1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm văn xuôi bùi ngọc tấn qua “biển và chim bói cá” và “người chăn kiến”

117 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 834,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phẩm gần đây nhất của ông: tiểu thuyết “ Biển và chim bói cá” và tập truyện ngắn “Người chăn kiến”: - Năm 2008, Nhà xuất bản Hội Nhà văn cùng Công ty Nhã Nam ấn hành tiểu thuyết “Biển và

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN

ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI BÙI NGỌC TẤN QUA

BIỂN VÀ CHIM BÓI CÁ VÀ NGƯỜI CHĂN KIẾN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN NGỌC THU

Đà Nẵng - Năm 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả

Nguyễn Thị Bích Vân

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Những đóng góp của luận văn 6

6 Cấu trúc luận văn 7

CHƯƠNG 1 CUỘC ĐỜI VÀ CON ĐƯỜNG SÁNG TÁC CỦA

BÙI NGỌC TẤN 8

1.1 CUỘC ĐỜI 8

1.2 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA BÙI NGỌC TẤN 10

1.2.1.Quan niệm về văn chương 10

1.2.2 Quan niệm về sáng tác văn chương 13

1.3 NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG SÁNG TÁC 17

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA THẾ GIỚI HIỆN THỰC TRONG SÁNG TÁC CỦA BÙI NGỌC TẤN 20

2.1 HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI VÙNG BIỂN 20

2.1.1 Thiên nhiên biển cả 20

2.1.2 Cuộc sống sinh hoạt vùng biển 22

2.1.3 Câu chuyện về ngành kinh tế biển 27

2.2 CẢM QUAN HIỆN THỰC VỀ CON NGƯỜI 28

2.2.1 Con người thời cuộc 29

2.2.2 Con người cô đơn 49

2.2.3 Những thân phận phó -người 54

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT VĂN XUÔI BÙI NGỌC TẤN 62

3.1 NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT 62

Trang 4

3.1.1 Điểm nhìn nghệ thuật 62

3.1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 70

3.1.3 Sức hấp dẫn từ hệ thống chi tiết 77

3.2 KẾT CẤU TRUYỆN 81

3.2.1 Kết cấu theo trật tự tuyến tính 81

3.2.2 Kết cấu theo dòng chảy tâm lý 82

3.2.3 Kết cấu mảnh vỡ, phi tuyến tính 83

3.2.4 Kết cấu nghịch lý - bất ngờ 85

3.2.5 Kết thúc truyện là kết thúc mở 87

3.3 NGÔN NGỮ 89

3.3.1.Ngôn từ chân phương mà giàu chất thơ 90

3.3.2 Sự đa dạng về tổ chức mô hình đoạn văn 93

3.3.3 Sự kết hợp giữa ngôn ngữ tự sự và ngôn ngữ báo chí 96

3.4 GIỌNG ĐIỆU 97

3.4.1 Giọng điệu hài hước, giễu nhại 98

3.4.2 Giọng điệu triết lý 99

3.4.3 Giọng điệu phức hợp, đa thanh 101

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

PHỤ LỤC

Trang 5

Riêng Bùi Ngọc Tấn là một hiện tượng văn học khá đặc biệt ở giai đoạn văn học này Đặc biệt là bởi chính mối quan hệ ràng buộc như định mệnh giữa văn chương và cuộc đời của tác giả Văn chương làm cho ông hạnh phúc nhưng văn chương cũng đem đến cho ông nhiều bất hạnh: các tác phẩm của ông bị kiểm duyệt, bị cấm xuất bản và ông đã từng đi tù cũng vì duyên nợ văn chương Thế nhưng vượt lên số phận là càng đau đớn, càng bị vùi dập trước sóng gió cuộc đời thì văn của Bùi Ngọc Tấn càng mặn mòi, càng sâu sắc và càng thêm khoan dung, nhân hậu Dòng chảy của chủ nghĩa nhân đạo từ thời Nguyễn Du đến Nguyên Hồng, Nam Cao lại cuộn trào trên từng trang văn Bùi Ngọc Tấn Cây đắng lại cho quả ngọt, tất cả đều bắt nguồn

từ quan niệm văn chương đầy tính nhân văn cao cả của ông Giữa dòng xoáy của cuộc sống hiện đại đầy thực dụng, những truyền thống, giá trị tốt đẹp của con người đang bị xói mòn đi hay đang bị thử thách, giằng co giữa ranh giới

Trang 6

tồn tại - diệt vong thì những quan niệm nhân văn thấm đẫm tình yêu cuộc sống và con người của Bùi Ngọc Tấn lại như mở ra một dòng chảy văn học riêng để người đọc cảm thông, chia sẻ và trân trọng

Điều đáng nói nữa là nếu nhìn vào những cách tân nghệ thuật văn chương để đánh giá vai trò sáng tạo của nhà văn trong một giai đoạn văn học thì khó nhận thấy Bùi Ngọc Tấn giữa hàng loạt tên tuổi như Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh … Bùi Ngọc Tấn thuộc số nhà văn được Nguyên Ngọc gọi là "đội cận vệ già" của văn học Nhưng gừng càng già càng cay, văn chương Bùi Ngọc Tấn như thứ vàng ròng đã luyện qua nhiều lửa, như mặt biển êm đềm mà thăm thẳm với những trải nghiệm đầy tính triết lý sâu sắc Tính hiện thực hòa quyện với tính nhân đạo, tính truyền thống vững chãi kết hợp với những cách tân rất "hậu hiện đại" hứa hẹn những khám phá đầy thú vị, bất ngờ cho người đọc

Với Bùi Ngọc Tấn, tiểu thuyết và truyện ngắn là hai thể lọai có vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp văn học của ông “Biển và chim bói cá” (năm 2008) là cuốn tiểu thuyết duy nhất trong năm cuốn tiểu thuyết của ông được

ra đời suôn sẻ và mang về cho ông giải thưởng danh giá của văn học Pháp mang tên nhà văn Pháp chuyên viết về biển Henri Queffélec nhằm tôn vinh những tác phẩm viết về biển trên thế giới tại Festival Sách và Biển vào tháng

4 năm 2012 “Người chăn kiến” (năm 2010) đã tổng hợp những truyện ngắn được xem là tiêu biểu nhất của nhà văn Bùi Ngọc Tấn và cũng đang được bạn đọc đánh giá cao Có thể nói, với hai tác phẩm này, Bùi Ngọc Tấn đã thể hiện được đặc điểm văn xuôi mang dấu ấn cá nhân của mình giữa hàng loạt những cây bút cùng thời với ông Vì vậy, tìm hiểu đặc điểm văn xuôi Bùi Ngọc Tấn qua hai tác phẩm nói trên sẽ thấy rõ hơn sự đóng góp của nhà văn, đồng thời cũng thấy được tính chất đa dạng, phong phú về tư tưởng và nghệ thuật của nền văn xuôi Việt Nam đương đại

Trang 7

phẩm gần đây nhất của ông: tiểu thuyết “ Biển và chim bói cá” và tập truyện ngắn “Người chăn kiến”:

- Năm 2008, Nhà xuất bản Hội Nhà văn cùng Công ty Nhã Nam ấn hành tiểu thuyết “Biển và chim bói cá”, ở trang bìa cuối sách, khi giới thiệu

về tác giả và tác phẩm, đã có đoạn viết như sau: “… Có thể xem Bùi Ngọc Tấn là một người kể chuyện thuần theo lối truyền thống, kể bằng sự kiện, nhưng lại không thể nói ông là nhà văn bị lệ thuộc vào hiện thực ở cái vỏ diễn tiến bề ngoài.Ông viết văn như người thiền quán tưởng từng hơi thở, mỗi chi tiết của cuốn sách óng lên một nỗi suy tư day dứt và cả tình cảm mãnh liệt của người viết đối với quê hương, với những nghịch lý thản nhiên đến lạnh lùng của hiện thực vượt khỏi những tiêu chí đạo đức và làm người vẫn được mặc nhiên thừa nhận Bùi Ngọc Tấn thuộc số người viết văn để nhắc ta một cái quyền, quyền được sâu sắc.”[21]

- Năm 2010, cũng Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Công ty Nhã Nam đã

ấn hành tập truyện ngắn Người chăn kiến của Bùi Ngọc Tấn Thay cho lời bạt,

ở cuối sách, có bài viết “ Bùi Ngọc Tấn, nhà văn và Hắn" của nhà phê bình

Phạm Xuân Nguyên Ông cho rằng: “Có sự gặp nhau giữa Bùi Ngọc Tấn và

Nam Cao, cha đẻ của nhân vật Hắn bất hủ - Chí Phèo”, và gợi nhớ đến nhân

vật “hắn” trong tác phẩm của một số nhà văn khác như Nguyễn Khải…”

Trang 8

Nhưng với tập truyện ngắn "Người chăn kiến", Bùi Ngọc Tấn “đã trả lại Hắn

cho đời trên những trang văn nhiều chua xót nhưng không cay độc, nhiều

buồn bã nhưng không uất hận… Từ Hắn là một tiếng gọi khát khao tự do và

hạnh phúc cho mọi người Nhà văn đã thoát khỏi giam cầm và vượt lên mặc cảm” [22, tr 248, 249]

- Châu Diên, một người bạn thân của Bùi Ngọc Tấn, khi đọc “Biển và

chim bói cá” đã cho rằng:“đó là một tiểu thuyết viết bởi một bàn tay viết báo

kì tài với văn phong báo chí điêu luyện” Còn Khánh Phương, trong bài viết

“Cái hài hước, giễu nhại trong Biển và chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn” thì

tổ chức của con người.” [35]

- Nhà thơ, dịch giả Dương Tường, phát hiện thêm về cách tổ chức tác phẩm:

“Với một cấu trúc dứt khoát phi tuyến tính, không cốt truyện cũng chẳng có nhân vật chính, cuốn tiểu thuyết khoảng 500 trang này bày ra hỗn độn, tung tãi những mảnh đời vụn của những người làm công ăn lương […], Một chồng chất hỗn độn những nhân vật tuy khắc họa sắc nét, thậm chí đôi khi nổi bật như tác phẩm điêu khắc, nhưng hòa trộn thành một khối vô dạng hình, qua đó lấp ló sự suy tàn không tránh khỏi của cả một hệ thống …”[28]

- Vũ Thị Huyền phát hiện: “ Cái đẹp và sức thuyết phục của hiện thực”

trong tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn “… đã cho người viết bài này sự cảm nhận

về cái đẹp của hiện thực Một hiện thực không cần phải tô hồng hay bôi đen Qua văn phong của mình, ngời ngời hiện lên đầy trung thực và chính sự trung thực của nhà văn đã mang lại cho người đọc cảm xúc nhân văn về cuộc sống

- con người.” [32]

Trang 9

Vũ Quốc Văn khi đọc truyện ngắn của Bùi Ngọc tấn đã khẳng định:

“Tân Sắc Bùi Ngọc Tấn, một nhà văn đặc sắc”, bởi lẽ:

“Đọc truyện nào cũng đầy ắp vốn sống, ngồn ngộn chi tiết và lấp lánh tài hoa, gợi mở Bùi Ngọc Tấn có lối viết rất lạ Văn Bùi Ngọc Tấn dung dị

mà hiện đại, không uốn éo làm duyên hay phô diễn khoa trương…” [41]

Ngoài ra còn nhiều bài phỏng vấn của báo chí trong và ngoài nước với nhà văn Bùi Ngọc Tấn Có thể kể như: “Viết để sống nhẹ hơn” của Tập san

Áo trắng; “Tôi mắc nợ biển” của Tuổi trẻ online; “Nhà văn Bùi Ngọc Tấn:

“Văn chương là một lao động cực nhọc” của báo điện tử Tổ quốc; “Viết với một sự giản dị chân thành nhất" - bài phỏng vấn trong chuyến thăm và làm việc của Bùi Ngọc Tấn tại trung tâm William Joiner, Umass Boston; “Bùi Ngọc Tấn: vẫn “Sống để kể lại” của báo Tiền Phong …

Nhìn chung, qua các bài viết trên các báo và tạp chí, có thể nhận thấy

dư luận đều ngày càng nhìn nhận đúng mức những thành công của Bùi Ngọc Tấn qua “Biển và chim bói cá” và “Người chăn kiến” Tuy vậy, phần lớn cũng chỉ mới phát hiện ở từng khía cạnh, nêu những cảm nhận “lóe sáng” bước đầu Vẫn rất cần sự gia công tìm hiểu một cách hệ thống, đầy đủ và toàn diện hơn để khám phá vẻ đẹp của văn chương Bùi Ngọc Tấn

Tiếp thu ý kiến của người đi trước, với luận văn “Đặc điểm văn xuôi Bùi Ngọc Tấn qua “Biển và chim bói cá” và “Người chăn kiến”, chúng tôi mong sẽ có một cái nhìn khái quát, toàn diện hơn về những đóng góp của nhà văn Bùi Ngọc Tấn cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam

3 Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn chỉ đi vào tìm hiểu hai tác phẩm đại diện cho hai thể loại tiêu biểu của nhà văn Bùi Ngọc Tấn: tiểu thuyết “Biển và chim bói cá” (2008) và tập truyện ngắn “Người chăn kiến” (2010)

Trang 10

3.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ dừng lại ở mức độ phát hiện những đặc điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuật của văn xuôi Bùi Ngọc Tấn qua hai tác phẩm này

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp lịch sử

Phương pháp này nhằm gắn tác phẩm với hoàn cảnh ra đời, hoàn cảnh

xã hội và cuộc đời nhà văn để từ đó tiếp cận tư tưởng nghệ thuật tác phẩm một cách cụ thể, chính xác

4.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp

Phương pháp này nhằm làm rõ những đặc điểm tiêu biểu về nội dung

và nghệ thuật của tác phẩm để nhìn nhận những điểm cải tiến, đóng góp để hình thành nên đặc điểm văn xuôi của nhà văn Phương pháp phân tích – tổng hợp sẽ giúp chúng ta tiếp cận tác phẩm một cách sâu sắc và toàn diện

4.3 Phương pháp hệ thống

Phương pháp này nhằm đặt các tác phẩm vào trong hệ thống sáng tác của Bùi Ngọc Tấn đồng thời trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam hiện đại để khám phá những tìm tòi, cách tân, đóng góp của nhà văn này

4.4 Phương pháp so sánh

Phương pháp này nhằm so sánh bút pháp nghệ thuật của Bùi Ngọc Tấn với một số nhà văn khác cùng thời để làm sáng tỏ những đặc điểm riêng của văn xuôi Bùi Ngọc Tấn

5 Những đóng góp của luận văn

Nhìn chung, qua các bài viết trên các báo và tạp chí cũng như trong các công trình nghiên cứu, có thể nhận thấy các tác giả đánh giá cao về vị trí văn học của Bùi Ngọc Tấn trong dòng văn học Việt Nam hiện đại Nhưng cũng thấy rằng, hầu hết các bài viết đều chỉ đề cập những khía cạnh, những vấn đề

Trang 11

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm có ba chương chính:

Chương 1: Cuộc đời và con đường sáng tác của Bùi Ngọc Tấn

Chương 2: Đặc điểm nổi bật của thế giới hiện thực trong sáng tác của

Bùi Ngọc Tấn

Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật của văn xuôi Bùi Ngọc Tấn

Trang 12

và tư sản nhỏ hồi năm 1945, bố mẹ ông đã sớm đến với cách mạng với lòng khao khát độc lập tự do Bố ông làm Chủ tịch xã sau khi Cách mạng tháng Tám thành công và làm chủ tịch Mặt trận Liên Việt huyện Thủy Nguyên khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ Năm 1947, Thủy Nguyên bị quân Pháp chiếm đóng, ông theo bố mẹ tản cư lên Bắc Giang, Thái Nguyên và tiếp tục học văn hóa Thưở nhỏ, Bùi Ngọc Tấn đã học rất giỏi và đã sớm bộc lộ tư chất văn chương Cậu bé Tấn ngày ấy đã đỗ đầu kì thi tiểu học Liên khu Việt Bắc và thường được nhận học bổng toàn phần suốt thời gian học trung học Ngay từ nhỏ, Bùi Ngọc Tấn đã rất ham mê đọc sách Ông đọc nghiến ngấu,

vớ được quyển gì đọc quyển nấy từ Ngụ ngôn La Phông-ten, Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn, Khóc Dương Khuê … đến Bướm trắng, Thi nhân Việt Nam, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và Những kẻ khốn nạn của Victor Hugo …

Bùi Ngọc Tấn đã kể về tuổi thơ của mình : “Tôi là một đứa trẻ hơi khác thường Ngay từ lúc còn nhỏ tôi đã nghĩ mỗi ngày qua đi là một ngày mất đi, mất hẳn, là một ngày không trở lại Tôi rất mê say thiên nhiên Những buổi sáng hè, từ trong nhà bước ra khỏi cổng, cả một khu đầm nước mênh mông bàng bạc, dìu dịu trước mặt tôi, gió thổi gợn sóng đưa hơi mát đến tôi, ép lá tre vào lũy tre nhà tôi, một lũy tre ken dầy với những dây lạc tiên đeo quả có những cái áo mỏng như đăng ten Tôi rất muốn nói lên cảm xúc của mình về

Trang 13

những ngọn gió ấy, về những tia sáng đầu tiên của mặt trời vút vào lũy tre mà tôi nhìn thấy Đúng là ngày ấy tôi đã nhìn thấy những tia sáng mặt trời đầu tiên vút vào lũy tre Quá khứ, nhất là quá khứ tuổi thơ bao giờ cũng có vẻ đẹp riêng, một vẻ đẹp đến nao lòng luôn ám ảnh tôi Lớn lên, đọc những Sách Hồng, những tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn, đọc những câu đối, những bài thơ trong sổ tay của bố tôi, những Khóc Dương Khuê, những Gió dựa tường ngang lưng gió phẳng- Trăng nhòm cửa sổ mắt trăng vuông… tôi hiểu thêm vẻ đẹp của ngôn ngữ Các thầy dạy văn thời phổ thông trung học, các bạn học có máu văn chương (như Lê Bầu chẳng hạn) đã góp phần lớn vào máu mê ham thích văn chương của tôi."

Năm 1954, Bùi Ngọc Tấn vào đội Thanh niên xung phong tham gia tiếp quản Thủ đô Cuối năm 1954, hết đợt tiếp quản, được gọi đi học kỹ thuật

ở nước ngoài nhưng ông đã từ chối và sau đó xin vào làm phóng viên báo Tiền phong với bút danh Tân Sắc Thời kỳ này, ông đã có dịp đi nhiều xuống nông thôn, công trường, xí nghiệp để viết những bài báo phản ánh công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc mới giải phóng Cuối năm 1959, ông chuyển về công tác ở báo Hải Phòng, thành phố quê hương Là một nhà báo

có tâm hồn văn nghệ, Bùi Ngọc Tấn sớm nhạy cảm phát hiện và cảnh báo những hiện tượng không đẹp trong công cuộc xây dựng xã hội mới, ông đã bị bắt với tội danh “tuyên truyền phản cách mạng” và vào các trại giam, sống cảnh làm tù không án gần sáu năm trời (từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 4 năm 1973) Những trải nghiệm cảnh lao tù đã để lại nhiều dấu ấn trong các tác phẩm của ông sau này như ông từng nói: “Thật chẳng ngờ tôi đã phải sống cạn một kiếp tôi để rồi viết về chính nó” Ra tù, thất nghiệp hai năm, bằng nghị lực, ông đã làm nhiều nghề để kiếm sống: bốc vác, thợ sắt, đi buôn, kéo

xe bò… và tất cả đã trở thành những kinh nghiệm sống cho đời viết văn của ông sau này Đến tháng 5 năm 1975, nhờ sự giúp đỡ của ông Hoàng Hữu

Trang 14

Nhân, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, nguyên Bí thư thành ủy Hải Phòng, ông được nhận vào làm nhân viên văn phòng tại Quốc doanh đánh cá

Hạ Long cho đến tháng 5 năm 1995 thì nghỉ hưu

Có thể nói rằng, cuộc đời của Bùi Ngọc Tấn là cuộc đời của một nhà văn đầy bất trắc, nhưng cũng chính ông đã biết chịu đựng, vượt lên bằng nghị lực và bằng chính tấm lòng nhân hậu đối với con người và cuộc đời Đúng

như lời nhà văn Ma Văn Kháng trong bài “Nhà văn, anh là ai ?” đăng trên

báo Văn nghệ số 50, ra ngày 15/12/2012, sau khi nhắc đến một câu nói của

nhà thơ cũng đã từng gánh chịu hoạn nạn - Hoàng Cầm “ Để có cảm hứng sáng tác, nhà thơ phải sống rất thơ với cuộc đời mình”, đề cập đến cuộc đời

nhà văn Bùi Ngọc Tấn, ông đã viết: “ Bùi Ngọc Tấn đã bỏ qua số phận nghiệt ngã trong vòng lao lý, thực hiện một kiểu sống rất văn với đời mình như

Hoàng Cầm nói nên mới có được Chuyện kể năm 2000… thấm đẫm nỗi đau

đời cao thượng”

1.2 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA BÙI NGỌC TẤN

1.2.1.Quan niệm về văn chương

Bùi Ngọc Tấn đã đến với văn chương một cách say mê và đầy trách

nhiệm Trả lời phỏng vấn của báo điện tử Tổ quốc, nhà văn đã tâm sự:

“Văn chương là một sung sướng đam mê, nhưng còn là một công việc khổ sai, một lao động cực nhọc và học tập không ngừng”

Bằng chính những trải nghiệm và tự vượt lên của chính cuộc đời mình, luôn tâm niệm với ý nghĩ “ Thật xấu hổ khi chỉ đứng nhìn người khác trong cơn hoạn nạn” [22, tr 22], Bùi Ngọc Tấn xác định mục đích của văn chương:

Thứ nhất, văn chương phải hướng đến tình yêu thương con người,

trước hết là những người đau khổ Trả lời phỏng vấn của tập san Áo trắng,

khi được hỏi quan niệm của ông về văn chương, Bùi Ngọc Tấn cho rằng:

“Với tôi, văn chương thuộc về những kẻ yếu, những người bất hạnh, nhưng

Trang 15

người đau khổ, những người ở tầng đáy, những người chịu đựng lịch sử Tôi viết về họ, phụng sự họ” Dễ dàng nhận thấy những thân phận người này trong các tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn, có thể đó là những người bạn thân -

“người thật, việc thật” của tác giả như Đình Kính bán văn, Dương Tường bán máu trong “Rừng xưa xanh lá” hay các nhân vật không tên như là “anh” ,

“hắn” trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến”… Các nhân vật ở những hoàn cảnh khác nhau với những nỗi bất hạnh khác nhau nhưng đều bình đẳng trải lòng trong những trang văn đau đáu niềm thương cảm của nhà văn nặng chữ

“nhân” này Bùi Ngọc Tấn viết về họ như viết về chính bản thân mình với những trải nghiệm trong chính cuộc đời nhiều sóng gió của ông Nhà văn đã đặt mình vào nhân vật, dùng chính nỗi đau cuộc đời mình để chia sẻ, cảm thông với nỗi đau của nhân vật Ông đã tâm sự về những câu chuyện thật như ngoài đời không thể thật hơn trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” như

sau: “Khi lâm vào hoàn cảnh của những người dưới đáy, những phó người, tôi

bỗng thấy như mình mới được sinh ra, lần đầu tiên biết có một thế giới khác vẫn tồn tại, vẫn hiện diện mà trước đây mình không hề biết Tôi đánh giá lại những giá trị văn chương đã có trước đó và … không thể đọc được nữa Dù là sáng tác của các bạn tôi Nó nhạt, giả và công thức nhiều khi đến mức đáng xấu hổ.” Chính những năm tháng trong trại cải tạo rồi sau đó bươn chải kiếm sống bằng đủ nghề cùng cực đã giúp Bùi Ngọc Tấn đánh giá lại giá trị đích thực của văn chương chính là chữ “nhân”, văn chương phải cúi xuống để chạm đến được nỗi đau của phận người và phải nâng những con người bất hạnh ấy đứng dậy Đó chính là quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh được thể hiện một cách rõ ràng, dứt khoát trong những phát ngôn của ông cũng như trong chính bản thân các tác phẩm của ông Bùi Ngọc Tấn đã phải trả giá cả cuộc đời mình bằng chính mồ hôi nước mắt của những tháng ngày cơ cực và tủi nhục nhất để thẩm định lại giá trị đích thực của văn chương Thực tế hiện

Trang 16

nay, một số tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn vẫn có nhiều luồng dư luận đánh giá khác nhau, nhưng nhìn nhận ở góc độ nào đi nữa, văn của Bùi Ngọc Tấn vẫn đầy ắp cái nhìn nhân hậu, bao dung Đó chính là sự kế thừa dòng chảy chủ nghĩa nhân đạo từ ngàn đời của nền văn học Việt Nam

Thứ hai, sức mạnh cuả văn chương là nuôi dưỡng tâm hồn, làm cho con người sống tốt hơn lên Nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã từng chia sẻ với báo chí:

“Với tôi, mỗi lần ngồi vào bàn viết là một lần tôi tốt hơn lên bởi lúc đó tôi gạt hết mọi ưu tư phiền muộn, những thù hận nhỏ nhen và cả những sợ hãi vẫn còn trong con người mình, thanh lọc mình khỏi những vướng mắc, những ham muốn của cuộc đời thường nhật, sao cho sát gần với Chân -Thiện-Mỹ để đắm mình vào những dòng chữ, một công việc mà tôi gọi là “dọn mình đối thoại với

vô cùng”[30] Khó có thể nói hết cái duyên nợ giữa Bùi Ngọc Tấn với văn chương, với ông có thể đó chính là nghiệp văn Văn chương là tất cả đam mê, khát vọng kể cả đau đớn đối với cuộc đời ông Để rồi ngưng bút cả 22 năm, ngọn lửa ấy vẫn âm ỉ cháy và bùng lên dữ dội hơn, hừng hực hơn Văn chương

là thứ nước trời giúp ông xoa dịu những cay đắng của cuộc đời, nó giúp ông lấy lại thăng bằng trong cuộc sống “tôi chỉ viết những gì tôi thấy cần phải viết ra để mình sống nhẹ hơn” Văn chương đã giúp ông thanh lọc tâm hồn, gác lại mọi ưu

tư phiền muộn để nhìn đời với tấm lòng trong sáng, nhân hậu

Thứ ba, văn chương đối với Bùi Ngọc Tấn chính là một cách để khẳng định sự tồn tại của nhà văn Nhà văn tồn tại nhờ tác phẩm, nếu không có tác phẩm thì anh không là gì cả Chính vì vậy, ông sáng tác bằng tất cả niềm đam

mê và cả sự nhiệt tình trách nhiệm Trao đổi với độc giả trên trang web

dutule.com ngày 18/7/2000, Bùi Ngọc Tấn trả lời: “khi đi làm báo, viết văn, tôi thêm yêu thích nó, vì viết văn là sáng tạo Hơn nữa, đây là công việc khiến mình được đánh giá, định vị hoàn toàn bằng năng lực của mình, bằng giá trị

tự thân, không phải bằng đầu gối, nịnh bợ hay nhờ cậy công nghệ lăng xê

Trang 17

Nghệ thuật là một cái gì dìm không xuống, kéo không lên Nó mang trong nó một giá trị bất khả xâm phạm Chỉ sợ mình không làm được nghệ thuật đích thực” Có thể hiểu, ông quan niệm nhà văn tồn tại chỉ bằng chính công việc

viết văn của mình Văn chương là một công việc đặc biệt vì nó có giá trị tự thân, nhà văn khẳng định sự tồn tại của mình bằng chính năng lực đích thực của mình vì thế nhà văn phải luôn luôn sáng tạo, phải tự làm mới mình bằng

chính những tác phẩm có giá trị thật sự Ông cũng quan niệm: “Viết là để mình được có dịp để đối thoại với cái vĩnh cửu, là cố làm cho ra được vài trang sách chống chọi lại được với thời gian, là cố gắng không để mình bị

“đo ván” dù trong bất kì hoàn cảnh nào” [41] Ngay từ khi còn là đứa trẻ,

Bùi Ngọc Tấn đã cảm nhận được bước đi của thời gian “mỗi ngày qua đi là một ngày mất đi, mất hẳn, là một ngày không trở lại” vì vậy, ông rất quý trọng thời gian ngắn ngủi của đời người Đối với nhà văn, tác phẩm chính là cách để chống lại bước đi của thời gian, một tác phẩm có giá trị đích thực sẽ giúp nhà văn tồn tại trong cuộc đời này, viết văn là một cách để nhà văn đối diện với cái vĩnh cửu

Với cả một hệ thống quan điểm nhất quán của mình, Bùi Ngọc Tấn đã định hình những quan niệm văn chương cụ thể để định hướng cho sự nghiệp văn học của ông Điều đó cũng cho thấy thái độ làm việc đầy đam mê và đầy trách nhiệm của nhà văn Bùi Ngọc Tấn đối với văn chương Thực tiễn chứng minh, những tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn là những sản phẩm có giá trị góp

phần khẳng định vị trí Bùi Ngọc Tấn trong nền văn học Việt Nam hiện nay

1.2.2 Quan niệm về sáng tác văn chương

Với những quan niệm về văn chương như đã trình bày ở trên, Bùi Ngọc Tấn đã đặt ra mối quan hệ mật thiết giữa văn chương với trách nhiệm của nhà văn Nhà văn - người cầm bút phải tự ý thức về việc mình đang làm, phải biết trân trọng cây bút trong tay mình và có trách nhiệm đối với nó Trả lời phỏng

Trang 18

ký ức của dân tộc Bùi Ngọc Tấn đã nói: “Để có được một tác phẩm chống chọi với thời gian, theo tôi chỉ cần nhà văn có tài, có trách nhiệm với ngòi bút của mình, hiểu sâu sắc những gì mình viết và nhất định không uốn cong ngòi bút, cũng như không ngong ngóng được in và được trao giải thưởng”[30]

Nhìn lại toàn bộ các tác phẩm của ông dù ở giai đoạn trước hay sau đều phản ánh hiện thực cuộc sống rất cụ thể và sâu sắc, có thể xem như những thước phim quay chậm về cuộc sống, con người của một thời đã qua

Khi đề cập đến nhà văn, bên cạnh tinh thần trách nhiệm và tính chiến đấu thì Bùi Ngọc Tấn còn đánh giá cao sự trung thực của nhà văn trong sáng tác văn chương Bùi Ngọc Tấn từng nói: “Với tôi một tác phẩm gian dối là một tác phẩm vô đạo đức” Và để có thể làm được nghệ thuật đích thực thì đòi hỏi nhà văn phải trung thực với chính mình, phải viết bằng chính những trải nghiệm của bản thân mình lăn lộn, lặn ngụp trong cuộc sống để làm sao ghi lại được dấu ấn thời đại trong chính mỗi trang văn Độc giả nhận xét tập truyện ngắn “Người chăn kiến” là những câu chuyện thật như ngoài đời không thể thật hơn, tiểu thuyết “Biển và chim bói cá” được xem như cuốn sử thi của sự tan rã, còn các tập hồi ký và chân dung văn học lại chính là những câu chuyện thật về bạn bè của chính tác giả … Tất cả đều được viết bằng kí

ức về những năm tháng lăn lộn với nghề làm báo, những từng trải trong năm

Trang 19

năm bị cải tạo, và hơn hai mươi năm tiếp xúc với nghề cá ở Quốc doanh đánh

cá Hạ Long Ông đã viết bằng tất cả sự trung thực đối với những gì mình thấy, mình nghĩ Tuy nhiên, trung thực không phải là nhà văn phải bê nguyên cái sự thật ngoài đời vào trong văn chương, không phải văn chương phản chiếu nguyên xi cuộc sống mà phải theo một cách thức riêng Những sáng tác của Bùi Ngọc Tấn “thật như ngoài đời, không thể thật hơn” … là tiêu chí của ông mỗi khi ông cầm bút Tất nhiên sự thật trong sáng tác cao hơn sự thật ngoài đời Cái hiện thực trong tác phẩm phải là hiện thực được chọn lọc, được tinh chế Nó đòi hỏi nhà văn phải đào sâu để nắm bắt nguồn gốc căn nguyên của sự thật với sự lao động tận tụy và đầy trách nhiệm về những gì mình viết Nhà văn phải trung thực để truyền tải đầy đủ tất cả những thông điệp đó đến với bạn đọc Và ở đây, ta lại hiểu rõ thêm một góc độ khác của “trung thực” theo quan niệm của Bùi Ngọc Tấn: nhà văn không phải chỉ trung thực với những sự việc được kể, được nói đến trong tác phẩm mà còn phải trung thực với chính bản thân mình Nhà văn khi cầm bút phải “thanh lọc tâm hồn” không để những đố kị, ghen ghét, thù hận, tham vọng nhỏ nhen phủ bóng xuống trang văn của mình, điều khiển ngòi bút của mình mà hãy để tâm hồn mình trở về căn nguyên bản chất lương thiện của nó Trong buổi phỏng vấn

tại trung tâm William Joiner, UMass, Boston ông đã phát biểu: “Hãy trung thực Viết tất cả những gì mình biết, mình trải, với tấm lòng bao dung, không thêm, không bớt, không thù hận Hãy dọn mình đối thoại với vô cùng Viết với lòng nhân ái, với sự tự do mình dành cho mình, để tìm ra gốc gác, căn nguyên, không hớt váng Viết với một sự giản dị, chân thành nhất Và viết với

sự luyến tiếc đến đau đớn một thời tuổi trẻ đã qua.” Có thể nói, trước hết nhà

văn phải trung thực với chính mình thì mới có thể đem đến sự trung thực trong tác phẩm Nhìn nhận lại toàn bộ sáng tác của mình, Bùi Ngọc Tấn hài

lòng với chính sự trung thực đó như lời ông nói: “Những gì phải viết, tôi đã

Trang 20

Có thể nói, Bùi Ngọc Tấn là một trong số ít những nhà văn đã định hình cho mình một hệ thống những quan điểm về nghệ thuật khá rõ ràng và

Trang 21

nhất quán.Việc tìm hiểu cụ thể những quan điểm, những góc nhìn của tác giả

về văn chương và về công việc sáng tác sẽ giúp người đọc nắm được chiếc chìa khóa để mở cánh cửa văn chương Bùi Ngọc Tấn

xí nghiệp để viết những bài báo phản ánh công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc mới giải phóng Cuối năm 1959, nghe theo lời khuyên của Đảng, ông chuyển về công tác ở báo Hải Phòng, thành phố quê hương, thâm nhập công nông để “viết tác phẩm của đời mình” Ngoài viết báo, phóng sự, bút ký, trường ca phản ánh cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân thành phố chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, ông còn viết sách Các tác phẩm chính của ông ở giai đoạn này có thể kể là:

Trang 22

-Giai đoạn 2: Từ năm 1990 đến nay: Bùi Ngọc Tấn im lặng hơn 20 năm (từ 1968 đến 1990) Với sự động viên của bạn bè và ngọn lửa văn chương vẫn âm ỉ cháy, bài viết “Nguyên Hồng, thời để mất” in trên tạp chí Cửa Biển (1989) đã đánh dấu sự trở lại của Bùi Ngọc Tấn Từ đó đến nay, ông đã xuất bản các tập sách sau:

- Nguyên Hồng, thời đã mất (1993)

- Một thời để mất, hồi ký (1995)

- Những người rách việc, truyện ngắn (1996)

- Một ngày dài đằng đẳng, truyện ngắn (1999)

- Chuyện kể năm 2000, tiểu thuyết (2000)

- Rừng xưa xanh lá, chân dung văn học (2002)

- Viết về bè bạn , chân dung nghệ sĩ (2003)

- Biển và chim bói cá, tiểu thuyết (2008)

- Người chăn kiến, truyện ngắn (2010)

Nói về hai giai đoạn sáng tác này của mình, Bùi Ngọc Tấn đánh giá cao

hơn về giai đoạn sau Ông đã trả lời báo chí: “Tôi đã ngừng viết 20 năm Những sáng tác giai đoạn đầu không có gì để nói, nếu có chỉ là một sự xấu hổ hồn nhiên Tôi bằng lòng với những sáng tác của tôi trong giai đoạn hai ở mức độ này thôi: Những gì phải viết, tôi đã viết Trung thực, không gian dối, không bôi bác, với tất cả trách nhiệm công dân và trách nhiệm nhà văn” [9]

Ông nói về giai đoạn sáng tác đầu như sau: “Những sáng tác này đều theo trường phái “tụng ca”, bây giờ nghĩ lại thấy xấu hổ Nhưng đó là sự ngây thơ chân thành của một thời.” Có thể nói 20 năm ngưng bút (từ 1968 đến 1990) sau những biến cố của cuộc đời, Bùi Ngọc Tấn đã có thời gian để nhìn nhận lại mọi việc, nhìn nhận lại cả ý nghĩa văn chương để từ đó thay đổi cả hệ thống quan niệm nghệ thuật của ông Nhà văn đã chuyển từ văn học “tụng ca”, văn học “minh họa” sang văn học viết về con người như lời của tác giả viết ở lời bìa tập truyện ngắn “Người chăn kiến” [22]

Trang 23

*Các tác phẩm đoạt giải

-Giải thưởng báo Văn Nghệ cho truyện ngắn “Sao” năm 1958

- Giải thưởng Bộ Văn Hóa cho truyện "Nhật ký xi măng " 1964

-Tặng thưởng sách hay của nhà xuất bản Hội Nhà văn năm 1995

-Giải thưởng Hoa Phượng đỏ (Hải Phòng) cho truyện ngắn "Người mua

nhà của bố mẹ tôi" năm 1996

-Giải B Hội Nhà văn cho tập chân dung văn học " Rừng xưa xanh lá" năm 2002 (không có giải A)

-Giải thưởng Henri Queffélec tại Festival Sách và Biển (Pháp) tháng 4/2012 cho tiểu thuyết " Biển và Chim bói cá"

Từ 1968 đến 2010, với 42 năm trong một đời văn, với một số lượng tác phẩm không phải là nhiều nhưng điều đáng trân trọng ở Bùi Ngọc Tấn là ông

đã sáng tác bằng tất cả tinh thần trách nhiệm của một công dân và tinh thần trách nhiệm của một nhà văn Những tác phẩm của ông đặc biệt là ở giai đoạn sau này đã để lại một dấu ấn văn học sâu sắc trong lòng bạn đọc ngày nay

Trang 24

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA THẾ GIỚI HIỆN THỰC TRONG SÁNG TÁC CỦA BÙI NGỌC TẤN

2.1 HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI VÙNG BIỂN

Nhìn lại sự nghiệp sáng tác của Bùi Ngọc Tấn, chúng ta dễ dàng nhận thấy viết về biển là một đề tài quen thuộc trong sáng tác của ông Sinh ra và lớn lên tại thành phố biển Hải Phòng, bản thân ông từng là một nhân viên ở một xí nghiệp đánh cá quốc doanh hơn 20 năm nên tình yêu biển và cuộc sống vùng biển đã trở thành điều hiển nhiên trong cuộc đời ông Bùi Ngọc

Tấn đã tâm sự: “Là một thành viên, một tế bào của cái cơ thể phập phồng hơi thở có một đối tượng lao động là biển cả này, tôi vui niềm vui của những ngày biển lặng gió êm, những chuyến biển tàu về đầy ắp cá; tôi lo lắng cho những người bạn của tôi đang chịu gió mùa, tránh bão, tôi chia sẻ nỗi buồn với những thủy thủ khi những chuyến biển bị gẫy … Tôi cũng đã nhiều lần đi biển Reo hò khi đụt cá căng phồng ào ào trút nước xuống boong, lo lắng nhìn đụt lép kẹp vừa lôi lên sàn dốc Chọn tôm, nhặt cá, luộc tôm tít ăn khuya cùng các thuyền viên Tôi yêu họ, tôi yêu biển Tôi mắc nợ với biển và mắc nợ với họ…” [31] “Biển và chim bói cá” là một trong những tác phẩm đồ sộ viết

về biển và nghề đánh cá mà trước Bùi Ngọc Tấn có thể nói chưa có tác phẩm nào có tầm vóc sánh ngang như vậy Hình bóng của biển cả còn xuất hiện nhiều trong các tác phẩm khác của ông như truyện ngắn “Lạc đội hình”,

“Trung sĩ” … trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến”

2.1.1 Thiên nhiên biển cả

Bằng chính những trải nghiệm của cuộc đời, Bùi Ngọc Tấn đã đóng góp những trang văn thật hay, thật đẹp về biển và nghề đánh cá Biển trong trang văn của ông hiện lên khỏe khoắn, trong sáng và bao giờ cũng gắn với

Trang 25

Cảnh biển buổi sáng: “Mây yêu mặt biển buổi sáng nắng tràn, gió về

ào ạt Một vệt sóng vàng lóa mắt như gang chảy trong lò, nhỏ dần ở mãi phía chân trời, càng gần càng to, loang loáng băng băng về phía mũi thuyền Nó giống một dòng sông vàng rực rỡ giữa mặt biển xanh sẫm gần như tím lại…”

[21,Tr.142]

Cảnh biển buổi chiều: “Chiều nay biển đẹp Mặt trời đang lặn, hắt ánh sáng vào cánh cửa cabin chếch lên đình màn gió rung bần bật Cái chỏm bên trên như bị cắt ra bằng một vệt sẫm Một con thuyền với hai cánh buồm nhọn hoắt phía xa nằm gọn trong lòng mặt trời to lớn đỏ rực nhưng không chói mắt Tôi nom rõ mặt trời chìm từng phần xuống biển Từ chỗ mặt trời đang chìm dần, một vệt vàng lấp lánh chạy tới thân tàu Rồi khi mặt trời lặn hẳn, không còn một chút ánh sáng nào nữa, mặt biển vụt thay đổi hoàn toàn Không vàng rực lấp lóa nhức mắt mà bốn phía mênh mông mềm mại Chỉ còn những mảng hồng, da cam và xanh thẫm nhấp nhô…” [21,Tr.137]

Cảnh biển đêm trăng đẹp thơ mộng trong sự hài hòa, quấn quýt, đùa

giỡn với con tàu trong cặp mắt thơ ngây của cậu bé Phong: "Tôi đứng dậy đi

ra vịn lan can nhìn biển Trăng chênh chếch lấp lánh Những gợn sóng đẫm trăng rượt theo nhau như đã hẹn nhau đi tới một nơi nào đó, không dừng lại Tàu vẫn đi, nhưng dù có quay ngược, quay xuôi thế nào cũng vẫn là một vệt trăng vàng bám đuổi không rời Dòng nước phía đuôi tàu lõm xuống rồi cộn lên, hệt như biển đang đùn lên một dòng nước bằng vàng…” [21,Tr.269]

Cảnh biển trong văn Bùi Ngọc Tấn đôi khi lại hiện lên đẹp đẽ, lung linh thấm đẫm sắc màu huyền thoại, như thực như hư gợi ra bao điều bí ẩn đầy

Trang 26

hấp dẫn Đó là câu chuyện về cảnh đánh nhau trên biển giữa cá xà và cá Ông

“máu đỏ loang cả một vùng biển… Đến chiều, một cột nước vút thẳng lên trời

và tỏa xuống thành một cái cầu vồng Cột nước của cá Ông báo hiệu thanh bình trở lại Cá heo lại nhào lộn Cá nạng lại vác kiếm đi tiên phong, cá song, bạch tuộc, cua bể, tôm hùm lại nhảy múa chung quanh cá Ông hiền lành đường bệ.” Câu chuyện về con cá hiên, bao giờ cũng sa lưới cả đôi, cá vợ cá

chồng sống chết có nhau, chung thủy Hay câu chuyện về sự tích Núi Hài trong Vụng Ngọc có nguồn gốc từ một chiếc hài bị đánh rơi của các nàng tiên trên trời rủ nhau xuống biển tắm…

Biển đẹp còn ở nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng các loài cá Mỗi loài cá có những đặc điểm, màu sắc và những câu chuyện riêng của nó Bùi Ngọc Tấn cứ nhẹ nhàng, khoan thai miêu tả vẻ đẹp các loài cá một cách tinh

tế, đầy trìu mến “Rất nhiều loại cá Tôi không biết tên Con nào cũng đẹp

Đủ các màu sắc Tôi nhặt một con cá nhám (một loại cá mập nhỏ) còn sống đặt lên tang tời nhìn ngắm Trông nó thật đẹp da nó có những màu sắc của

da trời Trong xanh, vàng, bàng bạc thay đổi liên tục Mang nó phồng lên xẹp xuống cũng như nó luôn cựa mình.” [21,Tr.94]

Phải nói rằng không có một tình yêu vô hạn với biển khơi của quê nhà, không có một vốn sống đầy ắp và một khả năng quan sát tinh tế, ngòi bút của Bùi Ngọc Tấn không thể có được những trang văn như vậy

2.1.2 Cuộc sống sinh hoạt vùng biển

Không chỉ tinh tế trong khả năng quan sát, miêu tả cảnh biển mà cuộc sống sinh hoạt vùng biển cũng hiện lên cụ thể, sinh động trong văn Bùi Ngọc Tấn Cảnh bến cảng, cảnh tàu cập cảng, tàu ra khơi, tàu vướng lưới rê, tàu kéo lưới, cảnh tàu mắc cạn, bán cá trên biển, ăn cơm trên tàu, cảnh tắm tập thể trên tàu, các cuộc nhậu li bì; rồi miêu tả cụ thể từng bộ phận của con tàu như guồng máy, buồng lái, hầm cá, buồng ăn, buồng ngủ; miêu tả các kỷ thuật

Trang 27

nghiệp vụ đánh cá như phân loại cá, kéo lưới, vá lưới, tác nghiệp hải đồ, nghiên cứu chất đáy để bám luồng cá… Tất cả cứ từ từ hiện ra cụ thể, sinh động như bộ phim phóng sự về cuộc sống sinh hoạt vùng biển

Ngay từ đầu truyện, người đọc đã bị hấp dẫn bởi cách miêu tả cụ thể những con tàu cập cảng Nhưng đặc sắc nhất vẫn là cái cách Bùi Ngọc Tấn nói về những khó khăn, vất vả của cuộc sống người lao động trên biển Ở khía cạnh này, tác giả đã chứng tỏ sự am hiểu sâu sắc của mình về họ ngay cả ở những góc khuất của tâm hồn, ở cả những nỗi niềm thầm kín nhất Tất cả đều bắt đầu từ tình yêu của nhà văn đối với cuộc sống và con người vùng biển

Đầu tiên, đó là nỗi vất vả của cuộc sống trên tàu Mỗi chuyến ra khơi ít nhất là nửa tháng, mọi người phải quen dần với cách sống và sinh hoạt trên biển khi xa nhà, xa đất liền biền biệt Điều này chẳng hề dễ chịu chút nào:

“cuộc đời họ gắn với biển, với các cảng, các bến sông, trôi nổi như sóng như nước, tàu là nhà, nhà là quán trọ, quanh quẩn mấy chục mét vuông, từ cái giường hẹp ra ngoài hành lang, từ hành lang ra boong, từ boong xuống hầm

cá, xuống buồng máy, lúc nào bàn chân cũng giẫm lên sắt thép, lúc nào cũng trong nhịp tàu rung, trong tiếng rền rền của tiếng máy tàu, khi làm việc, cũng như khi chơi, khi đánh bài, khi ăn khi ngủ ” [21,Tr 253-25]) Nỗi vất vả đó

còn đáng sợ hơn khi có lệnh kéo dài thời gian trên biển để bám luồng cá kéo theo bao nhiêu kế hoạch bị đổ vỡ, bao nỗi thất vọng, bất mãn trong anh em thủy thủ…[21,Tr.85]

Cuộc đời của người thủy thủ lao động mệt nhoài trên biển, cảnh sống trong tiếng máy tàu chưa phải là điều đáng sợ nhất mà đáng sợ nhất đối với họ

là nỗi nhớ bờ, nhớ đất liền bởi lẽ đất liền chính là gia đình, là vợ con, là người tình của họ Ở đây, Bùi Ngọc Tấn chứng tỏ sự thông cảm, am hiểu biết bao về người dân chài khi ông nói hộ họ những điều thầm kín, đó chính là nỗi thèm khát đàn bà Họ nói những câu chuyện dung tục với nhau, họ lên những

Trang 28

chiếc “tắc-xi” trên biển để vào bờ tìm thú vui, họ treo kín bốn vách tường

“những con cá ó với cái bụng trắng phinh phính, con nào con ấy đều có một con cá mối nâu cắm vào chỗ ấy”, họ tìm mọi cách để quên đi cái nhu cầu

thầm kín ấy Họ mong sớm được về nhà Có lúc dường như không ngần ngại đưa cả yếu tố tính dục vào trong tác phẩm, nhưng vì Bùi Ngọc Tấn rất thấu hiểu những khát vọng tự nhiên vốn rất nhân bản của những người thủy thủ phải sống cuộc đời của “chim bói cá” giữa trùng khơi, nên người đọc càng

thấy tính chân thật của tác phẩm: “Cái điều bất cứ thuyền viên nào đã có vợ đều nghĩ tới ngay khi nghe lệnh tổng vệ sinh tàu dù đang ở Vịnh Bắc Bộ hay còn tận mãi Vịnh Thái Lan: Ngủ với vợ (và nhiều anh đã cứng lên ngay từ lúc

ấy – cánh đi biển xơi nhiều chất đạm, lại bị dồn nén lâu ngày mà!) [21,

Tr.83] Đó là một nhu cầu bản năng nhưng tất yếu, trở thành một thử thách đáng sợ đối với những trai tráng đi biển Chính vì vậy, cảm giác nhớ đất liền trở thành tình cảm thường trực, hiện lên cụ thể trở thành một tình yêu tha thiết

đối với cuộc sống Thật cảm động biết bao: “Ngay khi tàu còn ở giữa sông chờ cập cảng, tất cả đã đứng trên boong, cùng hướng vào bờ, thấy người đi lại, xe đạp, xe máy, nhất là thấy những mái tóc dài hoặc xõa vai, những dáng

đi uyển chuyển…, bỗng hiểu ra một điều: Đấy mới thực là cuộc sống Muốn trìu mến lắng nghe, siết chặt lấy người đang đi trên cầu mà hít một hơi dài mái tóc xõa kia …” [21,Tr.23], hay ý nghĩ “-Lên bờ trông người phụ nữ nào cũng đẹp… Người phụ nữ nào cũng làm mình muốn ôm chầm lấy, cũng làm sống dậy trong mình cái máu Đa si!” [21,Tr.93] Bùi Ngọc Tấn đã nói hộ cho

họ những điều khó nói ấy với nỗi niềm thông cảm, yêu thương

Chính từ sự thấu hiểu ấy, Bùi Ngọc Tấn không chỉ ngợi ca một chiều Ông phát hiện ở họ, những con người bằng xương thịt rất cụ thể cả những tính tốt lẫn những nết xấu qua cái nhìn của cậu bé Phong ghi lại trong nhật ký Với đặc trưng riêng của công việc đánh cá trên biển, một môi trường làm việc

Trang 29

ăn cho đàn con nhỏ Cậu bé Phong đã nghĩ: “ Tôi thương mẹ và yêu mẹ vô cùng Còn mẹ lại thương chúng tôi Và mẹ thương bố lặn lội sông nước biển

cả vì ba mẹ con tôi Giống con chim bói cá ngậm con cá nhỏ vừa bay từ biển vào bờ.” [21,Tr.122] Ở họ, còn ngời sáng vẻ đẹp của tình đồng chí, tình bạn

gắn bó keo sơn Sống bên cạnh biển, tấm lòng của họ cũng mênh mông như biển Họ sẵn sàng chia bùi sẻ ngọt, giúp đỡ bạn bè những lúc khó khăn hoạn nạn Giữa những cay đắng bộn bề của cuộc đời khốc liệt, Bùi Ngọc Tấn đã làm người đọc phải xúc động trước những tình cảm ấy Đó là tình bạn giữa Quân và Mây sẵn sàng “chi viện đồng hương” trong những ngày thuyền Mây lên bờ trùng tu dài hạn, tình huống giả bệnh để xin rượu thuốc cũng được bác

sĩ Bá thông cảm bỏ qua, đó là cảnh uống rượu mút đinh vì không có tiền mua mồi nhấm, đó là sự thông cảm “tâm sự thầm kín” của đại phó Phạm Cương bao che cho Trần Bôn lúc anh bỏ cuộc họp gấp để về nhà khi tàu vừa cập bến… Bên cạnh đó, môi trường làm việc khắc nghiệt thế nhưng người dân chài lại làm việc một cách cần cù, nhẫn nại chịu nắng chịu mưa chịu đựng cuộc sống ăn uống ngủ nghỉ trong tiếng máy tàu và trong độ bập bênh của sóng gió Thậm chí, có khi ở họ cũng lóe sáng những con người gan góc, can đảm như những người anh hùng Đó là thuyền trưởng Phạm Đình Liễn nổi tiếng với những chuyến tàu chở vũ khí vào quân khu Bốn giữa những trận

Trang 30

thủy lôi ác liệt trong kháng chiến chống Mỹ Đó là thuyền trưởng Lê Mây với câu chuyện anh săn cá mập trên biển không kém gì một cuộc phiêu lưu Ở họ bình thường thì rất bình thường nhưng vĩ đại cũng rất vĩ đại Họ gắn bó với

biển, yêu biển và như Lê Mây đã từng ao ước “khi kháng chiến thắng lợi sẽ đưa tàu đi đánh cá ngoài biển khơi, biển của anh, tàu của anh, của những người như anh, khai thác biển vàng biển bạc, xây dựng đất nước ngày một giàu mạnh, sánh vai cùng các nước khắp năm châu” [21,Tr.144]

Nổi bật trên nền hiện thực xô bồ, ngột ngạt ấy của “Biển và chim bói cá”, cảnh chia tay giữa Hòa và Chơn là những trang văn đầy trong sáng về một tình yêu đẹp của người thủy thủ Đó là lúc sáng sớm, không gian cảng

biển vẫn chưa thức dậy, còn chìm đắm trong sự yên bình đầy thanh thản: “Và sương mù Sương mù huyền diệu như làm dịu lại tất cả căng thẳng của cuộc đời Sương phơi phới từng làn qua cửa sổ ùa vào căn phòng gác nhà ai để

mở, ngọn đèn tròn treo thõng trên trần cũng chỉ hoe hoe Sương khuyên con người hãy yêu cuộc sống, hãy sống tốt hơn” [21,Tr.283] Giữa cõi trần thơ

mộng đó không còn chỗ cho những ồn ào náo nhiệt của đời thường, Chơn và Hòa đắm mình trong tình yêu trong sáng của họ, tình yêu mà họ chỉ cần có nhau chứ không vì một mục đích dục vọng nào Họ chia tay nhau trong lưu

luyến , trong mắt nhìn đầy yêu thương, trong lời hò hẹn trở về: “Tu tu Tu tu Trong sa mù, tiếng còi tàu như tiếng kêu gọi bạn giữa bồng bềnh tiền sử Tu

tu Tiếng gọi kiên nhẫn thiết tha Tu tu Tiếng gọi nhỏ dần Nhỏ dần Vọng lại

từ phía sa mù đặc ngoài cửa biển Vọng lại chỗ Hòa như còn cố gửi một lời chào, một lời hò hẹn Rồi không nghe thấy tiếng còi sương nữa " [21,Tr.28]

Có thể nói đó là những trang văn hay nhất, mang vẻ đẹp hòa hợp giữa thiên nhiên thơ mộng và tình yêu trong sáng Đó là lần duy nhất không có bóng dáng của đói khổ, của tiền bạc, danh vọng, thủ đoạn mà chỉ có tình người cao đẹp và họ đang chờ đợi một tương lai hạnh phúc phía trước Bùi Ngọc Tấn đã

Trang 31

miêu tả cảnh gặp gỡ và chia tay của Chơn và Hòa để kết thúc phần một của truyện với cái nhìn nhân hậu, yêu thương và niềm hi vọng về một ngày mai

tốt đẹp hơn

2.1.3 Câu chuyện về ngành kinh tế biển

“Biển và chim bói cá” - Cuốn tiểu thuyết dày hơn 500 trang với chừng hơn hai mươi nhân vật, còn phản ánh chân thực, nhạy cảm về một cách làm kinh tế biển qua hình ảnh sự tồn tại và tan rã của Quốc doanh đánh cá Biển Đông - một đơn vị kinh tế nhà nước có quy mô lớn trong giai đoạn chuyển đổi

cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, mở ra một cái nhìn sâu rộng về đời sống con người trong một giai đoạn lịch sử

Với số lượng đông đảo về nhân vật và ngồn ngộn chi tiết, Bùi Ngọc Tấn đã kể cho chúng ta nghe không chỉ câu chuyện về một đơn vị kinh tế mà

kể về một câu chuyện thời đại với những thân phận khác nhau gắn liền với cơ chế đó Ông kể về thân phận những con “chim bói cá” Truyện có hai phần: Phần thứ nhất kể về “những con chim bói cá” trên biển Phần thứ hai kể về

“những con chim bói cá " trên bờ Truyện mở đầu bằng cảnh những con tàu cập cảng đầy tôm cá và kết thúc trong cái ngây ngây dại dại của nhân vật Cảnh - người đầu tiên bị cho nghỉ việc Gắn với thân phận những con “chim bói cá” là những cách thức mưu sinh, những thủ đoạn làm giàu Liên hiệp Biển Đông từ nhiệm vụ đánh bắt cá đã chuyển sang “núp bóng” đánh bắt cá

để thay đổi ngành nghề với hai đời giám đốc Đời giám đốc Trần Hữu Bằng thì đánh cá cho cạn kiệt biển Đông đến đời giám đốc Hoàng Quốc Thắng, công việc đánh bắt cá chỉ còn trên danh nghĩa với những chuyến ra khơi ngày càng thưa thớt mà bây giờ là những chuyến tàu xuất khẩu sắt vụn, bán đá cho con buôn, bán trộm cá trên biển, cho thuê cầu cảng và bến đỗ, những chuyến tàu viễn dương vận tải thuê thì ít mà mua hàng lậu thì nhiều Gắn với thân phận “chim bói cá” là cảnh cơ cực, bần hàn của “tổ ấm” của nó: bố Chơn chết

Trang 32

mà không có vải đỏ liệm phải liệm bằng vải trắng, vợ Chơn ngoại tình vì chồng đi biền biệt, Nhâm hiền lành chân chất thì phải trắng tay vì bị lừa tình lừa của, vợ Toàn được trả lương bằng các loại cân thay cho tiền (vì xí nghiệp của chị sản xuất cân mà lại đang lâm vào cảnh tồn đọng hàng), những bữa cơm gia đình không có chút thịt cá nên da dẻ ai cũng xanh xao bủng beo, bác

sĩ Bá chạy vạy vay mượn mọi cách để kiếm chút tiền đầu tư cho chuyến tàu viễn dương với khát vọng đổi đời Hàng trăm nhân vật là hàng trăm khuôn mặt với hàng trăm thân phận khác nhau giàu, nghèo, sang, hèn, lương thiện, xảo trá Tất cả chen chúc, xô đẩy, giành giật nhau tạo nên một bức tranh rộng lớn, tràn ngập những con “chim bói cá” trên vùng biển xác xơ Bùi Ngọc Tấn đã phác họa một bức tranh sâu rộng về sản xuất của một Liên hiệp quốc doanh đang đi vào sự rệu rã không thể cứu vãn Các nhân vật, các thân phận người quan hệ tưởng chừng lỏng lẻo nhưng lại rất khắng khít dẫn đến sự sụp

đổ một cách liên hoàn: những con tàu không ra khơi và trở thành những đống sắt vụn, những con người đói khổ nhếch nhác, đánh đổi nhân cách, niềm tin, những mánh khóe làm giàu, những lối làm ăn manh mún tạm bợ, và cuối cùng là sự rệu rã của một cơ chế, một thời đại

Bùi Ngọc Tấn với quan niệm trung thực trong sáng tác, ông đã đem vào tiểu thuyết của mình một hiện thực tươi ròng sắc màu của nó mang lại cho người đọc một cảm xúc nhân văn về cuộc sống và con người của một thời đại lịch sử Bùi Ngọc Tấn gọi nó là một cuốn sử thi về sự tan rã cũng là vì vậy

2.2 CẢM QUAN HIỆN THỰC VỀ CON NGƯỜI

Cảm quan hiện thực về con người là hệ thống những quan niệm, tư tưởng đánh giá của nhà văn về con người trong mối quan hệ với hiện thực cuộc sống Ở mặt cuối của bìa tập truyện ngắn "Người chăn kiến ", Bùi Ngọc Tấn đã nói về quá trình nhận thức của mình về hình tượng con người trong tác phẩm như sau :

Trang 33

" Năm 1955, tôi đến với văn chương bằng truyện ngắn Hai chiếc máy

bơm in trên Văn nghệ Truyện viết với chủ đề chống tư tưởng trông chờ máy

bơm, phải tích cực đào giếng chống hạn,

Năm 1990, tôi trở lại với văn chương cũng bằng truyện ngắn : Cún,

viết về một con chó, nhưng thực ra là chuyện người Từ viết minh hoạ cho một chủ trương chính sách đến viết về con người phải mất 35 năm ".[22]

Sự trở lại với văn chương của Bùi Ngọc Tấn gắn với sự thể hiện hình tượng con người, có cả con người xã hội lẫn con người đời tư Ông không tham lam đi vào phác hoạ độ rộng mà tập trung vào độ sâu của đề tài, tức là người đọc không thấy nhiều kiểu loại về nhân vật trong tác phẩm Bùi Ngọc Tấn nhưng ở mỗi kiểu loại đó, nhà văn lại tập trung làm rõ căn nguyên, gốc gác của bất hạnh, bi kịch của nhân vật

Hình tượng con người trong văn xuôi của Bùi Ngọc Tấn qua tiểu thuyết " Biển và chim bói cá " và tập truyện ngắn " Người chăn kiến" có thể khái quát ở ba bình diện : Con người thời cuộc, con người cô đơn, con người hoạn nạn (thân phận phó-người) Tất nhiên sự phân chia trên đây chỉ là tương đối, bởi lẽ, nói như đại văn hào Nga, L Tônxtôi : " con người là tất cả "

2.2.1 Con người thời cuộc

Con người thời cuộc là một đóng góp mới mẻ của Bùi Ngọc Tấn Ở hình tượng con người này, nhà văn không đi vào phản ánh bi kịch tinh thần, những dằn xé nội tâm đến đau đớn như kiểu nhân vật con người đời tư thế sự Ông không thể hiện con người ở bình diện sáng tạo lịch sử hay nạn nhân của lịch sử Bùi Ngọc Tấn nhìn nhân vật ở cách thức tiếp cận thời cuộc của họ Trước bối cảnh xã hội-lịch sử, thái độ lựa chọn cơ hội sẽ dẫn con người đứng trước những nẻo đường số phận khác nhau Điểm mốc lịch sử năm 1986 với đường lối Đại hội Đảng VI đã đặt ra những vấn đề thời cuộc Cuộc sống đói nghèo, thiếu thốn những năm cuối cùng của cơ chế bao cấp đã đón nhận

Trang 34

những làn gió mới của cơ chế kinh tế thị trường buộc con người phải đứng trước những sự lựa chọn và đánh đổi Những mánh khoé, thủ đoạn để trục lợi làm giàu đi ngược với lương tâm đạo đức Hay vẫn giữ lương tâm, đạo đức thì lại tiếp tục với cuộc sống thiếu thốn, kham khổ Bùi Ngọc Tấn đã miêu tả một cách trung thực, sâu sắc về con người thời cuộc đó, đặc biệt là trong tiểu thuyết " Biển và chim bói cá "

Con người thời cuộc có thể chia thành những dạng thức sau : nhân vật

xu thời và nhân vật lạc thời Khi đề cập đến hai tuyến nhân vật này, Bùi Ngọc Tấn không quá đề cao đặc điểm xuất thân của họ mặc dù đây cũng là yếu tố rất quan trọng Nhân vật xu thời và nhân vật lạc thời có thể là những người có tiền và có quyền nhưng cũng có thể là những người xuất thân nghèo khổ như phần lớn người dân lao động, công chức của thời bao cấp Sự chuyển giao giữa cái cũ và cái mới ở thời điểm giao thời đã tạo ra những cơ hội và thách thức mới đối với con người Có những hành vi tiêu cực, những thủ đoạn danh vọng, mánh khóe làm giàu đi ngược với pháp luật, đạo lý nhưng nghiễm nhiên được thừa nhận như một đạo luật bất thành văn, như những " kinh nghiệm vàng " để con người tồn tại và vươn lên Người xu thời biết tận dụng những thủ đoạn và thời cơ đó để phát triển Người lạc thời thì lại chậm thích nghi dẫn đến bỏ lỡ cơ hội để đổi đời để rồi trở thành kẻ bị đào thải, kẻ thất bại trong xã hội

a Người " xu thời "

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa : xu thời nghĩa là tuỳ thời thế, thấy mạnh thì theo nhằm mục đích cầu lợi Người xu thời là người biết dựa vào thời thế, nước lên thì thuyền lên, nước xuống thì thuyền xuống để mưu cầu lợi ích cá nhân Suy cho cùng thì mục đích mưu cầu lợi ích cá nhân cũng là một nhu cầu tất yếu và chính đáng của con người để có cuộc sống tốt hơn, tiến bộ hơn trên

cơ sở giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích riêng và chung, cá nhân và tập

Trang 35

thể Thế nhưng các nhân vật xu thời trong tác phẩm Bùi Ngọc Tấn đại diện cho những người lợi dụng mọi mánh khoé, thủ đoạn để chà đạp lẫn nhau, để đục khoét của công chỉ để làm giàu, làm lợi cho bản thân mình Họ đại diện cho lớp người mới trong một giai đoạn chuyển giao giữa hai cơ chế, khi mà cái mô hình cũ đang hấp hối, rệu rã và mô hình mới đang thai nghén, chưa định hình Đó chính là những " con chim bói cá " theo cách hiểu hình tượng của Bùi Ngọc Tấn

Trong tuyến nhân vật xu thời cũng có thể chia thành các nhóm nhỏ với những cấp độ, đặc điểm " xu thời " khác nhau

Thứ nhất, nhân vật xu thời chính là những người biết tận dụng thời cơ

và mọi điều kiện mình có để tồn tại và phát triển Đặc điểm chung của nhóm nhân vật này là thông minh để nhận ra thời cơ, biết cách sử dụng thời cơ thậm chí biết tạo ra thời cơ cho mình Họ sẵn sàng vứt bỏ lương tri đạo đức, họ sử dụng mọi lợi thế mình có để từ không có tạo thành có, để từ có ít thành có nhiều, để từ quyền lực thấp trở thành quyền lực cao Có rất nhiều những thủ đoạn được họ sử dụng để làm những nấc thang danh vọng

Nhóm người có chức quyền thì tận dụng chức quyền để mưu cầu danh vọng, làm giàu Đó có thể là những người trên đỉnh cao danh vọng và quyền lực, là những " bóng cây kơ-nia " để bao che cho cấp dưới Bùi Ngọc Tấn gọi

họ dưới cái tên nhân vật Đại ca Dưới Đại ca mới đến Tổng giám đốc Hoàng Quốc Thắng – đây mới đúng là nhân vật trung tâm của nhóm nhân vật xu thời cấp cao này Gíam đốc Thắng trước vốn là anh trưởng phòng kỹ thuật nhưng

ông là người hiểu thời thế, nhìn xa trông rộng " ông hiểu cái gì đang chờ đợi ông Hoặc ông sẽ đổi đời, nên người, hoặc ông mãi mãi là anh trưởng phòng

kỹ thuật ’’ Ông đã hoạch định chiến lược tiến thân của mình bằng cách chọn

Đại ca để đầu tư chiều sâu Triết lý sống của ông là phải biết chia động từ

" ăn " " Chia động từ " ăn " phải là ‘tôi ăn " " anh ăn "" nó ăn " Quan trọng

Trang 36

nhất không phải là tôi ăn mà là anh ăn Nó ăn xếp xuống hàng thứ yếu Không thể chia động từ ăn một cách công bằng Anh ăn là quan trọng nhất rồi đến tôi ăn Nhưng thực ra anh có ăn cũng là để tôi ăn được nhiều hơn, bền vững hơn, lâu dài hơn Với lại các Đại ca đâu có ăn ít hơn tôi Các Đại

ca nắm trong tay bao nhiêu đầu mối Nguồn thu nhập chẳng ai bì được Còn

nó ăn chỉ là để nó cho mình ăn nhiều hơn núp dưới cái câu cửa miệng hài hoà

ba lợi ích " [21,Tr.72] Và để vận dụng triết lý đó, ông sẵn sàng cho Đại ca ăn

từ một tạ gạo nàng hương của nhà ông đến chiếc xe mi ni Nhật của vợ ông

đều chuyển thành quà tặng Đại ca, thậm chí " ông thầm nghĩ nếu Đại ca cần, mình cũng có thể đưa bà vợ đến như một món quà tặng lắm chứ Ngẫm cho cùng chỉ cần cô ấy vẫn yêu mình còn chuyện ấy chẳng qua chỉ là chuyện đụng chạm trong chốc lát mà thôi Như ông với những người đàn bà đã qua tay " [21,Tr.73] Ông sẵn sàng sử dụng mọi cái mình có ngay đến cả vợ mình để

làm vật trao đổi phục vụ cho mưu đồ danh vọng của ông Để rồi khi Đại ca được bổ nhiệm chức vụ cao hơn thì ông cũng được cất nhắc lên làm giám đốc

Và rồi với sự nhạy bén thời cuộc, giám đốc Thắng đã tạo ra nhiều quyền lực hơn, nhiều bổng lộc hơn Dưới lớp vỏ đổi mới kinh doanh của xí nghiệp, ông

đề ra chiến lược đổi dầu đổi đá cho ngư dân, cho tàu vận tải chở thuê hàng hoá xuất khẩu đi nước ngoài, cho thuê cầu cảng, xuất khẩu sắt thậm chí sẵn sàng cưa cả cái cần cẩu mới toanh trở thành hàng phế liệu để xuất khẩu và

ông hưởng biết bao khoản hoa hồng từ các đường lối đổi mới sản xuất đó " cứ mỗi tàu sắt xuất đi là nhà sếp lại có thêm một thứ đồ Lúc cái ti vi, lúc cái tủ lạnh, lúc bộ dàn Đấy chỉ là khoản anh em mình trông thấy thôi Phần phong

bì mới là quan trọng" Có khi ông thẳng thừng yêu cầu các thuyền trưởng tàu

viễn dương chung chi hai trăm, ba trăm triệu mà không ngại ngần Nhưng cái tài của các sếp là biết che đậy cái lợi ích cá nhân đó dưới vỏ bọc lợi ích tập

thể " Sếp toàn nói về những điều to lớn hệ trọng, về toàn tâm toàn ý xây dựng

Trang 37

xí nghiệp, xây dựng chủ nghĩa xã hội, về năng động sáng tạo, về chống lãng phí tham ô, về phát huy tinh thần làm chủ, đấu tranh xây dựng con người mới

xã hội chủ nghĩa Nói mà không hề ngượng nghịu, không hề vấp váp "

[21,Tr.193] Ông luôn nguỵ tạo cho mình lối sống mẫu mực về giờ giấc làm việc, về lối sống trong sạch nhưng chỉ có những người như ông là Quán Mèo mới hiểu được những ham muốn dục vọng thấp hèn trong ông mà thôi Bên cạnh nhân vật giám đốc Hoàng Quốc Thắng còn thấp thoáng những nhân vật khác nữa như ông Phó giám đốc Sở công an thành phố Bằng quyền lực của mình, bằng mối quan hệ qua lại trong công việc, ông đã đưa thằng Khương con trai ông xuống tàu viễn dương làm việc, trong khi bao nhiêu người khác gắn bó bao năm với xí nghiệp vẫn mong ước, chờ đợi được có vị trí đó Con tàu có thằng Khương cùng đi như có một sự " bảo kê ", chắc chắn nó sẽ thuận buồm xuôi gió, không bị kiểm soát hay bị gây phiền phức trên đường đi như những con tàu khác Rồi nhân vật Đại ca ít xuất hiện nhưng bóng dáng lại bao trùm trong tác phẩm qua cách "chăm sóc " của cấp dưới như giám đốc Thắng, Quán Mèo mới thấy hết tầm ảnh hưởng của Đại ca Với tuyến nhân vật xu thời này, họ đều có sự thông minh, nhạy bén, có tầm nhìn xa rộng để vạch đường đi nước bước, họ không chỉ biết nắm thời cơ mà quan trọng hơn là biết tạo ra thời cơ cho bản thân mình

Nhóm người công chức thì biết sử dụng chức vụ trong công việc của mình để tạo ra lợi ích thiết thực cho bản thân Đó chính là hình ảnh các trưởng phó phòng các bộ phận trong xí nghiệp Họ không có quyền lực to như Tổng giám đốc nhưng họ cũng biết cách sử dụng chức vụ nhỏ của mình như cái vốn ban đầu Trưởng phòng tổ chức Thục thì lợi dụng trách nhiệm quản lý, bố trí nhân lực của mình để " khủng bố tinh thần anh em " Cứ mỗi chuyến tàu đi nước ngoài về, trưởng phòng tổ chức đều xuống thăm tàu Sau khi hỏi thăm sức khoẻ, ông nói một câu xanh rờn : " -Tàu chuẩn bị đi nhé Chuyến này có

Trang 38

một số thay đổi về nhân lực đấy " Mà ai lại chẳng muốn được ổn định vị trí lâu dài của mình trên con tàu vận tải nước ngoài thế là điều tất yếu xảy ra như

mong muốn của Thục " Xôn xao Hoang mang Lo lắng Và người ta không

ai bảo ai đều tìm tới nhà trưởng phòng tổ chức Không đến người không Hẳn rồi Cũng không đến với những thứ cồng kềnh, những quạt máy, đầu máy khâu, ti vi hay tủ lạnh Những thứ ấy sếp có đủ rồi, thừa rồi Mà đến với cái phong bì, mỏng thôi bởi không phải phong bì tiền Việt " [21,Tr.307] Trưởng

phòng điều độ Đức thì lại còn tỏ ra nhạy bén hơn khi khai thác triệt để chức

vụ của mình để hưởng lợi Trước mặt mọi người, Đức luôn tỏ ra năng động tháo vát, giải quyết mọi việc một cách linh hoạt, lại còn dễ gần và thoải mái với mọi người, là một mẫu người mà Toàn thán phục và đã viết bài phát thanh

ca ngợi Đức Nhưng chỉ có Điều, trưởng văn phòng, thường ở gần các quan chức thì mới hiểu được bản chất xảo quyệt của con người này, mới biết hết

các mánh lới làm ăn của Đức: "Thằng này siêu đấy Chỗ dựa vững chắc của sếp đấy Cảng bây giờ là cảng tổng hợp, không chỉ là cảng cá Tàu gạo, tàu xi măng, tàu sắt thép Chở đến Chở đi Hợp đồng làm ba ngày thì đỗ năm ngày Tàu dài một trăm mét, bảo tàu dài năm mươi mét Đội quân cửu vạn của thằng Tuyến phải nộp đều đều Cống cho bố Đức Bố Đức lại cống cho

bố Thắng Thằng Đức giở mặt như bàn tay Ông Vệ, giám đốc cũ ở đây, nghỉ hưu chuyển về Quy Nhơn, đi đánh thuê, hôm nọ đưa tàu ra đỗ ở cảng, không

có hợp đồng, nó yêu cầu làm hợp đồng, ông ấy không làm, nó đuổi đi ngay Ông Vệ trước khi tách bến còn lên đứng giữa sân, gọi nó ra chỉ tay vào mặt nó: "Mày là thằng ăn cháo đái bát Mày thừa biết chính tao là người đề bạt mày Mày thừa biết chính tao là người xây dựng cái cầu này Thế mà bây giờ cầu rộng tao đỗ có một ngày mà mày cũng đuổi tao à?" Bây giờ ông Thắng thử về hưu xem nó coi không bằng con tép" [21, Tr.328-329] Bên cạnh đó là

hình ảnh những nhân viên hải quan, những người chuyên khám tàu, xét tàu để

Trang 39

là lợi dụng của công để làm giàu bất chính, sẵn sàng vứt bỏ tình nghĩa thậm chí cả lòng tự trọng của mình miễn là có lợi

Nhóm nhân vật không có chức vụ quyền hạn thì họ dùng các mánh khóe, thủ đoạn thấp hèn để tạo ra cơ hội tồn tại và tiến thân của mình trong cơ chế đó Điển hình là nhân vật Huy và Quán Mèo Những người này cũng phải phân tích thời cuộc để đầu tư đúng hướng Bọn chúng sử dụng mọi điều kiện

mà mình có thậm chí nếu cần cũng sẽ đánh đổi, hy sinh cái hạnh phúc của mình, nhân phẩm của mình để mà thoát khỏi kiếp nghèo hèn

Huy là thuyền trưởng tàu Hạ Long 19 - một con tàu danh giá vì những chuyến vận tải nước ngoài, một con tàu hiện đại nhất của Liên hiệp Biển Đông Nhưng hành trình để đi đến cái vị trí "ngon ăn" đó phải bàn đến cách lợi dụng thời cuộc của Huy Về tài đánh cá thì Huy rất xoàng, từng bị thuyền trưởng Phú nổi giận "mày chết đi Huy ơi! Sao mày ngu thế!" Nhưng con người "ngu " đó lại khôn lỏi ở những điểm khác Điểm mạnh của Huy "là thói "đi đêm" với trưởng phòng cung tiêu, sự tấu hót, nói xấu các bạn đồng nghiệp, nhiều khi chẳng phải vì muốn hại người mà chỉ để tỏ ra mình cái gì cũng biết, là sự lui tới nhà lãnh đạo xí nghiệp bất kể người ta tiếp đón mình như thế nào để đạt được nguyện vọng: xuống tàu vận tải ngoại thương Và để đạt được điều đó, Huy phải dùng tiền để "quan hệ" với các sếp, tiền phải nhiều như chẻ tre, nhiều như quân Nguyên Thậm chí còn đáng khinh hơn, Huy còn dùng cả vợ để làm bậc thang tiến thân Biết giám đốc ở một mình,

Trang 40

xếch để thư giãn, rồi hiểu ý sếp Huy mua luôn cả cái đầu vi đê ô để sếp có thể

thư giãn ngay tại phòng làm việc cho tiện Sếp Thắng đã thích thú vì điều đó

"Cái thằng đại phó này thật trên cả tuyệt vời Cả xí nghiệp chỉ có nó biết ông muốn gì." Rồi khi Huy đi Hồng Kông về, anh ta đem tặng sếp món quà đặc biệt là cái dương vật hổ để bồi bổ cái khoản "tăng cường hàng tiền đạo ấy" thì ông đã xem Huy như một "thằng em" Huy hiểu những thèm muốn của sếp nên hứa hẹn sau chuyến đi Nhật về, Huy sẽ "dẫn chương trình" cho sếp để

khám phá các thú ăn chơi ở ngay trên đất Hải Triều này Sếp hiểu "Ông biết mình phải làm việc gì cho Huy để trả cái ơn này, cái tình người chân thật này Đưa Huy lên làm thuyền trưởng tàu HL 19 thay thuyền trưởng Nguyên lên bờ nghỉ ba tháng chế độ trước khi về hưu" [21,Tr.496] Huy đúng là người

của thời cuộc và đã biết tạo ra cơ hội tiến thân cho mình không phải bằng thực tài mà bằng những mánh khóe vặt Huy đã tìm hiểu rất kỹ điểm mạnh, điểm yếu của sếp để từ đó biết cách chiều ý sếp, thậm chí đáng khinh hơn, Huy còn sẵn sàng biến vợ mình thành món quà tặng sếp, điều này Huy cũng giống sếp Thắng mà thôi Để đạt được tham vọng của mình, họ bất chấp tất cả

uy tín, danh dự, lòng tự trọng miễn là có được cái mình muốn Mà ở điểm này, kẻ trí thức như sếp Thắng tiến sĩ, công chức nhà nước như thuyền trưởng Huy hay kẻ lưu manh như Quán Mèo đều giống nhau cả thôi

Quán Mèo vốn là một người cùng khổ Quán từng đi buôn thuốc phiện suýt bị đi tù, Quán trông đầm tôm cho hợp tác xã thì ăn cắp lúa đem bán nên

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w