đồng gồm: Giám đốc, Kế toán trưởng, đại diện Phòng kế hoạch, Phòng Kỹ thuật sản xuất và bộ phận sử dụng TSCĐ Việc thanh lý, nhượng bán phải được Phòng kế hoạch sản xuất phối hợp với Phòng kế toán kiểm tra báo cáo Hội đồng kiểm kê và thanh lý tài sản, Ban giám đốc, Hội đồng quản trị (nếu có) quyết định Giá thanh lý, nhượng bán do Giám đốc doanh nghiệp phê duyệt trên cơ sở đề nghị của Hội đồng thanh lý, nhượng bán
Thẩm quyền phê duyệt đầu tư, thanh lý, nhượng bán, điều chuyển TSCĐ ở các doanh nghiệp thực hiện theo quy mô tài sản, cụ thể như sau:
1 Các Công ty chủ động thanh lý những tài sản kém, mất phẩm chất, lạc hậu
kỹ thuật, không có nhu cầu sử dụng, tài sản hư hỏng không thể phục hồi được, tài sản đã hết thời gian sử dụng Nhượng bán tài sản phải thông qua phương thức đấu giá công khai theo quy định Nhà nước
2 Khoản chênh lệch giữa giá trị thu hồi được khi thanh lý tài sản với giá trị còn lại của tài sản và chi phí thanh lý (nếu có) được hạch toán vào kết quả kinh doanh của Công ty
Trang 343 Giám đốc Công ty quyết định thanh lý các tài sản cố định đã thu hồi vốn,
đã hết thời gian sử dụng và sau đó báo cáo với Hội đồng quản trị
4 Nhượng bán tài sản:
- Đối với những tài sản chưa thu hồi đủ vốn nhưng đã có quyết định thanh lý: Khi thanh lý, nhượng bán tài sản phải lập Hội đồng giám định tình trạng kỹ thuật, giá trị và Hội đồng thanh lý, nhượng bán để tổ chức thực hiện thông báo rộng rãi và đầu giá công khai Giám đốc Công ty được quyết định tài sản này
- Số tiền thu được do thanh lý, nhượng bán được hạch toán vào thu nhập khác Giá trị còn lại theo sổ sách kế toán của tài sản thanh lý, nhượng bán và chi phí thanh lý nhượng bán được hạch toán vào chi phí khác
1.2.2 Bài học kinh nghiệm về sử dụng tài sản cố định trong các doanh nghiệp khai thác cảng biển
- Các doanh nghiệp khai thác cảng biển đã áp dụng công nghệ thông tin vào trong quản lý, sử dụng TSCĐ, nhưng đa phần mức độ áp dụng chưa cao, các phần mềm trong doanh nghiệp không thống nhất, mỗi doanh nghiệp có phần mềm khác nhau
- Cán bộ sử dụng nói chung và cán bộ sử dụng vận hành TSCĐ nói riêng mặc dù đã được quan tâm nâng cao trình độ năng lực nhưng trình độ sử dụng vận hành ở một số doanh nghiệp khai thác cảng biển còn yếu
- Các doanh nghiệp khai thác cảng biển chưa thực hiện đánh số hiệu cho TSCĐ Điều này gây khó khăn nhất định cho việc theo dõi, kiểm kê và sử dụng TSCĐ trong phạm vi toàn doanh nghiệp cũng như từng bộ phận, đơn vị sử dụng Với đặc điểm là các tài sản có giá trị lớn, hiện đại đòi hỏi việc sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp bằng số hiệu là cần thiết và quan trọng
- Các hình thức đầu tư TSCĐ trong doanh nghiệp khai thác cảng biển đơn giản, phần lớn chỉ bao gồm tăng do mua, thuê và xây dựng cơ bản, chưa khai thác các hình thức như mua trả góp, trao đổi TSCĐ Trong điều kiện khả năng tài chính còn hạn hẹp mà nhu cầu về số lượng, chủng loại và chất lượng của TSCĐ trong doanh nghiệp ngày càng cao thì cần đa dạng hóa các hình thức đầu tư sao cho phù hợp với yêu cầu sử dụng, khả năng tài chính và hiệu quả kinh tế
Trang 35- Các doanh nghiệp khai thác cảng biển mới quan tâm đến việc lập báo cáo tăng TSCĐ mà không lập báo cáo giảm TSCĐ Các trường hợp thanh lý, nhượng bán, điều chuyển, thiếu mất TSCĐ cần được phản ánh trong báo cáo giảm TSCĐ Việc không lập báo cáo một mặt không cung cấp được thông tin tổng hợp cho sử dụng về tình hình biến động giảm TSCĐ, một mặt gây khó khăn cho việc lập báo cáo TSCĐ và ghi chú bổ sung cho tăng, giảm khoản mục TSCĐ trong thuyết minh báo cáo tài chính của doanh nghiệp khai thác cảng biển
- Hầu hết các doanh nghiệp khai thác cảng biển chưa xây dựng quy chế tài chính nội bộ và quy chế sử dụng TSCĐ Quy chế tài chính nội bộ quy định nội dung, trình tự ghi nhận doanh thu, chi phí, thẩm quyền phê duyệt đầu tư, điều chuyển, thanh lý, nhượng bán tài sản nói chung, TSCĐ nói riêng, nhận vốn góp, phân chia lợi nhuận, xử lý lỗ, mục đích sử dụng các quỹ, chế độ kế toán, kiểm toán,
… quy trình sử dụng TSCĐ đề cập đến các vấn đề tổ chức, kinh tế, kỹ thuật trong việc đầu tư, điều chuyển, sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa, thanh lý, nhượng bán TSCĐ Việc ban hành và áp dụng quy chế tài chính nội bộ, quy chế sử dụng TSCĐ
sẽ tạo ra sự thống nhất, minh bạch và công khai trong quá trình thực hiện, làm tăng tính hiệu năng của công tác sử dụng và tính hiệu quả trong sử dụng TSCĐ
- Các doanh nghiệp khai thác cảng biển hiện nay đều chưa tổ chức kế toán quản trị TSCĐ và chưa tiến hành phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung
và hiệu quả sử dụng TSCĐ nói riêng Tất cả các phần hạch toán tại bộ phận kế toán, trong đó có phần hạch toán TSCĐ đều thực hiện chức năng kế toán tài chính Việc theo dõi, sử dụng về số lượng, tình trạng kỹ thuật và điều động TSCĐ thuộc về Phòng
kế hoạch sản xuất Việc phân tích hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng TSCĐ không được tiến hành thường xuyên, không tổ chức bộ máy phân tích và xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích, đánh giá Các doanh nghiệp khai thác cảng biển chỉ tiến hành tính toán một số chỉ tiêu phục vụ cho việc đánh giá khái quát tình hình tài chính
và kết quả kinh doanh khi lập thuyết minh báo cáo tài chính vào cuối năm
1.3.Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian vừa qua, đã có nhiều tác giả tập trung nghiên cứ về TSCĐ
Trang 36trong doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp khai thác cảng biển nói riêng, có thể kể ra:
- Các nghiên cứu về phân tích hiệu quả sử dụng TSCĐ và công tác kế toán TSCĐ tại các khóa luận tốt nghiệp, các công trình nghiên cứu khoa học sinh viên hàng năm
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Anh – Khoa kế toán – tài chính k38D6 trường Đại học Thương Mại với đề tài : “Những vấn đề chung về TSCĐ và nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ trong các doanh nghiệp hiện nay ” đã nghiên cứu những lý luận chung về TSCĐ và nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ trong các doanh nghiệp Đồng thời từ thực trạng cụ thể tại Công ty cổ phần xe khách Hà Nội
đã chỉ ra hiện trạng công tác sử dụng TSCĐ qua 3 giai đoạn : Lập kế hoạch sử dụng, tổ chức theo dõi thực hiện kế hoạch, công tác kiểm tra kiểm soát các báo cáo của công ty, qua đó đánh giá tình hình sử dụng cũng như hiệu quả sử dụng TSCĐ với một số kết quả đạt được và hạn chế từ đó đưa ra được các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ tại công ty CP xe khách Hà Nội như sau:
Chủ động đầu tư đổi mới TSCĐ, lựa chọn đúng đắn phương án đầu tư và mua sắm TSCĐ để tăng hiệu quả sử dụng, mặt khác, Công ty cũng phải quan tâm xem xét đối với những TSCĐ cũ còn đang sử dụng tại công ty, so sánh giữa chi phí
sử dụng, chi phí sửa chữa phục hồi với chi phí đầu tư mới TSCĐ Việc thay thế phương tiện vận tải cũ mà chi phí phục hồi lớn hơn chi phí đầu tư mới thì mua sắm TSCĐ mới là điều tất yếu
Tiến hành phân cấp sử dụng chặt chẽ TSCĐ, đồng thời xác định chế độ sử dụng TSCĐ hợp lý nhất Đây là công tác thứ 2 tiến hành làm sau khi đã lựa chọn được phương án đầu tư mua sắm TSCĐ và thực hiện quá trình đầu tư Công ty cần
sử dụng chặt chẽ hơn nữa tình hình sử dụng đối với TSCĐ đang sử dụng, TSCĐ hư hỏng chờ thanh lý, TSCĐ không cần dùng
Tăng cường công tác huấn luyện và đào tạo đội ngũ cán bộ công nhận viên trong công ty: Công ty cần tuyển chọn những nhân viên có trình độ chuyên môn tốt,
có kiến thức vững vàng, có kỹ năng thành thạo, có ý thức trách nhiệm để trực tiếp tham gia sử dụng phương tiện vận tải, máy móc thiết bị của công ty để đảm bảo
Trang 37việc sử dụng TSCĐ của công ty có hiệu quả hơn
Cần thực hiện tốt công tác khấu hao tạo nguồn vốn tái đầu tư cho TSCĐ: Hàng năm cần phải thiết lập phương pháp tính khấu hao TSCĐ theo đúng quy định của nhà nước và bộ tài chính Cần xây dựng phương pháp tính khấu hao cho từng loại TSCĐ để nhanh chón thu hồi vốn đầu tư từ nguồn vốn vay Đồng thời phải kịp thời điều chỉnh lại giá trị TSCĐ khi có trượt giá để tính đúng, tính đủ khấu hao vào giá thành sản phẩm
- Hầu hết, các tập đoàn kinh tế Nhà nước, tư nhân đều có các đề tài khoa học liên quan đến TSCĐ
Hầu hết các công trình khoa học liên quan đến đề tài nghiên cứu mà tác giả được biết điều phân tích, đánh giá tình hình, hiệu quả sử dụng TSCĐ và đưa ra các giải pháp sử dụng TSCĐ theo các khía cạnh khác nhau cho từng doanh nghiệp tùy theo đặc điểm của đơn vị, tuy nhiên chưa có một tài liệu nào nghiên cứu đầy đủ các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất
Kết luận chương 1
Toàn bộ nội dung chương 1 đã đưa ra được các vấn đề mang tính khái quát chung về lý luận và thực tiễn sử dụng TSCĐ trong các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp khai thác cảng biển nói riêng Cụ thể:
- Đã hệ thống hóa được khái niệm, đặc điểm và phân loại TSCĐ
- Đã đưa ra được khái niệm và nội dung của sử dụng TSCĐ, bao gồm các vấn đề về mua sắm đầu tư vào TSCĐ, sử dụng TSCĐ, thống kê kế toán TSCĐ
- Đã đưa ra được những quan điểm và hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ Trong đó nhấn mạnh: hiệu quả sử dụng TSCĐ được phản ánh gián tiếp qua các chỉ tiêu đánh giá tình hình biến động và hiệu quả sử dụng TSCĐ Bởi vì, cơ cấu đầu tư vào TSCĐ trong doanh nghiệp hợp lý, kế hoạch huy động và sử dụng TSCĐ phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh, công tác theo dõi, kiểm tra, sửa chữa TSCĐ kịp thời, … thì hiệu quả sử dụng TSCĐ sẽ cao Mặt khác, việc lựa chọn cách tính khấu hao phù hợp, đánh giá đúng giá trị TSCĐ đều phản ánh chung nhất
Trang 38đó là hiệu quả sử dụng TSCĐ tốt và ngược lại Vì vậy, đề tài đã đưa ra rất nhiều các chỉ tiêu đánh giá theo các mặt khác nhau để phản ánh hiệu quả sử dụng TSCĐ
- Đã phân tích được các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến hiệu quả sử dụng TSCĐ
- Đã tiến hành khảo sát một đơn vị khai thác cảng biển, tiến hành phần tích những mặt được và chưa được để tìm ra nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm và biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ cho một đơn vị cụ thể
là Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất ở các chương sau
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN
CỐ ĐỊNH TẠI CẢNG QUỐC TẾ GEMADEPT DUNG QUẤT
GIAI ĐOẠN 2011 - 2013 2.1 Khái quát chung về công ty CP cảng quốc tế Gemadept Dung Quất
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Gemadept và Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất
2.1.1.1.Giới thiệu về Công ty Gemadept (nay là Tập đoàn Gemadept):
Công ty Gemadept, tiền thân là một doanh nghiệp nhà nước, thành lập năm
1990 Cùng với chính sách đổi mới kinh tế của chính phủ, năm 1993, Gemadept trở thành một trong ba công ty đầu tiên được cổ phần hóa và được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2002
Với những bước phát triển triển nhanh, mạnh và bền vững, Gemadept ngày nay là một trong những ngọn cờ đầu trong lĩnh vực kinh doanh cốt lõi của Tập đoàn bao gồm khai thác cảng và Logistics Cùng với chiến lược đa ngành hóa ngành nghề kinh doanh có chon lọc, Tập đoàn đã gặt hái được những thành công nhất định tronh lĩnh vực trồng rừng và kinh doanh bất động sản
Gemadept đang không ngừng vươn mình lớn mạnh với quy mô hàng chục công ty con thuộc 4 nhóm ngành nghề Khai thác Cảng, Logistics, Trồng rừng và Bất động sản với mạng lưới kinh doanh trải rộng tại nhiều tĩnh, thành phố lớn trong
cả nước và một số quốc gia khu vực Asean.Công ty đã đạt được chứng chỉ quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 Cam kết về chất lượng của công ty thể hiện ở việc không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của khách hàng
Trang 40Gemadept đặc biệt chú trọng việc xây dựng đội ngũ CBCNV vững chuyên môn, giỏi nghiệp vụ và giàu nhiệt huyết bên cạnh việc không ngừng cải tiến qui trình hoạt động để phát huy tối đa năng suất, hiệu quả công việc, giữ vững vị thế thương hiệu hàng đầu tại Việt Nam và trong khu vực.
Sự phát triển trong khai thác cảng biển:
- Cảng Phước Long
PIP là đơn vị tiên phong mở đường trong mô hình khai thác cảng cạn (ICD - Inland Clearance Depot) tại Việt Nam được đưa vào khai thác từ năm 1995 Mô hình này ra đời đã phát huy hiệu quả rất lớn trong việc giảm bớt ách tắc hàng hóa tại khu vực kinh tế năng động nhất cả nước, tăng cường ưu thế của vận tải thủy nội địa, trở thành một mắc xích quan trọng của chuỗi vận tải đa phương thức và dịch vụ liên hoàn khép kín của Tập đoàn