1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại công ty cổ phần tư vấn đầu tư khoáng sản tây bắc

97 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề đặt ra là Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc đã sử dụng có hiệu quả các tài sản cố định đó hay chưa, hiệu quả này là cao hay thấp so với một số đơn vị khai thác k

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

ĐÀO THANH TÙNG

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN

TƯ VẤN VÀ ĐẦU TƯ KHOÁNG SẢN TÂY BẮC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

ĐÀO THANH TÙNG

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN

TƯ VẤN VÀ ĐẦU TƯ KHOÁNG SẢN TÂY BẮC

Ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Trần Đức Thung

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài ‘‘Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây

Hà nội, ngày 20 tháng 7năm 2014

Tác giả

Đào Thanh Tùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập tại Trường Đại học Mỏ địa chất, tôi đã được Quý Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Mỏ địa chất nói chung và Khoa Sau đại học - Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh Trường Đại học Mỏ địa chất nói riêng đã truyền đạt những kiến thức xã hội và chuyên môn vô cùng quý giá cả về lý thuyết

và thực tiễn Những kiến thức hữu ích đó sẽ là hành trang giúp em trưởng thành và

tự tin khi thực hiện công việc chuyên môn ngày càng tốt hơn và hiệu quả hơn

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn tới Quý Thầy, Cô trong khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Trường Đại học Mỏ địa chất Hà Nội.Phòng sau đại học, hệ sau đại học, các bộ môn khoa học của Trường đã cho phép và tạo điều kiện tốt nhất

để hoàn thành luận văn này

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Đức Thung, người trực tiếp hướng dẫn Tác giả trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tác giả xin cảm ơn tới Lãnh đạo và cán bộ công nhân viên chức tại Công ty

cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tác giả được học tập hoàn thành chương trình này

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TSCĐ TRONG DOANH NGHIỆP 4

1.1 Tổng quan lý luận về hiệu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp 4

1.1.1 Khái niệm về Tài sản cố định (TSCĐ) 4

1.1.2 Đặc điểm và phân loại Tài sản cố định 6

1.1.3 Quản lý TSCĐ và hiệu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp 10

1.2 Thực tiễn quản lý, sử dụng tài sản cố định của một số doanh nghiệp khoáng sản, bài học kinh nghiệm 21

1.2.1 Đặc trưng tài sản cố định trong một số doanh nghiệp khai thác khoáng sản 21

1.2.2 Thực tiễn quản lý, sử dụng TSCĐ trong các doanh nghiệp khai thác khoáng sản và bài học kinh nghiệm 22

1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 26

Kết luận chương 1 27

Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CỦA CÔNG TY CP TƯ VẤN VÀ ĐẦU TƯ KHOÁNG SẢN TÂY BẮC 29

2.1 Khái quát chung về Công ty CP tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc 29

2.1.1 Sự hình thành và phát triển của Công ty CP tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc 29

Trang 6

2.1.2 Phân tích các đặc điểm mang tính đặc thù ảnh hưởng đến hiệu quả sử

dụng TSCĐ của Công ty CP tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc 40

2.2.Thực trạng quản lý và hiệu quả sử dụng TSCĐ của Công ty CP tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc 46

2.2.1 Công tác lập kế hoạch 46

2.2.2 Công tác huy động tài sản cố định vào sử dụng 47

2.2.3 Công tác theo dõi tình hình sử dụng và khấu hao tài sản cố định 48

2.2.4 Kế hoạch sửa chữa tài sản cố định, thanh lý tài sản cố định 53

2.2.5 Công tác theo dõi kiểm kê và phản ánh trên sổ sách 55

2.2.6 Đánh giá hiệu quả quản lý và sử dụng TSCĐ của Công ty CP tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc 57

2.3 Đánh giá chung về ưu, nhược điểm và nguyên nhân của thực trạng hiệu quả sử dụng TSCĐ của Công ty CP tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc 61

2.3.1 Ưu điểm 61

2.3.2 Nhược điểm 63

2.3.3 Nguyên nhân 64

Kết luận chương 2 64

Chương 3:MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐINH CÔNG TY CP TƯ VẤN VÀ ĐẦU TƯ KHOÁNG SẢN TÂY BẮC 66

3.1 Định hướng phát triển của Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc và quan điểm về nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ 66

3.2 Một số giải pháp mang tính định hướng chung nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng TSCĐ của Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc 67

3.2.1 Hoàn thiện công tác lập kế hoạch đầu tư, mua sắm, sửa chữa lớn TSCĐ 67

3.2.2 Tăng cường công tác quản lý, sử dụng có hiệu quả TSCĐ 70

3.2.3 Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn đầu tư TSCĐ 73

3.2.4 Bồi dưỡng nâng cao trình độ, ý thức trách nhiệm của người lao động 75

Trang 7

3.3 Một số giải pháp cụ thể trước mắt nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử

dụng TSCĐ của Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc 76

3.3.1 Cân đối lại năng lực sản xuất và thực trạng tài sản cố định 76

3.3.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định 77

3.3.3 Kế hoạch huy động vốn tài trợ hợp lý 78

3.3.4 Thay đổi cách tính khấu hao 79

3.4 Đánh giá hiệu quả mang lại của giải pháp 83

3.5 Kiến nghị 83

Kết luận chương 3 85

KẾT LUẬN 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

BGĐ : Ban giám đốc

CBCNV : Cán bộ công nhân viên

CNTT : Công nghệ thông tin

ĐTXDCB : Đầu tư xây dựng cơ bản

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng các ngành nghề kinh doanh của công ty 33

Bảng 2.2 Các TSCĐ là máy móc có giá trị lớn của Công ty 41

Bảng 2.3 Kết cấu tài sản cố định giai đoạn 2010 – 2013 của Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc 41

Bảng 2.4 Khung thời gian trích khấu hao các loại tài sản cố định 43

Bảng 2.5 Mức độ huy động trang thiết bị máy móc và phương tiện vận tải của Công ty năm 2013 49

Bảng 2.6: Danh mục TSCĐ tính khấu hao của Công ty năm 2013 52

Bảng 2.7 Hiệu suất sử dụng và hệ số huy động Tài sản cố định 58

Bảng 2.8 Tình hình tăng giảm và hao mòn của TSCĐ 61

Bảng 3.1 Danh mục TSCĐ tính khấu hao theo sản lượng năm 2010 82

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư

khoáng sản Tây Bắc 35 Hình 2.2 Cơ cấu TSCĐ của Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây

Bắc giai đoạn 2010 – 2013 42 Hình 2.3: Quy trình lập kế hoạch huy động TSCĐ vào quá trình sản xuất

kinh doanh 47 Hình 2.4 Chỉ số biến đổi định gốc và liên hoàn theo nguyên giá TSCĐ 59 Hình 2.5 Chỉ số biến động cố định và liên hoàn theo GTCL của TSCĐ 59

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tài sản cố định (TSCĐ) là cơ sở vật chất quan trọng của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đóng vai trò quyết định đến năng suất lao động cũng như kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tài sản cố định, được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau do doanh nghiệp huy động trong quá trình đầu

tư Sử dụng hiệu quả tài sản cố định giúp doanh nghiệp tiết kiệm được vốn đầu tư, nâng cao được năng suất lao động và là cơ sở vô cùng quan trọng trong việc giảm giá thành sản phẩm

Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu, các ngân hàng tiến hành thắt chặt tín dụng, việc huy động được nguồn vốn cho đầu tư tài sản cố định mới phục

vụ sản xuất là hết sức khó khăn Do vậy, việc tận dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định nói riêng, tăng cường quản lý tài sản cố định nói chung là việc làm hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện tại

Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc là một đơn vị chuyên

tư vấn, triển khai các dự án khai thác khoáng sản ở khu vực vùng núi phía Bắc Việt Nam Trong những năm gần đây Công ty cổ phần Tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc đã đầu tư một lượng vốn rất lớn từ nhiều nguồn khác nhau để mua sắm TSCĐ phục vụ cho quá trình tư vấn, đầu tư và khai thác khoáng sản Vấn đề đặt ra là Công

ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc đã sử dụng có hiệu quả các tài sản

cố định đó hay chưa, hiệu quả này là cao hay thấp so với một số đơn vị khai thác khoáng sản khác trong khu vực miền Bắc và so với mức trung bình ngành khai thác khoáng sản, việc quản lý theo dõi nó có chặt chẽ không và cần có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả quản lý chúng … thì chưa có một công trình nào đánh giá đúng mức Do vậy, cần phải có một công trình nghiên cứu toàn diện nhằm tìm ra được những mặt tốt, xấu trong quá trình sử dụng, quản lý gồm các khâu bố trí, sử dụng, xác định nhu cầu về tài sản cố định cho sản xuất kinh doanh, lập kế hoạch huy động vốn đầu tư, mua sắm, huy động tài sản cố định vào sản xuất và công tác

Trang 12

theo dõi, bảo dưỡng, đánh giá, kiểm tra… để có thể phát huy tối đa nguồn vốn đầu

tư, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chung cho Công ty, góp phần thúc đẩy

phát triển kinh tế địa phương và đất nước.Việc lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả

sử dụng tài sản cố định tại Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc” là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay cả về cơ sở lý luận và thực tiễn

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là xây dựng cơ sở khoa học cho những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ nhằm đảm bảo hoạt động liên tục, nhịp nhàng, giảm chi phí sửa chữa, tận dụng thời gian hữu dụng của TSCĐ, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là các vấn đề liên quan đến hiệu quả sử dụng tài sản

cố định ở Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc

Phạm vi nghiên cứu: là công tác sử dụng, quản lý tài sản cố định của Công ty

cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc giai đoạn 2008 -2012 và sắp tới

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quanlý luận và thực tiễn về hiệu quả quản lý tài sản cố định trong các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh

- Đánh giá thực trạng sử dụng và hiệu quả sử dụng TSCĐ của Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc, có so sánh với một số doanh nghiệp cũng lĩnh vực khác nhằm chỉ ra những mặt mạnh và mặt còn tồn tại cũng như nguyên nhân của nó

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định của Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu tổng quan lý luận và thực tiễn tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp: phương pháp tiếp cận hệ thống, thống kê tổng hợp;

Trang 13

- Để đưa ra các đánh giá về tình hình sử dụng tài sản cố định tại Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc cũng như một số công ty hoạt động trong lĩnh vực khai thác khoáng sản khác, tác giả sử dụng phương pháp toán học, phương pháp mô hình hóa, phương pháp phân tích định lượng, phương pháp khảo sát, so sánh, thống kê,

- Để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý TSCĐ, tác giả dùng phương pháp dự báo, chuyên gia, mô hình hóa…

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

* Ý nghĩa khoa học

Luận văn đã hệ thống hóa và góp phần làm sáng tỏ lý luận về TSCĐ, sử dụng, quản lý TSCĐ, đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ trong các Công ty, doanh nghiệp chuyên về tư vấn, đầu tư khai thác khoáng sản

* Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn nghiên cứu đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định trong các công ty tư vấn, đầu tư các dự án khai thác khoáng sản, cụ thể là Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc nhằm góp phần

sử dụng hiệu quả đồng vốn đầu tư vào TSCĐ, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy đề tài luận văn là tài liệu tham khảo quý cho các lãnh đạo nói riêng Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc nói riêng và các doanh nghiệp khai thác nói chung cũng như những người quan tâm khác

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương với các nội dung được kết cấu trong 82 trang, 09 bảng và 05 hình

Chương 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về tài sản cố định và hiệu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp

Chương 2: Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản cố định của Công ty

cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Công ty

cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TSCĐ TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan lý luận về hiệu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về Tài sản cố định (TSCĐ)

Doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) đều phải có một nguồn lực nhất định Nguồn lực của doanh nghiệp có thể được hình thành từ chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc từ các nguồn tài trợ bên ngoài và được sử dụng để đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu SXKD Trong số tài sản đầu tư cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp, TSCĐ chiếm tỷ trọng chủ yếu

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Tài sản cố định” là bộ phận tài sản của

DN, phục vụ sản xuất trong một thời gian dài, tham gia nhiều lần vào sản xuất theo mức độ hao mòn TSCĐ bao gồm: nhà cửa, công trình kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện tải, công cụ, dụng cụ, đường ống …

Theo Quyết định 203/2006/QĐ-BTC của Bộ tài chính về quản lý và sử dụng TSCĐ thì: TSCĐ là những tài sản thỏa mãn đồng thời các tiêu chuẩn: Chắc chắn doanh nghiệp sẽ thu được lợi ích kinh tế trong tương lai do sử dụng tài sản đó và giá trị của tài sản đối với doanh nghiệp có thể được xác định một cách đáng tin cậy Với tiêu chuẩn thứ nhất, để xác định một yếu tố có được ghi nhận là tài sản hay không phải đánh giá mức độ chắc chắn của việc thu được lợi ích kinh tế trong tương lai trên cơ sở các bằng chứng hiện tại thời điểm hạch toán ban đầu Với tiêu chuẩn thứ hai, TSCĐ là một bộ phân chính trong tổng tài sản của doanh nghiệp, có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tình hình tài chính của doanh nghiệp Việc xác định giá trị tài sản hay chi phí có ảnh hưởng đáng kể đến thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Các nhà nghiên cứu, xây dựng chế độ kế toán cho rằng: TSCĐ là biểu hiện của một nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, được phát sinh từ các sự kiện trong quá khứ và doanh nghiệp chắc chắn sẽ thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ

Trang 15

việc sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Theo quan điểm này, TSCĐ bao gồm nguồn lực hữu hình và vô hình mà doanh nghiệp đã đầu tư nhằm tạo ra lợi ích kinh

tế tương lai cho doanh nghiệp Mỗi TSCĐ trên có tính hữu ích khác nhau, yêu cầu quản lý cũng khác nhau nên phải tổ chức ghi chép trên những tài khoản khác nhau

Theo thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25 tháng 4 năm 2013 của Bộ tài chính quy định áp dụng từ 10/6/2013 (thay Thông tư số 203/2009/TT-BTC):

TSCĐ hữu hình: tư liệu lao động là những tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thỏa mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài sản cố định:

- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó

- Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên

- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên

Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thỏa mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập

TSCĐ vô hình: Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thỏa mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn trên mà không hình thành TSCĐ hữu hình thì được coi là TSCĐ vô hình Những khoản chi phí không đồng thời thỏa mãn cả ba tiêu chuẩn trên được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp

Riêng các chi phí phát sinh trong giai đoạn triển khai được ghi nhận TSCĐ

vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp nếu thỏa mãn các điều kiện sau:

- Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo cho việc hoàn thành và đưa TSCĐ vô hình vào sử dụng theo dự tính hoặc để bán

Trang 16

- Doanh nghiệp dự định hoàn thành TSCĐ vô hình để sử dụng hoặc để bán

- Doanh nghiệp có khả năng sử dụng hoặc bán ra TSCĐ vô hình đó

- TSCĐ vô hình đó phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương lai

- Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn triển khai để tạo ra TSCĐ vô hình đó

- Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định cho TSCĐ vô hình

Như vậy, với quan điểm trên, đứng trên góc độ kế toán, TSCĐ được ghi nhận

và theo dõi trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp

Tóm lại, TSCĐ là những tư liệu sản xuất không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khác với các loại tài sản khác, TSCĐ

là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, chúng tham gia trực tiếp vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tiêu chuẩn giá trị của chúng được quy định phù hợp với tình hình thực tế và các chính sách kinh tế, tài chính của Nhà nước

1.1.2 Đặc điểm và phân loại Tài sản cố định

a Đặc điểm TSCĐ

TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn, thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp Xuất phải từ đặc điểm này, doanh nghiệp cần theo dõi, quản lý chặt chẽ TSCĐ về hiện vật và chất lượng, tránh hiện tượng mất mát hay không sử dụng Doanh nghiệp căn cứ vào nhu cầu, đặc điểm hoạt động SXKD cũng như khả năng tài chính để lựa chọn hình thức đầu tư TSCĐ phù hợp:

Đặc điểm chung và cơ bản nhất của TSCĐ là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất Trong quá trình sản xuất, TSCĐ hao mòn dần và giá trị của nó được chuyển dịch dần dần từng phần vào chi phí kinh doanh và sản xuất ra sản phẩm Chính vì vậy, Doanh nghiệp phải quan tâm đến việc bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa TSCĐ để tăng tuổi thọ sử dụng của tài sản, và lựa chọn phương pháp tính khấu hao thích hợp nhất nhằm đánh giá mức độ hao mòn để thu hồi giá trị đầu tư ban đầu của Tài sản

Có hai loại hao mòn TSCĐ, đó là hao mòn hữu hình và vô hình Trong đó, hao mòn

Trang 17

hữu hình là sự hao mòn vật lý trong quá trình sử dụng do bị cọ sát, ăn mòn, bị hư hỏng từng bộ phận; Còn hao mòn vô hình là sự giảm giá trị của TSCĐ do tiến bộ khoa học kỹ thuật, sản xuất những loại TSCĐ có nhiều tính năng và công suất cao hơn với chi phí thấp hơn

Đánh giá TSCĐ có vai trò quan trọng trong việc đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, chúng được thể hiện rõ trên Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Vì vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý và hiệu quả sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần quan tâm quản

lý tốt và tổ chức hạch toán TSCĐ sao cho phù hợp với tình hình SXKD của doanh nghiệp mình

Với những đặc điểm trên, quản lý và sử dụng tốt TSCĐ sẽ góp phần giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất, thu hồi vốn đầu tư nhanh để tiếp mở rộng và trang

bị thêm cho chính doanh nghiệp mình

b Phân loại tài sản cố định (TSCĐ)

TSCĐ trong doanh nghiệp có công dụng khác nhau, để quản lý tốt cần phân loại TSCĐ Phân loại TSCĐ là việc sắp xếp cá TSCĐ trong Doanh nghiệp thành các loại, các nhóm TSCĐ có cùng tính chất, đặc điểm theo những tiêu thức nhất định

- Phân loại theo mục đích kinh doanh:

Theo Thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25 tháng 4 năm 2013 của Bộ tài chính

về chế độ quản lý sử dụng và trích khấu hao TSCĐ, doanh nghiệp tiến hành phân loại TSCĐ theo các chỉ tiêu sau:

TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: là những TSCĐ do doanh nghiệp quản lý, sử dụng cho các mục đích kinh doanh của doanh nghiệp

+ Đối với TSCĐ hữu hình, doanh nghiệp phân loại như sau:

Nhà cửa, vật kiến trúc: là TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành sau quá trình thi công xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống, đường sắt, đường băng, sân bay, cầu cảng

Trang 18

Máy móc thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị chuyên dùng, máy móc thiết bị công tác và dùng trong sản xuất kinh doanh

Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải ôtô, máy kéo, máy xúc, tàu thủy … dùng trong vận chuyển, các thiết bị truyền dẫn như:

hệ thống đường ống dẫn nước, dẫn điện, truyền thanh…

Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho các sản phẩm thường là trong các doanh nghiệp nông nghiệp

Các loại TSCĐ hữu hình khác, bao gồm các TSCĐ chưa được sắp xếp vào nhóm TSCĐ trên

+ Đối với TSCĐ vô hình: là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể

do doanh nghiệp nắm giữ sử dụng cho sản xuất kinh doanh phù hợp, bao gồm một

số loại sau:

Quyền sử dụng đất: là toàn bộ chi phí thực tế đã chỉ ra có liên quan tới sử dụng đất Tiền chi ra để có quyền sử dụng đất, chi phí đền bù san lấp, giải phóng mặt bằng …

Nhãn hiệu hàng hóa: chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được quyền sử dụng một loại nhãn hiệu, thương hiệu hàng hóa nào đó

Bản quyền, bằng sáng chế: giá trị bằng phát minh, sáng chế là cả chi phí doanh nghiệp phải trả cho các công trình nghiên cứu, sản xuất thử được Nhà nước cấp bằng

Phần mềm máy vi tính do doanh nghiệp bỏ tiền ra mua hoặc tự xây dựng, thiết kế

Giấy phép và giấy phép chuyển nhượng: là chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để

có được các loại giấy phép, giấy phép nhượng quyền để doanh nghiệp có thể thực hiện các nghiệp vụ nhất định

Quyền phát hành: là chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có quyền phát hành các loại sách báo, tạp chí, ấn phẩm văn hóa, nghệ thuật khác

TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng: là những TSCĐ do doanh nghiệp quản lý sử dụng cho các mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng trong doanh nghiệp

Trang 19

TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ là những TSCĐ doanh nghiệp bảo quản hộ, giữ hộ, cho các đơn vị khác hoặc cất giữ hộ Nhà nước theo quy định của

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

- Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu:

Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý cũng như đối tượng có quan tâm đến doanh nghiệp nhìn vào biết được tài sản nào là của doanh nghiệp, tài sản nào không phải là của doanh nghiệp Căn cứ vào quyền sở hữu của doanh nghiệp chia thành 2 loại: TSCĐ tự có và TSCĐ thuê ngoài

+ TSCĐ tự có: là các TSCĐ được xây dựng, mua sắm và hình thành từ nguồn vốn ngân sách cấp, cấp trên cấp, nguồn vốn vay, nguồn vốn liên doanh, các quỹ của doanh nghiệp và các TSCĐ được biếu tặng Đây là những TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp

+ TSCĐ thuê ngoài: là những TSCĐ đi thuê để sử dụng trong thời gian nhất định theo hợp đồng thuê tài sản

- Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng:

Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý cũng như những đối tượng có quan tâm đến doanh nghiệp nhìn vào biết được tài sản nào là sử dụng cho sản xuất kinh doanh, tài sản nào chưa dùng hoặc chưa cần dùng, tài sản nào chờ thanh lý

TSCĐ dùng cho sản xuất kinh doanh: là TSCĐ được sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất xây lắp của doanh nghiệp Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ của từng thời kỳ TSCĐ được chia thành 2 loại:

+ TSCĐ dùng cho sản xuất kinh doanh: là TSCĐ được sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất xây lắp của doanh nghiệp

+ TSCĐ dùng ngoài sản xuất kinh doanh: là TSCĐ dùng cho những hoạt động sản xuất kinh doanh phụ và phụ trợ và những TSCĐ không có tính chất sản xuất

TSCĐ chưa dùng: là những tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay hoạt động khác của doanh nghiệp xong hiện tại chưa cần dùng đang được lưu trữ để sau này sử dụng

TSCĐ đang chờ thanh lý: là những TSCĐ đã hư hỏng hoặc quá lạc hậu

Trang 20

Mỗi cách phân loại, ngoài việc có tác dụng khác nhau trong quá trình quản lý tài sản, nó còn giúp kế toán thuận lợi trong việc xác định thời gian khấu hao phù hợp với mỗi loại tài sản

1.1.3 Quản lý TSCĐ và hiệu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp

1.1.3.1 Khái niệm về quản lý tài sản cố định

Quản lý theo nghĩa chung nhất là tổng thể những nhiệm vụ cần có của chủ thể quản lý nhằm tác động vào đối tượng bị quản lý hướng đến mục tiêu định trược

Từ khái nhiệm chung trên có thể hiểu quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp là tổng thể các quyết định có liên quan đến việc mua sắm, sử dụng tài sản cố định phù hợp với mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp

Hay nói cách khác, quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp là tổng thể các quyết định về hoạch định kế hoạch, tổ chức thực hiện các biện pháp liên quan đến đầu tư vào TSCĐ, huy động TSCĐ vào sản xuất cũng như quản lý chúng trong quá trình

sử dụng cả về hiện vật lẫn giá trị nhằm sử dụng có hiệu quả TSCĐ, giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao

Quản lý TSCĐ đóng vai trò quan trọng, giúp doanh nghiệp theo dõi và quản

lý chặt chữ số vốn đã đầu tư, có biện pháp và kế hoạch sử dụng hợp lý tài sản, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

1.3.1.2 Yêu cầu quản lý tài sản cố định

Như đã trình bày ở trên, TSCĐ là cơ sở vật chất kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự tồn tại của DN trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, do đó TSCĐ cần được quản lý chặt chẽ nhằm phát huy hiệu quả cao nhất trong quá trình sử dụng Việc quản lý TSCĐ cần phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu sau:

- Thứ nhất, phải quản lý được toàn bộ TSCĐ hiện có ở doanh nghiệp cả về hiện vật và giá trị

Việc quản lý TSCĐ về mặt hiện vật ở hai khía cạnh: Về số lượng, quản lý TSCĐ phải đảm bảo cung cấp đầy đủ máy móc thiết bị và các tài sản cần thiết để đáp ứng yêu cầu về công suất sản xuất kinh doanh của DN; Về chất lượng, việc bảo

Trang 21

quản TSCĐ phải đảm bảo tránh hỏng hóc, mất mát làm giảm giá trị TSCĐ Để làm được điều đó, mỗi DN cần xây dựng nội quy bảo quản và sử dụng TSCĐ một cách hợp lý, phù hợp với đặc điểm hoạt động của DN mình; đồng thời mỗi DN cũng nên xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật đối với từng loại TSCĐ đang sử dụng

Việc quản lý TSCĐ về mặt giá trị thể hiện ở việc DN có phương pháp xác định chính xác giá trị tài sản Không chỉ tính đúng, tính đủ chi phí liên quan đến hình thành tài sản, DN còn phải có biện pháp xác định mức độ hao mòn của tài sản

và lượng hóa, phân bổ chi phí hao mòn đó vào chi phí sản xuất một cách hợp lý Việc sửa chữa, tháo dỡ, lắp đặt thêm, cải tiến hay đánh giá lại tài sản đều phải dựa trên những nguyên tắc nhất định Trên cơ sở quản lý về mặt giá trị TSCĐ, DN mới

có thể xây dựng kế hoạch điều chỉnh tăng hoặc giảm TSCĐ theo từng loại TSCĐ cho phù hợp với yêu cầu hoạt động của DN

- Thứ hai, phải quản lý quá trình thu hồi vốn đầu tư TSCĐ hiện có

Đây là yêu cầu rất quan trọng, vì việc lựa chọn và áp dụng phương thức nào

để thu hồi vốn đầu tư cho các TSCĐ trong doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến việc đánh giá tài sản trong quá trình sử dụng, từ đó ảnh hưởng đến chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động SXKD … vì thế ngay từ khi đầu tư hình thành TSCĐ, doanh nghiệp phải xác định yếu tố như giá trị phải thu hồi, thời gian sử dụng hay phương pháp thu hồi một cách hợp lý Ngay trong quá trình

sử dụng cũng phải phân tích, xem xét phương pháp đó có phù hợp hay không để có biện pháp điều chỉnh kịp thời

- Thứ ba, phải xây dựng được hệ thống chỉ tiêu quản lý và đánh giá hiệu quả

sử dụng TSCĐ phù hợp

Do chi phí đầu tư cho TSCĐ không phải là nhỏ, quá trình sử dụng TSCĐ lại tương đối dài nên việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu quản lý và đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ sẽ giúp nhà quản lý trả lời những câu hỏi cơ bản như: việc sử dụng TSCĐ đó hiệu quả chưa, cơ cấu tài sàn hiện tại có phát huy được năng lực sản xuất hay không?, … Nếu xét thấy tài sản được sử dụng không hiệu quả, không thích ứng với hoạt động của doanh nghiệp hoặc tài sản trở nên lạc hậu … doanh nghiệp có thể tiến hành thanh lý, nhượng bán để đầu tư thay thế bằng tài sản khác

Trang 22

1.3.1.3 Nội dung cơ bản của quản lý sử dụng tài sản cố định

Quản lý TSCĐ là một nội dung quan trọng của quán lý vốn trong doanh nghiệp nói riêng và hoạt động quản lý chung của doanh nghiệp Hoạt động quản lý doanh nghiệp với 4 chức năng là hoạch định, lãnh đạo, tổ chức phối hợp và kiểm tra Các chức năng này được cụ thể hóa trong công tác quản lý TSCĐ tập trung vào các nội dung:

Trong công tác mua sắm đầu tư vào TSCĐ:

- Quy định chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ chặt chẽ giữa bộ phận quản

lý trong doanh nghiệp về mặt hiện vật và chất lượng của TSCĐ (bộ phận kỹ thuật, các bộ phận có liên quan đến sử dụng TSCĐ) với bộ phận quản lý về giá trị của TSCĐ (bộ phận kế toán) trong việc xây dựng các kế hoạch mua sắm, đầu tư và kế hoạch huy động TSCĐ vào sản xuất

- Xây dựng và áp dụng các quy trình, thủ tục trong quản lý TSCĐ như: thủ tục đầu tư mua sắm, thủ tục điều chuyển, thủ tục thanh lý nhượng bán và sửa chữa TSCĐ Thẩm quyền phê duyệt có thể gắn với chức danh quản lý hoặc gắn với quy

mô tài sản hoặc giao dịch

Trong công tác sử dụng TSCĐ:

- Quy định cụ thể trách nhiệm vật chất của các đơn vị, bộ phân trong doanh nghiệp đối với việc bảo quản, sử dụng TSCĐ nhằm tăng cường tính kỷ luật, nâng cao ý thức của các cá nhân, bộ phân liên quan, tránh mất mát và sử dụng lãng phí tài sản của doanh nghiệp

- Xây dựng các định mức hao phí yếu tố đầu vào cho hoạt động của TSCĐ

- Xây dựng các quy trình, quy phạm kỹ thuật của TSCĐ, hệ thống chỉ tiêu đánh giá tình hình trang bị và hiệu quả sử dụng TSCĐ thích hợp với đặc điểm hoạt động SXKD của doanh nghiệp và đáp ứng được yêu cầu thông tin ra quyết định của quản lý

- Thu thập thông tin từ các bộ phận quản lý sử dụng để đánh giá về tình trạng vật chất của TSCĐ, từ đó xây dựng các kế hoạch điều chuyển, đầu tư và sửa chữa TSCĐ phù hợp

Trang 23

Trong công tác thống kê, kế toán TSCĐ:

- Định kỳ tiến hành kiểm kê TSCĐ với sự tham gia của đại diện các bộ phận

kế toán, kỹ thuật, đơn vị sử dụng, bộ phận cơ giới hoặc xe, máy móc Mọi trường hợp chênh lệch sai sót phải lập biên bản xác định nguyên nhân và kiến nghị hướng

xử lý cụ thể

- Quy định cụ thể tiêu chuẩn và điều kiện ghi nhận TSCĐ trong doanh nghiệp Trên cơ sở quy định của Nhà nước và thông lệ chung, căn cứ vào đặc điểm hoạt động và đặc thù tài sản, doanh nghiệp xây dựng tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ, trong đó cần thiết phải đề cập đến tiêu chuẩn giá trị và thời gian sử dụng

- Tổ chức đánh số liệu cho từng đối tượng ghi nhận TSCĐ nhằm thống nhất trong quản lý sử dụng TSCĐ toàn doanh nghiệp Việc đánh giá số hiệu TSCĐ phải khoa học, hợp lý, thống nhất

- Mở và ghi sổ theo dõi TSCĐ tại nơi sử dụng, thẻ TSCĐ và sổ TSCĐ nhằm cung cấp các thông tin tăng, giảm TSCĐ theo từng bộ phận sử dụng phục vụ cho việc kiểm tra, đối chiếu, thực hiện trách nhiệm vật chất, theo dõi nguyên giá, khấu hao, giá trị còn lại và tình hình tăng giảm TSCĐ

Mọi TSCĐ trong doanh nghiệp phải có bộ hồ sơ riêng (gồm biên bản giao nhận TSCĐ, hợp đồng, hóa đơn mua TSCĐ và các chứng từ, giấy tờ khác có liên quan) Mỗi TSCĐ phải được quản lý theo nguyên giá, số hao mòn lũy kế và giá trị còn lại trên sổ sách kế toán:

Giá trị còn lại trên sổ Nguyên giá Hao mòn lũy kế

Kế toán TSCĐ = TSCĐ - TSCĐ (1.1) Đối với những TSCĐ không cần dùng, chờ thanh lý nhưng chưa hết khấu hao, doanh nghiệp phải quản lý, theo dõi, bảo quản theo quy định hiện hành và trích khấu hao theo quy định

1.3.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình và hiệu quả sử dụng tài sản cố định

Theo quan điểm của tác giả, hiệu quả sử dụng TSCĐ được phản ánh trực tiếp qua các chỉ tiêu đánh giá tình hình biến động và hiệu quả sử dụng TSCĐ Bởi vì, nếu cơ cấu đầu tư vào TSCĐ trong doanh nghiệp hợp lý, kế hoạch huy động và sử

Trang 24

dụng TSCĐ phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh, công tác theo dõi, kiểm tra, sửa chữa kịp thời … thì hiệu suất sử dụng TSCĐ sẽ cao Mặt khác, việc lựa chọn cách tính khấu hao phù hợp, đánh giá đúng giá trị TSCĐ để phản ánh giá trị của chúng vào các bảng cân đối kế toán cũng là cơ sở quan trọng để các nhà quản lý đưa

ra các giải pháp quản lý, sử dụng TSCĐ cho phù hợp

Vì vậy, sau mỗi chu kỳ kinh doanh, việc đánh giá lại tình hình và hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào cho hoạt động sản xuất, nhất là tình hình và hiệu quả sử dụng TSCĐ có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả quản lý doanh nghiệp nói chung

và TSCĐ nói riêng Đó sẽ là cơ sở để có thể so sánh giữa hiệu quả thực hiện thực tế

và kế hoạch, giữa kỳ này với các kỳ trước, để từ đó đề ra các giải pháp, kế hoạch cải tiến tổ chức lao động, tổ chức sản xuất nhằm khai thác và sử dụng tài sản một cách hợp lý, hiệu quả cao nhất Việc đánh giá đó được thực hiện qua việc phân tích một

hệ thống các chỉ tiêu sau:

a Các chỉ tiêu đánh giá chung hiệu quả sử dụng TSCĐ:

Hiệu quả sử dụng TSCĐ được đánh giá qua 2 chỉ tiêu tổng hợp là:

- Hệ số hiệu suất sử dụng TSCĐ:

Là chỉ tiêu cho biết một đơn vị giá trị TSCĐ đã tham gia làm ra bao nhiêu đơn vị sản phẩm (được tính bằng hiện vật hoặc giá trị) trong thời kỳ nghiên cứu (thường lấy là 1 năm)

bq hs

V

Q

bq hs

V

G

Trong đó:

Q – Khối lượng sản phẩm làm ra trong kỳ

G – Giá trị sản phẩm sản xuất ra trong kỳ (giá trị tổng sản lượng)

360

tV360

tVV

V

n

1 j rj rj n

1 i

vi vi dk

Trang 25

Vdk, Vck: Giá trị TSCĐ đầu kỳ và cuối kỳ

Vvi, Vrj : Giá trị TSCĐ thứ i đưa vào hoặc thứ j đưa ra khỏi quá trình sản xuất

tvi, trj: Số ngày đưa loại TSCĐ i vào và thứ j ra khỏi quá trình sản xuất trong kỳ

- Hệ số huy động TSCĐ (còn được gọi là hệ số đảm nhiệm TSCĐ)

Là chỉ tiêu nghịch đảo của hệ số hiệu suất sử dụng TSCĐ

hs d

b Các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng tài sản cố định (TSCĐ)

- Đánh giá số lượng máy móc thiết bị hiện có:

Tiến hành so sánh máy móc thiết bị hiện có với số lượng máy móc thiết bị lắp đặt và số máy móc thiết bị đang hoạt động của doanh nghiệp để đưa ra kết quả

về tình hình đầu tư và tình hình sử dụng TSCĐ.Nếu số máy móc thiết bị đang hoạt động chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số hiện có thì gây bất lợi cho sản xuất và điều

đó cũng phản ánh công tác quản lý TSCĐ của doanh nghiệp kém Những nguyên nhân thuộc về quản lý TSCĐ có thể dẫn tới tỷ trọng này nhỏ do: đầu tư mua sắm máy móc thiết bị không phù hợp, không đảm bảo về kế hoạch sửa chữa, thay thế phụ tùng, do tổ chức sản xuất và phân bổ nguồn lực TSCĐ không tốt …

- Đánh giá tình hình sử dụng thời gian làm việc của máy móc thiết bị

Các chỉ tiêu sử dụng thời gian làm việc của máy móc thiết bị cho phép đánh giá trình độ quản lý và sử dụng chúng theo chiều rộng Để phân tích người ta dùng các hệ số sử dụng thời gian theo lịch, theo chế độ và theo kế hoạch với công thức sau:

1

tt 1 tg

T

T

Trong đó:

Trang 26

- Đánh giá tình hình sử dụng năng xuất của máy móc thiết bị

Mục đích là đánh giá trình độ quản lý, sử dụng máy móc thiết bị theo chiều sâu Đây là phương hướng chủ yếu hiện nay để tăng hiệu quả sử dụng TSCĐ nói chung và máy móc thiết bị sản xuất nói riêng

Để đánh giá, cần thống kê về năng suất thực tế của máy móc thiết bị, về số lượng và hiện trạng của máy móc thiết bị chủ yếu Ngoài ra khi cần thiết cần khảo sát kỹ thuật về năng suất thiết bị để có số liệu Tiến hành so sánh năng suất thực tế đạt được với kế hoạch để chỉ ra trình độ tận dụng năng suất của máy móc thiết bị

- Đánh giá tình hình tăng giảm và kết cấu TSCĐ

Mục đích là đánh giá tình hình biến động TSCĐ và liên hệ với tình hình sản xuất để đánh giá tính hợp lý của biến động cũng như kết cấu TSCĐ.Qua đó phản ánh trình độ quản lý TSCĐ của doanh nghiệp là tốt hay chưa tốt Những nhận định

cụ thể cần rút ra qua quá trình đánh giá này là:

+ Sự tăng giảm của TSCĐ có xuất phát từ nhu cầu của sản xuất không, có phù hợp với xu thế phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật không?

+ Doanh nghiệp đã chú trọng đến tính hợp lý của tỷ trọng TSCĐ dùng trong sản xuất, trong đó nhóm TSCĐ có tác động tích cực và trực tiếp ?

+ Doanh nghiệp đã chú trọng đến tính hợp lý của tỷ trọng TSCĐ dùng trong sản xuất, trong đó nhóm TSCĐ có tác động tích cực và trực tiếp đến sản xuất như máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện sản xuất, phương tiện vận tải, dụng cụ sản xuất … hay chưa?

Để đánh giá rõ hơn sự biến động tăng giảm TSCĐ ta có thể dùng các hệ số:

Hệ số đổi mới

TSCĐ =

Tổng giá trị TSCĐ tăng trong kỳ

(1.9) Tổng nguyên giá TSCĐ cuối kỳ

Trang 27

Hệ số loại bỏ

TSCĐ =

Tổng giá trị TSCĐ giảm trong kỳ

(1.10) Tổng nguyên giá TSCĐ đầu kỳ

- Đánh giá tình trạng kỹ thuật của máy móc thiết bị

Nhằm đánh giá khả năng đáp ứng về tình trạng kỹ thuật của thiết bị so với nhu cầu sản xuất sản phẩm Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc kế hoạch hóa tái sản xuất TSCĐ là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý TSCĐ Tình trạng kỹ thuật được xác định thông qua mức độ hao mòn của tài sản ở các thời điểm khác nhau Có thể đánh giá mức hao mòn bằng 1 trong những cách sau:

+ Đánh giá theo tình trạng kỹ thuật của các chi tiết, bộ phận:

Cán bộ kỹ thuật kiểm tra đánh giá tình trạng kỹ thuật của các bộ phận, chi tiết, sau đó xác định mức độ hao mòn của máy móc thiết bị bằng phương pháp tính bình quân gia quyền, với trọng số là tỷ trọng giá trị của các bộ phận so với giá trị của thiết bị

+ Đánh giá mức độ hao mòn theo khối lượng công tác thực tế:

,%

100 T Q

T Q T

dm dm

tt tt

số tiền trích khấu hao TSCĐ tại thời điểm nghiên cứu so với giá trị ban đầu của TSCĐ cũng phản ánh gián tiếp mức độ hao mòn TSCĐ Công thức xác định:

Thm = Mkh : Gng x 100, % (1.12) Trong đó:

Trang 28

Mkh – Tổng số mức khấu hao đã trích

Gng – Tổng giá trị ban đầu (nguyên giá) của tài sản cố định

Công thức này có thể áp dụng cho từng loại TSCĐ hoặc toàn bộ TSCĐ Ngoài tỷ lệ hao mòn, để đánh giá tình trạng kỹ thuật của máy móc thiết bị, người ta còn phân chúng thành các nhóm theo thời gian sử dụng hoặc phân loại theo phẩm cấp chất lượng kỹ thuật (A, B, C,…)

- Đánh giá trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động

Đánh giá trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động phản ánh trình độ cơ giới hóa trong lao động cũng như tiềm năng NSLĐ trong doanh nghiệp đồng thời phản ánh trình độ quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp Để đánh giá có thể dùng các chỉ tiêu sau:

+ Trình độ trang bị chung tài sản cố định (Tc)

Tc = Nguyên giá các phương tiện kỹ thuật (1.14)

Số CN lớn nhất trong ca sản xuất Các phương tiện kỹ thuật gồm thiết bị động lực, máy móc thiết bị sản xuất, thiết bị truyền dẫn, phương tiện vận tải, dụng cụ làm việc và đo lường.Sở dĩ lấy số công nhân lớn nhất trong 1 ca vì khi đó đạt được mức huy động công suất cao nhất

- Đánh giá trình độ sử dụng năng lực sản xuất:

Năng lực sản xuất của doanh nghiệp là khả năng sản xuất lớn nhất khi tận dụng một cách đầy đủ máy móc thiết bị cả về công suất và thời gian, trong điều kiện

áp dụng các hình thức tổ chức sản xuất và tổ chức lao động hợp lý phù hợp với thực

tế Việc đánh giá trình độ sử dụng năng lực sản xuất nhằm: Đánh giá quy mô sản xuất hợp lý với lượng TSCĐ đã có nhằm đạt tới hiệu quả kinh tế cao nhất; Xác định mức độ tận dụng các nguồn tiềm năng và trình độ tổ chức quản lý TSCĐ phục vụ cho SXKD Từ đó, doanh nghiệp có cơ sở định hướng phát triển theo quy mô đầu tư

và quy mô sản xuất kinh doanh Các chỉ tiêu chủ yếu dùng để phân tích năng lực sản xuất bao gồm:

Trang 29

+ Hệ số tận dụng năng lực sản xuất về mặt công suất:

kn

g cs

P

P

Trong đó:

Ptt – Cường độ sản xuất đạt được trên thực tế

Pkn – Cường độ sản xuất theo khả năng (năng lực sản xuất)

+ Hệ số tận dụng năng lực sản xuất về mặt thời gian:

tt tg

T

T

Trong đó:

Ttt – Thời gian làm việc thực tế của khâu sản xuất

Tcđ – Thời gian làm việc theo chế độ công tác quy định

Hệ số tận dụng tổng hợp năng lực sản xuất

Hth = Hcs x Htg (1.17) Hoặc số tận dụng tổng hợp năng lực sản xuất

tt tt tt th

Qtt – Sản lượng thực tế kỳ phân tích

Qkn – Năng lực sản xuất của kỳ

Sau khí tính toán các chỉ tiêu kết hợp với việc tìm hiểu thực tế sản xuất sẽ giúp các nhà quản lý doanh nghiệp và quản lý TSCĐ nhận định được: tính cân đối

về năng lực sản xuất giữa các khâu và các quá trình sản xuất; Sự đáp ứng của năng lực sản xuất ở từng khâu của toàn doanh nghiệp với nhu cầu phát triển của sản xuất; trình độ tận dụng năng lực sản xuất … và qua đó phản ánh trình độ quản lý TSCĐ của doanh nghiệp

1.1.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, sử dụng TSCĐ

a Các nhân tố khách quan:

Lạm phát: Do tác động của nền kinh tế có lạm phát, sức mua của đồng tiên

bị giảm sút, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay dẫn đến giá cả thị trường thay đổi tăng

Trang 30

nhanh một cách bất ngờ Vì vậy, doanh nghiệp không điều chỉnh kịp thời thì sẽ gây thiệt hại kinh tế đáng kể

Rủi ro: Khi tham gia kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường nhiều thành phẩn, nếu thị trường không ổn định, sức mua có hạn thì làm tăng lên các rủi ro cho doanh nghiệp Ngoài ra doanh nghiệp có thể gặp nhiều rủi ro bất thường như thiên tai, tại nạn,…Sự thay đổi chính sách của Nhà nước cũng ảnh hưởng tới doanh nghiệp

Sự tác động công nghệ: Trong nền kinh tế hiện nay, công nghệ luôn có sự thay đổi cải tiến sản phẩm cả về chất lượng và mẫu mã đa dạng, phong phú, giá cả cạnh tranh Tình trạng giảm giá hàng hóa gây nhiều thất thoát tại doanh nghiệp, chính vì vậy doanh nghiệp luôn phải ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại nhất vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình để đẩy mạnh quá trình tiêu thụ, tránh tình trạng tồn đọng vốn

Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên có tác động đến doanh nghiệp Ngày nay khoa học phát triển thì sự lệ thuộc của con người vào tự nhiên ngày càng giảm đi, ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng cũng ít hơn trừ các doanh nghiệp mang tính thời vụ hoặc mang tính khai thác

Môi trường pháp lý: là hệ thống các chế tài pháp luận của các chủ trương chính sách, liên quan đến hoạt động doanh nghiệp Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường là tất yêu nhưng tác động của Nhà nước chỉ thực hiện thông qua chính sách vĩ mô

b Các nhân tố chủ quan

Nhu cầu vốn: do bản thân doanh nghiệp xác định nhu cầu TSCĐ thiếu chính xác dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng không tốt tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng vốn

Ngành nghề kinh doanh: đây là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp đầu tư sản xuất những sản phẩm lao vụ, dịch vụ tiết kiệm được chi phí, hạ giá thành thì doanh nghiệp thực hiện quá trình tiêu thụ nhanh, tăng vòng quay vốn Ngược lại ngành nghề kinh

Trang 31

doanh của doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm kém chất lượng không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được vốn sẽ ứ đọng, hiệu quả sử dụng vốn thấp, thua lỗ kéo dài dẫn đến mất vốn, doanh nghiệp sẽ phá sản nhanh chóng

Lực lượng lao động: Nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng TSCĐ Nhân tố này được xem xét trên 2 yếu tố là số lượng và chất lượng lao động của hai bộ phận là lao động trực tiếp sản xuất kinh doanh

1.2 Thực tiễn quản lý, sử dụng tài sản cố định của một số doanh nghiệp khoáng sản, bài học kinh nghiệm

1.2.1 Đặc trưng tài sản cố định trong một số doanh nghiệp khai thác khoáng sản

Ngành khai thác khoáng sản là một ngành sản xuất xuất đặc biệt so với các ngành sản xuất khác, các doanh nghiệp khai thác khoáng sản này không sản xuất ra các sản phẩm vật chất trực tiếp đến tay người tiêu dùng, mà nó là người cung cấp nguyên, nhiên vật liệu chính phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của toàn bộ nên kinh tế quốc dân Chính vì vai trò quan trọng này và đặc điểm sản xuất riêng mà TSCĐ trong các doanh nghiệp khai thác khoáng sản có những đặc trưng nhất định

- Đặc điểm của ngành nghề: Là ngành khai thác các loại khoáng sản nên TSCĐ của các doanh nghiệp có giá trị rất lớn và chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp khoáng sản Trong tổng giá trị TSCĐ thì TSCĐ hữu hình chiếm tỷ lệ cao nhất, phần lớn trên 85%, trong đó chủ yếu bao gồm nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị bốc dỡ, vận chuyển, cụ thể như: Hệ thống bến bãi, nhà làm việc, hệ thống các loại máy khoan, xe nâng, máy xúc, băng tải vận chuyển… TSCĐ vô hình chiếm tỷ trọng nhỏ, chủ yếu bao gồm giá trị quyền sử dụng đất, phần mềm máy tính Chính vì lý do này việc quản lý và sử dụng TSCĐ cần có kế hoạch cụ thể, tránh tình trạng lãng phí, mất mát, hỏng hóc trong quá trình hoạt động

- Chịu tác động lớn của môi trường tự nhiên: TSCĐ của doanh nghiệp khai thác khoáng sản không chỉ hoạt động ngoài trời, mà còn hoạt động ở môi trường

Trang 32

chịu tác động của nhiều yếu tố rủi ro, các yếu tố về địa vật lý, địa hình, độ sâu, luồng lạch, điều kiện khí hậu, môi trường nước mặn, khả năng ăn mòn cao, vì vậy các loại TSCĐ đặc biệt là hệ thống máy xúc, máy khoan, máy móc cẩu thường xuyên cần được sửa chữa, nâng cấp để đảm bảo hoạt động thường xuyên của cảng

+ Chịu sự tác động công nghệ: Là ngành sử dụng nhiều máy móc trọng trường, trọng tải lớn, hiện đại và có giá trị lớn như máy cẩu, các loại xe nâng, máy khoan, vì vậy để tăng cường hiệu quả sử dụng TSCĐ, trong quá trình mua sắm và sử dụng doanh nghiệp luôn cập nhập các thông tin khoa học, kỹ thuật tiên tiến nhất để có thể mua sắm được cái loại máy móc hiện đại, có chất lượng tốt với giá thành hợp lý

+ Môi trường pháp lý: Việc sử dụng và quản lý TSCĐ phải tuân theo nhưng quy định chung của Nhà nước, cụ thể là các chính sách thuế, các quy định về hạch toán kế toán, quy định về quản lý, sử dụng, bảo dưỡng TSCĐ, khấu hao, thanh lý các loại tài sản có giá trị lớn này

+ Để mở rộng, mua sắm TSCĐ tại các doanh nghiệp khai khoáng cần một lượng vốn lớn, nguồn vốn này có thể do doanh nghiệp tự trang trải hoặc đi thuê tài chính ngắn hạn và dài hạn Thực tế, để mở rộng hoạt động của mình, các doanh nghiệp khai thác khoáng sản thường tiến hành đi thuê tài chính để xây dựng, mua sắm các loại TSCĐ này, phát sinh nhiều chi phí vốn

+ Trình độ người lao động cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản

lý, sử dụng TSCĐ trong các doanh nghiệp khai thác khoáng sản Một lực lượng lao động có chuyên môn và kỷ luật cao sẽ giúp doanh nghiệp sử dụng hiệu quả TSCĐ, kéo dài tuổi thọ các tài sản này, góp phần giảm chi phí sản xuất của doanh nghiệp

1.2.2 Thực tiễn quản lý, sử dụng TSCĐ trong các doanh nghiệp khai thác khoáng sản và bài học kinh nghiệm

a Thực tiễn quản lý, sử dụng TSCĐ trong các doanh nghiệp khai thác khoáng sản

TSCĐ là bộ phận quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp khai thác khoáng sản Các doanh nghiệp khai thác khoáng sản rất quan tâm đến công tác quản lý tài

Trang 33

sản nói chung, quản lý TSCĐ nói riêng Khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp khai thác khoáng sản có thể thấy công tác quản lý TSCĐ có những đặc điểm sau:

Bộ phận kế toán chịu trách nhiệm theo dõi, phản ánh tình hình hiện có và biến động của từng loại TSCĐ và tất cả TSCĐ của doanh nghiệp theo chỉ tiêu giá trị Đối với Công ty CP tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc, bộ phận kế toán và bộ phận sử dụng TSCĐ có trách nhiệm theo dõi, quản lý TSCĐ về mặt hiện vật, số lượng, tình trạng kỹ thuật, khả năng hoạt động của TSCĐ, ban hành tiêu chuẩn, định mức quản lý, sử dụng TSCĐ, quy trình vận hành bảo dưỡng sửa chữa TSCĐ Giữa Phòng kế toán và các bộ phận này có mối quan hệ chặt chẽ trong việc thực hiện đầu tư, thanh lý, nhượng bán, sửa chữa, điều chuyển TSCĐ

Trách nhiệm quản lý TSCĐ tại các bộ phận sử dụng trực tiếp, giao cho người quản lý các bộ phận trên cơ sở quyết định điều chuyển TSCĐ của Giám đốc biên bản giao nhận.Trên cơ sở kế hoạch SXKD của doanh nghiệp và nhu cầu sử dụng TSCĐ của các bộ phận, Phòng kế toán và bộ phận sử dụng sẽ đề nghị Giám đốc phê duyệt điều chuyển TSCĐ

Đối với sửa chữa TSCĐ, đầu năm mỗi đơn vị, bộ phận sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp có trách nhiệm kiểm tra tình trạng kỹ thuật, số lượng và chất lượng TSCĐ, lập kế hoạch sửa chữa thường xuyên, sửa chữa lớn và sửa chữa nâng cấp TSCĐ Phòng Kế toán và Phòng Tổ chức tổng hợp kế hoạch sửa chữa trong toàn doanh nghiệp, trình Giám đốc phê duyệt làm căn cứ quản lý công tác sửa chữa TSCĐ trong năm Khi tiến hành sửa chữa, trên cơ sở đề nghị của bộ phận sử dụng TSCĐ và kết quả kiểm tra của bên tư vấn kỹ thuật thuê ngoài.Giám đốc phê duyệt quyết định sửa chữa Căn cứ vào quyết toán chi phí sửa chữa, kế toán ghi nhận toàn

bộ hoặc phân bổ dần đều vào chi phí SXKD hoặc ghi tăng nguyên giá TSCĐ tùy thuộc vào từng loại sửa chữa

Việc quyết định thời gian sử dụng dự kiến để tính khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp thuộc về Hội đồng quản trị (nếu có) và ban Giám đốc, bên cạnh việc tuân thủ các quy định về trích khấu hao đối với từng loại tài sản của bộ tài chính Thẩm quyền quyết định số kỳ phân bổ chi phí sửa chữa lớn TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh thuộc về Kế toán trưởng và Giám đốc doanh nghiệp

Trang 34

Trong trường hợp thanh lý, nhượng bán TSCĐ thì thành lập hội đồng gồm: Giám đốc, Kế toán trưởng, đại diện Phòng kế hoạch, Phòng Kỹ thuật sản xuất và bộ phận sử dụng TSCĐ Việc thanh lý, nhượng bán phải được Phòng kỹ thuật sản xuất phối hợp với Phòng kế toán kiểm tra báo cáo Hội đồng kiểm kê và thanh lý tài sản, Ban giám đốc, hội đồng quản trị (nếu có) quyết định Giá thanh lý, nhượng bán do Giám đốc doanh nghiệp phê duyệt trên cơ sở đề nghị của Hội đồng thanh lý, nhượng bán

Thẩm quyền phê duyệt đầu tư, thanh lý, nhượng bán, điều chuyển TSCĐ ở các doanh nghiệp thực hiện theo quy mô tài sản, cụ thể như sau:

1 Các công ty chủ động thanh lý những tài sản kém, mất phẩm chất, lạc hậu

kỹ thuật, không có nhu cầu sử dụng, tài sản hư hỏng không thể phục hồi được, tài sản đã hết thời gian sử dụng Nhượng bán tài sản phải thông qua phương thức đấu giá công khai theo quy định Nhà nước

2 Khoản chênh lệch giữa giá trị thu hồi được khi thanh lý tài sản với giá trị còn lại của tài sản và chi phí thanh lý (nếu có) được hạch toán vào kết quả kinh doanh của Công ty

3 Giám đốc công ty quyết định thanh lý các tài sản cố định đã thu hồi vốn,

đã hết thời gian sử dụng và sau đó báo cáo với Hội đồng quản trị

4 Nhượng bán tài sản:

- Đối với những tài sản chưa thu hồi đủ vốn nhưng đã có quyết định thanh lý: Khi thanh lý, nhượng bán tài sản phải lập hội đồng giám định tình trạng kỹ thuật, giá trị và Hội đồng thanh lý, nhượng bán để tổ chức thực hiện thông báo rộng rãi và đầu giá công khai Giám đốc công ty được quyết định tài sản này

- Số tiền thu được do thanh lý, nhượng bán được hạch toán vào thu nhập khác Giá trị còn lại theo sổ sách kế toán của tài sản thanh lý, nhượng bán và chi phí thanh lý nhượng bán được hạch toán vào chi phí khác

b Bài học kinh nghiệm về quản lý, sử dụng tài sản cố định trong các doanh nghiệp khai thác khoáng sản

- Các doanh nghiệp khai thác khoáng sản đã áp dụng công nghệ thông tin vào trong quản lý hạch toán kế toán TSCĐ nhưng đa phần mức độ áp dụng chưa cao,

Trang 35

các phần mềm trong tập đoàn không thống nhất, mỗi doanh nghiệp có phần mềm khác nhau

- Cán bộ quản lý nói chung và cán bộ quản lý vận hành TSCĐ nói riêng mặc

dù đã được quan tâm nâng cao trình độ năng lực nhưng trình độ quản lý vận hành ở một số doanh nghiệp khai thác khoáng sản còn yếu

- Các doanh nghiệp khai thác khoáng sản chưa thực hiện đánh số hiệu cho TSCĐ Điều này gây khó khăn nhất định cho việc theo dõi, kiểm kê và quản lý TSCĐ trong phạm vi toàn doanh nghiệp cũng như từng bộ phận, đơn vị sử dụng Với đặc điểm là các tài sản có giá trị lớn, hiện đại đòi hỏi việc quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp bằng số hiệu là cần thiết và quan trọng

- Các hình thức đầu tư TSCĐ trong doanh nghiệp khai thác khoáng sản đơn giản, phần lớn chỉ bao gồm tăng do mua, thuê và xây dựng cơ bản, chưa khai thác các hình thức như mua trả góp, trao đổi TSCĐ Trong điều kiện khả năng tài chính còn hạn hẹp mà nhu cầu về số lượng, chủng loại và chất lượng của TSCĐ trong doanh nghiệp ngày càng cao thì cần đa dạng hóa các hình thức đầu tư sao cho phù hợp với yêu cầu sử dụng, khả năng tài chính và hiệu quả kinh tế

- Các doanh nghiệp khai thác khoáng sản mới quan tâm đến việc lập báo cáo tăng TSCĐ mà không lập báo cáo giảm TSCĐ Các trường hợp thanh lý, nhượng bán, điều chuyển, thiếu mất TSCĐ cần được phản ánh trong báo cáo giảm TSCĐ Việc không lập báo cáo một mặt không cung cấp được thông tin tổng hợp cho quản

lý về tình hình biến động giảm TSCĐ, một mặt gây khó khăn cho việc lập báo cáo TSCĐ và ghi chú bổ sung cho tăng, giảm khoản mục TSCĐ trong thuyết minh báo cáo tài chính của doanh nghiệp khai thác khoáng sản

- Hầu hết các doanh nghiệp khai thác khoáng sản chưa xây dựng quy chế tài chính nội bộ và quy chế quản lý, sử dụng TSCĐ Quy chế tài chính nội bộ quy định nội dung, trình tự ghi nhận doanh thu, chi phí, thẩm quyền phê duyệt đầu tư, điều chuyển, thanh lý, nhượng bán tài sản nói chung, TSCĐ nói riêng, nhận vốn góp, phân chia lợi nhuận, xử lý lỗ, mục đích sử dụng các quỹ, chế độ kế toán, kiểm toán… Quy trình quản lý, sử dụng TSCĐ đề cập đến các vấn đề tổ chức, kinh tế, kỹ

Trang 36

thuật trong việc đầu tư, điều chuyển, sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa, thanh lý, nhượng bán TSCĐ Việc ban hành và áp dụng quy chế tài chính nội bộ, quy chế quản lý, sử dụng TSCĐ sẽ tạo ra sự thống nhất, minh bạch và công khai trong quá trình thực hiện, làm tăng tính hiệu năng của công tác quản lý và tính hiệu quả trong quản lý, sử dụng TSCĐ

- Các doanh nghiệp khai thác khoáng sản hiện nay đều chưa tổ chức kế toán quản trị TSCĐ và chưa tiến hành phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng TSCĐ nói riêng Tất cả các phần hạch toán kế tại bộ phận kế toán, trong đó có phần hạch toán TSCĐ đều thực hiện chắc năng kế toán tài chính Việc theo dõi, quản lý về số lượng, tình trạng kỹ thuật và điều động TSCĐ thuộc về phòng kỹ thuật sản xuất Việc phân tích hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng TSCĐ không được tiến hành thường xuyên, không tổ chức bộ máy phân tích

và xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích, đánh giá.Các doanh nghiệp khai thác khoáng sản chỉ tiến hành tính toán một số chỉ tiêu phục vụ cho việc đánh giá khái quát tình hình tài chính và kết quả kinh doanh khi lập thuyết minh báo cáo tài chính vào cuối năm

1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong thời gian vừa qua, đã có nhiều tác giả tập trung nghiên cứ về TSCĐ trong doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp khai thác khoáng sản nói riêng,

có thể kể ra:

- Các nghiên cứu về phân tích hiệu quả sử dụng TSCĐ và công tác kế toán TSCĐ tại các khóa luận tốt nghiệp, các công trình nghiên cứu khoa học sinh viên hàng năm

- Hầu hết, các tập đoàn kinh tế Nhà nước, tư nhân đều có các đề tài khoa học liên quan đến TSCĐ

- Luận văn cao học của tác giả Nguyễn Minh Hải “Nghiên cứu một số giải pháp tăng cường quản lý TSCĐ ngành than, áp dụng vào Công ty kho vận và Cảng Cẩm Phả” Các giải pháp mà đề tài đã nêu ra chủ yếu đề cập đến vấn đề quản lý TSCĐ theo góc độ kế toán, còn góc độ huy động và sử dụng vốn đầu tư vào TSCĐ, vấn đề huy động TSCĐ hiện có vào sản xuất … chưa được tác giả đề cập đến

Trang 37

- Luận văn cao học của tác giả Nguyễn Thị Kim Thanh “Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài sản cố định của công ty TNHH MTV Than Dương Huy – Vinacomin” Các giải pháp mà đề tài nêu ra gắn với doanh nghiệp đặc thù là đơn vị khai thác khoáng sản, một ngành cũng giống với lĩnh vực khoáng sản các doanh nghiệp có tỷ trọng TSCĐ lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp cũng như nhu cầu đầu tư TSCĐ cao

Hầu hết các công trình khoa học liên quan đến đề tài nghiên cứu mà tác giả được biết đều phân tích, đánh giá tình hình, hiệu quả sử dụng TSCĐ và đưa ra các giải pháp sử dụng TSCĐ theo các khía cạnh khác nhau cho từng doanh nghiệp tùy theo đặc điểm của đơn vị, tuy nhiên chưa có một tài liệu nào nghiên cứu đầy đủ các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài sản cố định của Công ty CP tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc

Kết luận chương 1

Toàn bộ nội dung chương 1 đã đưa ra được các vấn đề mang tính khái quát chung về lý luận và thực tiễn quản lý TSCĐ trong các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp khai thác khoáng sản nói riêng Cụ thể:

- Đã hệ thống hóa được khái niệm, đặc điểm và phân loại TSCĐ

- Đã đưa ra được khái niệm và nội dung của quản lý TSCĐ, bao gồm các vấn

đề về mua sắm đầu tư vào TSCĐ, sử dụng TSCĐ, thống kê kế toán TSCĐ

- Đã đưa ra được những quan điểm và hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý TSCĐ Trong đó nhấn mạnh: hiệu quả quản lý TSCĐ được phản ánh gián tiếp qua các chỉ tiêu đánh giá tình hình biến động và hiệu quả sử dụng TSCĐ Bởi vì, cơ cấu đầu tư vào TSCĐ trong doanh nghiệp hợp lý, kế hoạch huy động và sử dụng TSCĐ phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh, công tác theo dõi, kiểm tra, sửa chữa TSCĐ kịp thời … thì hiệu quả sử dụng TSCĐ sẽ cao Mặt khác, việc lựa chọn cách tính khấu hao phù hợp, đánh giá đúng giá trị TSCĐ đều phản ánh chung nhất đó là hiệu quả quản lý TSCĐ tốt và ngược lại Vì vậy, đề tài đã đưa ra rất nhiều các chỉ tiêu đánh giá theo các mặt khác nhau để phản ánh hiệu quả quản lý TSCĐ

Trang 38

- Đã phân tích được các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến hiệu quả quản lý TSCĐ

- Đã tiến hành khảo sát một đơn vị khai thác khoáng sản, tiến hành phần tích những mặt được và chưa được để tìm ra nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm và biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng TSCĐ cho một đơn vị cụ thể là Công ty CP tư vấn và khai thác khoáng sản Tây Bắc các chương sau

Trang 39

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CỦA CÔNG TY CP TƯ VẤN

VÀ ĐẦU TƯ KHOÁNG SẢN TÂY BẮC 2.1 Khái quát chung về Công ty CP tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc

2.1.1 Sự hình thành và phát triển của Công ty CP tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc

2.1.1.1 Các điều kiện tự nhiên, xã hội vùng

1.Vị trí địa lý

Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc (vị trí địa lý mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây – Đông - Bắc) Phía Đông giáp Hà Tây, phía Đông Bắc giáp Vĩnh Phúc, phía Tây giáp Sơn La, phía Tây Bắc giáp Yên Bái, phía Nam giáp Hoà Bình, phía Bắc giáp Tuyên Quang Với vị trí “ngã ba sông” cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, Phú Thọ cách Hà Nội 80 km, cách sân bay Nội Bài 60 km, cách cửa khẩu Lào Cai, cửa khẩu Thanh Thuỷ hơn 200 km, cách Hải Phòng 170 km và cảng Cái Lân 200 km

Phú Thọ nằm ở trung tâm các hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường sông từ các tỉnh thuộc Tây - Đông - Bắc đi Hà Nội, Hải Phòng và các nơi khác Là cầu nối giao lưu kinh tế - văn hoá - khoa học kỹ thuật giữa các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi Tây Bắc

Phú Thọ có 12 đơn vị hành chính gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, huyện Đoan Hùng, Hạ Hoà, Thanh Ba, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn và Yên Lập Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của tỉnh; 274 đơn vị hành chính cấp xã gồm 14 phường, 10 thị trấn

và 250 xã, trong đó có 214 xã miền núi, 7 xã vùng cao và 50 xã đặc biệt khó khăn

Việt Trì nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Phú Thọ, là thành phố du lịch về với cội nguồn dân tộc Việt Nam, là kinh đô Văn Lang - kinh đô đầu tiên của người Việt

và là cửa ngõ của vùng Tây Bắc Tổ quốc, có diện tích tự nhiên 11.175,11ha, gồm

13 phường nội thị và 10 xã ngoại thị; dân số là 277.539 người (tính đến

Trang 40

31/12/2010); phía Đông giáp với huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc); phía Nam giáp huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), huyện Ba Vì (Hà Nội); phía Tây giáp huyện Lâm Thao; phía Bắc giáp huyện Phù Ninh

Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị- kinh tế- văn hoá- khoa học kỹ thuật của tỉnh Phú Thọ, là vùng đất có bề dày về lịch sử và truyền thông cách mạng Ngay từ buổi bình minh dựng nước, các vua Hùng đã chọn vùng đất này làm kinh

đô cuả nước Văn Lang- nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, các thế hệ người dân Việt Trì đã đoàn kết bên nhau khắc phục thiên tai, đấu tranh chống giặc ngoại sâm, biến đất hoang thành những cánh đồng tươi tốt, những xóm làng, phố sá đông vui, trù phú…

Hiện nay, Phú Thọ mới sử dụng được khoảng 54,8% tiềm năng đất nông – lâm nghiệp; đất chưa sử dụng còn 81,2 nghìn ha, trong đó đồi núi có 57,86 nghìn ha

Đánh giá các loại đất của Phú Thọ thấy rằng, đất đai ở đây có thể trồng cây nguyên liệu phục vụ cho một số ngành công nghiệp chế biến, nếu có vốn đầu tư và

tổ chức sản xuất có thể tăng năng suất ở nhiều nơi; đưa hệ số sử dụng đất lên đến 2,5 lần (hiện nay hệ số sử dụng đất mới đạt khoảng 2,2), đồng thời bảo vệ và làm giàu thêm vốn tài nguyên này; cho phép phát triển công nghiệp và đô thị

3 Tài nguyên rừng

Diện tích rừng hiện nay của Phú Thọ nếu đem so sánh với các tỉnh trong cả nước thì được xếp vào những tỉnh có độ che phủ rừng lớn (42% diện tích tự nhiên) Với diện tích rừng hiện có 144.256 ha, trong đó có 69.547 ha rừng tự nhiên, 74.704

ha rừng trồng, cung cấp hàng vạn tấn gỗ cho công nghiệp chế biến hàng năm Các loại cây chủ yếu như bạch đàn, mỡ, keo, bồ đề và một số loài cây bản địa đang

Ngày đăng: 21/05/2021, 16:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Tài chính (2013), Quyết định số 45/2013/QĐ-BTC ngày 25/04/2013 về ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 45/2013/QĐ-BTC ngày 25/04/2013 về ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2013
6. Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc (2010 – 2013), Báo cáo tài chính năm 2010, 2011, 2012, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tài chính năm 2010, 2011, 2012, 2013
Tác giả: Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư khoáng sản Tây Bắc
Năm: 2010 – 2013
7. PhanĐức Dũng (2006), Kế toán chi phí giá thành, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán chi phí giá thành
Tác giả: PhanĐức Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2006
9. Nguyễn Thị Bích Ngọc(2009), Bài giảng thống kê kinh tế, ĐH Mỏ - địa chất 10. Nguyễn Năng Phúc (2003), Giáo trình phân tích kinh tế doanh nghiệp, TrườngĐại học Kinh tế quốc dân, Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng thống kê kinh tế", ĐH Mỏ - địa chất 10. Nguyễn Năng Phúc (2003), "Giáo trình phân tích kinh tế doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Ngọc(2009), Bài giảng thống kê kinh tế, ĐH Mỏ - địa chất 10. Nguyễn Năng Phúc
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2003
11. Quốc hội (2005), Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH 11 ngày 29/11/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH 11
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
12. Đặng Văn Thoan – Các phương pháp toán kinh tế - NXB Giáo dục 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp toán kinh tế
Tác giả: Đặng Văn Thoan
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
13. Nhâm Văn Toán, Nguyễn Duy Lạc (1999) – Quản trị hoạt động thương mại. Bài giảng dùng cho cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành kinh tế và quản trị doanh nghiệp mỏ - địa chất, trường Đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị hoạt động thương mại
Tác giả: Nhâm Văn Toán, Nguyễn Duy Lạc
Nhà XB: trường Đại học Mỏ - Địa chất
Năm: 1999
14. Đỗ Hữu Tùng (2001), Quản trị tài chính. Bài giảng dùng cho cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành kinh tế và quản trị doanh nghiệp mỏ - địa chất, trường Đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính. Bài giảng dùng cho cao học và nghiên cứu "sinh" chuyên ngành kinh tế và quản trị doanh nghiệp mỏ - địa chất
Tác giả: Đỗ Hữu Tùng
Năm: 2001
15. Douglas, A., (2002), Capital structure and the control of managerial incentives, journal of Corporate Finance 8, 287 – 311 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Capital structure and the control of managerial incentives
Tác giả: Douglas, A
Nhà XB: Journal of Corporate Finance
Năm: 2002
1. Bộ Tài chính (2004), Thông tư số 42/2004/TT-BTC ngày 20/05/2004 hướng dẫn giám sát đánh giá hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp Khác
3. Chính phủ (2004), Nghị định số 199/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 ban hành quy chế tài chính của Công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào Doanh nghiệp khác Khác
4. Chính phủ (2006), Quyết định số 224/2006/QĐ-TTg ngày 6/10/2006 về việc ban hành quy chế giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Nhà nước Khác
5. Chính phủ (2010), Nghị định số 50/2010/NĐ - CP ngày 17/5/2010 về thu thuế tài nguyên Khác
8. Vương Huy Hùng (2001) – Quản trị sản xuất, bài giảng dùng cho cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành kinh tế và quản trị doanh nghiệp mỏ - địa chất, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w