1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty xăng dầu b12

114 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên do sự vận động phức tạp và trình độ quản lý tài chính còn hạn chế ở nhiều doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là những doanh nghiệp mà nhà nước có vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng lớn

Trang 1

MAI HÙNG CƯỜNG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY

XĂNG DẦU B12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

MAI HÙNG CƯỜNG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY

XĂNG DẦU B12

Ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60340410

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Nguyễn Văn Bưởi

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác trước đó Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về lời cam đoan này

Hà nội, ngày 02 tháng 10 năm 2013

Tác giả

Mai Hùng Cường

Trang 4

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN 5

1.1 Tổng quan lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường 5

1.1.1 Những vấn đề cơ bản của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 5

1.1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường 12

1.2 Tổng quan thực tiễn về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 27

1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 31

1.4 Quan điểm của tác giả về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của các doanh nghiệp trong nước nói chung và Công ty xăng dầu B12 nói riêng 32

Kết luận chương 1 33

Chương 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY XĂNG DẦU B12 35

2.1 Giới thiệu chung về Công ty xăng dầu B12 35

2.1.1 Khái quát quá trình hình thành, phát triển của Công ty 35

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Công ty 37

2.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 38

2.1.4 Cơ cấu tổ chức của Công ty xăng dầu B12 40

2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty xăng dầu B12 47

Trang 5

2.2.2 Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty 49

2.2.3 Cơ cấu tài sản ngắn hạn 60

2.2.4 Nguồn hình thành tài sản ngắn hạn 62

2.2.5 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong Công ty 64

2.3 Đánh giá hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại công ty Xăng dầu B12 74

2.3.1 Thành tích đạt được 74

2.3.2 Những vấn đề còn đặt ra trong công tác quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Xăng dầu B12 76

2.3.3 Những hạn chế và nguyên nhân 77

Kết luận chương 2 81

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY XĂNG DẦU B12 83

3.1 Chiến lược kinh doanh của Công ty Xăng dầu B12 đến năm 2015 83

3.1.1 Định hướng phát triển của Công ty 83

3.1.2 Mục tiêu cụ thể của Công ty Xăng dầu B12 87

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty xăng dầu B12 88

3.2.1 Tăng cường quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn bằng tiền 88

3.2.2 Đẩy mạnh công tác thu hồi công nợ khách hàng, hạn chế tối đa các khoản phải thu bị chiếm dụng 91

3.2.3 Xác định mức dự trữ hàng tồn kho tối ưu 95

3.2.4 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý và trình độ cán bộ công nhân viên 98

3.3 Những kiến nghị với cơ quan hữu quan 100

3.3.1 Đối với Nhà nước 100

3.3.2 Đối với địa phương 102

3.3.3 Đối với Tập đoàn xăng dầu Việt Nam 103

KẾT LUẬN 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

CBCNV : Cán bộ công nhân viên

P10 : Mặt hàng xăng dầu dự trữ quốc gia

Petec : Công ty TNHH MTV thương mại kỹ thuật và đầu tư Petrolimex : Tập đoàn xăng dầu Việt Nam

PV Oil : Tổng công ty dầu Việt Nam

Saigon Petro : Công ty TNHH MTV dầu khí thành phố Hồ Chí Minh SXKD : Sản xuất kinh doanh

TSDH : Tài sản dài hạn

TSNH : Tài sản ngắn hạn

Vinapco : Công ty xăng dầu hàng không Việt Nam

Trang 7

Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh của công ty xăng dầu B12 48

Bảng 2.2: Cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty Xăng dầu B12 50

Bảng 2.3: Kết cấu tài sản ngắn hạn của công ty xăng dầu B12 52

Bảng 2.4: Tình hình quản lý và sử dụng vốn bằng tiền 54

Bảng 2.5: Các khoản phải thu 55

Bảng 2.6: Hàng tồn kho 58

Bảng 2.7: Tài sản ngắn hạn khác 59

Bảng 2.8: Nguồn hình thành tài sản ngắn hạn 62

Bảng 2.9: Bảng phân tích tài sản ngắn hạn ròng 66

Bảng 2.10: Tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn 67

Bảng 2.11: Hệ số đảm nhiệm tài sản ngắn hạn 68

Bảng 2.12: Hệ số sinh lời tài sản ngắn hạn 69

Bảng 2.13: Bảng phân tích việc đi chiếm dụng và bị chiếm dụng 70

Bảng 2.14: Bảng phân tích chi tiết tình hình thanh toán 71

Bảng 2.15: Bảng phân tích khả năng thanh toán 72

Bảng 2.16: Tổng hợp các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 75

Bảng 3.1: Bảng chi tiết các khoản phải thu 92

Bảng 3.2: Bảng phân nhóm khách hàng 92

Bảng 3.3: Các tỷ lệ chiết khấu đề xuất 94

Bảng 3.4: Bảng tính chiết khấu thanh toán 94

Bảng 3.5: Kết quả thực hiện giải pháp thu hồi nợ 95

Bảng 3.6: Kết quả thực hiện giải pháp dự trữ nguyên vật liệu tối ưu 98

Trang 8

Hình 1.1: Sơ đồ luân chuyển dòng tiền mặt 8

Hình 1.2: Biến động hàng tồn kho trong một chu kỳ, hàng tồn kho bình quân 17

Hình 1.3: Đường biểu diễn mối quan hệ giữa chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng tổng chi phí theo các mức sản lượng tồn kho 18

Hình 1.4: Đồ thị biểu diễn các mức biến động tiền mặt theo thời gian 23

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức quản lý của công ty Xăng dầu B12 [6] 41

Hình 2.2: Biểu đồ cơ cấu và tăng trưởng tài sản 60

Hình 2.3: Biểu đồ cơ cấu và tăng trưởng nguồn vốn 61

Hình 2.4: Biểu đồ cơ cấu nợ ngắn hạn 63

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tài sản là biểu hiện bằng tiền của tất cả những yếu tố cấu thành nên tư liệu sản xuất của doanh nghiệp, được trang trải bởi các nguồn vốn của doanh nghiệp Cơ cấu giá trị tài sản phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm công nghệ sản xuất của doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thương mại thì tài sản ngắn hạn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp Điều này cũng có nghĩa nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là nhân tố quyết định đến hiệu quả sử dụng tài sản nói chung và cũng là hiệu quả sử dụng vốn

Tuy nhiên do sự vận động phức tạp và trình độ quản lý tài chính còn hạn chế ở nhiều doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là những doanh nghiệp mà nhà nước có vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng lớn, tài sản ngắn hạn chưa được quản lý, sử dụng có hiệu quả dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không cao

Công ty xăng dầu B12 là một đơn vị hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thương mại, nơi có tỷ trọng tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn, như vậy, nâng cao hiệu quả

sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa sống còn đối với Công ty Nhận thức được vấn đề này, qua học tập, nghiên cứu lý luận và qua thực tiễn công tác tại Công ty xăng dầu B12, tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề

tài:“Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty xăng dầu B12” nhằm giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra, góp phần nâng cao

hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty xăng dầu B12, đáp ứng yêu cầu, nhiệm

vụ trong thời kỳ mới: Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Luận văn chủ yếu đề cập và làm rõ những vấn đề lý luận về tài sản ngắn hạn

và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp; phân tích tình hình thực tiễn sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty xăng dầu B12; tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu, nguyên nhân của mặt mạnh, mặt yếu; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty xăng dầu B12

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu sự vận động của tài sản ngắn hạn đặc biệt

là các khoản phải thu và vốn bằng tiền để từ đó tìm ra mức độ ảnh hưởng của nó đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng và vốn nói chung trong Công ty xăng dầu B12

Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về không gian: Sự vận động của tài sản ngắn hạn trong Công ty

Xăng dầu B12

- Phạm vi về thời gian: Hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng sử dụng

tài sản ngắn hạn của Công ty Xăng dầu B12 trong giai đoạn từ năm 2009 đến 2012

- Phạm vi về vấn đề nghiên cứu: Trên cơ sở kết quả hoạt động kinh doanh và

thực trạng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cũng như tài sản ngắn hạn của Công ty, tập trung phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong Công ty xăng dầu B12

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thứ nhất, nghiên cứu việc sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp trong

nền kinh tế thị trường

- Thứ hai, thu thập thông tin, phân tích hiện trạng sử dụng tài sản ngắn hạn của

Công ty thông qua các dữ liệu từ năm 2009 đến năm 2012

- Thứ ba, trên cơ sở lý luận, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử

dụng tài sản ngắn hạn trong Công ty Xăng dầu B12

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích tài sản ngắn hạn nói riêng hay tài chính nói chung bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính hay vốn ngắn hạn, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

Về lý thuyết có nhiều phương pháp phân tích tình hình sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp nhưng trên thực tế người ta sử dụng phương pháp so sánh và phân tích tỉ lệ

Trang 11

- Phương pháp so sánh:

Là phương pháp sử dụng các báo cáo tài chính để so sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi của vốn ngắn hạn hay tài sản ngắn hạn, đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; so sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của doanh nghiệp; so sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành của các doanh nghiệp khác nhằm đánh giá tình hình quản lý sử dụng tài sản ngắn hạn tốt hay xấu, được hay chưa được Có thể so sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ

để thấy được sự biến đổi cả về số lượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào

đó qua các niên độ kế toán liên tiếp

- Phương pháp phân tích tỷ lệ:

Số tỷ lệ biểu hiện mối quan hệ giữa lượng này với lượng khác Bản thân các số

tỷ lệ không mang một ý nghĩa nhất định nhưng khi được so sánh với các số tỷ lệ của giai đoạn trước hay số trung bình ngành thì nó sẽ giúp cho các nhà phân tích đưa ra những kết luận đối với mục tiêu cần phân tích Ta có thể sử dụng nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, cơ cấu vốn ngắn hạn, khả năng sinh lời của tài sản ngắn hạn để phân tích tình hình quản lý sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

- Phân tích định tính:

Khi phân tích tình hình quản lý sử dụng tài sản ngắn hạn cần có sự kết hợp giữa các chỉ số tính được với các đặc điểm mang tính đặc thù của doanh nghiệp cũng như các yếu tố khác xung quanh để có nhận xét đúng đắn hơn Vì phương pháp định lượng cho phép đánh giá thực trạng quản lý sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bằng cách dựa vào các chỉ tiêu cụ thể, tuy nhiên đôi khi không chính xác do các chỉ tiêu đó chỉ phản ánh tình hình của doanh nghiệp tại một thời điểm, đồng thời trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như bản chất ngành nghề kinh doanh, môi trường kinh doanh

Trang 12

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Là việc hệ thống hóa và làm sáng tỏ lý luận về tài sản ngắn hạn và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

-Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài luận văn có thể áp dụng cho công ty Xăng dầu B12

để nâng cao hiệu quả kinh doanh đồng thời là tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp khác và những ai quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn đã hoàn thành ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và 3 chương, luận văn được kết cấu trong 105 trang đánh máy, 22 bảng biểu và 8 hình vẽ

và 13 danh mục tài liệu tham khảo

Chương 1: Tổng quan về tài sản ngắn hạn và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty xăng dầu B12

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty xăng dầu B12

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

TÀI SẢN NGẮN HẠN 1.1 Tổng quan lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

1.1.1 Những vấn đề cơ bản của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm tài sản ngắn hạn

Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có 3 yếu tố là: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động (nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm )chỉ tham gia vào một chu kì sản xuất kinh doanh và luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động gọi là tài sản ngắn hạn.Trong các doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn gồm tài sản ngắn hạn sản xuất và ngắn hạn lưu thông

Tài sản ngắn hạn sản xuất gồm những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục, vật tư đang nằm trong quá trình sản xuất chế biến và những

tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn là tài sản dài hạn Thuộc về tài sản ngắn hạn sản xuất gồm: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở dang, công cụ lao động nhỏ

Tài sản ngắn hạn lưu thông gồm: sản phẩm hàng hoá chưa tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán

Như vậy, tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong 1 năm hoặc một chu kỳ kinh doanh Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền tệ, hiện vật (vật tư, hàng hóa) dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản

nợ phải thu ngắn hạn

Trang 14

1.1.1.2 Phân loại tài sản ngắn hạn

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh để quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn

có hiệu quả thì cần phải phân loại tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp theo các tiêu chí khác nhau Có nhiều tiêu chí để phân loại tài sản ngắn hạn, thông thường có những cách phân loại sau đây:

a Phân loại theo hình thái biểu hiện

Theo cách phân loại này, tài sản ngắn hạn có thể chia thành 2 loại sau:

- Tài sản vật tư, hàng hoá: gọi chung là hàng tồn kho gồm: nguyên, nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm

- Tài sản bằng tiền: là bộ phận vốn ngắn hạn như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản phải thu, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn

Theo cách phân loại này giúp cho các cán bộ quản lý doanh nghiệp có thể phân tích, đánh giá tài sản ngắn hạn hiện có của mình từ đó ra các quyết định về mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp

b Phân loại theo vai trò của từng loại tài sản ngắn hạn trong quá trình sản xuất kinh doanh

Theo cách phân loại này tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp được chia thành

Theo cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của tài sản ngắn hạn trong từng khâu của quá trình chu chuyển, từ đó có các biện pháp điều chỉnh hợp lý

để mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp

Trang 15

c Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn

- Tài sản dài hạn: là những tài sản có tính chất ổn định, dài hạn như tài sản cố định

- Tài sản ngắn hạn: Là nguồn có tính chất ngắn hạn để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời như dự trữ, tiền mặt, các khoản phải thu khác

Theo cách phân loại nguồn vốn như trên giúp cho người quản lý xem xét huy động các nguồn vốn sao cho phù hợp với thời gian sử dụng sao cho đạt hiệu quả cao nhất

d Phân loại theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán

Căn cứ vào các khoản mục trong bảng cân đối kế toán tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, chi phí trả trước, chi phí chờ phân bổ, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác

- Các khoản đầu tư ngắn hạn

Mục tiêu của các doanh nghiệp là việc sử dụng các loại tài sản sao cho hiệu quả nhất Các loại chứng khoán gần như tiền mặt giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền mặt vì nếu số dư tiền mặt nhiều doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán có khả năng thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết cũng có thể chuyển đổi chúng sang tiền mặt một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí Do đó trong quản trị tài chính người ta sử dụng chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để duy trì tiền mặt ở mức độ mong muốn Ta có thể thấy điều này qua sơ đồ luân chuyển sau (Hình 1.1):

Ta thấy tiền mặt là một hàng hóa nhưng đây là hàng hóa đặc biệt-một tài sản

có tính lỏng nhất Trong kinh doanh, doanh nghiệp cần một lượng tiền mặt và phải dùng nó để trả cho các hóa đơn một cách đều đặn Khi lượng tiền mặt này hết,

Trang 16

doanh nghiệp phải bán các chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để có lượng tiền như ban đầu

Hình 1.1: Sơ đồ luân chuyển dòng tiền mặt

- Các khoản phải thu

Trong nền kinh tế thị trường việc mua bán chịu là một việc không thể thiếu Các doanh nghiệp bán hàng song có thể không nhận được ngay tiền hàng lúc bán

mà nhận sau một thời gian xác định mà hai bên thoả thuận hình thành nên các khoản phải thu của doanh nghiệp

Việc các doanh nghiệp khác nợ như vậy chính là hình thức tín dụng thương mại Với hình thức này có thể làm cho doanh nghiệp đứng vững trên thị trường và trở nên giàu có nhưng cũng không tránh khỏi những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Khoản phải thu giữ một vai trò quan trọng bởi nếu các nhà quản lý không cân đối giữa các khoản phải thu thì doanh nghiệp sẽ gặp phải những khó khăn thậm chí

dễ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán

khoản cao

Bán những chứng khoán thanh khoản cao để bổ sung cho tiền mặt

Dòng thu tiền

mặt

Tiền mặt Dòng chi tiền

mặt

Trang 17

Chi phí trả trước bao gồm các khoản tiền mà công ty đã trả trước cho người bán, nhà cung cấp hoặc các đối tượng khác Một số khoản trả trước có thể có mức

độ rủi ro cao vì phụ thuộc vào một số yếu tố khó dự đoán trước

- Các chi phí chờ phân bổ

Trong thực tế, một khối lượng nguyên vật liệu và một số khoản chi phí đã phát sinh nhưng có thể chưa được phân bổ vào giá thành sản phẩm hay dịch vụ Những khoản này sẽ được đưa vào giá thành trong khoảng thời gian thích hợp

- Hàng tồn kho

Trong quá trình luân chuyển của vốn ngắn hạn phục vụ cho sản xuất, kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hoá dự trữ, tồn kho là những bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp

Hàng hoá tồn kho có ba loại: nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh; sản phẩm dở dang và thành phẩm Các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải có nguyên vật liệu dự trữ Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vai trò rất lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành được bình thường Tuy nhiên nếu doanh nghiệp dự trữ quá nhiều sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn thậm chí nếu sản phẩm khó bảo quản có thể bị hư hỏng, ngược lại nếu dự trữ quá ít sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, các khâu tiếp theo sẽ không thể tiếp tục được nữa đồng thời với việc không hoàn thành được kế hoạch sản xuất

Tồn kho trong quá trình sản xuất là các loại nguyên liệu nằm tại từng công đoạn của dây truyền sản xuất.Thông thường quá trình sản xuất của các doanh nghiệp được chia thành nhiều công đoạn, giữa những công đoạn này bao giờ cũng tồn tại những bán thành phẩm

Đây là những bước đệm nhỏ để quá trình sản xuất được liên tục Nếu dây truyền sản xuất càng dài và càng có nhiều công đoạn thì tồn kho trong quá trình sản xuất sẽ càng lớn

Khi tiến hành sản xuất xong hầu hết các doanh nghiệp chưa thể tiêu thụ hết sản phẩm Phần thì do có “độ trễ” nhất định giữa các sản xuất và tiêu dùng, phần phải có

Trang 18

đủ lô hàng mới xuất được Những doanh nghiệp mà sản xuất mang tính thời vụ và

có quy trình chế tạo tốn nhiều thời gian thì dự trữ, tồn kho sản phẩm sẽ lớn

Do đó để đảm bảo cho sự ổn định sản xuất, doanh nghiệp phải duy trì một lượng hàng tồn kho dự trữ an toàn và tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà mức

dự trữ an toàn khác nhau

1.1.1.3 Kết cấu tài sản ngắn hạn

Bên cạnh việc nghiên cứu các cách phân loại tài sản ngắn hạn theo những tiêu thức khác nhau, doanh nghiệp còn phải đánh giá, nắm bắt được kết cấu của tài sản ngắn hạn ở từng cách phân loại đó Kết cấu tài sản ngắn hạn được phản ánh bằng các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa thành phần trong tổng số tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu tài sản ngắn hạn cũng không giống nhau Việc phân tích kết cấu tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về tài sản ngắn hạn mà mình đang quản lý, sử dụng từ đó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý tài sản ngắn hạn có hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp Mặt khác, thông qua việc đánh giá, tìm hiểu sự thay đổi kết cấu tài sản ngắn hạn trong những thời kỳ khác nhau có thể thấy được những biến đổi tích cực cũng như những mặt còn hạn chế trong công tác quản lý tài sản ngắn hạn của từng doanh nghiệp

Kết cấu tài ngắn hạn của doanh nghiệp luôn thay đổi và chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau Có thể phân ra thành ba nhóm chính sau:

- Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như: khoảng cách giữa doanh nghiệp với nơi cung cấp; khả năng cung cấp của thị trường; kỳ hạn giao hàng và khối lượng vật

tư được cung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điểm thời vụ của chủng loại vật tư cung cấp, giá cả của vật tư

- Các nhân tố về mặt sản xuất như: đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất của doanh nghiệp; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ sản xuất; trình độ tổ chức quá trình sản xuất

Trang 19

- Các nhân tố về mặt thanh toán như phương thức thanh toán được lựa chọn theo các hợp đồng bán hàng; thủ tục thanh toán; việc chấp hanh kỷ luật thanh toán giữa các doanh nghiệp

1.1.1.4 Nguồn hình thành tài sản ngắn hạn

Trong doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau, do đó mỗi một loại nguồn vốn sẽ có tính chất, đặc điểm, chi phí sử dụng khác nhau Vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp phải cân nhắc lựa chọn cho mình một cơ cấu nguồn vốn tối ưu vừa giảm được chi phí sử dụng vốn, vừa đảm bảo sự an toàn cho tình hình tài chính của doanh nghiệp Căn cứ vào các tiêu thức phân loại khác nhau thì tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được hình thành từ các loại nguồn vốn như:

a Tài sản ngắn hạn hình thành theo quan hệ sở hữu về vốn

- Vốn chủ sở hữu: Là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Tuỳ từng loại hình doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: vốn đầu tư

từ ngân sách nhà nước, vốn do chủ doanh nghiệp tự bỏ ra, vốn góp cổ phần, vốn góp liên doanh, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận để lại.Vốn chủ sở hữu thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng vốn càng lớn thì sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao

- Các khoản nợ: Là các khoản tài sản ngắn hạn được hình thành từ các khoản vay của các ngân hàng thương mại hay các tổ chức tài chính, vốn vay qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán

b Tài sản ngắn hạn hình thành căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn:

Nguồn vốn của doanh nghiệp chia thành hai loại:

- Nguồn vốn thường xuyên: Là nguồn vốn mang tính chất ổn định và dài hạn, bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn để tài trợ cho nhu cầu tài sản ngắn hạn thường xuyên cần thiết của doanh nghiệp

Nguồn vốn thường xuyên = Tổng nguồn vốn - Nợ ngắn hạn (1.1)

- Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn, gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, các khoản nợ ngắn hạn, được

Trang 20

dùng để đáp ứng nhu cầu TSNH có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

Nguồn vốn tạm thời = Vốn vay ngắn hạn + Vốn chiếm dụng hợp pháp (1.2)

c Tài sản ngắn hạn hình thành theo phạm vi huy động vốn:

Tài sản ngắn hạn được hình thành từ hai nguồn:

- Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động được từ bản thân doanh nghiệp Bao gồm: vốn từ lợi nhuận để lại trong quá trình kinh doanh, các quĩ của doanh nghiệp, các khoản thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản Sử dụng triệt để nguồn vốn bên trong doanh nghiệp tức là doanh nghiệp đã phát huy được tính chủ động trong quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn của mình

- Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: là nguồn vốn doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài, gồm: vốn của bên liên doanh, vốn vay các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, nợ người cung cấp,

nợ khách hàng và các khoản nợ khác , qua việc vay vốn từ bên ngoài tạo cho doanh nghiệp có một cơ cấu tài chính linh hoạt, mặt khác có thể làm gia tăng doanh lợi vốn chủ sở hữu nhanh nếu mức doanh lợi tổng vốn đạt được cao hơn chi phí sử dụng vốn

1.1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

1.1.2.1 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

- Vòng quay tài sản ngắn hạn:

Việc sử dụng tài sản ngắn hạn đạt hiệu quả có cao hay không biểu hiện trước hết ở tốc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp nhanh hay chậm Tài sản ngắn hạn luân chuyển càng nhanh thì hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

càng cao và ngược lại

Doanh thu thuần Vòng quay tài sản ngắn

hạn trong kỳ = Tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ (1.3)

Trang 21

Chỉ tiêu vòng quay tài sản ngắn hạn phản ánh trong một năm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp luân chuyển được bao nhiêu vòng hay một đồng tài sản ngắn hạn bình quân trong năm tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần

- Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn:

Lợi nhuận sau thuế

Hệ số sinh lợi tài sản

ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ (1.4) Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản ngắn hạn có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao càng tốt Mức doanh lợi tài sản ngắn hạn càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao

- Mức đảm nhiệm tài sản ngắn hạn:

Tài sản ngắn hạn

Hệ số đảm nhiệm tài sản

Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần cần bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt đối với doanh nghiệp, vì khi đó tỷ suất lợi nhuận của một đồng tài sản ngắn hạn sẽ tăng lên

- Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn:

Doanh thu thuần kỳ phân tích Mức tiết kiệm tài

sản ngắn hạn = 360 x ( Tpt - Tgốc ) (1.6)

Tpt: Thời gian một vòng luân chuyển kỳ phân tích

Tgốc : Thời gian một vòng luân chuyển kỳ gốc

Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn số tài sản ngắn hạn doanh nghiệp tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn Doanh nghiệp càng tăng được vòng quay tài sản ngắn hạn thì càng có khả năng tiết kiệm được tài sản ngắn hạn, càng nâng cao được hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

360 Thời gian một vòng luân

chuyển tài sản ngắn hạn = Số vòng quay tài sản ngắn hạn (1.7) Thời gian 1 vòng luân chuyển tài sản ngắn hạn cho cho biết trong khoảng thời gian bao nhiêu ngày thì tài sản ngắn hạn luân chuyển được một vòng Chỉ tiêu này càng bé cho thấy tốc độ lưu chuyển tài sản ngắn hạn càng nhanh

Trang 22

3 được xem là tốt có nghĩa là với 2 hoặc 3 đồng tài sản ngắn hạn có thể bù đắp 1

đồng nợ ngắn hạn (và phần để lại phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp)

+ Hệ số thanh toán nhanh:

Vốn bằng tiền + Các khoản phải thu

Hệ số thanh toán nhanh =

Hệ số này cho biết khả năng thanh toán của tiền và các khoản phải thu nghĩa là các tài sản có thể chuyển nhanh thành tiền đối với các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Theo một số tài liệu nước ngoài thì hệ số này đạt từ mức 0,5 trở lên thì được coi là tốt

+ Hệ số thanh toán tức thời:

Giá vốn hàng bán Vòng quay hàng tồn kho =

Trang 23

Chỉ tiêu này phản ánh số lần hàng hoá tồn kho bình quân lưu chuyển trong kỳ Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty càng có hiệu quả

+ Kỳ luân chuyển hàng tồn kho:

Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để thực hiện một vòng quay hàng tồn kho

Thời gian trong kỳ báo cáo

Kỳ luân chuyển hàng

+ Vòng quay các khoản phải thu:

Doanh thu thuần Vòng quay các khoản

phải thu = Các khoản phải thu bình quân (1.14) Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt Vòng quay càng lớn, chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu hồi

là tốt vì doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn (ít phải cấp tín dụng cho khách hàng và nếu có cấp tín dụng cho khách hàng thì chất lượng tín dụng cao)

+ Kỳ thu tiền bình quân:

Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng thu hồi vốn trong thanh toán trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân một ngày

Các khoản phải thu

Kỳ thu tiền bình quân =

Doanh thu bình quân một ngày (1.15)

Nó cho biết bình quân trong bao nhiêu ngày, doanh nghiệp có thể thu hồi các khoản phải thu của mình Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền trung bình càng nhỏ và ngược lại Kỳ thu tiền trung bình cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa thể có kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng Các chỉ tiêu trên đây tuy không phản ánh trực tiếp hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nhưng nó cũng là những công cụ mà người quản lý tài chính cần xem xét

để điều chỉnh việc sử dụng tài sản ngắn hạn sao cho đạt hiệu quả cao nhất

Trang 24

1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác nhau chính vì vậy để đưa ra một quyết định tài chính nhà quản trị tài chính doanh nghiệp phải xác định được và xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề cần giải quyết Có thể chia các nhân tố đó dưới 2 góc độ nghiên cứu

a Nhân tố bên trong

Đây là các nhân tố nằm trong nội tại doanh nghiệp có tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung Đó là nhân tố như:

Tồn kho trong quá trình sản xuất là các nguyên vật liệu nằm ở các công đoạn của dây chuyền sản xuất Nếu dây chuyền sản xuất càng dài và càng có nhiều công đoạn sản xuất thì tồn kho trong quá trình sản xuất sẽ càng lớn Đây là những bước đệm nhỏ để quá trình sản xuất được liên tục

Khi tiến hành sản xuất xong, do có độ trễ nhất định giữa sản xuất và tiêu thụ,

do những chính sách thị trường của doanh nghiệp…đã hình thành nên bộ phận thành phẩm tồn kho

Trang 25

Hàng hoá dự trữ đối với các doanh nghiệp gồm 3 bộ phận như trên nhưng thông thường trong quản lý chúng ta tập trung vào bộ phận thứ nhất, tức là nguyên vật liệu dự trữ cho sản xuất kinh doanh

Có nhiều phương pháp được đưa ra nhằm xác định mức dự trữ tối ưu:

+ Quản lý dự trữ theo phương pháp cổ điển hay mô hình đặt hàng hiệu quả nhất - EOQ (Economic odering Quantity):

Mô hình EOQ là một mô hình quản lý hàng tồn kho mang tính định lượng được sử dụng để xác định mức tồn kho tối ưu cho doanh nghiệp, dựa trên cơ sở giữa chi phí tồn trữ hàng tồn kho và chi phí đặt hàng có mối quan hệ tương quan tỷ lệ nghịch Cụ thể, nếu số lượng sản phẩm cho mỗi lần đặt hàng tăng lên thì số lần đặt hàng trong kỳ giảm xuống và dẫn đến chi phí đặt hàng trong kì giảm trong khi chi phí tồn trữ hàng hóa tăng lên Do đó mục đích của quản lý hàng tồn kho là cân bằng hai loại chi phí: chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng sao cho tổng chi phí tồn kho là thấp nhất

Gọi Q là lượng hàng tồn kho cho mỗi lần đặt hàng, khi hết hàng doanh nghiệp lại tiếp tục đặt mua Q đơn vị hàng mới, Tại thời điểm đầu kỳ, lượng hàng tồn kho là

Q và ở thời điểm cuối kỳ là 0 nên số lượng tồn kho bình quân trong kỳ là:

2 2

Trang 26

Gọi C là chi phí tồn trữ cho mỗi đơn vị hàng tồn kho thì tổng chi phí tồn trữ

hàng tồn kho trong kỳ là:

2

Q C

Hình 1.3: Đường biểu diễn mối quan hệ giữa chi phí tồn trữ và chi phí

đặt hàng tổng chi phí theo các mức sản lượng tồn kho Gọi Q* là lượng hàng tồn trữ tối ưu tức tại Q* là lượng hàng cho chi phí thấp

nhất dẫn đến: Q* = 2SO

Nếu gọi T* là thời gian dự trữ tối ưu được tính bằng cách lấy số lượng hàng tối ưu Q* chia cho nhu cầu sử dụng hàng tồn kho bình quân một ngày, tức S/365 (giả định một năm có 365 ngày), đơn vị tính ngày

Trang 27

định Tuy nhiên trong ứng dụng thực tế mô hình hàng tồn kho, một vài giả định không còn giá trị Do vậy, để hiểu sự khác biệt về các giả định đã tác động đến phân tích số lượng đặt hàng tối ưu như thế nào là điều cần thiết và quan trọng Sau đây xin trình bày một số phương pháp khi một vài giả định ban đầu được thay thế thời gian chuẩn bị giao nhận hàng khác

Mô hình EOQ giả định rằng việc cung cấp bổ sung hàng tồn kho sẽ được diễn

ra ngay tức thời, như vậy thời gian chuẩn bị giao nhận hàng là bằng 0 Tuy nhiên, trên thực tế thường có một khoảng thời gian trôi qua giữa thời điểm đặt mua hàng

và thời điểm hàng được nhận tại kho Khoảng thời gian chuẩn bị giao nhận hàng này có thể bao gồm khoảng thời gian cần thiết để sản xuất mặt hàng đó hay khoảng thời gian cần thiết để đóng gói và vận chuyển hoặc cả hai Nếu thời gian chuẩn bị giao nhận hàng là một con số nào đó không thay đổi theo thời gian và được biết chắc chắn thì số lượng đặt hàng tối ưu Q* sẽ không bị tác động bởi việc đặt hàng lại Trong thực tế doanh nghiệp không bao giờ chờ đến cuối chu kỳ hàng tồn kho mới đặt hàng mà là thường đặt hàng trước n ngày cho cuối mỗi chu kỳ dự trữ Số ngày n được xác định bằng với thời gian chuẩn bị giao nhận hàng bổ sung

Gọi Q' là điểm đặt hàng lại, khi đó điểm đặt hàng lại được tính bằng công thức sau:

Q' = nx

365

S

; với S/365 là nhu cầu hàng tồn kho trong một ngày

+ Chiết khấu theo số lượng:

Khi một doanh nghiệp đặt hàng với số lượng lớn thì thông thường sẽ được nhà cung cấp bán với giá chiết khấu do đó doanh nghiệp sản xuất sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm được sản xuất ra, tiết kiệm được chi phí trên mỗi đơn vị khi thực hiện đơn hàng và mỗi đơn vị trong quá trình vận chuyển Nhiều doanh nghiệp khuyến khích khách hàng của họ đặt một đơn hàng số lượng lớn bằng cách dành cho họ một tỷ lệ chiết khấu và được gọi là chiết khấu theo số lượng

Trang 28

Trước hết ta có mô hình EOQ đã trình bày ở trên Kế đó, ta tính toán mức sinh lợi ròng hàng năm khi số lượng đặt hàng được gia tăng từ mức tồn kho EOQ lên mức đặt hàng cần thiết để có thể nhận được khoản chiết khấu Nếu mức sinh lời ròng tăng thêm hàng năm là số dương thì số lượng đặt hàng tối ưu là số lượng đặt hàng cần thiết để có thể được hưởng chiết khấu Nếu không, số lượng đặt hàng tối

ưu sẽ là giá trị EOQ

+ Mô hình kiểm soát hàng tồn kho theo rủi ro:

Trong mô hình EOQ, việc phân tích dựa trên những giả định Tuy nhiên, trong thực tế hầu hết các vấn đề phát sinh trong quản lý hàng tồn kho là những giả định này lúc nào cũng diễn ra đúng như vậy Thường thì nhu cầu hàng tồn kho biến động theo mùa vụ hay biến động có tính chất chu kỳ hoặc biến động bởi những ảnh hưởng ngẫu nhiên và những dự báo không chính xác mức cầu hàng tồn kho trong tương lai Với những tác động như vậy, khả năng thiếu hụt hàng tồn kho là hoàn toàn có thể xảy ra Để khắc phục sự thiệt hại trong những trường hợp như vậy, hầu hết các doanh nghiệp sử dụng cách thức bổ sung một lượng hàng tồn kho an toàn để sẵn sàng đáp ứng trước những biến động bất thường đó

+ Phương pháp cung cấp đúng lúc hay dự trữ bằng 0:

Hệ thống quản lý hàng tồn kho đúng lúc là một phần của quá trình quản lý sản xuất nhằm mục đích giảm thiểu chi phí hoạt động và thời gian sản xuất bằng cách loại bỏ bớt những công đoạn kém hiệu quả gây lãng phí Hệ thống cung ứng đúng thời điểm được dựa trên những ý tưởng cho rằng tất cả các mặt hàng cần thiết có thể được cung cấp trực tiếp cho các giai đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh một cách chính xác cả về thời điểm giao hàng lẫn số lượng hàng được giao thay vì phải dự trữ thông qua tồn kho

Mô hình tồn kho bằng 0 tỏ ra có hiệu quả nhất đối với những doanh nghiệp có hoạt động sản xuất mang tính lặp đi lặp lại Một phần quan trọng của phương pháp cung cấp đúng thời điểm là thay thế việc sản xuất từng lô hàng với một số lượng lớn sản phẩm bằng cách sản xuất theo một dòng liên tục các sản phẩm được sản xuất ra với số lượng nhỏ Việc sử dụng phương pháp này đòi hỏi một sự kết hợp chặt chẽ

Trang 29

giữa nhà sản xuất và nhà cung cấp, bởi vì bất kỳ một sự gián đoạn nào trong quá trình cung ứng cũng có thể gây tổn thất cho nhà sản xuất vì phải gánh chịu các chi phí phát sinh do ngừng sản xuất hay mất doanh số bán hàng

Tuy nhiên, đây chỉ là một phương pháp quản lý được áp dụng trong một số loại dự trữ nào đó của doanh nghiệp và muốn đạt hiệu quả cao phải kết hợp với các phương pháp quản lý hàng tồn kho khác

- Quản lý tiền mặt:

Tiền mặt của công ty bao gồm tiền mặt tồn quỹ, tiền trên tài khoản của ngân hàng Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản dài hạn, trả tiền thuế, trả các khoản nợ đến hạn…

Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hóa lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất + Mô hình quản lý tiền mặt EOQ:

Quản lý tiền mặt đề cập đến việc quản lý tiền tại quỹ và tiền gửi ngân hàng Sự quản lý này liên quan chặt chẽ đến việc quản lý các loại tài sản gắn liền với tiền mặt như các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao

Có sự giống nhau giữa mô hình quản lý tiền mặt và mô hình quản lý hàng tồn kho Thật vậy, về hình thức tiền mặt cũng giống như hàng tồn kho vì cả hai đều là nguyên vật liệu dùng trong sản xuất William Baumol là người đầu tiên phát hiện

mô hình hàng tồn kho đơn giản có thể vân dụng cho mô hình quản lý tiền mặt Giả

sử bạn đang lưu giữ tiền mặt cần thiết cho các hoá đơn thanh toán, khi tiền mặt xuống thấp bạn sẽ bổ sung bằng cách bán các chứng khoán Chi phí tồn trữ chủ yếu trong trường hợp này chính là lãi suất mà bạn mất đi Các chi phí đặt hang chính là chi phí hành chính quản trị cho mỗi lần bán chứng khoán

Khi dự trữ tiền mặt, doanh nghiệp sẽ mất chi phí cơ hội, tức là lãi suất bị mất

đi, chi phí này tương đương với chi phí tồn trữ hàng hóa trong quản lý hang tồn kho Chi phí đặt hàng chính là chi phí cho việc bán các chứng khoán, khi đó áp dụng mô hình EOQ ta có lượng dự trữ tiền mặt tối ưu (M*) như sau:

Trang 30

M* = 2xM xC n b

Trong đó:

M*: Lượng dự trữ tiền mặt tối ưu

Mn: Tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm

Cb: Chi phí cho một lần bán chứng khoán thanh khoản

i: Lãi suất

Mô hình Baumol cho thấy nếu lãi suất càng cao thì doanh nghiệp sẽ nắm giữ

số dư bình quân tiền mặt thấp hơn và do đó làm cho doanh số bán chứng khoán nhỏ hơn nhưng với tần suất bán nhiều hơn( nghĩa là M* thấp hơn ) Mặt khác, nếu giá phải trả cho mỗi lần bán chứng khoán cao thì doanh nghiệp nên nắm giữ một số tiền mặt lớn hơn

Mô hình Baumol cho thấy số dư tiền mặt không thực tiễn ở chỗ giả định rằng doanh nghiệp chi trả tiền mặt một cách ổn định Điều này lại không luôn đúng trong thực tế Trong hoạt động của các doanh nghiệp rất hiếm khi lượng tiền vào, ra của doanh nghiệp lại đều đặn và dự kiến trước được Mức dự trữ tiền mặt dự kiến dao động trong một khoảng, tức là lượng tiền dự trữ sẽ biến thiên từ cận thấp nhất đến giới hạn cao nhất Nếu lượng tiền mặt ở mức thấp thì doanh nghiệp phải bán chứng khoán để có lượng tiền dự kiến, ngược lại tại giới hạn trên doanh nghiệp sử dụng số tiền vượt quá mức giới hạn mua chứng khoán để đưa lượng tiền mặt về mức dự kiến

Mô hình Baumol giúp chúng ta hiểu được tại sao các doanh nghiệp vừa và nhỏ lưu giữ một số dư tiền mặt đáng kể Trong khi đối với các công ty lớn, các chi phí giao dịch mua bán chứng khoán lại trở nên quá nhỏ so với cơ hội phí mất đi do giữ một số lượng tiền mặt nhàn rỗi

+ Mô hình quản lý tiền mặt Miller Orr:

Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp rất hiếm khi mà lượng tiền vào, ra của doanh nghiệp lại đều đặn và dự kiến trước được, từ đó tác động đến mức dự trữ cũng không thể đều đặn như tính toán Bằng việc nghiên cứu

và phân tích thực tiễn, Miller Orr đã đưa ra mức dự trữ tiền mặt dự kiến dao động

Trang 31

trong một khoảng tức là lượng tiền mặt dự kiến dao động trong một khoảng tức là lượng tiền dự trữ sẽ biến thiên từ cận thấp nhất đến giới hạn cao nhất Nếu lượng tiền mặt ở dưới mức thấp thì doanh nghiệp phải bán chứng khoán để có lượng tiền mặt ở mức dự kiến, ngược lại tại giới hạn trên doanh nghiệp sử dụng số tiền vượt quá mức giới hạn mua chứng khoán để đưa lượng tiền mặt về mức dự kiến

Khoảng dao động của lượng tiền mặt dự kiến phụ thuộc vào ba yếu tố cơ bản sau:

Mức dao động của thu chi ngân quỹ hàng ngày lớn hay nhỏ Sự dao động này được thể hiện ở phương s của thu chi ngân quỹ Phương sai của thu chi ngân quỹ là tổng các bình phng (độ chênh lệch ) của thu chi ngân quỹ thực tế càng có xu hướng khác biệt nhiều so với thu chi bình quân Khi đó doanh nghiệp cũng sẽ quy định khoảng dao động tiền mặt cao

Chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán Khi chi phí này lớn người ta muốn giữ tiền mặt nhiều hơn và khi đó khoảng dao động của tiền mặt cũng lớn Lãi suất càng cao các doanh nghiệp sẽ giữ lại ít tiền và do vậy khoảng dao động tiền mặt sẽ giảm xuống

Hình 1.4: Đồ thị biểu diễn các mức biến động tiền mặt theo thời gian

Khoảng dao động tiền mặt được xác định bằng công thức sau:

Trang 32

D: Khoảng cách của giới hạn trên và giới hạn dưới của lượng tiền mặt dự trữ

Cb: Chi phí của mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán

Vb: Phương sai của thu chi ngân quỹ

i: Lãi suất

Mức tiền mặt theo thiết kế được xác định như sau:

Mức tiền mặt Mức giới Khoảng dao động tiền mặt

= +

Theo thiết kế hạn dưới 3

Đây là mô hình thực tế được rất nhiều doanh nghiệp áp dụng Khi áp dụng mô hình này, mức tiền mặt giới hạn dưới thường được lấy là mức tiền mặt tối thiểu Phương sai của tiền mặt thanh toán được xác định bằng cách dựa vào số liệu thực tế của một quý trước đó để tính toán

+ Xác định lượng tiền mặt cần thiết dựa vào kinh nghiệm:

Phương pháp này dựa vào số liệu thống kê của các năm trước để xây dựng kế hoạch tài chính cho từng giai đoạn trong mỗi niên độ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thông thường, người ta sử dụng tỷ lệ % doanh số bán trong một giai đoạn để xác định lượng tiền cần thiết Nếu doanh số bán tăng thì lượng tiền cần thiết tương ứng giảm với một tỷ lệ % doanh số nhất định do giảm chi phí bán hang và chi phí sản xuất

Phương pháp này thường áp dụng trong điều kiện tình hình sản xuất kinh doanh tương đối ổn định hoặc mang tính chu kỳ

- Chính sách quản lý các khoản phải thu:

Các khoản phải thu của doanh nghiệp thường chịu tác động của các nhân tố như số lượng; giá cả hàng hoá, dịch vụ bán ra; sự thay đổi doanh thu theo mùa vụ; chính sách tín dụng thương mại(chính sách bán chịu) của doanh nghiệp …Trong các nhân tố trên thì chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp là quan trọng

(1.26)

Trang 33

nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô các khoản phải thu cua doanh nghiệp Để hiểu

rõ vấn đề này ta phải đi sâu vào nghiên cứu nội dung của chính sách tín dụng thương mại:

+ Chính sách tín dụng thưong mại:

Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp có thể sử dụng các chiến lược

về sản phẩm, quảng cáo, giá cả, giao hàng và các dịch vụ hậu mãi…để cạnh tranh với các đối tác.Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường việc mua bán chịu hàng hoá, dich vụ là việc bình thường, tín dụng thương mại có thể đem đến cho doanh nghiệp nhiều lợi thế nhưng cũng có thể gặp nhiều rủi ro trong kinh doanh Chính sách tín dụng thương mại có những tác động cơ bản sau:

Do thực hiện chính sách bán chịu nên khách hàng mua nhiều hàng hoá hơn, do

đó làm tăng doanh thu và giảm chi phí tồn kho

Tín dụng thương mại làm tăng lượng hàng hoá sản xuất ra, do đó góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản

Khi cấp tín dụng thương mại cho khách hàng có thể làm tăng thêm chi phí đòi

nợ, chi phí trả cho nguồn tài trợ để bù đắp cho thiếu hụt ngân quỹ

Nếu thời hạn cấp tín dụng càng dài thì rủi ro càng cao và làm cho lợi nhuận bị giảm

Với những tác động trên, buộc các nhà quản lý doanh nghiệp phải so sánh hiệu quả thu nhập và chi phí tăng thêm để xem có nên áp dụng chính sách thương mại hay không? Nếu có thì các ràng buộc trong chính sách tín dụng thương mại như thế nào là tốt nhất?

+ Phân tích tín dụng thương mại:

Để thực hiện việc cấp tín dụng thì quan trọng nhất là phải phân tích khả năng tín dụng của khách hàng Khả năng tín dụng của khách hàng có thể được xây dựng thông qua các tiêu chuẩn sau: phẩm chất, tư cách tín dụng, năng lực trả nợ, các tài sản có thể thế chấp, nguồn vốn kinh doanh của khách hàng…Nếu khả năng tín dụng của khách hàng phù hợp với một số tiêu chuẩn đó thì tín dụng thương mại có thể được cấp

Trang 34

+ Phân tích đánh giá khoản tín dụng được đề nghị:

Cũng như rất nhiều sự phân tích và sự lựa chọn khác nhau,việc phân tích đánh giá khoản tín dụng thương mại được đề nghị để quyết định xem có nên cấp hay không, thông thường người ta dựa vào việc tính NPV của luồng tiền

- Theo dõi các khoản phải thu:

Để quản lý hiệu quả các khoản phải thu, nhà quản lý phải biết cách theo dõi các khoản phải thu, trên cơ sở đó có thể thay đổi chính sách tín dụng thương mại kịp thời Thông thường người ta dựa vào các cách sau:

+ Kỳ thu tiền bình quân:

Khi kỳ thu tiền bình quân tăng lên mà doanh số bán ra và lợi nhuận không tăng thì cũng có nghĩa là vốn của doanh nghiệp bị ứ đọng ở khâu thanh toán Khi đó nhà quản lý phải có biện pháp can thiệp ngay

+ Sắp xếp thời gian cho các khoản phải thu:

Theo phương pháp này, nhà quản lý sắp xếp các khoản phải thu theo độ dài thời gian nợ để theo dõi và có biện phap thu nợ khi đến hạn

+ Xác định các khoản phải thu:

Theo phương pháp này, các khoản phải thu hoàn toàn không chịu ảnh hưởng bởi yếu tố thay đổi theo mùa vụ của doanh số bán ra Sử dụng phương pháp này doanh nghiệp hoàn toàn có thể thấy nợ tồn đọng của khách hàng nợ doanh nghiệp Cùng với cách theo dõi khác, người quản lý có thể thấy được ảnh hưởng của các chính sách tài chính nói chung và chính sách tín dụng thương mại nói riêng

b Nhân tố bên ngoài:

Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi:

- Tốc độ phát triển của nền kinh tế:

Khi nền kinh tế tăng trưởng chậm, sức mua của thị trường sẽ bị giảm sút Điều này làm ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ của doanh nghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ khó tiêu thụ hơn, doanh thu sẽ ít đi, lợi nhuận giảm sút và tất yếu làm giảm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng

- Rủi ro:

Trang 35

Do những rủi ro bất thường trong quá trình sản xuất kinh doanh mà các doanh nghiệp thường gặp phải trong điều kiện kinh doanh của cơ chế thị trường có nhiều thành phần kinh tế tham gia cùng cạnh tranh với nhau Ngoài ra doanh nghiệp còn gặp phải những rủi ro do thiên nhiên gây ra như động đất, lũ lụt, núi lửa mà các doanh nghiệp khó có thể lường trước được

- Do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ làm giảm giá trị tài sản, vật tư vì vậy, nếu doanh nghiệp không bắt kịp điều này để điều chỉnh kịp thời giá cả của sản phẩm thì hàng hoá bán ra sẽ thiếu tính cạnh tranh làm giảm hiệu quả

sử dụng vốn nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng

- Ngoài ra, do chính sách vĩ mô của Nhà nước có sự điều chỉnh, thay đổi về chính sách chế độ, hệ thống pháp luật, thuế cũng tác động đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

1.2 Tổng quan thực tiễn về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có một lượng tài sản nhất định và nguồn tài trợ tương ứng, không có tài sản sẽ không có bất

kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào Song việc sử dụng tài sản như thế nào cho có hiệu quả cao mới là nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp.Với ý nghĩa đó, việc quản lý, sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng là một nội dung rất quan trọng của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Quan niệm về tính hiệu quả của việc sử dụng tài sản ngắn hạn phải được hiểu trên hai khía cạnh:

Một là, với số tài sản hiện có, có thể sản xuất thêm một số lượng sản phẩm với chất lượng tốt, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp

Hai là, đầu tư thêm tài sản một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh thu tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc

độ tăng tài sản

Hai khía cạnh này chính là mục tiêu cần đạt được trong công tác tổ chức quản

lý, sử dụng tài sản nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng

Trang 36

1.2.1 Đối với các doanh nghiệp trong nước

Trước đây, khi nền kinh tế nước ta còn trong thời kỳ bao cấp, mọi nhu cầu vốn, tài sản cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được Nhà nước cấp phát hoặc cấp tín dụng ưu đãi nên các doanh nghiệp không đặt vấn đề khai thác và sử dụng tài sản có hiệu quả lên hàng đầu Kể cả hiện nay, khi mà nền kinh tế nước ta

đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đã phải tự tìm nguồn vốn để hoạt động thì hiệu quả sử dụng vốn, tài sản nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng vẫn ở mức thấp Đó là do các doanh nghiệp chưa bắt kịp với cơ chế thị trường nên còn nhiều bất cập trong công tác quản lý và sử dụng tài sản

Ở nước ta, để hoàn thành đường lối xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, yêu cầu phải nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và của các doanh nghiệp Nhà nước nói riêng Xét từ góc độ quản lý tài chính, năng lực quản lý tài chính, việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn trong các doanh nghiệp trong nước

đã có nhiều quan điểm khác nhau do cách tiếp cận hoặc nhận thức khác nhau

Trên thực tế, có rất nhiều nguyên nhân khiến các doanh nghiệp làm ăn thiếu hiệu quả thậm chí thất bại trên thương trường Có thể có các nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan, tuy nhiên một nguyên nhân phổ biến vẫn là việc sử dụng vốn nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng không hiệu quả Trong việc mua sắm,

dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Điều này dẫn đến việc sử dụng lãng phí tài sản ngắn hạn, tốc độ luân chuyển tài sản ngăn hạn thấp, mức sinh lợi kém và thậm chí có doanh nghiệp còn gây thất thoát không kiểm soát được tài sản ngắn hạn dẫn đến mất khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh, khả năng thanh toán Trong hệ thống các doanh nghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp Nhà nước do đặc thù chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế bao cấp trước đây, có kết quả sản xuất kinh doanh yếu kém mà một nguyên nhân chủ yếu là do sự yếu kém trong quản lý tài chính nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng gây lãng phí, thất thoát vốn Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả từng đồng tài sản ngắn hạn nhằm làm cho tài sản ngắn hạn được thu hồi

Trang 37

sau mỗi chu kỳ sản xuất Việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn cho phép rút ngắn thời gian chu chuyển của vốn, qua đó, vốn được thu hồi nhanh hơn, có thể giảm bớt được số tài sản ngắn hạn cần thiết mà vẫn hoàn thành được khối lượng sản phẩm hàng hoá bằng hoặc lớn hơn trước Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn còn có ý nghĩa quan trong trong việc giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông và

hạ giá thành sản phẩm

Hơn nữa, mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là thu được lợi nhuận và lợi ích xã hội chung nhưng bên cạnh đó một vấn đề quan trọng đặt ra tối thiểu cho các doanh nghiệp là cần phải bảo toàn tài sản ngắn hạn Do đặc điểm tài sản ngắn hạn lưu chuyển toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm và hình thái tài sản ngắn hạn thường xuyên biến đổi vì vậy vấn đề bảo toàn tài sản ngắn hạn chỉ xét trên mặt giá trị Bảo toàn tài sản ngắn hạn thực chất là đảm bảo cho số vốn cuối kỳ được đủ mua một lượng vật tư, hàng hoá tương đương với đầu kỳ khi giá cả hàng hoá tăng lên, thể hiện ở khả năng mua sắm vật tư cho khâu dự trữ và tài sản ngắn hạn định mức nói chung, duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp Bên cạnh đó, tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn còn giúp cho doanh nghiệp luôn có được trình độ sản xuất kinh doanh phát triển, trang thiết bị, kỹ thuật được cải tiến Việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến công nghệ hiện đại sẽ tạo ra khả năng rộng lớn để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường Đặc biệt khi khai thác được các tài sản, sử dụng tốt tài sản ngắn hạn, nhất là việc sử dụng tiết kiệm hiệu quả tài sản ngắn hạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh để giảm bớt nhu cầu vay vốn cũng như việc giảm chi phí về lãi vay

1.2.2 Đối với các doanh nghiệp nước ngoài

Các doanh nghiệp nước ngoài chủ yếu là hoạt động trong nền kinh tế thị trường, nguồn vốn nói chung được hình thành từ nguồn tư nhân hóa bằng nhiều phương thức huy động khác nhau, do vậy các doanh nghiệp nước ngoài luôn xem trọng việc sử dụng vốn nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng và làm mọi cách để

Trang 38

cho nguồn lực này được hoạt động với mục tiêu xuyên suốt là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp

Để đảm bảo mục tiêu này, doanh nghiệp nước ngoài thường xuyên phải đưa ra

và giải quyết tập hợp các quyết định tài chính dài hạn và ngắn hạn Quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn là một nội dung trọng tâm trong các quyết định tài chính ngắn hạn và là nội dung có ảnh hưởng lớn đến mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp

Với bản chất và định hướng mục tiêu như trên, các doanh nghiệp nước ngoài luôn luôn tìm mọi biện pháp để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường mà hầu như không nhận được bất cứ sự bảo trợ nào từ Chính phủ của nước họ Xuất phát từ vai trò to lớn đó khiến cho các doanh nghiệp nước ngoài luôn luôn phải tìm

ra các phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng Vấn đề này chính là một yêu cầu khách quan, gắn liền với bản chất của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp muốn hoạt động kinh doanh thì cần phải có vốn Tài sản ngắn hạn là một thành phần quan trọng trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh

Trong khâu dự trữ và sản xuất, tài sản ngắn hạn đảm bảo cho sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, đảm bảo quy trình công nghệ, công đoạn sản xuất Trong lưu thông, tài sản ngắn hạn đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ được liên tục, nhịp nhàng và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn lớn khiến cho công việc quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn luôn luôn diễn ra thường xuyên, hàng ngày với vai trò to lớn như vậy, việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu

Tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn còn có ảnh hưởng tích cực đối với việc hạ thấp giá thành sản phẩm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đủ vốn thỏa mãn nhu cầu sản xuất và hoàn thành nghĩa vụ nộp các khoản thuế cho ngân sách Nhà nước, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong cả nước

Trang 39

Vì vậy, hiệu quả sử dụng vốn nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bời

nó không những đem lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp và người lao động

mà nó còn ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và toàn xã hội

Chính vì thế, doanh nghiệp phải luôn tìm cách phù hợp để nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng

1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

Qua tìm hiểu các đề tài, luận văn có liên quan đến các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh cho doanh nghiệp nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng, nhìn chung các đề tài đều sử dụng một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh hay tài sản ngắn hạn để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, sau đó dựa vào các chỉ tiêu đó để đưa ra một số giải pháp như quản lý các khoản phải thu hoặc tìm ra một mô hình dự trữ tối ưu để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng

Có nhiều công trình nghiên cứu về cách thức quản lý vốn nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng, nhằm ứng dụng các lý thuyết của các học giả trong và ngoài nước vào thực tế các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt đối với các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu với mục tiêu tìm ra các giải pháp nâng cao tính hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp nhằm tăng sức cạnh tranh và sự phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Đề tài: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Tổng công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc – Vinacomin” [7]

Đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần tập đoàn HIPT” [8]

Qua các công trình trên tác giả nhận thấy cách phân tích và giải pháp hiệu quả

sử dụng tài sản ngắn hạn của các doanh nghiệp thực tế là khác nhau ngay cả các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong cùng ngành, cùng lĩnh vực cũng khác nhau

Trang 40

bời về cơ bản thì điều kiện, lợi thế và nguồn vốn thực tế cũng như cách quản lý điều hành sản xuất tại các doanh nghiệp là khác nhau

Vì vậy tác giả đã hoàn thiện việc xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cho Công ty xăng dầu B12 dựa trên các điều kiện chủ quan sẵn có và kết qủa từ các công trình đã được nghiên cứu tạo lên lợi thế cạnh tranh và giúp công ty phát triển bền vững trong nền kinh tế thị trường, giữ vững vị thế là doanh nghiệp hàng đầu trong khu vực về kinh doanh xăng dầu và trở thành thương hiệu uy tín

1.4 Quan điểm của tác giả về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của các doanh nghiệp trong nước nói chung và Công ty xăng dầu B12 nói riêng

Hiện nay có rất nhiều quan điểm về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Trong khuôn khổ bài luận văn này chúng ta đứng trên quan điểm tìm

ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp tức là làm sao để chỉ phải bỏ ra một lượng tài sản nhỏ nhất mà thu về được lợi nhuận lớn nhất

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì vấn

đề sống còn doanh nghiệp cần quan tâm là tính hiệu quả Chỉ khi hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp mới có thể tự trang trải chi phí đã bỏ ra, làm nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước và quan trọng hơn là duy trì và phát triển quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Hiệu quả kinh tế là kết quả tổng hợp của một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các yếu tố bộ phận Trong đó, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó các doanh nghiệp phải luôn tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, bởi khác với tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn cần các biện pháp linh hoạt, kịp thời phù hợp với từng thời điểm thì mới đem lại hiệu quả cao Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một trong những căn cứ đánh

Ngày đăng: 22/05/2021, 12:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w