Văn Thạch Lam có đánh dấu lại được cái tâm hồn xúc tích rộng rãi và tiến bộ của một nhà văn chân chính "2 Còn Phan Cự Đệ trong lời nói đầu của tổng tập Văn học Việt Nam Tập 29A đã gọi T
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn : PTS Huỳnh Như Phương
Người thực hiện : Phan Quốc Lữ
-Thành phố Hồ Chí Minh 1997-
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn : PTS Huỳnh Như Phương
Người thực hiện : Phan Quốc Lữ
-Thành phố Hồ Chí Minh 1997-
Trang 4MỤC LỤC
DẪN LUẬN 1
I MỤC ĐÍCH CỦA LUẬN ÁN 2
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2
III GIỚI HẠN PHẠM VI VẤN ĐỀ: 14
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
V CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN 15
CHƯƠNG MỘT: 17
HIỆN THỰC VÀ LÃNG MẠN TRONG VĂN XUÔI TRỮ TÌNH 17
1 1 Chất hiện thực 17
a) Cuộc sống hiu hắt xám mờ với một không gian ngập tràn bóng tối, lụi tàn và sa sút 18
b) Những số phận mỏi mòn, bất hạnh 23
1 2 Chất lãng mạn 28
a) Cái nhìn thi vị đối với cuộc đời 28
b) Sự ưu tiên cho việc bộc lộ cái "tôi" duy cảm 33
1 3 Sự kết hợp nhuần nhụy giữa chất hiện thực vả chất lãng mạn 37
CHƯƠNG II 42
CHỦ THỂ TRẦN THUẬT TRONG VĂN XUÔI TRỮ TÌNH 42
2 1 Các phương thức trần thuật: 43
a) Phương thức trần thuật chủ quan : 43
b) Phương thức trần thuật khách quan: 51
2 2 Điểm nhìn trần thuật 55
2 3 Tự sự "phi cốt truyện " 59
CHƯƠNG III: CHẤT THƠ VÀ GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT 65
TRONG VĂN XUÔI TRỮ TÌNH 65
3 1 Thơ trong văn xuôi 65
a) Chất thơ của cuộc đời thưởng nhất 65
b) Chất thơ của tâm hồn 70
c) Chất thơ trong những bức tranh thiên nhiên 72
3 2 Giọng điệu nghệ thuật 79
a) Giọng điêu Thạch Lam: một giọng điệu nhỏ nhẹ, tâm ánh và đằm thắm 80
b) Giọng điệu Hồ Dzếnh: chân thực, từ tốn với một niềm thương cảm day dứt 82
c) Giọng điệu Thanh Tịnh: trầm lắng, dịu ngọt, phảng phất nỗi buồn man mác 84
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 5DẪN LUẬN
Trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học, có một hiện tượng khá lý thú và phức tạp Đó là sự thâm nhập lẫn nhau, sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các thể loại văn học trong một chỉnh thể sống động của văn học từng thời đại Tình hình đó đã tạo nên những phân hóa, những biến thái, những xu hướng khác nhau, trên cơ sở nòng cốt của những đặc điểm chủng loại
Ở đây khó có thể phân định hoặc tách bạch một cách rạch ròi cái tình trạng nhập nhằng giữa các yếu tố khác nhau của các thể loại cùng thâm nhập Nó tạo nên những vùng
"giao thoa" xen kẽ, lồng trong nhau như một chỉnh thể thống nhất toàn vẹn, mà ở đó tất cả những đặc điểm vốn có của thể loại này hay thể loại khác, dường như đều phải có những thay đổi, những biến thái để phù hợp với cái chỉnh thể nghệ thuật mới này
Văn xuôi trữ tình có lẽ nằm ở một dạng thức pha trộn và chuyển hóa như vậy Đó là một loại hình văn xuôi về cơ bản vẫn mang những đặc điểm của một tác phẩm tự sự, nhưng lại bao gồm những đoạn mang tính chất trữ tình, những suy nghĩ mang tính cảm xúc của tác giả thâm nhập vào câu chuyện về các biến cố Trên dòng phát triển của cốt truyện và nhân vật, tác giả đã khéo léo cùng hiện diện - không phải với tư cách "khách quan hóa " tối đa vai trò của mình - mà luôn bộc lộ cái "tôi" một cách trực tiếp trữ tình Đôi lúc biến cố và cốt truyện như ngừng lại để người viết tự bộc lộ Ở đây yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình được kết hợp ở mức "ngang quyền như nhau" ( chữ dùng của Pospelov ) tạo thành một "hợp chất" hài hòa thống nhất
Việc nhận diện một loại hình văn xuôi ở một giai đoạn văn học với tất cả những đặc điểm thẩm mỹ riêng biệt của nó là một hướng tiếp cận cần thiết để có thể bao quát một giai đoạn văn học trong bức tranh toàn cảnh, cũng như những xu hướng, những vệt khác nhau với những giọng điệu thẩm mỹ khác nhau
Với luận án "đặc điểm văn xuôi trữ tình thời kỳ 1932 - 1945"(Qua khảo sát tác phẩm của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh) chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu, nhận diện và bước đầu xác lập những đặc điểm thẩm mỹ mang tính đặc thù của một trong những loại hình văn xuôi của thời kỳ 1932 - 1945
Trang 6I MỤC ĐÍCH CỦA LUẬN ÁN
Giai đoạn 1932 - 1945 là giai đoạn văn học dân tộc phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa Chỉ hơn mười năm ngắn ngủi đã đồng thời xuất hiện rất nhiều tổ chức, nhiều xu hướng, nhiều trường phái văn học khác nhau Điều đó đã tạo cho đời sống văn học thời kỳ này một bộ mặt phong phú, đa dạng và nhiều màu sắc, nhiều xu hướng sáng tạo khác nhau với nhiều phong cách nghệ thuật đầy tài năng
Trong bối cảnh chung đó Thạch Lam và sau đó là Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, đã xuất hiện như một xu hướng sáng tác có những đặc điểm riêng biệt, tạo thành một khu vực riêng
Đó là sự du nhập chất trữ tình tinh tế vào lĩnh vực văn xuôi, làm cho truyện ngắn trở thành
"những bài thơ văn xuôi" thấm sâu vào hồn người
Việc khảo sát loại hình văn xuôi trữ tình ở giai đoạn này là nhằm góp phần nghiên cứu một bộ phận văn học đã tạo thành một hướng sáng tạo đặc sắc Mục đích của người thực hiện luận án này là nhằm tìm hiểu những đặc điểm của loại hình văn xuôi trữ tình trên cơ sở thu thập những tư liệu, những bài nghiên cứu, phân tích những tác phẩm cụ thể cùng loại của
ba tác giả: Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh
Luận án là sự cố gắng của người viết theo hướng: đặt ba tác giả trong cùng một khu vực để xem xét, nhằm xác lập một đường dây liên hệ giữa ba tác giả, trên cơ sở của tính cộng đồng loại hình về mặt văn học cũng như khuynh hướng thẩm mỹ - nghệ thuật; đặng thoát khỏi tình trạng lúng túng khi xem xét tác phẩm của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh dưới góc độ của phương pháp sáng tác
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nhìn một cách bao quát thì những tác phẩm của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh
đã có một vị trí tương đối ổn định trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại Sáng tác của ba tác giả đã được đề cập khá đầy đủ và có chiều sâu rất đáng kể Xuất phát từ nhiều góc độ, với những cách tiếp cận và lý giải khác nhau nhưng các ý kiến xoay quanh vấn đề này đều tương đối thống nhất và thuần nhất Nó như một bằng chứng cho sự định giá xứng đáng và công bằng trong dư luận Những sáng tác này ít có những biến thiên, ít phải chịu một số phận thăng trầm như sáng tác của những nhà văn khác cùng thời ; ít có những đánh giá khen chê trái ngược nhau và cùng nằm trên một chiều hướng thuận Điều đó đã khiến cho các ý kiến đánh giá từ trước đến nay về Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh có nhiều chỗ gặp nhau, gần gũi nhau, ít có những biến thiên với biên độ giao động
Trang 7lớn Tọa độ và giao điểm của sự hòa hợp ấy được thể hiện trên những vấn đề cơ bản đáng lưu
ý sau đây:
2 1 Về loại hình tác giả văn học
Đã có nhiều ý kiến xoay quanh vấn đề này và trên bình diện khuynh hướng thẩm mỹ - nghệ thuật, các ý kiến đều tìm thấy nét tương đồng gần gũi tạo nên sự cộng đồng về loại hình tác giả và tác phẩm của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh Nó như một xu hướng riêng với những đặc điểm khó lẫn trong dấu ấn hiện diện của người sáng tác tạo thành một "kiểu tác gia" đặc thù Các nhà văn, nhà nghiên cứu như Vũ Ngọc Phan, Khái Hưng, Nguyễn Tuân, Trần Hữu Tá, Vũ Quần Phương, Phong Lê, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung đều có xu hướng xếp Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh vào chung một xu hướng của văn chương lãng mạn
Tác giả của "Nhà văn hiện đại'' đã xếp sáng tác của Thạch Lam vào loại "tiểu thuyết tình cảm" và mệnh danh người viết ra chúng là "một tác giả theo chủ nghĩa duy cảm" Ông
viết: "Những truyện ngắn của Thạch Lam ta thấy có nhiều đoạn mà cảm tình, cảm tưởng hay cảm giác có một vị trí rất quan trọng nhiều khi là then chốt cho cả một truyện" và " trong truyện ngắn, truyện dài của ông tình cảm đều có một vị trí đặc biệt" (1) Mặc dù có thể chưa thống nhất lắm với Vũ Ngọc Phan về tiêu chí phân loại, nhưng không thể không nhận thấy tầm quan trọng và vị trí đặc biệt của cảm giác, tình cảm trong văn Thạch Lam -như là một đặc điểm nổi trội, mang tính hướng nội rất tinh tế
Cùng trên một chiều hướng cảm nhận, Nguyễn Tuân trong bài "Thạch Lam" (1957) cho rằng:"Thạch Lam hay đi vào những cảnh ngộ nghịch trái, đồng thời cũng đi sâu vào tâm trạng, tâm tình, cảm giác, cảm xúc Văn Thạch Lam có đánh dấu lại được cái tâm hồn xúc tích rộng rãi và tiến bộ của một nhà văn chân chính "(2)
Còn Phan Cự Đệ trong lời nói đầu của tổng tập Văn học Việt Nam (Tập 29A) đã gọi
Thạch Lam là một tác giả "đi sâu vào cảm giác tế vi, vào thế giới bên trong của tâm hồn con người" là tác giả của "cốt truyện tâm lý" và gọi tên cho sáng tác của Thạch Lam là "bút pháp hiện thực mang màu sắc tình cảm "(3)
Nhìn trên bình diện văn phong nghệ thuật, Văn Tâm nhận thấy: "cái văn phong khó
lẫn của tác giả "Gió đầu mùa" là tính duy cảm nổi bật trong tâm hồn người viết"
(1)
Vũ Ngọc Phan Nhà văn hiện đại Nhà xuất bản Thăng Long Sài Gòn - 1960, Trang 1149
(2) Nguyễn Tuân : Thạch Lam (Tuyển tập Thạch Lam NXB Văn Học Hà Nội 1988 Trang 323
(3) Phan Cự Đệ:Khải luận Tổng tập văn học Việt NamTập 29A NXB KHXH H-1988 Trang 40
Trang 8Khi đánh giá những đóng góp của Thạch Lam vào sự phát triển của văn xuôi trước
1945 Vương Trí Nhàn cũng cho rằng: " tìm vào nội tâm, tìm vào cảm giác" là hướng đi chính của Thạch Lam "với ông tâm lý trở thành cái bí mật lớn nhất cần tìm hiểu"(1)
Có thể nhận thấy sự gặp gỡ của các ý kiến trên đây là ở cùng một hướng nhìn về dấu
ấn của cá tính sáng tạo, qua sự hiện diện, tự biểu hiện của nhà văn trong văn bản nghệ thuật
Đó là một kiểu tác giả cố gắng đi sâu vào miêu tả nội tâm, cảm xúc, cảm giác, cũng như những biến động khẽ khàng tinh tế trong cõi lòng bí ẩn của con người - làm hướng chính cho
sự nhận thức và thể hiện nghệ thuật Ở xu hướng này có thể viện dẫn thêm nhiều ý kiến khác nhau, thể hiện một thái độ bình giá thống nhất
Trong lời giới thiệu cho tập "Gió đầu mùa"(1938) Khái Hưng đưa ra nhận xét: "
Trong văn mình Thạch Lam rất chú ý tới những cảm giác Ở chỗ mà người khác dùng những lời rất đậm để tả cảnh, tả tình thì ông chỉ nói một cách giản dị cái cảm giác của ông ( ) Đọc nhiều đoạn văn của Thạch Lam tôi rùng rợn cả tâm hồn vì sự thành thực"
Nguyễn Hoành Khung trong lời giới thiệu cho bộ "Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930
- 1945" cho rằng: ngòi bút Thạch lam có xu hướng hướng nội, đi vào thế giới bên trong với
những xúc cảm, cảm giác Ông đặc biệt tinh tế khi diễn tả, phân tích những rung động bên trong, những cảm giác mong manh, thoáng qua, những biến thái tế nhị của tâm hồn trước ngoại cảnh Đây là một cây viết có sở trường hướng về thế giới bên trong của cái "tôi" với sự phân tích cảm giác tinh tế
Trong cuộc hội thảo khoa học về Thạch Lam nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày mất của nhà văn (04-07-1992) nhiều ý kiến đã khẳng định và tiếp tục đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu về
sáng tác Thạch Lam Lê Dục Tú chú ý tới "Cách tiếp cận con người trong sáng tác Thạch
Lam" ông quan tâm chủ yếu đến thế giới tinh thần, thế giới nội tâm của con người Bùi Việt
Thắng cho rằng: cái đẹp mà Thạch Lam thiết tha nâng niu và trân trọng là cái đẹp của tâm hồn con người
Phạm Văn Phúc cũng chia sẻ ý kiến này khi viết: " đóng góp lớn nhất của Thạch Lam
là những khám phá tâm hồn, những vẻ đẹp và các dạng tiềm tàng ẩn giấu của nó"(2)
(1) Vương Trí Nhàn: Tìm vào nội tâm, tìm vào cảm giác Tạp chí Văn học Số 6 - 1992
(2) Phạm Văn Phúc : Nghĩ về Thạch Lam Đặc San báo Giáo Viên Nhân Dân Tháng 7 năm 1989
Trang 9Nhìn từ góc độ thi pháp nhân vật, Phạm Thu Hương khẳng định: cái "Tôi" của Thạch Lam là cái "Tôi" tinh thần, cái "Tôi" của những cảm giác, cảm xúc mơ hồ rất khó nắm bắt"(1)
Như vậy có một điểm mà hầu như không một ý kiến nào lại không thừa nhận ở Thạch Lam: đó là một cây bút có sở trường và đặc sắc về phương diện miêu tả nội tâm cảm giác, thế giới tinh thần sâu kín, tinh tế của cõi lòng đầy bí ẩn
Đó như là một tiêu chí để nhận diện đặc điểm loại hình tác giả, đồng thời là phong cách và thi pháp của tác phẩm
Sau Thạch Lam là Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh và một vài tác giả khác đã nối tiếp nhau, tạo thành một vệt chảy rất đáng quan tâm trong bức tranh chung của văn học Việt Nam thời
kỳ 1932 - 1945 Điều khiến các nhà văn này gặp nhau là sự tương đồng, gần gũi trong bút pháp sáng tạo và khuynh hướng thẩm mỹ Việc đặt ba tác giả này bên cạnh nhau trong cùng một khu vực là điều có lẽ hợp lý
Vì thế Vũ Ngọc Phan đã xếp Thanh Tịnh gần "ô" với Thạch Lam khi ông gọi Thanh Tịnh là "nhà tiểu thuyết tình cảm" "thứ tình cảm ở tiểu thuyết Thanh Tịnh là thứ tình êm dịu, nhẹ nhàng, thứ tình của người dân quê hồn hậu Trung kỳ diễn ra trong khung cảnh sông nước, ruộng đồng"(2)
Trên cơ sở của một "điệu tâm hồn" tri âm, đồng điệu mà Thạch Lam trong lời giới
thiệu cho tập "Quê mẹ" (Bút Việt - Sài Gòn in lại 1945) đã chia sẻ cùng với Thanh Tịnh cái
chất thi vị của đồng quê và vẻ đẹp của cuộc đời thôn dã bình dị "Thanh Tịnh đã muốn làm người mục đồng ngồi dưới bóng tre thổi sáo để ca hát những đám mây và những làn gió lướt bay trên cánh đồng, ca hát những vẻ đẹp của đời thôn quê ( ) ca ngợi cái tình thi vị của một vùng và ưu thế của cây viết này là ở chỗ "truyện ngắn nào hay đều có chất thơ và bài thơ nào hay đều có cốt truyện" Nhận xét này đã chạm tới một vấn đề quan trọng - đó là chất thơ -một tố chất thẩm mỹ cơ bản trong truyện ngắn Thanh Tịnh
Trần Hữu Tá trong mục "Thanh Tịnh'' và mục "Quê mẹ" (Từ điển văn học) đã khái quát truyện ngắn Thanh Tịnh " đậm chất trữ tình" "như một bài thơ "vịnh" gọn và có dư vị
Trang 10Nguyễn Đăng Mạnh gọi truyện ngắn Thanh Tịnh "là một bài thơ trữ tình tha thiết" và mệnh danh ông là "nhà văn hiện thực có phong cách lãng mạn đậm nét" và "truyện ngắn của ông có thể xem như một thứ chủ nghĩa hiện thực - trữ tình"(1)
Thanh Tịnh là một nhà thơ khi viết văn xuôi nên các ý kiến đánh giá đều chú ý đến chất thơ, cảm hứng trữ tình, cái thi vị man mác trong truyện ngắn của ông Nó như là một đặc điểm thẩm mỹ quan trọng làm cho ông gần gũi với văn phong và thi pháp của Thạch Lam
Cùng trong một khu vực với những nét khá tương đồng, gần gũi, tác phẩm của Hồ Dzếnh được nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá cho là "mang đậm sắc thái trữ tình hiện thực" "chất thơ thấm đẫm trong từng trang văn tạo nên một phong vị trữ tình ảo diệu ít thấy"(2)
Nhà thơ, nhà phê bình văn học Vũ Quần Phương khi đọc "Hồ Dzếnh" đã có ý kiến "ở
cả thơ lẫn truyện người ta dễ dàng nhận ra một tâm hồn giàu cảm xúc tràn ngập yêu thương trắc ẩn" và ông đã gọi truyện ngắn Hồ Dzếnh là "truyện ngắn trữ tình"(3)
Như vậy trên những nét lớn của bút pháp, của tố chất thẩm mỹ của sự hiện diện của cái "tôi" đậm chất trữ tình, của sự khám phá và thể hiện nghệ thuật, Thạch Lam, Thanh Tịnh,
Hồ Dzếnh thuộc cùng một kiểu loại tác giả Khuynh hướng thẩm mỹ của các tác giả này là nghiêng về tình cảm, cảm giác, hướng nội và thấm đượm một phong vị trữ tình
2 2 Về phương pháp sáng tác
Từ trước đến nay, các công trình, các bài nghiên cứu đều tập trung kiến giải về giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo cũng như dấu ấn hiện thực và dấu ấn lãng mạn trong văn xuôi của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh
Hầu hết các ý kiến đều khẳng định: Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh là những nhà văn lãng mạn mà tác phẩm của họ có nhiều yếu tố hiện thực hay nói cách khác là gần gũi với trào lưu hiện thực ( còn gọi là tả chân ) Điều đó đã khiến cho các ý kiến băn khoăn lúng túng không biết nên xếp họ vào đâu? lãng mạn hay hiện thực? Bởi vì ở một vài phương diện, tác phẩm của các nhà văn này đã thực sự phá vỡ ranh giới trào lưu và phương pháp sáng tác, đánh dấu sự giao thoa, tiếp nối giữa văn học lãng mạn và văn học hiện thực phê phán Vì vậy việc xác định vị trí của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh trong bối cảnh văn học đương thời là điều không mấy dễ dàng
(1) Nguyễn Đăng Mạnh: Lời nói đầu Tổng tập Vãn học Việt Nam Tập 30A
Nhà xuất bản Khoa học xã hội H-1984, Trang 51
(2)
Trần Hữu Tá: Hồ Dzếnh - một hồn thơ đẹp Lời bạt Chân trời cũ
Nhà xuất bản An Giang - 1990, Trang 203
(3) Vũ Quần Phương: Hồ Dzếnh Giáo viên nhân dân Tháng 07/1989
Trang 11Xoay quanh vấn đề xác định chỗ đứng của Thạch Lam, các ý kiến đều gặp nhau ở chỗ: Thạch Lam là một nhà văn thuộc Tự Lực Văn Đoàn, sáng tác của ông nhìn chung vẫn nằm ưong khuôn khổ và quy phạm mỹ học của văn chương lãng mạn nhưng nó có sự khác biệt không ít ở tính chất hiện thực, tiến bộ và nhân đạo Sắc thái nhân đạo và giá trị hiện thực của Thạch Lam được xem như là một yếu tố khu biệt mang dấu ấn rất riêng của tác giả so với các nhà văn khác cùng thời ( kể cả lãng mạn lẫn hiện thực )
Vậy thì Thạch Lam giống và khác gì so với các nhà văn cùng văn phái Tự Lực cũng như các nhà hiện thực? Đây là vấn đề khá lý thú và khó khăn đã thu hút nhiều cách kiến giải
và đã có nhiều kiến giải khá khác nhau Phan Cự Đệ, Phong Lê, Lại Nguyên An thiên về ý kiến cho Thạch Lam là nhà văn lãng mạn mà sáng tác có nhiều yếu tố hiện thực
Phan Cự Đệ cho: "một số truyện ngắn Thạch Lam có khuynh hướng đi về chủ nghĩa hiện thực, ở đó Thạch Lam sử dụng một bút pháp hiện thực khá nghiêm ngặt và tỉnh táo Nó
là một hiện tượng tiêu biểu cho sự phân hóa của văn xuôi lãng mạn trong thời kỳ mặt trận Dân Chủ"(1)
Phan Cự Đệ chỉ thừa nhận yếu tố hiện thực "nghiêm ngặt và tỉnh táo" chỉ có mặt ở một số tác phẩm, và nó như là hệ quả của sự phân hóa dưới ảnh hưởng của phong trào mặt trận Dân chủ 1936-1939
Phong Lê cũng cho: "sáng tác của Thạch Lam nhìn chung vẫn nằm trong khuôn khổ
và quy định của văn chương lãng mạn, nhưng nó khác biệt ở tính chất tiến bộ và nhân đạo"
và "ở khuynh hướng đó sáng tác Thạch Lam có dấu hiệu vượt ra khỏi giới hạn của văn chương lãng mạn"(2)
Trên cùng một chiều hướng suy nghĩ Nguyễn Hoành Khung cũng có một nhận xét tương tự "Nhiều sáng tác của Thạch Lam rất gần với văn học hiện thực phê phán, nó phản ánh sự phân hóa theo hướng tiến bộ của văn chương lãng mạn"(3)
Lại Nguyên Ân trong bài "Khả năng điều hòa" cho rằng sáng tác của Thạch Lam thể hiện lập trường xã hội khá tương đồng với mấy tác giả chủ chốt của Tự Lực Văn đoàn nhưng cũng gần gũi với các nhà tả chân Đó là cái riêng của Thạch Lam trong ứng xử nghệ thuật, sự
tự kìm chế, sự hòa giải khi nói đến va chạm giai cấp giàu nghèo Với ông hòa giải gần như là giải pháp xã hội và giải pháp nghệ thuật
Loại ý kiến thứ hai của Văn Tâm, Nguyễn Trác, Lê Thị Đức Hạnh, Phạm Văn Phúc lại chú ý đến một phương diện khác: đó là tâm hồn và màu sắc dân tộc trong sáng tác Thạch Lam
(1)
Phan Cự Đệ: Tổng tập Văn Học Việt Nam Tập 29A Sách đã dẫn Trang 40
(2) Phong Lê: Lời giới thiệu Tuyển tập Thạch Lam NXB Văn học H-1988, Trang 12
(3) Nguyễn Hoành Khung: Lời giới thiệu văn xuôi lãng mạn Việt Nam Sách đã dẫn, Trang 34
Trang 12Văn Tâm cho rằng "sức hấp dẫn chủ yếu ở những trang viết của Thạch Lam không phải do tính hiện thực hay do yếu tố lãng mạn mà là ở tâm hồn dân tộc" vì theo ông "chính mảnh hồn dân tộc trong tâm linh nhà văn đã chi phối ngay cả quan điểm sáng tác, hiện thực lẫn tinh thần nhân đạo Rồi chính tính cách Việt sẽ chi phối một nét văn phong khó lẫn của tác giả "Gió đầu mùa"(1)
Trong bài "Nghĩ về Thạch Lam" đăng trên báo "Giáo viên nhân dân" số đặc biệt tháng
7 - 1989, Phạm Văn Phúc viết: " Vượt lên trên cả địa hạt lãng mạn hoặc hiện thực tiến tới bao quát toàn bộ sáng tác của Thạch Lam là khuynh hướng nỗ lực và sở trường khám phá vẻ đẹp, cũng như các dạng tiềm ẩn của tâm hồn con người - trước hết là tâm hồn con người Việt Nam, tâm hồn dân tộc Theo tiêu chí ấy ta có thể xâu chuỗi các tác phẩm của Thạch Lam thành một khối nhất quán và liền mạch"
Nguyễn Trác - Đái Xuân Ninh trong cuốn "Về Tự Lực Văn đoàn" cũng cho "truyện của ông (Thạch Lam) là tâm hồn ông, tâm hồn của một nhà văn đậm đà tình thần dân tộc"(2) Cái làm nên màu sắc dân tộc ở Thạch Lam theo Lê Thị Đức Hạnh là cái Đẹp ẩn dấu trong nền tảng đạo lý, trong thuần phong mỹ tục, trong vẻ dịu dàng của cảnh sắc quê hương và con người Việt Nam
Như vậy sự phân chia, sắp xếp Thạch Lam vào ô này hay ô kia, việc thừa nhận những tác phẩm hay những tác phẩm kia của Thạch Lam là lãng mạn hay hiện thực đã bộc lộ nhiều lúng túng, mâu thuẫn Vả chăng nó chỉ là những quy ước mà rất ít có khả năng để vạch một đường ranh rạch ròi? Tình trạng lúng túng này là điều dễ nhận thấy vì "rất khó xếp Thạch Lam vào đâu? ô nào?"
Để thoát khỏi tình trạng này loại ý kiến thứ hai đã đưa ra tiêu chí "màu sắc dân tộc"
"tâm hồn dân tộc" để nhằm bao quát toàn bộ sáng tác của Thạch Lam Nhưng tiêu chí này theo chúng tôi là có độ xác định quá rộng, hơn nữa xem nó là sở trường, là khuynh hướng thẩm mỹ - nghệ thuật ở Thạch Lam là điều khó có thể chia sẻ
Vì vậy loại ý kiến thứ ba đã vạch ra tính chất ước lệ và hạn hẹp của cách phân loại chia ô này
Theo Huy Cận "lãng mạn hay hiện thực thì cũng đành theo một cách phân loại đã quen dùng Nhưng chúng ta không quên tính chất ước lệ trong cách phân loại ấy" Với tinh thần ấy Huy Cận tỏ ra nhất quán khi viết "Những truyện ngắn Thạch Lam rõ ràng là hay không phải vì chúng ta có thể xếp loại các truyện ấy vào dòng văn học hiện thực Những truyện ấy hay vì nó truyền đến cho người xem một cách cảm nhận cuộc đời, một lối rung cảm xót xa, trìu mến"(3)
(1)
Văm Tâm: Giảng vãn Sách đã dẫn, Trang 40
(2) Nguyễn Trác-Đái Xuân Ninh: về Tự Lực Văn Đoàn NXB TP Hồ Chí Minh Trang 70
(3) Huy Cận: Lời bạt bộ sách văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945 Sách đã dẫn trang 541
Trang 13Đây là một ý kiến rất đáng lưu ý vì theo tác giả sức hấp dẫn của truyện ngắn Thạch Lam không phải do tính chất hiện thực mà là ở tấm lòng, ở cách nhìn, và ở phương thức chiếm lĩnh và thể hiện hiện thực
Tiếp tục chiều hướng suy nghĩ ấy Vương Trí Nhàn đề nghị: "hiện thực hay lãng mạn chỉ là quy ước và cần từ bỏ cái khung lãng mạn - hiện thực bấy lâu nay" Do đó "nếu có một quan niệm mà Thạch Lam thấy gần nhất, thấy có thể chia sẽ được thì đó không phải là chủ nghĩa hiện thực hay chủ nghĩa lãng mạn theo cái nghĩa chúng ta thường hiểu mà chỉ có thể là chủ nghĩa ấn tượng" Và cũng theo ông "để thoát khỏi tình trạng đó có lẽ nên giành ưu tiên cho việc khảo sát sự tiến hóa của ngôn ngữ thể loại cái mà ta tạm gọi là thi pháp thể loại"(1)
Rõ ràng xoay quanh việc xác định tính chất hiện thực và lãng mạn ở Thạch Lam còn
có nhiều cách kiến giải khác nhau Từ những kiến giải khác nhau này chúng tôi thấy: nếu nhìn nhận vấn đề dưới góc độ phương pháp sáng tác chắc chắn sẽ gặp nhiều lúng túng và mâu thuẫn Nên chăng cần có một hướng tiếp cận khác Đó là việc khảo sát đặc điểm thẩm mỹ của chính loại hình văn xuôi đó, bằng ngôn ngữ thi pháp thể loại Bởi vì theo Bakhtin "thể loại chứ không phải phương pháp hoặc trường phái sáng tác là những nhân vật chính của tấn kịch lịch sử văn học Mỗi thể loại thể hiện một thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực, một cách cảm thụ giải minh đối với thế giới và con người"(2)
Chỉ từ góc độ thi pháp thể loại ta mới có thể lần được đường dây liên hệ giữa Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh - như là những nhà văn gặp nhau ở "cách cảm thụ, nhìn nhận giải minh đối với thế giới và con người" ; từ đó mới có thể thấy được tính chất hiện thực hay lãng mạn là những thuộc tính, những tố chất của loại hình văn xuôi trữ tình
Dù không được đề cập nhiều với nhiều cách nhiều cách lý giải khác nhau, nhưng tình trạng lúng túng này cũng được thể hiện khá rõ trong công việc định danh cho sáng tác của Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh Một mặt là những dấu ấn hiện thực đậm nét ở những cảnh đời, những
số phận đầy bi thảm và dữ dội, mặt khác là "chỉ rặt những cái đầy thơ mộng và huyền ảo"
Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: "Một số tác phẩm của Thanh Tịnh có khuynh hướng lãng mạn chủ nghĩa rõ rệt khi viết về những mối tình éo le tuyệt vọng Nhưng truyện Am cu -
ly xe thì phải coi là một hiện tượng khác Tác giả đã đi vào một đề tài bi thảm có phần dữ dội" và Nguyễn Đăng Mạnh đã định danh cho tác phẩm của Thanh Tịnh là "chủ nghĩa hiện thực - trữ tình"(3)
(1)
Vương Trí Nhàn: Tìm vào nội tâm, tìm vào cảm giác, Sách đã dẫn
(2) Bakhtin: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết Trường viết văn Nguyễn Du-1992, Trang 7
(3) Nguyễn Đăng Mạnh Sách đã dẫn Trang 51
Trang 14Một cách hợp lý và có tính thuyết phục hơn khi nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá cho
"văn Thanh Tịnh thiếu cái sắc sảo góc cạnh Nhân vật trong tác phẩm của ông chưa có những tính cách điển hình, độc đáo Nhìn chung ông thích những cái gì nhẹ nhàng, dịu ngọt, bâng khuâng, man mác"(1) - như là những nét nổi trội cửa phong cách và bút pháp Thanh Tịnh Nó thể hiện một thái độ thống nhất trong cách chiếm lĩnh và thể hiện nghệ thuật, tạo thành dấu ấn của phong cách và khuynh hướng thẩm mỹ - nghệ thuật; là một tâm hồn nhạy cảm, một rung cảm tinh tế, đậm màu sắc trữ tình trước cuộc đời
Hồ Dzếnh với tập "Chân trời cũ" đã ngoái nhìn về quá vãng với những kỷ niệm đau buồn trong gia đình trong những năm tháng tuổi thơ Tác phẩm là những hồi tưởng đượm buồn về những cảnh đời, những số phận của những người thân quen, ruột thịt trong gia đình tác giả
Chất hiện thực ở ông là chân dung lai lịch những con người, trong đó người nào cũng rơi vào những cảnh ngộ héo hắt và "người nào cũng mang một tâm hồn đau khổ" ( Thạch Lam ) Họ là những "con người hẩm hiu nghèo khổ trong xã hội cũ" Trong đó "hình tượng đậm nét đặc sắc và gợi cảm của Hồ Dzếnh là những bà mẹ, những người chị Việt Nam cần cù nhẫn nại, giàu lòng vị tha và đức hy sinh" ( Trần Hữu Tá) "ông đặc biệt nhạy cảm với những buồn đau của người đàn bà nông thôn Việt Nam hiện thân của định mệnh khe khắt, của duyên phận tối tăm và buồn rầu"
Ngược lại chất trữ tình, lãng mạn ở đây "thấm đẫm từng trang văn tạo nên một phong
vị trữ tình ảo diệu ít thấy" Nó là những hoài niệm gợi nhiều xót xa về quá vãng của một đứa trẻ "đi tìm cái đẹp đã mất của một thế giới đã sụp đổ, đã đổi dời" Dấu ấn lãng mạn còn hiện diện ở sự tự thể hiện tấm lòng đầy yêu thương, trắc ẩn "tác giả như mở lòng mình để chia sẻ nỗi đau với những người thân và như nghiêng mình ngưỡng mộ trước phẩm chất tuyệt vời của những con người không chịu chết chìm trong cơ cực buồn khổ"(2)
2 3 Về phong cách nghê thuật
Những gì làm nên giá trị đặc sắc của văn chương Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh? Chung quanh vấn đề này các bài viết đã đi vào nhiều khía cạnh khác nhau như: đặc điểm của tư duy và biểu hiện nghệ thuật, những đặc điểm của phong cách nghệ thuật và thi pháp Có một điều hầu như không một nhà nghiên cứu nào không thừa nhận trong đặc điểm bút pháp của ba tác giả này là: sở trường ở xu hướng hướng nội, khả năng đi sâu vào thế giới bên trong với những cảm xúc, cảm giác tình tế, giàu chất thơ và thấm đượm một phong
vị trữ tình
(1) (2) Trần Hữu Tá: Từ điển văn học sách đã dẫn Trang 256
Trang 15Chính đặc điểm này đã chi phối nhiều yếu tố nghệ thuật khác của tác phẩm như cách quan niệm và tiếp cận con người, như sự xuất hiện của chủ thể trần thuật, như cách dựng truyện cũng như ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật
Phần lớn các ý kiến đều tập trung vào các điểm chính đáng lưu ý sau đây:
- Về cốt truyện, dễ nhận thấy nghệ thuật dựng truyện ở Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh ít có những tình huống gay cấn, ly kỳ Sức hấp dẫn chủ yếu không phải là ở những cốt truyện sắc nhọn mà là ở chiều sâu của sự thể hiện những cảm giác tinh tế, những biến thái phức tạp của tâm hồn, ở khả năng gợi lên được những cảm nhận mơ hồ nhưng đầy ám ảnh về cuộc đời với những dư vị lạ lùng
Do đi sâu vào thế giới bên trong đầy bí ẩn của tâm hồn con người nên "truyện ngắn Thạch Lam ít sử dụng đến những cốt truyện giàu kịch tính Thạch Lam ưa những cốt truyện tâm lý"(1) ( Phan Cự Đệ ) "Truyện Thạch Lam không được dẫn dắt theo cốt truyện tâm lý "(2)(Phạm Văn Phúc ) "Nhiều truyện của Thạch Lam không có cốt truyện mà man mác như một bài thơ"(3)
Trong luận văn thạc sỹ "Nghệ thuật truyện ngắn Thạch Lam" Nguyễn Thành Thi cũng
có nhận xét "Cốt truyện và hoạt động trong truyện Thạch Lam nếu có, chỉ có là hoạt động cốt truyện tâm lý, coi nhẹ cốt truyện và hoạt động bên ngoài, tập trung hứng thú vào nhân vật tâm trạng"
Vương Trí Nhàn trong bài "Tìm vào nội tâm, tìm vào cảm giác" (Tạp chí Văn học số
6 -1992) cho truyện Thạch Lam "có cốt truyện rất đơn sơ, không có cái lắt léo thường tình mang tính cách bố trí"
Đặc điểm này của tổ chức cốt truyện ở Thanh Tịnh và Hồ Dzếnh cũng mang nhiều nét tương tự , gần gũi Viết về số phận của những người nông dân miền Trung nghèo khổ, hay là thân phận của những người thân trong chân trời tuổi thơ nhưng nó ít có những mâu thuẫn gay gắt, những vỉa sống ngổn ngang, nhằng nhịt, những tình huống giàu kịch tính, những biến cố
dữ dội Trung tâm chú ý của tác giả vẫn là những tâm trạng, những suy nghĩ, chiêm nghiệm
Nó như là những ấn tượng, những trải nghiệm của tâm hồn trước cuộc đời, gợi những ám ảnh, day dứt với một dư vị sâu lắng ngậm ngùi hay bâng khuâng man mác
Tính chất "phi cốt truyện" đã chi phối đặc điểm tự sự trong cách dựng truyện của xu hướng sáng tác này Từ chối những xung đột, những cốt truyện sắc nhọn, gay cấn, để tập trung cao độ cho việc miêu tả, biểu hiện các động thái tâm lý - coi đó là hướng chính, là cái quan trọng nhất của sự thể hiện nghệ thuật - đó là đặc điểm cốt truyện của loại hình văn xuôi mang đặc điểm hướng nội này
Sự bộc lộ và hiện diện của chủ thể trần thuật trong truyện ngắn của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh thường hay được xuất hiện ở ngôi thứ Nhất và ít
(1)
Phan Cự Để Sách đã dẫn, Trang 51
(2) Phạm Văn Phúc: Thạch Lam Bài đã đẫn
(3) Nguyễn Hoành Khung Sách đã dẫn Trang 35
Trang 16nhiều mang tính chất tự thuật "Tất cả các nhân vật trong truyện Thạch Lam đều có những phảng phất của tâm hồn Thạch Lam"(1) ( Vũ Ngọc Phan ) " Trong sáng tác của Thạch Lam luôn luôn thấp thoáng cái tôi trữ tình của nhà văn" (Nguyễn Hoành Khung)
Khảo sát sự xuất hiện của chủ thể trần thuật trong sáng tác Thạch Lam, các nhà nghiên cứu đã phát hiện được những sự xuất hiện khác nhau trong nhiều tư cách: khi thì
"Thạch Lam đem tính tình riêng của mình để tạo nên nhân vật" (Vũ Ngọc Phan ) khi thì "vận dụng sáng tạo các hình thức kể chuyện hiện đại "(Nguyễn Thành Thi) khi thì đó là bóng dáng của những trải nghiệm trong cuộc đời tác giả cũng như "bóng dáng của miền quê mà tác giả từng sống"(2) (Đinh Quang Tốn )
Dù xuất hiện với tư cách nào, dù kể theo ngôi thứ Nhất hay kể khách quan vô hình thì cái "tôi"tác giả vẫn luôn hiện diện, nhập thân đằng sau mỗi trang viết Điều đó đã tạo nên một dấu ấn độc đáo của chủ thể kể chuyện trong sáng tác của Thạch Lam
Ở Thanh Tịnh cái "tôi" luôn có mặt và xuyên suốt từ đầu đến cuối tập truyện "Người
ta thấy hiện ra trong truyện ngắn Thanh Tịnh là một đứa trẻ đang học trường làng vừa hóm hỉnh nghịch ngợm lại vừa chứng kiến những đổi thay lớn nhỏ trong nhịp sống của làng"(3)(Phạm Thu Hương ) và phần thể hiện nổi bật, thấy rõ nhất vẫn là tâm hồn, một tâm hồn đầy xúc động, giàu tình nghĩa để nghiền ngẫm, cảm thông, chia sẽ với những cảnh ngộ, những số phận của dân làng "qua tâm hồn của tác giả cuộc sống được phản ánh giản dị mà sâu sắc ở linh hồn sâu kín bên trong"(4) (Trần Hữu Tá)
Ở Hồ Dzếnh - chủ thể trần thuật mang đậm màu sắc tự truyện "Văn Hồ Dzếnh ở tập này là văn tự truyện Mỗi câu chuyện là chân dung của người thân trong gia đình ( ) và những người hàng xóm nghèo khổ "(Vũ Quần Phương) Tính chất tự thuật đậm nét đã cho phép tác giả tự bộc lộ một cách trực tiếp, chân thành, mãnh liệt "nhân vật chính xuyên qua tất
cả mọi truyện chính là tác giả Có lúc cốt truyện diễn biến ngưng lại để người viết tự bộc lộ"(5) (Vũ Quần Phương) "trong bất cứ truyện nào dù nói về ai nhưng thấp thoáng sau những dòng chữ in, nhân vật chính vẫn là tác giả, là tâm hồn xao xuyến của ông Tác giả như mở lòng mình để chia sẻ nỗi đau với người thân "(Trần Hữu Tá)
Về ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật
Hầu hết các ý kiến đều tìm thấy nét gần gũi và tương đồng về bút pháp về văn phong
và giọng điệu nghệ thuật giữa Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh
(1) Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại Sách đã dẫn, Trang 1166
(2) Đinh Quang Tốn: Thạch Lam và quê hương sáng tác Tạp chí Văn học, Số 6 - 1992
(3)
Phạm Thu Hương: Thanh Tịnh và làng Mỹ lý Văn nghệ quân đội Số 3 -1996
(4) Trần Hữu Tá: Thanh Tịnh Sách đã dẫn, Trang 256
(5) Vũ Quần Phương: Hồ Dzếnh Bài đã dẫn
Trang 17Ở Thạch Lam đó là "một ngòi bút lặng lẽ điềm tĩnh" với "cái lối văn nhẹ nhàng, kín đáo, xinh tươi" là "lời văn Thạch Lam giàu hình ảnh, nhiều tìm tòi có một cách điệu thanh thản, bình dị mà sâu sắc, đọng nhiều suy nghiệm" Lí giải sức truyền cảm nghệ thuật của Thạch Lam, Bạch Năng Thi cho "tác giả có những nhận xét tinh tế và những cảm xúc chân thành nên tác phẩm gây cho người đọc những "rung động khẽ như cánh bướm non"" Còn Văn Tâm xem "cái ngữ điệu man mác, nhỏ nhẹ, thi vị những xúc cảm tinh tế của một tâm hồn
dễ rung động "như cánh bướm non" thủ thỉ trong văn phong Thạch Lam" như là một biểu hiện của tính cách Việt Nam, tâm hồn Việt Nam Theo Phong Lê "Đặc sắc của câu văn Thạch Lam là lối văn nhuần nhụy, tinh tế, gọn và gợi được thật là rành rẽ những hứng thú của sinh hoạt, xúc cảm của tâm hồn Câu văn Thạch Lam vẫn cứ là mềm mại uyển chuyển, giàu hình ảnh nhạc điệu, không mất đi vẻ giản dị tinh gọn, không thừa thãi lời chữ , không làm duyên làm dáng uốn éo một cách cầu kỳ" "Văn phong Thạch Lam êm dịu, tinh tế đậm chất trữ tình ngay cả ở những trang hiện thực nghiêm ngặt" (Phạm Văn Phúc)
Đặc sắc của bút pháp Thanh Tịnh cũng chính là cái chất giọng luôn hướng tới và kết dính với "những cái gì dịu ngọt, bâng khuâng man mác" Âm hưởng chủ đạo của truyện ngắn Thanh Tịnh "vẫn là cái buồn, nhưng đó không phải là cái buồn đau đớn, thống thiết mà là cái bâng khuâng man mác của xứ Huế - quê hương nhà văn" ( Nguyễn Đăng Mạnh ) Vì vậy nhìn một cách bao quát thì "văn Thanh Tịnh gợi cảm, đằm thắm và trong sáng, mang dư vị trữ tình sâu lắng" (Trần Hữu Tá)
Đặc điểm này ở Hồ Dzếnh là "chất thơ thấm đẫm từng trang văn" là "những trang viết thiết tha đầy xúc động" (Trần Hữu Tá ) là " giọng kể chân thật từ tốn với rất nhiều thương cảm xót xa Mỗi câu chuyện như một tiếng thở dài, như một niềm tự vấn day dứt khôn nguôi" Đọc truyện Hồ Dzếnh, Vũ Quần Phương có cảm giác: " truyện ngắn Hồ Dzếnh như một tiếng chuông buồn, tiếng này ngân chưa dứt, tiếng khác đã nối theo Cả không gian tâm hồn ông tràn ngập tiếng ngân nga của hoài niệm xót xa "
Trên đây là một số nhận định quan trọng của các nhà nghiên cứu về những vấn đề cơ bản có liên quan tới đề tài Các ý kiến đã thống nhất tập trung để phát hiện khám phá và kiến giải những đặc điểm trong sáng tác, cũng như thành quả sáng tạo và đóng góp của các tác giả Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh Tuy nhiên những ý kiến này mới chỉ dừng lại ở những nhận định, nhận xét tương đối khái quát, mang tính chất bình chú dưới giác độ của phương pháp sáng tác và đặc điểm của phong cách
Cách tiếp cận này đã chỉ ra khá rõ những đặc điểm riêng về bút pháp, về đặc điểm nội dung tư tưởng và nghệ thuật cũng như đặc sắc của phong cách nghệ thuật và cá tính sáng tạo; nhưng nó cũng đã có dấu hiệu của tình trạng lúng túng
Trang 18và mâu thuẫn Việc đặt ba tác giả này trong cùng một khu vực như là một xu hướng sáng tạo với những đặc điểm riêng của văn học giai đoạn 1932 -1945 còn chưa được quan tâm đúng mức, cũng như chưa được khảo sát một cách đầy đủ, thỏa đáng
Vì vậy việc nhìn nhận các sáng này dưới góc độ đặc điểm thẩm mỹ thể loại - như là một hiện tượng cùng thể loại, tạo nên tính cộng đồng loại hình, còn nằm trong tình trạng tản mát, riêng lẻ, thiếu hệ thống
Luận án này quan tâm đến ba tác giả dưới góc độ đặc điểm thể loại - như là một cách tiếp cận trong rất nhiều cách tiếp cận khác nhau
Theo thiển nghĩ của chúng tôi đây là hướng tìm tòi cần thiết để nhìn nhận xem xét một cách hệ thống, khách quan những đặc thù riêng biệt, độc đáo của một loại hình văn xuôi giai đoạn 1932 - 1945
III GIỚI HẠN PHẠM VI VẤN ĐỀ:
Trong luận án này chúng tôi nhằm đưa ra một số nhận xét ban đầu trên cơ sở bổ sung, sắp xếp, hệ thống lại kết quả nghiên cứu của những người đi trước dưới một góc nhìn mới, nhằm khảo sát một dạng thức, một loại hình văn xuôi trong nhiều loại hình văn xuôi khác nhau của giai đoạn văn học 1932 - 1945 Đó là loại hình văn xuôi trữ tình
Loại hình này có mặt ở nhiều tác phẩm và tác giả nhưng chúng tôi chỉ chọn ba tác giả Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh - theo chúng tôi đó là ba tác giả tiêu biểu cho loại hình văn xuôi này trong giai đoạn 1932 - 1945 Đặt ba tác giả trong cùng một khu vực, chúng tôi quan tâm khảo sát và xác lập về mặt cộng đồng loại hình như một khuynh hướng thẩm mỹ - nghệ thuật trên một số bình diện chủ yếu
Luận án này xuất phát từ việc miêu tả những tố chất thẩm mỹ của truyện ngắn Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh để tiến tới xác lập, khái quát lên những đặc điểm chủ yếu của loại hình văn xuôi trữ tình - như là những đặc điểm của thi pháp thể loại
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện mục đích đề ra trong phạm vi vấn đề tự giới hạn, chúng tôi luôn đứng trên quan điểm Mác-xít trong nghiên cứu văn học Đó là sự nghiên cứu văn học trong mối quan hệ với bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh xã hội; nhìn nhận văn học trong mối quan hệ giữa nhà văn - cuộc sống và bạn đọc cũng như quy luật thống nhất nội tại giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học
Trên cơ sở đó, chúng tôi sử dụng phương pháp loại hình học để nhằm phát hiện, xác lập tính cộng đồng loại hình về mặt văn học - thẩm mỹ tồn tại qua sáng tác của ba tác giả, xem chúng là những hiện tượng cùng họ ("kiểu") về quan điểm,
Trang 19phương thức tiếp cận hiện thực, về những vấn đề của cuộc sống được nhà văn khám phá, miêu tả, cũng như phương thức biểu hiện nghệ thuật
Ngoài ra phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh đối chiếu cũng sẽ được vận dụng như những phương pháp công cụ, hỗ trợ cho phương pháp loại hình để nhằm so sánh những hiện tượng tương đồng, gần gũi, hoặc khác biệt giữa ba tác giả trên với một số tác giả khác để có một cái nhìn toàn diện khách quan về đặc điểm cũng như sự vận động phát triển của loại hình văn xuôi trữ tình
Trong khi áp dụng các phương pháp trên chúng tôi đồng thời chú ý tới thao tác phân tích tác phẩm để đi sâu vào việc đánh giá tác phẩm theo hướng cảm thụ, cảm nhận
V CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần dẫn luận bao gồm những vấn đề chung của luận án như: mục đích, lịch sử vấn đề, giới hạn phạm vi vấn đề, phương pháp nghiên cứu ; phần nội dung của luận văn gồm
ba chương, được phân theo những bình diện chủ yếu mà chúng tôi sẽ tập tung khảo sát:
Chương I: Chất hiện thực và lãng mạn trong văn xuôi trữ tình
a) Cái nhìn thi vị đối với cuộc đời b) Sự ưu tiên cho việc bộc lộ cái
"tôi" duy cảm 1 3 Sự kết hợp nhuần nhụy giữa chất hiện thực và chất lãng mạn
Chương II: Chủ thể trần thuật trong văn xuôi trữ tình
Chương III: Chất thơ và giọng điệu nghệ thuật trong văn xuôi trữ tình
3 1 Thơ trong văn xuôi
a) Chất thơ của cuộc đời thường nhật b) Chất thơ của tâm hồn
c) Chất thơ trong những bức tranh thiên nhiên
Trang 203 2 Giọng điệu nghệ thuật
a) Giọng văn Thạch Lam: một giọng điệu nhỏ nhẹ, tâm tình và đằm thắm
b) Giọng văn Hồ Dzếnh: chân thực, từ tốn với một niềm thương cảm day dứt
c) Giọng văn Thanh Tịnh: trầm lắng, dịu ngọt, phảng phất nỗi buồn man mác
Phần kết luận
Trang 21CHƯƠNG I: HIỆN THỰC VÀ LÃNG MẠN TRONG VĂN XUÔI TRỮ TÌNH
Văn xuôi trữ tình là một loại hình văn xuôi mà trong đó, hai yếu tố hiện thực và lãng mạn đều có những dấu ấn riêng biệt tạo nên những đặc điểm thẩm mỹ khác với các loại hình văn xuôi phong tục, văn xuôi triết luận hay văn xuôi tư liệu
Với văn xuôi trữ tình - văn xuôi thật sự đã phát huy hết tiềm năng to lớn trong việc
"viết chính tả cho ý nghĩ của con người" ( Vương Trí Nhàn ), cũng như chiều sâu của sự khám phá và thể hiện hiện thực Đó chính là những đóng góp có ý nghĩa đối với sự phát triển
về sau của văn xuôi nghệ thuật cũng như bản sắc riêng trong bút pháp sáng tạo của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh Việc xác định vị trí của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh trên văn đàn thời kỳ 1932 - 1945 không thể chỉ căn cứ vào "văn phái" mà các ông tham gia, cũng như không chỉ dựa vào phương pháp sáng tác như một tiêu chí tiên quyết Điều này dễ tạo nên những lúng túng, khiên cưỡng khi đánh giá những hiện tượng văn học phong phú, đa dạng và có giá trị như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh Trong sáng tác của các tác giả này thật khó mà phân định rạch ròi, đâu là lãng mạn, đâu là hiện thực
Thạch Lam và sau đó là Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, đã đứng riêng ra như một xu hướng sáng tạo độc đáo Xu hướng sáng tạo này không lấy cuộc sống hiện thực với tất cả vẻ bộn bề, phúc tạp và gay cấn, cũng như trong dạng thức trực tiếp và trần trụi của nó làm hướng chính của nguyên tắc phản ánh, mà nó thường "tìm vào nội tâm, tìm vào cảm giác" (Vương Trí Nhàn ) với những động thái tâm lý, những cảm giác, cảm xúc thoảng qua, mơ hồ, rất khó nắm bắt Đặc sắc của loại hình văn xuôi này là với một chất liệu tầm thường, không đâu, tưởng như không có gì đáng kể nhưng qua tâm hồn tác giả hoặc nhân vật, chúng bỗng kết tụ thành hình sắc, ý vị, bỗng trở nên ám ảnh, xao xác với những dư vị lạ lùng Chính thông qua tâm hồn tác giả mà cuộc sống hiện lên với bao nỗi thương cảm xót xa cho những cuộc đời tăm tối hiu hắt và số phận thăng trầm của những kiếp người Điều này đã tạo nên một dấu ấn khó lẫn
ở khuynh hướng thẩm mỹ trong sáng tác của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh
1.1 Chất hiện thực
Từ trước đến nay, Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh vẫn luôn được coi là những nhà văn lãng mạn, mà tác phẩm của họ có nhiều yếu tố hiện thực Khái niệm hiện thực ở đây thường được hiểu với một độ xác định khá hạn hẹp là mô tả những nhân vật (thường là người lao động nghèo khổ ) trên một bức tranh xã hội - lịch sử, đạt đến trình độ điển hình, có ý nghĩa tiêu biểu về mặt dân tộc, giai cấp hoặc một hạng người nhất định Nếu xem xét theo
"khuôn thước" ấy một cách
Trang 22nghiêm ngặt, sẽ dễ dàng bỏ qua yếu tố hiện thực khác biệt trong văn xuôi trữ tình Bởi vì nó chiếm lĩnh và đồng hóa hiện thực không phải với phương thức của chủ nghĩa hiện thực Nó không chú trọng tái hiện hiện thực như "cuộc sống vốn có" trong các giềng mối liên hệ nhằng nhịt thể hiện các xung đột cơ bản có ý nghĩa bản chất của thời đại Các nhân vật cũng không được xây dựng theo phạm trù xã hội - giai cấp luôn bị chi phối bởi những động cơ và thiên kiến giai cấp
Chất hiện thực ở loại hình văn xuôi này là sự thể hiện không khí thời đại, bức tranh xã hội một cách thưa thoáng, bàng bạc thông qua tâm trạng, cảm xúc chủ quan Nó không phải
là hiện thực cùng dạng với các nhân tố hiện thực trong sáng tác của các nhà hiện thực phê phán đương thời Đó là hiện thực được vang vọng, lắng lọc qua tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của người viết Ở đây hiện thực tâm lý, hiện thực tâm trạng giữ vai trò then chốt và quyết định Nghĩa là thông qua những động thái tâm lý, những sắc thái nội cảm của nhà văn hoặc nhân vật chính người ta nắm bắt được cái "hồn" của hiện thực với bao nỗi thương cảm xót xa
về các cảnh đời và các số phận
a) Cuộc sống hiu hắt xám mờ với một không gian ngập tràn bóng tối, lụi tàn và sa sút
Một đặc điểm thẩm mỹ thường gặp ở văn xuôi trữ tình thời kỳ này là việc tạo dựng những khung cảnh nghệ thuật có sức gợi đặc biệt Khung cảnh này thường được cảm nhận với một nỗi se lòng bởi cái chất đìu hiu, phẳng lặng đến đơn điệu, mỏi mòn của nó Khung cảnh ấy ít có cái xô bồ, góc cạnh cái dữ dội đến riết róng của những mảng sống bộn bề, chúng thường được phác họa một cách mờ mờ, nhàn nhạt nhưng dư vị, dư âm của nó thì lại gợi biết bao ám ảnh không thôi về những cảnh đời ngày đó
Khung cảnh thường thấy trong thế giới nghệ thuật của Thạch Lam là cái phố huyện lèo tèo, thưa thớt mang tính chất "nửa làng, nửa phố" (Hai đứa trẻ), là cái phố chợ tồi tàn, lụp xụp, xiêu vẹo nơi cư ngụ của những kẻ làm thuê nghèo khổ ( Nhà mẹ Lê), là cái xóm nghèo ngoại ô luôn ngập ngụa và nồng nặc mùi cống rãnh ( Một cơn giận); là cái làng quê tăm tối, bùn lầy nước đọng ( Cô hàng xén, Người lính cũ) Đó là thế giới của những người khốn khổ Thế giới ấy thật xơ xác, nghèo nàn và nhuốm đầy một vẻ hiu hắt Nó như một biểu tượng nghệ thuật thể hiện một cách nhìn thế giới vốn dĩ hạn hẹp, tù hãm, ngưng trệ của thời bấy giờ,
có tính đặc trưng ở Thạch Lam
Khung cảnh ấy lại luôn bị úp chụp bởi một bầu trời thảm đạm của tiết đông mưa phùn, gió bấc, của những cơn gió lạnh "tím tái cả thịt da, run lên răng đập vào nhau" ( Gió đầu mùa )
Chính vào thời điểm "mùa rét đến, gió lạnh và mưa phùn lầy lội Đàn con bác Lê ôm chặt lấy nhau trong căn nhà ẩm ướt, tối tăm vì đèn đóm không có nữa"
Trang 23- thảm kịch bi đát đã đổ xuống đầu mẹ Lê như một tình huống bất hạnh (Nhà mẹ Lê ) Đó là
cái đêm đông giá rét "trời rét như cắt ruột, mà gió lại thổi mạnh làm tung tà áo, trời lấm tấm mưa, rét buốt cả chân tay" - như là cái số phận tăm tối, mù mịt của người lính già Đó còn là
"tiếng gió bấc vi vút từng cơn trên cánh đồng còn trơ gốc rạ" và những buổi mai lạnh lẽo,
sương giá trong cuộc đời nhẫn nại của Tâm ( Cô hàng xén)
Bầu trời u ám, những cơn mưa dầm dề, những đợt gió lạnh thấu xương đã nhiều lần trở đi, trở lại như một yếu tố ám ảnh trong thế giới nghệ thuật của Thạch Lam
Thế giới nghệ thuật của Thạch Lam ngoài cái nghèo, cái lạnh lẽo, gió mưa còn là một thế giới u ám, ngập đầy bóng tối "những khoảng tối và sức gợi của nó thường trở đi, trở lại nhiều lần trong văn Thạch Lam ( ) Thạch Lam nhìn sâu vào cuộc sống ở các mặt khuất của nó - và do vậy mà ít có ánh sáng, mà làm ta bồi hồi hoặc khắc khoải lo âu "(Phong Lê -
Lời giới thiệu - Thạch Lam Sách đã dẫn Trang 17) Đó là "cái đen tối của đêm khuya dài
dằng dặc" là "cái vòng đen của rặng tre làng bỗng vụt lên trước mặt tối tăm và dày đặc"; là cái đêm đen mênh mông "tối trời, tối đất" mà những khoảng sáng le lói, lỗ đổ của những ngọn đèn dầu như càng thêm lạc lõng, mù mờ trên con đường phố huyện Đặc biệt là cái đêm tối tưởng như có thể "xắn" từng miếng, ngập tràn cả dãy phố trong đêm giao thừa của hai chị
em Liên và Huệ trong căn nhà xăm trống vắng (Tối ba mươi) Trong sáng tác của Thạch Lam
"bóng tối như hiện diện tràn lan với tất cả sắc độ đậm nhạt khác nhau của nó"(1) Đây không còn đơn thuần là bóng tối của đêm, của thời khắc vật lý - mà nó là cái đêm đen của bế tắc, của sự khuất lấp lặng lẽ, tăm tối của những kiếp người Tất cả như chìm sâu, mờ dần, mất hút trong bóng tối mênh mông, thăm thẳm
Theo mạch sáng tạo này thì truyện Hai đứa trẻ là sự phối sắc hài hòa, tương phản
giữa những mảng sáng, tối - trong đó bóng tối ngập tràn với những sắc độ khác nhau Bắt đầu
là "bóng tối ngập đầy dần" cả buổi chiều quê, rồi "trời nhá nhem tối" rồi đến "đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối" và càng về khuya đêm tối càng trở nên mênh mông, dày đặc hơn "tối hết cả con đường thăm thẳm ra sông, các ngõ vào làng lại sẫm đen hơn nữa"
để rồi kết thúc là "cái im lặng tối đen" và "đêm tối bao bọc chung quanh đêm của đất quê và ngoài kia đồng ruộng mênh mông và yên lặng" khi đoàn tàu thoáng chốc đi qua Bóng tối như càng ngày càng dày đặc hơn, hun hút hơn nó lan dần ra bao phủ cả không gian rộng lớn Còn ánh sáng càng ngày càng mờ dần, càng chìm khuất Lúc đầu là "các nhà đều lên đèn, ánh sáng xanh trong hiệu khách "và của "hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh" sau đó chỉ còn lại "vài cửa hàng còn thức chỉ hé ra một khe ánh sáng" rồi "giờ chỉ còn lại ngọn đèn con của chị Tí và
(1) Ngô Văn Giá: Tiếng nói tri âm NXB Trẻ - 1994, Trang 179
Trang 24cái bếp lửa của bác Siêu Tất cả phố xá trong huyện đều thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí" với vài hột ánh sáng lọt qua phên nứa và "vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy của những con đom đóm" cũng như " ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất như ma trơi "của ngọn đèn ghi Ánh sáng lờ
mờ, chập chờn như ma quái cứ mất hút thăm thẳm trong bóng đêm bao la để rồi cuối cùng đọng lại là một đêm tối bao la ngập tràn "đêm trong phố tịch mịch và đầy bóng tối" Bóng tối
này gợi ta nhớ tới cái "trời tối như mực và tối như cái tiền đồ của chị ( Dậu )" ( Tắt đèn - Ngô
Tất Tố )-hiện thân của những kiếp người bế tắc, lầm lụi
Lại cũng có thể cảm nhận cái khung cảnh mờ xám, đơn điệu, hiu hắt trong văn Thạch Lam
Những cảnh đời trong văn Thạch Lam thường tả ít mà gợi nhiều Ta cảm nhận một cách bàng bạc cái cuộc đời bằng phẳng, đơn điệu, nhàm chán cứ lặp đi lặp lại như một nỗi bế tắc, luẩn quẩn Đấy là những cảnh sống tụ đọng vô nghĩa với những nỗi đìu hiu, ảm đạm của
"cái ao đời bằng phẳng" Con người như tê dại đi bởi một nhịp sống đều đều, đơn điệu, uể oải đến ngái ngủ Nó bất giác khiến ta phải thở dài ngao ngán vì vẻ mù mờ, lê thê kéo dài như vô tận Dường như trong cảnh sống xám đục này ít có những ngày vui những ngày sáng sủa, ấm
áp, ít có mùa xuân và ánh nắng Ở đó con người phải kéo lê cái cuộc sống "buồn não ruột" của mình cùng với một nỗi buồn chán như mụ mằn đến tê liệt Một cuộc sống tựa như đang chết mòn lặng lẽ đang kéo lê lây lất trong cái run rẩy lụi tàn của những cơn hấp hối Con người trong thế giới ấy cứ âm thầm lặng lẽ như một cái bóng vật vờ, cứ "mờ mờ nhân ảnh", mang một khuôn mặt trung tính, nhạt nhòa, sống thoi thóp trong cảnh nghèo vạc mặt
Cuộc sống của Dung( Hai lần chết) Liên ( Một đời người) Tâm (Cô hàng xén), chị em
An, Liên (Hai đứa trẻ), người lính già (Người lính cũ), v v đều chất chứa quá nhiều những
điều tẻ nhạt, đơn điệu và mang vẻ " hiu hiu, xế tà" vây bọc Như cuộc đời của Tâm chẳng hạn Đó là một cuộc đời mà sự đơn điệu, nhẫn nại cứ lặp đi lặp lại mãi trong một guồng quay không bao giờ thay đổi "ngày nay cũng như mọi ngày, và ngày mai cũng thế nữa, tất cả cuộc đời lúc nào cũng chịu khó và hết sức như một tấm vải thô dệt đều nhau" Một sự khép kín tuyệt đối và tĩnh tại Năm tháng cứ dần trôi, cuộc đời cứ mỏi mòn, tàn tạ, tuổi xuân qua đi lúc nào cũng không biết, duyên phận cứ chìm dần theo những nhọc nhằn, lo toan và bổn phận hằng ngày Một cuộc đời cứ gắng gượng, nhẫn nhục một cách lặng lẽ âm thầm Cảm thức về thời gian dường như bị nhòe đi, không còn là thời gian cụ thể Hôm qua hay ngày mai, hiện tại hay tương lai, cái đã qua hay cái sẽ đến tất cả đều như nhau Dường như là sự tịnh tiến,
sự kéo lê của cái hôm nay Tương lai chỉ là những ngày xám ngắt đang nặng nề lăn về phía trước bất chấp sự gắng gượng nhẫn nại của Tâm
Trang 25Vì vậy " thế giới của Thạch Lam căn bản là một thế giới tĩnh tại", thời gian như là sự lặp lại đơn điệu những cái cũ nhàm chán, luôn đè nặng lên số phận nhân vật
Như vậy khung cảnh trong thế nghệ thuật Thạch Lam là sự nghèo nàn, giá lạnh và tăm tối với gam màu chủ đạo là sắc thẩm tối " tất cả đều hiu hiu ảm đạm, không có sự chói gắt, không có những vang động mạnh nhưng gợi biết bao ám ảnh về số phận con người, về sự tối tăm của các cảnh đời"(1) Điều đó đã tạo nên dấu ấn hiện thực khá đặc sắc, khó lẫn ở Thạch Lam
Trên cùng một cách tiếp cảm đối vối cuộc đời, thế giới nghệ thuật của Thanh Tịnh là làng Mỹ Lý quen thuộc với vẻ đẹp nên thơ và bình lặng Không gian ấy ngập tràn thi vị và phảng phất một nỗi tiếc thương man mác Đó là một không gian đồng quê, nhưng là không gian ước lệ mang ý nghĩa cảm xúc, tâm tưởng của một thế giới tinh thần, với vẻ đẹp của những tập tục những sinh hoạt và những thể chế văn hóa làng xã, những giá trị có tính truyền thống được xác lập từ bao đời
Nhưng rồi, sự tĩnh lặng khép kín của một vùng quê thi vị ấy đã bắt đầu rùng mình, dịch chuyển trong buổi giao thoa cũ- mới, Đông-Tây Cái mới đến-với một ánh sáng khác lạ-
đã soi rọi vào nếp sống cũ, báo hiệu những rạn nứt tất yếu Nhà ga, con đường sắt, và những con tàu ngạo nghễ, thản nhiên đi qua đã cuốn hút, phá vỡ cái nhịp sống đều đều, yên ả tĩnh lặng của làng Nó như một cơn gió lạ thổi qua mảnh làng quạnh quẽ, cuốn theo những đổ vỡ, rạn nứt của những tập tục lề thói cũ Làng Mỹ Lý đẹp đẽ, thi vị đang dần mai một, tàn lụi trong xung lực cũ mới giao thoa
Cái mới đến đã kéo theo sự tàn tạ, suy vong của nền Hán học cuối mùa, làm cho nó trở nên lỗi thời, hủ lậu "học chữ Nho là một điều hoàn toàn vô ích ( ) chỉ đưa lại rắc rối
thêm cho đời học sinh chúng tôi" (Chú tôi)
Nó đã làm cho lớp trẻ giễu cợt và chối bỏ cái lễ rước thần tôn nghiêm vì họ đã không
còn tìm thấy trong đó những điều thiêng liêng, thành kính (Ra làng)
Nó đã ném một giai tầng, tông một thời vang bóng vào nỗi tàn tạ, thất thế, suy vi (Con
ông Hoàng)
Người ta hoặc sống một cách lặng lẽ, an phận với một cuộc đời tẻ nhạt, nặng nề theo
lề thói cũ (như cô Thảo, cô Hoa) hoặc đến với cái mới một cách náo nức vồ vập vì nó hấp dẫn
và lạ lẫm Người ta náo nức xem tàu hỏa, xem đá banh, trẻ con háo hức đến trường học chữ quốc ngữ, những cô gái quê chạy theo những ảo giác của những mối tình lãng mạn Nhưng kết cục cái mới và lạ lẫm chỉ đưa lại những đắng cay bất hạnh mà thôi ( duyên phận bẻ bàng của những cô thôn nữ như Sương, Phương, Duyên; đội ban quê tan rã; nhà ga biến thành ga tạm rồi bỏ hoang)
(1) Phong Lê: Lời nói đầu Bài đã dẫn, Trang 13
Trang 26Như vậy mảnh làng của Thanh Tịnh "nằm giữa hai dòng sóng đối" đang xáo trộn đổi dời trong buổi giao thoa cũ-mới " nó như là kết quả của những xung lực cũ - mới, nội tại và ngoại lai trong giai đoạn giao thời"(1) Đó là khung cảnh bất ổn, nửa vời, vừa thi vị lại vừa lạnh lùng nghiệt ngã, trong đó cái cũ đã bộc lộ những mặt lỗi thời, tàn lui cua nó, nhưng cái mới sẽ mang lai điều gì thật sự mới mẻ và tốt đẹp? Các nhân vật của Thanh Tịnh sẽ phải trả giá cho sự lựa chọn như thế nào giữa buổi giao thời lộn xộn ấy?
Những cảnh đời ở "Chân trời cũ" của Hồ Dzếnh không có ý nghĩa xã hội rộng lớn
như ở sáng tác của Thạch Lam, Thanh Tịnh nhưng nó gợi lên một cảnh ngộ "tương lai chỉ là
sự mù mịt, còn dĩ vãng thì lưu lại những dấu vết đau lòng" (Thằng cháu đích tôn) - đầy sa
sút, ly tán của một cõi đời dông bão và dâu bể Đó là những cảnh đời riêng tư trong gia đình thân thuộc của chính tác giả, được tái hiện bằng những hồi tưởng nặng nề
Khung cảnh thường thấy ở văn Hồ Dzếnh là một thế giới tiêu điều, hoang tàn, suy vi sau một thời vàng son ngắn ngủi Một thế giới " đã mất đi, đã đổi dời" dâu bể với những dịch biến, thăng trầm đột ngột Thế giới ấy đã thuộc về quá vãng, giờ đây vẫn tiếp diễn với bao nỗi cực nhọc, buồn thương Một tổ ấm gia đình lưu lạc gắn bó với nhau trong những bĩ cực, thăng trầm của cuộc đời đã bị thổi bay tan tác, li tán, chia lia trong cơn lốc phũ phàng của số phận
Có thể thấy ở Hồ Dzếnh hai cảnh đời tiêu biểu: Đó là cảnh đời cực nhọc lam lũ thường là trong quá khứ và cảnh đời phiêu dạt, li tán trong hiện tại "dĩ vãng là cực nhọc buồn thương và hiện tại là chia li tan tác" Những cảnh đời hẩm hiu, nghèo khổ thường được vây bọc bởi một không gian hẹp, tù hãm, phẳng lặng "chăm chỉ và lặng lẽ như cuộc sống vâng lời ngu muội" Đó là những cảnh đời đầy những buồn đau, cực nhọc của người mẹ, người chị dâu " với định mệnh khe khắt của duyên phận tối tăm buồn rầu" Họ đã phải chứng kiến bao nỗi tai ương, hưng phế của gia đình cũng như những khổ đau, những li tán, chết chóc lần lượt của những người thân Không gian rộng rãi thê lương thường gắn liền với số phận của những con người bị thổi bạt tới những miền xa lạ Đó là không gian hoang vắng, rợn ngợp trong giờ phút cuối cùng của người anh Cả, không gian bạt gió thê lương "phóng dật nơi góc biển chân trời" của người anh Hai, không gian bất định, lưu lạc của em Dìn, chị Yên, anh đỏ Phụ Hầu hết các nhân vật của Hồ Dzếnh đều phải bỏ xứ mà đi, bỏ tổ ấm mà dấn thân vào con đường phiêu dạt; có người vĩnh viễn nằm lại nơi đất khách quê người (anh Cả, chị Yên); có người bấp bênh, trôi dạt với một số phận chông chênh "đành liều nhắm mắt đưa chân, đánh
đu
(1) Phạm Thu Hương: Thanh Tịnh và làng Mỹ Lý Bài đã dẫn
Trang 27với số phận ở mãi Tân thế giới xa xôi (anh đỏ Phụ) Tất cả những cảnh đời lầm than hay trôi
dạt đó đều là hiện thân của những phận người hẩm hiu, nghèo khổ đầy đắng cay và bất hạnh giữa một cõi đời đầy giông bão và bất định
Việc chọn cho mình một bối cảnh, một không gian nghệ thuật cũng có nghĩa là chọn cho mình một góc nhìn, một cách tiếp cận cuộc đời Khung cảnh mờ xám, giá lạnh, tăm tối với những dịch biến thăng trầm, những đổi thay trong buổi giao thoa cũ - mới của những kiếp người bé mọn thường được cảm nhận với một nỗi buồn hiu hắt, tràn ngập những xót xa thương cảm - như là những ranh giới tạo nên giá trị hiện thực riêng biệt cho loại hình văn xuôi trữ tình thời kỳ 1932 - 1945
b) Những số phận mỏi mòn, bất hạnh
Nổi lên trên cái bức tranh mờ xám ngập tràn bóng tối và giá rét là số phận đắng cay bất hạnh của những con người nghèo khổ Họ là những kiếp người "hèn mọn" bị cuộc đời xô đẩy vào những cảnh ngộ éo le, tuyệt vọng
Trong thế giới nghệ thuật của Thạch Lam họ là dân quê và dân nghèo thành thị "xúc cảm của nhà văn thường bắt nguồn và nảy sinh từ những chân cảm đối với con người ở tầng lớp dân nghèo thành thị và nông thôn"(1)
Trên bối cảnh rất giàu sức gợi kia, họ hiện lên như những kiếp người yếu đuối, nhỏ nhoi cứ âm thầm chịu đựng một cuộc sống hoặc là quá cực nhọc nghèo nàn hoặc là quá nhạt nhẽo, bằng phẳng Nhân vật của Thạch Lam dường như luôn nằm trong hai cái dòng đời tù hãm đó Họ phải bươn chải, ngược xuôi để kiếm kế mưu sinh Dù phải tất bật, phải đầu tắt
mặt tối, bác Lê (Nhà mẹ Lê) vẫn khó lòng nuôi đủ cả một bầy con đông đúc Cái nghèo như
một gia tài truyện kiếp, theo đuổi mãi không biết bao giờ dứt Suốt một đời chỉ toàn những ngày khổ sở nhọc nhằn trôi đi trong nghèo đói và lam làm vất vả Gặp lúc mất mùa đói kém, không có người thuê, trước đàn con eo sèo kêu đói, bác đã liều mình đi vay gạo, bị nhà giàu xua chó cắn Cái chết thê thảm của bác là một thực trạng chua xót nhức nhối của một kiếp người lầm lụi
Bác Dư phu xe (Một cơn giận) rơi vào một cảnh ngộ đau lòng Vì vợ con ốm đau,
phải chạy một cuốc xe tay lậu, bị bắt, bị phạt, không đủ tiền nộp bác đã bị hành hạ như thân phận của con giun cái kiến Quá sợ hãi bác đã phải bỏ trốn, để lại cái chết tội nghiệp cho đứa con thơ dại Đó là số phận của người lính già, sống trong cảnh thân tàn ma dại, "tứ cố vô thân" trong cái quán vắng bỏ không giữa chốn đồng không mông quạnh Tất cả chỉ còn lại những hoài niệm chua xót về một dĩ vãng thăm thẳm xa lắc - xa như tới tận trời Đó là Bào
(Người bạn trẻ) thất nghiệp, lại ốm đau liên miên, quá phẫn uất vì tuyệt vọng Bào đã thắt cổ
tự tử kết thúc một đời người ngắn ngủi nhưng đầy oan nghiệt, cay cực Là thân phận của
những Huệ, Liên (Tối ba mươi) - những con người bị sĩ nhục, bơ vơ lạc loài
(1) Nguyễn Tuân : Thạch Lam Sách đã dẫn, trang 323
Trang 28như cái thân phận lưu đày - vào thời khắc thiêng liêng của phút giao thừa, hai cô gái điếm trong căn nhà trống vắng, mới cảm thấy tủi hổ, đắng cay cùng cực và xa xót cho thân phận
của chính mình Đó còn là Mai, Sinh (Đói) vì cái đói giày vò mà phải bán cả nhân phẩm -
như một nỗi cùng đường tuyệt vọng
Đó là những trang viết thiết tha và đầy xúc động về số phận của những người khốn khổ trong sáng tác của Thạch Lam Họ là những nạn nhân bất hạnh vì thất nghiệp, vì túng nghèo, vì hàng trăm thứ tai họa dồn đến cái kiếp sống nhỏ nhoi Cái đó đã làm nên giá trị hiện thực đậm nét và tinh thần nhân đạo sâu sắc trong sáng tác của Thạch Lam Cố nhiên nội dung hiện thực và nhân đạo gắn một cách hữu cố với bản sắc riêng trong bút pháp Thạch Lam Đó không phải là một bức tranh khách quan với cái nhìn "hiện thực nghiêm ngặt và cao tay" hay "hiện thực nghiêm ngặt, tỉnh táo", mà thông qua tâm sự thâm trầm, kín đáo, tinh tế
nó có sức gợi thức và lan truyền đầy dư vang, ám ảnh
Mặt khác, một ấn tượng đậm nét - cái tạo nên ranh giới giá trị riêng ở Thạch Lam là cảnh ngộ, là số phận những con người sống một cuộc đời khuất lấp, lầm lụi trong cái dòng đời xám nhờ, nhạt nhẽo Cái chất bằng lặng, tù đọng, mỏi mòn của cuộc đời đã làm cho con người trở nên còm cõi, cam chịu với những chuỗi ngày xám ngắt vô nghĩa Đó là những cảnh đời hiu hắt, tù lặng đã nói tới ở trên Con người ở đây gần như đang dần mất hút, khuất lấp đi trong màn sương nhờ đục của đìu hiu ảm đạm Điều này còn nặng nề và thê thảm hơn cả cái đói dày vò Bởi vì nó quá ư nhức nhối, nó dai dẳng, quẩn quanh, nó có sức gặm nhấm và làm
tê liệt tâm hồn con người Các nhân vật sống lay lắt trong cái vòng đời quẩn quanh, lặp đi lặp lại mãi với một giai điệu buồn buồn, tẻ ngắt còn kinh khủng hơn cái đói chết người Cuộc
sống của Dung (Hai lần chết) là một chuỗi ngày chết mòn lặng lẽ Cô lớn lên âm thầm, vật vờ
như một loài cỏ dại trong sự hững hờ đến vô tâm của gia đình Cô lấy chồng, một cuộc hôn nhân do cha mẹ áp đặt Không chịu nổi những đay nghiến, xỉ vả những hành hạ của người mẹ chồng quá quắt, Dung đã tìm đến cái chết như một "sự thoát nợ" Nhưng đã dễ mà chết được Cái cuộc đời bị hắt hủi, sĩ nhục đã khép kín, vây bọc lấy cô như một nghiệp chướng oan khiên Cô trở lại nhà chồng, "lần này mới hẳn là chết đuối, chết không bíu víu vào đâu được, chết không còn ai cứu vớt nàng nữa"
Trường hợp của Tâm (Cô hàng xén) cũng chả sáng sủa gì hơn Cả một cuộc đời đằng
đẳng chỉ đơn điệu với những bước đi nhọc nhằn và một gánh hàng xén ngày càng trở nên nặng nề trên đôi vai nhỏ bé "Chiếc đòn gánh cong xuống và rền rỉ" như một tiếng than cho một thân phận tối tăm và lầm lụi "Tâm buồn rầu nhìn thấu cả cuộc đời nàng Cuộc đời cô hàng xén từ tuổi trẻ đến tuổi già, toàn khó nhọc và lo sợ, ngày nọ dệt vào ngày kia như một tấm vải thô "
Truyện ôm trùm dung lượng cả một kiếp người Trong đó cuộc đời cứ kéo lê, mỏi mòn với những gắng gượng lặng lẽ xen vào chuỗi ngày bất di bất dịch Tất
Trang 29cả những biến cố trong cuộc đời của Tâm cũng không hề làm thay đổi cái "vòng sống" cũ mòn nhẫn nại đến phát sợ ấy
Tiêu biểu cho phương diện này là truyện ngắn Hơi đứa trẻ Đây là một bức tranh thu
nhỏ của xã hội Việt Nam trước Cách mạng 1945 với tất cả tính chất tù hãm, ngưng trệ với sự mỏi mòn, đơn điệu
Một thị trấn huyện lỵ đìu hiu, xơ xác, lỗ đổ những ánh đèn dầu, le lói từ chõng hàng của chị em An, Liên, hàng nước của chị Tý, gánh phở rong của bác Siêu và những gánh quà vặt nghèo nàn Một phố huyện lèo tèo, tăm tối, bằng lặng chỉ bị khuấy động trong giây lát bởi một chuyến tàu đêm đi qua Sau đó lại khép lại câm lặng với những đêm đen mênh mông hun hút Hiện lên trên cái nền tối thăm thẳm ấy là những kiếp người lầm lụi, những mảnh đời tù hãm mà quay đi, quẩn lại ngày này qua đêm khác, cũng chỉ ngần ấy sinh hoạt, cũng chỉ ngần
ấy mặt người Chị Tỵ hàng nước, bác phở Siêu, bác Xẩm với manh chiếu, chiếc chậu sắt và đứa trẻ bò lê la trên rác bẩn, bà cụ Thi nghiện rượu hơi điên điên Tất cả đều leo lết, hiu hắt giống như ngọn đèn con trước cái mênh mông tối tăm của trời đất -một biểu tượng độc đáo
về những số kiếp nhỏ nhoi, mỏi mòn, đơn điệu Họ sống quẩn quanh, bế tắc trong môi trường chật hẹp, khép kín như một vũng ao tù Nhân vật của Thạch Lam thường mang một bộ mặt trung tính nhạt nhòa, nó thường bị che khuất bởi bóng tối, ít khi rõ mặt Nó không được xây dựng theo nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực như là " những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình" Vì thế số phận của họ ít có những dữ dằn, nghiệt ngã của một chị Dậu, một Chí Phèo Họ chìm lấp trong hoàn cảnh, lặn ngụp trong đó như một ao tù, không cách gì vượt lên hoặc thay đổi tý chút
Chất hiện thực trong văn Thanh Tịnh được nhận chân như là "những vấn đề của đời sống dân nghèo miền Trung"(1)
Dù chắt lọc lấy phần thi vị trong cuộc sống nghèo nàn, bộn bề, nhưng ngòi bút Thanh Tịnh không vì thế mà né tránh những vấn đề có phần bi thảm, dữ dội của hiện thực Đằng sau những trang viết trữ tình sâu lắng, đằm thắm vẫn luôn hiện diện, ẩn dấu những cuộc đời, những số phận ở một mảnh làng miền Trung vốn nghèo nàn và cơ cực Đầy bi thảm là số phận của những người dân chài suốt cuộc đời sống trôi dạt, nổi nênh trên phá rộng, sông dài
Họ phải chống chọi với những khắc nghiệt của thiên nhiên, và cuối cùng đều chết hết trong
một trận bão khủng khiếp (Làng) Đó là cuộc đời nghèo khổ, vất vả và đầy phẳng lặng của cô Thảo (Quê mẹ), cô Hoa (Con so về nhà mẹ), suốt đời lam lũ, "làm việc từ mai đến chiều, tối
tăm cả mày mặt" thế mà vẫn nghèo nàn, cơ hàn đến cùng cực
Nói đến dấu ấn hiện thực có phần bi thảm dữ dội ở Thanh Tịnh người ta vẫn thường
nhắc tới "Ngậm ngải tìm trầm" và "Am cu ly xe" "Ngậm ngải tìm trầm" là câu chuyện chứa
đầy những yếu tố huyền thoải kỳ ảo Đó là biểu tượng
Trang 30nghệ thuật có sức khái quát về tình trạng liều lĩnh, tuyệt vọng và sức tàn phá của những tai họa dồn lên những số kiếp nghèo hèn Mong thoát khỏi cảnh nghèo, bác Diệm đã phải liều mạng ngậm ngải tìm trầm một công việc cực kỳ gian khổ và nguy hiểm Cái chung cục bi đát
đó (hoa hổ và chịu cảnh sinh ly) là sự thê thảm của một số phận chỉ vì công cuộc mưu sinh,
đã bị đẩy đến chỗ cùng đường quẩn trí, trở thành những kẻ liều lĩnh và tuyệt vọng Am cu ly
xe là một truyện ngắn đặc sắc, viết về cuộc đời bi đát, tội nghiệp của một đứa trẻ và một ông lão mù kéo xe Đây là một truyện ngắn có nội dung hiện thực sâu sắc, nghiêm ngặt đồng thời cũng giàu chất nhân đạo chủ nghĩa thắm thiết và chân thật nhất
Câu chuyện gây một ấn tượng đậm nét bởi hình ảnh tội nghiệp của một đứa trẻ lên mười lẽo đẽo dắt theo một ông lão mù kéo cái xe tay ọp ẹp "đi dưới dòng mưa đêm lạnh ngắt" Thế rồi trong đêm đó vì ế khách, ông già "phần già yếu, phần đau buồn, phần đói rét, ông gục xuống dần rồi nằm chết ngắt" để lại đứa cháu côi cút sợ hãi, la thét lên "nghe đứt ruột bay lạc giữa đêm mưa tầm tã "
Sống trong buổi giao thời nhân vật Thanh Tịnh thường đi về trên hai nẻo đường khác nhau Hoặc là họ vẫn âm thầm lặng lẽ với cái nhịp sống làng quê phang lặng như bao đời cha ông họ đã từng sống - nhưng điều đó quả là nặng nề, bằng phảng, quẩn quanh; hoặc là họ chạy theo cái mới để rồi phải trả giá cho sự lựa chọn của chính mình, - họ bị ném trả lại một cách tàn nhẫn với những ân hận, lỡ làng của một duyên phận hẩm hiu Ở cả hai nẻo đường, nhân vật của ông đều rơi vào bi kịch, khốn khổ Đó là số phận của người nông dân trong không khí nửa vời, bất ổn khi sự áp đặt tự bên ngoài của cái mới vào làng quê Việt Nam trong buổi giao thoa cũ - mới Hoàn cảnh ấy đã đẩy nhân vật của Thanh Tịnh tới những vòng xoáy đầy nặng nề và cay đắng Có người phải lưu đày vĩnh viễn khỏi làng quê như trường
hợp cô Duyên (Bên con đường sắt) - như một sự trả giá cho sự lựa chọn nhầm lẫn của mình
Như vậy ở cả Thạch Lam và Thanh Tịnh - chất hiện thực không phải là sự giải thích, phân tích các quan hệ xã hội mà thường là khêu gợi tình thương đối với những con người nhỏ
bé, hèn mọn có số phận đáng thương Những cảnh ngộ éo le, tội nghiệp vì đói nghèo, vì bị áp bức vô lý, vì cuộc sống bằng lặng, đơn điệu, leo lết - thường trở thành trung tâm hứng thú của tác phẩm - vì thế dấu ấn hiện thực ít có độ đậm đặc cao như một cảm hứng chủ đạo Đó là một thứ hiện thực thắm đượm phong vị trữ tình
Trong cùng một khu vực, Hồ Dzếnh với tập Chân trời cũ đã tạo dựng một cách đầy thương cảm xót xa về những cảnh đời và số phận đau buồn của người thân trong gia đình: từ
ba, mẹ, anh Cả, anh Hai, em gái, đến chị dâu, chị nuôi, anh rể hụt, chú, dì và những người hàng xóm nghèo khổ Với nỗi buồn thân phận của một kiếp người lưu lạc, một cảm quan bi đát nhuốm đầy "nỗi niềm dâu bể" tác giả
Trang 31Chân trời cũ đã thể hiện khá chân thực cái hiu hắt, tàn lụi cũng như cái mênh mông vô định
của những kiếp sống quá đỗi mông mênh, bất trắc
Chất hiện thực ở ông - là chân dung, lai lịch, cuộc đời của những con người, trong đó người nào cũng rơi vào cảnh ngộ éo le, buồn tủi "người nào cũng mang một tâm hồn đau khổ" và "ngập đầy nước mắt"(1) Nó như một cảm khái trước biến dịch của số phận con người
Đó là người mẹ lái đò nghèo nàn cơ cực, đã bao phen nuốt cạn những giọt lệ đắng cay
vì những mất mát những bi kịch, những tan hợp, ly tán Năm tháng và những nỗi đớn đau đã
đè nặng lên tấm lưng còm cõi như một nỗi cay nghiệt đầy phũ phàng của số phận Sao lắm bất trắc và nhiều tai họa đến thế dồn ứ cả một kiếp người?
Là người chị dâu (Người chị dâu tôi) "làm dâu một gia đình cơ khổ" cứ kéo lê cuộc
đời tối tăm và lặng lẽ "dưới cái nóc nhà đã chứng kiến những ngày buồn thảm của đời chị, giữa sự lãnh đạm của mọi người Cả cuộc đời ngập đầy nước mắt vì nỗi buồn xa xứ, vì nỗi chạnh nhớ cảnh sum họp gia đình thuở nào, vì bơ vơ lạc lõng, vì bị la mắng sỉ nhục "chị tôi hay khóc lắm, khóc rưng rức suốt cả ngày" Đó là một số phận ngậm ngùi, câm lặng với bao nỗi xót xa
Là số phận của Yên (Chị Yên) người con nuôi thay cho người nhà, tuy không bị hành
hạ bạc đãi nhưng phải chịu bao hy sinh thiệt thòi, sống "những tháng ngày âm u và bị quên lãng trong lũy tre xanh" Đang trong thời kỳ hứa hôn, bị kẻ khác chiếm đoạt, Yên phải bỏ nhà trốn biệt rồi an phận bên người chồng tạc đá nghèo nàn bên nùi Nhồi Sau đó chồng, con và Yên đều bị chết cả như một "tấn kịch đau đớn nhất"
Nhân vật của Hồ Dzếnh, thường bị nghiền nát bởi hoàn cảnh Hoàn cảnh thường là những tai họa bất trắc khôn lường trong số phận con người Nó thường đẩy nhân vật vào những đường hầm tuyệt vọng, khiến họ không có sự lựa chọn nào khác ngoài một giải pháp
duy nhất: phiêu bạt, phó mặc cho số phận Những anh Cả (Người anh xấu số), anh Hai (Vừa
một kiếp người), em Dìn (Em Dìn), chị Yên (Chị Yên), anh đỏ Phụ (Anh đỏ Phụ) đều là
những kiếp người - tình cờ hay số phận - bị xô đẩy trôi dạt làm kiếp ly hương, như một sự giải thoát, buông trôi, phó mặc cho những may rủi tình cờ của số phận
Anh Hai một con người duyên phận cứ liên tiếp lỡ làng, vì phẫn uất, vì buồn đau đã phải bỏ xứ mà đi, chịu những đắng cay, ấm lạnh của một kiếp xa xứ "như một cánh chim trong không gian thê lương và mênh mông"
(1) Thạch Lam: Tựa Chân trời cũ Sách đã dẫn, Trang 6
Trang 32Anh đỏ Phụ - cũng vì duyên lứa bất thành, chịu cảnh hẩm hiu của duyên phận lỡ làng,
và cũng vì nghèo nàn thất nghiệp đành "liều một chuyến" gạt nước mắt đi phu Tân thế giới
Tất cả họ, cảnh ngộ có thể không giống nhau nhưng đều có chung một kết cục Đó là
sự rời bỏ mái ấm gia đình và quê hương xứ sở, lưu lạc trên con đường vô định như để tránh đi cái số kiếp nghèo hèn, bất hạnh Điều đó đã tạo cho những trang viết của Hồ Dzếnh một dấu
ấn hiện thực đậm nét, tuy ý nghĩa xã hội có phần bị bó hẹp
Văn xuôi trữ tình thời kỳ 1932 - 1945 qua sáng tác của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh đã nói với chúng ta một cách chân thực, thấm thía về những cảnh đời và những số phận nghèo nàn bất hạnh của những con người lớp dưới Không có tham vọng trình bày những bức tranh xã hội rộng lớn với một bút pháp tả thực nghiêm ngặt - họ thường đi sâu vào những cảnh đời nghèo nàn, đơn điệu, xám xịt, ngập tràn nỗi buồn bóng tối, những cảnh đời đầy những thăng trầm và dịch biến; họ thường đề cập những mảnh đời những số phận mỏi mòn bất hạnh thuộc tầng lớp dưới - lấy đó làm hướng chính của sự nhận thức và thể hiện nghệ thuật đã tạo cho những trang viết của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh một màu sắc hiện thực độc đáo, như một nét ưu trội trong khuynh hướng thẩm mỹ
Do đó có thể nói tới chất hiện thực như một tố chất thẩm mỹ quan trọng trong văn xuôi trữ tình thời kỳ này bên cạnh chất lãng mạn, thi vị
I 2 Chất lãng mạn
Hiện thực và lãng mạn là hai khuynh hướng cảm hứng thẩm mỹ khác nhau Cả hai mạch cảm hứng này đều tồn tại song hành trong văn của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, tạo nên một dáng vẻ độc đáo, một sự "khác biệt ít nhiều" cho văn xuôi trữ tình thời kỳ này so với các loại hình văn xuôi khác
a) Cái nhìn thi vị đối với cuộc đời
Cảm hứng lãng mạn thường được thể hiện khá rõ ở cách nhìn con người và cuộc đời
Nó thường chắt lọc lấy trong cuộc sống bộn bề khốn khó phần thi vị, thơ mộng, phần chất thơ hửng sáng để nhằm trang điểm cho những cuộc đời vốn nghèo nàn và cơ cực
Có lẽ xuất phát từ quan niệm "văn chương là một khí giới thanh cao và đắc lực ( ) nhằm làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú" - như một
Trang 33thiên chức cao quý - mà "tạng" riêng của Thạch Lam hầu như không phù hợp với những điều nặng nề, những yếu tố tàn nhẫn của hiện thực Với một bút pháp trữ tình sâu lắng, ông thiên
về khai thác và khám phá vẻ vẻ đẹp của những con người nhỏ bé trong cuộc sống khuất lấp
và lầm lụi của họ Thạch Lam thuộc vào số những người cầm bút với thiên chức là tôn vinh
sự sống và cái đẹp ở đời vì thế mà ông không giống Nguyễn Công Hoan "nhìn cuộc đời như một sân khấu hài kịch đầy những tấn tuồng khôi hài và chua chát"(1) Ông cũng không đến với cuộc đời bằng thái độ "phẫn uất khôn nguôi cái xã hội chó đểu"(2) như Vũ Trọng Phụng Với một vẻ lặng lẽ điềm tĩnh, một tiếng nói từ tốn và nhỏ nhẹ như tự kìm chế mình - ông trân trọng và chắt chiu những vẻ đẹp khiêm nhường, bình dị và khác nhau của cuộc sống Xuất phát từ cái nhìn thi vị đối với cuộc sống mà ở thế giới nghệ thuật của Thạch Lam thường vẫn
ít có cái xô bồ, góc cạnh, nghiệt ngã của cuộc đời Tất cả dội vào những trang viết của ông làm ta có cảm tưởng chúng đã được gạn lọc đi nhiều vẩn đục Tất cả đều lặng lẽ u buồn, đều được phủ một chất thơ bằng bạc Chất thơ ấy như lãng đãng xao xác trên những số phận, những cuộc đời hiu hắt kia Phát hiện ở vỉa sâu của vẻ đẹp nội tâm nhân vật, tìm kiếm một cách trân trọng những dạng vẻ khác nhau của cái Đẹp ẩn giấu, tiềm tàng trong cuộc đời thường nhật đã tạo cho những trang viết của Thạch Lam một "khí sắc" lãng mạn dồi dào, nó không bị khuất lấp đi giữa bao thứ vụn vặt tầm thường
"Là người chắt chiu cái đẹp" hay "người tìm kiếm cái đẹp bị đánh mất"(3)
-Thạch Lam thường tìm về với những cảnh đời của người nghèo Có lẽ chỉ trong hoàn cảnh nghèo hèn, thanh bạch, cái đẹp cái thi vị ấy mới trở nên đáng nâng niu trân trọng
Mẹ Lê một người mẹ tần tảo, nghèo nàn Như ng trong cuộc sống vốn dĩ nghèo nàn ấy không phải không có những niềm vui, những hạnh phúc nhỏ nhoi, bình dị Đó là cái ấm cúng sum vầy của "một bữa cơm nóng lúc buổi tối giá rét, mẹ con ngồi quanh nồi cơm bốc hơi, trong khi bên ngoài giá lạnh rít qua mái tranh" Rồi những buổi chiều mùa hạ "các bà mẹ ngồi
rủ rỉ với nhau những câu chuyện kín đáo, các trẻ con nô đùa dưới quán chợ" Rồi những đêm sáng trăng mùa hạ "ai ai cũng vui vẻ trò chuyện, tiếng cười to và dài của người lớn xen lẫn với tiếng cười khúc khích của các cô gái chúm chụm sát nhau trong bóng tối"
Trang 34Cái hạnh phúc nhỏ bé, bình dị và rất đỗi hiếm hoi ấy - như một nỗi thi vị trong cảnh đời cơ cực, tất bật Và chỉ đặt ương tình thế bị cái đói giày vò - Sinh mới bỗng dưng phát hiện
ra "những miếng đậu vàng trong chảo mỡ phồng dần trên ngọn lửa, mấy con cá rán bắt đầu cong lại" cái hạnh phúc lớn lao "làm cho chàng ao ước đến rung động cả người"
Trong cuộc đời nhẫn nại, gắng gượng của Tâm, Tâm đã tìm thấy hạnh phúc trong sự cam tâm, an phận và đức hy sinh lặng lẽ "cô thấy lòng đầm ấm và tự kiêu, lòng người chị chịu khó nhọc để kiếm tiền nuôi em ăn học", "không bao giờ Tâm nghĩ cho mình, cho cuộc đời của riêng cô" Đó chính là vẻ đẹp của một tâm hồn giàu đức hy sinh lặng lẽ Được hy sinh
vì những người thân yêu và trong sự hy sinh "không biết nghĩ cho riêng mình" Tâm đã tìm ra hạnh phúc
Nặng lòng trước cái đẹp của cuộc sống, Thạch Lam không thể không đau buồn trước cuộc đời và số phận của họ ; cũng như không thể không nói tới cái ác, cái xấu Nhưng có lẽ ông không phải là người nhạy cảm trước những gì đen tối xấu xa của cuộc sống "ông không chú mục tô đậm cái Ác, ông chỉ lãnh đạm nói tới họ" Vì vậy nhân vật phản diện ở Thạch Lam ít xuất hiện với một bộ mặt ghê tởm, tàn ác như một Bá Kiến, một Nghị Hách, Nghị Quế Cái ác ở ông không lộ liễu, trần trụi và xuất hiện như một đối tượng buộc người ta ghê tởm, căm giận Có lẽ muốn lọc bỏ đi những điều nặng nề, muốn tránh cho nhân vật những điều tàn nhẫn, có lẽ vì xuất phát từ cách nhìn đời nặng về những rung cảm, thi vị mà Thạch Lam ít chú ý tô đậm ở phương diện này Ông chỉ muốn chắt gợn từng chút, từng tí tốt đẹp trong mỗi một con người Dễ hiểu vì sao nhân vật của Thạch Lam không chịu nổi cái ác Nếu có lỡ gây ra vì một lý do nào đó thì họ sớm biết ân hận, dày vò Đó là trường hợp của
Thanh (Một cơn giận), Thành (Sợi tóc) - những con người rơi vào ranh giới tranh chấp giữa
cái thiện và cái ác; nhưng họ đã tự phản tình, sám hối Bằng sự thức tình của lương tâm, của phẩm giá họ đã tự xác lập năng lực nhân tính cho mình, dù là ranh giới ấy quả thực là quá đỗi mong manh
Một biểu hiện nữa của dấu ấn lãng mạn ở Thạch Lam là những truyện ngắn viết về những mối tình trong sáng, thanh sạch với rất nhiều dư vị ngọt ngào
Tình xưa là một kỷ niệm đượm buồn về mối tình đầu - một mối tình với bao thơ
mộng, vui buồn của thủơ học trò đầy nhẹ nhàng, thanh sạch Mối tình giữa Lan (Cô gái chủ nhà) và cậu học trò diễn ra trong một bối cảnh thơ mộng Một mối tình chân quê với những chăm sóc, những quan tâm, những cử chỉ mộc mạc đằm thắm khiến ta cảm động "với một nỗi bâng khuâng nhẹ nhàng dìu tâm hồn con người đến những tình cảm man mác tiếc thương"
Trang 35Trường hợp của Hậu (Nắng trong vườn), Trinh (Trở về), Mai (Trong bóng tối buổi
chiều) là những mối tình có nhiều đằm thắm thơ mộng, lẫn những đắng cay tuyệt vọng của
tình yêu dang dở Nhưng dẫu sao nó vẫn trong trẻo, thanh sạch với rất nhiều dư vị man mác tiếc thương Nó chưa dẩn đến những nhơ nhớp, những tan nát vì sự lừa dối một cách đểu cáng, phản phúc
"Dưới bóng hoàng lan" là truyện ngắn giàu chất thơ, ca ngợi cái trong trẻo ấm áp của tình người, tình đời Truyện thấm đẫm một hương vị thơ mộng, từ cái không gian tĩnh lặng và đầy hương thơm của giàn hoa lý, của cây hoàng lan đến người bà "tóc bạc phơ và hiền từ" đến cô bé hàng xóm thân thương đằm thắm, khiến Thanh có cảm giác "có cái gì dịu ngọt chăng tơ đâu đây khiến chàng vương phải" Tất cả đều lắng lọc êm đềm như cái thế giới huyền thoại lung linh ảo diệu, thấm đượm cái chất người và tình đời sâu nặng Người ra đi mãi nhớ về những kỷ niệm nơi mảnh vườn thân thương, còn người ở lại "mỗi mùa cô lại giắt hoàng lan trong mái tóc để tưởng nhớ mùi hương" Truyện man mác như một bài thơ đầy dư vang
Chất lãng mạn ở Thạch Lam vì vậy mà nó không mang tính chất tiêu cực, thoát ly, không ảo tưởng một cách chủ quan hời hợt, tất cả đều dịu ngọt giàu thi vị "một hương vị thơ mộng, không tiêu cực, nó mong muốn cho sự thủy chung và gợi thức ở ta tình người và niềm vui sống"(1)
Cũng với cách nhìn thi vị đối với cuộc đời, tác giả "Quê mẹ" dù viết về một vùng nông thôn nghèo miền Trung nhưng "đã chắt lọc cái phần thơ rất có thực trong cuộc đời"
Làng quê của Thanh Tịnh không phải là cái làng quê tiêu điều xơ xác, vắng lặng như vẫn thường thấy trong văn xuôi hiện thực thời bấy giờ Mảnh làng yên bình của ông hiện lên như "một dặm đẹp" "chỉ rặt đầy những cái thơ mộng, đầy huyền ảo" Có thể xem Thanh Tịnh như một nhà thơ điền viên, có cái nhìn thi vị đối với làng quê, ông đã biết chắt lọc lấy trong cuộc sống thôn đã phần chất thơ đẹp đẽ của "cái tình quê lai láng rung rinh" "cái thi vị của một vùng" Làng Mỹ Lý của Thanh Tịnh - với vẻ đẹp nên thơ về chiều sâu văn hóa của nó -
là một thế giới nghệ thuật quen thuộc "mang mùi vị đất quê" rất đậm Người ca sĩ của đồng quê xiết bao yêu mến gắn bó với cảnh vật làng quê với những đêm trăng, mùa gặt, con đò, dòng sông, bến nước đã phát hiện và khám phá ra rất nhiều thi vị trong cuộc sống thuần phác, bình dị và
(1) Phong Lê Sách đã dẫn, Trang 17
Trang 36lặng lẽ "Mỗi truyện ngắn của Thanh Tịnh là một bài thơ Tất cả dường như chỉ xoay quanh một tứ: Quê hương ta đẹp lắm, vẻ đẹp hiền hòa kín đáo mà sâu sắc thiết tha”(1)
Ở làng quê ấy dẫu đói nghèo khốn khó nhưng những cô gái lấy chồng xa (như cô Thảo, cô Hoa) vẫn luôn thấp thỏm bồn chồn bởi nỗi lòng nhớ quê sâu nặng Cũng ở mảnh làng ấy luôn ngập tràn những câu hát run rẩy, những điệu hò mái nhì, mái đẩy man mác như
một niềm đắm say, khắc khoải, một khát vọng âm thầm(Tình trong câu hát) Với Thanh Tịnh
dòng sông, câu hát đã trở thành biểu trưng của văn hóa làng xã Nó như một nét đẹp của văn minh, văn hóa đẹp đẽ của một thời "trai gái trong làng say hò như người ta bùa ngãi đến nỗi khi tiếng hò đi qua làng lạ mà không người đáp lại là cả dân vùng ấy mang tiếng thiếu mặt tài
hoa "(Bến ma)
Nhân vật của Thanh Tịnh như hòa mình tắm đẫm trong hơi thở thiên nhiên đồng quê
và những câu ca có từ nghìn đời Tâm hồn họ phóng khoáng bay bỗng Dù cuộc đời có khốn khó cực nhọc, hay duyên phận bẽ bàng nhưng tâm hồn họ vẫn ham sống, yêu đời Họ giải bày tình cảm một cách kín đáo qua những câu hát đưa duyên lan dài trên mặt sông mênh mông
Đó là hình thức sinh hoạt văn hóa dân dã "vừa mộc mạc nguyên sơ, vừa duyên dáng thanh nhã của người dân quê bình dị, tài hoa" Ở mảnh làng ấy những cô gái quê thuần phác mộc mạc yêu một tình yêu thắm thiết mà kín đáo mộc mạc Đây là những trang viết mang dấu ấn
lãng mạn đậm nét của Thanh Tịnh Tình yêu của Duyên (Bên con đường sắt), Sương (Tình
thư), Phương (Bến Nứa) cũng giống như những Hậu, Mai, Trinh - vừa có một chút lãng mạn,
một chút duyên thầm, một ít dư vị ngọt ngào nhưng cũng đầy đắng cay vì lỡ làng trắc trở
Trường hợp của Sương (Tình thư) với một cuộc tình ngắn ngủi giữa thấy ký ga với cô gái quê
; khởi đầu với bao đằm thắm ngọt ngào nhưng rút cuộc họ phải uống cạn những nỗi đắng cay của tình yêu bất thành dở dang Tiếng còi tàu cuối truyện như gợi cảnh biệt ly não nề "tiếng còi xe lửa ra Bắc lại rúc lên lanh lảnh ngoài quảng đồng xa mờ, vắng lặng" Và cũng chính
tình yêu ấy đã đẩy bật Duyên (Bên con đường sắt) bật rễ khỏi làng, chịu án lưu đày vĩnh viễn
để tránh đi những ân hận đau xót của một tình yêu bất thành
(1) Nguyễn Đăng Mạnh Sách đã dẫn Trang 51
Trang 37Cũng giống như Thạch Lam - một nhà văn nặng lòng với cái đẹp - bút pháp trữ tình của Thanh Tịnh đã lọc bỏ đi những gì là nặng nề nghiệt ngã Nó như là hệ quả của sự thi vị hóa, lý tưởng hóa với cái đời sống nông thôn khổ cực hồi đó Vì vậy mà ông thích "những cái
gì nhẹ nhàng, dịu ngọt, bâng khuâng man mác" Nó đưa lại những trang viết trữ tình, tinh tế đầy khí sắc lãng mạn cho văn xuôi Thanh Tịnh
Dấu ấn lãng mạn ở tập Chân trời cũ của Hồ Dzếnh là sự ngoái nhìn về quá vãng Bút
pháp trữ tình ở Hồ Dzếnh đã tìm về quá khứ với một niềm tiếc hận khôn nguôi của một thế giới đã "sập đổ" đã "đổi rồi" Không gian hoài niệm ngập tràn một nỗi niềm chua xót, day dứt
đã "tạo nên một phong vị trữ tình ảo diệu ít thấy" Dấu ấn lãng mạn như hiện diện ở lối sống đôn hậu, nghĩa tình của những con người biết nương dựa vào nhau, cùng nhau vượt qua những khốn khó nghiệt ngã của số phận, Chất thơ nồng ấm toát lên từ cái đẹp đẽ của tình đời, tình người, từ sự nhẫn nại vị tha và giàu đức hy sinh của những người mẹ, người chị "hiện lên như những đốm sáng tinh thần" "lung linh một vẻ đẹp thuần khiết"
Dấu ấn lãng mạn còn hiện diện ở tấm lòng giàu yêu thương trắc ẩn và rất nhiều thương cảm xót xa, trân trọng cho những cuộc đời đã đi qua tuổi thơ đầy nước mắt của ông
Viết về người mẹ (Trong lòng mẹ) "một duyên phận tối tăm và buồn rầu, đau khổ ngay từ lúc
lọt lòng" tác giả với một tấm lòng hiếu để đã "thấm thía hết được, những tiếng thở dài mất tăm trong đêm tối, những mái đầu bù rối nghiêng xuống bổn phận hàng ngày tầm thường và nhỏ mọn" Viết về người chị dâu tác giả nhắn gửi: "chị hãy nhận ở đây ( ) một lời an ủi để may ra lòng đau khổ của chị được san sẻ một vài phần" Nỗi buồn đau của những người thân
đã được Hồ Dzếnh chia sẽ với một tấm lòng đồng cảm sâu sắc, một niềm day dứt, tự vấn khôn nguôi Điều đó đã tạo nên một dấu ấn lãng mạn đậm nét cho Chân trời cũ
Như vậy cái nhìn thi vị và mang đậm chất trữ tình ở Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh là một biểu hiện rõ nét của dấu ấn lãng mạn Nó thể hiện sự gần gũi, thống nhất trong cách chiếm lĩnh và thể hiện nghệ thuật, tạo thành dấu ấn của bút pháp và đặc điểm thẩm mỹ của loại hình văn xuôi trữ tình - đó là sự rung cảm tinh tế giàu chất thơ, đậm màu sắc trữ tình trước cuộc đời
b) Sự ưu tiên cho việc bộc lộ cái "tôi" duy cảm
Dấu ấn hiện thực và cái nhìn thi vị nói trên thường được thể hiện với những đường nét thưa thoáng, bàng bạc Tác dụng truyền cảm của nó chính là sức gợi và
Trang 38khả năng ám ảnh Vì vậy văn xuôi trữ tình thường nhẹ về miêu tả khách quan và nặng về thể hiện cái "tôi" nội cảm Sự ưu tiên này đã tạo ra những khoảng không rộng rãi cho người viết
và nhân vật tự bộc lộ Trên dòng phát triển của cốt truyện, người kể chuyện đã lồng vào những suy nghĩ, cảm xúc, những rung động tinh tế đậm một dư vị trữ tình Do đó nó có lợi thế giống như thơ trong khả năng giải bày, bộc bạch Ở đây các yếu tố như tình tiết, sự kiện, nhân vật thường được triển khai theo mạch vận động của các động thái tâm lý, cảm xúc Việc dành ưu thế cho việc tự bộc lộ, tự thể hiện tâm hồn và chiều sâu đời sống nội tâm là một biểu hiện đặc sắc của bút pháp lãng mạn trong văn xuôi trữ tình Ở đây thông qua tâm hồn tác giả
mà cuộc sống được hiện lên trong chiều sâu bản chất của nó Với văn xuôi trữ tình "chất liệu của cuộc đời và cảm xúc của tác giả đã luyện thành một thứ hợp kim nhuyễn từng phân tử"
Vì thế mà diện mạo, chân dung tinh thần, cá tính sáng tạo được thể hiện với một dấu ấn đậm nét, giống như một "chứng minh thư tâm lý "(Nietzsche) qua những gì tự biểu hiện của nhà văn Nhà văn như muốn chia sẻ, giãi bày, đối thoại với người đọc về những ấn tượng, những trải nghiệm dồn nén chất chứa đầy ắp trong lòng mình Họ đã mang vào tác phẩm tâm hồn họ những nỗi niềm ưu tư những vui buồn hờn giận và giãi bày một cách rung động thiết tha
Cái "tôi" trong sáng tác của Thạch Lam không phải là cái tôi đau buồn tuyệt vọng cũng không phải là cái tôi khinh bạc, ngông nghênh hay là cái tôi chua chát luôn day dứt, dày
vò và đầy mặc cảm mà đó là "cái tôi tinh thần được chiếm lĩnh như một đối tượng, nó khiêm nhường ẩn trong những con người bình thường nhỏ bé; cái tôi của những cảm giác cảm xúc
mơ hồ, thoảng qua rất khó nắm bắt"(1)
Cái "tôi" ở Thạch Lam thường mang một tâm hồn tinh tế, một vẻ đẹp thuần khiết, luôn hiện diện và hóa thân đằng sau những trang viết đầy ắp
ấn tượng, kỷ niệm với những bộc bạch chân tình Cái tôi không hề tự dấu mình mà cứ hiển hiện lồ lộ đằng sau những cảnh đời nghèo túng và hiu hắt kia với một rung cảm xót xa trìu mến Nó tương tự như sự bộc lộ trực tiếp ở trong thơ trữ tình Vì vậy trong lời giới thiệu cho tập "Gió đầu mùa", Khái Hưng đã phải "rợn mình vì sự thành thực" và "ngả mũ chào" còn Vũ Ngọc Phan thì luôn cảm thấy "phảng phất tâm hồn Thạch Lam" và ông đã "trút cả tính tình của mình sang các nhân vật do
Ông sáng tạo"(2)
Qua những trang viết của Thạch Lam ta thấy hiện lên một con người có cốt cách trí thức luôn điềm tĩnh, nhỏ nhẹ, con người ấy như đang trải lòng mình ra trong nỗi cảm thông thấm thía với những số phận cần lao nghèo khổ Con người ấy với tâm hồn nhạy cảm và tinh
tế như đang thổn thức suy nghiệm về những lẽ
(1) Phạm Thu Hương: Bài đã dẫn Tạp chí Văn học, số 6 - 1993
(2) Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại Sách đã dẫn, Trang 1167
Trang 39đời Bởi vì "văn chương đối với Thạch Lam là sự trải nghiệm cuộc sống và tỏ bày cảm xúc"(1) Đó chính là nhân cách hiện diện của người sáng tác thông qua sự biểu hiện của sự có mặt, sự tự ý thức, tự biểu hiện ở văn chương Thạch Lam
Ngòi bút Thạch Lam thường không mô tả quá trình tâm lý như một "biện chứng pháp của tâm hồn" mà thường chỉ dừng lại ở những cảm giác, cảm tưởng mơ hồ, thoáng qua giây
lát Ở "Đứa con đầu lòng" và "Gió đầu mùa" là những trạng thái tâm lý rung động "khẽ như
cánh bướm non của mối cảm động êm đềm, cảm thấy lần đầu cái thiêng liêng sâu xa của sự
sống" và những xao động tinh tế của tâm hồn trong thời khắc chuyển mùa Ở "Sợi tóc", "Một cơn giận", "Tình xưa" và "Cuốn sách bị bỏ quên" là một dạng thức tâm lý phức tạp và đầy
bất ngờ Nó mong manh, thiếu ổn định lại chuyển biến mau lẹ và đầy chao đảo Nó cũng rất khó giải thích rành rẽ, sáng rõ bởi thôi thúc của những động cơ thầm kín sâu xa Nó là những khoảng tối khuất lấp rất khó nắm bắt và lý giải một cách sáng sủa, chính xác
Trong quan hệ với những trạng thái tâm lý được miêu tả Thạch Lam thường giữ một thái độ chân thực khách quan Vì vậy mà "địa vị của tâm hồn tác giả" trong sáng tạo nghệ thuật được Thạch lam quả quyết: "một tác phẩm nào của nhà văn, cũng có một chút ít nhà văn trong đó Muốn dùng danh từ gì thì mặc lòng ( ) cái bản ngã của tác giả cũng bộc lộ ra trong những câu văn tác giả viết" Như vậy hiện thực tâm hồn của nhà văn, những trải nghiệm, những quan sát, những ấn tượng - là điều then chốt của sáng tạo nghệ thuật Dấu ấn chủ quan của chủ thể sáng tạo sẽ được bộc lộ một cách đậm nét - tạo nên một biểu hiện đặc sắc cho văn xuôi trữ tình
Ở Thanh Tịnh và Hồ Dzếnh cái "tôi" duy cảm được bộc lộ một cách rõ nét và thống thiết hơn Cái tôi tác giả được giải bày thể hiện với một mức độ đậm đặc "luôn nống lên rưng rưng" - đã tạo cho sáng tác của Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh đi "gần" và giao thoa, tiếp nối với thơ
Là nhà thơ khi viết văn xuôi, thơ và truyện ở Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh đã hòa quyện với nhau một cách nhuần nhuyễn Nhưng ở cả thơ lẫn truyện ta vẫn bắt gặp một con người, một tâm hồn thiết tha xúc động với những rung cảm tinh tế trước cuộc sống
(1) Nguyễn Thị Thanh Xuân: Hai đứa trẻ trên một vũ trụ già - Tiếng nói tri âm Sách đã dẫn Trang 167
Trang 40Ở Thanh Tịnh - đó là những cảm xúc mới mẻ, mơn man của một đứa trẻ ngày đầu tựu
trường (Tôi đi học), là nỗi cảm thông thấm thía với mối tình éo le của những cô gái làng (Tình thư), là tình yêu thiết tha đến quặn đau cảnh vật thôn quê với bờ tre, mái rạ, câu hò, dòng sông, là đứa trẻ háo hức nhiệt thành với đội ban quê (Đội bạn quê) thông cảm với những cảnh đời nghèo nàn cơ cực (Quê mẹ, Con so về nhà mẹ, Am cu ly xe) Bấy nhiêu bình
diện và tâm hồn đều được hiện diện, được giải bày, phô diễn một cách thoải mái, phóng túng, trực tiếp không cần phải chuyển dịch gián tiếp qua những gì mình miêu tả Có được điều này
là nhờ dựa vàoư thế đặc biệt của việc ưu tiên biểu hiện cái tôi ở loại hình văn xuôi trữ tình
Ở "Chân trời cũ" của Hồ Dzếnh tác giả là người trong cuộc, người can dự nên lại
càng có cơ hội để giải bày, để tự thể hiện Nhà văn như trút tâm hồn của mình, dốc cạn nổi yêu, ghét của mình để chia sẽ với nỗi đau của người thân Người viết tự bộc ]ộ một cách tha thiết, đầy đủ các trạng thái tình thần của mình với một sự thành thực cảm động, trong một biên độ thoáng rộng, thoải mái Đây là những đoạn ông ca ngợi người mẹ, người chị hoặc ca ngợi mảnh đất Việt Nam với một nét bút chí thành "Hỡi nước Việt Nam tôi nghiêng lòng xuống người, trên những luống cày mà hương thơm còn phảng phất, vì tôi đã từng uống nước người và nói tiếng của người, vì tôi đã thề yêu người trên bậc tột cùng của tôn giáo Trên giải đất súc tích những tinh hoa của văn chương, những công trạng lịch sử, tôi còn ghi cả những
bóng dáng người xưa tôi thương yêu và trong số những người này chị Yên tồi là một"(Chị
Yên) Ta bắt gặp ở văn Hồ Dzếnh một con người đa sầu đa cảm, nhạy cảm với những nỗi
buồn đau trước thân phận con người Nhà văn như "mở lòng mình ra để chia sẻ" như ngậm buồn day dứt trước sự tàn lụi và ly tán của gia đình Nỗi buồn đau chân thực và xa xót ấy đã tạo nên cái âm hưởng ai hoài, ngân nga của văn ông Nó là một dấu ấn của sự hiện diện và tự bộc lộ của cái tôi duy cảm - như một nét riêng dễ nhận của giọng điệu và phong cách Hồ Dzếnh
Trong văn xuôi trữ tình bên cạnh cái tôi tự sự ta còn có thể nói tới cái tôi trữ tình Ngay cả khi kể ở dạng khách quan (ở ngôi thứ ba) - cái tôi ấy vẫn không muốn dấu mình (dù
là tự kìm chế như ở Thạch Lam hoặc bộc lộ một cách thống thiết như ở Hồ Dzếnh) Nó luôn hiện diện hóa thân (hoặc qua lời nói nửa trực tiếp)với một bộ mặt tinh thần, một dấu ấn văn hóa giàu cá tính, giàu yêu thương trắc ẩn, rung cảm một cách tình tế trước cuộc đời Xu hướng ưu tiên cho việc tự thể hiện cái tôi, đi sâu vào nội tâm, cảm giác, mang tính chất hướng nội một cách rõ rệt - là nét nổi trội trong khuynh hướng thẩm mỹ của văn xuôi trữ tình Đặc điểm này chúng tôi sẽ xin trở lại và phân tích rõ hơn ở chương II (Chủ thể trần thuật trong văn xuôi trữ tình) trên phương diện của những đổi thay trong kỹ thuật tự sự