Đời sống và đời văn của Nam Cao tuy không dài, nhưng ở cả hai chặng đường trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tác phẩm của ông đã đi vào văn học sử, đủ sức “vượt lên trên tất cả c
Trang 1TRẦN THỊ MINH TUYỀN
ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI NAM CAO SAU 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 2TRẦN THỊ MINH TUYỀN
ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI NAM CAO SAU 1945
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Ngọc Thu
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 3Các nội dung nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Thị Minh Tuyền
Trang 41 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Những đóng góp của luận văn 7
6 Cấu trúc của luận văn 7
CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NAM CAO TRƯỚC NĂM 1945 8
1.1 BỐI CẢNH XUẤT HIỆN 8
1.1.1 Đôi nét về tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 8
1.1.2…Và sự suất hiện của Nam Cao 9
1.2 NHỮNG ĐÓNG GÓP ĐẶC SẮC CỦA NAM CAO 13
1.2.1 Nam Cao – nhà văn “khơi những nguồn chưa ai khơi” 13
1.2.2 Chủ nghĩa hiện thực tâm lý trong sáng tác của Nam Cao 19
1.2.3 Chủ nghĩa nhân văn trong sáng tác của Nam Cao 27
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI NAM CAO SAU 1945 NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN TƯ TƯỞNG NGHỆ THUẬT 33
2.1 ĐỔI MỚI HỆ THỐNG QUAN NIỆM 35
2.1.1 Quan niệm về nhà văn 35
2.1.2 Quan niệm về quan hệ giữa nhà văn và công chúng 38
2.1.3 Quan niệm về hiện thực 42
2.2 ĐỔI MỚI CÁCH TIẾP CẬN HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG 47
2.2.1 Tiếp cận hiện thực gắn với thời sự cách mạng và kháng chiến 48
2.2.2 Tiếp cận hiện thực với cái nhìn đa diện đa chiều 51
Trang 52.3.2 Hình tượng người lính xuất thân từ nông dân 66
2.3.3 Hình tượng người phụ nữ .74
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI NAM CAO SAU 1945 NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 81
3.1 THỂ LOẠI 81
3.1.1 Tùy bút, bút ký 81
3.1.2 Truyện ngắn 84
3.1.3 Kịch 87
3.2 ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT 89
3.2.1 Điểm nhìn bên ngoài 89
3.2.2 Điểm nhìn bên trong 91
3.2.3 Sự dịch chuyển của những điểm nhìn 93
3.3 NGÔN NGỮ 95
3.3.1 Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị 96
3.3.2 Ngôn ngữ trang trọng, mực thước, đậm chất thơ 99
3.3.3 Ngôn ngữ hiện đại, mới mẻ 102
3.4 GIỌNG ĐIỆU 104
3.4.1 Giọng tự hào, ngợi ca 106
3.4.2 Giọng mỉa mai, châm biếm 108
3.4.3 Giọng triết lý, suy ngẫm 112
KẾT LUẬN 116 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1.Nam Cao (1917-1951) là một trong những đại biểu xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực ở nước ta giai đoạn 1930-1945; đồng thời cũng là một tác gia lớn của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Đời sống và đời văn của Nam Cao tuy không dài, nhưng ở cả hai chặng đường trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tác phẩm của ông đã đi vào văn học sử, đủ sức “vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn” làm nên một sự nghiệp cuốn hút giới nghiên cứu và nhiều thế hệ bạn đọc cùng dành nhiều tâm sức “nghĩ tiếp về Nam Cao”
1.2 Tuy nhiên, cho đến nay nhìn lại, hầu hết khóa luận, luận văn, luận
án trong nhà trường và các công trình nghiên cứu chuyên luận đều chủ yếu tập trung vào sự nghiệp sáng tác của Nam Cao trước 1945 Điều ấy cũng có thể cắt nghĩa được bởi sức hấp dẫn đặc biệt của ngòi bút Nam Cao qua những
kiệt tác mang giá trị tư tưởng và nghệ thuật sâu sắc như: Chí Phèo, Lão Hạc, Trăng sáng, Đời thừa, Sống mòn,.v.v Song, cho dù mảng sáng tác sau Cách
mạng tháng Tám và những năm đầu kháng chiến chống Pháp không nhiều (chưa đến 20 tác phẩm truyện ngắn, ghi chép, ký sự, nhật ký…), nhưng Nam Cao vẫn để lại dấu ấn riêng, với những đóng góp rất đáng trân trọng cho nền văn xuôi nước nhà trong buổi đầu xây dựng nền văn học mới sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công
1.3 Nam Cao còn là một trong những tác gia lớn có tác phẩm ở cả hai chặng đường được giảng dạy trong chương trình Ngữ Văn ở trường phổ
thông: Trước 1945 có: Lão Hạc, Chí Phèo, Đời thừa; sau 1945 có: Đôi mắt
Vì vậy, việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm văn xuôi Nam Cao sau
1945 còn là một dịp bổ sung thêm tư liệu và kiến thức góp phần giúp ích thiết thực cho việc dạy học Văn trong nhà trường hiện nay
Trang 72 Lịch sử vấn đề
Trước hết, có thể nói rằng, Nam Cao là một trong những tài năng lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam Từ sau năm 1955 cho đến nay tác phẩm của Nam Cao đã được giới nghiên cứu phê bình tập trung tìm hiểu nghiên cứu khá kỹ lưỡng Các công trình, bài viết, chuyên luận qua từng chặng đường, qua các cuộc hội thảo, phần lớn đã được tập hợp in lại và lần lượt xuất bản, có thể kể đến như :
- Hà Minh Đức với chuyên luận Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc,
NXB Văn Hóa, Hà Nội, năm 1961
- Viện Văn học cùng phối hợp với Hội Văn học Nghệ thuật Nam Hà,
biên soạn tập sách Nghĩ tiếp về Nam Cao gồm bài viết của nhiều tác giả, Nhà
xuất bản Hội Nhà văn, năm 1992, nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngày sinh của nhà văn Nam Cao
- Phong Lê với Nam Cao-Phác thảo sự nghiệp và chân dung, NXB
Nhà văn đã ấn hành thành tập sách Nam Cao – Con người và tác phẩm, dày
gần 700 trang, với 157 bài viết
- Năm 2002, Trần Đăng Suyền với chuyên luận Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, NXB Khoa học Xã hội
- Năm 2003, Nhà xuất bản Giáo dục, tái bản tập sách Nam Cao-Về tác gia và tác phẩm, do Bích Thu tuyển chọn và giới thiệu, phần Thư mục về Nam Cao cũng đã thống kê được 204 bài viết của các nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước
Trang 8Sau khi tham khảo chung, dưới đây chúng tôi chỉ điểm lại một số bài viết đề cập trực tiếp đến mảng văn xuôi sau 1945 của Nam Cao:
- Trên Tạp chí văn học số 11/1966, Nguyễn Đức Đàn trong bài viết“Cách mạng tháng Tám và chặng đường phát triển mới của Nam Cao”
cho rằng trước hết sáng tác của Nam Cao sau 1945 đã có sự thay đổi trong cách nhìn về người nông dân Nếu như trước Cách mạng, tuy đã “biểu thị một thái độ tin yêu, trân trọng những người bị áp bức bóc lột” song “cái nhìn của Nam Cao đối với người nông dân hãy còn những lệch lạc” [3] thì sau Cách mạng nhà văn đã không còn nhìn họ như những nạn nhân “dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương nữa” Ngược lại, Nam Cao
đã nhận ra “họ vẫn có thể làm Cách mạng hăng hái lắm lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm” [3] Đối với đề tài tiểu tư sản, trước Cách mạng, Nam Cao nhìn thấy ở họ cũng như chính mình, là “những con người có hoài bão,
có ước mơ vươn tới những say mê sôi nổi” [3] nhưng cuối cùng đều “bị dìm xuống bùn đen của một cuộc sống nhỏ nhen đê tiện”, sống trong tâm trạng bi quan tuyệt vọng Cách mạng tháng Tám đã đem đến cho nhà văn một sức sống mới [3] Vì vậy, sau năm 1945, thái độ của tác giả trong cách nhìn người trí thức là “thái độ phê phán kịch liệt những phần tử trí thức không chịu chuyển mình theo thời đại” [3]
Cũng trong bài viết này, khi trực tiếp đề cập đến một số sáng tác của Nam Cao sau 1945, Nguyễn Đức Đàn nhận xét: “Mò sâm banh, Nỗi truân
chuyên của khách má hồng, Đường vô Nam đã nói lên những chuyển biến
bước đầu của nhà văn” Để làm rõ hơn, tác giả bài viết đã có những so sánh
về tư tưởng nghệ thuật và bút pháp của Nam Cao trong việc thể hiện những đề tài quen thuộc ở hai thời kỳ trước và sau 1945
- Sông Thai, trong bài Nam Cao, nhà văn hiện thực của cách mạng và kháng chiến (Tạp chí Văn học số 95, 15-10-1969) nhận xét: “Sau Cách mạng
Trang 9tháng Tám, toàn bộ tư tưởng tình cảm của Nam Cao mới được nâng lên một bước quan trọng, nhất là trong lĩnh vực nhận thức về sự quan hệ mật thiết giữa văn nghệ và quần chúng, giữa văn học và Cách mạng, giữa nhiệm vụ của ngòi bút và vận mệnh của Tổ quốc, của nhân dân” [37] Cùng với sự đổi mới trong tư tưởng là sự đổi mới trong bút pháp thể hiện của nhà văn Cùng với nhịp độ khẩn trương, sôi nổi của đời sống Cách mạng là một bút pháp “cô đọng mà gợi cảm, sắc sảo mà vẫn ấm áp được điều khiển bằng một tâm hồn rạo rực tin yêu” [37]
- Phùng Ngọc Kiếm (1992), qua “Những đổi mới trong thế giới nghệ thuật
của Nam Cao sau 1945”( Nam Cao-Con người và tác phẩm, Vũ Tuấn Anh
chủ biên, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, tr 389-395) cho rằng, trong những sáng
tác của Nam Cao sau 1945 có sự xuất hiện thế giới của những người nô lệ Từ việc khai thác thế giới nghệ thuật đó, tác giả khái quát lên thành một sự thật đau lòng: “Cuộc đời người nô lệ Việt Nam dù trong những căn nhà ổ chuột, những túp lều con của Chí Phèo, hay nương náu bên lề những biệt thự của chủ Tây đều là cay đắng, đau khổ” [20,tr.390]
Luận về nguyên nhân của nỗi đau khổ ấy, tác giả bài viết so sánh: “Nếu như trước Cách mạng, Nam Cao lý giải nỗi đau khổ của người nghèo bằng tội
ác của bọn thống trị thì ở Mò sâm banh, điều đó còn được lý giải bằng chính
tính cách hèn hạ của người nô lệ” “Cùng với tính cách của người nô lệ sẽ là cái hậu quả khủng khiếp mà nó đưa đến cho chính cuộc đời những kẻ chấp nhận kiếp tôi đòi” [20,tr.390]
Không gian nghệ thuật trong những sáng tác sau 1945 cũng có sự thay đổi Trước Cách mạng, không gian thường thấy là “không gian riêng tư, không gian cá nhân” biểu hiện trong những “nhà ở”, “căn buồng” Sau Cách
mạng, không gian thường gặp là không gian của những con đường Đường vô Nam (1946), Trên những con đường Việt Bắc (1948) Có thể nói “hình ảnh
Trang 10con đường trở thành một chi tiết quan trọng xuất hiện trong hầu hết những sáng tác của Nam Cao” [20,tr.393] Những làng quê trước Cách mạng vốn
hiện ra nghèo khổ, tàn lụi nay như được thay áo mới Những môtip ngày hội cách mạng, sự đổi mới, trưởng thành cùng cách mạng, hi sinh phấn đấu vì Cách mạng là những chất liệu mới của thế giới nghệ thuật Nam Cao
Mặt khác, Phùng Ngọc Kiếm cũng thấy được đôi lúc, đôi chỗ sự đổi
mới trong những trang viết còn có “những nét gượng, sượng”, “rơi vào biểu hiện sơ lược, giản đơn” [20,tr.389] Ở một vài chỗ nhà văn còn tỏ ra “khá ngây thơ về chính trị, tức là đấu tranh giai cấp” [20,tr.389]
- Bùi Công Thuần, trên Tạp chí văn học số 2-1997 khi đi sâu tìm hiểu
“Phong cách truyện ngắn Nam Cao trước Cách mạng”, đã có cái nhìn so sánh văn phong của Nam Cao ở hai giai đoạn: “Những truyện ngắn của Nam Cao sau Cách mạng hầu như thay đổi hẳn về phong cách Thay vào bút pháp tâm
lý là bút pháp kể và thuật lại, ngôn ngữ không còn lạnh lùng đến tàn nhẫn nữa, mà thay vào đó là một ngôn ngữ điềm đạm hơn, từ tốn hơn” [41]
- Bích Thu (1998), trong bài “Sức sống của một sự nghiệp văn chương”
(Nam Cao về tác gia và tác phẩm, NXB GD, tr 11-36), đã nhận ra sự khác biệt về vị trí của nhà văn và nhân vật trong sáng tác ở hai giai đoạn “Trước Cách mạng, nhà văn và nhân vật bình đẳng với nhau Sau Cách mạng, có một lúc nào đó trong những trang viết của Nam Cao, nhân vật tỏ ra cao hơn tác giả
vì sự ngưỡng mộ, chiêm bái nhân vật của nhà văn” [40,tr.26]
Như vậy, qua quá trình khảo sát tài liệu nghiên cứu về Nam Cao, chúng tôi nhận thấy những sáng tác sau 1945 có được đề cập đến song chỉ dừng lại ở việc phát hiện sự đổi mới trong nhận thức của nhà văn về con người Phong cách nghệ thuật cũng được nói đến song còn sơ lược, chưa khái quát thành những luận điểm rõ ràng, cụ thể Những cố gắng vận động đổi mới quan niệm
và cách tiếp cận hiện thực cũng như vị trí của sáng tác Nam Cao trong buổi
Trang 11đầu xây dựng nền văn học mới chưa được đề cập Vì vậy, tiếp thu ý kiến của người đi trước, với việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp một cái nhìn tổng thể, qua đó thấy được đóng góp của nhà văn lớn Nam Cao trong quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc và vị trí của Nam Cao - nhà văn-chiến sĩ trong buổi đầu xây dựng nền văn học mới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Toàn bộ sáng tác của Nam Cao sau 1945, gồm 18 tác phẩm in trong Tuyển tập Nam Cao, Tập 2 và Tập 3, NXB Văn học, Hà Nội, 1999; và một số thư từ, nhật ký của Nam Cao còn gửi lại do các nhà văn sưu tập
Luận văn tập trung đi sâu tìm hiểu đặc điểm văn xuôi Nam Cao sau
1945 trên hai phương diện tư tưởng nghệ thuật và bút pháp thể hiện
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài, chúng tôi vận dụng phối hợp nhiều phương pháp Tuy nhiên, các phương pháp sau được vận dụng nhiều nhất trong quá trình nghiên cứu
Phương pháp này nhằm đặt văn xuôi của Nam Cao sau 1945 trong toàn
bộ sáng tác của ông cũng như trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam hiện đại để nhận diện những đặc điểm thống nhất và những biến đổi của thế giới nghệ thuật nhà văn
Phương pháp này đặt tác phẩm trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ để thấy được những nỗ lực của tác giả trong việc tiếp cận và khai thác hiện thực Qua đó đánh giá thái độ, cách nhìn nhận của nhà văn trước con người và cuộc đời
Trang 124.3 Phương pháp so sánh-đối chiếu
Phương pháp so sánh được thực hiện để làm rõ sự khác biệt trong nhận thức, trong sự phản ánh của chính Nam Cao trong từng chặng đường và sự khác biệt của ông so với các nhà văn khác cùng thời Qua đó thấy được sức hấp dẫn mới lạ trên những trang viết của Nam Cao
4.4 Phương pháp phân tích- tổng hợp
Phương pháp này gắn với việc làm sáng tỏ những đặc điểm tiêu biểu trong văn xuôi sau 1945 của Nam Cao và khái quát những đặc điểm đó thành những luận điểm Phương pháp này vì vậy giúp cho việc đánh giá vừa cụ thể, vừa khái quát
5 Những đóng góp của luận văn
Như đã trình bày ở phần lịch sử vấn đề, văn xuôi của Nam Cao sau
1945 có được nghiên cứu song còn lẻ tẻ và chưa có hệ thống Với việc nghiên cứu đề tài này, trên cơ sở tập hợp tư liệu, chúng tôi mong mang đến một cái nhìn khái quát, toàn diện hơn về vị trí và những đóng góp của Nam Cao trong
nền văn học hiện đại nước ta
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có ba chương
Chương 1: Nhìn lại sự nghiệp sáng tác của Nam Cao trước năm 1945
Chương 2: Đặc điểm văn xuôi Nam Cao sau 1945 nhìn từ phương diện tư
tưởng nghệ thuật
Chương 3: Đặc điểm văn xuôi Nam Cao sau 1945 nhìn từ phương thức thể hiện
Trang 13CHƯƠNG 1
VÀI NÉT VỀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NAM CAO
TRƯỚC NĂM 1945
1.1 BỐI CẢNH XUẤT HIỆN
1.1.1 Đôi nét về tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945
Cùng với sự chuyển biến của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội và sự tiếp thu, sáp nhập ảnh hưởng văn hóa-văn học phương Tây, từ nửa sau thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, nền văn học Việt Nam đã có những dấu hiệu chuyển mình từ thời kỳ văn học trung đại kéo dài gần mười thế kỷ sang thời kỳ văn học hiện đại
Nếu ba mươi năm đầu (1900-1930) có thể coi là chặng đường giao thời thì bước vào giai đoạn 1930 - 1945, nền văn học nước ta đã thực sự được hiện đại hóa một cách nhanh chóng Một trong những thành tựu nổi bật ấy là sự ra đời và phát triển của các trào lưu văn học với xuất hiện nhiều tác giả, tác phẩm ưu tú
Trào lưu văn học cách mạng theo ý thức hệ của giai cấp vô sản dưới ánh sáng của lý tưởng mới, đã kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước chống ngoại xâm vốn có từ trong văn học dân gian và văn học trung đại, được khơi nguồn từ những tác phẩm truyện và ký của Nguyễn Ái Quốc vào những năm hai mươi của thế kỷ khi Người đang ở nước ngoài trên con đường “đi tìm hình của nước” Bước vào giai đoạn này dù ra đời trong hoàn cảnh “máu lửa”,
“xiềng xích” vẫn âm vang hào sảng trong phong trào thơ ca Xô Viết Nghệ - Tĩnh và thơ ca của các chiến sĩ cách mạng trong tù; đặc biệt được kết tinh ở
hai tập thơ ưu tú: Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh và Từ ấy của Tố Hữu
Trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam cùng với phong trào Thơ mới đã
mở ra “một thời đại trong thi ca”, cùng với tiểu thuyết Tự lực văn đoàn là sự
Trang 14biểu hiện ý thức cái tôi cá nhân-cá thể được thức tỉnh với khát vọng thoát ra khỏi thế giới ngột ngạt của lễ giáo phong kiến và tính quy phạm nghiệt ngã của thi pháp văn học trung đại Từ 1932 đến 1942, một thời đại thơ ca vừa chẵn mười năm, khi nhìn lại, nhà phê bình Hoài Thanh đã không nén được tự hào: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên…và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” [38, tr 33-34] Còn trong văn xuôi lãng mạn cũng đã nổi bật các nhà văn nổi tiếng như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Nguyễn Tuân.v.v
Trào lưu văn học hiện thực phê phán với xu hướng tả chân nhằm phản ánh bức tranh hiện thực xã hội như nó vốn có cũng đã ra đời và phát triển
mạnh mẽ Với một khối lượng tác phẩm, tác giả nổi bật, đề cập đến những vấn đề bức xúc của đời sống lúc bấy giờ; văn học hiện thực xứng đáng là một trào lưu văn học có vị trí quan trọng và có nhiều đóng góp to lớn vào quá trình phát triển và hiện đại hóa văn học Việt Nam
1.1.2…Và sự suất hiện của Nam Cao
Các nhà nghiên cứu văn học sử thường nhận diện hành trình hiện đại hóa văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 diễn biến qua ba thời kỳ:1930-1935; 1936-1939; 1940-1945
- Ở chặng thứ nhất: 1930-1935, trào lưu văn học hiện thực phê phán ra
đời và bước đầu khẳng định vị trí của mình với sự xuất hiện của Nguyễn
Công Hoan qua những truyện ngắn có tiếng vang như Ngựa người người ngựa (1934), Kép Tư Bền (1935)… Ngô Tất Tố từ bút lông chuyển sang bút
sắt đã kịp thời góp vào bức tranh phơi bày hiện thực xã hội bằng thể loại tiểu
Trang 15phẩm văn học trên báo chí Tam Lang với Tôi kéo xe (1932), Vũ Trọng Phụng với Cạm bẫy người (1933), Kĩ nghệ lấy Tây (1934) là những người mở đầu
cho thể phóng sự trong văn học hiện thực phê phán Việt Nam viết về cuộc sống đô thị
Tuy nhiên, ở chặng đường này, các nhà văn “chỉ mới phản ánh được những nét cục bộ, những hiện tượng nổi lên trên bề mặt xã hội mà chưa nêu được những vấn đề bản chất, những vấn đề lớn có tầm khái quát của thời đại, chưa tập trung vào những mâu thuẫn chủ yếu của xã hội” [4,tr.348]
- Ở chặng đường thứ hai:1936 -1940; đây là những năm phát triển đến
đỉnh cao của trào lưu văn học hiện thực ở nước ta trước năm 1945 Số lượng tác gia và tác phẩm tăng cả về lượng lẫn về chất Các cây bút Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố vốn đã khẳng định tên tuổi của mình ở giai đoạn trước nay tiếp tục đạt đến độ chín mùi của tài năng Vũ Trọng
Phụng trong một năm 1936 cho ra đời ba cuốn tiểu thuyết: Giông tố, Số đỏ,
Vỡ đê và sau đó là Trúng số độc đắc (1938), Người tù được tha (1939) Ngô Tất Tố nổi tiếng với tiểu thuyết Tắt đèn (1937), Lều chõng (1939), phóng sự Tập án cái đình (1939), Việc làng (1940) và nhiều tiểu phẩm có giá trị Nguyễn Công Hoan có tiểu thuyết Cô làm công (1936), Bước đường cùng (1938), Cái thủ lợn (1939) và nhiều tập truyện ngắn có chất lượng cao Đặc
biệt Nguyên Hồng tuy mới xuất hiện nhưng đã thu hút người đọc ngay từ
những trang viết đầu tay mà già dặn với Bỉ vỏ (1938), Những ngày thơ ấu
(1938) và nhiều truyện ngắn đầy tính chiến đấu đăng trên các báo Chủ nghĩa hiện thực tả chân đã đi sâu khám phá những vấn đề bản chất của xã hội và đã xây dựng được những nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình khắc sâu trong tâm trí người đọc
- Bước vào chặng đường thứ ba: 1940-1945 hoàn cảnh lịch sử có
nhiều biến động dữ dội Phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương, thực dân Pháp
Trang 16càng ra sức bóp nghẹt dân ta về mọi mặt Sống trong cảnh “thân một cổ hai tròng nô lệ”, nước ta ngày càng thêm xơ xác, tiêu điều Khát vọng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp nghèo khổ và giải phóng cá nhân-cá thể của mỗi người càng trở nên bức xúc hơn bao giờ hết Báo chí, sách vở tiến bộ bị kiểm duyệt nghiêm ngặt, nhiều tờ báo bị đóng cửa và tịch thu Văn học lãng mạn đi vào bế tắc, văn học hiện thực phải len lỏi trên rất nhiều khuynh hướng văn học suy đồi hỗn loạn lúc bấy giờ để tiếp tục phát triển Văn học cách mạng tạm rút lui vào bí mật chuẩn bị cho cao trào tiền khởi nghĩa Một không khí oi bức, ngột ngạt như báo hiệu giông tố sắp hiện lên ở chân trời
Trong bối cảnh ấy, nhà văn trẻ Nam Cao xuất hiện Vốn đã thử bút từ
năm 1936 với truyện ngắn Cảnh cuối cùng bút danh Thúy Rư, in trên Tiểu thuyết thứ bảy số 123, ngày 21 tháng 10; và tiếp đó là truyện ngắn Hai cái xác, cũng với bút danh Thúy Rư, đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy, số 133, ngày
12 tháng 12 năm 1936 Nhưng theo nhà văn Nguyễn Đình Thi, Nam Cao thực
sự bắt đầu bước vào nghề văn khoảng đầu năm 1940 khi tập truyện Cái lò gạch cũ ra đời Như vậy Nam Cao chính thức xuất hiện khi tiến trình hiện đại
hóa nền văn học dân tộc giai đoạn 1930-1945 nói chung và trào lưu văn học hiện thực nói riêng, đã ở vào chặng đường cuối (1940-1945) Là người đến sau, Nam Cao cùng một số cây bút trẻ khác thuộc trào lưu này như Tô Hoài, Kim Lân, Bùi Hiển… muốn khẳng định được vị trí của mình họ phải vượt qua nhiều thách thức Bởi lẽ, những nguồn đề tài, những nguồn chất liệu phong phú từ nông thôn đến thành thị, từ cuộc đời đến số phận con người đều đã từng được các nhà thơ, nhà văn lớp trước thể hiện rất thành công
Chẳng hạn như, viết về khát vọng giải phóng cái tôi-cá nhân-cá thể với những vần thơ vừa đắm say mới lạ, vừa thấm đẫm hồn Việt, thì không thể nào
lặp lại và vượt qua được các nhà Thơ mới như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn
Bính, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên; muốn viết những tiểu thuyết ái tình tâm lý
Trang 17xã hội nói lên khát vọng “đoạn tuyệt” với lễ giáo phong kiến…thì đã có các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo.v.v Viết
về xã hội ba đào, về bộ mặt quan lại ở chốn công đường đã có tấn bi hài kịch
Kép Tư Bền và hàng loạt truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Viết về nông
thôn với hình tượng người nông dân dù trong hoàn cảnh bị áp bức, bóc lột trăm bề vẫn không để mất những phẩm chất tốt đẹp của mình thì đã có kiệt
tác Tắt đèn của Ngô Tất Tố, tiểu thuyết Bước đường cùng của Nguyễn Công
Hoan…Lên án những tệ nạn, mỉa mai thói nhố nhăng rởm đời của xã hội Âu hóa buổi đầu ở thành thị thì đã có bút pháp trào lộng bậc thầy của “ông vua
phóng sự đất Bắc” Vũ Trọng Phụng qua những tác phẩm Cơm thầy cơm cô, Lục xì, Kỹ nghệ lấy Tây…và thiên tiểu thuyết tuyệt tác Số đỏ.v.v
Sau những thử bút ban đầu, Nam Cao đã sớm thức nhận được
rằng:“Cái nghề văn, kỵ nhất là cái lối thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào” (Những truyện không muốn viết); và: “Văn chương chỉ dung nạp được
những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và
sáng tạo những cái gì chưa có”(Đời thừa) Vì vậy, chỉ có một con đường, ấy
là muốn khẳng định vị trí của mình đòi hỏi phải thực sự có tài năng và bản lĩnh để vượt lên những thách thức cả trong đời sống và trong sáng tạo nghệ thuật Nam Cao và người bạn của mình là Tô Hoài đã làm được điều đó
Năm 1941 Nam Cao đã độc sáng với kiệt tác Chí Phèo, in trong tập truyện ngắn đầu tay Đôi lứa xứng đôi (tên trong bản thảo của tác giả là Cái lò gạch cũ, nhà văn Lê Văn Trương đã viết lời Tựa và đặt lại là Đôi lứa xứng đôi), Nhà xuất bản Đời mới, Hà Nội) Sau đó Nam Cao còn cho in nhiều truyện ngắn đặc sắc khác trên Tiểu thuyết Thứ Bảy và hoàn thành bản thảo tiểu thuyết Chết mòn (sau này xuất bản đổi lại tên là Sống mòn)
Cùng với Nam Cao, Tô Hoài, một người bạn từng nhiều năm gần gũi
khi Nam Cao từ quê ra sống ở Hà Nội, cũng nổi tiếng với Dế mèn phiêu lưu
Trang 18ký… Họ đã đi vào văn học sử và được xem là hai tác giả xuất sắc của trào lưu
văn học hiện thực Việt Nam trước năm 1945, ở chặng đường thứ ba này
Không những thế, với một hệ thống quan niệm nghệ thuật và thế giới sáng tạo của mình trước cách mạng tháng Tám, Nam Cao đã để lại một sự nghiệp xứng đáng là một tài năng lớn trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam
1.2 NHỮNG ĐÓNG GÓP ĐẶC SẮC CỦA NAM CAO
1.2.1 Nam Cao – nhà văn “khơi những nguồn chưa ai khơi”
Mỗi nhà văn đích thực cho dù sáng tác về nhiều đề tài, thu thập tài liệu
từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng bao giờ họ cũng có những “vùng thẩm mỹ” của riêng mình Đó cũng chính là nơi vốn sống, tài năng và cá tính sáng tạo của họ được thể hiện thăng hoa nhất
Với Nam Cao, viết về cuộc sống nông thôn với số phận bi đát của người cố nông được lấy từ chất liệu có thực ở ngay làng quê ông và viết về tình cảnh người trí thức nghèo với bi kịch “vỡ mộng”, “khát bay mà không có chân trời” đành “sống mòn” trong cảnh “đời thừa”, lấy chất liệu ngay từ những trải nghiệm đau đớn của chính bản thân và bạn bè là hai mảng đề tài nổi bật trong sáng tác của ông trước năm 1945
a Đề tài người nông dân
Ở mảng đề tài người nông dân, ngay từ năm 1941, trong bài Tựa tập truyện ngắn đầu tay Đôi lứa xứng đôi của Nam Cao, Nhà xuất bản Đời nay,
nhà văn Lê Văn Trương đã có mắt xanh khi nhận xét:
“Giữa lúc người ta đang đắm chìm trong những chuyện tình thơ mộng và hùa nhau “phụng sự” cái thị hiếu tầm thường của độc giả, ông Nam Cao đã mạnh dạn đi theo một lối riêng, nghĩa là ông không thèm đếm xỉa đến cái sở thích của độc giả Những cạnh của tài ông đã đem đến cho văn chương một lối văn
Trang 19mới, sâu xa, chua chát và tàn nhẫn, thứ tàn nhẫn của con người biết tin ở tài mình, ở thiên chức của mình” [42]
“Lối văn mới sâu xa” của tác phẩm Chí Phèo chính là sự xuất phát từ
quan niệm và cách tiếp cận hiện thực của nhà văn Nam Cao khác với các nhà
văn hiện thực các thời kỳ trước Cùng viết về đề tài này, tiểu thuyết Tắt đèn
của Ngô Tất Tố đã tố khổ cho người cố nông vì chính sách thuế khóa bất nhân của bọn thực dân cùng sự bóc lột áp bức của bọn địa chủ, cường hào ở nông thôn, đồng thời đã làm nổi bật những phẩm chất tốt đẹp của họ mà hoàn cảnh
dù vạn ác cũng không thể làm mai một Nhân vật điển hình chị Dậu, như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét, “là cái đốm sáng đặc biệt trên cảnh tối giời tối đất của đồng lúa Việt Nam ngày xưa” Các nhà văn Nguyễn Công Hoan qua
Bước đường cùng, Vũ Trọng Phụng qua Vỡ đê… cũng tập trung lột tả “sự
thực ở đời” như nó vốn có của nông thôn và người nông dân trong xã hội thời bấy giờ Đến Nam Cao thì không chỉ vậy; trước hiện thực đau khổ của kiếp người nhà văn vừa day dứt suy nghĩ, vừa tìm cách đi sâu lý giải với câu hỏi
“Sao lại thế này ?” như tên một truyện ngắn của ông Và ông đã xây dựng được những hình tượng nhân vật điển hình độc đáo (Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến…), những tình huống cốt truyện với một nghệ thuật kết cấu bất ngờ đem lại những cảm xúc thẩm mỹ khác lạ cho người đọc mà các tác gia văn học hiện thực trước ông chưa có được
Ngay cả vấn đề cái đói, miếng ăn vốn là một “sự thật tàn nhẫn” của xã hội Việt Nam những năm trước Cách mạng đã từng được các nhà văn, nhà thơ
đề cập, nhưng cũng đến Nam Cao lại được phát hiện từ một góc nhìn khác
Nếu Ngô Tất Tố trong Cái bánh chưng, Mớ rau trong hòm, Làm no hay cái
ăn trong những ngày nước ngập đã nêu bật khẩn thiết, cấp bách là cần cứu
đói cho nông dân, thì với Nam Cao miếng ăn, cái đói không chỉ là nỗi ám ảnh thường trực, mà nó còn là nguy cơ làm con người tha hóa nhân phẩm Thế
Trang 20giới nghệ thuật trong sáng tác của ông đã thể hiện một cách sinh động và sâu sắc nỗi đau ấy Chẳng hạn, vì thèm cơm quá lâu ngày mà bà cái Tý đã cố quên đi “miếng ăn là miếng nhục”, liều mạng kiếm cớ vờ đến thăm đứa cháu đang đi ở mong ăn chực được “một bữa no”, để rồi “chết no’ một cách thê thảm Hoặc cũng vì cái đói quá lâu ngày mà người bố cùng mấy người bạn
hàng xóm đã ăn quên mất cả phần của con (Trẻ con không được ăn thịt chó)
Và cũng vì ở làng “không có cơm mà ăn, một tấc đất cắm dùi không có”, lại thêm nhà tù, lại thêm Bá Kiến thâm độc nham hiểm mà anh cố nông Chí Phèo
đã bán dần, bán hồi cả nhân hình lẫn nhân tính của mình để thành quỷ dữ của làng Vũ Đại
Trong truyện Tư cách mõ, cu Lộ vốn là một người hiền lành như đất
Vì nghèo túng, anh nhận lời làm mõ Khi thấy “ngon ăn”, mọi người sinh ra ngấm ngầm ghen ghét, coi khinh và hùa nhau vào làm nhục cu Lộ Tức quá, anh tỏ ra bất cần Càng bị làm nhục, anh càng tỏ ra không biết nhục và cuối cùng hắn hiện ra là một thằng mõ với đầy đủ “tư cách mõ, chẳng chịu kém những anh mõ chính tông một tí gì, cũng đê tiện, cũng lầy là, cũng tham ăn” [43,tr.354] Qua nhân vật Lộ, Nam Cao muốn nói với chúng ta: Thì ra lòng khinh trọng của chúng ta có ảnh hưởng đến cái nhân cách của người khác nhiều lắm
Đức trong Nửa đêm là một đưa bé “hiền như những con nhà thiếu ăn”,
nhưng ngay từ khi chào đời, Đức đã mang một nỗi nhục lớn: con của kẻ giết người Một bầu không khí ghẻ lạnh, khinh khi, hắt hủi, ruồng bỏ, xa lánh bao quanh thằng bé Thế là từ một đứa bé “hiền như đất” nó trở thành một kẻ
“lặng lẽ”, “ngờ nghệch”, “ngơ ngác” Lớn lên, định kiến độc ác của người đời vẫn bủa theo Đức mãi Lòng đầy uất hận, Đức dấn thân vào xứ Nam kỳ, nơi của “trai tứ chiến, gái giang hồ” và trở thành một tên du côn thực sự Đức đã trở thành một kẻ tha hóa mặc dù trong sâu thẳm tâm hồn vẫn còn một góc nhớ
Trang 21về người bà với bao vất vả, cay đắng, tủi nhục đã nuôi hắn từ tấm bé Rõ ràng,
xã hội đã tiệt đường sinh sống của Đức, đã trục Đức ra khỏi mảnh đất quê nghèo với bà nội già khốn khổ Nếu được yêu thương, được cảm thông, biết đâu Đức đã trở thành một con người tử tế Mái tranh nghèo ấy biết đâu đã trở thành mái ấm hạnh phúc của Đức với người con gái mình yêu
Vì vậy, có thể nói rằng, cùng với sự áp bức đọa đày của giai cấp thống trị, của cái đói, miếng ăn, những trang viết về nông thôn và nông dân của Nam Cao trước cách mạng còn ám ảnh người đọc bởi một bi kịch lớn Đó là
bi kịch con người bị tha hóa, bị cướp mất quyền làm người
b Đề tài người trí thức
Ở mảng đề tài viết về người trí thức nghèo, qua những tác phẩm nổi bật
như tiểu thuyết Sống mòn, truyện ngắn Trăng sáng, Đời thừa…đóng góp nổi
bật của Nam Cao lại được thể hiện ở một phương diện khác Ấy là nhà văn
của chúng ta đã phản ánh và biểu hiện một cách chân thật và đau đớn bi kịch
“vỡ mộng”, “sống mòn” trong cảnh “đời thừa” của những người trí thức
“khát bay mà không có chân trời”
Vốn là một trí thức nghèo, sống trong cảnh ngột ngạt, tăm tối của xã hội Việt Nam những năm trước cách mạng, hơn ai hết Nam Cao thấu hiểu nỗi thống khổ của chính mình và những người cùng hội cùng thuyền Đã từng có vốn học vấn Tây học, Nam Cao rời làng quê nghèo đói, lên đường vào Nam mang theo biết bao ước vọng, hoài bão Nhưng rồi chân trời mới lạ không dễ dung nạp Bệnh tật, Nam Cao phải trở về quê Thế là ước muốn đi xa vào tận
Sài Gòn lập nghiệp không thành, bi kịch “vỡ mộng” bắt đầu từ đó
Về quê, Nam Cao ôn lại vốn học vấn cũ và nghĩ cách ra Hà Nội làm ông giáo khổ trường tư để kiếm sống Từ đây, Nam Cao càng nếm trải bao nỗi khổ của người tiểu tư sản trí thức nghèo trong một xã hội ngột ngạt bế tắc
Mượn lời một nhân vật trong truyện ngắn Mua nhà, Nam Cao đã phải thốt
Trang 22lên: “Tôi làm việc ghê gớm lắm Tôi giết dần tôi để kiếm tiền”
Tác phẩm của Nam Cao có sự thống nhất cao độ giữa cuộc đời thực và văn chương Từ bi kịch cuộc đời mình, Nam Cao đã nói lên bi kịch của cả một tầng lớp trí thức nghèo những năm tiền cách mạng Đọc Nam Cao, nhà văn Nguyên Hồng nhận xét:
Đọc xong những truyện ngắn Trăng sáng, Đời thừa, Nước mắt, Mua nhà…ta cũng bị ngạc nhiên Đó là những cảnh đời ở
ngay bên cạnh ta, những cảnh đời của chính tầng lớp của nhiều chúng ta, mà đến nay nhờ đọc Nam Cao mà chúng ta bàng hoàng đau xót và thấy bao nhiêu ước vọng, say mê, thương yêu tha thiết nhất của những con người họ, của chính chúng ta bị trĩu cánh xuống, giập nát cũng vì nghèo khổ, cũng vẫn chỉ vì nghèo khổ [17,tr.63]
Bi kịch “vỡ mộng” của kiếp “sống mòn” còn được nhà văn gởi gắm
qua những nhân vật ở nhiều tác phẩm khác như Hộ (Đời thừa), Hài (Quên điều độ), Thứ (Sống mòn) …và rất nhiều những “tôi”, những “hắn” Họ là
những người có ý thức sâu sắc về cá nhân, về ý nghĩa sự tồn tại của mỗi cá nhân trong cuộc đời Không thể cứ quẩn quanh trong “cái ao đời bằng phẳng”,
họ ôm ấp ước mơ, dự định lớn lao Hộ (Đời thừa) đã từng mơ ước viết “một
tác phẩm chung cho cả loài người Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ Nó ca ngợi lòng thương, tình bác ái, sự công bằng Nó làm cho người gần người hơn” [43,tr 91] Để thực hiện ước mơ, Hộ bất chấp tất cả,
“đói rét không nghĩa lí gì với một gã tuổi trẻ say mê lí tưởng Lòng hắn đẹp Đầu hắn mang một hoài bão lớn” [44, tr 91] Trong mối quan hệ giữa người
và người, Hộ đặt ra một quan niệm lí tưởng: “Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên kẻ khác để thỏa mãn lòng ích kỉ Kẻ mạnh là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình” [43,tr 91]
Trang 23Thứ trong Sống mòn đã từng “thích làm một việc gì có ảnh hưởng đến
xã hội ngay” và mong muốn đem “những sự đổi thay lớn lao đến cho xứ sở mình” Thứ từng mơ ước: “mình cũng là một vĩ nhân, một anh hùng vượt lên
sự tầm thường để chỉ nghĩ đến một cái gì vĩ đại thôi Y chỉ nghĩ đến những phương kế để xoay ngược lại, đồng thời xếp đặt người với người cho ổn thỏa hơn” [45,tr.256]
Rõ ràng đó là những ước mơ cao đẹp về nghề văn, về mộng viễn du, về
tư cách đạo đức…Những ước mơ ấy khi “chạm trán” với cuộc đời thực đều phải nếm trải bao cay đắng, đớn đau Cả dân tộc đều chìm đắm trong nô lệ, làm
gì có con đường cho mỗi người Cuộc đời nhỏ nhen, tù túng không có chỗ cho những ước mơ Miếng cơm, manh áo, bệnh tật là những nỗi lo lắng thường trực, nói như Xuân Diệu: “Nỗi đời cay cực đang giơ vuốt Cơm áo không đùa với khách thơ” Ước mơ chưa kịp bay cao đã vội vàng khép cánh Mộng ước chưa thành đã vỡ tan Họ trở về đời thường với bao nỗi thất vọng ê chề và tiếp tục “sống mà như chết”, “chết mà chưa làm gì cả”, “chết trong lúc sống”
Từ bi kịch “vỡ mộng”, họ tiếp tục kéo lê cuộc đời qua kiếp “sống mòn” Từ chỗ háo hức với những mộng ước bay cao, bay xa, sau cú “chạm trán” với cuộc đời, họ vỡ mộng và từng bước nhượng bộ, chấp nhận cuộc sống tù túng, ngột ngạt Không còn những ham muốn, hăm hở ban đầu, họ sống trong cảnh buồn tẻ, tưởng chừng như bằng lòng trong cảnh “bình lặng
vô sự” Thứ đã từng mơ ước biết bao nhiêu một cuộc sống hữu ích “Sống là
để làm một cái gì đó cao đẹp hơn nhiều, cao quý hơn nhiều Mỗi người sống phải làm thế nào cho phát triển đến tận độ những khả năng của loài người chứa đựng ở trong mình Phải gom góp sức lực của mình vào công việc tiến
bộ chung Mỗi người chết đi phải để lại chút gì cho nhân loại” [45,tr 256] Thế nhưng, cái mà Thứ làm được chỉ có thể là một chân thầy giáo ở trường tư
ngoại ô Hà Nội Hộ (Đời thừa) ao ước cả đời chỉ viết một cuốn sách thôi
Trang 24“nhưng quyển sách ấy sẽ ăn giải Nobel và dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên toàn cầu” [43,tr.92] Nhưng cuối cùng anh phải viết “toàn những cái vô vị, nhạt phèo, gợi những tình cảm rất nông, diễn tả một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi” để rồi mỗi lần đọc lên lại “đỏ mặt, cau mày, nghiến răng vò nát sách và mắng mình như một thằng khốn nạn” [43,tr.80]
Không chỉ dừng lại ở đó, cuộc sống chật vật nghèo túng thậm chí còn đẩy
họ thành những kẻ nhỏ nhen, ti tiện Họ phải tính toán chi li từng bữa ăn, miếng
ăn Họ cãi nhau vì “những điều vô nghĩa lý” Có lúc họ cũng sa vào những ý nghĩa tầm thường Họ sống nhỏ nhen với bạn bè, có lúc sinh tàn nhẫn với vợ con, tập “quen điều độ” với sự nghèo đói và chết dần trong cảnh đói nghèo Dường như không có truyện ngắn nào của Nam Cao về đề tài tiểu tư sản lại không đề cập đến cái chết về tinh thần của lớp người đó Mỗi nhân vật là một kiểu đời thừa, một kiểu sống mòn Điều này, trước Nam Cao chưa có nhà văn nào có cách nhìn sâu sắc và phổ quát như vậy Có lẽ đó cũng là lý do để nhà lý
luận phê bình Lê Đình Kỵ trong bài: “Nam Cao-Con người và xã hội cũ” đã cho
rằng: “ Có những chủ đề Nam Cao và có những nhân vật Nam Cao”
1.2.2 Chủ nghĩa hiện thực tâm lý trong sáng tác của Nam Cao
Tiếp thu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực nửa đầu thế kỷ XIX từ văn học phương Tây, các nhà văn hiện thực trước Nam Cao tự nguyện làm “người thư ký trung thành của thời đại” (H.Banzăc), đề cao nghệ thuật tả chân, coi trọng việc xây dựng chân thật tính cách nhân vật điển hình trong mối quan hệ với hoàn cảnh điển hình Đến Nam Cao, trào lưu văn học hiện thực phê phán
ở Việt Nam thực sự có một bước chuyển biến; đó là sự chú ý tới phương diện đời sống tinh thần của nhân vật, là sự phát hiện ra bản chất bề sâu bên trong con người Với việc lấy thế giới nội tâm con người làm đối tượng chính của
sự miêu tả, Nam Cao đã mở ra cánh cửa nghệ thuật mới của chủ nghĩa hiện
Trang 25thực Việt Nam Đó là chủ nghĩa hiện thực tâm lý Đây cũng là một nét nổi bật
của phong cách nghệ thuật Nam Cao Nét bút pháp này xuất phát từ sự nhận thức sâu sắc về ý thức cá nhân-cá thể của nhà văn Đây là điểm khác nhau giữa văn chương hiện đại và văn chương thời trung đại Đúng như Hoài
Thanh, Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam từng khẳng định: “Xã hội Việt
Nam từ xưa không có cá nhân Chỉ có đoàn thể, lớn thì quốc gia dân tộc, nhỏ thì gia đình Còn cá nhân, cái bản sắc cá nhân chìm đắm trong gia đình, quốc gia như giọt nước trong biển cả” [38,tr.13]
Nam Cao đặc biệt nhạy cảm với những vấn đề thuộc về con người Với ông, tâm hồn con người như là một “sân khấu của bi kịch và bi hài kịch của những xung đột tư tưởng” [34,tr.178] Vì vậy, không chỉ dừng lại ở việc phản ánh xã hội, ngòi bút của Nam Cao còn hướng vào việc “khám phá con người trong con người” Có thể nói, trước Nam Cao, các nhà văn thuộc trào lưu lãng mạn như Khái Hưng, Nhất Linh cũng đã phân tích, diễn tả tinh tế những cảm xúc nội tâm, những diễn biến phức tạp trong đời sống nội tâm nhân vật Nhưng đến Nam Cao, nghệ thuật miêu tả và phân tích tâm lý đã đạt tới trình
độ bậc thầy, được thể hiện trên nhiều phương diện như việc lựa chọn đề tài, tạo dựng tình huống, khả năng lắng nghe và biểu hiện những trạng thái giằng
xé của tâm trạng nhân vật với một bút pháp rất tinh diệu
Cùng nói về người nông dân đầu tắt mặt tối quanh năm lam lũ kiếm miếng ăn để tồn tại hay người trí thức nghèo bán chữ để tự nuôi sống mình và nuôi vợ nuôi con; nhưng cái Nam Cao chăm chú theo dõi là qua những xung đột xã hội hướng tới những giằng xé day dứt của khát vọng hướng thiện
không tắt ở mỗi số phận con người
Hiếm thấy những sự việc đình đám, những nhân vật quyền lực trong trang viết của Nam Cao Bức tranh xã hội trong văn Nam Cao thường không
Trang 26hiện lên với bộ mặt rộng lớn, có đông đảo nhân vật Viết về đề tài nông thôn
và nông dân, Nam Cao hay chọn làng Đại Hoàng quê mình với những nguyên mẫu gần như là có thực trong cuộc đời Viết về người trí thức, Nam Cao hay chọn những anh giáo khổ trường tư, những văn sĩ nghèo, những cuộc đời mòn mỏi trong những lo toan về miếng cơm manh áo Hoàn toàn là những chuyện tưởng như rất nhỏ nhặt, đời thường, nhưng người đọc lại thấy hằn lên những
số phận và tâm trạng Nói như Chu Văn Sơn trong Nghệ thuật văn xuôi trong truyện ngắn lão Hạc: “Dưới ngòi bút của Nam Cao, cái nhỏ nhặt không đâu
vụt trở nên thăm thẳm, cái hằng ngày dễ quên lại chứa đựng cái muôn đời” [31,tr.206]
Cũng chính vì vậy, thế giới nhân vật nổi bật trong các truyện ngắn của
Nam Cao trước 1945 từ những người trí thức như Thứ trong Sống mòn, Điền trong Giăng sáng, Hộ trong Đời thừa… đến những người cố nông như Chí
Phèo, Lão Hạc, Dì Hảo…đều sống trong cảnh cô đơn với một đời sống và
tâm trạng đầy bi kịch
b Nghệ thuật khắc họa tâm trạng nhân vật
Một trong những thủ pháp nghệ thuật làm nên đặc trưng của chủ nghĩa tâm lý Nam Cao là việc khắc họa tâm trạng nhân vật Nhân vật của Nam Cao phần lớn không thiên về phía hành động Nói như thế không có nghĩa là Nam Cao xem nhẹ việc mô tả hành động mà hành động của nhân vật được đặt trong mối quan hệ với diễn biến tâm lý Hành động nào, tâm lý ấy và ngược
lại, tâm lý nào cũng được biểu hiện qua hành động
Trong Sống mòn, chuyện chỉ xoay quanh cuộc sống nghèo nàn, tù túng
của mấy thầy giáo trường tư ở một vùng ngoại ô Hà Nội Chuyện không có những tình tiết lắt léo, những cảnh ngộ éo le, những sự kiện bất ngờ Đơn thuần chỉ là những sinh hoạt đời thường của con người Song qua tác phẩm, Nam Cao đã phản ánh được tình trạng bế tắc, ngột ngạt không lối thoát của
Trang 27một số người, rộng hơn là cả một lớp người Để làm nổi rõ sự ngột ngạt đó, Nam Cao không cần và không dùng đến những sự việc và hành động mà chủ yếu khai thác những khía cạnh khác nhau của nội tâm nhân vật Thứ
Dường như, mỗi kiểu nhân vật, Nam Cao có một cách khắc họa nội tâm riêng Đối với những nhân vật dị dạng trong sáng tác về đề tài người nông dân, Nam Cao thường đi vào miêu tả chi tiết, đặc điểm đối lập giữa diện mạo bên ngoài với đời sống thật ở bên trong Ngay cả tên gọi của nhân vật cũng như đánh mạnh vào cảm giác người đọc, người nghe Nào là Chí Phèo, Thị Nở…rồi Trương Rự, Trạch Văn Đoành…Nhưng Chí Phèo dù cho tưởng như
đã thành quỷ dữ của làng Vũ Đại thì vẫn không tắt khát vọng hoàn lương; Thị
Nở dù xấu ma chê quỷ hờn lại chính là người đã phát hiện và đánh thức khát vọng được sống như một người lương thiện Và, nếu người đọc sâu sắc sẽ thấy tác giả không chỉ nhằm đối lập giữa ngoại hình và nội tâm, không chỉ lên
án xã hội với những kẻ mặt người dạ thú (Bá Kiến, Đội Tảo ) với tội ác đẩy con người vào chỗ tha hóa Mà mặt khác, nếu nhớ đến những câu chuyện cổ
như Sọ Dừa, Lấy vợ cóc, Trương Chi…mới thấy được trong văn học truyền
thống đã từng có những nhân vật bề ngoài tưởng như là dị dạng, nhưng phẩm chất thực không phải vậy Thì ra, Nam Cao đã đào sâu vào văn học dân gian
để “khơi một nguồn chưa ai khơi”, chứ không chỉ bằng lòng với quan niệm
“đẹp người đẹp nết” như chủ nghĩa hiện thực truyền thống thường thể hiện Đồng thời qua đó nhà văn càng làm nổi bật tác động của hoàn cảnh đối với con người Và còn nói lên được sức sống của khát vọng hướng tới một cuộc sống no ấm, lương thiện không bao giờ tắt ở những con người ấy
Đối với kiểu người trí thức, Nam Cao lại ít chú trọng đến miêu tả ngoại hình Mà nếu có tả thì cũng chỉ để làm nổi bật những giằng xé day dứt trong
tâm hồn họ Đây là hình ảnh nhân vật Hộ (Đời thừa) qua con mắt quan sát của
Từ hiện ra với những nét khắc khổ:
Trang 28Từ ngẩng mặt lên nhìn Hộ ba lần Ba lần Từ muốn nói nhưng lại không dám nói Hắn đang đọc chăm chú quá Đôi lông mày rậm chau đầu lại với nhau và hơi xếch lên một chút Đôi mắt sáng quắc có vẻ lồi ra Cái trán rộng hơi nhăn Đôi lưỡng quyền đứng sừng sững trên bờ hai cái hố sâu của má thì bóng nhẫy Cả cái mũi cao và thẳng tắp cũng bóng lên như vậy Cái mặt hốc hác ấy, nghiêng nghiêng hai bên quyển sách, trông khắc khổ đến thành dữ tợn” [44, tr.77]
Thứ trong Sống mòn sau những háo hức, hăm hở ban đầu cảm thấy
chán chường, mệt mỏi khi những ước mơ dự định không thành Con đường phía trước dường như thành ngõ cụt Bao nhiêu mệt mỏi, lo toan hằn lên khuôn mặt: “Mặt y nghiêm trang Trán y đã lo âu Môi y đã ít cười và nụ cười chẳng còn tươi như trước Chao ôi! Như vậy đó Trước sau chỉ cách nhau có sáu, bảy năm nhưng mà biết bao sự thay đổi Y đã già rồi, đã xấu đi nhiều (…) Y mặt những quần áo rẻ tiền, xộc xệch đã bạc màu” [45,tr.48]
Diện mạo ấy là dấu vết của tháng ngày đã qua, là hình ảnh của cuộc đời
mà hiện tại và tương lai cùng chung một mẫu số: bế tắc, mỏi mòn
Nhìn chung, thế giới nhân vật người trí thức của Nam Cao thường có
bộ mặt cau có, một dáng điệu gầy gò, ốm yếu Có khi, diện mạo của nhân vật
không được miêu tả trực tiếp vẫn khiến nhân vật hiện lên đầy ám ảnh (Cái mặt không chơi được) Tuy vậy, điều mà Nam Cao chú ý khắc họa là cái tinh
thần, là thế giới nội tâm đầy dằn vặt sau những nét vẽ phác họa ấy Tâm lý nhân vật là đối tượng trực tiếp của ngòi bút Nam Cao
Chú trọng vào việc miêu tả tính cách nhân vật, Nam Cao ít chú ý miêu
tả khung cảnh thiên nhiên Nếu có thì việc miêu tả ấy cũng gắn với việc bộc
lộ tâm trạng của nhân vật
Biệt tài miêu tả tâm lý của Nam Cao còn thể hiện ở chỗ ông “có khả
Trang 29năng nắm bắt những biến thái tinh vi, những rung động tinh tế trong tâm hồn con người” [33,tr.188] Đó là những trạng thái tâm lí lưỡng tính, phức tạp, mấp mé giữa ranh giới thiện - ác, hiền - dữ, giữa con người và con vật Dưới ngòi bút sắc sảo có lúc tưởng như tàn nhẫn, lạnh lùng, con người dù nhỏ bé thuộc dạng dưới đáy xã hội cũng hiện ra như một “vũ trụ bao la” Liep
Tônxtôi, đại văn hào Nga, trong tiểu thuyết Phục sinh đã từng chiêm nghiệm:
Con người như những dòng sông Nước trong mọi con sông như nhau và ở đâu cũng thế cả, nhưng mỗi con sông khi thì hẹp, khi thì chảy xiết, khi thì rộng, khi thì êm đềm, khi thì trong veo, khi thì lạnh, khi thì đục, khi thì ấm, con người cũng như vậy Mỗi người mang trong mình những mầm mống của tính chất của con người và khi thì thể hiện những tính chất khác và thường là không giống bản thân mình tuy vẫn chỉ là chính mình
(Dẫn theo Trần Đăng Suyền- Chủ nghĩa hiện thực Nam tr.196)
Cao-Ở đây dường như đã có sự gặp gỡ trong quan niệm giữa Nam Cao và những nhà văn hiện thực lớn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như Liep Tônxtôi, Tsê khốp… Nhiều nhân vật của Nam Cao có sự thống nhất trong bản thân cái tích cực lẫn tiêu cực, cái tầm thường lẫn cao cả, cái buồn cười lẫn nghiêm túc Có ai nghĩ đằng sau gương mặt lằn ngang lằn dọc bởi những vết sẹo vì rạch mặt ăn vạ của Chí Phèo là một tâm hồn cũng khát khao được yêu thương, được hạnh phúc Sau lần gặp Thị Nở ở bờ sông, Chí Phèo cứ “vơ vẩn mãi” Lần đầu tiên trong đời, Chí Phèo biết bâng khuâng, xúc động khi nghe tiếng chim hót, tiếng cười nói của những người đi chợ, tiếng anh thuyền chài
gõ mái chèo đuổi cá Và ước mơ về một gia đình nho nhỏ, “chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải” tự xa xưa bỗng hiện về Cái con người hằng ngày chỉ biết rạch mặt ăn vạ bỗng khát khao thèm một cuộc sống lương thiện
Trang 30Nhưng rồi khao khát ấy bị từ chối, Chí Phèo lại rơi vào cô độc và tuyệt vọng Trong suy nghĩ, Chí Phèo định đến nhà Thị Nở để “đâm chết cả nhà nó” nhưng bước chân của vô thức lại đưa hắn đến nhà Bá Kiến Chí Phèo vung dao đâm chết kẻ thù và tự kết liễu đời mình Một kết thúc thật bất ngờ cho cả người trong cuộc lẫn người theo dõi câu chuyện nhưng lại là quy luật tất yếu của quá trình chuyển biến tâm lý, tính cách nhân vật Miêu tả quá trình chuyển hóa đó Nam Cao đã tạo nên chiều sâu tâm lý trong sáng tác của mình
c Bút pháp độc thoại nội tâm
Để thể hiện tâm lý nhân vật, bên cạnh khắc họa tâm trạng, Nam Cao còn chú ý tới việc sử dụng độc thoại nội tâm Đây là thủ pháp nghệ thuật được Nam Cao sử dụng dưới nhiều hình thức, trong đó chủ yếu là bằng chính dòng suy nghĩ và câu hỏi mà nhân vật đặt ra cho mình, tự vấn mình Những câu hỏi thường đặt sau mỗi sự kiện, mỗi biến cố, trước mỗi hoàn cảnh và thường không có câu trả lời
Với mỗi loại nhân vật, nhà văn có một cách thể hiện riêng Với nhân vật người tri thức, những câu hỏi được đặt ra như một thủ pháp nghệ thuật
tâm lý chủ yếu để bộc lộ tâm trạng tạo nên kiểu nhân vật tự ý thức Những
câu hỏi đặt ra khi liên tiếp, khi ngắt quãng, kéo dài nhằm bộc lộ tính chất trăn trở, dằn vặt, bế tắc trước cuộc đời “Cuộc đời như thế kéo dài ra mấy năm rồi
Nó còn kéo dài ra năm năm, mười năm, hai mươi năm…biết đến bao giờ? Nó
có thể cứ kéo dài ra mãi mãi, suốt cuộc đời? Chứ không ư? Một cuộc đổi thay? Căn cứ vào đâu? Ôi chao! Còn cách gì có thể thay đổi được đời y?” [45,tr.73]
Với người nông dân, qua hình tượng điển hình độc đáo Chí Phèo, độc thoại nội tâm diễn ra một cách ngắn gọn mà không kém phần đau đớn xót xa, khiến cho người đọc cùng căm uất với nhân vật Đó là khi Chí Phèo bị từ chối
quyền làm người Khác với anh Pha trong Bước đường cùng của Nguyễn
Trang 31Công Hoan và Chị Dậu trong tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố; anh Pha,
chị Dậu dù có cùng khổ nhưng vẫn còn có xóm làng, người thân; Chí Phèo của Nam Cao không còn là người vì đã đánh mất cả nhân hình lẫn nhân tính Khi được tình yêu Thị Nở thức tỉnh rồi bị từ chối, Chí Phèo càng tuyệt vọng trong nỗi cô đơn của chính mình, càng căm phẫn đến tột cùng kẻ gây ra tội ác
để dẫn đến hành động quyết liệt ở cuối tác phẩm
Chủ nghĩa hiện thực tâm lý với hình tượng nhân vật tự ý thức và nhân
vật con người cô đơn là những đóng góp mới mẻ của Nam Cao, đánh dấu và mở
ra một bước phát triển mới của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam
d Tạo dựng kết cấu
Để thể hiện chủ đề, tư tưởng của tác phẩm, Nam Cao chú ý đến việc tổ chức, tạo dựng kết cấu tác phẩm Trong sáng tác của mình, Nam Cao sử dụng nhiều kiểu kết cấu bởi nhà văn nhận ra đó là con đường và phương tiện làm sâu sắc hơn tư tưởng của tác phẩm
Việc đi sâu vào thế giới tinh thần bên trong của nhân vật đã quy định
kiểu kết cấu tâm lý Hà Minh Đức trong Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc đã nhận xét: “Đa số tác phẩm của Nam Cao thường được kết cấu theo lối
tâm lý, đặc biệt là những sáng tác về chủ đề tiểu tư sản” [9,tr.184] Kiểu kết cấu tâm lý thể hiện ở chỗ nhân vật được xây dựng không phải bằng hành động, sự kiện mà bằng chính tâm lý Cốt truyện đơn giản, trong đó nhân vật luôn có sự suy nghĩ, day dứt và ân hận Với đề tài người nông dân, kiểu kết cấu tâm lý lại được thể hiện dưới một hình thức khác Trình tự thời gian bị đảo lộn Sự vận động của thời gian không theo quy luật khách quan mà theo quá trình diễn biến tâm lý của nhân vật Phần kết có thể được đưa lên trước
Có khi chuyện lại bắt đầu từ giữa rồi mới quay lại phía trước và tiếp tục về phía sau Kiểu kết cấu này tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm ngay những dòng đầu tiên, giúp người đọc dễ dàng nắm bắt tâm lý nhân vật
Trang 321.2.3 Chủ nghĩa nhân văn trong sáng tác của Nam Cao
Cùng cày xới trên mảnh đất hiện thực, nhưng đường cày của Nam Cao
có thể nói đã để lộ những “mảnh vàng ròng”, theo thời gian càng trở nên ngời sáng Về tư tưởng nghệ thuật, chất “vàng ròng” đó có được là do chủ nghĩa hiện thực trong sáng tác Nam Cao đã kế thừa chủ nghĩa nhân văn truyền thống, đồng thời đã tiếp cận với chủ nghĩa nhân văn hiện đại Đây cũng là một nét đặc trưng trong sáng tác của Nam Cao trước cách mạng
Chủ nghĩa nhân văn vốn là một trào lưu văn học xuất hiện ở châu Âu từ thế kỉ XVI với mục đích giải phóng con người ra khỏi mọi sự ràng buộc phi nhân tính và đề cao tất cả những gì làm nên giá trị của con người
Từ điển Thuật ngữ văn học định nghĩa:
Chủ nghĩa nhân văn còn gọi chủ nghĩa nhân đạo Ở cấp độ thế giới quan, chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm, tình cảm quý trọng các giá trị của con người như trí tuệ, tình cảm, phẩm giá, sức mạnh, vẻ đẹp Chủ nghĩa nhân văn không phải là khái niệm đạo đức đơn thuần mà còn bao hàm cả cách nhìn nhận, đánh giá con người về nhiều mặt (vị trí, vai trò, khả năng, bản chất…) trong các mối quan hệ tự nhiên, xã hội và đồng loại [13,tr.184]
Theo cách hiểu trên thì những trang viết của Nam Cao thực sự là những trang viết thấm đượm tư tưởng nhân văn Chất nhân văn thể hiện ở nhiều khía cạnh, song rõ nhất và dễ dàng nhận ra nhất là ở trong quan niệm nghệ thuật về con người và khát vọng giải phóng con người
a Quan niệm nghệ thuật về con người
Văn học bất cứ thời kì nào cũng lấy con người làm trung tâm của sự phản ánh Tuy nhiên, quan niệm về con người mỗi thời mỗi khác Từ con người cộng đồng trong văn học trung đại đến con người cá nhân trong văn
Trang 33học hiện đại là kết quả của một quá trình nhận thức lâu dài
Nam Cao là nhà văn nhạy cảm với những vấn đề thuộc về con người và
hướng ngòi bút vào những giá trị mang chiều sâu nhân bản Trong Sống mòn
Nam Cao viết: “Sống tức là cảm giác và tư tưởng Sống cũng là hành động nữa, nhưng hành động chỉ là phần phụ: có cảm giác, có tư tưởng mới sinh ra hành động Bản tính cốt yếu của sự sống chính là cảm giác và tư tưởng Cảm giác càng mạnh, càng linh diệu, tư tưởng càng dồi dào càng sâu sắc thì sự sống càng cao” [45,tr.172] Quan niệm ấy đã quy định hứng thú của Nam Cao trong việc chú ý vào thế giới nội tâm sinh động của con người Điều ấy lí giải
vì sao thế giới nhân vật hiện lên dưới ngòi bút của Nam Cao, không có con người hoàn toàn thánh thiện cũng không có con người hoàn toàn xấu xa Văn học truyền thống khi nhìn nhận, đánh giá con người thì vẫn thường phân chia làm hai loại: tốt-xấu, thiện-ác, địch-ta, chính nghĩa-phi nghĩa Với cách nhìn nhận này, các nhà văn khi xây dựng nhân vật trong tác phẩm cũng chia thành hai tuyến: người tốt bao giờ cũng đẹp người, đẹp nết, người xấu thì từ tính
cách đến hành động đều xấu Có thể lấy ví dụ điển hình qua tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố: Chị Dậu là nhân vật điển hình chính diện thì trong hoàn
cảnh nào cũng tốt; còn vợ chồng Nghị Quế là nhân vật phản diện thì đủ những đức tính xấu của những kẻ trọc phú
Nhân vật của Nam Cao thường không như vậy Chí Phèo trong kiệt tác cùng tên của Nam Cao, từ một đứa bé bị bỏ rơi đáng thương, một anh tá điền hiền lành tuy nghèo khổ vẫn tự trọng, nhưng rồi hoàn cảnh xô đẩy đã thành
quỷ dữ của làng Vũ Đại Nhân vật văn sĩ Hộ trong truyện ngắn Đời thừa rất
giàu lòng nhân ái, cháy bỏng khát vọng sáng tạo vươn tới những “tác phẩm chung cho cả loài người”; nhưng cũng rồi vì hoàn cảnh “cơm áo không đùa với khách thơ”, anh đã có lúc tàn nhẫn với vợ con và phản bội lại lý tưởng của chính mình
Trang 34Chủ nghĩa hiện thực trong sáng tác của Nam Cao vươn tới tiếp cận với chủ nghĩa nhân văn hiện đại chính là ở thái độ của nhà văn không bao giờ quá
kỳ vọng vào con người, nhưng cũng không đánh mất niềm tin vào con người Trong quan niệm của Nam Cao con người có thể bị tiêu diệt, nhưng nhân tính, bản chất lương thiện của con người là vĩnh hằng, bất diệt Chính việc phát hiện ra phần người còn sót lại trong một kẻ lưu manh như Chí Phèo đã khiến Nam Cao trở thành một trong số những nhà nhân đạo lớn của nền văn học
hiện đại Việt Nam Giá trị của Chí Phèo không chỉ ở chỗ tố cáo, phê phán mà
còn là sự khẳng định và phát hiện những phẩm chất đẹp đẽ của con người ngay cả khi họ bị rạch nát cả bộ mặt người, giết chết tâm hồn người Tinh thần nhân đạo của Nam Cao đã biến một câu chuyện bình thường thành một
bi kịch có thể nói cũng vào loại vĩnh cữu và cũng không thua kém bất cứ một
bi kịch nào trong lịch sử văn chương Việt Nam và thế giới
Đối với nhân vật người trí thức nghèo, Nam Cao đã tìm thấy ở họ những ước mơ, say mê, khát vọng chân chính của một thời tuổi trẻ Khát vọng
về sự nghiệp, về tương lai, về lẽ sống Trước sự xô đẩy của hoàn cảnh, nhân vật có lúc ngả nghiêng, chao đảo, đứng mấp mé trên bờ ranh giới giữa cao thượng và ích kỉ, nhỏ nhen; giữa bao dung, độ lượng và tàn nhẫn, độc ác nhưng cuối cùng vẫn là những người có nhân cách và lòng tự trọng Bị cuộc đời quăng quật, vùi nát, đâu đó trong tâm hồn họ vẫn còn sót lại ánh sáng của lương tri Điều đó đã làm cho sáng tác của Nam Cao hòa cùng với dòng chảy văn học ưu tú, tiến bộ nhất của dân tộc mọi thời đại
Nam Cao quan niệm: con người chỉ thực sự là con người khi được sống với một cuộc sống tinh thần cao đẹp, sống với đầy đủ giá trị của sự sống Bởi vậy, ông không chấp nhận một cuộc sống vô nghĩa lý, vô ích, vô nghĩa Mặc
dù bị “giam hãm” trong ao đời tù đọng, nhân vật của Nam Cao vẫn không thôi khao khát được sống, được cống hiến, được “phát triển đến tận độ” để
Trang 35góp vào “công việc tiến bộ chung” của loài người Do vậy, chủ nghĩa nhân văn trong tác phẩm của Nam Cao trước cách mạng tháng Tám 1945 không chỉ nêu cao những phẩm chất cần có của lòng nhân ái mà còn có ý nghĩa thầm gửi gắm những triết lý về lẽ sống cao đẹp của đời người và của lao động sáng tạo nghệ thuật:
Thứ vẫn không thể nào chịu đựng được rằng sống chỉ là làm thế nào cho mình và vợ con có cơm ăn, áo mặc thôi Sống là
để làm một cái gì cao đẹp hơn nhiều, cao quý hơn nhiều Mỗi người sống phải làm thế nào cho phát triển đến tận độ những khả năng của loài người chứa đựng ở trong mình Phải gom góp sức lực của mình vào công việc tiến bộ chung Mỗi người chết đi,
phải để lại chút gì cho nhân loại [45,tr 256]
Đặt trong bối cảnh xã hội bấy giờ, những tư tưởng của Nam Cao rõ ràng là đã vượt ra ngoài tư tưởng của thời đại Đó là tư tưởng thể hiện ý thức đầy trách nhiệm về ý nghĩa sự tồn tại của mỗi cá nhân trong sự phát triển chung của xã hội loài người Có thể nói đó là tư tưởng nhân văn mới mẽ chưa từng có trong văn học Việt Nam trước Cách mạng Tư tưởng ấy mãi đến sau này ta mới bắt gặp trong thơ Tố Hữu: “Sống là cho và chết cũng là cho”
b Khát vọng giải phóng con người
Làm sao giải phóng con người ra khỏi kiếp sống nhọc nhằn, quẩn quanh, bế tắc có lẽ là câu hỏi lớn suốt đời viết văn của Nam Cao Dù không đi trọn đoạn đường với ước mơ đã định nhưng những gì Nam Cao để lại cũng đủ khẳng định ước mơ ấy là có thật Sau những cố gắng để tái hiện chân thực hiện thực xã hội lẫn hiện thực tâm hồn nhân vật, Nam Cao đều đặt ra vấn đề: cần phải giải phóng con người ra khỏi kiếp sống lầm than mà họ đang gánh chịu
Ở phần trên chúng tôi đã đề cập đến sự chi phối của hoàn cảnh đến tâm tính, tính cách con người trong tác phẩm Nam Cao Từ những trang viết của
Trang 36Nam Cao, người đọc thấy được nhà văn không chỉ nhấn mạnh đề cao yếu tố chủ quan “tự ý thức” ở mỗi con người, mà còn chỉ ra mối quan hệ biện chứng
giữa hoàn cảnh và tính cách Nam Cao từng phát biểu trong Sống mòn:
“Chừng nào con người còn phải giật của người từng miếng ăn, chừng nào một
số người còn phải giẫm lên đầu người kia để nhô lên, thì loài người còn phải xấu xa, bỉ ổi, tàn nhẫn và ích kỉ” [45,tr.173] Đòi hỏi một sự thay đổi căn bản của hoàn cảnh chính là Nam Cao đã chạm đến với lý tưởng của Marx và Engel: “Nếu như tính cách con người được tạo nên bởi hoàn cảnh, thì cần
phải làm cho hoàn cảnh có tính nhân đạo hơn” (Dẫn theo Trần Đăng Suyền, Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, tr.285)
Để cải tạo xã hội, Nam Cao nghĩ đến vai trò của văn hóa, của tri thức Dưới con mắt của một nhà tri thức, ông nhìn nhận: “những kẻ còn nghĩ đến cái giống nòi đều nghĩ đến việc đào tạo óc Vì chỉ có sự học thôi, chỉ có sự học là cải tạo được con người Xã hội Việt Nam muốn tiến, quốc dân Việt Nam phải học Yêu nước lo đến tương lai của giống nòi không gì bằng học” [45,tr.173]
Từ những mong ước, nguyện vọng mà Nam Cao gửi gắm trong những tác phẩm của mình, một lần nữa khẳng định cảm hứng nhân văn của Nam Cao
đã tiếp cận được với lý tưởng nhân đạo của chủ nghĩa cộng sản mà cụ thể là
lý tưởng nhân văn của Hồ Chủ Tịch Trong một lần trả lời phỏng vấn nhà báo, Bác nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước
ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm
ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Như vậy, trong lý tưởng nhân văn của Bác, cùng với vấn đề độc lập, tự do thì vấn đề cơm ăn, áo mặc, học hành cũng
là những vấn đề cốt yếu căn bản phải đem lại cho dân chúng Sự tiếp cận với
lý tưởng nhân đạo của chủ nghĩa cộng sản đã hé lộ và lý giải con đường mà sau này Nam Cao đã chọn Đó là con đường hòa nhập với Cách mạng để trở
Trang 37thành một nhà văn chiến sĩ
Cảm hứng nhân văn và sự thể hiện đầy sinh động qua thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Nam Cao trước năm 1945 không chỉ có ý nghĩa nói lên tầm tư tưởng và tài năng của một nhà văn lớn, mà còn đánh dấu một bước phát triển về chất của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam ở chặng đường đêm trước của nền văn học Cách mạng
Suốt hơn một thế kỉ phát triển của văn học, dòng văn học hiện thực với
tư cách của một dòng văn học công khai đã góp phần đáng kể vào việc phản ánh chân thực bộ mặt xã hội thực dân phong kiến, góp phần thay đổi hoàn cảnh xã hội để tiến đến một cuộc sống tốt đẹp hơn Quá trình phát triển đó đã ghi nhận nhiều tên tuổi của các nhà văn nổi tiếng, trong đó Nam Cao nổi lên như một đại diện tiêu biểu nhất cho trào lưu văn học hiện thực giai đoạn cuối Với những đề tài tuy không mới nhưng với tài năng sáng tạo, với sự tìm tòi khám phá, Nam Cao đã tỏa sáng ở những “vùng”, những “miền” chưa ai khơi, chưa ai khám phá Đặc biệt, với việc đi sâu vào khai thác đời sống nội tâm trong tâm hồn nhân vật, Nam Cao đã trở thành nhà văn bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực tâm lý Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao dù bám sát đời sống xã hội vẫn gợi lên nhiều vấn đề mới mẽ Đó là do chủ nghĩa hiện thực Nam Cao
có cái gốc là chủ nghĩa nhân đạo, trên một vài phương diện, chủ nghĩa hiện thực ấy đã tiếp cận được với chủ nghĩa nhân văn hiện đại, với lý tưởng nhân văn cộng sản chủ nghĩa
Trang 38CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI NAM CAO SAU 1945 NHÌN
TỪ PHƯƠNG DIỆN TƯ TƯỞNG NGHỆ THUẬT
Tư tưởng nghệ thuật là khái niệm để chỉ đặc điểm nổi bật như là linh hồn của một tác phẩm, được tạo dựng nên bằng tài năng và tư duy nghệ thuật
của chủ thể sáng tạo Tư tưởng nghệ thuật ấy thể hiện qua toàn bộ thế giới hình tượng của tác phẩm, nhưng trước hết được bộc lộ qua hệ thống quan niệm nghệ thuật, cách tiếp cận hiện thực cuộc sống và gương mặt của nhân vật trong tác phẩm
Với Nam Cao, một nhà văn nổi tiếng, một trí thức giàu nghị lực dù phải sống trong xã hội thực dân nửa phong kiến đầy tối tăm và uất ức, tất nhiên sẽ không thể cam chịu bế tắc trong cảnh “chết mòn” mà sẽ không nguôi khát vọng đi tìm về phía ánh sáng Và nói như Tô Hoài: “Nam Cao đã tự gỡ mình
ra, vượt lên…Con người ấy, lúc nào cũng là một bài học phấn đấu, bài học tin tưởng” Vì vậy, từ năm 1943, được ngọn cờ yêu nước của Mặt trận Việt Minh vẫy gọi, Nam Cao đã cùng một số văn nghệ sỹ bí mật tham gia Hội Văn hóa cứu quốc Đây là sự kiện có ý nghĩa, mở ra một chặng đường mới trong cuộc đời cầm bút của Nam Cao
Cũng từ đấy, vào những năm tiền khởi nghĩa 1943-1944, bên cạnh những sáng tác tiếp tục phơi bày hiện thực xã hội, đây đó trong một số tác phẩm của Nam Cao đã thấp thoáng mở ra ánh sáng hy vọng ban mai của cuộc đời mới Nhà văn đã tiên cảm được “Mọi vật sống trong sự chờ đợi Sự chờ đợi bứt rứt một nỗi đau phải đến Của con nhộng đón ngày biến thành ngài Của con ve sắp trút làn da cứng để non trẻ lại và của cải mầm mấm sắp xé
lòng mẹ để ra đời” (Giờ lột xác).Trên con tàu trở về quê hương, Thứ (Sống mòn) dù chưa hết buồn rầu, nhưng dường như trong tâm trạng vẫn âm thầm
Trang 39hy vọng, và mơ hồ hình dung về một sự đổi thay đang cựa mình: “Nhân loại lên cơn sốt rét đang quằn quại, nhăn nhó, rên la, tự mình lại cắn mình, tự mình lại xé mình để đổi thay Cái gì sẽ trồi ra? Lòng Thứ đột nhiên hé ra một tia sáng mong manh Thứ lại thấy hi vọng một cách vu vơ Sau cuộc chiến tranh này có lẽ cuộc sống sẽ dễ dàng hơn, công bằng hơn, đẹp đẽ hơn” [45,tr.319]
Và ngay trong Điếu văn nói với người đã khuất, Nam Cao vẫn khẳng
định một niềm tin không tắt:
Chúng tôi, những kẻ đau khổ, đã uất ức, đã ước ao, đã thèm khát, đã thất vọng và vẫn còn hi vọng mãi và phải hi vọng mãi Sự đời không thể cứ mãi mù tịt như thế này đâu Tương lai phải sáng sủa hơn Một rạng đông đã báo rồi Một mặt trời mới
sẽ mọc lên trên nấm mồ anh và bên trên đầu hai đứa con côi anh
để lại Một bàn tay bè bạn sẽ nắm lấy tay chúng và dắt chúng cùng đi tới một cuộc đời đẹp hơn [43,tr.441]
Trong niềm mong chờ ấy, Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời thực sự là một niềm vui lớn
có ý nghĩa như một cuộc hồi sinh vĩ đại của cả dân tộc và của những người cầm bút Vốn đã chờ đợi và vận động chuyển mình từ trước như đã nói ở trên, sáng tác văn xuôi của Nam Cao sau 1945 đã có mặt một cách kịp thời hòa nhịp vào cuộc sống cách mạng và kháng chiến Rất tiếc là nhà văn của chúng
ta đã hy sinh vào năm 1951 nên chặng đường sáng tác cũng không dài, nhiều
dự định còn dang dở; nhưng cả về tư tưởng nghệ thuật và bút pháp thể hiện, tác phẩm văn xuôi Nam Cao sau 1945 đã xứng đáng có một vị trí văn học sử trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại
Tư tưởng nghệ thuật của sáng tác văn xuôi Nam Cao sau 1945 được thể hiện qua những đặc điểm nổi bật sau đây:
Trang 402.1 ĐỔI MỚI HỆ THỐNG QUAN NIỆM
Văn xuôi Nam Cao vốn giàu chất ngẫm ngợi, triết lý Ngay trong sáng tác của ông trước cách mạng, khi trực tiếp, khi mượn lời nhân vật, khi thông qua thế giới hình tượng, nhà văn đã phát biểu những suy ngẫm sâu sắc của mình về con người, về đối tượng của nghệ thuật, về đặc trưng lao động của nhà văn, về tiêu chí và khát vọng vươn tới “một tác phẩm thật giá trị…, một tác phẩm chung cho cả loài người”…Những quan niệm ấy đến ngày nay vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự, rất đáng để mọi người cùng suy ngẫm
Cách mạng tháng Tám 1945 đã như “một trận động đất lớn nhào nặn lại
xã hội Việt Nam”, thực sự là một cuộc đổi đời từ bóng tối ra ánh sáng Đã từng “chín mấy mùa thương đau” trong xã hội cũ, những người trí thức nước
ta hồi bấy giờ, trong đó có các nhà văn không khỏi bỡ ngỡ trước hiện thực mới Cho nên, dù muốn hay không, nói như Nguyễn Đình Thi, để hòa mình vào cuộc sống kháng chiến của dân tộc và sáng tác, họ không khỏi phải trải qua giai đoạn “nhận đường.” Đã từng khát khao được “sống để làm một cái gì đẹp hơn nhiều, cao quý hơn nhiều”, Nam Cao là một trong những nhà văn sớm tự nguyện nhập cuộc Do vậy, sáng tác của ông sau 1945 dù không nhiều nhưng đã thể hiện được hệ thống quan niệm nghệ thuật của một nhà văn - chiến sĩ, trong thời đại đất nước vừa giành được độc lập lại phải tiến hành vào cuộc kháng chiến để giữ quyền độc lập thiêng liêng ấy
2.1.1 Quan niệm về nhà văn
Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ngay từ đầu Nam Cao đã bước vào cuộc kháng chiến với tư cách là một cán bộ tuyên truyền, một nhà văn-chiến
sĩ Trong không khí sôi nổi những ngày đầu Cách mạng, Nam Cao đã tự nhận thức về vị trí của nhà văn, về vai trò của văn nghệ trong sự nghiệp cứu nước:
“Người ta có thể cầm cày hay cầm bút mà vẫn là chống giặc” Nhưng trước khí thế rạo rực của những đoàn quân Nam tiến, nhà văn vẫn không thể dấu