Hơn nữa, một người có tấm lòng đôn hậu, thuỷ chung, ấm áp tình người, tình đời; một tác giả tâm huyết với nghề văn như thế cần được quan tâm nghiên cứu để có thể hiểu sâu sắc hơn về cuộc
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯƠNG THỊ THỦY
ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI NGUYỄN VĂN XUÂN
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN PHONG NAM
Đà Nẵng, Năm 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯƠNG THỊ THỦY
ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI NGUYỄN VĂN XUÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng, Năm 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Người cam đoan
Trang 41.2.1 Nhà văn chân chính phải co ́ “hoài bão lớn” và biết “sáng tạo” 14
1.2.3 Người cầm bút phải giữ được “nét văn hóa quê hương xứ sở” và
1.3.2 Những thành công nổi bật trong sáng tác văn xuôi Nguyễn Văn
CHƯƠNG 2: CHÂN DUNG CUỘC SỐNG TRONG VĂN XUÔI
2.1 Con người xứ Quảng trong văn xuôi Nguyễn Văn Xuân 34
2.2 Sắc màu văn hóa xứ Quảng trong văn xuôi Nguyễn Văn Xuân 69
Trang 52.2.1 Làng cảnh xứ Quảng 70
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC
3.1.2 Cốt truyện giàu yếu tố hiê ̣n thực, gần gũi với thực tế cuộc sống 84 3.2 Nét đô ̣c đáo trong nghệ thuật trần thuật Nguyễn Văn Xuân 86
3.3.1 “Chất Quảng” – dấu ấn riêng trong ngôn từ nghệ thuật 94
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nguyễn Văn Xuân là nhà văn có những trang viết đặc sắc về cuộc sống, chiến đấu, lao động và sinh tồn của nhân dân đất Quảng Cuộc đời ông đã cống hiến trọn vẹn cho văn chương nghệ thuật đến tận hơi thở cuối cùng Đó
là một nhân cách đáng được trân trọng
Mặc dù chỉ chuyên tâm viết về Quảng Nam nhưng tầm vóc sáng tác của Nguyễn Văn Xuân không chỉ dừng lại ở phạm vi một địa phương, mà vươn tới những vấn đề lớn lao, cao cả, đậm chất nhân văn của con người nói chung
Nó làm nên sức mạnh trong ngòi bút văn chương của ông
Tuy nhiên, tác phẩm văn chương của Nguyễn Văn Xuân lại ít được người đời nhắc đến, biết đến Có thể do khó khăn về vật chất khiến nhà văn không có điều kiện quảng bá sáng tác của mình Cũng có thể vì tầm kiến thức uyên bác về văn hóa, xã hội… thể hiện trên các bài báo, các công trình biên khảo…khiến ông thường được nhìn nhận ở góc độ một nhà “Quảng Nam học” hơn là nhà văn
Sinh ra và lớn lên trên quê hương Quảng Nam, niềm tự hào về quê hương, về những người nghệ sĩ chân tài của xứ sở đã thôi thúc tôi đọc và tìm hiểu những sáng tác của Nguyễn Văn Xuân Với tấm lòng thành kính của mình, tôi muố n đặt vấn đề tìm hiểu một số tác phẩm văn xuôi Nguyễn Văn Xuân trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật nhằm góp phần khẳng định
ý nghĩa và giá trị của văn xuôi ông, khẳng định sức sống tác phẩm của ông Hơn nữa, một người có tấm lòng đôn hậu, thuỷ chung, ấm áp tình người, tình đời; một tác giả tâm huyết với nghề văn như thế cần được quan tâm nghiên cứu để có thể hiểu sâu sắc hơn về cuộc đời, tâm hồn của nhà văn Nguyễn Văn Xuân
Trang 7Với tham vọng như trên, luận văn là tiếng nói tri ân nhà văn – người đã góp công vun đắp khu vườn văn học đất Quảng nói riêng và văn học Việt Nam nói chung; góp những hoa thơm trái ngọt cho hôm nay và mai sau
2 Lịch sử vấn đề
Từ năm 2011, khi Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân được xuất bản, văn đàn
đã xôn xao bàn luận và thán phục Tiếp theo đó, năm 2002, cuốn tiểu thuyết
Kì nữ họ Tống được xuất bản đã khiến không ít người yêu văn càng ngưỡng
mộ và yêu mến Nguyễn Văn Xuân hơn
Trong lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân, Đà Linh đã điểm qua
cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Văn Xuân và có những đánh giá khái quát về tài năng, trách nhiệm sáng tác của nhà văn Đà Linh cho rằng,
“Trên lĩnh vực nào, từ bài báo, câu chuyện nhỏ, đến công trình lớn chúng ta đều thấy rõ dấu ấn tài năng, tâm huyết thuở nào, bởi vẫn còn đó những phát hiện, nét sáng tạo độc đáo, vẫn còn đó sự thông tuệ Trên hết là tấm lòng và nhân cách người cầm bút, người ấy ra đi từ một ngôi làng trên quê hương đất
Quảng có tên thầy Nguyễn Văn Xuân” [43, tr.11]
Cũng trong tuyển tập này, nhà sử học Dương Trung Quốc đã không tiếc lời khen ngợi tài năng Nguyễn Văn Xuân Dương Trung Quốc cho rằng:
“Nguyễn Văn Xuân là người học rộng la ̣i chuyên viết về xứ Quảng nên gọi ông là nhà Quảng học hiểu theo nghĩa nào của chữ cũng đều đúng cả” [43, tr 1008]
Năm 2004, trong Từ điển Văn học (bộ mới), Bùi Thị Thiên Thai đã giới thiệu Nguyễn Văn Xuân như trả lại cho ông chỗ đứng xứng đáng với những gì mà ông đã đóng góp Bùi Thị Thiên Thai nhận xét: “Hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân đều thể hiện một vốn kiến văn sâu rộng, một giọng văn giản dị hồn hậu, đậm đặc chất Quảng Nam, và đặc biệt, một tấm lòng yêu thương tha thiết đối với quê hương Quảng Nam” [12, tr.127]
Trang 8Trong bài viết Nguyễn Văn Xuân - Từ Bão rừng đến Bão Con voi(2006),
Luân Hoán cho rằng mỗi sáng tác của Nguyễn Văn Xuân có sức hấp dẫn riêng,
thu hút người đọc bằng những tình tiết bất ngờ Khi tìm hiểu Bão rừng, Luân
Hoán nhận xét: “Nhà văn Nguyễn Văn Xuân có lối hành văn giản dị, sáng sủa, đặc biệt là cách dùng chữ, vừa chính xác vừa dí dỏm Những mẩu đối thoại giữa các nhân vật ngắn gọn, hợp lý Tất cả những ưu điểm kỹ thuật này nhằm
làm sống động một cốt truyện từng xảy ra trên đất nước chúng ta Bão Rừng đã
gây được một tiếng vang khá lớn trong văn học Việt Nam ở giai đoạn đầu, chuẩn bị bước vào nền văn học miền Nam Việt Nam thật sinh động về sau.” [48] Theo Luân Hoán, đến với tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân là thở hít với từng nhân vật linh hoạt của ông, dù trong bất cứ vai nào Đọc văn ông để gần gũi, thương xót những con người chưa hề xa lạ với chúng ta Nguyễn Văn Xuân có nét vẽ nhân dạng rất sắc nét Vẽ ra tâm trạng, Nguyễn Văn Xuân cũng rất giàu hoa tay
Cũng trong bài viết này, Luân Hoán cho rằng “Nguyễn Văn Xuân có sự
tự tôn địa phương rất lớn Ông chưa chê bai một vùng đất nào của Tổ quốc, nhưng đề cập về Quảng Nam, ông luôn luôn thấy được những ưu điểm của vùng đất mà những người ngoài vùng đều tỏ ý ngại ngùng, nếu phải đến cư ngụ Ông yêu đất, ưu tiên là đất Quảng Nam Ông yêu người, ưu tiên là người Quảng Nam Những phố cổ Hội An, Ngũ Hành Sơn, Bà Nà núi Chúa, thôn làng Thanh Chiêm…đã làm ông hãnh diện” [48]
Nguyễn Đình Toàn, trong bài viết Nhà văn tiền phong Nguyễn Văn
Xuân (2006), cho rằng Nguyễn Văn Xuân “thường viết những truyện về lịch
sử, nhất là các nhân vật của ông hầu hết lại là những người cùng địa phương với ông như các lãnh tụ Văn Thân Nguyễn Hiệu, Phan Bá Phiến, Tổng Đốc
Hoàng Diệu, cụ Trần Cao Vân vv như trong Hương Máu Còn trong Bão
rừng, ông viết về đời sống ở một đồn điền cao su thời Pháp thuộc Thực ra,
Trang 9những đề tài như thế, các tiểu thuyết chất chứa rất nhiều những tài liệu, dữ kiện lịch sử như thế, đáng lẽ phải được đọc rất nhiều mới phải” [50] Theo Nguyễn Đình Toàn, nhà văn Nguyễn Văn Xuân có một bút pháp riêng biệt, điềm đạm Đọc ông, người ta có thể nhận ra ông cân nhắc từng chữ trước khi dùng
Trần Trung Sáng – một người bạn vong niên rất thân với nhà văn Nguyễn
Văn Xuân – trong bài viết Cánh phượng hoàng văn học xứ Quảng đã ra đi (2007)
cho rằng, “sinh thời, mỗi người có một cách nhìn khác nhau về ông: nhà văn, học giả, người làm báo, người thầy…Với tôi, ông chính hiệu là một người Quảng Nam tinh tế, đa tài, đa tật, đa mang…và trải chịu những trang đời bi kịch chẳng kém gì những trang sách ông đã viết ra” [25] Theo Trần Trung Sáng, “về số lượng, tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân không nhiều lắm, nhưng hầu như mỗi tựa sách của ông đều là một công trình đặc sắc, ấn tượng Những sáng tác văn học của ông luôn làm gợi nhớ đến con người, tập quán, thiên nhiên của vùng đất Quảng Nam mà
ông vô cùng tâm huyết” Trong bài viết Nhà văn Nguyễn Văn Xuân – Một
mảnh đất, một đời người (2008), Trần Trung Sáng cũng tiếp tục khẳng định
điều đó
Trong Nguyễn Văn Xuân - Một người Quảng Nam, nhà văn Nguyên
Ngọc nhận định: “Nguyễn Văn Xuân có một cuộc đời sáng tạo đặc biệt.[…] Những người đọc kỹ Nguyễn Văn Xuân thường có băn khoăn: Vậy ông là ai? Nhà văn, học giả, nhà nghiên cứu, nhà văn hóa, nhà báo, nhà “Quảng Nam học”? Riêng tôi muốn nói điều này: ông là tất cả những “nhà” vừa nói trên,
cộng la ̣i, nhân lên, nhuần nhuyễn, hầu như không thể tách rời Hoă ̣c cũng có thể tự ông cũng không phân biê ̣t những “nhà” đều đầy ấn tượng ấy trong chính mình, trong từng sáng tác của mình Đọc các tiểu thuyết, truyện ngắn của ông thấy rõ sự uyên thâm của một học giả toàn diện, cực kỳ giàu vốn
Trang 10sống, vừa xông xáo mạnh mẽ trong suy tưởng, vừa tinh vi, tinh tế, đầy mẫn cảm.” [30, tr.210]
Có khá nhiều bài viết, trên báo, mạng Internet về Nguyễn Văn Xuân và những sáng tác của ông Tuy nhiên, hầu hết các bài viết đó mới chỉ là những xúc cảm, điểm qua một vài nhận xét và đánh giá chứ chưa có một bài viết hay một công trình nghiên cứu nào thực sự đi sâu tìm hiểu đặc điểm sáng tác của Nguyễn Văn Xuân nói chung và đặc điểm văn xuôi của ông nói riêng Luận văn lựa chọn
đề tài Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Văn Xuân nhằm tìm ra đặc điểm nội dung,
nghệ thuật và dấu ấn riêng của một cây bút văn xuôi ít nhiều có đóng góp vào nền văn học nước nhà, đồng thời cũng là để an ủi linh hồn của một nhà văn có tài, có tâm nhưng dường như cuộc sống chưa được công bằng lắm với ông
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nguyễn Văn Xuân sáng tác nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, biên khảo, báo chí…Trong đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát những tác
phẩm thuộc thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết (gọi chung là văn xuôi) tiêu biểu
của Nguyễn Văn Xuân
Luận văn đi sâu tìm hiểu, phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật trong
các tập truyện ngắn, tiểu thuyết: Dịch cát, Hương máu, Bão rừng, Kì nữ họ
Tống của ông
4 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này được vận dụng để phân tích những đặc điểm về hình thức, nội dung cũng như giá trị nghệ thuật trong các sáng tác văn xuôi tiêu biểu của Nguyễn Văn Xuân, từ đó khái quát được đặc điểm văn xuôi của ông
Trang 11- Phương pháp hệ thống: Nhằm tiếp cận các phương diện của đặc điểm văn xuôi Nguyễn Văn Xuân như là những yếu tố thuô ̣c chỉnh thể nghệ thuật,
có sự tương tác, có mối quan hệ logíc
5 Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần khẳng định ví trí, vai trò của Nguyễn Văn Xuân trong lĩnh vực văn xuôi ở Việt Nam
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Nguyễn Văn Xuân – Quan niệm nghệ thuật và sự nghiệp sáng
tác Trong chương này chúng tôi giới thiê ̣u về chân dung nhà văn Nguyễn Văn Xuân; quan niệm nghê ̣ thuâ ̣t và sự nghiê ̣p sáng tác của ông
Chương 2: Chân dung cuộc sống trong văn xuôi Nguyễn Văn Xuân Ở
chương này, chúng tôi tiếp câ ̣n nô ̣i dung văn xuôi Nguyễn Văn Xuân mà cu ̣ thể là đi sâu khai thác con người và sắc màu văn hoá xứ Quảng trong sáng tác
củ a ông
Chương 3: Một số thủ pháp nghê ̣ thuật đặc sắc trong văn xuôi Nguyễn
Văn Xuân Ở chương cuố i, chúng tôi đi vào mô ̣t số thủ pháp nghê ̣ thuâ ̣t đă ̣c
sắ c trong văn xuôi Nguyễn Văn Xuân mà cu ̣ thể là nghệ thuật xây dựng cốt truyện; nghệ thuật trần thuật và ngôn từ nghệ thuật
Trang 12CHƯƠNG 1 NGUYỄN VĂN XUÂN – QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
Năm 17 tuổi, ông lần lượt cộng tác với các tờ báo nổi tiếng thời bấy giờ như Bạn Dân (Hà Nội), Tạp chí Thế giới (Hà Nội), Báo Mới (Sài Gòn) Năm
19 tuổi, ông cộng tác với một tạp chí có uy tín lớn khác, lúc đó do bác sĩ Hồ
Tá Khanh làm tổng biên tập, tạp chí Văn Lang (Sài Gòn) và từ 1941 đến 1945 ông cộng tác với tạp chí Tiểu thuyết Thứ Bảy (Hà Nội)
Từ 1945 đến 1954, ngoài việc sáng tác, ông nghiên cứu kịch nghệ Cũng trong thời kì này, ông hăng hái tham gia vào các phong trào yêu nước, cách mạng nơi quê hương Ông từng giữ chức ủy viên kịch nghệ Hội Văn nghệ Quảng Nam, ủy viên kịch nghệ Hội Văn nghệ Liên khu V….Có thể nói, đây là thời gian ông tiếp nhận một cách dồi dào nhất, sung mãn nhất những tinh hoa văn hóa của dân tộc và trên thế giới Chính điều này có tác động rất lớn cho những thành công trong sáng tác của ông sau này
Tài năng Nguyễn Văn Xuân thực sự chín muồi và nở rộ vào thời điểm
từ 1954 đến 1975 Với tất cả nhiệt huyết, ước mơ, hoài bão, khát vọng của tuổi trẻ, từ quê hương ông đi vào kháng chiến Ông đã đi rất nhiều và lao
Trang 13động, ghi chép hết sức nghiêm túc Sau Hiệp định Giơnevơ, với tấm lòng của một đứa con mang nặng tình quê, ông ở lại đất Quảng yêu thương và đem hết tất cả tài năng, sức lực của mình phục vụ quê nhà Ông hoạt động trên cả ba lĩnh vực: dạy học, sáng tác, nghiên cứu Ở lĩnh vực nào ông cũng rất thành công Là một người thầy hiền lành, vui tính nhưng uyên bác, mẫu mực và tận tâm với nghề, bao thế hệ học trò của ông luôn kính trọng và thương yêu ông Ông luôn giúp đỡ các học sinh nghèo theo đuổi việc học, như cấp học bổng,
mở quán cơm bình dân dành cho học sinh Là một nhà văn, nhà nghiên cứu uyên thâm, tác phẩm của ông luôn được bạn bè đồng nghiệp đánh giá cao Mặc dù có thời gian ông bị bắt giam ở lao Thừa Phủ - Huế (1955), nhà lao có thể giam cầm thể xác, nhưng không thể giam cầm được bút lực dồi dào của ông
Năm 1970, ông tham gia Hội Khuyến học Ông cùng các nhân sĩ trí thức Quảng Nam, Ðà Nẵng vận động thành công việc lập Viện Ðại học Cộng đồng Quảng Ðà tại Ðà Nẵng Việc làm ấy nhằm mục đích bảo tồn văn hóa dân tộc, nhất là văn hóa Xứ Quảng Khi Viện Ðại học Cộng đồng Quảng Ðà bắt đầu hoạt động năm 1974, ông là giảng viên đầu tiên môn chữ Nôm, Tuồng
cổ Việt Nam
Sau 1975, đất nước hoàn toàn được giải phóng, hòa cùng niềm vui thống nhất, ông tiếp tục say sưa sáng tác, nghiên cứu để góp phần vào công cuộc xây dựng phát triển của quê hương, đất nước nói chung và nền học thuật,
sự nghiệp văn chương của nước nhà nói riêng
Tài năng là thế, tâm huyết là thế nhưng dường như cuộc đời không hề
ưu ái Nguyễn Văn Xuân Quả thật tạo hóa không cho ai được trọn vẹn viên mãn bao giờ Nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân
cả đời lận đận, cả đời tất tả với việc kiếm sống, chăm lo cho người vợ và ba đứa con bệnh tật Nhưng không vì thế mà ông buồn rầu, chán nản Ông có
Trang 14một tình yêu thương bao la và một nghị lực sống phi thường Ông luôn yêu đời, yêu người, yêu tất cả những gì có trong cuộc sống này cho dù hoàn cảnh sống có khắc nghiệt đến đâu
Ông mất ngày 4 tháng 7 năm 2007 tại Ðà Nẵng, thọ 86 tuổi
1.1.2 Nguyễn Văn Xuân – nhà văn xứ Quảng
1.1.2.1 Đất và người Quảng Nam
“Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say”
Câu hát ấy dường như tự bao giờ đã ăn sâu vào tâm khảm người dân Quảng Nam nói riêng và tất cả những ai trên khắp mọi miền đất nước yêu mến con người và vùng đất nơi đây Quảng Nam hình thành từ khá sớm và được biết đến là “đất văn hóa”, “đất khoa bảng”, “đất địa linh nhân kiệt” Nơi đây đã sản sinh ra biết bao tài danh, hào kiệt cho đất nước
Tên đất “Quảng Nam” chứa một ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn trong quá trình phát triển lâu dài của dân tộc ta: “Quảng” có nghĩa là rộng, mở rộng;
“Nam” là phương Nam Quảng Nam nghĩa là mở rộng về phương Nam Đó là
“một sự lựa chọn có tính chiến lược, quyết định vận mệnh sống còn của quốc gia Đại Việt vốn có vị trí địa lý đặc trưng, một bên là núi non hiểm trở, cao ngất, một bên là biển rộng mênh mông, lại luôn chịu áp lực bành trướng mạnh
mẽ của một bên là láng giềng khổng lồ từ phương Bắc” [22, tr.14] Nói đến
xứ Quảng người ta thường nghĩ đến Quảng Nam Tuy trong khu vực này từng
có “ngũ Quảng”: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Hoá (Thừa Thiên), Quảng Nam, Quảng Ngãi, nhưng công cuộc mở rộng bờ cõi về phương Nam thật sự bắt đầu từ Quảng Nam cho cả một hành trình dài đến tận Hà Tiên
Qua bao thăng trầm biến cố, Quảng Nam vẫn lưu giữ được những tài nguyên văn hóa vô cùng độc đáo, có giá trị nhân văn sâu sắc, tiêu biểu là: phố
cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Kinh đô cổ Trà Kiệu, các tháp chàm Khương
Trang 15Mỹ, Chiên Đàn, Bằng An, ghi lại dấu ấn rực rỡ của nền văn hóa Sa Huỳnh, Champa, Đại Việt
Là đòn gánh giữa hai đầu đất nước, Quảng Nam được thiên nhiên ưu đãi và hào phóng dành cho những tài nguyên tự nhiên, tài nguyên biển vô cùng quý giá Tuy nhiên, nơi đây cũng là nơi hứng chịu nhiều thiên tai như hạn hán, bão lụt
Phần lớn dân cư Quảng Nam là người Việt có nguồn gốc từ miền Bắc
và Bắc Trung Việt Ðó là những con người có ý chí, có bản lĩnh chấp nhận những khó khăn của cuộc sống phiêu lưu và khai phá Ðó là những con người
có tinh thần phóng khoáng, không chịu những áp bức bất công của thời kỳ Vua Lê Chúa Trịnh suy vi, xã hội miềm Bắc hỗn loạn Ho ̣ tìm cách chống lại
để bảo vệ tự do và phẩm giá nên bị ghép vào tội nghịch dân và bị lưu đày Ðó cũng là những con người nhận trách nhiệm lịch sử, đội quân tiên phong của Chúa Nguyễn vào Nam trấn thủ và mở mang bờ cõi
Có thể nói, cộng đồng những người khai phá vùng đất mới Quảng Nam là những con người bản lĩnh và khát vọng, giàu tinh thần đấu tranh, được tôi luyện trong gian khổ và trưởng thành trong chiến đấu Ho ̣ biết khắc phục những khó khăn từ thiên nhiên và do lịch sử đem lại Những con người Việt Nam tiên phong đó lại tiếp xúc và hội nhập với nền văn hóa Chàm, trong dòng văn hóa Ấn Ðộ Mã Lai và Hải đảo Thái Bình Dương tại cựu đô Trà Kiệu và Thánh Ðịa Mỹ Sơn của Chiêm Thành Ðó là một nền văn hóa đa dạng và rực rỡ
Ðầu thế kỷ XVII, Quảng Nam lại tiếp nhận những dòng người Trung Hoa không phục Thanh Triều Cộng đồng Minh Hương là những người có trình độ văn minh cao, có kiến thức và kinh nghiệm về thương mại, kỹ thuật giỏi, tay nghề cao, hiểu biết nghệ thuật, âm nhạc thơ ca, hội họa của nền văn hóa phong phú Trung Hoa
Trang 16Những yếu tố đó tạo nên một nét đặc thù riêng biệt cho vùng văn hóa Quảng Nam trong nền văn hóa chung của dân tộc Việt Những yếu tố văn hóa
cụ thể và rực rỡ đó trong hàng thế kỷ đã hun đúc nên con người Quảng Nam
có ý chí, bản lĩnh kiên cường, tính tình phóng khoáng, ham chuộng tự do, kiên nhẫn, chịu khó, ham học hỏi, cầu tiến, có khả năng tiếp nhận và phát huy cái mới
Quảng Nam là đất “địa linh nhân kiệt”, là quê hương của cách mạng Đây là một tất yếu hiển nhiên khi con người được sinh trưởng trong một môi trường đa dạng, phong phú về mọi mặt và được tôi luyện trong một tiến trình đấu tranh gian khổ Ðó cũng là sự phát triển tất yếu của một vùng lãnh thổ địa đầu, tiếp cận và tiếp nhận những nguồn văn hóa khác nhau của thế giới
Những danh hiệu “Ngũ phụng Tề Phi” hay “Tứ Kiệt” nói lên tài học và
sự vinh hiển đậu đạt của các danh sĩ Quảng Nam Các thế hệ người Quảng Nam lấy đó làm vinh dự và noi gương
Ða số danh sĩ Quảng Nam là những người yêu nước thương dân Họ ra làm quan là những người thanh liêm nổi tiếng Gặp thời loạn ly, đất nước bị ngoại xâm, họ tích cực chống giặc bảo vệ Tổ quốc, từ quan, tham gia vào các phong trào cách mạng giải phóng dân tộc
Trong quá trình lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam từ các phong trào Cần vương, Ðông du, Duy tân và những phong trào kháng chiến về sau, các danh sĩ Quảng Nam đã sẵn sàng hi sinh bản thân cho sự nghiệp chung của dân tộc
Điểm đáng lưu ý của con người xứ Quảng là “tấm lòng son” Đó là một tấm lòng Quảng Nam mà lúc nào cũng chất chứa những ân tình, đã bồi đắp cho nền văn hoá vật thể và phi vật thể của xứ Quảng ngày càng thêm đầy đặn Chính vì vậy mà lợi lộc đã không cuốn được kẻ sĩ Quảng Nam đi ra ngoài con đường đi chung của dân tộc; cường quyền, bạo lực không khuất
Trang 17phục, ngăn cản được người Quảng Nam làm cách mạng; miếng cơm manh áo hằng ngày cũng không câu thúc được tâm hồn người dân xứ Quảng Bên cạnh
đó, hai con sông rất thơ mộng và hùng vĩ nơi đất Quảng Nam đã bồi đắp nhiều phù sa cho nông nghiệp nơi đây là Thu Bồn và Vu Gia, cũng là hai con sông thường có đỉnh lũ cao nhất ở nước ta Vì vậy mà việc chống chọi với bão
lũ hằng năm như là tất yếu tự nhiên của người dân Quảng Nam Đồng thời, nơi đây có khá nhiều đồi núi đất đá khô cằn mà người ta quen gọi là xứ “Chó
ăn đá, gà ăn sỏi” Trong những điều kiện tự nhiên, địa lý như vậy con người muốn tồn tại phải gồng mình lên chịu đựng, phải cày xới cật lực mảnh đất mà
đá nhiều hơn đất ấy để tìm lấy sự sinh tồn Trước một thực tế như vậy, con người ở đây dường như được tôi luyện bởi những khó khăn gian khổ của cuộc sống và không ngừng phấn đấu để rồi hình thành nên nét tính cách Quảng không lẫn vào đâu được, đó là cần cù lao động, ham học hỏi, sáng tạo, cứng cỏi, ngang tàng, bộc trực thẳng thắn và cũng rất đỗi chân chất, thật thà
1.1.2.2 Nguyễn Văn Xuân với Quảng Nam
Như trên đã nói, chiều sâu của nền văn hóa Quảng Nam được thể hiện
ở sức sống, sức sáng tạo của người dân nơi đây Đất Quảng được coi là vùng
“đất học”, “đất khoa bảng” Nơi đây là quê hương của nhiều nhân tài học rộng, đỗ cao, quê hương của nhiều vị anh hùng dân tộc qua các thời kỳ, những con người làm rạng danh đất Quảng như: Phạm Phú Thứ, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Hoàng Diệu, Nguyễn Duy Hiệu, Trần Cao Vân…Trong số những người con ưu tú ở những thế hệ sau của của vùng đất địa linh nhân kiệt này không thể không nhắc đến Nguyễn Văn Xuân Cuộc đời, sự nghiệp, những trang viết của ông như gắn bó máu thịt với quê hương này Quảng Nam đối với ông như là hơi thở, là sự sống, như cơm ăn nước uống hàng ngày
Trang 18Có thể nói, ở Nguyễn Văn Xuân dường như hội tụ tất cả cốt cách của con người Quảng Nam: có tư chất thông minh, khí tiết cứng cỏi, bạo nói, tôn trọng sự thật và không khoan nhượng với cái sai, cái ác, không bằng lòng cái
đã có Tư chất ấy thể hiện trong hoạt động thực tiễn, ở năng lực thẩm mỹ, sự ứng xử, cả trong ngôn ngữ Tư duy của người Quảng Nam chủ yếu là tư duy mang tính phản biện, khuyến khích sự sáng tạo, phát hiện phát minh
Người ta gọi Nguyễn Văn Xuân là nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà nghiên cứu vì ngoài công việc dạy học, ngoài sáng tác của ông, ngoài các bài báo ông viết, ngoài các công trình biên khảo, ông còn thường được mời tham
dự và phát biểu ở những buổi hội thảo, đặc biệt là hội thảo về văn hóa Quảng Nam Với tấm lòng, tài năng, nhân cách, vốn sống, vốn văn hóa của người con xứ Quảng, các phát biểu của ông luôn khiến người nghe phải chú ý
Nguyễn Văn Xuân luôn cần cù lao động nghệ thuật bằng tất cả trách nhiệm của một nhà văn, nhà nghiên cứu và cái tâm, cái tầm của người cầm bút Ông quả có một sức sáng tạo dẻo dai bền bỉ Đến những ngày cuối đời, lúc cơn tai biến đã khiến ông phải ngồi xe lăn ông vẫn còn nặng nợ với đời, với nghiệp văn, với mảnh đất và con người xứ Quảng và vì thế mà ông vẫn tiếp tục lao động không ngừng nghỉ
Say mê về mảnh đất, con người và văn hóa xứ Quảng, cộng với sự chắt lọc trong chiều dài của những biến thiên lịch sử, trong chiều sâu của phong tục tập quán, lối sống, nhiều sáng tác của Nguyễn Văn Xuân dựa trên những
cứ liệu dân gian Quảng Nam, tạo thành những nét độc đáo, sinh động Trong
tập truyện Hương máu, tất cả những sự kiện liên quan đến những tấm gương
trung liệt, vắt ngang một giai đoạn lịch sử từ khi Pháp xâm lược đến khi cuộc kháng chiến chống Pháp rơi vào bế tắc được xâu chuỗi bằng sợi chỉ đỏ của truyền thống yêu nước, tinh thần dân tộc, ý thức chính trị đối với vận mệnh đất đai của Tổ quốc Những sáng tác mà nhà văn đóng vai trò nhân vật trong
Trang 19truyện (Bão rừng, Kì nữ họ Tống) hoặc ông chính là người tận mắt chứng kiến trải nghiệm (Dịch cát, Chạy đua với tử thần) là những sáng tác đậm chất
hiện thực Trên nền hiện thực đối đầu quyết liệt với thiên nhiên khắc nghiệt, đấu tranh một mất một còn với bọn thực dân, đế quốc, bọn tay sai… nhà văn
đã ngợi ca bản lĩnh, khí chất con người Quảng Nam Bản lĩnh ấy được hun đúc từ trong lòng xã hội Bắc hà, chịu sự tiếp biến trong quá trình cộng cư, sự giao lưu với văn hóa nước ngoài…hình thành chiều sâu, bề dày văn hóa Quảng Nam Đó cũng là biểu hiện bản sắc văn hóa dân tộc
Tìm hiểu những sáng tác văn chương của Nguyễn Văn Xuân là tìm hiểu
về lịch sử đau thương mà anh dũng của dân tộc ở vùng đất Quảng Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, là tìm hiểu những biểu hiện văn hóa đa dạng tồn tại trong đời sống vật chất và tinh thần của Quảng Nam
1.2 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Văn Xuân
Khi tìm hiểu mô ̣t hiê ̣n tươ ̣ng văn ho ̣c, ta thường phải căn cứ vào mô ̣t cơ
sở lí luâ ̣n, mô ̣t hê ̣ thống quan niê ̣m nghê ̣ thuâ ̣t với các tiêu chí về giá tri ̣ văn
học nào đó Do vậy, tìm hiểu về đă ̣c điểm văn xuôi Nguyễn Văn Xuân ta cần
tìm hiểu về quan niê ̣m nghê ̣ thuâ ̣t của ông
1.2.1 Nhà văn chân chính phải co ́ “hoài bão lớn” và biết “sáng tạo”
Cái gì đó giống người khác và na ná giống người khác là điều tối kỵ trong sáng tạo nghệ thuật Người cầm bút phải viết được những gì mới mẻ, phải sáng tạo những gì chưa ai có Thành bại của một đời văn phụ thuộc rất lớn vào tố chất sáng tạo của mỗi người Có thể nói, đây là một quan niệm không hề mới mẻ Nhà văn tài ba Nam Cao trước đó đã từng có những “tuyên
ngôn nghệ thuật” trong tác phẩm Đời thừa: “Văn chương không cần đến
những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa
ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”…
Trang 20Mọi nghệ sĩ chân chính, có tài năng đều khao khát sáng tạo ra được những tác phẩm chân chính, sâu sắc Không bao giờ họ bằng lòng với lối sao chép, rập khuôn hay phản ánh hiện thực cuộc sống trên bề mặt của nó Nhà văn phải là người có cái nhìn nhạy bén và sâu xa hơn người để phát hiện những vấn đề sâu kín ở bề sâu của đời sống, để đem đến cho người đọc những khía cạnh mới, những vấn đề mới đầy bất ngờ, sâu sắc, thú vị, có khả năng đánh thức trí tuệ, trái tim, làm phong phú tâm hồn, thậm chí có thể làm thay đổi những thói quen, những nếp nghĩ thông thường Mỗi sáng tạo của một nhà văn tài năng phải là một tìm tòi mới, một khám phá mới
Thực chất, đây là một yêu cầu về tính chân thật trong sáng tạo nghệ thuật chứ không phải là sự đi tìm cái lạ một cách màu mè, hình thức Đó là một sự sáng tạo mang đậm nét bản sắc của chủ thể nghệ sĩ, mang dấu ấn tinh thần của cá nhân nhà văn từ cách nhìn, cách nghĩ đến cách viết Đó chính là
cá tính sáng tạo đã từng được đặt ra như một yêu cầu không thể thiếu của sáng tác văn chương Thiếu nó sẽ không có nghệ thuật Nghệ thuật bắt đầu từ thiên bẩm Nhưng chỉ thiên bẩm không thôi cũng sẽ không có nghệ thuật Trong cuộc đời cầm bút của mình, Nguyễn Văn Xuân luôn tâm niệm điều ấy Chàng thanh niên mười sáu tuổi luôn ôm ấp mô ̣ng văn chương trong Bão
rư ̀ ng đã từng thố t lên rằng: “Hỡi Goethe! Hỡi bâ ̣c đa ̣i thi hào của thế giới! Tôi
biết chính người đã thể hiê ̣n những tình cảm sâu xa, lớn lao nhất của nhân loại; tôi biết chính người đã làm bừng sáng nền văn ho ̣c Nhâ ̣t – Nhĩ – Man, đã
làm cho mô ̣t nền văn ho ̣c thiếu thố n và vay mươ ̣n trở nên nền đa ̣i văn ho ̣c phong phú , có mu ̣c đích, có tương lai, không chỉ hướng dẫn mô ̣t nước mà còn ảnh hưởng sâu xa đến toàn thế giới Hỡi Goethe, thiên tài đa da ̣ng và vĩnh viễn; trong sự cô đô ̣c, trong cái ô tro ̣c của thế nhân, tôi luôn luôn hướng về
hình ảnh của người như hoa hướng dương tìm dấu mă ̣t trời!” [43, tr.140] Theo ông “Tuổi mười sáu là tuổi mô ̣t số văn hào thiên tài đã làm nên mô ̣t cái
Trang 21gì” Chính vì thế mà “Bao nhiêu hơ ̣m hĩnh thúc đẩy mô ̣t đứa bé lau mũi chưa
sạch đã sớm nuôi những mô ̣ng văn hào”
Cần cù là bản tính của người Quảng Nam trong đó có Nguyễn Văn Xuân Ông dốc hết sức lực tài năng để viết, để sáng tạo, để dâng hoa thơm trái ngọt cho đời Chính ước mơ hoài bão, chính ý thức sáng ta ̣o đã làm nên nét
đô ̣c đáo trong sáng tác Nguyễn Văn Xuân Ông luôn bám sát mô ̣t vùng đất, tiếp cận và thâm nhập thực tế cuộc sống của người dân Quảng Nam, đi sâu
vào văn hoá Quảng Nam Muố n khám phá về vùng đất, con người và văn hoá
xứ Quảng không thể không đo ̣c tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân
1.2.2 Phải sống “hết mình” cho nghiệp văn
Nguyễn Văn Xuân cả cuộc đời lao động rất nghiêm túc Ông đi nhiều, biết nhiều và đi sâu nghiên cứu văn học, sử học…Bên cạnh đó, ông tự học và tiếp cận kho tàng Hán – Nôm, hoàn thiện Pháp văn Chính vì vậy mà ông có vốn kiến thức Đông Tây kim cổ hết sức uyên thâm Sinh thời, ông tâm niệm “Nhà văn thì phải biết, biết hết Viết văn như Vũ Trọng Phụng viết về người miền Bắc nếu không lăn lộn trong cuộc sống đó, biết rõ nó như biết cái mặt vợ mình, thiết tưởng không làm sao viết được Mà không viết được như thế thì chắc không bao giờ đạt được chỗ thâm viễn Vũ Trọng Phụng là nhà văn miền Bắc tiêu biểu nhất, rồi cũng sự kiện đó ông là nhà văn Việt Nam tiêu biểu nhất Đó là chân lý giản dị nhưng là chân lý vĩnh cửu …” [43, tr.654]
“Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, đó là câu nói rất quen thuộc của người dân xứ Quảng Nhưng cái hoàn cảnh của gia đình nhà văn Nguyễn Văn Xuân thì quả là bi đát Người vợ và ba đứa con đều bị bệnh Một mình ông vừa lo săn sóc vợ con, vừa lo chạy vạy về kinh tế Cơm áo gạo tiền cứ đè nặng lên đôi vai của ông, khiến ông phải khổ sở vì nó Nhưng rất khác người khác đời, Nguyễn Văn Xuân không bao giờ than vãn, cũng không bao giờ tắt
nụ cười trên gương mặt và tắt đi trò hài hước vui tính của mình Và hơn hết,
Trang 22cơm áo gạo tiền không đè bẹp được nhân cách, ước mơ, khát vọng và sức sáng tạo mãnh liệt của Nguyễn Văn Xuân Dù thế nào ông cũng viết, dù hoàn cảnh nào ông cũng viết Với ông, một nhà văn chân chính thì phải sống hết mình cho nghiệp văn dù nó có thế nào và đến đâu chăng nữa, miễn là mình làm được cái gì đó cho cuộc đời này
1.2.3 Người cầm bút phải giữ được “nét văn hóa quê hương xứ sở”
và “bản sắc dân tộc”
Bất cứ nhà văn nào khi cầm bút sáng tác đều bắt nguồn từ những suy tư trăn trở, những chiêm nghiệm, những rung động sâu xa của mình trước con người và cuộc sống Tác phẩm là sự thăng hoa của cảm xúc được chuyển tải qua ngôn ngữ nghệ thuật
Đối với nhà văn Nguyễn Văn Xuân, tình yêu quê hương xứ Quảng là nguồn cảm hứng bất tận tạo nên những tác phẩm để đời của ông “Hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân đều thể hiện một vốn kiến văn sâu rộng, một giọng văn giản dị, hồn hậu, đậm đặc chất Quảng Nam, và đặc biệt một tấm lòng yêu thương tha thiết đối với quê hương xứ Quảng” [12, tr.1227]
Hơn ai hết, Nguyễn Văn Xuân là người am hiểu rất sâu sắc văn hóa Quảng Nam Nó lặm vào máu thịt, vào từng hơi thở và cuộc sống của ông Nó dung dưỡng tâm hồn ông, tạo nên cốt cách Quảng Nam trong ông Nói về Quảng Nam, viết về Quảng Nam có lẽ không ai có thể sâu sắc hơn Nguyễn Văn Xuân Việc chọn viết về vùng đất và con người Quảng Nam thể hiện một tình yêu đất nước sâu sắc của nhà văn thông qua tình yêu đối với nơi chôn
nhau cắt rốn Trong phần đầu tâ ̣p truyê ̣n Hương máu, ông viết: “Những
chuyện chết tôi trình bày ở đây chỉ là mấy cái chết khiêm tốn của những con người ở miền xương xẩu của đất nước Viê ̣t Nam […] tất cả cái chết ấy đã
kích thích óc tò mò bắt tôi suy nghĩ và tôi cho đều đáng ghi la ̣i mô ̣t nét ý chí,
một sắc thái đi ̣a phương và hiển nhiên cũng là của dân tô ̣c.” [43, tr.237]
Trang 23Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, một cuộc hội thảo, một tập kỷ yếu viết về văn hóa xứ Quảng mà vắng Nguyễn Văn Xuân thì mọi người đều cảm thấy một cái gì không trọn vẹn, một khoảng trống Dương Trung Quố c cho rằ ng Nguyễn Văn Xuân “biết nhiều, nhưng biết về xứ Quảng thì ít ai sánh
đươ ̣c với ông, vì như ông tâm sự: Trong viê ̣c sáng tác tôi hoàn toàn đi vào
con đường đi ̣a phương để thể hiê ̣n tính cách sinh hoạt vật chất lẫn tinh thần
cu ̉a người đi ̣a phương tức là người Quảng Nam nơi tôi sinh sống, nơi tôi đã
hu ́ t được sinh khí, nơi đã hoàn thành nhân cách của tôi” Cũng theo Dương
Trung Quố c, Nguyễn Văn Xuân “cho việc mình làm là góp phần đừng để lãng quên những gì xứ Quảng đã đóng góp cho dân tộc suốt từ những thế kỉ qua vì
sự lãng quên ấy là có tội với tiền nhân và dân tộc Ông tự ví việc mình làm giống như một người con hiếu thảo chăm lo hương khói cho tổ tiên xứ sở của mình vậy”
Trong bài báo Bản sắc dân tộc ứng dụng vào đổi mới, Nguyễn Văn
Xuân cho rằng, bản sắc dân tộc không chỉ khó khăn trong sự lựa chọn những nguyên lí mới phải bảo vệ, mà điều cốt yếu chính là con người ứng dụng nó phải có tâm hồn thực sự vì nguyên lí muốn phát triển đất nước…và ông khẳng định rằng “Bản sắc dân tộc không chỉ duy trì cho cái cũ có giá trị mà chính nó tạo nên tập tục cho các giá trị mới trở thành truyền thống mới để phát triển” [30, tr.14]
Những trang viết của Nguyễn Văn Xuân về vùng đất Quảng Nam như thôi thúc người đọc tìm hiểu về một Quảng Nam hiện tại Cũng đất ấy, người
ấy, núi sông ấy… Quảng Nam sẽ như thế nào trong hành trình lịch sử của dân tộc? Qua những trang viết của mình, Nguyễn Văn Xuân đã khẳng định chính hình sông thế núi khắc nghiệt đã góp phần hun đúc nên “khí chất” con người Quảng Nam
Trang 24Sáng tác của Nguyễn Văn Xuân hầu như chưa bao giờ rời xa làng quê của mình Hầu hết các sáng tác của ông đều đề cập đến cuộc sống lao động sinh tồn và đấu tranh giữ nước của các tầng lớp nhân dân Quảng Nam Các sáng tác ấy dựa trên những tư liệu địa phương, lời kể của nhân dân, sự ghi chép, quan sát, lí luận cụ thể và duy lý của một người “nghiện đọc, học và viết” Với sự uyên thâm, sự sắc bén trong tư duy phân tích, những vấn đề đặt
ra trong sáng tác của ông buộc người đọc không ngừng cùng nhà văn suy nghĩ, trăn trở để khám phá, đi đến tận cùng của chiêm nghiệm
Nhà văn Nguyễn Văn Xuân sinh ra và lớn lên trên quê hương xứ Quảng Sự gắn bó định mệnh ấy đã khiến nhà văn yêu nơi đây như yêu chính bản thân mình Và khi sông núi, con người xứ Quảng đã thăng hoa dưới ngòi bút văn chương của ông thì “chất Quảng” càng rõ hơn trong những hình ảnh, chi tiết, sự kiện, nhân vật, cốt truyện Nó là những kết tinh từ trái tim, khối óc của một cư dân xứ Quảng với sự am hiểu và tình yêu quê hương sâu sắc lạ thường Mặc dù sáng tác của ông quanh đi quẩn lại vẫn là thiên nhiên và con người Quảng Nam, nhưng người đọc không có cảm giác vô vị nhàm chán Trái lại, người đọc luôn muốn khám phá Vẫn là đất ấy, người ấy, mỗi một tác phẩm nhà văn như đưa người đọc đến một góc nhìn khác để thấy những khía cạnh phong phú trong cuộc sống, tính cách con người xứ Quảng Đọc những tác phẩm của ông, đọng lại trong lòng độc giả là bức tranh về cuộc sống, thiên nhiên, con người xứ Quảng Nhưng giá trị tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân không chỉ có vậy, những hiện thực ngồn ngộn về một thời kỳ cụ thể lại đánh thức ở người đọc một quá khứ đã lùi xa của thời mở cõi, và gợi lên mối dây liên hệ vô hình với hiện thực hôm nay
Trang viết của Nguyễn Văn Xuân như được chắt lọc từ sự khoắc khoải
về số phận con người trên vùng đất Quảng, trong đó, có số phận của chính nhà văn
Trang 251.3 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Văn Xuân
1.3.1 Nguyễn Văn Xuân – con người đa tài
Nguyễn Văn Xuân sáng tác thành công ở nhiều thể loại Ông thuộc thế
hệ nhà văn trước năm 1945 với hai truyện ngắn được đăng trên Tiểu thuyết
Thứ Bảy ở Hà Nội là Ngày giỗ cha (1943) và Ngày cuối năm trên đảo (1945)
Với kết cấu bất ngờ, thiên về kĩ thuật, tác giả đã đi sâu khai thác, mô tả đời sống sinh hoạt của những người dân lam lũ
Thời kì tài năng của Nguyễn Văn Xuân nở rộ nhất phải kể đến là sự ra
đời của tập truyện ngắn Dịch cát Đây là tập hợp các truyện ngắn xuất sắc
trong khoảng 10 năm từ 1956 đến 1966 Tập truyện viết về những người dân
xứ Quảng với cuộc sống lam lũ vất vả, phải luôn chống chọi với nhiều thiên tai, dịch bệnh
Và một tập truyện nữa cho thấy rõ tài năng của Nguyễn Văn Xuân phải
kể đến là Hương máu ra đời năm 1969 Đây là tập truyện kí về nhưng cái chết
hiên ngang lẫm liệt, bất khuất của người Quảng Nam Những cái chết để lại trong lòng bao thế hệ sự khâm phục và cả day dứt khôn nguôi
Ngoài thành công về mảng truyện ngắn thì tiểu thuyết cũng là mảng
hết sức độc đáo của Nguyễn Văn Xuân Sau gần 20 năm, tiểu thuyết Bão
rừng(1957) ra đời là một minh chứng cho tài năng của nhà văn Và đến cuối
đời, đến lúc ngồi trên xe lăn ông vẫn không ngừng viết để rồi cho ra đời tiểu
thuyết xuất sắc, được dư luận đánh giá cao: Kì nữ họ Tống(2002)
Ngoài truyện ngắn, tiểu thuyết, Nguyễn Văn Xuân còn là một tác giả kịch được nhiều người hâm mộ Tiếp thu nhiều tinh hoa văn hóa dân tộc và thế giới, đặc biệt là những nền tảng lí luận của văn học và kịch nghệ, khoảng thời gian từ 1945 đến 1954, Nguyễn Văn Xuân dồn nhiều tâm sức vào kịch nghệ để nhằm đáp ứng thị hiếu văn hóa của thế hệ đương thời Nhiều vở kịch
Trang 26của ông làm say mê khán giả và tạo được không khí sôi động như: Kẻ xu thời,
Một chuyện không tiện nói ra…
Ở thời kì sung mãn nhất của ngòi bút Nguyễn Văn Xuân, người ta hết sức kinh ngạc về sức làm việc, sáng tạo của ông khi ông cho ra đời hai công
trình biên khảo Khi những lưu dân trở lại (1967), Phong trào Duy Tân
(1969) Tình yêu mãnh liệt và gắn bó sâu sắc với vùng quê thân thương của mình, cộng với sự uyên thâm về sử học, dân tộc học, xã hội học, qua những sáng tác mà đặc biệt là những biên khảo, Nguyễn Văn Xuân đã làm sống lại những sự kiện vang dội mà đau xót, cũng như đã khắc họa thành công hình ảnh những con người ưu tú đất Quảng
Nhắc đến Nguyễn Văn Xuân, người ta còn nhắc đến một nhà báo tài ba với vốn văn hóa Quảng Nam sâu sắc Theo sưu tầm có thể là chưa đầy đủ của
nhà báo Cửu Loan trong cuốn Nguyễn Văn Xuân – Sức sống văn hóa xứ
Quảng, ông có khoảng hơn 90 bài báo với rất nhiều đề tài, nhiều lĩnh vực
khác nhau Các bài báo của ông thường là những suy ngẫm, những phát hiện, những nghiên cứu để đi đến tận cùng của chân lí khoa học Đồng thời đọc những bài báo của ông, người đọc như đi vào vùng đất, văn hóa và con người
xứ Quảng với những sự kiện lịch sử, những phong trào cách mạng, những địa danh hành chính, những ngày hội, những làng nghề truyền thống, những người con anh hùng…làm nên xứ Quảng rất riêng, rất mặn mà, rất chân chất, rất đáng yêu và đáng tự hào
1.3.2 Những thành công nổi bật trong sáng tác văn xuôi Nguyễn Văn Xuân
Tìm hiểu về Nguyễn Văn Xuân và những trang viết của ông người ta thường chú ý tới những bài báo và những biên khảo Tuy nhiên, nếu đi sâu khám phá thì ta sẽ thấy rằng ông còn rất thành công ở những sáng tác văn
Trang 27xuôi mà đă ̣c biê ̣t là tiểu thuyết Bão rừng, Kì nữ họ Tống và hai tập truyện ngắn Dịch cát, Hương máu
1.3.2.1 Tiểu thuyết Bão rừng
Bão rừng là một tiểu thuyết dày 240 trang, 24 chương miêu tả cảnh đời
của những người lao động, tạp dịch kiếm sống tại một đồn điền do người Pháp làm chủ Ðây là cuốn truyện dài đầu tay của Nguyễn Văn Xuân ghi lại những nơi ông đã đi qua, những cảnh huống của con người đã sống, đã khổ cực trên mảnh đất quê hương Tác giả từng có mặt, sinh hoạt trong cái thế
giới bị ngược đãi này Bão rừng được thai nghén năm ông mười bảy tuổi
(1938) và chờ đến năm 1957 mới xuất bản lần đầu tiên Bản thảo cuốn truyện nằm trong hộc tủ gần hai mươi năm Tác phẩm được bắt đầu bằng câu chuyện của cậu thiếu niên mười sáu tuổi tình cờ lên một đồn điền của một tên thực dân Pháp Cậu tận mắt chứng kiến bà vợ tên thực dân này đầy gian ác, thủ đoạn bóc lột, đày đọa người bản xứ một cách tàn nhẫn, không thương tiếc
Nhờ biết chút ít tiếng Pháp và do sự gởi gắm của bà cô họ, cậu thiếu niên được nhận chân thầy thông, dạy kèm bà chủ me Tây họ La Bà là vợ một tên lính Tây, nhân tình của một tên thực dân quan thầy của chồng mụ - một tên quan An Nam chuyên hoạnh họe dân nghèo Cậu thiếu niên làm thầy giáo tại gia kiêm thư ký, đứng bán hàng cho bà chủ Các món hàng là những vật dụng cần yếu cho đời sống của người miền Thượng như muối, vải thô, gạo Chúng chủ yếu để bán cho những người phu làm trong đồn điền Đồng thời hàng hóa còn là nhiều vật dụng linh tinh cần thiết cho cuộc sống hằng ngày như kim chỉ và nhất là các loại vải màu sắc sặc sỡ, được người miền núi ưa chuộng
Giữa đám người cùng khổ, bị bóc lột đến tận xương tủy ấy, thầy thông
là người duy nhất có ăn học, có lương hướng khá hơn, có miếng ăn, thức uống
do đầu bếp nấu, dọn lên sẵn Thầy thông nổi bật trong xã hội nho nhỏ cùng
Trang 28khổ đó Trong sự tiếp xúc hằng ngày với anh bếp, chị vú em, anh bồi, cô Liêu, hiện lên những hoạt cảnh sống động nhiều kịch tính, mỗi người mỗi nét riêng biệt, đầy vui buồn, hài hước trong sự bon chen kèn cựa qua lại lẫn nhau Cô Liêu có cảm tình với thầy thông, nhưng không dám nói ra và cả thầy thông cũng có nhiều cảm tình với người con gái nhu mì, nhút nhát đó, nhưng cũng chưa dám dính dáng vào một mối tình đầu đời
Những người phu được mộ lên cao nguyên có một cuộc sống thật nghèo khổ, cực nhọc Khi họ ốm đau, sốt rét, nằm rên la thì không thuốc men, không người săn sóc Ðôi khi có một y tá ở nơi xa được gọi đến, nếu có trường hợp bệnh hoạn nguy kịch, sắp chết, y tá chỉ chích vài ba mũi thuốc ký ninh xanh Tiền thuốc sẽ bị trừ vào lương trong tháng Cuộc sống của các người phu làm đồn điền như những kẻ bị lưu đày không ngày về lại cố hương Một người phu trẻ tuổi, nhớ nhà, nhớ làng cũ, trốn đi xuyên qua đường rừng trong nhiều ngày, đói khát, phải tạt vào nhà người Thượng xin nước uống, cơm ăn, bị đám mật thám của mụ chủ báo về thế là mụ chủ cho bủa vây bắt lại và đánh đập tàn nhẫn Cuộc đánh đập khủng khiếp không chỉ để trừng phạt
kẻ dám trốn đi mà còn như một màn răn đe những dân phu đang làm việc
Miền núi rừng ngoài nước độc, khí rừng, đôi khi lại bị ác thú như voi điên, cọp dữ ở trên núi cao về phá phách, giết hại con người, tàn phá nương rẫy, hoa màu, cây cối mới trồng Cảnh tượng con voi điên một ngà, húc đổ nhà cửa, hoa lợi của người Thượng, hay một cọp dữ về tàn phá cả khu rừng, gây kinh hoàng, khiếp đảm cho mọi người
Trước bao nhiêu khổ đau diễn ra trước mắt, trước nỗi bất lực và chán chường của cậu thiếu niên mười sáu tuổi, cậu tìm cách rời bỏ nơi rừng núi này, để về lại đồng bằng Nhưng cậu lại gặp sự cản trở của mụ chủ Mụ không muốn ai thích thì đến, chán thì đi Mọi quyết định đi hay ở là do quyền sinh sát của mụ Thầy thông phải cầu cứu bà cô và người con trai của người cô
Trang 29Anh ta đang giữ vai trò quan trọng và tín cẩn của tên tình nhân mụ chủ Anh viết thư cho mụ, xin mụ cho thầy về để tiếp tục việc học Có thế thầy thông mới được ra đi, về miền xuôi
Buổi chiều từ biệt núi rừng, từ biệt người con gái tên Liêu, trời đất như cảm động, nổi cơn bão rừng dữ dội Thầy thông và cô Liêu như đuổi bắt nhau trong mưa bão, giữa cảnh đổ nát của cây cối ngả nghiêng đầy núi rừng Một cuộc chia ly ướt át và nát tan từ lòng người đến cảnh vật chung quanh Thầy thông về lại miền xuôi, gặp lại hai người phu đồn điền trẻ tuổi đã trốn được qua bao săn đuổi của bọn mật thám do mụ chủ thuê Họ đã tìm lại được tự do
Bão rừng cho thấy một lòng vị tha hiếm có của nhà văn Ông luôn lên
án sự bất công, bóc lột trong xã hội Đồ ng thời ông cũng cực lực phản đối và chống lại sự trả thù phi lý, hèn hạ của người làm trong nhà mụ chủ La khi họ nhổ tóc con bé Rô Dết, con của mụ chủ, làm cho đứa bé đau đớn khóc thét lên
mà không để lại dấu vết nào để mụ chủ tìm ra
Qua tác phẩm ta thấy hiện lên một con người tài hoa, thông minh, một trí thức có tư cách vững vàng, có nhân cách cao thượng giàu lòng vi ̣ tha, chấp nhận đói khổ, đau thương, không qụy lụy trước cường quyền, vật chất Ông luôn chống đối lại các thế lực thực dân bóc lột, hãm hại người dân nghèo, thấp cổ, bé miệng; chống lại chế độ độc tài thối nát Với ông, quyền lực, tiền tài, danh vọng, tất cả rồi theo thời gian, sẽ đi qua, cái còn lại, để mọi người nhớ đến là sự chân thật, cái thiện và cái đẹp của con người trong cõi nhân sinh Suốt đời ông đi tìm lý tưởng công bằng xã hội
1.3.2.2 Tiểu thuyết Kì nữ họ Tống
Kỳ nữ họ Tống là câu chuyện về Tống Thị, người đàn bà có thật, từng
chọc trời khuấy nước trong lịch sử xứ Đàng Trong nửa đầu thế kỷ XVII, dưới thời các chúa Hy Tông (Nguyễn Phước Nguyên - chúa Sãi), Thần Tông
Trang 30(Nguyễn Phước Lan - chúa Thượng) và Thái Tông (Nguyễn Phước Tần - chúa Hiền)
Chính sử triều Nguyễn chỉ có vài dòng vắn tắt cho biết bà Tống là vợ công tử Nguyễn Phước Kỳ, trấn thủ Quảng Nam, con dâu chúa Sãi, chị dâu và tình nhân của chúa Thượng, về sau tư thông với Chưởng dinh Nguyễn Phước Trung (em ruột chúa Thượng) mưu toan phế truất, bị chúa Hiền xử tử Dù bị liệt vào loại "nghịch thần", song sách sử cũng không thể không khen ngợi nhan sắc tuyệt trần cùng tài ăn nói của bà Tống Từ cái lõi lịch sử ấy, Nguyễn Văn Xuân đã dày công xây dựng nhân vật Tống Thị thành một người đàn bà ghê gớm làm khuynh đảo thiên ha ̣ Cũng như những người đàn bà lừng danh trong lịch sử, Tống Thị của Nguyễn Văn Xuân hành động theo sức đẩy của hai tham vọng lớn: quyền lực và của cải Hai mặt này thống nhất với nhau, bổ trợ nhau trong tính cách của Tống Thị Để đưa con trai lên ngôi chúa, bà không từ thủ đoạn nào, bất chấp luân thường đạo lý Để làm giàu, bà lợi dụng quyền lực và câu kết với gian thương, ra sức bóc lột nhân dân, trực tiếp hoặc gián tiếp, tạo nên một gia sản nhất nhì ở Đàng Trong, giàu chỉ kém Chúa Thương trường nghiệt ngã dường như càng làm cho bà thêm ý chí, nghị lực
và thủ đoạn để vươn lên
Nhân vật Tống Thị là sản phẩm của một thời đại đặc biệt trong lịch sử
Để củng cố vương triều trong cuộc chiến tranh liên miên với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn Đàng Trong một mặt xây dựng chính quyền quân sự mạnh mẽ và độc đoán, nhưng mặt khác áp dụng chính sách mở cửa giao thương với bên ngoài, thúc đẩy công thương nghiệp, mở rộng bờ cõi về phương Nam, lấy sự phồn vinh về kinh tế để củng cố guồng máy chính trị hà khắc Những đặc điểm đó của lịch sử dường như hội tụ ở nhân vật Tống Thị
mà ngòi bút Nguyễn Văn Xuân làm cho có xương có thịt, có sức quyến rũ đến mức khó có thể phán xét nhân vật này là tốt hay xấu Người đọc không thể
Trang 31không phê phán những hành vi phản dân hại nước cốt để giành địa vị và làm giàu của Tống Thị, nhưng mặt khác cũng dễ dàng thông cảm với phản ứng của một người phụ nữ nhằm khẳng định quyền sống và vị trí trong một xã hội
vô luân, ghê tởm Người đo ̣c vừa lên án cái lòng tham của bà ta vừa lại có thể đồng tình với những lý lẽ sắc bén của Tống Thị đối với vương triều thời bà sống Có điều đáng ghi nhận rằng, cuốn tiểu thuyết được xây dựng từ một khối lượng tư liệu đồ sộ, một kiến thức uyên thâm về một giai đoạn còn ít người biết tới trong lịch sử dân tộc, khiến cho nó có sức hấp dẫn đặc biệt Nhiều ý tưởng và kiến giải của Nguyễn Văn Xuân lồng trong ngôn ngữ của nhân vật vẫn có tính thời sự ngay cả bây giờ
Là tiểu thuyết lịch sử, Kỳ nữ họ Tống khá thành công trong việc tái hiện
không khí của một thời đại Nhưng không chỉ có thế, những biến cố lớn lao của đất nước được thể hiện qua số phận cá nhân, quyện với tình yêu, tham vọng, mưu đồ, hành động cùng với những chi tiết, tình huống phức tạp đã trở thành một thứ bi, hài kịch của cuộc sống muôn màu muôn vẻ mà ngay đến bây giờ người đọc vẫn có thể tìm thấy những điều để tâm đắc, để suy ngẫm
1.3.2.3 Tập truyện ngắn Dịch cát
Tiếp theo chân Bão rừng, tập truyện ngắn Dịch cát đã khiến tên tuổi
Nguyễn Văn Xuân rực rỡ trên văn đàn Đây là một tập truyện ngắn chọn lọc trong vòng 10 năm sáng tác của ông, tính từ 1956 đến 1966 Tác phẩm gồm 8
truyện: Cây đa đồn cũ, Buổi tắm tất niên, Dịch cát, Một cuộc tấn công, Xóm
Mới, Con “hiện sinh”, Tiếng đồng, Chạy đua với tử thần Mỗi một truyện có
sức hấp dẫn riêng, thu hút người đọc bằng những tình tiết bất ngờ
Cây đa đồn cũ vào truyện bằng một trận bão lụt “trời đất câm lặng,
nhường tất cả vang động cho dòng nước với những tiếng đất lở ầm ầm, với tiếng mõ, tiếng trống mơ hồ vẳng lên xa xa” [43, tr.365] để rồi trên mặt nước mênh mông trắng xóa, anh Năm Cụt, một nông dân, mất một cánh tay trong
Trang 32một trận đánh, mà chính anh không tham dự ở phe nào, đóng bè chuối để
“xuôi về bến Điện” Trên đường xuôi dòng, anh Năm Cụt thong dong, bình
thản như một người lạc quan, yêu đời với “cơm nắm, muối mè và một ít thịt rang gói trong lá chuối khô” Trong cảnh trời nước mênh mông, một mình một bè, Năm Cụt gặp một người xin quá giang tên Cát Anh chấp thuận Cuộc hành trình với hai người trở nên vui vẻ hơn Họ nói chuyện, họ bổ túc cho nhau những nhận xét về thiên nhiên, cảnh vật gặp trên sông nước Rồi Cát đưa ra những nhận định khá bi quan nhưng cũng có phần xác thực của mình Câu chuyện cứ thế cho đến khi chiếc bè được điều khiển đến gần khu vực đồn Xã Bường, nơi có một cây đa, mà Cát từng bị bắt giam tại đó ba tháng trời, suýt bị xử bắn trong nghệ thuật hành quyết thật dã man của người Pháp
“Cây đa bây giờ đã chết khô” nhưng không ai dám chặt bỏ vì sợ những oan
hồn
Trong Buổi tắm tất niên, Lão Cửu là môt tay giàu có nghiện thuốc
phiện đến nỗi “cái thân già mỏng tẹt như tờ giấy”, khi lão cởi quần áo thì
“không đốt xương nào e lệ giấu hình” Những người nghiện thường rất sợ tắm, và lão cũng thế Cứ mỗi năm một lần, mặc cho lão kinh hồn, mặc cho lão
hò hét, kêu gào, dọa dẫm, mặc cho lão vùng vẫy chống cự, bà Cửu cũng phải tắm tất niên cho lão Khi dội nước và kì cọ trên người lão thì “Đất trên mình lão trào ra như thể quả lão là cát bụi Cát bụi trở về cát bụi!”
Dịch cát là câu chuyện thương tâm về một cái xóm nghèo đang bị
“rộn” bởi dịch bệnh “ở đâu cũng vang ra những tiếng rên, tiếng rên khe khẽ hay thống thiết rồi tất cả lại chết lịm khi ngọn gió biển rào rào thổi qua.” Trong trận dịch ấy nhà chị Sinh cũng có hai người đang rên rĩ vì đau đớn là chị và chồng chị “Hai tay ôm chặt thái dương, chị nằm nghẹo đầu trên chiếc giường xiêu vẹo và miệng không ngớt phát ra những tiếng khò khè như người lên cơn sốt nhưng không sốt toàn thân thể mà chỉ đau trĩu cả đầu.” Cuối cùng,
Trang 33không thể cưỡng lại được sức quật của bệnh tật, chồng chị đã chết đi trong trạng thái không có mảnh vải che thân và đặc biệt là không có một mảnh vải
để buộc miệng Và chị cũng đã ngừng thở khi chiếc răng cắn lủng chiếc khăn
để buộc miệng cho chồng nhưng không kịp
Một cuộc tấn công là câu chuyện kể về sự phản ứng của nhóm tù binh
thuộc địa trên đất Châu Phi Một buổi sáng vừa ngủ dậy chưa kịp nhảy xuống giường họ đã thấy xe nhà binh chở mấy chục lính xồng xộc kéo nhau vào trại giam những người tù binh Việt Nam để làm vệ sinh Họ tự do sai lính da đen
đè đầu những người tù binh Việt Nam xuống để cắt tóc Những tù binh Việt Nam ra sức chống cự bởi họ quan niệm “Không thể để chúng nó muốn làm gì thì làm! Da trắng hay da đen cũng mặc Chúng cũng không có quyền chận đầu người ta xuống” Họ hè nhau lại xông vào giải cứu cho đồng bào “Thế là lần đầu tiên, dân Việt Nam đại phá liên quân Hắc Bạch để giải cứu các nạn nhân” Nhưng họ cũng đã từng chứng kiến cuộc đàn áp lính Đức nên họ họ chuẩn bị tinh thần cho một cuộc tấn công đẫm máu của người Anh Suốt ngày hôm đó, tù binh người Việt luôn luôn phập phồng chờ đợi cuộc đàn áp tàn nhẫn Và mãi đến sáng hôm sau thì họ bị tấn công thật Nhưng cuộc tấn công
ấy không phải là cuộc tấn công đẫm máu như họ nghĩ và chuẩn bị tinh thần
mà là cuộc tấn công để hớt tóc, tắm rửa, giặt hấp mền, mùng, áo quần, giày, bít tất, ba lô….của họ để diệt trừ chí, rận
Còn Xóm Mới là câu chuyện về tình làng nghĩa xóm, về tính cộng đồng
“bầu ơi thương lấy bí cùng” của người dân xứ Quảng Dù trong ngày thường
họ có xích mích gì với nhau, có ghẻ lạnh với ai đi chăng nữa thì trong cơn hoạn nạn dường như tất cả những điều đó đều tan biến hết Họ quên hết và trong họ chỉ còn sự thương yêu giúp đỡ, chia sẻ, đùm bọc lẫn nhau
Trong Con “hiện sinh”, sự vị tha, cảm thông, chia sẻ, thương yêu của
người phụ nữ đối với tình địch của mình làm sáng lên những phẩm chất tốt
Trang 34đẹp của người phụ nữ Quảng Nam Nó cũng chính là tấm gương để con người
ta soi vào và thanh lọc tâm hồn mình để trở nên cao thượng hơn, trong sáng hơn và hơn cả là làm cho người gần người hơn
Tiếng đồng cho thấy một nét văn hóa của người Quảng Nam được miêu
tả qua làng ngề truyền thống đúc đồ đồng ở P.K Trong đó tác giả tập trung ca ngợi những người nghệ sĩ hết sức đặc biệt, đó là họ có tài nghe tiếng đồng
“Hình như anh không chỉ nghe tiếng chiêng bên ngoài mà còn nghe vọng tiếng chiêng trong tâm hồn anh Đôi mắt của anh mang nặng một sắc màu rừng rú rất khó tả mà đôi môi thì rung rung như đang muốn phát ra những âm thanh nào tương ứng.”
Trong Chạy đua với tử thần, tác giả cho thấy cảm xúc rất đời thường,
rất thực của con người khi đứng trước ranh giới giữa sự sống và cái chết, khi đứng trước sự chọn lựa một mất một còn hoặc họ hoặc người khác Họ cũng
có thể ti tiện với nhau, dẫm đạp lên nhau để mình được tồn tại Đồng thời tác phẩm còn cho thấy rõ sự quái ác của bọn thực dân và tay sai khi coi tính mạng đồng bào ta như trò chơi, như cỏ rác
Có thể thấy, tập truyện Dịch cát là những câu chuyê ̣n rất chân thực, số ng động về cuô ̣c số ng và con người của vùng đất xứ Quảng mô ̣t thời Tác phẩm làm sáng lên những mẩu đời thường của con dân đất Quảng Nam Sự nghèo đói, bệnh tật cùng những khốn khổ, nhục nhằn đến từ thiên tai, từ giới chức chính quyền được ông vẽ ra một cách trung trực, không cường điệu Những cảnh đời được dựng lên với đầy đủ những dáng vẻ hiện thực của một cuộc sống nông thôn còn vô cùng lạc hậu
1.3.2.4 Tập truyê ̣n Hương máu
Với tinh thần bất khuất hiên ngang của người dân Quảng Nam, với tấm lòng thủy chung sắt son với người thân, với quê hương đất nước của người dân xứ Quảng, Nguyễn Văn Xuân đã đưa họ vào tác phẩm của mình với tất cả
Trang 35sự chân thật và sinh động nhất Tập Hương máu (1969) là tập truyện kí về
những cái chết anh hùng hiên ngang bất khuất, đôi khi lạnh lùng của người Quảng Nam, những cái chết để lại trong lòng bao thế hệ sự khâm phục và cả niềm day dứt không nguôi
Tác phẩm gồm 7 truyện ngắn: Hương máu, Viên đội hầu, Thằng Thu,
Về làng, Cái giỏ, Chiếc cáng điều, Rồi máu lên hương
Hương máu tập trung ca ngợi sự hi sinh cao cả vì dân, vì nước, vì
Nghĩa Hội của hai bậc anh hùng xứ Quảng là Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến Để bảo toàn sinh lực, ý chí Hội chờ cơ hội hoạt động trở lại, các ông tự nguyện hi sinh, mỗi người một cách Sự hi sinh của họ để lại tiếng thơm muôn đời và làm gương, làm động lực cho những người còn sống tiếp tục hoạt động, tiếp tục chiến đấu
Truyện Viên đội hầu ca ngợi những tấm gương trung quân ái quốc
Quan Tổng đốc Hoàng Diệu treo cổ tự vẫn vì đại cuộc không thành Viên đội hầu với lòng trung thành đã tự sát bên thi hài quan Tổng đốc
Thu trong truyện Thằng Thu là một tên tử tù được đưa ra bãi chém ven
sông Thu Trước giờ phút vĩnh viễn lìa đời, người tử tù vẫn ngông nghênh ca hát một cách say sưa Tiếng hát vang làm xôn xao hết cả đám đông lẽo đẽo đi theo kiệu tử tù Và “Đám rước người đi chết hóa thành đám rước vui, một niềm vui người ta có thể hưởng ứng bằng tất cả cay đắng nhất của tâm hồn.”
Trong Về làng, ông Tú Bình là người có tài học lỗi lạc, được tất cả dân
làng xem như bậc cha mẹ Ông có cái tình như máu mủ với dân làng Ông là một tử tội phải thọ hình Đến lúc chết, con người ấy cũng muốn chết ngay trên
chính làng quê của mình vì “ông muốn thấy lại quê hương lần cuối cùng”
Đến chết, ông vẫn không quên lo lắng cho quê hương, cho thế hệ sau Ông dặn các bô lão: “Tôi vì việc nước mà xả thân thì chẳng có gì đáng ân hận, tôi
Trang 36chỉ đau đớn là không thể làm hơn được […] Xin các cụ ở lại thay tôi mà chăn dắt con em để cho làng ta được mãi tiếng thuần lương.”
Với tình yêu quê hương, với ý thức tự chủ, tự bảo vệ, trong truyện Cái
giỏ, tác giả cho người đọc thấy rằng, khi bị đàn áp, bị cướp bóc, bị hãm hiếp,
bị giết hại vô tội, dân làng ven sông Thu Bồn ai cũng có thể tự biến thành quân du kích để chống lại kẻ thù Và trong những lúc cần thiết, họ sẵng sàn hi sinh bất cứ thứ gì dù là quý giá Để việc phục kích giết Tây được thành công, nhân vật Bốn trong truyện sẵn sàng đập chết con chó mực có bốn đeo, lông đen tuyền mà anh vô cùng yêu quý vì tiếng sủa của nó có thể làm ảnh hưởng đến đại cuộc Việc chặt đầu Tây đã thành công và họ bừng bừng khí thế mang đầu Tây đến để được đầu quân ông Hường Lúc Bốn mang cái giỏ đựng đầu lâu và sắp bước lên thuyền cũng là lúc tiếng ngựa hí vang, quân Tây tấn công đốt phá làng xóm Họ vội vã lên thuyền và chẳng may Bốn bị ngã xuống sông theo cái giỏ Đến đêm hôm sau, khi biết Tây đã rút về Vĩnh Điện, mọi người chờ đến khuya mới lại qua sông và bắt đầu đi tìm xác Bốn Khi xác bốn được nâng lên khỏi mặt nước thì “Lủng lẳng nơi cánh tay mặt co gấp lại, chính là cái giỏ tre ở bên trên vẫn còn nguyên nải chuối lùn Cánh tay co quắp, bắp thịt
đè lên, ép chặt cái quai xách tưởng chừng như không bao giờ rời ra, không rời trong lúc sống, không rời cả khi chiến đấu với tử thần”
Chiếc cáng điều cho thấy sự khẳng khái của ông Tán và nỗi niềm của
ông Học trước những biến động của quê hương đất nước khi người thực sự có tài năng như ông Tán sắp bị thọ tội Cái tin chiếc cán điều đang dần tiến về làng D.C đã làm náo động cả khu vực, bởi vào thời điểm này sự xuất hiện của chiếc cáng điều là báo hiệu một biến cố lớn Khi biết chiếc cán điều đó là của ông Tán vì ông Hường gọi ông Tán về gấp, lòng ông Học vô cùng khó tả Ông Học vẫn thấy bất an và nặng trĩu mặc dù nghe con nói ông Tán bảo rằng:
Trang 37Lòng cụ như son thì ở đâu cũng đỏ Vả chăng, trong cuộc chung nhau kháng địch, mà kẻ tin, người nghi là dễ tan lực lượng, dễ bị ly gián Cụ quyết định về chuyến này để trình mọi việc với cụ Hường, hoặc đặt hết lòng tin nơi cụ mà giao phó công việc, hoặc nghi thì giết đi
là xong Cụ chết rồi, cụ Hường tất đặt người tín thay thế thì mặt trận miền Tây mới giữ vững được
Mấy ngày sau khi nghe tin chiếc cán điều từ núi trở xuống lòng ông rộn ràng những cảm xúc rạt rào Nhưng cảm xúc đó vừa mới đến thì đã vội tan khi “ông Học mới khẽ vén tấm diềm thiêu hoa điểu, ghé mắt dòm vào để xem ông Tán ngủ thế nào” thì trong chiếc cán, ông Học nhận thấy một điều thất thường là “cái đầu ông Tán lăn qua lăn lại rất nhanh trong khi cái mình vẫn bất động”
Rồi máu lên hương ca ngợi tình yêu tha thiết mãnh liệt, thủy chung son
sắc của bà Nguyễn Thị Băng, vợ ông Thái Phiên Ho ̣ cưới nhau mới được một ngày và vĩnh viễn xa nhau Với tình yêu sâu nặng, với khát khao được mãi bên chồng, được mãi hòa trộn vào chồng, người phụ nữ ấy đã xõa mái tóc bết hết tất cả những giọt máu của chồng khi chồng bị chém và lưu giữ lại nó xem như là một cái gì đó rất thiêng liêng Rồi theo thời gian, máu đã lên hương, cái mùi hương mà người khác ngửi thấy không khỏi rùng mình, không khỏi xót xa đau lòng Nhưng với Nguyễn Thị Băng, đến lúc chết đi vẫn nhất quyết không cho ai gội mái tóc của mình vì đó là thứ duy nhất để nàng gần gũi chồng lúc sống và cả khi vĩnh viễn rời bỏ cõi đời
Hương máu là tập truyện viết về những cái chết “khiêm tố n của những
con người ở miền xương xẩu của đất nước Viê ̣t Nam” Sự từ giã cõi đời của
họ dưới mắt nhà văn đều có những nét cần ghi lại Tác phẩm vừa có giá trị nghệ thuật vừa chứa đựng một số tình tiết lịch sử trong giai đoạn người Pháp
Trang 38mở đầu cuộc xung đột với các vua nhà Nguyễn, trước khi áp đặt chế độ cai trị trên toàn cõi Việt Nam
Tó m la ̣i, Nguyễn Văn Xuân là nhà văn xứ Quảng đa tài, đă ̣c biê ̣t đâ ̣m
tình quê hương và am hiểu sâu sắc văn hoá xứ Quảng Cả cuô ̣c đời ông sống hết mình cho nghiê ̣p văn Ông luôn có ước mơ và hoài bão lớn về nghiê ̣p văn chương Với những sáng tác văn ho ̣c của mình, ông đã góp phần gìn giữ được
nét văn hoá quê hương xứ sở và bản sắc dân tô ̣c
Trang 39CHƯƠNG 2 CHÂN DUNG CUỘC SỐNG TRONG VĂN XUÔI
NGUYỄN VĂN XUÂN
2.1 Con người xứ Quảng trong văn xuôi Nguyễn Văn Xuân
Nói đến nhà văn Nguyễn Văn Xuân là nói đến những sáng tác về vùng đất và con người Quảng Nam với những nét văn hóa đặc trưng Sáng tác của ông đã làm nổi bật lên chân dung con người xứ Quảng mà tiêu biểu hơn cả là hình tượng nhân vật nữ, người dân quê và người sĩ phu
2.1.1 Hình tượng nhân vật nữ
Có thể nói, phụ nữ là linh hồn của cuộc sống Vì vậy mà hình tượng người phụ nữ là một trong những đề tài lớn có sức hấp dẫn của văn học Trong văn học Việt Nam, hình tượng người phụ nữ chứa đựng nhiều vẻ đẹp
Ở giai đoạn văn học nào, hình tượng người phụ nữ cũng tỏa sáng lấp lánh với những nét duyên đằm thắm, dịu dàng, tinh tế, tha thiết, thủy chung, son sắt và cũng hết sức anh hùng, trung hậu, đảm đang, bất khuất
Viết về phụ nữ, về vẻ đẹp của họ, Nguyễn Văn Xuân đi sâu khai thác những bản chất thật, đời thường của nhân vật Những người phụ nữ trong tác phẩm của ông thường có ngoại hình đẹp, cá tính sắc sảo thậm chí có người cũng hết sức lẳng lơ Họ thường lợi dụng nhan sắc của mình để đạt được tham vọng; hoặc những người phụ nữ với những khát khao đời thường khi những người chồng quá cộc cằn khô khan không thể thỏa mãn được đời sống tâm
sinh lí của họ Điều này có thể thấy rất rõ ở nhân vật trong Bão rừng và Kỳ nữ
họ Tống
Nhân vật bà chủ La trong Bão rừng được nhìn dưới con mắt của chàng
thanh niên 16 tuổi:
Trang 40Vào dạo ấy, “bà chủ” đã trên ba mươi lăm Trông bà trẻ hơn tuổi, nhưng có một vẻ gì tự cao, sang trọng Bà ta có đẹp không? Tôi không hiểu song có điều chắc chắn là bà đẹp hơn tất cả những người đàn bà tôi gặp quanh bà Và tự nhiên nhìn con người cao lớn, mập mạp, hai mà căng ra và đỏ hồng dưới phấn son tươi thắm, tôi bất giác nghĩ: “Đây là một người chỉ đẹp lúc về già”
Từ khi lấy Tây, cái nguồn gốc dân dã của bà chủ La dường như dần biến mất Và trong cuộc sống đầy đủ sung túc, người phụ nữ thường sẽ đầy đặn hơn, tròn trịa hơn và hấp dẫn đàn ông hơn Bà không ngừng phát huy tất
cả những gì là lợi thế đó của mình để kiếm tiền, hái tiền Chính vì vậy mà bà sẵn sàng cắm sừng chồng và gần như công khai quan hệ với ông chủ Mẹc, lợi dụng quyền thế của ông Mẹc để bà bóp cổ phu phen nơi đồn điền Càng ngày
bà càng trở nên sắc sảo, tinh khôn, lõi đời:
Tôi chăm chú nhìn khám phá ra cái “nguồn gốc”, dân dã, nghèo nàn, khốn khổ của mụ Thú thật, tôi thấy dĩ vãng chẳng còn để chút dấu vết nào trên những bộ phận ngoài áo quần Mụ lấy Tây đã bao nhiêu năm?
Có lẽ trên vài mươi năm; thời gian ấy đủ để biến những ngón tay chân thô cứng thành tròn trịa, trắng phau, điểm những chút vàng ngọc cho thêm giá trị Và cũng đủ để khuôn mặt chất phác đầu tiên biến thành một kẻ giàu lõi, tinh khôn, liếng xáo
Cũng sắc sảo không kém, nhưng không chua ngoa, đanh đá như bà chủ
La trong Bão rừng, người phụ nữ trong Kì nữ họ Tống thì lại hết sức mềm
mại, nhẹ nhàng Cái đẹp của hình thể cô ̣ng cái nhẹ nhàng khéo léo trong cách
cư xử khiến người ta đến sợ:
Một thân hình đàn bà loã lồ, trong trắng như ánh trăng, uyển chuyển như cành mai, ngồi tựa tay vào chiếc gối xếp, đang từ tốn đưa món ăn, thứ c uống cho mô ̣t cái đầu rũ rươ ̣i đă ̣t trên vế nàng Tôi biết ngay đó là