“Đất đai là một diện tích cụ thể của b ề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt như: khí hậu, bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt
Trang 1i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phạm Quang Trường
Trang 211
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn với tên đề tàl: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng” tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình
của quý thầy, cô trong Ban Giám hiệu Nhà trường, Khoa Tài nguyên đất và Môi trường Nông nghiệp, đã truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu trong suốt quá trình tôi học tập, rèn luyện tại trường và cũng như thời gian thực hiện đề tài luận văn Xin gửi tới quý thầy, cô lòng biết ơn chân thành và tình cảm quý mến nhất
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo - TS Nguyễn Hoàng Khánh Linh,
là người hướng dẫn tôi thực hiện đề tài, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ dạy và đóng góp những ý kiến quý báu, để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn các cô, chú, anh, chị đang công tác tại Uỷ ban nhân dân huyện Đức Trọng, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đức Trọng, Uỷ ban nhân dân các xã Hiệp An, Hiệp Thạnh, Liên Hiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình thu thập số liệu phục vụ cho đề tài Chúc các cô, chú, anh chị dồi dào sức khỏe
Trang 3Ill
TÓM TẮT
Đất đai là tài sản vô cùng quý glá, đốl vớl sản xuất nông nghlệp, đất đai còn là
tư liệu không thể thay thể được Do vậy, vlệc sử dụng hợp lý đất sản xuất nông nghlệp
để đạt được hlệu quả cao về klnh tế, xã môi, trường là một trong những vấn đề rất cấp bách hlện nay
Đức Trọng là một huyện vùng glữa của tỉnh Lâm Đồng, có tổng diện tích tự nhlên toàn huyện là 90.362,11 ha Trong đó đất sản xuất nông nghlệp 48.618,63 ha, đất lâm nghiệp là 30.460,96 ha, đất chuyên dùng: 6.087,71 ha, đất ở: 1.770,31 ha Toàn huyện bao gồm các nhóm đất chính như: nhóm đất phù sa, đất xám, đỏ ba zan, đất đen Nhìn chung đất đai ở huyện có chất lượng khá tốt, tầng dày khá cao, cùng với khí hậu
ưu đãl nên rất thuận lợi cho phát triển các loại rau, hoa xứ lạnh và các loại cây ăn quả đặc sản
Tính đến 31/12/2016, tổng dân số toàn huyện là 180.459 người, mật độ dân số:
200 người /km2 Glá trị sản xuất trung bình trên 1 ha năm 2016 là 101 trlệu đồng Theo Nghị quyết đặt ra mục tiêu đến 2018, phát huy lợi thế về đất đai và khí hậu, Đức Trọng
sẽ nâng diện tích sản xuất rau hoa công nghệ cao lên 2.500ha với doanh thu đạt trên 500 trlệu đồng/ha/năm Muốn nâng cao thu nhập và đời sống của người dân cần có những biện pháp nhằm sử dụng đất hợp lý, lựa chọn giống cây trồng và con vật nuôi nhằm tăng năng suất, cải thiện đời sống, bên cạnh đó cần áp dụng các biện pháp nhằm bảo vệ, chống thoái hóa hướng tới sử dụng đất một cách bền vững là vấn đề quan trọng trong chlến lược phát triển của huyện
Để blết được hlệu quả sử dụng đất của các klểu sử dụng đất sản xuất nông nghlệp như thế nào, đồng thờl tìm được glải pháp để nâng cao hlệu quả này nghlên cứu được
thực hlện tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng với tên đề tài: “Đánh giá thực trạng và
đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng”
Để thực hiện, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp sau: thu thập số liệu sơ cấp, thứ cấp; thống kê, xử lý số liệu; phân tích SWOT; đánh giá thích hợp đất đai Bên cạnh đó, đề tàl còn sử dụng hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả trên cả 3 phương dlện klnh tế, xã hội và môi trường Trong quá trình nghlên cứu, đề tài đã lập phlếu điều tra nông hộ và tổng số hộ được phỏng vấn là 180 hộ
Trang 4iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢN ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG BIẺU viii
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ x
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
CHƯƠNG 1 _TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1.1 Đất và vai trò, ý nghĩa của đất đối với sản xuất nông nghiệp 3
1.1.2 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 10
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 12
1.1.4 Những chỉ tiêu và tiêu chí cơ bản để đánh giá hiệu quả hệ thống sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 15
1.1.5 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp 18
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 23
1.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của các nước trên thế giới 23
1.2.2
Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 25
1.2.3 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 26
1.3 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 26
1.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới 26
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 27
CHƯƠNG 2_ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
Trang 5v
2.1
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 29
2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 29
2.2.1 Phạm vi không gian 29
2.2.2 Phạm vi thời gian 29
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 29
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin, số liệu 29
2.4.2 Phương pháp phân tích, thống kê và đánh giá hiệu quảsử dụng đất 30
2.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 30
2.4.4 Phương pháp SWOT 32
CHƯƠNG 3 _KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THẢO LUẬN 33
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA HUYỆN ĐỨC TRỌNG 33
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 44
3.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC TRỌNG 57 3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiêp trên địa bàn huyện Đức Trọng
57 3.2.2 Biến động sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và các loại đất khác trên địa bàn huyện Đức Trọng 59
3.3 XÁC ĐỊNH CÁC LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC TRỌNG 63
3.3.1 Các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chính trên địa bàn huyện 63
3.3.2 Đánh giá thích hợp đất đai và tính bền vững của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đức Trọng 65
3.4 ĐÁNH GIÁ THÍCH HỢP YÊU CẦU SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI CHO CÁC LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐÃ ĐƯỢC LỰA CHỌN TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 87
3.4.1 Xã Hiệp An 91
3.4.2 Xã Hiệp Thạnh 94
3.4.3 Xã Liên Hiệp 97 3.5 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG
Trang 6vi
NGHIỆP CHÍNH TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 101
3.5.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế 101
3.5.2 Đánh giá hiệu quả xã hội 116
3.5.3 Đánh giá hiệu quả môi trường 117
3.6 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT XUẤT NÔNG NGHIỆP CÓ HIỆU QUẢ CAO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC TRỌNG 119
3.6.1 Căn cứ để định hướng sử dụng đất và đề xuất giải pháp 119
3.6.2 Đề xuất các kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp triển vọng cho khu vực nghiên cứu 121
3.6.3 Đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho những kiểu sử dụng đất được lựa chọn 130
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 133
1 Kết luận 133
2 Kiến nghị 134
TÀI LIỆU THAM KHẢO 135
Trang 77
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc G1S Geographic Information System (hệ thống thông tin địa
lý)
MCE Phương pháp đa chỉ tiêu (Multi-Criteria Evaluation) LMU Land Mapping Unit (đơn vị bản đố đẩt đai)
LUT Land Use Type (loại hình sử dụng đầt)
Trang 88
DANH MỤC BẢNG BIẺU
Bảng 3.1 : Bảng phân loại đất - huyện Đức Trọng 36
Bảng 3.2 : Phân cấp độ dốc, tầng dày 39
Bảng 3.3: Hiện trạng trữ lượng các loại rừng huyện Đức Trọng năm 2014 41
Bảng 3.4: Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2001-2017 huyện Đức Trọng 45
Bảng 3.5: Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản 46
Bảng 3.6: Giá trị sản xuất ngành công nghiệp 2001-2017 48
Bảng 3.7: Dân số - Lao động huyện Đức Trọng giai đoạn 2001-2017 50
Bảng 3.8: Hiện trạng các chỉ tiêu sử dụng đất nông nghiệp năm 2017 huyện Đức Trọng - Tỉnh Lâm Đồng 58
Bảng 3.9: Biến động đất đai giai đoạn 2011-2017 huyện Đức Trọng - tỉnh Lâm Đồng 59
Bảng 3.10: Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 63
Bảng 3.11: Chỉ tiêu và phân cấp các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 66
Bảng 3.12: Mô tả chất lượng các đơn vị đất đai huyện Đức Trọng 68
Bảng 3.13: Mô tả chất lượng các đơn vị đất đai xã Hiệp An 76
Bảng 3.14: Mô tả chất lượng các đơn vị đất đai xã Hiệp Thạnh 80
Bảng 3.15: Mô tả chất lượng các đơn vị đất đai xã Liên Hiệp 84
Bảng 3.16: Các chỉ tiêu đánh giá đất đối với các loại hình sử dụng đất của 3 xã 88
Bảng 3.17: Khả năng thích nghi đất đai xã Hiệp An 91
Bảng 3.18: Diện tích các cấp thích nghi của loại hình sử dụng đất Hiệp An 93
Bảng 3.19: Khả năng thích nghi đất đai xã Hiệp Thạnh 94
Bảng 3.20: Diện tích các cấp thích nghi của loại hình sử dụng đất xãHiệp Thạnh 97
Bảng 3.21: Khả năng thích nghi đất đai xã Liên Hiệp 97
Bảng 3.22: Diện tích các cấp thích nghi của loại hình sử dụng đất xã LiênHiệp 101
Bảng 3.23: Cơ cấu đầu tư cho các hệ thống sử dụng đất xã Hiệp An 102
Bảng 3.24: Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hệ thống sử dụng đất xã Hiệp An 104
Bảng 3.25: Cơ cấu đầu tư cho các hệ thống sử dụng đất xã Hiệp Thạnh 107
Trang 99 Bảng 3.26: Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hệ thống sử dụng đất xã Hiệp Thạnh 109
Bảng 3.27: Cơ cấu đầu tư cho các hệ thống sử dụng đất xã Liên Hiệp 112
Bảng 3.28: Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hệ thống sử dụng đất xã Liên Hiệp 113
Bảng 3.29 Công lao động của kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 116
Bảng 3.30 Phân cấp mức độ sử dụng phân bón, thuốc BVTV và khả năng duy trì cải thiện độ phì đất theo các kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 118
Bảng 3.31: Đề xuất sử dụng đất theo đơn vị đất đai xã Hiệp An 122
Bảng 3.32: Đề nghị liều lượng phân bón xã Hiệp An 123
Bảng 3.33: Đề xuất sử dụng đất theo đơn vị đất đai xã Hiệp Thạnh 125
Bảng 3.34: Đề nghị liều lượng phân bón xã Hiệp Thạnh 126
Bảng 3.35: Đề xuất sử dụng đất theo đơn vị đất đai xã Liên Hiệp 128
Bảng 3.36: Đề nghị liều lượng phân bón xã Liên Hiệp 129
Trang 1010
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1: Sơ đồ hành chính huyện Đức Trọng 33
Hình 3.2 Quy trình chồng ghép bản đồ - xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 68
Hình 3.3: Sơ đồ đơn vị đất đai xã Hiệp An 78
Hình 3.4: Sơ đồ đơn vị đất đai xã HiệpThạnh 82
Hình 3.5: Sơ đồ đơn vị đất đai xã LiênHiệp 86
Hình 3.6: Sơ đồ thích nghi xã Hiệp An 92
Hình 3.7: Bản đồ thích nghi đất đai xã Hiệp Thạnh 95
Hình 3.8: Bản đồ thích nghi đất đai xã Liên Hiệp 99
Trang 11Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội, hầu hết quốc gia trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, lấy đó làm cơ sở để phát triển các ngành khác
Mục đích của việc sử dụng đất là làm thế nào khai thác nguồn tài nguyên có hạn mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất, đảm bảo lợi ích trước mắt và lâu dài
Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp ở nước ta vẫn còn tồn tại với hàng loạt các vấn
đề như sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, công nghệ lạc hậu, hiệu quả chưa cao, năng suất chất lượng hành hóa thấp, khả năng hợp tác liên kết yếu, sự chuyển dịch cơ cấu chậm Trong khi đó nguồn tài nguyên đất có hạn, diện tích đất nông nghiệp ngày còn bị thu hẹp do sức ép đô thị hóa và sự gia tăng dân số, thị trường tiêu thụ bấp bênh Đứng trước tình hình đó đòi hỏi phải có định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp hợp lý, có hiệu quả và bền vững mang tính chiến lược
Đức Trọng là một huyện vùng giữa của tỉnh Lâm Đồng, có tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 90.179,76 ha Trong đó đất sản xuất nông nghiệp 36.476 ha, đất lâm nghiệp là 40.411 ha, đất phi nông nghiệp: 9.200,96 ha, trong đó, đất ở: 1.094,71 ha (nông thôn 825 ha; đô thị 269,27 ha); đất chuyên dùng: 5.121,30 ha Toàn huyện bao gồm các nhóm đất chính như: nhóm đất phù sa, đất xám, đỏ ba zan, đất đen Nhìn chung đất đai
ở huyện có chất lượng khá tốt, tầng dày khá cao, cùng với khí hậu ưu đãi nên rất thuận lợi cho phát triển các loại rau, hoa xứ lạnh và các loại cây ăn quả đặc sản
Tính đến 31/12/2016, tổng dân số toàn huyện là 183.759 người, mật độ dân số:
192 người /km2 Giá trị sản xuất trung bình trên 1 ha năm 2016 là 101 triệu đồng Theo Nghị quyết đặt ra mục tiêu đến 2018, phát huy lợi thế về đất đai và khí hậu, Đức Trọng
sẽ nâng diện tích sản xuất rau hoa công nghệ cao lên 2.500ha với doanh thu đạt trên 500 triệu đồng/ha/năm Muốn nâng cao thu nhập và đời sống của người dân cần có những biện pháp nhằm sử dụng đất hợp lý, lựa chọn giống cây trồng và con vật nuôi nhằm tăng năng suất, cải thiện đời sống, bên cạnh đó cần áp dụng các biện pháp nhằm bảo vệ, chống thoái hóa hướng tới sử dụng đất một cách bền vững là vấn đề quan trọng trong
Trang 122 chiến lược phát triển của huyện
Xuất phát từ thực tiễn đó, tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng và
đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng”
2 Mục tiêu của đề tài
a Mục tiêu chung
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng sử dụng và hiệu quả của các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sủa dụng đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng
- Kết quả nghiên cứu đề tài cung cấp cơ sở lý luận của việc nghiên cứu hiệu quả
sử sụng đất nông nghiệp, trên cơ sở đó có định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp trong tương lai
- Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho cơ quan chuyên môn trong việc quản
lý, chỉ đạo cho cơ cấu sử dụng đất theo hướng phát triển bền vững, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất và thu nhập cho người dân
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Đất và vai trò, ý nghĩa của đất đối với sản xuất nông nghiệp
Trang 133
1.1.1.1 Khái niệm chung
Theo học thuyết sinh thái học cảnh quan (Land Scape Ecology), đất đai được
định nghĩa như sau: “Một vạt đất xác định về mặt địa lý là một diện tích bề mặt của Trái Đất với những thuộc tính tương đối ổn định, hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ, có thể
dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên dưới, và bên trong nó như: không khí, đất (soil), điều kiện địa chất, thực vật và động vật cư trú”
Theo FAO (1976, 1993b), đất đai là diện tích bề mặt của trái đất, các đặc tính của nó bao gồm các thuộc tính tương đối ổn định, hoặc có thể dự báo theo chu kỳ của sinh quyển bên trên và bên dưới nó như: Không khí, thổ nhưỡng, địa chất, thủy văn, quần thể động thực vật Đất đai cũng là kết quả hoạt động của con người trong quá khứ
và hiện tại, mà những thuộc tính này có ảnh hưởng đáng kể tới việc sử dụng đất đai bởi con người trong hiện tại và tương lai
“Đất đai có những đặc tính có thể đo đạc hoặc ước lượng được, thường được sử dụng làm phương tiện để mô tả các chất lượng đất đai hoặc để phân biệt giữa đơn vị đất đai có khả năng thích hợp cho sử dụng khác nhau “Đất đai là một diện tích cụ thể của
b ề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới
bề mặt như: khí hậu, bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát
bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, ”
“Đất đai là một vạt đất xác định về mặt địa lý, là một phần diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kì có thể
dự đoán được của môi trường bên trên, bên trong và bên dưới nó như không khí, loại đất, điều kiện địa chất, thủy văn, động thực vật, những hoạt động tác động từ trước và hiện tại của con người, ở chừng mực mà những thuộc tính này có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng vạt đất đó của con người trong hiện tại và tương lai”
Từ các định nghĩa trên, đất đai được hiểu là: Đất đai là một vùng đất có vị trí cụ thể, có ranh giới và có những thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, địa chất/địa mạo, thủy văn, động thực vật và các hoạt động sản xuất của con người
Đất đai giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của loài người Nó là điều kiện vật chất của mọi sản xuất, sinh hoạt xã hội, là cở sở cho mọi nền văn minh nhân loại Quá trình phát triển của loài người cũng như sự phát triển của các nền văn minh vật chất, tinh thần, hay khoa học kĩ thuật công nghệ hiện đại như ngày nay đều phải xây dựng trên nền tảng đất đai Với sự phát triển như hiện nay thì sử dụng đất không chỉ dừng lại ở chỗ xây dựng và phát triển mà phải đảm bảo được tính hiệu quả, phù hợp và bền vững Để làm được điều đó chúng ta phải nắm bắt được các đặc
Trang 144 tính, tính chất của đất đai vì đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt so với các loại tư liệu sản xuất khác, điều đó được thể hiện qua
Đất là sản phẩm của quá trình phong hóa đá và khoáng dưới sự tác động của sinh vật trong những điều kiện của khí hậu, địa hình, không gian và thời gian khác nhau Quá trình đó không ngừng biến đổi theo thời gian tạo ra bề mặt trái đất như ngày nay, trên
đó tồn tại nhiều sinh vật sống khác nhau, mà chủ thể chính là con người Quá trình sử dụng của con người đã làm thay đổi tính chất đất một cách sâu sắc Vì vậy cần có biện pháp sử dụng đất thích hợp để hạn chế sự thay đổi đó, đảm bảo cho nguồn tài nguyên đất không bị biến đổi theo xu hướng xấu
Tuy là sản phẩm của tự nhiên, là tư liệu sản xuất, nhưng đất đai không thể tăng thêm về số lượng như các tư liệu sản xuất khác Đối với các tư liệu khác thì có thể tăng thêm về số lượng và phạm vi tùy theo nhu cầu sử dụng của con người Đất là tài nguyên
có hạn, giới hạn về diện tích trong phạm vi lục địa
Độ phì nhiêu của đất là khả năng cung cấp cho cây về nước, thức ăn khoáng và các yếu tố cần thiết khác( không khí, nhiệt độ ) để cho cây sinh trưởng và phát triển bình thường
Sự hình thành của đất do quá trình phong hóa đá khoáng tạo ra, sự biến đổi rất phức tạp dưới tác động của nhiều loài sinh vật khác nhau và thời gian khác nhau nên dẫn đến tính chất đất cũng khác nhau Đồng thời quá trình sử dụng đất của con người đã tác động đến đất làm thay đổi tính chất của đất Chính vì vậy đã làm cho đất đai không đồng nhất về nhiều mặt như tính chất lí, hóa, hàm lượng dinh dưỡng, và các tính chất khác Đất được sử dụng phù hợp và được bồi bổ, cung cấp chất dinh dưỡng thì sẽ phục
vụ tốt cho sản xuất và tái sản xuất
Đất đai là tư liệu sản xuất có vị trí không thể thay đổi trong không gian Đó là một trong những tính chất rất đặc thù của đất, đó cũng là đặc điểm làm tăng thêm giá trị của đất khác biệt với các tư liệu sản xuất khác Trong thực tế nét khác biệt này đã tạo ra những giá trị riêng biệt đối với những mảnh đất có vị trí khác nhau theo sự phát triển của xã hội Khi giao dịch trên thị trường không phải chúng ta giao dịch bản thân nó mà chính là giá trị của loại đất đai đó như giá trị kinh tế, giá trị sử dụng
Trong quá trình sản xuất, con người có thể thay thế các tư liệu sản xuất không phù hợp bằng những tư liệu phù hợp hơn, nhưng đất đai thì sẽ không có gì thay thế được Nếu không có đất đai thì sẽ không thể hoạt động được bất kỳ quá trình sản xuất nào Hay nói cách khác, đất đai là điều kiện tiên quyết cho mọi hoạt động sản xuất và nó có tính không thể thay thế được
Chất lượng đất đai là những thuộc tính phức tạp phản ánh mối quan hệ và tương tác của nhiều đặc tính đất đai Chất lượng đất đai thường được phân làm ba nhóm: Nhóm theo yêu cầu sinh thái cây trồng, nhóm theo yêu cầu quản trị và nhóm theo yêu cầu bảo
Trang 155 tồn
Loại hình sử dụng đất chính là sự phân chia ở mức độ cao loại hình sử dụng đất,
ví dụ: Nông nghiệp nhờ mưa, nông nghiệp có tưới, cây hàng năm, cây lâu năm, đất đồng
cỏ, đất lâm nghiệp
Loại hình sử dụng đất có thể là một loại cây trồng hoặc một số loại cây trong một
số điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Các thuộc tính của loại hình sử dụng đất bao gồm các thông tin về sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu tư, lao động, biện pháp kĩ thuật, yêu cầu về cơ sở hạ tầng, mức thu nhập,
Tóm lại, Đất đai là một vùng có ranh giới, vị trí cụ thể và có các thuộc tính tổng hợp của tự nhiên, kinh tế, xã hội như khí hậu, địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do hoạt động của con người
1.1.1.2 Đặc điểm của đất
a Các đặc điểm tự nhiên của đất đai
Các đặc điểm tự nhiên của đất đai được hình thành nhờ vào các tính chất vật lý, hóa học
Tính chất vật lý của đất đai được thể hiện qua các yếu tố như tỷ trọng, dung trọng,
độ xốp, tính trương co, tính dẻo, độ chặt của đất, Các yếu tố này ảnh hưởng tới các đặc tính của đất đai, đặc biệt là thành phần cơ giới, ảnh hưởng trực tiếp tới phương thức canh tác và việc lựa chọn các loại hình sử dụng đất phù hợp
Trong đất đai có nhiều tính chất hóa học đặc trưng, do bản thân trong đất chứa nhiều nguyên tố hóa học và sự phản ứng giữa các nguyên tố hóa học này sẽ tạo nên các tính chất hóa học Các yếu tố thể hiện tính chất hóa học có trong đất như độ chua, các nhóm mùn, keo đất, tính đệm, dung dịch đất, các yếu tố này ảnh hưởng đến chất lượng đất rất lớn và quyết định đến việc chọn lựa loại hình sử dụng đất
b Các đặc điểm về kinh tế, xã hội của đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, vì đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người Đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là phương tiện lao động Bên cạnh đó đất đai có các đặc tính khác biệt so với các tư liệu sản xuất khác như sau:
- Đặc điểm tạo thành: Đất đai là vật thể tự nhiên mang tính lịch sử Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện và tồn tại ngoài ý chí và sự nhận thức của con người Song song với quá trình hình thành loài người, đất đai vẫn tuân thủ các quy luật mà con người không thể can thiệp được, ví dụ liên tục phong hóa đá,
Đất đai còn gắn liền với quá trình con người sử dụng sức lao động của mình tác động vào đất để thu lại sản phẩm Chính nhờ việc chuyển tải giá trị sức lao động của
Trang 166 mình vào đất đai mà làm cho đất đai tham gia vào các mối quan hệ xã hội, lúc này từ một vật thể tự nhiên đất đai chuyển dần sang vật thể lịch sử
Cùng với sự phát triển của sức sản xuất, các tư liệu khác không ngừng tăng lên
về số lượng, riêng số lượng của đất đai (diện tích) bị giới hạn trong phạm vi ranh giới của lục địa Do là sản phẩm của tự nhiên, đất đai có tính nguyên thủy là không thể gia tăng về số lượng
Do vậy, việc sử dụng hợp lý, triệt để đất đai và không ngừng làm tăng thêm hệ
số sử dụng đất chính là một trong những biện pháp vô cùng quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người
- Tính cố định về không gian
Đất là tư liệu sản xuất có vị trí không thể thay đổi trong không gian Đây là tính chất đặc thù của đất làm cho những mảnh đất ở những vị trí khác nhau có giá trị không giống nhau
- Tính không thay thế
Trong quá trình sản xuất con người có thể thay tư liệu sản xuất này bằng tư liệu sản xuất khác nhưng đất là tư liệu sản xuất không thể thay thế được đặc biệt trong nông lâm nghiệp
- Đất có khả năng tăng tính sản xuất
Nếu xét về mặt không gian (diện tích), đất là tư liệu vĩnh cửu, không chịu sự phá hủy của thời gian Mặt khác, nếu sử dụng hợp lý, hiệu quả thì độ phì nhiêu của đất còn được nâng lên, cải thiện làm cho đất tốt lên về mặt chất lượng
1.1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của đất đai đối với sản xuất nông nghiệp
Đất đai có vị trí đặc biệt quan trọng và không thể thay thế trong sản xuất nông lâm nghiệp:
- Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế Bởi vì đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất Bên cạnh đó, đất đai
là sản phẩm của tự nhiên, sức sản xuất của đất đai ngày càng tăng lên khi biết sử dụng hợp lý và đúng cách
- Đất đai là tư liệu lao động Vì đất đai có thể phát huy được tác dụng như một
tư liệu lao động khi con người sử dụng để trồng trọt và chăn nuôi Không có đất đai thì
Trang 177 không có sản xuất nông nghiệp (Bùi Nữ Hoàng Anh, 2013)
- Đất đai không chỉ là môi trường sống đối với sinh vật mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng nghiệp (Bùi Nữ Hoàng Anh, 2013)
- Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt cầu địa cầu (Smith A.J and Dumaski, 1993) Đây chính là một đặc điểm làm ảnh hưởng đến việc
mở rộng diện tích, quy mô sản xuất nông nghiệp trên từng vùng, lãnh thổ khác nhau Do
đó, việc khai thác hợp lý quỹ đất nông nghiệp hiện có là vấn đề quan trọng và là xu thế chủ đạo trong việc nâng cao đời sống của người nông dân
- Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các vùng, các miền (Smith A.J and Dumaski, 1993) Mỗi khoanh đất, thửa đất nông nghiệp ở các vùng, miền khác nhau thì sẽ có điều kiện tự nhiên khác nhau như: thổ nhưỡng, khí hậu, độ phì,
Do đó, việc chọn lựa và xác định các loại hình sử dụng đất, các loại cây trồng nông nghiệp phù hợp là có ý nghĩa to lớn để nâng cao hiệu quả kinh tế của từng hộ gia đình
Sử dụng đất nông nghiệp
Sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người và đất trong tổ hợp các nguồn tài nguyên khác và môi trường Căn cứ vào nhu cầu của phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của thị trường sẽ phát hiện, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng hợp lý nhất tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất đai để đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế và xã hội cao nhất
Hiện nay, việc sử dụng đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng được phát triển theo 6 xu thế sau:
- Sử dụng đất phát triển theo chiều rộng và tập trung;
- Cơ cấu sử dụng đất phát triển theo hướng phức tạp hóa và chuyên môn hóa;
- Sử dụng đất theo hướng xã hội hóa và công hữu hóa;
- Sử dụng đất theo xu thế phát triển kinh tế hợp tác hóa, khu vực hóa, toàn cầu hóa;
- Sử dụng đất trong cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường;
- Sử dụng đất theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu (Nguyễn Hữu Ngữ, Nguyễn Thị Hải, 2013)
1.1.1.4 Vai trò và ý nghĩa của đất đai đối với sản xuất nông nghiệp
a Khái niệm đất sản xuất nông nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp; bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm
Đất trồng cây hàng năm là đất chuyên trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng
Trang 188
từ khi gieo trồng cho đến khi thu hoạch không quá một (01) năm, kể cả đất sử dụng theo chế độ canh tác không thường xuyên, đất cỏ tự nhiên có cải tạo sử dụng vào mục đích chăn nuôi, bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác
Đất trồng cây lâu năm là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng trên một (01) năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch kể cả cây có thời gian sinh trưởng như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm như thanh long, chuối, dứa, nho, bao gồm đất trồng cây công nghiệp lâu năm, đất trồng cây ăn quả lâu năm và đất trồng cây lâu năm khác
b Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
- Sản xuất nông nghiệp có tính vùng: Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, tiếp xúc với nhiều điều kiện khác nhau như tự nhiên, kinh tế, xã hội, lịch sư, Ở đâu có đất và lao động thì ở đó có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết, khí hậu khác nhau thì sản xuất nông nghiệp cũng sẽ khác nhau Do đó sản xuất nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét
- Trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế được Ruộng đất bị giới hạn về diện tích, con người không thể tăng thêm theo ý muốn chủ quan nhưng sức sản xuất ruộng đất là chưa có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thỏa mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm Do đó trong quá trình sử dụng phải biết quý trọng ruộng đất,
sử dụng tiết kiệm, hạn chế chuyển đổi đất nông nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp, tìm cách để cải tạo, duy trì và nâng cao độ phì nhiêu của đất
- Đối tượng sản xuất của nông nghiệp là cơ thể sống - cây trồng và vật nuôi Các loại cây trồng, vật nuôi phát triển theo quy luật sinh học nhất định Cây trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho trình sản xuất sau
- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao Đó là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì quá trình sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế gắn bó chặt chẽ với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp
c Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp là hết sức cần thiết, nó giúp ích trong việc phân tích, đánh giá khu vực nghiên cứu, từ đó xác định được các yếu tố nào ảnh hưởng nhiều nhất đến quá trình sử dụng đất tại địa bàn Trên cơ sở
Trang 199
đó, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp Các nhân tố chia thành 3 nhóm sau:
- Điều kiện tự nhiên: bao gồm các yếu tố như đất đai, khí hậu thời tiết, nước,
có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp bởi vì đây là cơ sở để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở để xác định cây trồng, vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng
- Biện pháp kỹ thuật canh tác chính là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Đó chính là những tác động mà thông qua đó thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh, sắc sảo của con người Chính sự hiểu biết sâu sắc đó giúp con người lựa chọn loại tác động kỹ thuật, chủng loại cũng như cách sử dụng các yếu tố đầu vào một cách phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt mục tiêu đề ra
Với biện pháp canh tác thô sơ, con người chỉ có thể khai thác và sử dụng hiệu quả lớp đất bề mặt Việc ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ sẽ góp phần đẩy mạnh khai thác chiều sâu của đất và nâng cao năng suất cây trồng nhằm đáp ứng nhu cầu về nông sản ngày càng cao của con người trong điều kiện quỹ đất có hạn
- Nhân tố kinh tế, xã hội, đây là nhân tố thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo
về việc sử dụng đất đai nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Phương thức
sử dụng đất nông nghiệp được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định
Trong quá trình sử dụng đất cần phải căn cứ vào những yêu cầu của xã hội kết hợp chặt chẽ những yêu cầu về việc sử dụng ưu thế tài nguyên đất đai để xác định cơ cấu sử dụng đất hợp lý nhất mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và sử dụng đất được bền vững Ngoài ra cần phải tuân thủ các quy luật tự nhiên, quy luật kinh tế - xã hội như: Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp; Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản; Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất;
Hệ thống chính sách như chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư, chính sách dân
số, lao động, việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khích đầu tư, xóa đói giảm nghèo,
Như vậy, tùy vào thực tế của từng vùng, từng địa phương mà có thể nhận biết thêm nhiều nhân tố khác cũng có tác động đến hiệu quả sử dụng đất, có nhân tố ảnh hưởng trực tiếp nhưng có những nhân tố lại ảnh hưởng gián tiếp, có nhân tố thuận lợi
và cũng có nhân tố hạn chế Do đó, cần phải tìm ra những nhân tố có tác động chủ yếu
Trang 2010 tới hiệu quả sử dụng đất của địa bàn nghiên cứu trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp thích hợp để thay đổi nhằm nâng cao hiệu quả
1.1.2 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
1.1.2.1 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Dưới sức ép của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước, nhiệm vụ sử dụng bền vững, hiệu quả để bảo vệ đất nông nghiệp cần phải được quan tâm hàng đầu không phải chỉ vì bản thân nền nông nghiệp mà còn vì sự ổn định, phát triển bền vững
và đồng bộ của kinh tế - xã hội
Chính là lý do trên mà nhà nước ta đã đưa ra 5 nguyên tắc để bảo vệ đất đai trong
đó đặc biệt có nguyên tắc ưu tiên bảo vệ và phát triển quỹ đất nông nghiệp Nguyên tắc này đã được Luật Đất đai 2013 thể chế hóa trong các nội dung như sau:
Thứ nhất, hạn chế đến mức thấp nhất việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang sử dụng với mục đích khác Công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đã thúc đẩy người sử dụng đất chuyển đất nông nghệp sang các mục đích sử dụng khác Đây là một trong những nguyên nhân khiến cho quỹ đất nông nghiệp đang dần bị thu hẹp lại Khi chuyển đổi đất nông nghiệp sang sử dụng với mục đích khác thì dẫn tới một loạt các hệ quả như lao động nông thôn mất việc, quyền và lợi ích chính đáng của một bộ phận dân
cư không được đảm bảo Cùng với đó là tình trạng chuyển đổi đất nông nghiệp với tốc
độ nhanh và quy mô lớn, năm sau cao hơn năm trước dẫn tới nhiều bất cập và hạn chế,người sử dụng đất vướng phải nhiều khó khăn trong lao động và sản xuất Tình trạng tranh chấp đất đai, khiếu nại tố cáo ở nhiều địa phương chưa được giải quyết thỏa đáng Chính vì lẽ đó luật đất đai khẳng định nguyên tắc ưu tiên bảo vệ và phát triển quỹ đất nông nghiệp, nhấn mạnh việc hạn chế chuyển đất nông nghiệp sang sử dụng với mục đích khác Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng không được chuyển qua sử dụng với mục đích khác theo quy định tại điểm b khoản3 điều 131 Luật Đất đai 2013 Đất trồng lúa theo quy định tại điều 134 hạn chế chuyển sang sử dụng với mục đích phi nông nghiệp Để thực hiện việc chuyển đổi cần phải có tầm nhìn xa và xem xét đến nhiều khía cạnh khác để giữ gìn và hạn chế đến mức thấp nhất quỹ đất nông nghiệp bị chuyển đổi
Thứ hai, đối với hộ gia đình và cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được nhà nước giao đất nông nghiệp sử dụng trong hạn mức thì không phải nộp tiền sử dụng đất Nội dung này thể hiện được sự quan tâm của nhà nước trong việc khuyến khích người
sử dụng đất sử dụng đất nông nghiêp vào sản xuất Ở nước ta đất nông nghiệp sử dụng với quy mô không giống nhau ở từng địa phương, có thể tập trung hoặc manh mún Do
đó việc quy định hạn mức sử dụng đất nông nghiệp không phải nộp tiền sử dụng (Điều
129 Luật Đất đai năm 2013 ) có ý nghĩa rất cần thiết, tạo cho người sử dụng đất tâm lý tốt, khuyến khích được việc tăng gia sản xuất Đối với đất thu hồi vi mục đích quốc
Trang 2111 phòng, an ninh hoặc phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích cộng đồng thì được bồi thường chi phí đầu tư và các chính sách hỗ trợ của nhà nước khi thu hồi đất Như chúng ta nhận thấy phần lớn đất nông nghiệp nước ta phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên,người nông dân phải đối mặt với nhiều khó khăn chẳng hạn các loại thuế, được mùa mất giá, được giá mất mùa, Nếu như nhà nước không quan tâm tạo điều kiện cho người sử dụng đất nông nghiệp thì có lẽ sẽ có một cơ số người không dám mạnh dạn đầu tư vào nông nghiệp, họ sẽ tính đến việc chuyển đất sang mục đích sử dụng khác.Vậy nên theo những quy định nêu trên chắc chắn phần nào giảm bớt gánh nặng cho người sử dụng đất rất nhiều.Từ đó tạo tâm lý yên tâm cho người sử dụng bám đất sản xuất và khai thác có hiệu quả tốt nhất
Thứ 3, không được tùy tiện mở rộng khu dân cư trên đất nông nghiệp, hạn chế việc lập mới trên đất trồng lúa Chỗ ở cho người dân nông thôn cần phải tận dụng khu dân cư sẵn có, hạn chế mở rộng khu dân cư trên đất nông nghiệp Thực tiễn cho thấy, nước ta là một nước đang phát triển và đang trên đà công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc lấn chiếm đất sử dụng cho nông nghiệp để sử dụng cho mục đích xây dựng các công trình đô thị là không tránh khỏi Và đô thị hóa ngày càng cao dẫn tới việc thiếu đất ở do
đó nông nghiệp phải có những biện pháp nhằm dung hòa và sắp xếp lại trât tự này, đảm bảo người dân có đủ đất để ở nhưng không lấn chiếm phần đất nông nghiệp
Cuối cùng, là Nhà nước thực hiện chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức khai hoang, phục hóa, lấn biển, để mở rộng diện tích đất nông nghiệp Nội dung này được quy định tại Khoản 2 điều 9 Luật Đất đai năm 2013 như sau: ”Nhà nước có chính sách khuyến khích người sử dụng đất đầu tư lao động ,vật
tư tiền vốn và thành tựu khoa học công nghệ vào các việc sau đây: Khai hoang, phục hóa, lấn biển, đưa diện tích đất trống đồi núi trọc, đất có mặt nước hoang hóa vào sử dụng theo đúng quy hoạch kế hoạch sử dụng đất” Quyền lợi người đi khai hoang đã được quy định tại các văn bản hướng dẫn thi hành như tại điều 22 Nghị Định 43/2014/ NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật Đất đai 2013 Thông qua những quy định này cho thấy nhà nước rất quan tâm, khuyến khích mở rộng diện tích đất nông nghiệp là giải pháp thiết thực, phù hợp tình hình hiện nay Nước ta có nhiều diện tích đất chưa được sử dụng vào đúng mục đích hoặc chưa được sử dụng Những phần diên tích này nếu được đưa vào sử dụng đúng mục đích theo quy hoạch sẽ góp phần phát triển quỹ đất nông nghiệp lên về cả chất và lượng, mang lại những tín hiệu tích cực
1.1.2.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
Khai thác triệt để, sử dụng toàn bộ quỹ đất đai vào các mục đích cụ thể, không
để tình trạng còn đất trống đồi núi trọc Sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, đúng pháp luật, lấy giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất đai làm thước đo để bố trí cây trồng, vật nuôi, theo quy hoạch và kế hoạch Bảo vệ nghiêm ngặt diện tích đất trồng lúa nước, tiến hành các biện pháp thâm canh cao, tăng năng suất, tăng chất lượng
Trang 2212 nông sản, đảm bảo nhu cầu an toàn lương thực Song song với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa, tăng diện tích cây ăn quả, phát triển mạnh các
mô hình kinh tế trang trại và chăn nuôi tập trung Lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi dựa trên lợi thế và tiềm năng của từng vùng
Gắn khai thác sử dụng với nhiệm vụ bồi dưỡng tái tạo, làm tăng độ phì cho đất chống suy thoái đất, gắn lợi ích kinh tế với bảo vệ môi trường, bảo đảm sử dụng đất bền vững lâu dài
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.1.3.1 Các yếu tố tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố như đất đai, khí hậu thời tiết, nước, có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp bởi vì đây là cơ sở để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở để xác định cây trồng, vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng
- Đặc điểm lý, hóa tính của đất: hàm lượng các chất trong đất (bao gồm chất hữu
cơ và vô cơ), kết cấu của đất, thành phần cơ giới, tính dính, dẻo, dung trọng đất, đều là những yếu tố quyết định đến chất lượng đất cũng như việc sử dụng đất Quỹ đất nhiều hay ít, tốt hay xấu có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng đất
- Nguồn nước và chế độ nước: Đây là yếu tố rất cần thiết, nó là điều kiện sinh tồn của cây trồng, là môi trường hòa tan các chất tạo ra chất dinh dưỡng cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, nó cũng là điều kiện quan trọng cho sự phát triển tập đoàn vi sinh vật đất
- Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: trong nhóm yếu tố này độ phì của đất có ảnh hưởng lớn nhất đến sự sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất cây trồng vật nuôi
- Vị trí địa lý: vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp, sẽ quyết định đến khả năng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất nông lâm nghiệp cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
về kinh tế, xã hội, môi trường
- Điều kiện khí hậu: các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn, nhiệt độ bình quân, sự khác nhau về nhiệt độ, ánh sáng, về thời gian và không gian, trực tiếp ảnh hưởng tới sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây rừng và thực vật thủy sinh, lượng mưa, lượng bốc hơi có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, gia súc, thủy sản
1.1.3.2 Nhóm các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội và con người
Nhân tố kinh tế - xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo về việc sử dụng đất đai nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Phương thức sử dụng đất nông
Trang 2313 nghiệp được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định
Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và chế độ kinh tế xã hội khác nhau đã tác động đến việc quản lý của xã hội về sử dụng đất nông nghiệp, chi phối phương thức và hiệu quả sử dụng đất Trình độ phát triển xã hội và kinh tế khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất nông nghiệp khác nhau Trong quá trình sử dụng đất cần phải căn cứ vào những yêu cầu của xã hội kết hợp chặt chẽ những yêu cầu về việc sử dụng ưu thế tài nguyên đất đai để xác định cơ cấu sử dụng đất hợp lý nhất mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả
xã hội và sử dụng đất được bền vững Ngoài ra cần phải tuân thủ các quy luật tự nhiên, quy luật kinh tế - xã hội
Bao gồm các nhân tố sau:
- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp: Trong nhóm nhân tố này thì yếu
tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, góp phần vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm, đồng thời cung cấp các dịch vụ khác hay các yếu tố đầu vào cho sản xuất Ngoài ra, còn có các yếu tố như thủy lợi, thông tin liên lạc, điện, đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng Các yếu tố này hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản: Nhân tố này kết nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng lại với nhau, người sản xuất tiêu thụ, trao đổi hàng hóa và thực hiện quá trình tái sản xuất sau đó
- Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất thể hiện
ở khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao động, cơ
sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất và cách
xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất Do vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất thì việc nâng cao trình độ và cập nhật thông tin khoa học, kỹ thuật là hết sức quan trọng
- Hệ thống chính sách: Bao gồm chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư, chính sách dân số, lao động, việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khích đầu
tư, xóa đói giảm nghèo, Các chính sách này đã có những tác động rất lớn đến vấn đề
sử dụng đất, phát triển và hình thành các loại hình sử dụng đất mới [15]
- Nhân tố con người chính là các biện pháp kỹ thuật canh tác con người tác động vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Biện pháp kỹ thuật canh tác là những tác động mà thông qua đó thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh, sắc sảo của con người Chính sự hiểu biết sâu sắc đó giúp con người lựa chọn loại
Trang 2414 tác động kỹ thuật, chủng loại cũng như cách sử dụng các yếu tố đầu vào một cách phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt mục tiêu đề ra
Với biện pháp canh tác thô sơ, con người chỉ có thể khai thác và sử dụng hiệu quả lớp đất bề mặt Việc ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ sẽ góp phần đẩy mạnh khai thác chiều sâu của đất và nâng cao năng suất cây trồng nhằm đáp ứng nhu cầu về nông sản ngày càng cao của con người trong điều kiện quỹ đất có hạn
Như vậy, các biện pháp kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất, sử dụng đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Tóm lại, tùy vào thực tế của từng vùng, từng địa phương mà có thể nhận biết thêm nhiều nhân tố khác cũng có tác động đến hiệu quả sử dụng đất, có nhân tố ảnh hưởng trực tiếp nhưng có những nhân tố lại ảnh hưởng gián tiếp, có nhân tố thuận lợi
và cũng có nhân tố hạn chế Do đó, cần phải tìm ra những nhân tố có tác động chủ yếu tới hiệu quả sử dụng đất của địa bàn nghiên cứu trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp thích hợp để thay đổi nhằm nâng cao hiệu quả
1.1.3.3 Nhóm các yếu tố môi trường kinh doanh và vốn
* Nhóm nhân tố môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh chịu sự chi phối bởi điều kiện kinh tế - xã hội đã ảnh hưởng đến kết quả hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp nông nghiệp và người nông dân
Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản: là cầu nối giữa người sản xuất và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá, điều này giúp cho họ thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo
* Các yếu tố về vốn
Vốn là vấn đề cần thiết và quan trọng đối với hộ nông dân nhằm đầu tư cho sản xuất, thâm canh tăng năng suất nông lâm nghiệp Nếu thiếu vốn hiệu quả kinh tế sử dụng đất sẽ không được cải thiện Vì vậy, vốn là nhân tố hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất
1.1.4 Những chỉ tiêu và tiêu chí cơ bản để đánh giá hiệu quả hệ thống sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
1.1.4.1 Những chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả hệ thống sử dụng đất nông nghiệp
Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng, việc xác định đúng khái niệm và bản chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lí luận của lí thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường (Vũ Thị Phương Thụy, 2000)
* Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các
Trang 2515 ngành sản xuất khác nhau Theo các nhà khoa học Đức Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman (1995): Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội (Vũ Thị Phương Thụy, 2000)
Hiệu quả kinh tế là phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa chi phí bỏ ra
và kết quả thu được, còn kết quả kinh tế chỉ là yếu tố trong sử dụng để xác định hiệu quả mà thôi
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt hiệu quả kinh tế và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt được một trong hai yếu
tố hiệu quả kỹ thuật và phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng, bản chất của hiệu quả kinh tế sử dụng đất là trên một diện tích đất nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất, với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội Xuất phát từ lý do này mà trong quá trình đánh giá đất nông nghiệp cần phải chỉ ra được loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao
* Hiệu quả xã hội
Theo Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự (2001), hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp
Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và các lợi ích xã hội mang lại
* Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hoá học, sinh học, vật lý, chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường Hiệu quả hoá học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác động vật lý dẫn đến Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái do sự phát sinh biến hoá của các loại yếu tố môi
Trang 2616 trường dẫn đến (Tôn Thất Chiểu và cộng sự, 1992)
Mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi giải pháp về quản lý, được coi là có hiệu quả khi chúng ta không gây tổn hại hay có tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí cũng như không ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái và đa dạng sinh học
Tóm lại, quan điểm sử dụng đất bền vững trong nông nghiệp thì phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường là khâu quan trọng trong đánh giá đất đai, đây là cơ sở
để lựa chọn các loại hình sử dụng đất bền vững cũng như giải quyết các tranh chấp của nhiều loại hình sử dụng đất trên cũng 1 vùng đất Việc đánh giá này song hành với đánh giá thích hợp đất đai Các loại hình sử dụng đất có các chỉ tiêu càng cao về kinh tế, xã hội thì hiệu quả kinh tế xã hội càng lớn, bên cạnh đó hiệu quả môi trường được xem xét nhằm loại trừ các loại hình sử dụng đất có khả năng gây suy thoái, tác động xấu đến môi trường sinh thái trong và ngoài vùng
1.1.4.2 Những tiêu chí để đánh giá hiệu quả hệ thống sử dụng đất nông nghiệp
Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Mối quan hệ này
là mối quan hệ hiệu số hoặc là quan hệ thương số, nên dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sẽ là:
H = K - C hoặc H = K/C hoặc H = (K - C)/C hoặc H = (K1 - K0)/(C1 - C0) Trong đó:
- H: Hiệu quả
- K: Kết quả
- C: Chi phí
- 1, 0 là chi phí về thời gian
* Hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả kinh tế được tính trên 1 ha đất nông nghiệp
+ Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm)
+ Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê, mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất
+ Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian,
là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
GTGT = GTSX - CPTG
- Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG, GTGT/CPTG): Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các
Trang 2717 chi phí biến đổi và thu dịch vụ
- Thu nhập hỗn hợp (TNHH)
TNHH = GTGT - Thuế (T) - chi phí lao động thuê ngoài (L)
- Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, bao gồm: GTSX/LĐ, GTGT/LĐ, TNHH/LĐ Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động
- Chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo thời gian hiện hành, định tính (giá trị tương đối) được tính bằng mức độ cao thấp Các chỉ tiêu đạt được mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng nhỏ
* Hiệu quả xã hội thể hiện ở các tiêu chí:
- Đảm bảo an ninh lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân;
- Đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế của vùng;
- Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân;
- Góp phần định canh, định cư, chuyển giao tiến bộ, khoa học, kỹ thuật, ;
- Tăng cường sản phẩm hàng hóa, đặc biệt là hàng xuất khẩu (Đặng Quang Phán, 2010)
Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình
sử dụng đất nông nghiệp là nội dung được nhiều nhà khoa học quan tâm
* Tiêu chí đánh giá hiệu quả môi trường:
- Xét trên quan điểm sinh thái: Nhân tạo hay tự nhiên, năng suất sinh học cao hay thấp, dễ hay khó bị thay đổi;
- Tác động đến môi trường: Nước thải (hàm lượng các chất độc hại có trong nước thải); đất, trầm tích (hàm lượng dinh dưỡng và các chất thải độc hại có trong đất theo độ sâu tầng đất); dịch bệnh (có hay không khả năng xảy ra dịch bệnh trong sản xuất);
- Điều kiện tự nhiên khác: Thay đổi bề mặt tự nhiên của đất;
- Tác động đến sức khỏe con người: Khả năng tạo ra các chất độc hại đến sức khỏe con người (FAO, 1976)
Như vậy, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích trước mắt vì phải gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng đất vừa đảm bảo lợi ích lâu dài là bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái Khi hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội của một loại hình sử dụng đất nào đó được đảm bảo thì hiệu quả môi trường càng cần được quan tâm
Trang 2818
1.1.5 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp
1.1.5.1 Cơ sở đề xuất định hướng sử dụng đất nông nghiệp
a Chiến lược toàn cầu về Môi trường và phát triển bền vững
Theo Tuyên bố Stockholm về Môi trường con người:
“Bảo vệ và cải thiện môi trường con người cho các thế hệ hôm nay và mai sau
đã trở thành mục tiêu cấp bách của nhân loại Mục tiêu mà chúng ta mưu cầu phải phù hợp, hài hòa với những mục tiêu và phát triển kinh tế, xã hội trên toàn thế giới” (Hội nghị LHQ về Môi trường con người Stockholm, Thụy Điển, 6-16/6/1972);
Theo Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển
“Con người là trung tâm của những mối quan hệ về sự phát triển lâu dài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh hài hòa với thiên nhiên để thực hiện phát triển bền vững, bảo vệ môi trường nhất thiết sẽ là một bộ phận cấu thành của quá trình phát triển và không thể xem xét, tách rời quá trình đó” (Hội nghị LHQ về Môi trường và Phát triển Rio de Janeiro, Brazil, 3-4/6/1992)
Theo Chương trình hành động thực hiện Chiến lược Môi trường toàn cầu, UNDP
đã đưa ra cách thức sử dụng đất bền vững được xác định theo 5 nguyên tắc:
- Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất (năng suất)
- Giảm mức rủi ro đối với sản xuất (an toàn)
- Bảo vệ tiềm năng các nguồn tài nguyên tự nhiên chống lại được sự thoái hoá đối với chất lượng đất và nước (bảo vệ)
- Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi)
- Được sự chấp nhận của xã hội (sự chấp nhận)
Năm nguyên tắc nêu trên được coi là những trụ cột của sử dụng đất bền vững và
là những mục tiêu cần đạt được Thực tế nếu diễn ra đồng bộ so với các mục tiêu trên thì khả năng bền vững sẽ đạt được, nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu mà không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận
Tuyên bố Johannesburg về Phát triển bền vững:
“ Nhận thức rằng nhân loại đang đứng trước bước ngoặt lịch sử, chúng tôi đã thống nhất cùng quyết tâm, nỗ lực một cách tích cực nhu cầu về việc cần có một kế hoạch rõ ràng và khả thi để xóa bỏ nghèo khó và phát triển con người chúng tôi công nhận rằng xóa bỏ nghèo khó, thay đổi các mẫu hình sản xuất và tiêu thụ, bảo vệ và quản
lý tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển kinh tế, xã hội là những mục đích có tính bao quát và là những yêu cầu thiết yếu để phát triển bền vững” (Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững Johannesburg, Nam Phi, 26/8- 4/9/ 2002)
b Chiến lược quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững ở Việt Nam
Trang 2919 Chính sách, pháp luật, chiến lược bảo vệ Môi trường và Phát triển bền vững Việt Nam
Năm 1992 Việt Nam tham gia Hội nghị LHQ về Môi trường và Phát triển Rio de Janeiro, Brazil, 3-4/6/1992, ký các văn kiện và công ước chính về Môi trường đã thông qua tại Hội nghị;
Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993, ban hành theo Nghị quyết Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam khóa IX ngày 27/12/1993
Năm 2002 Việt Nam tham gia Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững Johannesburg, Nam Phi, 26/8- 4/9/ 2002, ký các văn kiện và công ước chính về Môi trường và Phát triển bền vững đã thông qua tại Hội nghị;
Quyết định số 256/2003/QĐ/TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020 ở Việt Nam;
Quyết định 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị
sự 21 của Việt Nam);
Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005, ban hành theo Nghị quyết Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI Kỳ họp thứ 8 từ 18/10 đến 29/11/2005;
Chống tình trạng thoái hóa đất, sử dụng hiệu quả bền vững tài nguyên đất trong định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam: Thoái hóa đất là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn của Việt Nam, đặc biệt là vùng đồi núi, nơi tập trung hơn 3/4 quỹ đất Các dạng thoái hóa đất chủ yếu là: xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì nhiêu thấp và mất cân bằng dinh dưỡng, đất chua hóa, mặn hóa, phèn hóa, bạc mầu, khô hạn
và sa mạc hóa, đất ngập úng, lũ quét, đất trượt và sụt lở, đất bị ô nhiễm Vì vậy: “ Chống tình trạng thoái hóa đất, sử dụng hiệu quả bền vững tài nguyên đất” là một trong những
ưu tiên hàng đầu của Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam;
Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020 ở Việt Nam đề ra 5 nội dung, nhiệm vụ cơ bản về bảo vệ môi trường, trong đó có nội dung về bảo vệ và khai thác b ền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó
có tài nguyên đất; Chính phủ đã phê duyệt các chương trình bảo vệ môi trường ưu tiên thực hiện trong giai đoạn đến 2010 và định hướng đến 2020
Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, ngày 23/6/2014 ban hành theo Nghị quyết
số 55/2014/QH13 Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam
c Những thách thức đối với sử dụng đất bền vững ở Việt Nam
Số lượng đất đai có hạn: Nước ta đất không rộng, theo nhóm đất sử dụng, tổng diện tích tự nhiên của cả nước năm 2015 là 33.123.077 ha, trong đó 31.000.035 ha đất
Trang 3020
đã được sử dụng vào các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp, chiếm 93,59% tổng diện tích tự nhiên; còn 2.123.042 ha đất chưa được sử dụng vào các mục đích, chiếm 6,41% tổng diện tích tự nhiên Trong đó, nhóm đất nông nghiệp có diện tích là 27.302.206 ha, chiếm 82,43% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 87,07% tổng diện tích đất đã sử dụng; nhóm đất phi nông nghiệp có diện tích là 3.697.829 ha, chiếm 11,16% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 11,93% tổng diện tích đất đã sử dụng; nhóm đất chưa
sử dụng có diện tích là 2.123.042 ha, chiếm 6,41 % tổng diện tích tự nhiên cả nước
Theo các loại đối tượng sử dụng, quản lý, diện tích đất đã được giao cho các loại đối tượng sử dụng là 26.802.054 ha, chiếm 80,92% tổng diện tích tự nhiên Trong đó,
hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng 15.894.447 ha, chiếm 47,99% tổng diện tích tự nhiên, bằng 59,30% diện tích đất của các đối tượng sử dụng; các tổ chức trong nước đang sử dụng 10.518.593 ha, chiếm 31,76% tổng diện tích tự nhiên và bằng 39,25% diện tích đất đã giao cho các đối tượng sử dụng; tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài
sử dụng 45.717 ha, chiếm 0,17% diện tích đất đã giao cho các đối tượng sử dụng; cộng đồng dân cư và cơ sở tôn giáo đang sử dụng là 343.294 ha, chiếm 1,28% diện tích đất
đã giao cho các đối tượng sử dụng Diện tích đất giao cho các đối tượng để quản lý là 6.321.023 ha, chiếm 19,08% tổng diện tích tự nhiên của cả nước
Dân số Việt Nam đông, tính đến 06/01/2017, dân số Việt Nam có 94,970,597 người, tỷ lệ diện tích đất đai trên đầu người thấp: đất tự nhiên 3.400 m2/người, đất sản xuất nông nghiệp: 2.500 m2/người, dân số Việt Nam đứng thứ 14 trong các quốc gia đông dân nhất thế giới
Chất lượng đất suy giảm: Thoái hóa là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn, đặc biệt là vùng đồi núi, nơi tập trung hơn 3/4 quỹ đất, nơi cân bằng sinh thái bị phá
vỡ nghiêm trọng hơn cả so với các vùng khác Những nỗ lực cải tạo đất chỉ mới đạt được trong phạm vi hẹp
Sử dụng đất chưa hiệu quả, bền vững:
Quỹ đất nông nghiệp tiếp tục suy giảm do công nghiệp hóa và đô thị hóa Theo
số liệu của Tổng cục Quản lý đất, Bộ Tài nguyên Môi trường, bình quân mỗi năm đất nông nghiệp giảm gần 100 nghìn hécta, đặc biệt năm 2007 giảm 120 nghìn hécta, trong khi mỗi năm số lao động bước ra khỏi ruộng đồng chỉ vào khoảng 400 ngàn người Hơn nữa, mức gia tăng dân số ở nông thôn không giảm nhiều như mong đợi, khiến cho bình quân đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm mạnh
Hiện quỹ đất chưa sử dụng có thể tiếp tục khai thác ở nước ta còn không đáng
kể Trong khi đó biến đổi khí hậu có khả năng làm cho diện tích đất có thể sử dụng có nguy cơ bị thu hẹp
Vấn đề quản lý, sử dụng đất đai đang bộc lộ nhiều hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế-xã hội như diện tích đất ngày càng thu hẹp, quản lý sử dụng
Trang 3121 kém hiệu quả, mất đất canh tác gây sức ép lớn đối với sản xuất nông nghiệp và an toàn lương thực; gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí; đất thương mại, dịch vụ, du lịch phát triển tự phát, tập trung ở vùng đồng bằng, duyên hải (Sân golf, Công viên, Resort), tác động mạnh đến sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và môi trường khu vực
1.1.5.2 Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Theo các nhà khoa học kinh tế Smuel-Norhuas; “Hiệu quả không có nghĩa là lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội Hiệu quả sản xuất diễn
ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hoá khác” (Dẫn theo Vũ Phương Thuỵ)
Theo Trung tâm từ điển ngôn ngữ, hiệu quả chính là kết quả cũng như yêu cầu của việc làm mang lại
Theo khái niệm trên thì hiệu quả sử dụng đất phải là kết quả của quá trình sử dụng đất Trong đó ta quan tâm nhiều tới kết quả hữu ích, một đại lượng vật chất tạo ra
do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên đất đai là hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con người mà ta phải xem xét kết quả sử dụng đất được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính
vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất nông nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất là nội dung đánh giá hiệu quả
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp
Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên
cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao Đó là một trong những điều kiện vô cùng quan trọng để phát triển nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá vừa mang tính ổn định vừa đảm bảo sự bền vững
Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa học
- kỹ thuật, đất đai, lao động qua liên kết trao đổi để phát triển cây trồng có tỷ suất hàng hóa cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu
Trên quan điểm phát triển hệ thống nông nghiệp, thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hóa, sản xuất hàng hóa theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục Thâm canh cây trồng đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp vừa đảm bảo phát triển một
Trang 3222 nền nông nghiệp ổn định (Theo Vũ Năng Dũng, 1997, được trích dẫn bởi Lê Văn Hải, 2006)
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện “Đa dạng hóa” hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp gắn liền với chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp và quá trình tập trung ruộng đất nhằm giải phóng bớt lao động sang các hoạt động phi nông nghiệp khác (theo Lê Văn Bá, 2001, được trích dẫn bởi
Lê Văn Hải, 2006)
Các quan điểm sử dụng đất nông nghiệp (theo Đỗ Thị Tám, 2001, được trích dẫn bởi Lê Văn Hải, 2006) cụ thể là:
- Quan điểm phải khai thác triệt để, hợp lý có hiệu quả qu ỹ đất nông nghiệp
- Quan điểm chuyển đổi mục đích sử dụng phù hợp
- Quan điểm duy trì và bảo vệ đất nông nghiệp
- Quan điểm tiết kiệm, làm giàu đất nông nghiệp
- Quan điểm bảo vệ môi trường đất để sử dụng lâu dài
Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lí luận của lí thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của các nước trên thế giới
Hiện nay, toàn bộ quỹ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp trên thế giới là 3.256 triệu ha, chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền Những loại đất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6%, những loại đất quá xấu chiếm tới 40,5% Diện tích đất trồng trọt trên toàn thế giới mới chỉ chiếm 10,8% tổng diện tích đất tự nhiên (1.500 triệu ha), trong đó, 46% đất có khả năng sản xuất nông nghiệp còn 54% đất có khả năng sản xuất nhưng chưa được khai thác Kết quả đánh giá đất nông nghiệp của thế giới cho thấy: chỉ có 14% đất có năng suất cao, 28% đất có năng suất trung bình nhưng có tới 58% lại có năng suất thấp và rất thấp
Hằng năm, diện tích đất canh tác bị thu hẹp, sản xuất nông nghiệp khó khăn, mặt khác chất lượng đất trồng đang suy giảm nghiêm trọng do một số nguyên nhân như sự gia tăng dân số nhanh chóng, đất bị nhiễm mặn, sự gia tăng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, Riêng trong thập niên 80, thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở các nước như: Indonesia, Pakistan, Philippin, Srilanca đã tăng hơn 10%/năm Theo ước lượng của tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm có 3% lao động nông nghiệp ở các nước đang phát
Trang 3323 triển (25 triệu người) bị nhiễm độc thuốc trừ sâu Như vậy, có thể thấy rằng việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống con người
Toàn thế giới có khoảng 3,8 tỷ ha rừng, nhưng mỗi năm thì mất khoảng trên 15 triệu ha, tỷ lệ mất rừng nhiệt đới khoảng 2%/năm Diện tích rừng bị mất nhiều nhất tại vùng châu Mỹ - Latinh và châu Á Bên cạnh đó, hiện tượng hoang mạc hóa đang đe dọa 1/3 diện tích Trái Đất Khoảng 30% diện tích Trái Đất nằm trong vùng khô hạn và bán khô hạn đang đứng trước nguy cơ hoang mạc hóa Hàng năm có khoảng 6 triệu ha đất
bị hoang mạc hóa, mất khả năng canh tác
Xói mòn rửa trôi cũng gây thoái hóa đất nghiêm trọng Trung bình đất đai trên thế giới xói mòn 1,8 - 3,4 tấn/ha/năm Tổng dinh dưỡng bị xói mòn rửa trôi hàng năm
là 5,4 - 8,4 triệu tấn, tương đương với khả năng sản sinh 30 - 50 triệu tấn lương thực, phá hoại nguồn tài nguyên, mất đa dạng sinh học, mất cân bằng sinh thái cũng như đối diện nhiều nguy cơ khác
Khoảng 2/3 diện tích đất nông nghiệp trên thế giới đã bị suy thoái nghiêm trọng trong 50 năm qua do xói mòn rửa trôi, sa mạc hóa, chua hóa, mặn hóa, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng hệ sinh thái Khoảng 40% diện tích đất nông nghiệp đã bị suy thoái mạnh hoặc rất mạnh, 10% sa mạc hóa do biến đổi khí hậu và khai thác sử dụng không hợp lý Thoái hóa môi trường đất, đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp có nguy cơ làm giảm 10 - 20% sản lượng lương thực thế giới trong khoảng 25 năm tới
Trong khi chúng ta đang bước vào thế kỷ 21 với nhiều thách thức về an ninh lương thực, dân số, môi trường sinh thái, thì nông nghiệp với tư cách là ngành sản xuất ra lương thực thực phẩm nuôi sống con người đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn Bên cạnh hiện tượng thu hẹp diện tích đất nông nghiệp đô thị hóa và suy giảm chất lượng nông nghiệp do suy giảm chất lượng đất làm cho tình trạng sản xuất nông nghiệp rơi vào tình trạng trầm trọng hơn và đi theo vòng luẩn quẩn: suy thoái đất - mất
đa dạng sinh học - biến đổi khí hậu - hiệu quả sử dụng đất thấp - tăng cường khai thác đất - suy thoái đất Cho nên, nếu tiếp cận quản lý đất đai không bền vững sẽ mang lại nhiều thất bại
Như vậy, đất nông nghiệp trên thế giới đã không còn nhiều so với tổng diện tích
tự nhiên mà còn bị suy thoái nghiêm trọng Vấn đề này có nhiều nguyên nhân và đã có dẫn chứng ở trên Để khắc phục phần nào tình trạng này vẫn có nhiều giải pháp và qua nghiên cứu nhận thấy rằng tăng cường quản lý, sử dụng đất theo hướng nâng cao hiệu quả là một trong những giải pháp rất cần thiết hiện nay
1.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Nước ta là quốc gia có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, với hơn 70% lao động nông nghiệp và sống ở nông thôn Đối với Việt Nam, nông nghiệp là ngành sản xuất
Trang 3424 then chốt, là động lực thúc đẩy tất cả các ngành kinh tế khác Mặc dù thực tế nước ta đang trong quá trình Công nghiệp hóa - hiện đại hóa và đô thị hóa mạnh mẽ, nhưng cũng không thể phủ nhận vai trò chủ đạo của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Tuy vậy, việc sử dụng đất nông nghiệp nói chung của Việt Nam vẫn đang gặp nhiều bất cập, hiệu quả sử dụng đang giảm xuống đáng kể, tình trạng suy thoái đất diễn ra phức tạp, do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính vẫn là do con người gây
ra Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất, sản lượng và chất lượng nông sản cũng như kéo theo nhiều hệ lụy nghiêm trọng khác về mặt kinh tế, xã hội và môi trường
Tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam năm 2015 là 33.123.077 ha, trong đó 31.000.035 ha đất đã được sử dụng vào các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp trong đó đất đã giao cho các đối tượng sử dụng là 26.802.054 ha, chiếm 80,92% tổng diện tích tự nhiên
Diện tích đất đai phân bố giữa các vùng không đồng đều Ở những vùng đất đai rộng lớn thì dân cư lại ít và thưa thớt Những vùng này có điều kiện sản xuất khó khăn,
do đó đời sống của người dân cũng gặp nhiều khó khăn Vùng Trung du Bắc bộ chiếm 31,1% so với tổng diện tích tự nhiên nhưng chỉ chiếm 16,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của nước ta Trong khi đó, đồng bằng sông Hồng chiếm 3,78% so với tổng diện tích tự nhiên nhưng chiếm 8,7% tổng diện tích đất nông nghiệp cả nước, đồng bằng sông Cửu Long chiếm 11,95% tổng diện tích tự nhiên nhưng lại chiếm 34,3% tổng diện tích đất nông nghiệp cả nước
Diện tích đất đai, đặc biệt là diện tích đất nông nghiệp tính trên đầu người rất thấp, có vùng quá thấp như đồng bằng sông Hồng,duyên hải miền Trung tương ứng là 506,69 m2/người và 720 m2/người - thấp hơn mức bình quân chung cả nước
Diện tích đất chưa được sử dụng đều có ở tất cả 7 vùng kinh tế - sinh thái của nước ta nhưng tập trung nhiều nhất là ở trung du miền núi Bắc bộ và Tây Nguyên Đây cũng là 2 vùng có mật độ dân cư thấp nhất nước Đất chưa sử dụng phần lớn là đất rừng
và đồi núi trọc, điều kiện sản xuất khó khăn Do đó, việc khai thác sử dụng đất đai ở những vùng này có ý nghĩa về mặt kinh tế, xã hội to tới trên phạm vi cả nước nhưng đòi hỏi phải có những đầu tư lớn, kể cả trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng để hình thành các vùng kinh tế mới
Việt Nam là quốc gia hiếm đất, với địa hình “tam sơn, tứ hải, nhất phân điền” thì đất trồng lúa nước lại càng hiếm Để hình thành được hơn 4 triệu ha đất lúa, người nông dân Việt Nam đã trải qua hàng trăm, hàng nghìn năm phải lao động cải tạo làm giàu chất lượng đất và xây dựng hệ thống thủy lợi Tuy nhiên quá trình chuyển đổi đất lúa cho các mục đích khác rồi thì không thể quay trở lại
1.2.3 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Theo phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hạch sử dụng đất 5
Trang 3525 năm (2011 - 2015) do Chính phủ trình Quốc hội ngày 20/10/2011, được Uỷ ban kinh tế Quốc hội thông qua, đất nông nghiệp của cả nước đến năm 2020 là 26.732 nghìn ha, tăng 506 nghìn ha so với năm 2010
Đến thời điểm hiện nay, đất trồng lúa đang giảm đi, Quốc hội đã nhất trí phương
án giữ diện tích đất trồng lúa đến năm 2020 là 3,81 triệu ha Với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu, Chính phủ đã đề ra 3 mục tiêu cơ bản đó là: đáp ứng yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, công nghiệp và đô thị để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đảm bảo an ninh quốc phòng và
an sinh xã hội; đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu
1.3 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới
FAO (2010) đã công bố nghiên cứu về hiệu quả sử dụng phân bón và đất nông nghiệp bằng phương pháp điều tra và phân tích thống kê Nghiên cứu đã khẳng định: Trong 3 thập kỷ tới, mức tăng năng suất sẽ không nhỏ hơn về con số tuyệt đối so với 3 thập kỷ đã qua, mặc dù tốc độ tăng trưởng sẽ thấp hơn đáng kể Sự tăng lên này phải được bắt đầu từ những cơ sở về tài nguyên mà đảm bảo cân bằng ở hiện tại kéo dài hơn nữa về tương lai so với quá khứ Chính các nước đang phát triển sẽ làm tăng sản lượng lương thực của thế giới do đó làm tăng lên những rủi ro và những tác động bất lợi đối với thế giới Vì thông thường, ở các nước đang phát triển chỉ quan tâm đến mục tiêu an ninh lương thực, việc làm và thu nhập từ xuất khẩu hơn là phải quan tâm đến bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học Điều này có nghĩa rằng, việc tăng sản lượng lương thực làm gia tăng áp lực lên môi trường sinh thái nông nghiệp của vùng nhiệt đới, nơi mà dân cư sinh sống đông đúc và chứa nhiều đa dạng sinh học của thế giới
Mặt khác, ở một số nước đang phát triển đang có sự khan hiếm về đất nông nghiệp nên việc tranh thủ tài nguyên đất và tăng sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm hơn từ mỗi hecta đất là điều cần thiết Tuy nhiên, tăng đầu tư phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp phải đảm bảo không đe dọa đến tính bền vững của toàn bộ hệ thống Đất nông nghiệp càng ngày càng xấu đi do khai thác sử dụng quá mức cộng thêm việc bón phân không hợp lý sẽ làm gia tăng sự ô nhiễm đối với môi trường đất và môi trường nước một cách nghiêm trọng
Frantisek Brazdik (2006) đã đánh giá hiệu quả kỹ thuật và quy mô trang trại lúa
ở Tây Java, xác định các yếu tố quyết định ảnh hưởng đến hiệu quả của trang trại Hơn nữa, mô hình hồi quy Tobit cũng được sử dụng để giải thích sự thay đổi điểm số hiệu quả liên quan đến các yếu tố nông nghiệp cụ thể Nghiên cứu đã kết luận rằng quy mô
Trang 3626 trang trại là một trong những yếu tố quan trọng nhất của hiệu quả kỹ thuật nông nghiệp
và manh mún đất đai ở mức độ cao, là nguồn gốc cơ bản của sự thiếu hiệu quả kỹ thuật trong thời kỳ của kỷ nguyên tăng trưởng, được gọi là cuộc cách mạng xanh
Vimy Glass và các cộng sự thuộc Sở Nông nghiệp của Nova Scotia khẳng định nông nghiệp là ngành quan trọng đối với người dân Nova Scotia Tuy nhiên người nông dân đang phải đối mặt với những thách thức khi nền công nghiệp tăng trưởng không ngừng, gây trở ngại cho các hoạt động nông nghiệp Đối với một nông dân, tài sản lớn nhất là đất đai Nhưng vấn đề tài chính, tiền bạc cũng là rất quan trọng thì họ sẽ bị ảnh hưởng bởi việc chuyển đổi đất tiềm năng Trong các cuộc tranh luận cộng đồng, không chỉ có vấn đề bảo vệ, bảo tồn đất nông nghiệp được đưa ra tranh luận Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng bố trí đất nông nghiệp phải dựa vào các điều kiện về kinh tế, xã hội và môi trường Ở Nova Scotia, có nhiều nhà sản xuất chấp nhận chi phí cao trong khi thị trường hàng hóa nông nghiệp lại có giá rất rẻ Sự bất ổn trong thị trường hàng hóa, cộng với tỷ giá hối đoái biến động gây ảnh hưởng đến thương mại trong nông nghiệp
Một nghiên cứu của tổ chức APA, Mỹ (1999) phát hiện ra rằng nông nghiệp không những là doanh nghiệp mà còn cung cấp nhiều lợi ích về mặc cộng đồng bao gồm không gian mở, môi trường sống động vật hoang dã và nước ngầm Tại Mỹ có khoảng
240 mẫu đất nông nghiệp; những tiểu bang và chính quyền địa phương ở Mỹ đã đạt được những thành công nhất định trong việc bảo tồn đất nông nghiệp, ưu đãi về thuế đất nông nghiệp Mặt khác, việc mất đất nông nghiệp cũng được chính quyền địa phương của Hoa Kỳ hết sức quan tâm Nghiên cứu khẳng định rằng đất nông nghiệp cần được bảo vệ trong quá trình sử dụng để đảm bảo hiệu quả cao nhất
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam khái niệm về phân hạng đất đã có từ lâu qua việc phân chia “tứ đẳng điền, lục hạng thổ” nhằm mục đích cho việc thu thuế Năm 1972-1974 Vũ Cao Thái, Bùi Quang Toản đã tiến hành đánh giá phân hạng đất cấp huyện, xã huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình
Phương pháp đánh giá đất đai của FAO đã được các nhà khoa học Việt Nam ứng dụng nghiên cứu: Bùi Quang Toản (1985), Tôn Th ất Chiểu, 1986; Lê Quang Trí, 1989;
Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (Sub- NIAPP) đã tiến hành đánh giá đất đai cho vùng kinh tế của toàn quốc với tỷ lệ bản đồ 1/250.000 Ngoài ra một số tỉnh đã có bản đồ đánh đất đai theo phương pháp FAO, tỷ lệ 1/50.000 và 1/100.000 như
Hà Tây, Bình Định, Bình Phước, Bà Ria- Vũng Tàu, Bạc Liêu, Cà Mau Bước đầu cho thấy tính khả thi rất cao, xác định như một tiến bộ khoa học kỹ thuật có thể được áp dụng rộng rãi trong toàn quốc
Tại tỉnh Lâm Đồng, ngoài 2 chương trình 48C (Viện Thổ Nhưỡng - Nông Hóa)
Trang 3727 đánh giá đất đai cho cao su, cà phê, dâu tằm và các chương trình 40A- 03.01 (Tổng cục cao su, 1990) Giai đoạn 2000-2002, trong chương trình hợp tác giữa Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp và đại học Catholic - Leuven - Vương quốc Bỉ, đã triển khai đánh giá đất đai theo quy mô tỉnh năm 2001, sở khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng và Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã ứng dụng nhiều phương pháp đánh giá đất đai của FAO, tiến hành đánh giá đất đai cho tỉnh Lâm Đồng phục vụ đánh giá đất đai bền vững Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có 3 huyện Cát Tiên, Đạ Hoai
và Đạ Teh cũng đã tiến hành đánh giá thích nghi đất đai cấp huyện (tỷ lệ 1/25.000) cấp
xã (tỷ lệ: 1/10.000-1/5.000) (Viện Nông hoá Thổ nhưỡng 1999-2000)
Ngoài ra trong khuôn khổ chương trình quy hoạch sử dụng đất của 11 huyện, thành phố thuộc tỉnh Lâm Đồng, Sub- NIAPP cũng đã ứng dụng phương pháp đánh giá đất của FAO để đánh giá đất đai phục vụ cho việc bố trí sử dụng đất
Tại huyện Đức Trọng, năm 1998, trong chương trình quy hoạch sử dụng đất, Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã xây dựng bản đồ đánh giá thích nghi đất đai phục vụ quy hoạch sử dụng đất Trong đó chủ yếu đánh giá khái quát thích nghi cho các loại cây trồng theo điều kiện tự nhiên Các loại bản đồ được xây dựng trên giấy, thực hiện bằng phương pháp cổ điển (làm bằng tay)
Năm 2007, Nguyễn Thoại Vũ trong đề tài tốt nghiệp đại học ngành trắc địa và địa chất “Ứng dụng phần mềm ALES và GIS trong đánh giá thích nghi đất đai huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng” Trong đó chủ yếu là đánh giá thích nghi điều kiện tự nhiên,
có xem xét về kinh tế nhưng chưa tổng hợp các yếu tố kinh tế lại với nhau
Trang 3828
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đất sản xuất nông nghiệp và các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chính tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng
ở 3 xã đại diện đã nêu trên
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đức Trọng
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Đức Trọng
- Xác định các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đức Trọng
- Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chính trên địa bàn huyện Đức Trọng
- Đề xuất giải pháp và định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin, số liệu
2.4.1.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
- Thu thập tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, tình hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện và 3 xã nghiên cứu
- Số liệu thu thập từ các cơ quan: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, phòng Tài nguyên & Môi trường huyện, Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện
Trang 3929
2.4.1.2 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp
- Khảo sát thực địa về các loại hình, kiểu sử dụng đất
- Thu thập số liệu bằng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc các nội dung có liên quan đến việc sử dụng đất cho các loại hình sử dụng đất chính Các hộ được lựa chọn điều tra ngẫu nhiên trên 3 xã Hiệp An, Hiệp Thạnh và Liên Hiệp với tổng số 150
hộ (50 hộ/xã)
2.4.2 Phương pháp phân tích, thống kê và đánh giá hiệu quả sử dụng đất
- Số liệu thứ cấp được tổng hợp, phản ánh thông qua bảng, biểu và đồ thị
- Số liệu sơ cấp dùng phần mềm Excell để xử lý, tổng hợp các số liệu thô để tổng hợp
2.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.4.3.I Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế được đánh giá thông qua các chỉ tiêu:
- Năng suất cây trồng: Năng suất cây trồng là lượng sản phẩm của cây trồng đó tính trên một ha trong một vụ hay một năm Chỉ tiêu này phản ánh trình độ sản xuất của địa phương hay toàn ngành
Tổng sản lượng cây trồng Năng suất cây trồng = -
Tổng diện tích gieo trồng cây trồng
- Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụ được tạo
ra trong nông nghiệp qua 1 thời gian nhất định, thường là một năm
GO = E Qi*Pi
Trong đó: Qi: Khối lượng sản phẩm loại i
Pi: Đơn vị giá sản phẩm loại i
- Chi phí trung gian (IC): Bao gồm chi ph í vật chất và dịch vụ phục vụ cho sản xuất
IC = Chi phí vật chất trực tiếp + Chi phí dịch vụ thuê ngoài
- Giá trị gia tăng (VA): Là toàn bộ phận của giá trị sản xuất còn lại sau khi trừ
đi chi phí trung gian Đó là một bộ phần mới do lao động sản xuất tạo ra và khấu hao tài sản cố định trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
VA = GO - IC
Trang 4030
- Giá trị hiện tại thuần (NPV): giá trị hiện tại thuần là khoản chênh lệch giữa tổng các khoản thu và tổng cá khoản chi phs của cả vòng đời cây trông đã được đưa về cùng thời điểm hiện tại
Trong đó: NPV: giá trị hiện tại của thu thập thuần
Bi: khoản thu của năm thứ i Ci: khoản hi phí của năm thứ i n: số năm (vòng đời) của cây trồng r:
tỷ suất chiết khấu được lựa chọn (tính bằng tỷ lệ lãi suất ngân hàng)
- Tỷ suất lợi ích chi phí (BCR): chỉ tiêu này được sử dụng để phản ánh chất lượng đầu tư, cho biết được mức độ thu nhập trên 1 đơn vị chi phí sản xuất; cho phép so sánh
và lựa chọn các kiểu đầu tư sử dụng đất có quy mô và kết cấu khác nhau
Trong dó: Bt: giá trị thu nhập tại thời diêm t
Ct: Chi phi tại thời điếm t i: Lâi suất thanh toán n: Chu kỳ kinh doanh tính theo năm
2.4.3.2 Hiệu quả xã hội:
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân
2.4.3.3 Hiệu quả môi trường:
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái Hiệu quả môi trường được tính thông qua các chỉ số như hệ số sử dụng đất, mức độ che phủ đất, mức độ sử dụng thuốc trừ sâu tronng quá trình sản xuất
2.4.4 Phương pháp SWOT
Phân tích SWOT là phân tích loại hình sử dụng đất trên cơ sở phân tích điểm mạnh, cơ hội mà địa phương có được và những điểm yếu, rủi ro gặp phải khi sử dụng các loại hình sử dụng đất được áp dụng tại địa phương
ỳ Bí
3QR — 2ZÍỈ_LỊ—
ỷ—