1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm văn xuôi thanh quế

95 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 848,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông cũng đã điểm qua những trang văn xuôi đặc sắc của Thanh Quế: “Có thể nói một đặc điểm nổi bật của văn học đất Quảng, kể cả những năm sau giải phóng đến nay, là hình tượng trong sáng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

PHAN HỮU THỊNH

ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI THANH QUẾ

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đình Vĩnh

Đà Nẵng - Năm 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

PHAN HỮU THỊNH

ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI THANH QUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng, Năm 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phan Hữu Thịnh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

MỞ ĐẦU 3

Chương 1 THANH QUẾ - CUỘC ĐỜI VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT 16

1.1 THANH QUẾ - “NHÀ VĂN MIỀN CÁT CHÁY QUẢNG ĐÀ” 16

1.1.1 Từ học sử đến viết văn 16

1.1.2 Thành tựu sáng tác và giải thưởng văn học 19

1.2 QUAN NIỆM VỀ VĂN CHƯƠNG 21

1.2.1 Quan niệm về thơ 21

1.2.2 Quan niệm về văn xuôi 24

1.2.3 Quan niệm về bút kí, phê bình văn học 26

Chương 2 CÁC PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG VĂN XUÔI THANH QUẾ 31

2.1 HỆ THỐNG ĐỀ TÀI 31

2.1.1 Chiến tranh và người lính 31

2.1.2 Cuộc sống và con người sau 1975 38

2.2 CẢNH SẮC THIÊN NHIÊN 40

2.2.1 Thiên nhiên khắc nghiệt, dữ dội 40

2.2.2 Thiên nhiên thơ mộng, trữ tình 42

2.2.3 Thiên nhiên gắn với bản sắc văn hoá 45

2.3 THẾ GIỚI NHÂN VẬT 49

2.3.1 Người lính bước ra từ cuộc chiến 49

2.3.2 Thân phận người phụ nữ 54

2.3.3 Thế giới tuổi thơ 62

Trang 5

Chương 3 NHỮNG PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CHỦ YẾU TRONG

VĂN XUÔI THANH QUẾ 66

3.1 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT 66

3.1.1 Không gian núi rừng 67

3.1.2 Không gian làng quê 70

3.2 THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 72

3.2.1 Thời gian sinh hoạt đời thường 73

3.2.2 Thời gian hồi tưởng 75

3.3 NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU 77

3.3.1 Ngôn ngữ giàu chất thơ 77

3.3.2 Ngôn ngữ nhân vật 78

3.3.3 Giọng điệu trần thuật 81

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Quảng Nam – Đà Nẵng là mảnh đất có bề dày văn hóa lâu đời trong lịch sử dân tộc Việt Nam Mảnh đất đã từng chịu nhiều đau thương mất mát trong chiến tranh và đã sản sinh ra biết bao anh hùng, thi sĩ Tiếp nối vào sự thành công của các nhà văn đi trước như Nguyên Ngọc, Khương Hữu Dụng,

Võ Quảng, Phan Tứ…, Thanh Quế đã góp một tiếng nói đầy chân thành của mình qua những vần thơ và những trang văn xuôi đặc sắc Vì thế, việc nghiên

cứu đề tài : Đặc điểm văn xuôi Thanh Quế nhằm góp thêm một tiếng nói, hiểu

thêm những giá trị của văn xuôi Thanh Quế trong dòng chảy của văn học Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung

Thanh Quế thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành từ những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước Người đọc sẽ không quên được ông với những vần thơ mang đậm chất hiện thực, mang hương vị của miền quê xứ

Quảng như Trước nhà em sông Vu Gia, Trưa 30 tháng 4… Song có lẽ văn

xuôi là nơi ông thể hiện đầy đủ nhất những đặc điểm sáng tạo nghệ thuật trong hơn 40 năm cầm bút của mình Người đọc sẽ không thể nào quên được

những tiểu thuyết Cát cháy, Rừng trụi, những truyện ngắn Mùa mưa, Mai, Bếp lửa làng Tà Băng, Kẻ đào ngũ…hay những tập hồi kí Về Nam, Những gương mặt những kỉ niệm Do đó, nghiên cứu đề tài Đặc điểm văn xuôi Thanh Quế để thấy được những đóng góp của ông trong việc mạnh dạn mở ra nhiều

chiều khi tiếp cận hiện thực đời sống với cái nhìn đi sâu vào những vấn đề nhân bản của thân phận con người

2 Lịch sử vấn đề

Trong hành trình nghệ thuật của mình, Thanh Quế đã để lại 13 tập thơ

và 31 tập văn xuôi Những sáng tác thơ của ông ra đời từ những năm tháng của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước với những tác phẩm để lại dấu ấn

Trang 7

sâu đậm Như là sự tiếp nối tự nhiên của dòng chảy văn học dân tộc, sáng tác văn xuôi của Thanh Quế như tiếp thêm vào nguồn chung của văn học Việt Nam từ trước năm 1975 Có thể nói sáng tác văn xuôi của ông chỉ được viết

và hoàn thiện từ sau năm 1975 Cho đến nay, đã có những bài viết về thơ, về văn Thanh Quế song chưa có một công trình nào tập hợp và nghiên cứu đầy

đủ về đặc điểm văn xuôi Thanh Quế

Có thể điểm qua một số công trình có liên quan đến đề tài như sau:

Trong công trình Về một vùng văn học do Viện Văn học Việt Nam và

Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Nam – Đà Nẵng xuất bản 1983, tác giả Hồ

Hoàng Thanh có bài Góp khúc dạo đầu, ở bài viết này tác giả đã điểm qua

những nét nổi bật của văn học Quảng Nam – Đà Nẵng sau 1975 đặc biệt là ở lĩnh vực văn xuôi Ông cũng đã điểm qua những trang văn xuôi đặc sắc của Thanh Quế: “Có thể nói một đặc điểm nổi bật của văn học đất Quảng, kể cả những năm sau giải phóng đến nay, là hình tượng trong sáng và đẹp đẽ của nhân dân, những con người bình thường, giản dị mà rất đỗi anh hùng, cao thượng, được khắc hoạ khá rõ (…) Còn đọng lại trong trí nhớ chúng ta là hình ảnh các bà mẹ đào hầm, canh hầm, các cô giao liên, du kích vùng Đông

(Mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ), hình ảnh của bà cụ trụ bám trong Bà và cháu (Thanh Quế)…” Hay khi nói về tiểu thuyết Cát cháy, Hồ Hoàng Thanh

nhận xét: “Với dung lượng của một tập truyện vừa viết về đội thiếu niên du

kích Hoà Hải, Cát cháy (Thanh Quế) đã thể hiện những hoạt động gan dạ và

thông minh về nhiều mặt của các em, đặc biệt là để nuôi giấu và giúp đỡ đắc lực cho đội du kích và cán bộ bám trụ, nhằm thất bại các thủ đoạn bình định dồn dân, tát nước bắt cá của Mĩ nguỵ ” [19, tr.245]

Cũng tác giả Hồ Hoàng Thanh trong bài viết “Thanh Quế và con người

bình thường”, Tạp chí Đất Quảng số 27, tr 96, 1984 đã có nhận xét: “Nếu thơ

Thanh Quế chủ yếu là tiếng nói trữ tình thầm thì của những nỗi niềm tâm sự,

Trang 8

thì văn Thanh Quế lại là những bức chân dung của những tính cách bình thường vừa là những bức tranh thuỷ mặc toàn cảnh về quần chúng nhân dân với những nét chấm phá chân phương mà khơi gợi” [34, tr.96] Cũng trong bài viết này, tác giả cũng đã điểm qua những sáng tác thơ văn của Thanh Quế, những đặc sắc trong những truyện ngắn, truyện vừa của ông, cùng với đó là những miêu tả sinh động về thế giới nhân vật trong văn xuôi của ông

Nguyễn Minh Hùng trong bài viết Chất Thanh Quế, in trong Văn chương nhìn từ góc sân trường, NXB Văn học, Hà Nội 2003, nhận xét:

“Đừng mong tìm trên trang viết của ông kiểu cấu trúc tân kỳ, ngôn ngữ óng chuốt, những cách nói đa nghĩa đa tầng…Đọc ông không quen, dễ có cảm giác nhạt, cũ Không phải ông không biết điều ấy, mà ngược lại, đấy là ý thức nghệ thuật của Thanh Quế Ý thức ấy được hình thành một cách tự giác từ những năm tháng trẻ trai khi ông còn đứng ngoài cánh rừng văn chương đại ngàn và dải Trường Sơn của cuộc kháng chiến bi hùng hàng nghìn cây số” [6, tr.72]

Trong tuyển Văn (tác giả - tác phẩm Đà Nẵng đạt giải 1975 – 2005)

NXB Đà Nẵng 2005, trong phần viết về văn Thanh Quế, tác giả Ngô Vĩnh Bình nhận xét: “Nét nổi bật dễ thương trong truyện ngắn Thanh Quế là giàu chất thơ và tải chở, giãi bày được những hiện thực bị khuất lấp, đặc biệt là đời sống những năm chiến tranh ở một vùng quê nổi tiếng là gian khổ, ác liệt nhưng trung kiên – vùng quê xứ Quảng Truyện ngắn Thanh Quế là những truyện chủ yếu viết về chiến tranh nhưng ở đây tiếng súng dường như rất thưa Ấy không phải là những trang tả trận, những dòng mang đậm hơi thở của chiến trường, với những trận đánh bom rơi, đạn lạc và khói lửa tơi bời nhưng lại lột tả được tinh thần quật khởi, ý chí quyết chiến, quyết thắng cũng như sự hi sinh lớn lao và cao cả của những người dân Không phải ngẫu nhiên

mà nhân vật trong các truyện ngắn của anh đa phần là phụ nữ Phụ nữ trong

Trang 9

chiến tranh xưa nay bao giờ cũng là những người chịu đựng hi sinh nhiều nhất” [25, tr.443] Những lời đánh giá trên của tác giả Ngô Vĩnh Bình sẽ giúp người đọc phần nào hiểu hơn về văn xuôi Thanh Quế

Trong Báo cáo khoa học cấp thành phố năm 2006 với đề tài: Văn xuôi Quảng Nam – Đà Nẵng sau năm 1975 – những vấn đề lý luận và thực tiễn, do

TS Phan Ngọc Thu chủ trì, khi đánh giá về những chặng đường vận động và phát triển của văn xuôi Quảng Nam – Đà Nẵng từ 1975 đến đầu những năm

1980 có đoạn: “Bước vào giai đoạn này, ngay từ những năm đầu sau ngày quê hương giải phóng, chưa kể tác phẩm của các nhà văn đã từng bám trụ trên chiến trường Quảng Đà, nhưng sau 1975 do yêu cầu công tác đã chuyển đi nơi khác, chỉ cần sơ bộ điểm lại sáng tác của những cây bút vẫn tiếp tục sống

và làm việc tại chỗ, cũng có thể thấy được dòng chảy không dứt của mạch văn

xuôi dào dạt ấy Nhà văn Phan Tứ hoàn thành tập ký xuất sắc Mưa trong núi

và bộ tiểu thuyết sử thi hoành tráng Người cùng quê (…) Thanh Quế như

không thể nói hết được vốn sống và những điều đã cảm, đã nghĩ bằng thơ đã

có ngay những truyện ngắn Mùa mưa, Bà mẹ vui tính, Trong lòng hồ…”

Trong phần đánh giá về lực lượng sáng tác, các tác giả của đề tài cũng đã khẳng định vị thế của Thanh Quế trong văn xuôi Quảng Nam – Đà Nẵng sau năm 1975: “Sau bao năm trường đánh giặc trong hồi ức của nhiều văn nghệ sĩ

cả nước, Quảng Nam – Đà Nẵng đã từng là cái nôi vĩ đại vẫy gọi, hội tụ, chở che và nuôi dưỡng biết bao người con văn nghệ Từ Phan Tứ (Lê Khâm), Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc), Nguyễn Chí Trung…đến Dương Hương Ly, Dương Thị Xuân Quý, Chu Cẩm Phong, Nguyễn Trí Huân, Thanh Quế, Ngân Vịnh, Thái Bá Lợi, Ngô Thế Oanh, Hồ Duy Lệ, Nguyễn Trác, Nguyễn Bá Thâm, Vũ Thị Hồng, Trung Trung Đỉnh…đều một thời gắn bó máu thịt sống và chiến đấu oanh liệt trên mảnh đất có dòng sông Thu Bồn

“thơ mộng và dữ dội này” ” [35, tr.17]

Trang 10

Trên báo Văn nghệ Trẻ, số 16 (543) ngày 22/04/2007, tác giả Văn Công Hùng có bài viết dành hẳn về Thanh Quế, Nhà văn miền “Cát cháy” Quảng

Đà Trong bài viết này tác giả đã đánh giá về cuộc đời, con người và văn

chương Thanh Quế, trong đó có đoạn: “Thuở còn sinh viên, lứa như chúng tôi

đã được đọc văn của ông, những tác phẩm viết về chiến tranh, nóng hôi hổi mùi bom đạn và trắng đến nhức mắt, khô không khốc những cồn cát miền Trung mà chúng tôi ở miền Bắc thời bấy giờ đọc văn của ông mới biết Ông đồng lứa với các nhà văn Chu Cẩm Phong, Trần Vũ Mai, Bùi Minh Quốc, Dương Thị Xuân Quý, Cao Duy Thảo… những người đã gắn cả tuổi trẻ của mình vào chiến trường Quảng Đà khốc liệt Rất nhiều nhà văn đã mãi mãi nằm lại ở vùng đất này, có người đến giờ vẫn chưa tìm thấy di hài (…) Và vì thế, nhà văn Thanh Quế bây giờ ngoài việc viết văn như trả món nợ với cuộc đời, với quê hương, còn lặng lẽ làm một cái việc là viết hồi kí về những tháng ngày hào hùng đã qua ấy, về những nhà văn, những văn nghệ sĩ đồng đội đã anh dũng ngã xuống với tư thế là những người lính Văn, thơ, hồi kí là ba thể loại đang song hành cùng ông Ông cũng viết rất nhiều cho thiếu nhi, điều mà không phải nhà văn chuyên nghiệp nào cũng làm được” [7, tr.19]

Phương Mai trong Tạp chí Non nước số 175, tr.53, 2012 có bài Những trang viết mơ ước hướng về tuổi thơ bàn về những sáng tác cho thiếu nhi của

Thanh Quế: “Trong xu thế đó, nhìn lại những thập niên qua, tại Thành phố Đà Nẵng, bên cạnh những nỗ lực của nhiều lĩnh vực trong hoạt động văn học, phải nhìn nhận đã có không ít các đơn vị, tổ chức xuất bản và đặc biệt là một đội ngũ cầm bút có những đóng góp không nhỏ để đem đến cho tuổi thơ

những tác phẩm tâm huyết nhất của mình Về thơ có thể nhắc đến những tác

giả với nhiều tác phẩm có tiếng vang như: Ngân Vịnh, Đông Trình, Huy Lộc, Trương Văn Ngọc, Đỗ Xuân Đồng, Bùi Xuân, Trần Khắc Tám, Hoàng Minh Nhân Về văn có Đà Linh, Nguyễn Kim Huy, Thanh Quế, Quế Hương,

Trang 11

Nguyễn Thị Thu Hương, Trần Trung Sáng, Bùi Tự Lực, Trần Kỳ Trung (…) Nhìn lại những thành tựu về văn học thiếu nhi, sau 15 năm Thành phố Đà Nẵng trở thành đơn vị hành chính độc lập trực thuộc Trung ương (1997-2012), đặc biệt, ở lĩnh vực văn xuôi, với những tác phẩm đã ấn hành, được bạn đọc nhỏ tuổi đón nhận và yêu mến, có thể nhắc đến một số gương mặt điển hình như: Nhà thơ Thanh Quế, tác giả của hơn 30 tác phẩm, gồm nhiều thể loại Trong đó, các tác phẩm của anh viết về thiếu nhi vẫn thường được nhắc nhiều hơn Cụ thể, ngoài tiểu thuyết “Cát cháy” từng đoạt giải thưởng lớn của Hội Nhà văn Việt Nam, anh còn có các tác phẩm “Hái tiếng chim” (thơ), “Cuộc phiêu lưu của con chó nhỏ”, “Những truyện rút từ túi áo” (truyện thiếu nhi) ” [14, tr.47]

Cũng viết về văn học thiếu nhi, tác giả Ngọc Thanh trong bài viết Cần

có một đội ngũ chuyên nghiệp sáng tác văn học cho thiếu nhi, in trong Văn học nghệ thuật trên chặng đường mới do Liên hiệp các Hội Văn học nghệ

thuật thành phố Đà Nẵng năm 2008 có nhận xét: “Trong thời gian chống Mĩ, lực lượng sáng tác khu V và Quảng Nam – Đà Nẵng cũng ít viết cho thiếu nhi, mà lo phục vụ công tác sản xuất và chiến đấu Tuy vậy, có một số nhà văn, nhà thơ như Thu Bồn, Phan Tứ, Chu Cẩm Phong, Cao Duy Thảo, Bùi Minh Quốc, Thanh Quế cũng có những truyện ngắn và thơ nêu lên những tấm gương chiến đấu và phục vụ chiến đấu của những em bé Nhưng hầu hết các anh chỉ đáo qua thôi, chỉ có Bùi Minh Quốc và Thanh Quế là tiếp tục viết Và

sau chiến tranh, với tác phẩm của mình (Bùi Minh Quốc với Hồi đó ở Sa Kỳ, Những Con tem kì lạ; Thanh Quế với Chuyện từ một truyền thuyết, Cát cháy, Rừng trụi, Cuộc phiêu lưu của con chó nhỏ, Những câu chuyện rút từ túi áo )

đã trở thành những cây bút chủ lực viết cho thiếu nhi” [25, tr.87]

Cũng trong chuyên luận trên, chính Thanh Quế trong bài viết Mảnh đất màu mỡ cho tiểu thuyết phát triển, đã nhận xét: “Sau khi nước nhà hoàn toàn

Trang 12

giải phóng, một số cây bút trưởng thành từ chống Mỹ đã tham gia viết tiểu

thuyết kẻ nhiều người ít như Thái Bá Lợi với Thung lũng thử thách, Họ cùng thời với những ai, Bán đảo; Bùi Minh Quốc với Hồi đó ở Sa Kỳ; Thanh Quế với Cát cháy, Rừng trụi; Đoàn Xoa với Tháng ngày nghiệt ngã và Huyền thoại suối Hoa; Huỳnh Thảng với Ra đi lúc trời còn tối; Lưu Trùng Dương với Họ đi tìm thiên đường; Hoàng Minh Nhân với Quảng Nam yêu dấu và Ngọn lửa đá; Nguyễn Khắc Phục với Học phí trả bằng máu, Thành phố đứng đầu gió, Khát vọng… đấy là những tác phẩm được Hội Nhà văn Việt Nam và

các cơ quan văn học ở Trung ương và địa phương trao giải thưởng” [25, tr.110]

Tác giả Nguyễn Kim Huy thì cho rằng: “Truyện của Thanh Quế là truyện của một nhà thơ Chất thơ bàng bạc trong các truyện, từ cách lựa chọn chủ đề, đề tài đến kết cấu, diễn tiến truyện và tính cách của nhân vật Ở truyện Thanh Quế, phần kịch tính truyện nhường chỗ cho tiếng ngân đầy sức rung động của âm hưởng một bài thơ, ngôn ngữ truyện và ngôn ngữ nhân vật đan xen đan xen hài hòa giữa chất sinh động đời thường của truyện và sự êm dịu giàu biểu cảm của thơ Đọc truyện, nhiều khi có cảm giác như đang đọc một bài thơ (…) Người đọc có thể nhận ra một câu hỏi lớn luôn được đạt ra ở các truyện Thanh Quế: Tại sao những con người tốt bụng thường gặp điều oan khuất, tại sao những con người tốt không sớm nhận ra, không đoàn kết lại để cùng ra tay chặn đứng cái ác ? Đấy là tiếng nói trung thực đầy trách nhiệm từ lương tâm nhà văn chân chính, cũng là yếu tố quan trọng để hình thành giá trị nhân văn và sức sống lâu dài của một tác phẩm văn học Truyện Thanh Quế

có sự lôi cuốn, rung động bởi chính yếu tố quan trọng ấy Nhân vật của Thanh Quế thường là những con người bình thường, khuất mình vô danh, thầm lặng như cây giữa rừng, lúa giữa đồng, ngôi nhà giữa xóm làng thân quen…và đó chính là cuộc đời, là hoá thân của bao nhiêu số phận qua bao thời kì biến động

Trang 13

của Con Người, Đất Nước thân yêu này – và ở đó, có biết bao vấn đề cần được nói đến, cần được bộc lộ trên các trang sách và cả ở thực tế cuộc sống” [31, tr.788]

Tóm lại, qua việc điểm lại các công trình nghiên cứu về văn xuôi Thanh Quế, có thể thấy các tác giả cũng chỉ dừng lại ở một khía cạnh nào đó khi nói về văn xuôi Thanh Quế Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và hoàn chỉnh về đặc điểm văn xuôi Thanh Quế Vì thế, trên cơ sở kế thừa và tiếp thu những ý kiến của những tác giả đi trước chúng tôi sẽ làm rõ hơn những đặc điểm văn xuôi Thanh Quế qua luận văn này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những đặc điểm văn xuôi Thanh Quế nhìn từ các phương diện nội dung và nghệ thuật

Song, văn xuôi vẫn là một khái niệm rộng, ở đề tài này chúng tôi chỉ

hướng đến những sáng tác văn xuôi nghệ thuật: truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, bút kí

Trang 14

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trung sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

4.1 Phương pháp vận dụng lí thuyết thi pháp học: Vận dụng phương

pháp này để nghiên cứu đặc điểm văn xuôi Thanh Quế trong tính chỉnh thể hình thức và nội dung, chỉ ra hình thức mang tính quan niệm của từng yếu tố tham gia cấu thành tác phẩm

4.2 Phương pháp thống kê, phân loại: Vận dụng phương pháp này để

làm căn cứ xác đáng cho những nhận định

4.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đây là phưong pháp được coi

là điều kiện cần và đủ tiến hành nghiên cứu, bởi vì chỉ trên cơ sở phan tích những vấn đề đặt ra, chúng ta mới có thể rút ra được những nhận định khái quát, từ đó đánh giá một cách khách quan tính cấp thiết của đề tài trên cơ sở những gì đã phân tích, làm rõ

có được những so sánh, đối chiếu cần thiết để thấy được sự vận động trong thi pháp cũng như những đóng góp mang bản sắc riêng của tác giả so với các nhà văn cùng thời

5 Đóng góp của đề tài

Với đề tài này, chúng tôi mong muốn sẽ tiếp cận được những khía cạnh

cơ bản nhất đã làm nên đặc trưng văn xuôi Thanh Quế, để từ đó có thể xác định được những đóng góp của nhà văn đối với văn học Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng và nền văn học hiện đại Việt Nam nói chung Đồng thời, chúng tôi sẽ chỉ ra những điểm thống nhất xét từ quan niệm nghệ thuật đến thực tiễn sáng tác của ông

Trang 15

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn

gồm có 3 chương:

Chương 1: Thanh Quế - cuộc đời và hành trình sáng tạo nghệ thuật

Chương 2: Các phương diện nội dung cơ bản trong văn xuôi Thanh Quế

Chương 3: Những phương thức thể hiện chủ yếu trong văn xuôi Thanh Quế

Trang 16

Chương 1 THANH QUẾ - CUỘC ĐỜI VÀ HÀNH TRÌNH

SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT1.1 THANH QUẾ - “NHÀ VĂN MIỀN CÁT CHÁY QUẢNG ĐÀ”

1.1.1 Từ học sử đến viết văn

Nhà văn Thanh Quế tên thật là Phan Thanh Quế sinh ngày 26/2/1945, tại xã An Chấn, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên trong một gia đình trí thức yêu nước Cha ông là một bác sĩ nổi tiếng cả về Tây y lẫn Đông y Ông là con cả trong một gia đình có năm anh em Các em ông sau này đều là những kỹ sư, bác sĩ, nhà giáo, đều tham gia kháng chiến chống Mỹ, có người đã hy sinh, có người mang thương tật suốt đời “Tuổi thơ ông gắn bó với tiếng sóng vỗ ì ầm

từ làng biển Ma Liên vọng về Phú Thạnh những đêm biển động, với con bàu Ngòi nước lợ đầy bông súng, tôm cá mà ông thường cùng bạn bè rủ nhau đi tắm, đi câu; với những gốc bàng gốc đa Chợ Xồm và những động cát chảy dài

về phía biển nơi ông vẫn thường xuyên cùng chúng bạn nghịch đùa”

Thanh Quế được vào học ở các trường học sinh miền Nam nội trú Tại đây, ông say mê đọc sách văn học và tập làm thơ Thơ của ông đã được in ở các sách báo khi ông còn là một học sinh phổ thông Năm 1963, ông vào học Khoa Sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Tuy học Sử nhưng ông vẫn miệt mài đọc sách văn học và sáng tác được một số bài thơ in trên các sách báo ở

Hà Nội Sau khi tốt nghiệp đại học, ông trở lại miền Nam Việt Nam làm phóng viên mặt trận cho tờ tạp chí Văn nghệ giải phóng Trung Trung bộ, vừa biên tập, vừa viết văn, làm thơ, vừa viết báo Ông đã sống với bộ đội, du kích, cán bộ và những bà mẹ bám trên chiến trường miền Trung từ Quảng Nam -

Đà Nẵng đến Khánh Hòa Từ đây, ông đã sáng tác được những bài thơ hay

mà sau này được đưa vào các tuyển tập lớn như Trước nhà em sông Vu Gia,

Trang 17

Nhớ Người, Thăm chồng (được dịch ra tiếng Pháp) và các truyện, ký: Những

em bé chăn bò Nhạn Phú, Mùa mưa, Những người du kích Gò Nổi…

Sau khi miền Nam Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, ông tham gia trại sáng tác văn học Quân khu V Chỉ trong ba năm, ông viết và cho in hàng loạt tác phẩm: Tình yêu nhận từ đất (thơ), Chuyện từ một truyền thuyết (truyện ngắn),

Thung lũng Dắc Hoa (truyện ngắn) Năm 1980, ông được điều ra Hà Nội làm biên

tập viên văn xuôi tạp chí Văn nghệ Quân đội Tại đây, ban ngày túi bụi với công tác biên tập, ban đêm ông sáng tác và sửa chữa tác phẩm của mình để

có được tiểu thuyết Cát Cháy và hàng loạt truyện ngắn và thơ Năm 1983, ông giải ngũ trở về Quảng Nam - Đà Nẵng nơi ông đã từng sống và chiến đấu trong những năm chiến tranh, làm phó Tổng biên tập rồi tổng biên tập Tạp chí Đất Quảng của Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Nam Đà Nẵng Bận rộn bao nhiêu việc nhưng ông đã có trong đời viết văn hơn 30 tập thơ, truyện, tiểu thuyết, bút kí – chân dung văn học được xuất bản, một thành quả không thể nói là nhỏ so với một đời người – một đời văn

Thanh Quế sáng tác đều đặn, hầu như năm nào ông cũng xuất bản được một quyển sách, có khi là văn, có khi là thơ, có khi là tác phẩm viết cho các

em, có khi là tác phẩm viết cho người lớn Nhưng dù viết thể loại nào, viết cho ai thì đề tài chiến tranh cách mạng vẫn là đề tài chính của ông Những nhân vật chính trong tác phẩm ông viết là những con người bình thường, vô danh, khuất mình lẫn trong hàng triệu người khác Họ chính là nhân dân, nhân dân ngàn đời làm nên những kỳ tích lớn lao cho thế giới này Đến nay ông đã có 13 tập thơ và 31 tập bao gồm tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn Đáng chú ý là tiểu thuyết Cát cháy, tập thơ Những tháng năm vay mượn, 11 truyện ngắn

và tập hồi ký chân dung văn nghệ Về Nam Cát cháy (in năm 1983) là cuốn tiểu thuyết viết về sự dũng cảm và mưu trí của các em nhỏ trong một đội du kích thiếu niên ở vùng ven Đà Nẵng Tuy viết về thiếu nhi nhưng cuốn sách đã

Trang 18

phản ánh được cuộc chiến tranh nhân dân của đồng bào miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Cuốn sách được giải cao của Hội Nhà văn Việt Nam và Trung ương đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh vào năm

1982 Tập thơ Những tháng năm vay mượn (in năm 1993) là một tuyển thơ của Thanh Quế viết về chiến tranh, về quê hương, gia đình, về những suy ngẫm

về cuộc đời nhân tình thế thái Nhà thơ như nhắc nhở mọi người: Cuộc đời con người ngắn lắm, chúng ta phải biết yêu thương nhau, bao dung độ lượng nhau vì ai rồi cũng sẽ trở về với cát bụi Tập thơ đã bắt đầu đạt đến độ sâu lắng cô đọng của một người đã có nhiều trải nghiệm trong cuộc đời Tập thơ

đã được giải thưởng của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam năm 1994 Hầu như ra đời cùng một lúc với tập thơ này là tập

11 truyện ngắn (in năm 1994) gồm những truyện viết về chiến tranh của Thanh

Quế Nói như Ngô Vĩnh Bình một nhà phê bình văn học của Việt Nam thì dù viết về chiến tranh nhưng dường như ở đây rất thưa tiếng súng Đó không phải là những trang "tả trận", đậm đặc hơi thở chiến trường với bom rơi đạn lạc, khói lửa tơi bời nhưng đã lột tả được tinh thần quật khởi, ý chí quyết chiến quyết thắng cũng như những hy sinh lớn lao và cao cả của nhân dân Tập truyện đã được tặng là tập sách hay trong năm 1994 của Nhà xuất bản Đà

Nẵng Tập truyện Bếp lửa làng Tà Băng, được Nhà xuất bản Quân đội Nhân

dân xuất bản năm 1998 và được tặng phẩm của Bộ Quốc phòng năm 1999, nhân dịp kỷ niệm 45 năm thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam Một số truyện ngắn trong tập này trước đó đã được dịch sang tiếng Nga, Anh, Pháp như các truyện Dì Út, Bà mẹ vui tính, Mai. Truyện Hai người bạn đã được Tạ Xuyên, một nhà biên kịch và đạo diễn có tiếng chuyến sang kịch nói vói tên Thời gian không im lặng đã diễn trên 300 lần và được giải thưởng của Bộ Quốc phòng Việt Nam

Vào độ tuổi 50 "Tri thiên mệnh", Thanh Quế hay suy nghĩ nhiều về

Trang 19

quá khứ Trong cuốn hồi ký chân dung văn nghệ Về Nam (in năm 1996), ông

viết về bản thân mình và đồng đội cùng thế hệ mình tham gia vào cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam Như một nhà thơ cùng thế hệ ông nhận xét: “Đó

là những trang hồi ức cảm động về thời đánh Mỹ không dễ gì có được, là nén hương dâng lên những người đã khuất và được lan tỏa trong những trái tim đồng vọng”

1.1.2 Thành tựu sáng tác và giải thưởng văn học

Làm thơ từ khi còn là học sinh lớp 5 trường học sinh miền Nam trên đất

Bắc Năm 1962 đăng thơ ở Báo Văn học (nay là Văn nghệ) với 2 bài Đêm trời trong và Gửi ngoại yêu Năm 1963 vào đại học Tổng hợp sử, vẫn tiếp tục làm

thơ Sau khi tốt nghiệp Đại học đã vào chiến trường, công tác ở Hội văn nghệ giải phóng Trung Trung Bộ, thời kì này này viết chuyên nghiệp hơn, có thơ

và kí, truyện (viết từ 1972) đăng trên tạp chí Văn nghệ giải phóng Trung Trung Bộ và các báo cáo Trung ương như Văn nghệ Quân đội, Văn nghệ Sau giải phóng ở trại sáng tác văn học Quân khu V Năm 1980 công tác ở Tạp chí Văn nghệ quân đội và viết tiểu thuyết Cát cháy, được giải thưởng Hội Nhà

Văn Việt Nam và Trung Ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh năm 1981 Năm 1983 trở về công tác ở Hội Văn Nghệ Quảng Nam – Đà Nẵng (sau năm 1997 là Hội Văn Nghệ Đà Nẵng) Đến nay đã xuất bản trên 40 tác phẩm bao gồm: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, chân dung văn nghệ, bút kí

và hàng trăm bài báo

Tác phẩm chính đã xuất bản:

Về thơ: Tình yêu nhận từ đất (cùng 3 tác giả khác, 1977); Trong mỗi ngày đời tôi (1986), Giãi bày (1988); Những tháng năm vay mượn (1993); Mé biển đời tôi (2000); Người lính đi đầu (trường ca – 2003); Một gạch và chuyển động (2006); Thơ Thanh Quế (2008);…

Trang 20

Về văn: Chuyện từ một tiểu thuyết ( tập truyện ngắn – 1978); Cát cháy

(tiểu thuyết 1983); Trong lòng hồ (tập truyện ngắn 1984); Rừng trụi (tiểu thuyết 1987); 11 truyện ngắn (1994); Về Nam (hồi kí, chân dung văn nghệ 1996); Bếp lửa làng Tà Băng ( truyện ngắn 1998); Từ những trang đời (chân dung văn nghệ 2000); Truyện kí và chọn lọc (2003); Thị trấn em kết nghĩa (truyện ngắn 2005); Chuyện ở miền cát cháy (2009); Tuyển tập Truyện ngắn

Thanh Quế (2011); Kẻ đào ngũ (truyện 2011)…

Giải thưởng văn học:

- Giải nhì (không có giải nhất) cho tiểu thuyết Cát cháy của Hội Nhà

Văn Việt Nam và Trung ương Đoàn thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh năm

1981

- Giải nhì cho tập thơ Những tháng năm vay mượn của Ủy ban toàn

quốc Liên Hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 1994

- Tặng thưởng cho tập truyện Bếp lửa làng Tà Băng của Bộ Quốc

phòng năm 2000

- Tặng thưởng loại A hai lần ( 1975 – 1985) và (1985 – 1995) của Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cho toàn bộ tác phẩm

- Giải nhì (không có giải nhất) cho Trường ca Người đi lính đầu của Ủy

ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng (1997 – 2005)

- Giải A cho tập thơ Một gạch và chuyển động của Liên Hiệp Văn học

nghệ thuật thành phố Đà Nẵng năm 2007

- Giải B cho tác phẩm Một gạch và chuyển động – Giải thưởng Văn học

nghệ thuật của UBND thành phố Đà Nẵng lần II (2005 – 2010)

- Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2012

Trang 21

1.2 QUAN NIỆM VỀ VĂN CHƯƠNG

1.2.1 Quan niệm về thơ

Bước ra từ cuộc chiến tranh khốc liệt giải phóng dân tộc, trong bài thơ

Nói với một người anh để tưởng nhớ nhà thơ Lê Anh Xuân, Thanh Quế đã viết:

Tôi thấy những tháng năm đời mình còn lại

Là những tháng năm vay mượn của các anh Những người đã khuất

Nhà thơ đã viết lên những dòng xúc động và cũng mang đầy nỗi trăn

trở của cả những tháng năm còn lại của mình, đó là những tháng năm vay mượn của các anh, qua những câu thơ trên ta càng hiểu hơn những quan niệm

sáng tác về thơ của ông Nói như Nguyễn Nhã Tiên: “Sức sống của bản thân thơ Thanh Quế là đòi hỏi ở sự tiếp nhận, không hề có sự cảm tính nào mà phải

tư duy cùng tác giả, trăn trở cùng tác giả để xác định đúng đắn những thẩm giá của thơ, gợi mở ra những nguồn mỹ cảm không hồi kết thúc” Nguyễn Kim Huy thì cho rằng: “Đọc thơ văn, bút kí và chân dung văn nghệ của Thanh Quế sau chiến tranh, càng ý thức trách nhiệm trên, tinh thần nghĩa nặng sâu với những người đã khuất trong cuộc chiến đã trở thành những nỗi niềm thường trực trong thơ văn ông, hiện diện thấm đẫm và cuộn quyện vào nhau

để trở thành những hình tượng nghệ thuật tỏa sáng trên từng trang viết của anh Khi ngẫm nghĩ những trang thơ Thanh Quế, chúng ta sẽ cảm nhận được những vần thơ giản dị đến trụi trần, như sự thật” Từ những thử thách khốc liệt của chiến tranh đã làm nên một thế hệ nhà thơ đầy bản lĩnh trong đó có Thanh Quế, để rồi khi đưa vào trang viết của mình thì chiến tranh và người lính đã trở thành đề tài xuyên suốt trong sáng tác của ông Vì thế, những trang thơ của ông không mang vẻ óng mượt của ngôn từ mà mang cái đẹp của sự thành thật , trần trụi, thô mộc

Trang 22

Nhà thơ Trúc Thông từng nhận định: “Có một nguồn ánh sáng dịu dàng trong thơ Thanh Quế Không chói lọi rực rỡ, đây là nguồn trong của tình thương, của điều kiện Nguồn trong ấy, lọc ra ngay từ khỏi lửa chiến trường,

từ những số phận khắc nghiệt trong và sau khi ngừng bom đạn Nơi nguồn sáng trong dịu kia ta thầm nghe nhiều nỗi nghẹn ngào Chỉ thi sĩ mới dai dẳng nỗi đau lâu đến thế” [30, tr.2] Chính nguồn ánh sáng dịu dàng kia đã tạo nên những câu thơ trữ tình xuất thần trong bài thơ viết về sông Vu Gia của ông trong những năm chiến tranh ác liệt năm 1974, người đọc sẽ không quên được những câu thơ đạt đến sự hoàn thiện của vẻ bình dị để trở thành cái đẹp muôn đời của cảnh, của tình, của niềm thiết tha yêu đời:

Trước nhà em sông Vu Gia Sau nhà em cũng lại là dòng sông Anh đi giữa một cánh đồng

Ngóng trông bên nọ ngóng trông bên này

… Dịu hiền như khúc dân ca Thẩm sâu chung thủy như là đất quê

(Trước nhà em sông Vu Gia)

Từ những bài thơ viết về chiến tranh của Thanh Quế, có thể nhận ra một điều: “Chiến tranh trong thơ Thanh Quế không phải là một cuộc chiến tranh trực diện của khói lửa chiến trường, của những đoàn quân xông trận, những cuộc giao tranh đẫm máu mà là cuộc chiến tranh thuộc về chiều sâu của những ám ảnh, trong anh hầu như không có nỗi buồn chiến tranh mà tràn ngập nỗi đau chiến tranh” [31, tr.791]

Trong cảm quan nghệ thuật của mình, Thanh Quế dường như còn nặng

nợ với nhân dân mình Vì thế, thơ của Thanh Quế viết về chiến tranh thường hay đề cập đến những người dân bình thường, giản dị đã hi sinh một phần

Trang 23

xương máu của mình cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Như các nhà thơ cùng thế hệ, thơ Thanh Quế đã dựng lên hình tượng rất đẹp, một cảnh tượng đầy tinh thần lạc quan, thanh bình và hạnh phúc, cái hạnh phúc của lòng tin và tình yêu đời thường bình dị của con người đủ sức tạo nên một sự đối lập lấn át mọi hình ảnh dữ dội khắc nghiệt nhất của chiến tranh

Ngô Thế Oanh đã có những nhận định thật chính xác về những bước chuyển nghệ thuật trong thơ Thanh Quế: “Cùng với thời gian, thơ Thanh Quế càng về sau càng đạt đến sự cô đọng thấm lòng của một sự chiêm nghiệm sâu sắc Những bài thơ anh viết về những đời thường quanh anh, về gia đình anh Tất cả mang cái đẹp của sự lắng lại và chiều sâu không chỉ giới hạn trong câu chữ” Thơ Thanh Quế về sau thường gắn với dòng suy tư, chiêm nghiệm, những trăn trở trước cõi đời Nguyễn Kim Huy thì cho rằng “Ngôn từ thơ Thanh Quế không hề thô mộc như nhiều người nhầm tưởng khi đọc lướt qua, mà là những ngôn từ đã đạt đến vẻ đẹp của sự giản dị được tinh chọn, từ

và ý luôn gắn nhau chắc nịch, kết cùng tiết tấu mạnh để toát lên tứ thơ và toả sáng sức gợi cảm Quan niệm thơ phải tinh gọn chứ không chọn sự dàn trải, chú ý xây dựng tứ thơ hơn là ngôn ngữ, trọng thần thái hơn nhịp điệu tiết tấu, cẩn trọng chắt lọc ngôn từ nghệ thuật để những từ ngắn gọn nhất có đủ ý nghĩa sắc thái để biểu đạt cái sâu rộng và khái quát mang tính triết lí là một đặc điểm nghệ thuật rõ rệt của Thanh Quế” [31, tr.605]

Nhà thơ Trúc Thông thì cho rằng: “Mỗi nhà thơ đích thị có một kênh thẩm mĩ riêng Người đọc đi vào trúng kênh của nhà thơ ấy thì sẽ thu nhận đúng những đóng góp của ông ta Đừng lấy gu riêng của mình áp đặt lên thơ người khác Các nhà lí luận vẫn nói rất hữu lý về sự đồng sáng tạo của bạn đọc Ở kênh thơ Thanh Quế, ta hãy để lòng mình lắng chìm vào sự thì thầm, cùng tác giả lắng sâu vào những nghẹn ngào kín ẩn Có một tiếng thở dài nội tâm không bao giờ cất lên” [30, tr.9]

Trang 24

Những quan niệm nghệ thuật về thơ như trên của Thanh Quế sẽ giúp chúng ta hiểu thêm được những sáng tác của ông

1.2.2 Quan niệm về văn xuôi

Theo Nguyễn Kim Huy: “Từ những trang viết trải dọc và đều suốt cuộc đời gắn liền nghiệp văn chương, có thể nhận ra một chân dung nhà văn Thanh Quế luôn viết một quan niệm và ý thức nghệ thuật rõ ràng, luôn nỗ lực tìm một phương cách thể hiện với giọng điệu của riêng mình, không ngừng cách tân văn thơ theo kiểu của mình ( ) với anh, đổi mới trong viết lách chính là

sự sống, sự tồn tại của đời mình: Tôi tự chuyển động/ Chỉ để báo rằng mình còn sống”

Trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình, Thanh Quế không chỉ thành công ở thơ ca mà còn gửi những nỗi niềm suy tư của mình vào những trang văn xuôi đặc sắc: “Những bút kí, chân dung văn nghệ đã xuất bản của anh có sức lôi cuốn và thuyết phục người đọc ở sự chân thành, trung thực và sinh động đến từng chi tiết nhỏ khắc hoạ nên tính cách nhân vật ( ) Nhưng có

lẽ, văn xuôi là thể loại mà Thanh Quế thành công và để lại nhiều ấn tượng nhất trong lòng bạn đọc.”

Thanh Quế thường tâm sự: “Tôi không viết văn Tôi chỉ ghi lại những

gì tôi đã sống Tôi xin được coi thơ văn tôi là tiếng nói riêng của tôi để tôi giãi bày tâm sự của mình với người khác, với thiên nhiên âm dương trời đất” Chính ông của đã tự bộc bạch: “Đã là nhà văn thì phải có giọng điệu riêng”

Chính cái giọng điệu riêng đó đã làm nên nét phong cách riêng mà chỉ đến những trang văn của Thanh Quế người đọc sẽ nhận ra Cùng viết về chiến tranh nhưng những trang văn của Thanh Quế không phải là những trang tả trận với tiếng bom rơi pháo nổ, mà là những trang viết đậm chất thơ

về số phận của người lính bước ra từ cuộc chiến, về số phận của những con người bình thường nhưng đã làm nên lịch sử

Trang 25

Nếu như thơ Thanh Quế là “nguồn sống trầm dịu, khiêm nhường, trong trẻo” mà ông đã dâng tặng cho đời, thì văn xuôi của ông là những trải nghiệm đắng cay của cuộc đời, ông mang hơi thở cuộc sống vào trong những trang văn để tâm sự, giãi bày và phản ánh nó bằng bút pháp giản dị Ông thẩm thấu sâu sắc giá trị nghệ thuật không phải bằng thứ ngôn từ hoa mĩ mà chính là ý nghĩa nhân văn được đúc kết từ “nguồn trong của tình thương, của điều thiện” Nguồn trong ấy được lọc ra từ những năm khói lửa chiến trường,

từ những số phận khắc nghiệt trong và sau khi ngừng bom đạn Đối với ông, sáng tạo văn chương còn như là sự tri ân, trả nợ cuộc đời bởi rất nhiều nhà văn, đồng đội cũ của ông đã nằm lại ở chiến trường Quảng Đà khốc liệt năm xưa Năm 1981, khi chấm tiểu thuyết Cát cháy, nhà văn Tô Hoài đã quyết định hạ Thanh Quế từ giải nhất xuống giải nhì vì một đoạn ngắn bị cho là

thiếu nhân văn Cát cháy viết về đội du kích Hòa Hải, và cũng là cuốn tiểu

thuyết đầu tay của Thanh Quế Và từ ấy, ông hiểu sâu sắc hơn về sự cần thiết phải gạn lọc, đắp bồi cho tư duy, ý tưởng và câu chữ thật chín Theo Thanh Quế: “Hãy để độc giả thẩm định tác phẩm, nếu có giá trị thì sẽ sống cùng thời gian hơn là nghe các nhà văn, nhà thơ khen nhau vì trên trường văn trận bút thì mấy ai chịu đọc tác phẩm của nhau, có chăng đó là lời tâng bốc kiểu

xã giao”

Trong quan niệm sáng tác của mình Thanh Quế cho rằng: “Trong việc viết văn, làm thơ, điều quan trọng nhất là mỗi người phải tạo cho mình một giọng điệu riêng” [25, tr.443]

Ngô Vĩnh Bình thì cho rằng: “Truyện ngắn Thanh Quế có thể xem đó

là truyện ngắn của một nhà thơ, ít tình thế nhưng nhiều tâm sự Ấy không phải là dòng thác mà là những mạch ngầm Đọc truyện ngắn của anh, người đọc dễ nhận ra được cái thẳng thắn, nhân hậu của tác giả Anh là thế và văn anh là thế” [25, tr.444]

Trang 26

Những quan niệm của bản thân và những nhận định của các nhà nghiên cứu giúp chúng ta hiểu thêm quan niệm của Thanh Quế về văn xuôi

1.2.3 Quan niệm về bút kí, phê bình văn học

Trong những năm gần đây Thanh Quế đã dành những trang viết của mình về đồng đội, về quê hương, về những nhà văn cùng thế hệ Ở đấy ta bắt

gặp được một chất Thanh Quế riêng, với cách viết gần gũi, đời thường,

không óng mượt mà vẫn đọng lại trong lòng người đọc những dấu ấn sâu đậm Nói như Văn Công Hùng: “Nhà văn Thanh Quế bây giờ ngoài việc viết văn như trả món nợ với cuộc đời, với quê hương, còn lặng lẽ làm một cái việc là viết hồi kí về những tháng ngày hào hùng đã qua ấy, về những nhà văn, những văn nghệ sĩ đồng đội đã anh dũng ngã xuống với tư thế là những người lính” [7, tr.15]

Đọc những trang hồi kí, phê bình của ông nó không còn là những trang văn mà là những trang đời của một người lính đã từng gắn bó máu thịt với cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Nguyễn Minh Hùng cho rằng: “Chàng trai Thanh Quế ấy đã chọn con đường học sử để viết văn, chọn miền Nam để làm ngọn nguồn cho những trang sách Để đến cái tuổi tà tà bóng ngả về tây, ông lại dùng văn để ghi lại những trang sử cuộc đời mình và bao nhiêu đồng đội, đồng nghiệp mà ông đã từng sống, từng gắn bó sâu nặng” [6, tr.126]

Trước hết đó là những trang viết về quê hương nơi ông đã có những tháng ngày tuổi thơ đẹp bên bà, bên mẹ để rồi năm mười tuổi ông cùng cha ra Bắc: “Quê tôi là vùng nông thôn kháng chiến, giặc Pháp càn quét luôn, gia đình phải gồng gánh tản cư Việc học hành của tôi lại đứt khúc đứt đoạn, sách vở thiếu thốn Thỉnh thoảng tôi cùng bạn bè vớ được một tờ báo kháng chiến in giấy đen xỉn, có đăng những bài ca dao vận động thuế nông nghiệp, kêu gọi binh lính nguỵ quay về với nhân dân Chúng tôi đọc ra rả cho vui rồi quên ngay Năm mười tuổi, tôi tập kết ra Bắc, học ở một trường học sinh

Trang 27

miền Nam Vì lúc ấy chưa đến năm học mới nên chúng tôi chỉ rủ nhau chơi bóng rồi nhảy ùm xuống ao bơi đuổi nhau” [29, tr.189] Nhớ về một thời tuổi thơ, nơi đó có bóng dáng của cha mẹ, trong nỗi day dứt gặp người thân:

“Trên đường về nhà, tôi cứ thấy buồn, nhớ, nhớ cha mẹ, nhớ nhà, day dứt mong gặp lại những người thân Buổi chiều ấy tôi không chơi bóng nữa, mà

cứ thơ thẩn ra vào Ngay khi ấy tôi thấy thơ có cái gì là lạ Nó giúp cho mình không nói được với người khác, mình không viết được trong thư”[29, tr.190]

Trong nỗi nhớ về quê hương, Thanh Quế đã có những hồi ức đầy xúc động: “Tôi đi với giao liên về căn cứ huyện Tuy An ở xã An Lĩnh, một vùng

có nhiều trảng tranh và gai quýt Từ đây tôi đi theo một đoàn cán bộ phát động quần chúng về xã An Chấn quê tôi Tôi nhớ hôm tôi đến, các anh chị

em cán bộ và du kích xã đổ dồn đến xem mặt người đồng hương đã xa cách

15 năm trời Tôi chỉ biết nắm tay từng người nước mắt lặng lẽ chảy ” [29,

tr.12] Đọc Chuyến công tác đầu tiên về quê hương của ông, người đọc sẽ bắt

gặp được tình nghĩa thuỷ chung của một con người xa quê hương nay khao khát được trở về Trong một bài thơ, Thanh Quế đã gửi gắm vào những tâm

sự của mình về quê hương nơi đã cho ông những tháng ngày tuổi thơ đẹp nhất:

Làng Phú Thạnh nơi anh sinh ra Dăm gốc bàng

một cây đa nhiều đụn cát Đất khô khốc, bông mọc trên sỏi đá Những ngôi nhà mái rạ gió xô

(Làng Phú Thạnh) Đấy là ân tình với mảnh đấy nuôi ta lớn lên, đó còn quê hương trong lòng mỗi người xa cách

Trang 28

Những trang hồi kí của mình, Thanh Quế còn giành những tình cảm với mảnh đất Quảng Nam - Đà Nẵng, nơi ông đã hoạt động chiến đấu và

công tác tại nơi đây Đến với Quảng Đà là những trang viết đầy tình cảm, xúc

động mà Thanh Quế đã giành cho mảnh đất này: “Mỗi người viết văn ở Khu

5 thời đánh Mĩ, ai chẳng một lần mong ước đến với Quảng Nam, Quảng Đà anh hùng và ác liệt Mấy năm đầu khi vừa từ miền Bắc trở về, tôi được phân công đi Quảng Ngãi và các tỉnh cực Nam nên “thèm” đến Quảng Đà lắm Tháng 3-1974, tôi được đi Quảng Đà cùng các nhà văn nhà thơ: Nguyễn Chí Trung, Dương Hương Ly, Ngô Thế Oanh ( ) Tôi được phân công đi công tác

xã Xuyên Hoà, một xã anh hùng của khu Tây Duy Xuyên mà trong báo chí vẫn thường gọi tắt là xã H Nhiệm vụ của tôi là một cái ký về phong trào diệt

ác, phá kèm mở mảng ở khu Tây Duy Xuyên” [29, tr.19] Những tháng ngày chiến đấu và sống ở mảnh đất này đã đi cùng với Thanh Quế sau này Nguồn cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác của ông cũng bắt nguồn từ nơi đây, ông

đã gắn bó tuổi xuân của mình trên mảnh đất này để rồi hôm nay ông chọn nơi đây là nơi dừng chân trong những năm tháng cuối đời

Trong những bài phê bình, hồi kí của mình Thanh Quế đã dành những trang viết về các nhà văn, nhà thơ như: Ngọc Anh, Vương Linh, Văn Công, Cao Duy Thảo, Khương Hữu Dụng và ông học được ở Nguyễn Thi, Chế

Lan Viên nhiều điều để bổ sung cho sáng tác của mình Hãy đọc Có một tình yêu đi suốt thời gian của ông khi nói về tập thơ Gửi miền Bắc của Tế Hanh để

thấy được sự yêu quý, ngưỡng mộ của nhà thơ giành cho Tế Hanh: “Trong

Gửi miền Bắc, Tế Hanh đã viết những gì? Ông viết về chuyến đi thăm Trung

Quốc của ông Dù đi đâu, ở đâu trên đất nước người mà lòng ông vẫn cứ mãi vấn vương với đất nước Ông nhớ da diết những người thân yêu đã cùng ông chia sẻ cay đắng ngọt bùi trong những năm khói lửa Ông nhìn những thay đổi của nước bạn mà nghĩ đến ngày mai của nước mình Tế Hanh còn viết gì

Trang 29

nữa? Về tình cảm của ông gắn bó với miền Bắc ruột thịt, về nỗi nhớ quê hương miền Nam thăm thẳm ngày đêm Ông viết về tình yêu, về cuộc đời và nghệ thuật nhưng dù viết về điều gì, ở trong nước hay ngoài nước, người ta cũng nhận ra một Tế Hanh, nhà thơ của quê hương đất nước, của những xa cách nhớ nhung” [29, tr.146] Để có được những nhận định xác đáng về thơ

Tế Hanh như thế, phải là người đọc nhiều biết nắm bắt được phong cách của mỗi nhà văn

Bên cạnh đó ông còn giành những trang viết về thế hệ cầm bút xứ Quảng, những người được ông dìu dắt sau này Khi quê hương sạch bóng quân thù, đời sống của người dân đã khá hơn thì trên lĩnh vực văn học ở Quảng Nam Đà Nẵng cũng đã có những nhà thơ, nhà văn nổi lên như: Đà Linh, Bùi Tự Lực, Nguyễn Kim Huy Riêng Thanh Quế ông vẫn miệt mài viết và dìu dắt thế hệ cầm bút xứ Quảng tiếp tục sự nghiệp các thế hệ đi

trước Khi đọc tập Thơ từ yên lặng của Nguyễn Kim Huy, ông nhận xét:

“Nguyễn Kim Huy chú ý đến cấu tứ để nâng cao tư tưởng bài thơ Thơ anh tinh tế chắc lọc, có chiều sâu chứ không dễ dãi kể lể như một số bạn bè cùng lứa Anh lại cũng không “tây hóa” viết như thơ dịch như một số người bạn trẻ Thơ anh vẫn giữ được nét phương Đông mặc dù anh đọc thơ phương Tây rất nhiều ( ) Nguyễn Kim Huy chưa đầy 40 tuổi, anh còn trẻ trên con đường sáng tạo, lại là một người có học vấn cao, làm công tác biên tập, có điều kiện đọc được nhiều sách Đông, Tây, kim, cổ Nhưng theo tôi, có lẽ anh nên tranh thủ thời gian để đi thực tế, vì sức lì của người biên tập cũng dễ khiến ta lười hoạt động ( ) Những chuyến đi sẽ bồi dưỡng thêm vốn từng trải cho anh, cho anh thêm những bài học mà không có sách báo nào có cả Và, anh phải viết nhiều hơn, viết nhiều nữa, chắc anh sẽ có nhiều thành quả hơn nữa” [29, tr.174-175] Nguyễn Tam Mỹ cho rằng: “Để thành danh, mỗi cá nhân đã phải không ngừng học tập rèn luyện và kiên trì “cày cuốc trên cánh đồng chữ

Trang 30

nghĩa bao la” Nói cách khác, đó là sự tự thân vận động của tác giả Tuy nhiên nếu không có một môi trường văn chương tốt, không có một người anh tận tình theo dõi từng bước đi của từng tác giả để kịp thời động viên khuyến khích thì có lẽ đội ngũ những người cầm bút xứ Quảng không được đông đảo như ngày hôm nay” [16, tr.15] Những nhận xét trên của Nguyễn Tam

Mỹ về vai trò của Thanh Quế đối với thế hệ cầm bút xứ Quảng thật là chính xác Với những vị trí mà ông đã trải thì hoàn toàn đủ cơ sở để khẳng định như trên

Trang 31

Chương 2 CÁC PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG VĂN XUÔI THANH QUẾ

2.1 HỆ THỐNG ĐỀ TÀI

2.1.1 Chiến tranh và người lính

Trong suốt ba mươi năm (1945 - 1975), cuộc chiến đấu giành độc lập của dân tộc là bình diện nổi bật, bao trùm toàn bộ đời sống xã hội, thu hút và chi phối mọi bình diện khác của hiện thực Có thể nói, mọi chủ đề, đề tài, cảm hứng của văn học đều được trực tiếp khai thác hoặc liên quan chặt chẽ tới những vấn đề về vận mệnh của đất nước của nhân dân Văn xuôi tập trung vào các nội dung có ý nghĩa toàn dân tộc, tái hiện bức tranh hiện thực lịch sử

và xây dựng những hình tượng con người sử thi cao đẹp

Trong các tác phẩm văn học thời kì này, mối quan hệ thế sự - đời tư không nằm trong sự chú ý của nhà văn Nếu được đưa vào trong tác phẩm thì cũng bị chi phối bởi đời sống cộng đồng và mang một ý nghĩa xã hội khác Việc đưa lên hàng đầu con người tập thể, con người công dân đã khiến cho văn xuôi giai đoạn trước 1975 tập trung chủ yếu vào các biểu hiện tâm lí của nhân vật như lòng yêu nước, căm thù giặc, tình nghĩa đồng bào, tình cảm tiền tuyến hậu phương, ý thức giai cấp Nhân vật hiện lên trong các tác phẩm đều

là những con người hành động Họ sống, chiến đấu và sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc thân yêu, bởi thế tâm lí của họ đơn giản, dễ hiểu Người lính trong văn học thời kì này, được dấn thân vào những nơi gian khổ ác liệt để thử thách ý chí kiên định và lí tưởng mà họ đã chọn Đó là những con người đại diện đầy

đủ cho tầm vóc, sức mạnh, ý chí và khát vọng của cộng đồng, của dân tộc Điểm nổi bật ở người lính văn học thời kì này là ý thức về trách nhiệm và sự gắn bó với quê hương, đất nước Người lính thường được thể hiện là hình ảnh

Trang 32

của những con người lạc quan, sống vì mọi người, tin tưởng tuyệt đối vào lí tưởng mà mình đã chọn Họ là biểu hiện ý chí, khát vọng của cộng đồng, dân tộc, cao hơn là của thời đại và nhân loại Lý tưởng và nhận thức ấy, trở thành

ý chí và hành động ở mỗi người lính Chưa bao giờ ý thức cộng đồng, chủ nghĩa anh hùng tập thể lại được tôn vinh, đề cao và chứa đựng nhiều ý nghĩa thẩm mĩ như vậy trong các tác phẩm Văn xuôi thời kì này góp phần nâng cao

vị thế con người Việt Nam trong những khoảnh khắc lịch sử khốc liệt, làm phong phú thêm cho văn chương dân tộc bởi chủ nghĩa anh hùng cao cả Với đề tài chiến tranh và người lính, nhiều cây bút văn xuôi muốn vươn tới sự khám phá, lí giải, khái quát sự vận động lịch sử của cuộc chiến Dù dung lượng hạn chế của một truyện ngắn, một bài tùy bút hay một bức tranh toàn cảnh trong một tiểu thuyết, thì các tác phẩm đều đề cập đến vận mệnh của đất nước và nhân dân Có rất nhiều tác phẩm văn xuôi ra đời trong thời kì

này chiếm được cảm tình của người đọc, tiêu biểu như: Một lần tới Thủ đô (Trần Đăng), Đất nước đứng lên, Rừng xà nu (Nguyên Ngọc), Trước giờ nổ súng, Mẫn và tôi, (Phan Tứ), Một truyện chép ở bệnh viện, Hòn đất (Anh Đức), Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), Dấu chân người lính, Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu) Những sáng tác này đã làm sống lại hình

ảnh cuộc kháng chiến trường kì và anh dũng của toàn dân trên nhiều địa phương ở nhiều mặt trận Các tác giả đã tái hiện được hình ảnh người lính trong những hoàn cảnh khó khăn, những thử thách nghiệt ngã, những chiến công to lớn và cả sự hi sinh thầm lặng

Nhìn lại chặng đường đã qua, có thể thấy văn xuôi giai đoạn 1945 - 1975

có những đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của văn học dân tộc Đó là sự phản ánh nhanh nhạy, kịp thời động viên, cổ vũ cho cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc Nhà văn đã dẫn độc giả vào thế giới của lòng dũng cảm, tình người, đức hi sinh nói cách khác đó là thế giới của cái cao cả, cái đẹp vượt lên trên

Trang 33

sự tàn phá, hủy diệt của bom đạn chiến tranh Trên bức tranh rộng lớn của cuộc chiến, có những mảng hiện thực tiêu biểu, tái hiện khá chân thực những thử thách và sự hi sinh to lớn của nhiều thế hệ để làm nên chiến thắng Văn xuôi đã tập trung biểu hiện, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng như một lối sống cao đẹp của hàng triệu con người Việt Nam khi đất nước có chiến tranh

Từ sau 1975, quan niệm về sáng tác của các nhà văn có sự thay đổi Trong các tác phẩm, phạm vi hiện thực sáng tác được mở rộng, có sự bổ sung những miền hiện thực mới mà trước đây chưa có hoặc rất ít nói đến Nếu hiện thực trong chiến tranh đề cập đến những cam go, khốc liệt nhưng rất hào hùng của dân tộc, thì hiện thực sau chiến tranh còn nêu lên được mặt trái của cuộc chiến với những thất bại, những sai lầm, thiếu sót, thậm chí cả sự tha hóa, phản bội, hèn nhát trong hàng ngũ cách mạng

Hiện thực lúc này, được nhận thức là cái chưa biết, không thể biết hết, hiện thực phức tạp cần phải khám phá, tìm tòi Hiện thực trong tác phẩm là hiện thực được lựa chọn, chắt lọc, khái quát, tái tạo Theo Nguyễn Minh Châu

“phản ánh hiện thực không có nghĩa là xâu chuỗi các sự kiện như lâu nay văn xuôi viết về chiến tranh đã làm, tất cả các thể loại văn học đều phải lấy con người làm đối tượng phản ánh” Những sáng tác thời kì này, không chỉ mô tả hiện thực mà còn suy ngẫm về hiện thực Nhà văn đóng vai trò chủ động đối với việc lựa chọn hiện thực, thoát ra khỏi sự ràng buộc của chủ nghĩa đề tài,

vì thế tư tưởng và kinh nghiệm cá nhân của nhà văn trở nên quan trọng

Là những người đã trải qua chiến tranh, những nhà văn mặc áo lính hiểu rằng, con đường đi đến vinh quang phải bước trên xương máu, nước mắt, của biết bao đồng bào, chiến sĩ nhưng điều đó trong chiến tranh chưa thể viết ngay được Chiến tranh chấm dứt, đòi hỏi văn học phải phản ánh, ghi nhận đúng tính khách quan của lịch sử, bản chất của vấn đề Những người cầm bút

Trang 34

có trách nhiệm phải lưu lại cho hậu thế, cho người ngoài cuộc hiểu đúng về cuộc chiến, đó chính là nhiệm vụ sáng tác trong thời bình

Chiến tranh ngày càng lùi xa, nhưng bóng đen về chiến tranh vẫn không thôi ám ảnh trong đời sống mỗi người Với những người lính từng tham gia chiến trận thì chiến tranh vẫn là một kí ức nguyên vẹn trong tâm trí Theo dòng hồi tưởng, chiến tranh hiện ra như bản thân nó vốn có, đó là những chiến công, tinh thần quyết chiến nhưng đó cũng là chết chóc, chia lìa, tan tác, đau thương Các tác phẩm cho người đọc thấy rõ sự thật của chiến tranh, phía sau những tấm huân chương và vầng hào quang chiến thắng là những mất mát, những nỗi buồn trĩu nặng Viết về đề tài này, các tác giả như được "giải tỏa" cảm xúc, như được "tri ân" với người đã khuất và cả những người đang sống hôm nay

Từ khi có đổi mới quan niệm về con người, về đời sống và quan niệm về bản thân văn học nghệ thuật, thì một số tác giả đã có cái nhìn trực diện hơn về chiến tranh, tác phẩm của họ tái hiện chiến tranh với những mảng màu đen trắng, mang đến cho người đọc những cảm nhận khác biệt so với các tác

phẩm trước đây Trong số các tác phẩm đó, phải kể đến Thời xa vắng (Lê Lựu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng, Phố, Vòng tròn bội bạc (Chu Lai) Các tác phẩm có cách nhìn nhận, đánh giá hiện thực trong

chiến tranh một cách trung thực, mạnh dạn hơn Các nhà văn dành nhiều sự quan tâm về số phận con người thời hậu chiến Họ tìm thấy ở đó niềm vui - nỗi buồn, yêu thương - căm hận, dũng cảm - đớn hèn, trung thành - phản bội khoảng cách thời gian giúp những người cầm bút bình tĩnh nhìn lại cuộc chiến với tầm nhìn đầy nhân văn và mong muốn đóng góp một tiếng nói có giá trị cho văn học nước nhà

Trưởng thành từ trong chiến tranh, chứng kiến cảnh mưa bom bão đạn

ác liệt nên khi trở về sau cuộc chiến Thanh Quế thấm thía nỗi đau mất mát mà

Trang 35

chiến tranh đã để lại Cũng như sáng tác của các nhà văn cùng thời, sáng tác của Thanh Quế sau 1975 vẫn tập trung viết về chiến tranh và người lính

“Truyện ngắn Thanh Quế là những truyện ngắn chủ yếu viết về chiến tranh nhưng ở đây tiếng súng dường như rất thưa Ấy không phải là những trang tả trận, những dòng mang đậm hơi thở của chiến trường, với những trận đánh bom rơi, đạn lạc và khói lửa tơi bời nhưng lại lột tả được tinh thần quật khởi,

ý chiến quyết chiến quyết thắng cũng như sự hi sinh lớn lao và cao cả của những người dân” [25, tr.443 – tr.444]

Cát cháy là tiểu thuyết thành công nhất của Thanh Quế viết về mảng đề

tài này, tác phẩm đã viết về đội du kích vùng ven Đà Nẵng với những hoạt động gan dạ đầy dũng cảm làm thất bại những thủ đoạn của Mỹ ngụy Thông qua tiểu thuyết này Thanh Quế đề cao phẩm giá con người được thử thách qua chiến tranh Còn với lứa tuổi thiếu nhi, truyện cũng đã đặt ra những vấn đề

“vấn đề tìm hiểu và đánh giá con người, phân biệt được tốt xấu ở đời, hiểu biết, tin tưởng và dựa vào quần chúng nhân dân” [25, tr.301]

Hồ Hoàng Thanh cho rằng, “Cát cháy cho thấy rõ thái độ thẳng thắn,

tỉnh táo nhìn vào sự thật cuộc sống, không lẩn tránh cái phức tạp, uẩn khuất, hay cái bi đát cũng như các khuyết điểm sai lầm Truyện có vẻ hơi người lớn, nhưng thiết tưởng cũng phù hợp với lứa tuổi đang lớn muốn làm ra vẻ người lớn” [34, tr.101]

Viết về chiến tranh Thanh Quế cũng không né tránh những mất mát đau thương do chiến tranh để lại, cùng với những nghịch cảnh mới được nảy sinh, nhưng ở đây “họ không bị ám ảnh bởi nổi buồn thân phận, mà vẫn làm cho người đọc thấy được sức mạnh can trường của tình người và của một niềm tin không tắt vào cuộc sống”

Đọc truyện ngắn Mai, người đọc sẽ cảm động khi thấy hình ảnh người

cha sau bao năm tập kết đã tìm về mảnh đất Điện Bàn để tìm hài cốt của con

Trang 36

gái mình Ông đã tìm kiếm, người con gái của ông tên Mai Song trên mảnh đất này đã có biết bao cô gái tên Mai đã ngã xuống nơi đây, ông đã đi hết nghĩa trang này đến nghĩ trang khác trong nỗi đau bất tận của người cha đi tìm con, momg tìm được hài cốt của con đem về quê nhà: “Vào một buổi sáng mùa xuân, không rõ ngày nào, bà con ở Thanh Quýt thấy một ông già lạ mặt

có dáng người cao to, khuôn mặt quắc thước từ trên một chiếc xe khách bước xuống, đi thẳng vào giữa làng Mọi người rỉ tai nhau, có lẽ đó là cán bộ của cơ quan nào đấy đến liên hệ công tác hoặc một người ở xa về tìm người thân Nhưng một lúc sau họ mới vỡ lẽ: Ông là cán bộ người Đà Nẵng, đi tập kết, nay được trên cho nghỉ hưu Bây giờ ông đến đây để tìm hài cốt của con gái” [31, tr.7] Đến lúc tuyệt vọng, trong cơn mơ màng ông vịn vào vai người gác nghĩa trang và nhận ra còn biết bao ngôi mộ vô danh, còn biết bao người cha khác cũng có con gái tên Mai trùng với tên con gái của ông đã hi sinh Mất mát của ông cũng là những mất mát riêng tư của cá nhân hòa trong nỗi đau mất mát chung của dân tộc, bố của Mai đã vội vàng thắp từng cây nhang, lần lượt cắm lên từng ngôi mộ Có thể nói người cha ấy “đi tìm con, ông đã gặp

cả dân tộc” (Đà Linh)

Hình ảnh chị Đặng Thị Én trong truyện Ở nơi thẩm vấn sẽ giúp chúng

ta hiểu thêm phần nào về đề tài chiến tranh và người lính trong văn xuôi Thanh Quế Như đã nói chiến tranh trong văn xuôi Thanh Quế không phải là những trang tả trận ác liệt, đầy tiếng bom rơi pháo nổ mà là những trang miêu

tả ghi lại những phẩm chất anh hùng của người chiến sĩ trung kiên Mặc dù bị tra tấn dã man, nhưng cái sự thật chân chính trong tâm hồn cô gái vẫn anh dũng vượt qua những thủ đoạn tàn bạo và ma mảnh của kẻ thù: “Cô gái bị chúng bắt về đây từ hồi chiều Người nhỏ bé, áo quần ướt át, môi tái nhợt, bị trói cắp ké, ngồi trên sàn trước mắt chúng

- Mày tên gì? Thằng mặt sắt hỏi

Trang 37

- Tôi tên là Ba

- Cái thứ hay tên thật?

- Tên thường gọi Tên khai sinh là Đặng Thị Xã

- Quê ở đâu?

- Tôi ở Điện Ngọc, nhưng ra Đà Nẵng làm ăn đã lâu, các ông Hội đồng

xã có biết – Ba nói cứng vì biết rằng có mọt số trong Hội đồng xã là cơ sở của

Tên mặt sắt đứng dậy, đi một vòng rồi ngồi xuống ghế:

- Tao se hỏi lại xã Mày nói mày làm gì ở Đà Nẵng?

- Dạ, ở mướn

- Căn cước đâu?

- Tại sao mày ở Đà Nẵng mà vô đây để bị bắt?

- Dạ, tui định về quê, nhưng nước lớn nên quay lại

- Nói láo nói láo nói láo – Cái roi cá đuối quật xối xả xuống người cô gái - Ông Đẳng đây bảo mày làm trong Ban chấp hành phụ nữ huyện” [31, tr.149]

Tóm lại, mảng đề tài Chiến tranh và người lính sau 1975 tuy không

chiếm vị trí số một như văn học giai đoạn trước, nhưng vẫn phản ánh rõ nét quá trình chuyển biến của ý thức văn học, nhất là từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới Chiến tranh đi qua nhưng đối với những người lính đã trải qua một thời trận mạc thì âm hưởng của quá khứ vẫn dội về với bao nhiêu kỷ niệm Sự hồi tưởng về chiến tranh rất phong phú trong truyện ngắn sau 1975, bởi bằng sự hồi tưởng, những mặt trái còn khuất lấp của chiến tranh sẽ được hiện hình rõ nét Nỗi niềm của những người lính trở về mang nhiều sắc thái

Đó có thể là hoài niệm về một thời đã qua, là những lo toan về cuộc mưu sinh hiện tại, là sự cô đơn trong nội tâm và cô đơn ngay giữa cuộc sống bộn bề,

Trang 38

náo nhiệt Theo thời gian, những người lính dường như đã lấy lại được phần nào sự yên tĩnh trong tâm hồn Nhưng đằng sau cái yên tĩnh đó, là những hoài niệm, ký ức âm thầm, mãnh liệt bừng thức, mở đường cho cảm xúc tìm về với quá khứ Sống với hiện tại, nhưng tâm trí của những người lính cứ tìm đến những miền đất, những con người, những trận đánh bằng tình cảm nồng nàn, sâu lắng Chính Thanh Quế đã từng nhận xét: “Dù viết về những số phận khác nhau, cách biểu hiện khác nhau nhưng các tác phẩm trên đều có chung một đặc điểm: sự trung thành với sự thật chiến tranh vốn là một thử thách ác liệt trong đời sống dân tộc ta Có cái gì như được vỡ lẽ ra Lần đầu tiên văn học viết về chiến tranh đã vang lên khúc nhạc bi thương trầm lắng như toàn bộ nỗi đau khổ mà nhân dân ta phải gánh chịu Thì ra, tác phẩm viết về chiến tranh chiến tranh cũng có kết thúc đầy bi kịch Thì ra ngoài mặt trận, bên cạnh lòng

hi sinh quên mình và lòng dũng cảm vẫn còn thói vị kỉ, thói háo danh và thậm chí là sự phản bội Những điều ấy không che lấp những vinh quang mà ta đạt được, chúng chỉ làm ngời chói thêm thắng lợi bằng ánh sáng mặt trời của sự thật nghệ thuật” [19, tr.7] Hồi ức vui buồn sẽ còn theo suốt quãng đời còn lại của họ để họ được trở về với thời gian không thể nào quên Sự khốc liệt của chiến tranh và hình tượng người lính mãi mãi vẫn là cảm hứng của nhiều nhà văn, nhà thơ, đặc biệt là những người mặc áo lính

2.1.2 Cuộc sống và con người sau 1975

Như đã nói ở trên, Quảng Nam – Đà Nẵng là mảnh đất chịu nhiều mất mát và đau thương sau chiến tranh Giữa những ngày hội lớn non sông, quê hương sạch bóng quân thù các nhà văn nơi miền đất này đã tập trung viết về

sự đổi thay của quê hương Ở mảng đề tài này Thanh Quế đã tập trung bút lực của để thể hiện và miêu tả một cách đặc sắc về cuộc sống và con người trên quê hương đất Quảng đã gánh chịu biết bao tàn tích nặng nề của chiến tranh lại phải đứng trước những thử thách mới không kém phần hi sinh gian khổ khi

Trang 39

bước vào thời kì đầu khôi phục kinh tế và xây dựng xã hội mới “Trong khi cố gắng miêu tả con người bình thường trong tính toàn vẹn đa dạng và trong tiến trình vận động của nó, Thanh Quế vẫn tập trung sức nhằm khám phá đời sống nội tâm phong phú của từng người được anh tái hiện, nhằm vừa cho thấy được bản chất vừa cho thấy được đặc điểm cá nhân, vừa cho thấy phẩm chất đạo đức vừa cho thấy khả năng sáng tạo của họ” [34, tr.99] Chính cuộc sống

và con người đất Quảng nơi mà Thanh Quế đã gắn bó suốt những năm tháng của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đã thôi thúc ông viết về cuộc sống

và con người nơi đây Đấy là những con người bình thường, nhưng họ lại làm nên lịch sử, họ gắn bó với mảnh đất quê hương nơi chôn nhau cắt rốn nhưng khi cần và được thuyết phục thù họ vẫn ra đi để nhường mảnh đất mà mình gắn bó để xây dựng cuộc sống mới

Bà mẹ vui tính và Trong lòng hồ là những truyện tiêu biểu khi Thanh

Quế viết về mảng đề tài này Đây là hình ảnh những bà cụ “trụ bám” kể từ sau chiến tranh và mỗi người mang một tính cách: “Bây giờ, sau ba năm các cô các chú thấy làng xóm nó sáng sủa vậy chớ hồi mới về thì cỏ lút đầu Cả làng như rừng hoang Giải phóng xong, ai cũng muốn về làng làm ăn nhưng sợ mìn quá, đành vật vạ trú ngụ ở các nơi quen Vợ chồng qua cũng do dự Có đứa em dâu ở dưới đường quốc lộ nó bảo: “Anh chị ở quách dưới này cho các cháy vui Từ khi anh nhà em mất, em ở một mình cũng buồn” Qua nghe cũng mùi mùi tai Nhưng ông già lừ mắt nhìn qua bảo: “Nhà mình, ruộng vườn mình, mình không về còn ở đâu Tụi du kích chưa gỡ tới thì mình gỡ mìn cất

nhà, kiếm hột lúa củ khoai chớ Bộ mụ sợ lắm hả?”” [31, tr.202] Bà mẹ vui tính không chỉ hấp dẫn cái giọng điệu hóm hỉnh, hài hước của nhân vật đang

kể chuyện mà còn hấp dẫn ở tính lạc quan, khiêm tốn bình dị của bà cụ

Ở truyện Trong lòng hồ, Thanh Quế đã dựng nên nhân vật cháu nhỏ và

dùng con mắt ngây ngô trẻ con tim hiểu thái độ bà nội và bà con làng xóm

Trang 40

trước chuyện dời nhà, dời làng làm hồ Phú Ninh miêu tả cuộc sống của những con người bình thường ở nơi đây Qua con mắt của người cháu trong nhà mới biết được những chuyện riêng trong nội bộ gia đình, chuyện những mối ngổn ngang trong lòng bà nội từ chỗ chưa thông “không chịu đi mô hết”, đến chỗ tự mình thông suốt giơ tay phát biểu “Bàn chi bàn miết Trước mình trụ bám để giữ nước Giờ đi cũng để làm hồ giữ nước Bay biểu chi tụi tao làm liền chớ bàn chi nữa” Câu nói đơn sơ mà thâm thúy đó là kết quả của một quá trình đấu tranh dằn vặt trong lòng bà Điều băn khoăn chính của bà là sự sống còn của làng, là tên tuổi của làng, là sự có hiểu biết hay không đến những công tích của làng Và khi bà gặp chú Mười thì đã thấy thấu lí đạt tình, khi đã nhận

ra cái nghĩa lớn mà bà đã khéo nói thành lời kia, bà càng không thể đồng ý với cái lối tính toán cò kè thêm bớt tùn mủn, đòi hỏi tiền nong đền bù nhỏ mọn của chính chồng bà, bà vẫn không chịu cùng ông ra Đà Nẵng mà vẫn một lòng gắn bó cùng dân làng đi Xuân Bình xây dựng quê hương mới Trong suy nghĩ của người đàn bà mộc mạc, chân chất này thì: “Cái gì cần làm thì phải làm thôi Cháu bà làm sao hiểu hết chuyện ấy” Thật không đễ gì mà đạt đến điều suy nghĩ giản đơn mà sâu sắc như thế

2.2 CẢNH SẮC THIÊN NHIÊN

2.2.1 Thiên nhiên khắc nghiệt, dữ dội

Trong thế giới nghệ thuật của mình Thanh Quế đã tập trung thể hiện về nhân dân, về những vẻ đẹp giản dị, đời thường của những người dân lao động sau cuộc chiến Đọc những trang viết của ông, người đọc không thể không quên được những trang đặc tả về thiên nhiên miền Trung nói chung và thiên nhiên đất Quảng nói riêng Cảnh sắc thiên nhiên ở đây vừa mang đặc điểm chung của miền Trung, vừa có những đặc điểm riêng của hình thế sông núi một vùng đất Văn xuôi với khả năng bao quát, dồn nén tư liệu và tạo hình bằng sự kết hợp của nhiều dạng thức ngôn ngữ, lại càng có thuận lợi rất lớn

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lại Nguyên Ân (1986), “Thử nhìn lại văn xuôi 10 năm qua”, Tạp chí Văn học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nhìn lại văn xuôi 10 năm qua”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1986
[13] Đà Linh (2003), Lấp lánh đất quảng, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lấp lánh đất quảng
Tác giả: Đà Linh
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2003
[14] Phương Mai (2012), “Những trang viết mớ ước về tuổi thơ”, Tạp chí Non nước, số 175, tr 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trang viết mớ ước về tuổi thơ”, "Tạp chí Non nước
Tác giả: Phương Mai
Năm: 2012
[15] Sương Nguyệt Minh (2005), “Chiến tranh cách mạng và người lính vẫn là vùng dất giàu hiện thực hấp dẫn”, Văn nghệ quân đội, số 634, tr.101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh cách mạng và người lính vẫn là vùng dất giàu hiện thực hấp dẫn”, "Văn nghệ quân đội
Tác giả: Sương Nguyệt Minh
Năm: 2005
[16] Nguyễn Tam Mỹ (2005), “Thanh Quế với thế hệ cầm bút xứ Quảng”, Văn nghệ Trẻ, số 456, tr.8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Quế với thế hệ cầm bút xứ Quảng”, "Văn nghệ Trẻ
Tác giả: Nguyễn Tam Mỹ
Năm: 2005
[17] Nguyên Ngọc (1991), “Văn xuôi sau 1975, thử thăm dò đôi nét về quy luật phát triển”, Tạp chí Văn học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi sau 1975, thử thăm dò đôi nét về quy luật phát triển”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyên Ngọc
Năm: 1991
[18] Ngô Thế Oanh (1995), “Thanh Quế và những tháng năm bên bờ”, Báo Văn nghệ, số 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Quế và những tháng năm bên bờ"”, Báo Văn nghệ
Tác giả: Ngô Thế Oanh
Năm: 1995
[19] Nhiều tác giả (1983), Về một vùng văn học, Viện văn học – Hội văn học nghệ thuật Quảng Nam – Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một vùng văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1983
[20] Nhiều tác giả (1991), Văn Quảng Nam – Đà Nẵng 1975 – 1990, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Quảng Nam – Đà Nẵng 1975 – 1990
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1991
[21] Nhiều tác giả (1992), Mây bán đảo, Hội văn học nghệ thuật Quảng Nam – Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mây bán đảo
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1992
[22] Nhiều tác giả (1998), Văn miền Trung thế kỉ XX, tập I, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn miền Trung thế kỉ XX, tập I
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1998
[23] Nhiều tác giả (1998), Văn miền Trung thế kỉ XX, tập II, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn miền Trung thế kỉ XX, tập II
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1998
[24] Nhiều tác giả (2001), Lý luận, phê bình văn học miền Trung thế kỉ XX, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận, phê bình văn học miền Trung thế kỉ XX
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2001
[25] Nhiều tác giả (2005), Văn (tác giả tác phẩm Đà Nẵng đoạt giải 1975 - 2005), NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn (tác giả tác phẩm Đà Nẵng đoạt giải 1975 - 2005)
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2005
[26] Nhiều tác giả (2008), Văn học nghệ thuật trên chặng đường mới, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học nghệ thuật trên chặng đường mới
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 2008
[27] Thanh Quế (1994), 11 truyện ngắn, (Tập truyện), NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: 11 truyện ngắn
Tác giả: Thanh Quế
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1994
[28] Thanh Quế (1999), Bếp lửa làng Tà Băng (Truyện ngắn), NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bếp lửa làng Tà Băng
Tác giả: Thanh Quế
Nhà XB: NXB Quân đội Nhân dân
Năm: 1999
[29] Thanh Quế (2001), Những kỷ niệm, những khuôn mặt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kỷ niệm, những khuôn mặt
Tác giả: Thanh Quế
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2001
[30] Thanh Quế (2008), Thơ Thanh Quế, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Thanh Quế
Tác giả: Thanh Quế
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2008
[31] Thanh Quế (2009), Tuyển truyện Miền Cát cháy Quảng Đà, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển truyện Miền Cát cháy Quảng Đà
Tác giả: Thanh Quế
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN