1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm văn xuôi phi vân

114 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 741,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như Bình Nguyên Lộc nguyện dâng trọn cuộc đời nơi bình nguyên mênh mông của vùng Đông Nam Bộ để trải lòng giữa thiên nhiên bạt ngàn, của hương gió Đồng Nai, của phù sa, thì Sơn Nam l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN THỊ MẶC LAM

ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI PHI VÂN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN PHONG NAM

Đà Nẵng, năm 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Bố cục của luận văn 8

CHƯƠNG 1 CHÂN DUNG PHI VÂN - NHÀ VĂN NAM BỘ 9

1.1 TÁC GIẢ PHI VÂN 9

1.1.1 Cuộc đời của nhà văn Phi Vân 9

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác văn học của Phi Vân 11

1.1.3 Phóng sự tiểu thuyết – nét đặc sắc trong sáng tác của Phi Vân 16

1.2 NHÀ VĂN PHI VÂN TRONG QUÁ TRINH VẬN ĐỘNG CỦA VĂN XUÔI NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX 22

1.2.1 Tình hình văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX 22

1.2.2 Vị trí của Phi Vân trong văn xuôi Nam Bộ 25

CHƯƠNG 2 CẢNH SẮC VÀ CON NGƯỜI NAM BỘ TRONG TÁC PHẨM CỦA PHI VÂN 28

2.1 CẢNH SẮC NAM BỘ 28

2.1.1 Không gian ruộng đồng 28

2.1.2 Không gian sông nước 32

2.2 CON NGƯỜI NAM BỘ 37

2.2.1 Những người dân quê Nam Bộ 37

2.2.2 Địa chủ và hương chức ở nông thôn 61

2.3 PHONG VỊ VĂN HÓA NAM BỘ 65

2.3.1 Phong tục, tập quán sinh hoạt 65

Trang 4

2.3.2 Đời sống văn hóa 67

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT VĂN XUÔI PHI VÂN 71

3.1 CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU NGHỆ THUẬT 71

3.1.1 Đặc điểm cốt truyện của Phi Vân 71

3.1.2 Kết cấu nghệ thuật trong tác phẩm của Phi Vân 73

3.2 NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ, TRẦN THUẬT 75

3.2.1 Miêu tả chân dung và hành động của nhân vật 75

3.2.2 Mô tả nhân vật qua lời thoại 80

3.3 NÉT ĐẶC SẮC CỦA NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT 89

3.3.1 Một lối văn xuôi giàu chất thơ 89

3.3.2 Ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ 92

3.4 GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT 95

3.4.1.Giọng điệu hóm hỉnh, hài hước 95

3.4.2.Giọng điệu phê phán, chế giễu 97

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 5

Các nhà văn Nam Bộ hiện đại đã dựng lại hình ảnh quê hương với nhiều sắc màu riêng của nó Nếu như Bình Nguyên Lộc nguyện dâng trọn cuộc đời nơi bình nguyên mênh mông của vùng Đông Nam Bộ để trải lòng giữa thiên nhiên bạt ngàn, của hương gió Đồng Nai, của phù sa, thì Sơn Nam lại là người lữ hành đi cùng trời cuối đất của vùng Tây Nam Bộ, dang rộng hai tay

ôm lấy cái mênh mông vô tận mà vô cùng đặc sắc của dòng Hậu Giang, cái thâm u của U Minh với nguồn hương rừng Cà Mau bất tận, cùng bắt sấu U Minh, hay đi trên Sông Gành Hào với đêm trăng huyền ảo … còn Phi Vân lại nguyện đem cái “Tình quê” chân chất, thủy chung của mình để viết về những người “Dân quê”, viết về “Đồng quê” ở những xóm làng nhỏ bé của miệt Cà Mau, Bạc Liêu bằng cả cuộc đời đi góp nhặt yêu thương… Chính vì thế, những tác phẩm của Phi Vân đã phản ánh hiện thực xã hội đương thời một cách chân thực, sống động, vừa đa dạng nhưng cũng rất cụ thể Ngoài viết văn, Phi Vân còn là một nhà báo nên ông được đi nhiều, lăn lộn nhiều, chất tươi tắn, roi rói đời sống của miền đất mới hiện ra lồ lộ trong từng trang viết Đọc lại những trang viết của ông, chúng ta như đang được trở về với những gì hiện hữu ở Nam Bộ lúc bấy giờ Đó là cảnh làng

Trang 6

2

quê Nam bộ xa xôi hẻo lánh với những người nông dân chất phác, cục mịch sống với tập tục cổ hủ, lạc hậu, miệt Cà Mau – Bạc Liêu, của rừng U Minh.Phi Vân từng nghĩ người dân phương Nam còn vắng bóng trong văn chương, nhất là những người dân đồng ruộng “sằn dã quê mùa nơi tận cùng mũi đất của bán đảo Đông Dương” Vì thế ông đã viết về họ như một trách nhiệm cao cả của người cầm bút Tuy số lượng tác phẩm khá khiêm tốn

thông sâu sắc, yêu thương chân thành cùng nỗi xót xa day dứt khôn nguôi với

của ông chiếm một vị trí quan trọng trong văn xuôi Nam Bộ đầu thế kỷ XX Mặc dù thế, nhưng nghiên cứu về Phi Vân nói chung còn rất ít, chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện về Ông Cho nên thông qua đề tài này, người viết hy vọng góp thêm tiếng nói để khẳng định giá trị của một tài năng nghệ thuật vùng đất Nam Bộ

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Đề tài về nông thôn Việt Nam có thể nói không phải là một đề tài mới Bởi, chúng ta đã biết nhiều qua các tác phẩm của Nam Cao, Tô Hoài, Ngô Tất

Tố, Nguyễn Công Hoan… với muôn mặt đời sống khốn cùng ở vùng quê Bắc

Bộ Thế nhưng có lẽ rất ít người biết đến đời sống không kém phần cơ cực của người dân Nam Bộ Có chăng người đọc cũng chỉ biết đến vùng đất này qua những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, nhưng phần lớn tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh nhằm truyền tải luân lý đạo đức của con người chứ chưa thể hiện được hết nỗi gian truân, vất vả của người nông dân Nam Bộ Thì đây - Phi Vân – một cây bút chuyên chú ý đến con người, cảnh sắc thiên nhiên đặc biệt

là nếp sống sinh hoạt cùng với phong tục tập quán riêng biệt ở vùng quê Nam

Bộ qua một số tác phẩm: Đồng quê, Dân quê, Tình quê,

Trang 7

3

Tìm hiểu về nhà văn Phi Vân, Nguyễn Văn Kiết – Chủ tịch Ủy ban văn chương của hội Khuyến học Cần Thơ – trong một bài diễn văn tại lễ phát thưởng văn chương Thủ Khoa Nghĩa năm 1963 đã nhận xét khái quát về tác

phẩm Đồng quê, về phong tục tập quán, cảnh sống mộc mạc của những hạng

bình dân lao động nơi chốn đồng quê, mâu thuẫn-xung đột giữa bọn điền chủ

và tá điền,… đặc biệt là bài học luân lí mà Phi Vân muốn gửi đến người đọc -

lòng cảm thông sâu sắc với nông dân lao lực Ông cho rằng chỗ hứng thú của

quyển phóng sự Đồng quê là cho ta thấy những phong tục cũ kỹ, nạn mê tín dị

đoan, những cuộc giao tiếp, xung đột giữa bọn điền chủ và tá điền, Ðọc qua, chúng ta dường như đang len lỏi chốn đồng quê, đang mục kích những cuộc

tụ họp chơi bời, những cảnh cần lao rộn rịp Thỉnh thoảng như đưa lại giọng

hò trầm bổng trong đám gấc, như phất lại mùi thơ thanh đạm của lúa vàng… Quyển phóng sự của ông như một tấn tuồng gay cấn đặt trong cảnh trí xanh tươi: Hay là – muốn nói cho rõ hơn – nó là một “nông kịch” chia ra nhiều lớp:

có hồi hộp, có vui cười và sau rốt kết cuộc rất thương tâm, khiến cho độc giả phải ngậm ngùi cảm động

Có lẽ đó là bài luân lý sâu sắc mà tác giả không muốn chỉ cho rõ ràng, để

ta tự hiểu ngầm mà thương hại cho hạng nông dân lao lực Họ sống một cuộc đời mộc mạc, siêng năng; nhưng mãn kiếp phải làm nạn nhân cho bọn giàu sang thế lực Mà cả thảy chúng ta, theo như tác giả nói lại là “nạn nhân của một thời kỳ”; cho nên đối với mọi người ta nên để lòng thương hại và thứ dung, và nên cầu nguyện cho chốn đồng quê được vui tươi yên ổn

Còn Nguyễn Văn Sâm trong Văn chương đấu tranh miền Nam (1969) với bài viết Phi Vân và sự trở mình của người dân quê đã cho rằng ngòi bút

dựng đều có mục đích của riêng mình Qua đó, nhà văn giúp người đọc thấy được ý thức tự vươn lên của người dân quê lam lũ, quanh năm “bán mặt cho

Trang 8

4

đất, bán lưng cho trời” Ý kiến của ông như sau: “Về văn chương, Phi Vân là

một người nắm được ngòi bút mình, ông mô tả ít nhưng cặn kẽ, nhân vật ít hành động nhưng linh hoạt, ít suy tư nhưng diễn tả được tâm lý mình Văn gẫy gọn, sự kiện đi vào lòng người và có nhiều ảnh hưởng Mỗi sự kiện ông nêu ra đều có mục đích Hành động tàn ác, bất nhân của ông hội đồng, ông chủ điền, ông hương quản là để cho người đọc thấy nguyên nhân làm cho

người dân quê đứng dậy Sự nhút nhát của Giác của Nhạn là để cho ta thấy họ

chưa ra khỏi vị trí của người dân quê mộc mạc, cần cù Sự cương quyết, can đảm của Tâm, của Quyến, của ông giáo, của anh thợ Tám là để nói rằng họ đã

có ý thức rồi… Sự lanh lẹ của cô gái quê là chứng tỏ ý thức cách mạng đã đi vào huyết quản của cô” [47, tr.118]

Cũng tương tự như trên, nhà văn Anh Đức khi viết lời giới thiệu cho

bút của Phi Vân khi viết về vùng đất mới Cà Mau, Rạch Gía: “Bản lĩnh này

được thể hiện hết sức rõ rệt trong “Đồng quê”, từ một phóng sự ngắn tới một tiểu thuyết vừa Ở từng trang, từng chữ, đâu đâu ta cũng bắt gặp lời ăn tiếng nói thuần chất Nam bộ, đâu đâu cũng bật lên bản sắc, tính cách riêng của con người, vùng đất, đặc biệt vùng Cà Mau, Rạch Giá, là vùng đất mới khai phá,

là nơi ông sinh ra, sống nhiều ở đó và am hiểu tinh tường Bởi do tôi có may mắn được sống nhiều năm ở chính nơi ông miêu tả, nên khi đọc ông tôi thấy ông miêu tả thật sát sao, thú vị, tựa như ông đang dẫn tôi ngược dòng thời gian trở về chốn cũ, ngồi bên gốc tràm, gốc đước, nghe hơi thở mặn mòi của dòng kinh, xẻo biển Điều quan trọng hơn là Phi Vân dắt ta đi trong cảnh ngộ những ngày xưa cũ còn áp bức nô lệ, nhưng đi đâu ông cũng đem theo sinh khí, tiếng cười Trong cái mảng đời bi thương, vẫn có chỗ cho niềm hoan lạc tối thiểu của con người Phong tập và tập tục của đời sống hiện ra dưới ngòi bút của ông đã góp phần ghi dấu một phần lịch trình tiến hóa của ông cha ta ở

Trang 9

5

phía cực nam tổ quốc, nơi mũi Cà Mau đêm ngày không ngừng lấn biển” [ 63; tr.3 ]

– Cây bút đồng quê Nam Bộ trước Cách mạng cũng có cái nhìn sâu sắc, toàn

diện về nhân vật trong các tác phẩm như sau: “ …Nhưng cái đặc sắc ở đây là

tác giả đã dựng lên được một số nhân vật có tính cách chất phác, cần cù, mang sức lao động của mình ra chiến thắng thiên nhiên hung dữ và khắc nghiệt và đấu tranh với địa chủ để giành miếng cơm manh áo” hay “…Tác giả không ca ngợi người nông dân một chiều mà cho thấy cả mặt nhược điểm, khuyết điểm của họ, đó cũng là viết bằng ngòi bút hiện thực nghiêm nhặt” [1, tr.1249]

Huỳnh Công Tín trong Cảm nhận bản sắc Nam Bộ (2006) với bài viết

Đồng quê, dân quê, tình quê đã đề cập đến những đóng góp của Phi Vân khi

viết về đề tài nông thôn: “Đề tài nông thôn trong sáng tác của các nhà văn không phải là điều gì mới lạ Tuy nhiên, để khắc họa được một bức tranh quê với đủ các diện mạo, màu sắc của nó không phải là điều dễ dàng Có thể nói, qua những tác phẩm của họ mà chúng ta có thể nhận diện được một bối cảnh nông thôn miền Nam toàn diện thì có lẽ không ai khắc họa được rõ nét bằng Phi Vân” [56,tr.170]

Nhà văn đồng quê rặt ròng Nam Bộ (2006) đã có nhận xét rất tinh tế về tác

phẩm Đồng quê Ông cho rằng đây là một bức tranh nông thôn sông nước

nghèo nàn, lạc hậu, mê tín dị đoan, đồng thời bị các hương chức lộng hành bóc lột: “Tác phẩm Đồng Quê là loại phóng sự tiểu thuyết rất gần với loại

truyện ngắn, đầy sức gợi tả sinh động, chắt lọc phương ngữ làm cho ngôn ngữ mang dáng dấp hiện đại hơn Tập nầy gồm mười hai phóng sự ngắn và một phóng sự dài, miêu tả bức tranh nông thôn sông nước nghèo nàn, lạc hậu, bức

Trang 10

6

bối với những tập tục mê tín, dị đoan, cảnh đời bị bóc lột bởi các hương chức

lộng hành, đặt ra vấn nạn lớn cần phải gấp rút giải quyết cho nông thôn miền

Nam” [68]

Bên cạnh đó thì tác giả Hoài Phương trong bài viết Nét đặc sắc ngôn ngữ

phóng sự của nhà văn, nhà báo Phi Vân cho rằng tác phẩm Đồng quê là một

bức tranh muôn hình, muôn vẻ của nông thôn miền Nam Nó phản ánh sinh động những tập tục cổ hủ vừa hiện thực vừa sâu sắc Tác phẩm “Dưới đồng sâu” được đánh giá là một trong những “truyện vừa” xuất sắc của văn học

hiện thực trước Cách mạng tháng Tám: “Phóng sự “Đồng quê” là một tập

truyện sắc sảo nhằm khơi dậy bộ mặt muôn hình muôn vẻ của nông thôn miền Nam trước Cách mạng tháng Tám, trong đó những hình ảnh đất nước và con người mà ông đề cập đến phần lớn là ở Bạc Liêu, vùng Hộ Phòng, nơi tổ tiên ông đã từng lập nghiệp Toàn tập phản ánh sinh động về những tập tục lạc hậu, cổ hủ và tính cách của con người Nam bộ, khiến người đọc cảm thấy buồn, thương, tức, giận về những con người đầy những thói hư tật xấu và những vùng đất nghèo nàn, thui thủi và hoang sơ như: hóc Bà Tó, xóm Kiến Vàng, mương Chệt Kịch, tắc Ông Do Bằng bút pháp hiện thực vừa sâu sắc vừa hóm hỉnh pha lẫn chút hài hước, tập phóng sự tiểu thuyết “Dưới đồng sâu” của Phi Vân đã được nhiều nhà phê bình văn học đánh giá là một trong những “truyện vừa” xuất sắc của nền văn học hiện thực giai đoạn 1939-1945”.[70]

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều đánh giá cao về tài năng, tác phẩm của Phi Vân.Tuy nhiên, mỗi tác giả chỉ đề cập hoặc đánh giá một góc độ, một khía cạnh nào đó về tác giả hoặc tác phẩm : hoặc bàn về phong tục tập quán, hoặc nhận định chung về tài năng văn chương của Phi Vân, hoặc là bàn về chất Nam Bộ trong tác phẩm, Chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập một cách đầy đủ, toàn diện về Phi Vân, cả nội dung tư tưởng, đặc điểm

Trang 11

7

nghệ thuật trong tác phẩm của ông Cũng vì vậy, tuy các nhà nghiên cứu đều

có thiện cảm với văn chương của Phi Vân, thế nhưng việc xác định một cách

cụ thể vị thế của ông trong dòng mạch vận động của văn xuôi Nam Bộ đầu thế kỉ XX thì vẫn chưa rõ ràng Đây cũng chính là điểm hạn chế của tình hình nghiên cứu về Phi Vân lâu nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là những đặc điểm của văn xuôi Phi Vân Những đặc điểm đó được thể hiện qua cảm hứng sáng tạo, qua bức tranh hiện thực cuộc sống được nhà văn mô tả trong tác phẩm Đặc điểm văn xuôi Phi Vân còn được thể hiện qua các phương diện nghệ thuật như cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu,…

3.2.Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn qua một số tác phẩm của Phi Vân

gồm: Đồng quê, Nxb Hậu Giang – Nxb Tiền Giang, (1987); Dân quê, Tình

hội liên kết Nxb Tp Hồ Chí Minh (1984)

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp phân tích – tổng hợp Đây là phương pháp chính được

chúng tôi sử dụng để tiến hành khảo sát, tìm hiểu các vấn đề đặt ra của luận văn

Phương pháp so sánh – đối chiếu: trong quá trình thực hiện luận văn

người viết cũng sẽ so sánh, đối chiếu các tác phẩm viết về đồng quê Nam Bộ của Phi Vân với một số tác giả cùng thời để thấy được những nét riêng, độc đáo về mặt nội dung và nghệ thuật trong các sáng tác của Phi Vân

Trang 12

8

Phương pháp cấu trúc hệ thống: phương pháp này được dùng để nghiên

cứu một số phương diện nghệ thuật trong tác phẩm của Phi Vân

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và thư mục tài liệu tham khảo,

luận văn có ba chương:

Chương 1 – Chân dung Phi Vân – một nhà văn Nam Bộ Chương này

trình bày tiểu sử của nhà văn đồng thời đề cập đến vai trò, vị trí của Phi Vân trong quá trình vận động của văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỉ XX

Chương 2 – Cảnh sắc và con người Nam Bộ trong tác phẩm của Phi

Vân Chương hai đi vào phân tích những đặc điểm chính trong văn xuôi của

Phi Vân về phương diện nội dung

Chương 3 – Một số phương diện nghệ thuật văn xuôi Phi Vân Chương

này đề cập đến những đặc điểm nổi bật của văn xuôi Phi Vân trên phương diện nghệ thuật như cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, …

Trang 13

9

CHƯƠNG 1 CHÂN DUNG PHI VÂN - NHÀ VĂN NAM BỘ

1.1 TÁC GIẢ PHI VÂN

1.1.1 Cuộc đời của nhà văn Phi Vân

Nhà văn Phi Vân tên thật là Lâm Thế Nhơn sinh năm 1917 trong một gia đình trung lưu ở Cà Mau Thuở nhỏ, ông học ở quê rồi lên tỉnh học tại trường trung học Cần Thơ Là nhà văn kiêm nhà báo chuyên viết truyện ngắn và phóng sự, Phi Vân từng cộng tác với nhiều nhật báo, tuần báo, tạp chí ở miền Nam và miền Trung Sau 1943, Phi Vân được tổ chức cách mạng chỉ định làm công tác nội thành, lên Sài Gòn sống bằng nghề cầm bút, nằm trong ban biên

tập nhật báo Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai, rồi các báo Tiếng Dân, Dân

Chúng,… Phi Vân còn là người sáng lập và làm chủ bút tờ Thủ Đô thời báo;

là Tổng thư ký nghiệp đoàn ký giả Nam Việt trong Liên đoàn ký giả quốc tế

(IFJ)

Sáng tác đầu tay của Phi Vân là hai truyện vừa Trên bãi cát vàng và

Chim trời bạt gió được đăng trên nhật báo “Phóng sự” tại Sài Gòn năm 1944

Đây là hai truyện thuộc thể loại phiêu lưu tình cảm Phi Vân cảm thấy hai tiểu thuyết lãng mạn này không được người đọc nồng nhiệt theo dõi như các tác phẩm của Thế Lữ, Lan Khai hồi mấy năm trước Có lẽ sự lặp lại không còn được li kì, mới lạ như buổi đầu Thế là ông chuyển sang viết tiểu thuyết phóng sự Ông nghĩ dân Nam còn vắng bóng trong văn chương, nhất là những người dân ruộng đồng “sằn dã quê mùa nơi tận cùng mũi đất của bán đảo Đông Dương” Với ý hướng đó, những nhân vật đã từng cùng chung sống, những mảng kỉ niệm xưa còn in đậm trong tâm hồn đã được nhà văn tái hiện

dần trên các trang mà nổi trội nhất là tác phẩm Đồng quê (1942) Với tác

phẩm này, ông được trao giải nhất cuộc thi văn chương của Hội khuyến học tỉnh Cần Thơ năm 1943

Trang 14

10

Đồng quê đã được một nhà văn Trung Hoa dịch ra tiếng bạch thoại năm

1950, tựa đề Nguyên dã Truyện Trao thân con khỉ mốc đã được trích giảng

trong chương trình lớp 6 ở miền Nam trước đây

Sau Đồng quê, Phi Vân viết tiếp những truyện Dân quê, Tình quê, Cô

gái quê trong ba năm sau Nhưng mãi đến năm 1949 Dân quê, Tình quê mới

được in, năm 1950 Cô gái quê được xuất bản (đều do nhà xuất bản Tân Việt

ấn hành) Sau năm 1945, Phi Vân viết Nhà quê trong khói lửa để ghi lại

những kỉ niệm trong thời loạn lạc, nhưng tác phẩm còn dang dở vì lúc bây giờ gánh nặng gia đình, công việc làm báo quá bận bịu, đồng thời Phi Vân đang

âm thầm phục vụ cách mạng đã chiếm hết thời gian của ông

Phi Vân mất ngày 11 tháng 01 năm 1977 ở tuổi 60 tại Thành phố Hồ Chí Minh Như vậy, cho đến nay chúng ta chỉ được biết bốn tác phẩm của Phi Vân

do Nhà xuất bản Tân Việt xuất bản Đó là Đồng quê, Dân quê, Tình quê và

Cô gái quê Năm 1987, Đồng quê được hai nhà xuất bản Tiền Giang và Hậu

Giang liên kết ấn hành và tái bản lại Gần đây vào đầu năm 2004, nhà xuất

bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh cho tái bản ba quyển Đồng quê, Dân

quê, Tình quê

Sáu mươi năm cuộc đời của Lâm Thế Nhơn (từ năm 1917 đến ngày 11/ 01/ 1977) chủ yếu là sinh hoạt báo chí hay nói theo ngôn ngữ thời đó là làm báo Làm báo giai đoạn hòa bình tạm bợ của Việt Nam Cộng Hòa, từ năm

1955 đến năm 1975 là coi sóc một tờ báo của một ông chủ báo nào đó sao cho

tờ báo được sống và có lời trong điều kiện cạnh tranh, áp lực từ phía kiểm duyệt và những đòi hỏi quyền lợi của người viết Sau 1950 tuy ông không quan tâm đến chuyện văn nghệ, chuyện sáng tác chung quanh mình nhưng ông vẫn là một nhà văn có chỗ đứng trong văn đàn

Ngoài đời, Phi Vân là một người cao lớn, mạnh khỏe và cũng thật hiền

hòa, chưa từng làm ai giận hay giận ai Ông đã từng nói “Trời cho mình làm

Trang 15

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác văn học của Phi Vân

Phi Vân là cây bút đồng quê vùng Nam Bộ trước 1945 Trong những năm trước Cách mạng tháng Tám 1945, nhiều nhà văn viết về người nông dân, tiêu biểu như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng,… nhưng viết về người nông dân vùng quê Nam Bộ thì không thể

không nhắc đến Phi Vân với tác phẩm Đồng quê - tác phẩm được giải Nhất

cuộc thi văn chương của hội Khuyến học tỉnh Cần Thơ năm 1943 Ở đây, tác

giả không ngần ngại giới thiệu: “Ðây là những bài báo Bởi thế cách hành

văn cũng như nội dung đều có tính cách “nhật trình” Lối văn gần như cẩu thả Câu chuyện có vẻ nhất thời Nhưng tôi cứ để nguyên cho xuất bản Nghĩ rằng: hồi ấy tôi đã để ngòi bút chạy theo giòng ý tưỏng, dầu khéo dầu vụng, cách thuật chuyện cũng được cái đặc điểm là ghi tâm trạng bài lúc viết Hình ảnh những nhân vật trong chuyện - những người đã cùng tôi sống chung – ngày nay đã mờ trong ký ức Kể lại một quãng đời phải chăng là sống lại với ngày qua? Có lẽ thế Nhưng tôi muốn xa hơn: Vẽ một bức trang phong tục và tập quán Thật là quá cao vọng Tự thấy còn thấp kém, nhưng tôi vẫn cố gắng Ðây là những bài đầu, tôi ước mong sẽ có thể viết thêm Nếu chưa hiến được độc giả những bài đúng theo nguyên tắc tôi đã tự vạch, thì xin hẹn lại ở những bài sau.”[63; tr.1].

Truyện Dưới đồng sâu trong Đồng quê nói về một vùng đất mới sình lầy

ở Bạc Liêu, Cà Mau, trong đó tác giả mô tả khá đậm nét về những xóm làng mới mọc lên bên bờ kênh rạch, mà việc đi lại phải dùng ghe xuồng Những người dân nghèo ở đây phải đi mướn ruộng của các chủ đất với địa tô rất

Trang 16

12

nặng Những cánh đàn bà có nhan sắc, lập tức bị chủ ruộng cưỡng hiếp, buộc phải hiến thân cho chúng Nhân vật Sáu trong truyện là một tá điền nghèo khổ, mẹ bị địa chủ giở trò hiếp đáp, vợ lão theo rình, sai người trói bà vào cột

và đánh chết Sáu bầm gan tím ruột, quyết báo thù cho mẹ, việc chưa thành đã

bị lãnh án tù mười lăm năm

Cái đặc sắc của tác phẩm là tác giả đã dựng lên được một số nhân vật chất phác, cần cù, mang sức lao động của mình để chiến thắng thiên nhiên hung dữ, khắc nghiệt của vùng đất mới, đồng thời không ngừng đấu tranh với chủ đất để giành miếng cơm manh áo Họ là những nhân vật rất ngang tàng, bộc trực, trọng đạo nghĩa, rất Nam Bộ, chẳng khác nào các nhân vật trong Lục Vân Tiên của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu Tuy sống khổ cực, bị bóc lột đến tận xương, tận tủy, nhưng họ vẫn vui tính, yêu đời và có nhiều tài ba: Sáu có tài đánh đờn kìm và ca vọng cổ khá “mùi mẫn” Tám Én, Tư Bồ không chỉ ca hay mà võ cũng giỏi Nhưng họ là những người thất học, nên cũng vướng vào mọi thứ mê tín, dị đoan, ăn nói bặm trợn… Lợi dụng sự dốt nát, thất học của người nông dân, bọn địa chủ đã khoét sâu vào những mâu thuẫn, tạo ra sự nghi kỵ giữa những người lao khổ với nhau, để bọn địa chủ dễ

bề khống chế, đe nạt, điều khiển và có người còn hàm ơn chúng

Sự mâu thuẫn giữa nông dân địa chủ và sự phản kháng ở đây trực diện

và quyết liệt, không chỉ dừng lại ở một vài hình thức bóc lột bề ngoài, mà tác giả đi vào mô tả những thủ đoạn tinh vi, nằm trong chiều sâu nội tâm của nhân vật

Ngoài truyện Dưới đồng sâu tập truyện Đồng quê còn có mười hai thiên

phóng sự ngắn, trong đó tác giả giới thiệu khá đầy đủ hình ảnh về một vùng đất thiên nhiên hoang dã của vùng sông nước sình lầy Cà Mau, mà lần đầu tiên con người đặt chân đến với bao nỗi niềm và câu chuyện cười ra nước mắt

như Muốn ăn trứng nhạn, Trao thân con khỉ mốc,… Trong đó tác giả kể về

Trang 17

13

một bọn cướp đã chặn cướp ghe rước dâu (Muốn ăn trứng nhạn) nên một đám cưới khác (Trao thân con khỉ mốc), phải tìm cách “bắt” cô dâu đi một cách

“cấp tốc” vì nếu đợi đến giờ lành, nhà gái cho phép đón dâu, thì nguy hiểm

Ngoài ra Phi Vân còn viết hai truyện dài: Dân quê, Tình quê và truyện ngắn Cô gái quê do Tân Việt xuất bản 1940

Dân quê là một truyện dài khái quát được tình cảnh của người dân nghèo

dưới ách thống trị của bọn hội đồng, hương quản, ở ấp Bình Thạnh, làng Long Sơn, quận (huyện) Thanh Bình, thuộc vùng quê Nam Bộ Hiện thân của sự xung đột này: một bên là ông hội đồng Thế, có sự trợ lực của bọn hương quản, còn bên kia là dân nghèo, mà điển hình là gia đình ông giáo Thiện Tức nước thì vỡ bờ Tình cảnh nông dân đã đến tận cùng của sự ngột ngạt Chàng thanh niên Tâm, con ông giáo Thiện, đã nghĩ tới thù nhà mà định

liều mạng đổi mạng: “Dưới cái chế độ bất công ấy, cháu chỉ còn có cách liều

mình Dầu cháu không giết được chúng đi nữa, chúng nó cũng tởn tới già và không còn dám húng hiếp ai ” Nhưng, điều ấy không xảy ra vì sự giác ngộ

của dượng Tám với Tâm: “Phải làm sao tận diệt cho được chế độ đó, tức

nhiên, họ sẽ không còn Chế độ đó bị tiêu diệt là mình đã trả thù - không phải chỉ cho riêng mình - mà cho tất cả dân quê của xứ sở ”; Hơn nữa, vì tình yêu

trong sáng và tiến bộ của Quyến, con gái ông hội đồng, Tâm đã có một cách hành xử “hợp lí” hơn, khi anh cùng dân chúng bắt trói hương quản và hội

đồng Thế, và đốt hết giấy nợ cho dân chúng: “Hồi nãy tôi có nói sẽ tặng cho

anh em một món quà quý giá để kỉ niệm ngày tôi đi ở tù Thì đây, món quà

ấy là những giấy nợ này mà tôi buộc ông hội đồng phải đưa hết cho tôi Nó là dấu vết của bao nhiêu sự bóc lột Đời sống của anh em bị trói buộc mãi vào đời sống của ông hội đồng cũng vì nó Giờ không lí nào để nó còn tồn tại được nữa ”

Trang 18

14

Kết thúc tác phẩm là quang cảnh khu ấp Bình Thạnh chìm trong biển lửa Nó dự báo một giai đoạn quyết liệt giữa chủ điền và nông dân Và đó cũng là đêm trước của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở vùng quê

Nam Bộ nói chung: “Từ đó, ấp Bình Thạnh âm ỉ mãi cho đến ngày cách mạng

nổ bùng ”[35; tr 1167]

Tình quê lại là một truyện dài năm chương, khắc họa một tình cảm thủy

chung của một đôi trai gái không “môn đăng hộ đối” Đó là mối tình của cô Nhạn, con gái ông Hương kiểm với Giác, anh chàng nông dân nghèo, tình nguyện đi ở rể theo sự “cam kết hai năm” với cha cô Nhạn Tuy nhiên, với bản chất coi trọng tiền của hơn người, ông Hương kiểm chỉ nghĩ tới chuyện lợi dụng công sức của Giác hơn là quan tâm đến hạnh phúc cho đôi trẻ Ông Hương kiểm đã dùng mọi thủ đoạn để chia cắt mối tình của con mình Ông đẩy Giác vào tù bằng quyền thế của mình Giác tưởng cuộc đời mình đã hết nhưng nhờ cách mạng bùng lên Giác đã tìm lại được tương lai của mình Và

sự hối hận muộn màng của ông Hương kiểm dẫn đến một kết thúc tạm gọi là

có hậu cho cuộc tình duyên nhiều trắc trở này: “- Điều mà ba muốn nói là

xin hai con tha thứ cho ba! Ba đã lầm lỗi, làm cho hai con điêu đứng Giờ

ba muốn hai con hứa với ba một tiếng để ba yên lòng nhắm mắt…”[35;

tr.1180]

Qua những câu chuyện trên, Phi Vân muốn nhấn mạnh: “Cần phải phá

nát chế độ mà ta đang sống, cần phải xây dựng một cái gì mới mẻ hơn”

“Có người cho rằng Phi Vân là Hồ Biểu Chánh của những năm 40 Cả hai người đều lấy bối cảnh là cuộc sống và thiên nhiên ở Nam Bộ Với Phi Vân, thiên nhiên cũng đóng vai trò là nhân vật trong tác phẩm của mình Đặc biệt ông nặng về thể hiện sinh hoạt và phong tục với những nét riêng biệt ở Nam Bộ Lối dựng truyện của ông cũng mới mẻ, hiện thực hơn Ngôn ngữ trong tác phẩm của ông cũng không mộc mạc và nhiều khẩu ngữ, phương ngữ

Trang 19

15

như văn Hồ Biểu Chánh Ông có sự lựa chọn, làm cho ngôn ngữ văn học tươi tắn hơn, đầy sức gợi tả, mang dáng dấp ngôn ngữ hiện đại Gọi là phóng sự, nhưng rất gần với truyện vừa, truyện ngắn, còn tiểu thuyết phóng sự của Phi Vân đã vượt qua tiểu thuyết phong tục và gần đến tiểu thuyết xã hội, mang khuynh hướng hiện thực cách mạng” [1; tr.1261]

Trước năm 1945, nhà văn Phi Vân cộng tác với những tờ báo tiến bộ như Tiếng Chuông, Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng và báo Dân Chúng do Đảng cộng sản Đông Dương trực tiếp chỉ đạo Sau Cách mạng tháng Tám

1945, Phi Vân sống ở Sài Gòn với nghề cầm bút có lương tâm của một trí thức giàu lòng yêu nước Ông sáng lập và làm chủ bút tờ Thủ đô thời báo, nhưng chẳng được bao lâu tờ báo bị đóng cửa Dù ở trong vòng kìm kẹp của

kẻ địch, nhưng Phi Vân không tham gia bất cứ tổ chức văn hóa nghệ thuật nào của địch

Với văn phong của một nhà báo hơn là một nhà văn, (Phi Vân đã từng

cộng tác với nhiều tờ báo và tạp chí: Tiếng Chuông, Tiếng Dân, Dân

Chúng ), Phi Vân đã khái quát được xã hội và tính cách của người nông dân

Nam Bộ không bằng lối văn hoa mĩ, bóng bẩy, nhiều hình tượng, nhiều thủ pháp nghệ thuật để phân tích tỉ mỉ, chi li các diễn biến tính cách, sự kiện; mà bằng lối văn đời thường “thô ráp”, nặng về ngôn ngữ nói có chất liệu từ ngữ Nam Bộ và sự chọn lọc một vài dữ kiện đời sống, qua đó vẽ lên được một bức tranh nông thôn Nam Bộ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

khi ông đưa vào trong truyện, những câu ca dao, những câu hò, vè đối đáp Nam Bộ, những câu nói thường gặp trong đời sống thực, mà nhờ vậy văn phong của ông đậm chất Nam Bộ, hơn những nhà văn Nam Bộ viết về Nam

Bộ khác đương thời và sau này Sự nghiệp của ông là sự nghiệp báo chí, nhưng tên tuổi của ông lại được biết đến ở sự nghiệp văn chương nhiều hơn

Trang 20

16

Ba tác phẩm về vùng quê Nam Bộ: Đồng quê, Dân quê, Tình quê đã tạo nên tên tuổi Phi Vân, trong đó Đồng quê là bức tranh về vùng quê sông nước đã

1.1.3 Phóng sự tiểu thuyết – nét đặc sắc trong sáng tác của Phi Vân

Những năm 1930 – 1945 của thế kỷ XX là giai đoạn ghi dấu ấn huy hoàng về sự ra đời, bùng nổ và trưởng thành của phóng sự Việt Nam, để lại những đỉnh cao cho văn đàn và báo giới Cho đến nay, dù đã trải qua bao thăng trầm, tính thời sự đã nguội lạnh, nhưng phóng sự Việt Nam 1930-1945 vẫn còn tươi mới, hấp dẫn độc giả bởi cách thức chiếm lĩnh đời sống cùng hình thức thể hiện vô cùng sống động và giàu chất nghệ thuật Hiện tượng đột ngột phát sinh và chói sáng của phóng sự - một thể loại mới của văn học những năm 30 của thế kỉ XX có thể do nhiều nguyên nhân Song trước hết phải thấy rằng chính những sự thật nóng bỏng và bức xúc của đời sống xã hội lúc đó đã làm nên động lực thôi thúc lương tâm người cầm bút Gần với cảm hứng phản ánh thực tại của văn học hiện thực phê phán, nhưng trong phóng

sự mọi khoảng cách từ thông tin sự kiện tới công chúng đều được rút ngắn tới mức tối đa, cuộc sống được tái hiện trong tầm nhìn cận kề, trở nên sát thực, sinh động, cập nhật và đa màu sắc hơn

Những tác phẩm phóng sự tạo nên tiếng vang lớn giai đoạn này như Tôi

kéo xe của Tam Lang – Vũ Đình Chí, Cạm bẫy người, Cơm thầy cơm cô, Kĩ nghệ lấy Tây của Vũ Trọng Phụng, Việc làng của Ngô Tất Tố,… Và cũng có

một phóng sự tạo được dấu ấn khá đậm nét trong lòng đọc giả miền Nam lúc

bấy giờ là tập phóng sự Đồng quê của Phi Vân Trong các tác phẩm tiêu biểu của Phi Vân thì Dân quê, Tình quê là hai truyện vừa, còn lại Đồng quê là tập

phóng sự và phóng sự tiểu thuyết Vì tính nóng bỏng của thể loại phóng sự lúc bấy giờ nên khi tìm hiểu vài nét về đặc trưng thể loại, chúng tôi sẽ tập trung

khai thác thể loại phóng sự và phóng sự tiểu thuyết ở Đồng quê nhiều hơn

Trang 21

17

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về phóng sự Tuy nhiên, có thể quan niệm : « Phóng sự là một thể loại đứng giữa văn học và báo chí có khả năng trình bày, diễn tả những sự kiện, con người, tình huống điển hình trong một quá trình phát sinh phát triển dưới dạng một bức tranh toàn cảnh, vừa khái

pháp linh hoạt, ngôn ngữ giàu chất văn học » [9 ; tr 60]

Trong tác phẩm phóng sự, đối tượng miêu tả càng điển hình bao nhiêu, tác phẩm càng có khả năng tiếp cận tới những phẩm chất của văn học bấy

nhiêu Điển hình nhân vật ở các phóng sự trong Đồng quê của Phi Vân là

những người nông dân nghèo, tầng lớp địa chủ và thế lực thống trị ở nông thôn, những khách thương hồ, những thầy bùa, thầy pháp… tạo nên một diện mạo riêng, đặc trưng của vùng đồng quê Nam Bộ Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nam cho rằng: Giá trị của một phóng sự trước hết là ở vấn đề nêu ra là cấp thiết, có bằng chứng cụ thể, xác thực, có kết luận gợi lên đúng đắn Phóng

sự sẽ có thêm giá trị văn học khi nó đi sâu khắc hoạ thế giới nội tâm, miêu tả tính cách nhân vật với lời văn giàu hình ảnh và cảm xúc Ý kiến này đã chỉ ra những phẩm giá văn học của phóng sự Và những thiên phóng sự ngắn trong

Đồng quê đã làm được điều đó

Chi tiết đời sống được Phi Vân đưa vào các phóng sự của mình vẫn còn mang hơi thở của thời đại Đó là những chi tiết, những phong tục tập quán của

Nam Bộ được Phi Vân ghi chép lại bằng ngòi bút chuyên nghiệp của một nhà

tính cách “nhật trình” Lối văn gần như cẩu thả Câu chuyện có vẻ nhất thời Nhưng tôi cứ để nguyên cho xuất bản Nghĩ rằng: hồi ấy tôi đã để ngòi bút chạy theo giòng ý tưỏng, dầu khéo dầu vụng, cách thuật chuyện cũng được cái đặc điểm là ghi tâm trạng bài lúc viết” [63; tr 1] Những lời của tác giả

Trang 22

18

khi mở đầu tác phẩm Đồng quê cho ta thấy được tác giả đã rất tôn trọng sự

thật khi ghi chép lại những chuyện đã xảy ra ở vùng quê Nam Bộ lúc bấy giờ Bằng ngòi bút chuyên nghiệp của một nhà báo và chất văn chương có sẵn Phi Vân đã ghi lại một giai đoạn đã qua với những hoài niệm về những người đã

cùng chia ngọt sẽ bùi với tác giả “Hình ảnh những nhân vật trong chuyện -

những người đã cùng tôi sống chung – ngày nay đã mờ trong ký ức”.

Trong khi hầu hết những phóng sự giai đoạn này hoặc là thi vị hoá cuộc

sống, hoặc là nhìn hiện thực với những gam màu đen tối như Việc làng của Ngô Tất Tố, Kỹ nghệ lấy Tây, Cạm bẫy người cuả Vũ Trọng Phụng,… thì Phi

Vân vẫn phát hiện ở hiện thực những giá trị cuộc sống với tinh thần lạc quan

và niềm tin vững chãi Ở đâu đó trong những xóm thôn nghèo khó, người dân quê vẫn háo hức đi xem hát bội giữa đình làng

Cảnh ghe hát đậu trước đình làng là một “sự kiện” náo nức đối với mọi người, nhất là đám con nít: “Con nít chạy bu theo trên bờ kinh vỗ tay la rầm

rĩ: “- Bầu Tèo ở cù lao Heo tụi bây ơi!” [63; tr 44] Cả xóm nhỏ xộn rộn hẳn

lên và từ già đến trẻ ai nấy đều nôn nao trong lòng, mong công việc mau hết,

mong trời chóng tối để kéo nhau đi coi hát: “Người ta thấp thỏm chờ đến buổi

chiều Trẻ con rộn rực đòi áo quần, xin xu ăn bánh; các anh trai tráng nôn nao bỏ giấc ngủ trưa ở luôn ngoài ruộng đợi chiều về sớm một chút; các cô gái, mặt trời chưa chênh bóng là đã lo làm cá, nấu cơm” [63 ; tr 46].“Có vài chị đàn bà bồng con, tay vạch áo đưa vú cho con bú mà mắt chăm ngay lên sân khấu, hồn gởi trọn cho Điêu Thuyền Đứa con ngậm vú không được vùng

ré lên Chị ta không kể đến, cứ đứng sững giơ tay đánh chan chát vào đít đứa con”[62; tr 50]

Phải chăng hiện thực đen tối quá làm Phi Vân bỗng có nhu cầu tha thiết tìm đến những vẻ đẹp bình dị, trong trẻo tinh khôi để cân bằng cuộc sống, để

có điểm tựa, có niềm tin mà yêu hơn, trân trọng hơn những giá trị cuộc sống

Trang 23

19

với một tâm hồn tha thiết với quê hương làm Phi Vân không sao cưỡng lại? Được sống, được đắm mình trong thế giới cảnh vật êm đềm, tươi xanh của vùng đất Nam Bộ Phi Vân đã biết chắt lọc từng chữ để vẽ nên một bức tranh cảnh vật giàu sức ám ảnh, biết thanh lọc để chưng cất nên những giá trị quí

hiếm trong hiện thực còn quá nhiều đau thương “Làng Thới Bình nép mình

trong chòm dừa xanh rậm Và xóm nhà lá leo heo ở dọc theo bờ kinh nhỏ, yên tĩnh với tháng ngày Cứ mỗi buổi sáng là đàn ông, đàn bà lẫn cả con nít vác cuốc ra đồng, quanh năm làm bạn với mấy mẫu ruộng nhà, vài công rẫy khóm (…) Dòng sông Trẹm lững lờ trôi ngang và ban chiều, trong chòm dừa xanh

ấy, mấy làn khói trắng bốc lên… Người đàn bà xong việc bếp núc, ẵm con ra đợi chồng về, lâu lâu đuổi bầy gà đang bới trên giồng rau cải.”[63 ; tr 68, 69]

Thành tựu đặc sắc trong nghệ thuật viết phóng sự của Phi Vân được thể hiện ở nhiều phương diện: nghệ thuật khám phá hiện thực và khai thác tư liệu, nghệ thuật trần thuật và phong cách ngôn ngữ, giọng điệu Đây là những yếu

tố làm nên chất “văn”, chất “báo” hay nói cách khác tạo nên chất thời sự tư liệu hoà quyện chất văn học đậm đà, đồng thời cũng là những chất liệu giúp

phóng sự Đồng quê nói riêng và các tác phẩm của Phi Vân có những đóng

góp quan trọng vào văn học Quốc ngữ Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX

Sự tinh tế trong tuyển chọn thực tại được thấy rất rõ trong phóng sự của Phi Vân Sẽ không có bức tranh hoàn chỉnh về nông thôn Việt Nam nếu

không khẳng định những đóng góp tích cực của Phi Vân Đồng quê là tác

phẩm xuất sắc nhất của ông Ngòi bút Phi Vân đã đi sâu khai thác các khía cạnh phong tục tập quán và sinh hoạt văn hóa của người nông dân miền Nam Vùng quê sông nước Nam Bộ tuy là ít lễ nghi, phong tục, nhưng với phóng sự

Đồng quê, Phi Vân đã giúp người đọc cảm thấy thích thú khi cảm nhận những

nét đặc sắc, độc đáo về những phong tục, những lễ hội mang đậm bản sắc văn

Trang 24

20

hoá của người dân Nam Bộ Những phóng sự ngắn đều là một số đặc tả chớp nhoáng về khung cảnh sinh hoạt, vui chơi, lễ tục … của vùng sông rạch ở cực Nam đất nước

Bằng việc miêu tả chi tiết những phong tục cưới hỏi nơi đồng bằng sông nước Nam Bộ đã cho thấy Phi Vân rất thành công khi miêu tả lại phong tục

của cha ông xưa Và như lời nhận xét của Vũ Ngọc Phan rằng “những tiểu

thuyết về phong tục là những tiểu thuyết sống lâu hơn tất cả các tiểu thuyết khác, nhưng lại không được hạng người trung lưu, hạng người có óc quan sát hoan nghênh cho lắm Cái đó cũng dễ hiểu: không được hạng người ấy hoan nghênh, vì những phong tục hiện thời ở nước nhà không làm lạ cho những người chỉ muốn tìm trong tiểu thuyết những sự quái đản, những điều kỳ quặc

và chỉ biết nhìn đời bằng con mắt lãnh đạm Song đối với người ngoại quốc

và người thời sau, một quyển tiểu thuyết về phong tục, do một ngòi bút lão luyện viết, bao giờ cũng là một quyển có giá trị và được lưu truyền”[44 ] Có

lẽ chính vì thế mà những thiên phóng sự ngắn nhưng vẫn có cốt truyện của Phi Vân vẫn còn sống mãi trong lòng người đọc, đặc biệt nó còn là bài học cho những những tác giả Nam Bộ giai đoạn sau này như Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng, Trang Thế Hy… những tác giả cũng đã bỏ công sức nghiên cứu

và tìm hiểu phong tục nơi miền quê sông nước Nam Bộ này

Bên cạnh những nét đẹp trong lễ nghi phong tục của người dân quê thì vẫn còn tồn tại một tệ nạn xã hội cũng không kém phần nhức nhối được Phi

Vân đề cập đến trong phóng sự của mình là tệ mê tín dị đoan ở chốn thôn quê

Căn nguyên sâu xa của căn bệnh này là sự kém hiểu biết và lạc hậu của người

dân Phóng sự Đồng quê của Phi Vân cho thấy những mê tín dị đoan của

Xương cử thanh long đao và Ông tướng thầy Ba là chuyện những kẻ kiếm ăn

Trang 25

21

bằng nghề thầy cúng mà ở vùng quê Nam Bộ này thì nghề đó rất được quý trọng

Với cách tuyển chọn tinh tế này, tác phẩm đã vẽ nên những nét đặc sắc

và độc đáo của nông thôn và con người Nam Bộ Bút pháp hóm hỉnh, rất ít lời của Phi Vân đã làm cho thiên truyện thêm màu sắc hài hước, và bớt đi cái cảm giác nặng nhọc của một ngòi bút chỉ lấy việc vạch trần hiện thực làm chính đề, đó cũng là đặc sắc nghệ thuật của toàn tập phóng sự

Nghệ thuật lựa chọn những vấn đề, những tình huống tiêu biểu của hiện thực với những con người tiêu biểu đã được thể hiện rất sinh động trong từng thiên phóng sự Trong vô vàn cái phức tạp của cuộc sống đương thời, mỗi sự kiện được nhà phóng sự lựa chọn cùng tài năng sáng tạo, khai thác của họ đã góp phần quan trọng làm nên giá trị của các thiên phóng sự Sức thuyết phục trong phóng sự của Phi Vân khi viết về đồng quê Nam Bộ giai đoạn này trước hết là ở khả năng phản ánh chân thực đến từng chi tiết sự kiện, đối tượng được miêu tả, đem đến cho độc giả cảm giác được sống “y như thật” Làm

được điều đó, Phi Vân đã không chỉ xuất hiện với tư cách là người quan sát,

ghi chép và kể chuyện mà họ còn là người chứng kiến và trực tiếp tham gia vào các sự kiện

Một điều lý thú là con người Nam Bộ hiện lên trong phóng sự Đồng quê

với vẻ đẹp chân chất, phác thực, hồn hậu như bao người nông dân trong cả nước, song người đọc không cảm thấy cảm giác nặng nề, mệt mỏi của họ, dầu rằng cuộc sống vẫn còn quá nhiều đau thương Họ vẫn lạc quan, tin yêu cuộc

sống Nếu những người nông dân trong Việc làng cứ cung kính, ngây thơ trước hủ tục thì nông dân Nam Bộ trong Đồng quê rạch ròi, dứt khoát, khi cần

họ có thể vùng lên anh dũng đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống những bất công còn tồn tại Tuân theo tục lệ là biểu hiện của thái độ thành kính với tổ

tiên, và quí trọng hiện tại nhưng trong Trao thân con khỉ mốc, thấy những tục

Trang 26

22

lệ cưới hỏi quá cầu kì, rườm rà chỉ để bắt bí nhau của nhà gái mà không có sự

cảm thông, ngay tức khắc nhà trai có sự phản kháng Hoặc trong Cành tre cũ

cặp giò xưa, nhận ra mình bị lừa dối, bóc lột, thằng Tư Rỗ vùng lên trói ông

Bá, đè lên ván, xách dao hăm doạ rồi dẫn vợ bỏ trốn…

Bức tranh cảnh vật, bức tranh phong tục đậm sắc màu văn hoá đều được Phi Vân tô điểm mang hồn cốt của người dân Nam Bộ Tất cả đều được ngợi

ca say sưa với một tấm lòng yêu thương cuộc sống

1.2 NHÀ VĂN PHI VÂN TRONG QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA VĂN XUÔI NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX

1.2.1 Vài nét về văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX

Văn học quốc ngữ Nam Bộ được hình thành vào khoảng cuối TK.XIX, đến đầu thế kỷ XX Nhiều thành tựu quan trọng, nổi tiếng với một số tên tuổi lớn như: Trương Vĩnh Ký – nhà văn hóa, người viết ký sự quốc ngữ đầu tiên;Nguyễn Trọng Quản – nhà tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên; Trương Minh

Ký – nhà văn, dịch giả văn học Pháp đầu tiên; Huỳnh Tịnh Của – nhà văn tiên phong; Trần Chánh Chiếu - nhà văn Minh tân; Lương Khắc Ninh – nhà thơ nhà báo duy tân; Hồ Biểu Chánh - nhà tiểu thuyết xã hội - đạo lý cự phách; rồi Trương Duy Toản; Lê Hoằng Mưu; Nguyễn Chánh Sắc cùng với hàng trăm quyển tiểu thuyết thật giá trị ra đời và nó đã khẳng định được sức sống mãnh liệt của văn học Nam Bộ

Văn học Nam Bộ này là một bộ phận máu thịt của văn học Việt Nam, là đời sống tinh thần và tâm hồn của người Việt ở Nam Bộ nhưng từ trước đến nay ít được giới nghiên cứu tìm đến, mà nó phát triển dường như tách biệt Người ta biết nhiều đến những nhà văn ở miền Bắc: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Tô Hoài,… mà ít người biết: Hồ Biểu Chánh,Tân Dân Tử, Phi Vân, Trần Quang Nghiệp … ở miền Nam Mặc dù

Trang 27

Hồ Biểu Chánh vẫn tiếp tục sáng tác nhưng số lượng và chất lượng nghệ thuật

đã sút kém hơn trước, với những tiểu thuyết Ái tình miểu, Cư Kỉnh, Mẹ ghẻ

con ghẻ Nếu như về tiểu thuyết, thời kỳ này là thời kỳ thịnh hành những tiểu

thuyết võ hiệp phiêu lưu của Phú Đức như: Căn nhà bí mật, Châu về hiệp

phố… thì trên sân khấu cải lương cũng diễn những vở tuồng dựa vào những

tiểu thuyết của Phú Đức như Bách Xi Ma, Hoàng Ngọc Ẩn, Lệ Thủy phục thù,

Trộm mắt Phật, Đỗ Hiếu Liêm phục thù với những lớp nổ súng, đu bay, đấu

quyền anh trên sân khấu Bên cạnh đó là những vở tuồng kiếm hiệp của Mộng

Vân như Long Hình quái khách, Cánh buồm đen, Chiếc lá vàng, Bích Liên

vương nữ, Hoàng hà đẫm máu, Bão nguyệt nương, Đường xích đạo… với

những pha đấu dao găm, phi thân qua cửa sổ, và những vở tuồng chiến tranh

của Bảy Cao như Đêm lạnh trong tù, Chiếc áo mùa đông, Nợ núi sông, Đoàn

chim sắt, Mộng hòa bình… mang cả xe tăng thiết giáp, máy bay lên sân khấu

Từ 1945 cho đến 1954, văn học Sài Gòn sôi động, phong phú nhiều mặt làm rõ được lòng yêu nước chân thành và quyết tâm bảo vệ non sông đất nước cho đến giọt máu cuối cùng Cho đến nay, giai đoạn văn học này vẫn để lại những tác phẩm giá trị, ghi lại dấu ấn xã hội, chính trị, con người của một thời

kì đặc biệt

Khi đất nước tạm thời chia cắt thành hai miền sau hiệp định Giơnevơ

1954, một số nhà văn Nam Bộ đã tập kết ra Bắc như: Lưu Quý Kỳ, Đoàn Giỏi, Nguyễn Văn Bổng, Khương Hữu Dụng, Lưu Trùng Dương, Bùi Đức Ái… và một số tiếp tục bám trụ chiến đấu tại miền Nam như: Dương Tử

Trang 28

24

Giang, Lưu Nghi, Bình Nguyên Lộc, Lê Vĩnh Hòa, Sơn Nam, Viễn Phương,

Vũ Hạnh, Trang Thế Hy, Truy Phong, Tô Nguyệt Đình…

Mặc dù bị chính quyền Ngô Đình Diệm và sau này là Nguyễn Văn Thiệu đàn áp quyết liệt và có nhiều văn nghệ sĩ hy sinh trong đấu tranh (Dương Tử Giang, Lê Vĩnh Hòa, Nguyễn Trọng Tuyển… ) hoặc bị giam cầm trong nhà tù nhưng các văn nghệ sĩ yêu nước tại miền Nam không hề nao núng sợ hãi, vẫn tiếp tục đi tiếp con đường đấu tranh giải phóng dân tộc mà họ đã chọn

Văn học ở thành thị lúc ấy thể hiện rõ ba đặc tính: tinh thần yêu nước, tinh thần chiến đấu, tình cảm cách mạng

Về Truyện, Ký, nhiều nhà văn trẻ mang lại sinh khí sôi động cho văn

đàn Văn phẩm của họ phần nhiều xây dựng trên tưởng tượng, hoặc phối hợp tưởng tượng với hiện thực, song cũng giúp ích rất nhiều trong việc động viên tinh thần yêu nước và chiến đấu của toàn dân chống kẻ thù chung Những nhà văn nổi tiếng lúc bấy giờ là: Lý văn Sâm, Dương Tử Giang, Vũ Anh Khanh, Việt Quang, Quốc Ấn, Phi Vân, Tô Nguyệt Đình, Bình Nguyên Lộc, Sơn Khanh, Cô Hợp Phố…Trong đó, độc giả ngưỡng mộ Lý văn Sâm qua những

tác phẩm: Sương gió biên thùy, Kòn Trô, Ngoài mưa lạnh; Dương Tử Giang qua tác phẩm: Tranh đấu, Một vũ trụ sụp đổ; Vũ Anh Khanh qua tác phẩm

Cây ná trắc, Nủa bồ xương khô, Bên kia sông; Bình Nguyên Lộc qua tập

truyện ngắn Nhốt gió; Phi Vân qua Đồng quê, Tình quê, Dân quê; cô Hợp Phố qua tác phẩm Chị Du

Cho đến nay, dòng văn học yêu nước tiến bộ tại miền Nam từ 1945 đến

1975 đã được khẳng định giá trị nội dung lẫn nghệ thuật Dòng văn học này

đã đóng góp cho văn học nước nhà những tác phẩm có giá trị về nhiều mặt, là niềm tự hào của nhiều lớp người trong giai đoạn vừa qua và cả trong hôm

nay Nhận định về văn học giai đoạn này, Trần Hữu Tá viết:“ Nằm trong vòng

thống trị của cường quyền và bị chi phối tàn nhẫn bởi vấn đề sinh kế, khá

Trang 29

25

nhiều cây bút đã dao động và chệch hướng, nhưng cũng không ít người suy nghĩ trăn trở trước thực trạng xã hội và đã dũng cảm xác định hướng đi đúng đắn cho sự sáng tạo nghệ thuật Họ “tìm về dân tộc” và đến với nhân dân Trên cơ sở đó, họ chung sức tạo nên khuynh hướng văn học yêu nước, cách mạng” [50; tr 22]

1.2.2 Vị trí của Phi Vân trong văn xuôi Nam Bộ

Trong thiên khảo luận xuất sắc về văn nghệ miền Nam Khi những lưu

dân trở lại xuất bản năm 1967, nhà văn Nguyễn Văn Xuân đã viết về Phi

Vân: “Trong số các nhà văn lớn với các thời kỳ này, tôi tiếc nhất là Phi Vân

Tại sao viết một quyển có giá trị như Đồng quê (giá trị tiểu thuyết và phóng

sự thật lớn, lớn nhất thời ấy), ông không tiếp tục ngòi bút của mình Phải nói

là ông làm sống động ngôn từ miền Nam hơn Hồ Biểu Chánh mà lối kể chuyện linh hoạt, mô tả nhân vật độc đáo, đối thoại sinh động… ông cũng vượt hẳn nhà văn này khá xa, xa hơn cả về nông thôn và thói tục miền Nam nhiều Hình như tôi chưa đọc một nhà văn miền Nam nào có đủ mặt tài hoa, giản dị, sâu sắc nhiệt thành và chất phác như ông” [65]

Phi Vân là một gương mặt nổi bật với những tác phẩm viết về những

người dân quê Nam Bộ: Đồng quê – đạt giải nhất cuộc thi văn chương của hội khuyến học Cần Thơ (1943) cùng hàng loạt tác phẩm Dân quê (1949), Tình

quê (1949), Cô gái quê (1950), Nhà quê trong khói lửa,… Văn của ông gãy

gọn, tươi mới, có tính chất hài hước nhẹ nhàng, vượt ra khỏi cái bóng xã hội đạo lý theo phong cách Hồ Biểu Chánh Ông sẽ mở ra một giai đoạn mới, hiện đại hơn cho văn phong Nam Bộ

Viết về cuộc sống của những người dân quê Nam Bộ có lẽ ít có cây bút nào có được những trang viết nhiều ấn tượng và gây cho người đọc niềm xúc động như Phi Vân Những trang văn ấy của Phi Vân, hiện lên cả một đời sống phong tục, văn hoá sinh động của người nông dân đất Nam Bộ, theo thời gian

Trang 30

26

Xuân, “có một số văn liệu đến nay vẫn còn giá trị rất lớn” Cùng với Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Lý Văn Sâm, Bình Nguyên Lộc,… tác phẩm Phi Vân đã góp phần thể hiện đậm sắc con người và văn hoá Nam Bộ, đặc biệt là đời

sống người nông dân miền Tây sông nước nửa đầu thế kỷ XX Đọc Đồng quê,

thi sĩ Bàng Bá Lân đã ghi lại những cảm xúc của mình: “Phi Vân đã dẫn tôi đi thăm đồng quê Nam Việt, đến tận những vùng xa xôi hẻo lánh nhất với những dân quê chất phác gần như cổ lỗ, với những tập tục lạc hậu gần như dã man Đời sống ở những nơi này cực nhọc quá, tối tăm quá… khiến ta phải nghĩ ngợi và chua xót Ta chua xót nghĩ rằng: cùng chung một đất nước chỉ cách nhau có vài ba trăm cây số mà Sài Gòn thì tràn ngập ánh sáng văn minh trong khi biết bao miệt quê „chó ăn đá, gà ăn muối‟ còn chìm đắm trong bóng tối mênh mang của thời man rợ Man rợ cả từ những cái tên như: hóc Bà Tó, xóm Kiến Vàng, tắc Ông Do, mương Chệc Kịch, Tham Trơi, U Minh, Đầm Cùn, Dớn…” Sinh hoạt của người nông dân vùng sông nước được tác giả giới thiệu hết sức sinh động từ việc phải đối phó với thiên nhiên hoang dã và dữ dội, cảnh người ta bắt rắn hổ như bắt ếch, bắt cá sấu con cho cắn lộn nhau chơi,… cho đến những buổi hát bội, lễ cưới xin, những tập tục mê tín và cuộc sống cùng cực của người nông dân vì bị điền chủ bóc lột, hương chức lộng hành Viết về cuộc sống người nông dân, Phi Vân luôn dành cho họ một tình cảm đặc biệt, niềm thương cảm sâu lắng Những mảnh đời, những phận người, những tập tục dị đoan nơi đồng quê thô lậu được nhà văn viết với một giọng văn đôi khi dí dỏm, chọc cười nhưng ẩn phía sau con chữ, như nhận xét của Bàng Bá Lân, “phần nhiều cười ra nước mắt”

cuộc sống của người nông dân Và có thể nói, ý hướng phê phán trở thành cảm hứng quan trọng tạo nên nét đặc sắc nơi tác phẩm của ông Lẽ thường, cảm hứng

Trang 31

27

phê phán gắn liền với sự quan tâm của các nhà văn tới những xung đột xã hội, xung đột nội tâm riêng tư của con người Khi nào cuộc sống xuất hiện và tồn tại những mối mâu thuẫn giữa các giai cấp, giữa cái cũ và cái mới, giữa cái thiện và cái ác, giữa cái lạc hậu trì trệ với cái tiến bộ còn tồn tại thì lúc đó, cảm hứng phê phán sẽ có cơ sở để hình thành và phát triển Phi Vân cầm bút trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động những năm trước Cách mạng và thời kỳ Nam Bộ bị Pháp tái chiếm Trong cơn biến thiên đó, đời sống người nông dân trở thành một trong những tâm điểm của sự xáo trộn, mất mát

Những trang viết của Ông dễ xúc động lòng người vì nó thật, vì nó đã

ghi lại được những thời khắc quan trọng, những chuyển biến về tinh thần của

người nông dân Nam Bộ trong cuộc bão dông của lịch sử

Như vậy, cái làm nên phong cách Phi Vân, ngoài tài năng văn chương,

sự theo đuổi đến cùng đề tài nông thôn và nông dân,chính là phẩm chất trí thức của nhà văn Sự chân thành của ngòi bút trước thời cuộc, việc lựa chọn chỗ đứng nơi số đông thầm lặng khiến cho những trang viết dù trải qua thời gian tương đối xa nhưng vẫn có vị trí riêng trong lịch sử văn học dân tộc

TIỂU KẾT

Người ta gọi Phi Vân là cây viết tiểu thuyết phóng sự, có lẽ vì tác phẩm của ông có dung lượng nhỏ, không chú tâm vào những vấn đề có tính lí luận, như: kết cấu, hình tượng, điển hình Tác phẩm của ông có thể ví như một bức tranh nông thôn sống động với những nét chấm phá đơn giản nhưng đã phản ánh được tính chân xác của thực tại dưới cái nhìn của một nhà báo chuyên nghiệp hơn một nhà văn Sự nghiệp của ông là sự nghiệp báo chí, nhưng tên tuổi của ông lại được biết đến ở sự nghiệp văn chương nhiều hơn

Ba tác phẩm về vùng quê Nam Bộ: Đồng quê, Dân quê, Tình quê đã tạo nên

tên tuổi Phi Vân

Trang 32

28

CHƯƠNG 2 CẢNH SẮC VÀ CON NGƯỜI NAM BỘ TRONG TÁC PHẨM

CỦA PHI VÂN

2.1 CẢNH SẮC NAM BỘ TRONG

2.1.1 Không gian ruộng đồng

Thiên nhiên luôn là đề tài muôn thuở của văn học từ trước đến nay Thiên nhiên được các nhà văn ghi lại như là một người bạn gắn bó từ thuở bé thơ đến lúc trưởng thành Đó là hình ảnh dòng sông trĩu nặng phù sa, những cánh đồng quê bát ngát, những rặng dừa nước đong đưa hay đơn giản đó là những gì đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người khi nhắc về đồng quê nơi nuôi họ khôn lớn

Nam Bộ vốn là vùng đất có một hệ thống kênh rạch chằng chịt, những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay Những hình ảnh này là biểu tượng của thiên nhiên, là môi trường đặc trưng để con người sinh sống Chính vì thế, cánh đồng và dòng sông được xem như là biểu tượng văn hóa đặc trưng cho vùng đất Nam Bộ Nếu như thiên nhiên Nam Bộ trong các tác phẩm của Sơn Nam là ký ức về một vùng quê hoang sơ, dữ dội khắc nghiệt nhưng cũng đầy sức quyến rũ đã in đậm trong từng trang viết của ông và Sơn Nam đã khai thác mảng đề tài về thiên nhiên Nam Bộ chủ yếu vào thời đi “khẩn hoang” bằng một cảm hứng nhất quán và say sưa, thì Phi Vân lại miêu tả thiên nhiên nơi ruộng đồng sông nước quê hương nhẹ nhàng hơn Ta vẫn thường bắt gặp hình ảnh thiên nhiên nơi vùng đất mới của buổi đầu đi khai hoang vô cùng dữ

dội và nguy hiểm Nhưng hình ảnh của “Cà Mau khỉ khọt trên bưng, dưới

sông sấu lội trên rừng cọp um ” ở buổi đầu mở đất ấy ít xuất hiện hơn trong

các tác phẩm của Phi Vân “Cà Mau ngày nay không còn là Cà Mau ba chục

năm trước Ba chục năm trước, trời vừa đổi sắc tím là “Ông Thầy”, bách bộ khoan thai ở bên kia sông Quan Lộ Cái thời “dã man” ấy chỉ còn vang trong

Trang 33

“Thả câu xong, tôi nằm trên sạp, chờ tới giác đi thăm cá Đêm ấy không trăng Muôn ngàn con mắt long lanh in trên nền trời đen thẫm Cánh đồng lặng ngủ trong ánh sáng mờ mờ Gió thoảng từng hồi, từng hồi ngọn lúa cựa mình xào xạc Tiếng giạt sành vang lên trong im lặng xa xa Tôi cảm thấy bồi hồi tưởng nhớ đâu đâu, rồi nhẹ nhàng, rồi khoan khoái, tôi rung đùi ca”[63;

tr 112]

Đó còn là không gian yên bình trên cánh đồng làng những khi chiều

xuống:“Mấy gốc rạ vàng đứng chơm chởm giăng hàng mát mắt Thỉnh

thoảng đàn cò trắng đi ăn về bay lốm đốm trên nền trời ửng đỏ” [35; tr

1113]

Phi Vân đặc biệt miêu tả rất chi tiết khung cảnh ruộng đồng với những cánh cò, đám mạ, cơn mưa hay đơn giản chỉ là từng ngọn cỏ, gốc năng mọc dại trên đồng Tình yêu đồng quê tha thiết đã giúp cho nhà văn có cái nhìn sâu sắc về ruộng đồng quê hương:

“Chừng tháng nay, trời đã bắt đầu mưa

Ruộng có nước xắm xắp Cỏ, năng chen theo gốc rạ vàng vượt lên xanh mướt

Những con ốc cao, cúm núm bay đáp xa xa kêu lên từng hồi văng vẳng

Trang 34

Nhà văn không chỉ có cái nhìn sâu sắc về ruộng đồng quê hương mà ông còn am tường cả kinh nghiệm làm ruộng, cách gieo mạ, làm đất… Tác giả kể lại quá trình làm ruộng mà ta cứ ngỡ tác giả là một lão nông canh điền chuyên

nghiệp: “Thường thường đến mùa này, là những giống cỏ cú, những đám năn,

đám lác bị nắng khô vàng úa Nếu không có cách trừ trước, thì khi trời đổ mưa, những mầm non đua nhau sinh sản, làm cho nặng phát Bởi thế, hễ đến mùa nắng hạn, có gió lớn là người ta khởi đầu đốt đồng Đốt đồng rất có lợi cho sự làm ruộng Cỏ năn bị cháy gốc, thúi củ, qua mùa mưa bớt sinh sản; tro tàn và đất cháy ngún thành ra một thứ phân bón rất tốt, giúp sức cho cây lúa được sởn sơ” [35; tr 1209]

Sống ở ruộng đồng mà chưa một lần thưởng thức được các đặc sản nơi đây thì quả là rất thiếu sót Phi Vân đã dẫn người đọc cùng lội ruộng, cùng đi bắt ốc, bắt rùa, cùng rượt bắt những con chuột đồng tròn béo để qua đó cho người đọc thấy được vô số những sản vật thiên nhiên mà khó có thể tìm được

ở nơi nào khác Mảnh đất Nam Bộ đã từng được mệnh danh là “trên cơm dưới cá”, “làm chơi ăn thiệt”… Tiếng lành đồn xa, sự giàu có, phong phú đầy hấp dẫn của nó đã đủ sức “mời gọi” con người ở nhiều nơi khác tới đây lập nghiệp ngày một đông đúc Những sản vật dân dã ở đồng quê cũng góp phần tô điểm cho bức tranh thiên nhiên ruộng đồng thêm nhiều màu sắc.:

Trang 35

ẩn đâu đó bị lửa cháy nóng cũng phải bò ra phía trên gió mà thoát nguy để rồi… lọt vào tay chàng Trong các món ăn ở đồng, chàng chỉ thấy món rùa

“Trên bộ, chúng ruồng tất cả rừng rậm chông gai, bắt rắn như bắt ếch, bắt chim như bắt gà, thôi thì đạo binh của rừng bụi đều kinh hồn mất vía! Buồn? Chúng có thể lôi đầu mấy con rắn hổ ngựa từ trên cây xuống… đá như

đá ba lông, chúng có thể nắm chóp hết những con kỳ nhông rắn mối ra ti” nhậu rượu! Dưới nước, tốp khác không kém, chúng là một đoàn thủy quân bơi lội “dàng trời ban” Liệng chúng xuống bùng binh sâu hoắm tối ngày chúng không uống một chút nước, không biết lạnh mà còn mò lên một mớ tôm

“rô-cá mới tài! Chúng lại thường theo cha chú ra sông Mang Giỗ ban đêm soi sấu, vớt những con sấu con đem về cho… cắn lộn Khi chán chê rồi, chúng vẫy tay một cái là vật đầu đem nướng!” [63; tr 96,97]

Thiên nhiên không phải lúc nào cũng mang lại sự thuận lợi và giàu có cho người nông dân Đôi khi thiên nhiên đã làm cho người dân quê thật sự lao

Trang 36

32

đao vì sự thất thường của nó “Năm sau… Các vùng đồng quê miền Nam Bộ

đều bị thất mùa Nguyên do là vì đến mùa lúa trổ, trời lại hay mưa đêm Bông lúa không hứng sương được, hầu hết bị sâu bọ tàn phá… Lúa đã bị ngập, bị sâu, bị chuột, lại còn bị gió chướng thổi sớm, đến mùa lúa trổ nước sông đều măn mẳn” [35; tr 1246, 1247]

Ruộng đồng dường như đã trở thành máu thịt của người dân quê Những người nông dân “một nắng hai sương” gắn bó sâu nặng với từng cây lúa, cọng rau, từng con ốc, con chim,…lại càng có tình cảm sâu sắc hơn nữa Đồng ruộng quê hương đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của

họ Ở đó, họ được sinh ra, lớn lên và mất đi Vì thế, tình yêu đồng ruộng quê hương luôn thường trực trong tâm hồn của mỗi người dân quê Dù có đi đến nơi đâu thì tình yêu ấy vẫn không bao giờ phai nhòa trong lòng mỗi người dân quê

2.1.2 Không gian sông nước

Nói về sông nước Nam Bộ, nhà nghiên cứu Trần Tấn Vĩnh đã nhận định:

“Chưa có nơi nào mà đời sống con người lại gắn bó mật thiết với sông nước

như ở Tây Nam Bộ” [16; tr.8] Nam Bộ với vùng thiên nhiên mênh mông,

phong phú, đa dạng, phì nhiêu mời gọi cư dân tiếp tục tiến bước khai phá, mở mang cơ nghiệp Một thiên nhiên đầy sông, biển, kênh rạch chằng chịt đã hình thành một nền “Văn minh sông nước”

Trên dòng sông quê có biết bao sự kiện quan trọng đã diễn ra Ở đó, những cô gái theo chồng về xứ lạ trên những chiếc ghe máy đuôi tôm, ở đó những câu hò, điệu hát tìm bạn tri âm vang lên trong đêm vắng lặng Và cũng trên dòng sông ấy, khách thương hồ tìm kế mưu sinh vẫn ngày đêm xuôi ngược…

Phi Vân đã vẽ lên một vùng quê sông nước với những chi tiết : “kinh”,

“ngách”, “trấp” kênh rạch chằng chịt, sông ngòi bủa giăng: “Kinh Hang Mai ở

Trang 37

33

làng Khánh Lâm (Cà Mau), bắt đầu từ kinh Biện Nhị, phía dưới công sở trổ

ra Tiểu Dừa Kêu là “kinh” cho nó oai một chút chớ nó quanh co như “cửu khúc trường xà!” Nó có không biết bao nhiêu ngách và không biết bao nhiêu trấp cản đường

Ở hai bên bờ, người ta có thể gặp những con trúc, rái, kỳ đà, chồn, ông mật và vô số cá.” [63; tr 7]

Điều kiện địa hình sông nước, kênh rạch như vậy nên việc đi lại của người dân phụ thuộc hoàn toàn vào con nước Bởi vậy mà đám rước dâu phải

diễn ra vào lúc nửa đêm để cho kịp con nước “Đàng trai rước dâu vào lúc

mười giờ tối Lễ xong, chúng tôi cùng nhau xuống ghe lườn Đàng trai đi hai ghe, đàng gái theo hai ghe, một ghe ông già bà cả, một ghe thanh niên”[63;

tr 9]

Ở một đám rước dâu khác, Phi Vân miêu tả khá tỉ mỉ đoạn hành trình đầy gian khổ của người dân quê Nam Bộ, và cũng gián tiếp cho thấy một mảnh đất đồng bằng trời nước bao la mà một thời cha ông họ đã đặt chân đến

để khai phá:

“Chiếc ghe máy có cái mui ngạo nghễ, khoe những dây cờ lon con,

giăng từ cột buồm ra sau lái Tiếng máy chạy xình xịch Trời về chiều Tàu chạy hôm nay nữa là hai hôm rồi: sông Ông Đốc, kinh xáng Bà Kẹo, Đầm Cùn, kinh xáng Thọ Mai, nhưng xóm Kiến Vàng vẫn còn xa lơ xa lắc…” [63;

tr 20]

Vào những đêm khuya thanh vắng, chèo ghe xuồng giữa sông rạch, giữa đồng không mông quạnh, để xua tan cơn buồn ngủ và cái mệt nhọc, người dân quê đã tìm đến câu hò, điệu hát Câu hò, điệu hát ấy không chỉ giúp họ vơi đi nỗi nhọc nhằn của cuộc sống mưu sinh mà còn có thể tìm được lời đồng vọng, tìm được tri âm giữa dòng sông vắng:

Trang 38

34

“Tôi chồm ra ngoài nhìn cảnh vắng Bên vàm, hàng dừa nước âm u lâu lâu thấy le lói một ánh đèn; bên bờ kia thỉnh thoảng nghe tiếng chày giã gạo, tiếng chó sủa đêm

Đêm nay chỉ có vành trăng hai mươi, nhưng sao đầy trời góp ánh sáng lại làm cho cảnh vật thêm ảo huyền thơ mộng

Một làn gió nhẹ thoảng qua, tâm thần tôi thêm khoái sảng

Vẳng xa, những giọng phù trầm êm ả của một điệu hò mê ly, đặc biệt chốn đồng quê, rõ lần trong lặng lẽ” [63; tr 77]

Trên nền thiên nhiên sông nước, những câu hò đối đáp của những “nghệ

sĩ trên sông” càng làm cho cảnh quê thêm phần thi vị

Điều thú vị khi đọc các tác phẩm của Phi Vân là dường như ta thấy mình đang len lỏi chốn đồng quê, đang phục kích những cuộc tụ họp chơi bời, những cảnh cần lao rộn rịp Thỉnh thoảng như đưa lại giọng hò trầm bổng trong đám gặt, như phảng phất mùi hương thanh đạm của lúa vàng Người đọc có cảm giác đang đi quanh co trên những con sông rạch ở vùng Bạc Liêu,

Cà Mau, được nhìn thấy những cảnh sắc êm đềm:

“Làng Thới Bình nép mình trong chòm dừa xanh rậm Vài xóm nhà lá leo heo ở dọc theo bờ kinh nhỏ yên tĩnh với tháng ngày Cứ mỗi buổi sáng là đàn ông, đàn bà lẫn cả con nít vác cuốc ra đồng, quanh năm làm bạn với mấy mẫu ruộng nhà, vài công rẫy khóm Ở đầu kinh trông ra dòng sông Trẹm, một cái chợ nho nhỏ nổi lên.(…) Dòng sông Trẹm lững lờ trôi ngang và ban chiều, trong chòm dừa xanh ấy, mấy làn khói trắng bốc lên…Người đàn bà xong việc bếp núc, ẵm con ra đợi chồng về, lâu lâu đuổi bầy gà đang bươi trên giồng rau cải” [63; tr 68,69]

Cảnh vật trữ tình, ảo huyền thơ mộng: “Đêm ấy không trăng Muôn

ngàn con mắt long lanh in trên nền trời đen thẫm Cánh đồng lặng ngủ trong ánh sáng mờ mờ Gió thoảng từng hồi, từng hồi, ngọn lúa cựa mình xào xạc

Trang 39

35

Tiếng vạc sành vang lên trong im lặng, xa xa Tôi cảm thấy bồi hồi tưởng nhớ đâu đâu, rồi nhẹ nhàng, rồi khoan khoái, tôi rung đùi ca” [63; tr 112]

Làng Thới Bình có lẽ là hình ảnh tiêu biểu nhất trong tác phẩm Đồng

quê, hình ảnh của đời sống mang tính đặc thù của Cà Mau thời đó Vẻ thanh

bình, thanh thản từ cuộc sống vật chất đến nội tâm của người dân chân lấm tay bùn sau những lo toan của đời thường, được miêu tả trong tác phẩm, dù đã hơn nửa thế kỷ qua, gợi nhớ trong lòng người đọc quê hương bên kia bờ Thới Bình về một dòng sông Trẹm nên thơ, một hàng dừa nước, rạch bần, ngọn mù

Muốn ăn trứng nhạn phải lòn Hang Mai”

Tiếng hò ấy cứ văng vẳng bên dòng sông Trẹm, trong một buổi hoàng

hôn làm người đọc nao lòng: “Thế rồi một buổi chiều Làng Thới Bình chìm

đắm trong buổi hoàng hôn Vòm sông Trẹm chỉ còn văng vẳng tiếng hò của một vài khách thương hồ” [63; tr 73] Rồi tiếng hò ấy lại thỉnh thoảng vang

lên trong nhiều dòng suy tư của tác giả nơi chốn quê nghèo: “Vẳng xa, những

giọng phù trầm êm ả của một điệu hò mê ly, đặc biệt chốn đồng quê, rõ lần trong lặng lẽ”…[63; tr 77]

Âm thanh êm ái, trữ tình của những điệu hò, tiếng hát có thể xem là “đặc sản” của vùng đất Nam Bộ Người đọc có thể miên man trong những lời ca, điệu hát và cảm thấy tâm hồn như được thanh lọc, thư thái hơn, thuần khiết hơn Và dù có bôn ba nơi cùng trời cuối đất, dù cho có đi đâu, về đâu, người dân quê rồi cũng lại trở về với làng quê của mình với những buổi chiều yên ả,

Trang 40

36

những khung cảnh thanh bình và con người cũng trở lại với nếp sống đơn sơ

mà đầm ấm của họ Dòng sông quê vẫn miệt mài chảy để chở phù sa về bồi đắp quê hương

Rời làng Thới Bình, tác giả dẫn người đọc “lội‟‟ vào các vùng sông nước chằng chịt, nào là: Rạch Ruộng, Rạch Ráng, Rạch Cui, Rạch Bần nào là Tắc Ông

Do, Vàm sông Mang Giỗ, sông Bãi Háp, Mương Chệc Kịch, Tham Trơi, Dớn,

Năm Căn…Mới thấy vốn sống thực tế của nhà văn, nhà báo Phi Vân! “Bạn hãy

cùng tôi “du lịch” một vòng xuống các miệt “hóc Bà Tó”, “chó ăn đá, gà ăn muối”, để tìm những cái lạ lùng, lạ lùng cả đến cái tên: Bãi Háp, tắc Ông Do, mương Chệc Kịch, Tham Trời, U Minh, Dớn,…” [63, tr 95]

Sông nước quê hương không chỉ là nơi lưu thông qua lại của người dân

mà ở đó còn có rất nhiều nguồn lợi cá tôm từ thiên nhiên đã ban tặng cho cư dân nơi mảnh đất cuối trời này:

“Chúng rủ thầy chèo ghe ra cửa biển chơi mỗi chúa nhựt? xa bao nhiêu

thầy cũng vui lòng cầm chèo lái Vác lưới đi đánh cá cháo, lặn cá dầy”[63; tr

98]

Nông thôn Nam Bộ hiện lên trong trang viết của Phi Vân tươi tắn đến lạ thường Nhà văn không phản ánh một cách sai lệch hay thi vị hoá cuộc sống nông thôn như các nhà văn lãng mạn chủ nghĩa mà qua ngòi bút của ông cảnh vật nông thôn hiện lên hết sức chân thật và sinh động Là mảnh đất được thiên nhiên ưu đãi, ban tặng cho sự trù phú, màu mỡ, cảnh vật nơi đây cũng êm đềm, tinh khiết đến tuyệt vời! Vẻ đẹp đó dường như làm dịu nhẹ hẳn cái không khí gay gắt, nặng nề mà hằng ngày con người phải đối mặt Đúng như bài diễn văn của GS Nguyễn Văn Kiết, chủ tịch Uỷ ban Văn chương của Hội

Khuyến học Cần thơ đánh giá về Đồng quê của Phi Vân: “Quyển phóng sự

như một tấn tuồng gay cấn đặt trong cảnh trí tươi xanh ”!

Ngày đăng: 22/05/2021, 11:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm