1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp nâng cao thu nhập hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất tại huyện trảng bom, tỉnh đồng nai

132 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc thu hồi một số lớn diện tích đất sản xuất nông nghiệp phục vụ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã đang và sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến việc làm, đời sống của rất nhiều người nô

Trang 1

LỜI CAM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

-

PHAN TRỌNG HUY

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP

HỘ NÔNG DÂN SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI

HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Tôi cũng xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các dữ liệu thu thập từ những nguồn hợp pháp Nội dung và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Đồng Nai, ngày 25 tháng 6 năm 2015

Học viên

Phan Trọng Huy

Trang 3

Đặc biệt tôi bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Nghĩa Biên đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Trảng Bom, Chi cục Thống kê, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Kinh tế, phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Trung tâm Phát triển quỹ đất, Trung tâm Dạy nghề, UBND các xã: Tây Hòa, Hố Nai, Bắc Sơn, Giang Điền, huyện Trảng Bom đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cung cấp số liệu, tài liệu giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cám ơn lãnh đạo các cấp trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cũng như các cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan đã cho tôi có được những bài học kinh nghiệm thực tế quý giá trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp, đã quan tâm động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn

Tuy nhiên, dù có nhiều cố gắng nỗ lực, song luận văn không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế Vì vậy, tôi kính mong nhận được sự góp ý chỉ bảo của quý thầy cô giáo và sự chia sẻ của các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Trảng Bom, ngày 25 tháng 6 năm 2015

Tác giả

Phan Trọng Huy

Trang 4

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 6

1.1.3 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xu hướng

1.1.3.1 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong sự

Trang 5

iv

1.2.1 Kinh nghiệm về thu hồi đất và phục hồi kinh tế cho nông dân

1.2.2 Thực trạng và kinh nghiệm về thu hồi đất, nâng cao thu nhập

Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 47

Trang 6

v

Trang 7

vi

3.4 Giải pháp nhằm ổn định và nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân

3.4.4 Giải pháp về phục hồi kinh tế, nâng cao thu nhập cho từng nhóm

Trang 9

viii

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 1.2 Mức thay đổi thu nhập của các hộ dân trước thu hồi đất

Bảng 2.1 Số lao động sản xuất công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp

Bảng 2.2 Mức sống (tiêu dùng bình quân một người/ tháng) năm 2014 50 Bảng 2.3 Khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom 52

Bảng 3.2 Phản ứng của hộ dân bị thu hồi đất về giá đền bù đất nông nghiệp 71 Bảng 3.3 Giá đất nông nghiệp tại khu vực km2, đường Trảng Bom đi

Trang 10

ix

Bảng 3.6 Nhân khẩu, lao động của hộ gia đình trước và sau thu hồi đất 84

Bảng 3.8 Đánh giá về thu nhập của hộ dân hiện nay so với trước thu hồi đất 85 Bảng 3.9 So sánh thu nhập của lao động trước và sau thu hồi đất 86 Bảng 3.10 Ngành thu nhập chính của hộ nông dân trước và sau thu hồi đất 87 Bảng 3.11 Tổng hợp hộ nghèo của huyện Trảng Bom và trên địa bàn các xã

Bảng 3.12 Tổng hợp giá trị đền bù khi thu hồi đất của 124 hộ dân 89 Bảng 3.13 Sử dụng tiền đền bù vào tiêu dùng và chi tiêu khác 90 Bảng 3.14 Hộ dân sử dụng tiền đền bù đầu tư vào lĩnh vực sản xuất

Trang 11

x

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.2 Mức sống dân cư (tiêu dùng bình quân một người/ tháng)

Hình 3.1 Vị trí quy hoạch Tổng kho trung chuyển Miền Đông

Hình 3.2 Biểu đồ so sánh giá đất quy định và giá đất thị trường

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai và sử dụng đất đai luôn là vấn đề cơ bản trong lịch sử phát triển của Việt Nam Sự phát triển nông nghiệp Việt Nam phụ thuộc vào sự sử dụng

có hiệu quả hay không nguồn lực đất đai Điều này có liên quan đến những chính sách về đất đai, thị trường đất đai, những đầu vào và nguồn lực liên quan

Xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp với đa số dân số sống ở vùng nông thôn, nước ta đang phấn đấu thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Để đạt mục tiêu này, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở nước ta đã và đang diễn ra mạnh mẽ; quá trình này đòi hỏi phải chuyển đổi một số lượng lớn diện tích đất sản xuất nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp Với khoảng 70% dân số vẫn còn sống ở vùng nông thôn thì chính sách thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho quá trình phát triển công nghiệp, đô thị luôn là vấn đề được xã hội quan tâm

Thực tế, do tính chất phức tạp và tầm quan trọng của nó, chính sách thu hồi đất những năm gần đây có nhiều thay đổi và được quan tâm rộng rãi Việc thu hồi một số lớn diện tích đất sản xuất nông nghiệp phục vụ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã đang và sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến việc làm, đời sống của rất nhiều người nông dân bị thu hồi đất

Để bảo đảm ổn định và tạo được đồng thuận cao trong xã hội, huy động được nguồn lực xã hội tham gia tích cực vào quá trình phát triển đất nước một cách mạnh mẽ, bền vững đòi hỏi phải có những nghiên cứu khoa học, nghiêm túc về những tác động của việc thu hồi đất đến những người dân có đất bị thu hồi, trên cơ sở đó đề ra những chính sách thu hồi đất phù hợp với tình hình chung, cũng như những giải pháp cụ thể, sát thực cho từng địa phương

Trang 13

Cùng với những công trình nghiên cứu chung trên phạm vi cả nước, đã

có những công trình nghiên cứu về đời sống của nông dân trước và sau khi bị thu hồi đất, trong những phạm vi cụ thể; những nghiên cứu này với những cách tiếp cận khác nhau đã có những đề xuất tháo gở những vướng mắc về khó khăn trong đời sống của người dân bị thu hồi đất trên địa bàn nghiên cứu

Huyện Trảng Bom nói riêng và tỉnh Đồng Nai có điều kiện vị trí thuận lợi

để phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng giao lưu thương mại; là địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, với cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp, dịch vụ Do vậy, tốc độ đầu tư xây dựng các công trình phục vụ sản xuất kinh doanh, xây dựng kết cấu hạ tầng, cũng như quá trình phát triển đô thị diễn ra rất mạnh mẽ; sự chuyển dịch nhanh với diện tích lớn đất sản xuất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đang diễn ra mạnh mẽ Từ đó, làm cho điều kiện sản xuất kinh doanh, đời sống của người dân có đất bị thu hồi có nhiều thay đổi Đối với các hộ nông dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp càng chịu nhiều biến động lớn về chổ ở, tập quán sinh hoạt, sản xuất và đời sống Những sự thay đổi đó

đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình KTXH, an ninh trật tự ở địa phương

Trước những vấn đề nêu trên, việc cần thiết phải tìm ra những mâu thuẫn của sự việc, xác định mức độ và xu hướng vận động của các yếu tố tác động đến đời sống của người dân sau thu hồi đất để có chính sách và giải pháp phù hợp đảm bảo sự phát triển bền vững là việc làm cần thiết

Tuy đã có một số công trình nghiên cứu ảnh hưởng thu hồi đất đến đời sống của người nông dân, nhưng các nghiên cứu thực hiện trên những địa bàn

và điều kiện tương đối đặc thù, vì vậy cần có chắt lọc, bổ sung và nghiên cứu mới, mới đem lại hiệu quả kỳ vọng khi thực hiện vào các địa bàn khác

Trang 14

Đề tài nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp nâng cao thu nhập hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai” kỳ vọng giải đáp những vấn đề bức thiết nêu trên

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của đề tài là đánh giá, phân tích tình hình thu nhập của hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và các yếu tố tác động làm thay đổi thu nhập của hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất; từ đó, đưa ra giải pháp và các kiến nghị về chính sách nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân bị thu hồi đất

- Mục tiêu cụ thể

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hồi đất; Đời sống của

hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp

+ Đánh giá tình hình thu nhập của hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

+ Phân tích những yếu tố tác động đến thu nhập của hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất

+ Đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu là các hộ nông dân có đất nông nghiệp bị thu hồi, các doanh nghiệp liên quan đến các dự án sử dụng đất thu hồi trên địa bàn huyện Trảng Bom và cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp, công nghiệp,

Trang 15

dân số, lao động, về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của huyện Trảng Bom

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài

+ Phạm vi về nội dung: Thực trạng tình hình quy hoạch, tái định cư,

giá cả đất đai và các biến động về việc làm, thu nhập của các hộ gia đình, cơ cấu nghề nghiệp, đánh giá chi tiêu và phân tích xu hướng thay đổi và các yếu

tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp Đề xuất các giải pháp và một số kiến nghị nhằm nâng cao thu nhập, ổn định việc

làm của các hộ gia đình bị thu hồi đất sản xuát nông nghiệp

+ Phạm vi về không gian:

Trong 17 xã thị trấn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đề tài chọn 4 xã gồm: xã Tây Hòa, xã Bắc Sơn, xã Hố Nai 3 và xã Giang Điền Tiêu chí để chọn 4 xã này là:

* Nằm dọc theo Quốc lộ IA, có tốc độ chuyển dịch nhanh cơ cấu sản xuất từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ; đô thị đang phát triển

* Có nhiều hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp và có một số diện tích đất nông nghiệp đáng kể bị thu hồi phục vụ phát triển công nghiệp và đô thị

* Các xã này tiếp giáp với các khu công nghiệp đang hoạt động; đó là:

xã Tây Hòa giáp KCN Bàu Xéo (500 ha); xã Bắc Sơn, Hố Nai 3 tiếp giáp với khu công nghiệp Hố Nai (479 ha) và khu công nghiệp Sông Mây (474 ha); xã Giang Điền tiếp giáp với Khu công nghiệp Giang Điền (529 ha)

* Các xã này có khu tái định cư hoặc giáp với khu tái định cư phục vụ công tác tái định cư cho các hộ bị thu hồi đất

+ Phạm vi về thời gian:

Thực hiện điều tra, thu thập số liệu năm 2014

Trang 16

Thời gian nghiên cứu là: sự việc thu hồi đất xảy ra vào giai đoạn từ năm

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm

Đất nông nghiệp: Theo luật đất đai 2003 thì nhóm đất nông nghiệp

(trong đề tài này gọi chung là đất nông nghiệp) bao gồm đất dùng để trồng cây hàng năm, cây lâu năm; đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối và đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ

Đất phi nông nghiệp: Nhóm đất phi nông nghiệp (trong đề tài này gọi

chung là đất phi nông nghiệp) bao gồm các loại đất: đất ở; đất xây dựng trụ sở

cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng; đất sử dụng vào mục đích công cộng và đất phi nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ

Thu hồi đất: Là việc cơ quan nhà nước ban hành quyết định hành chính

để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức hoặc cá nhân đang sử dụng đất

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước trả lại giá trị

quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất

Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước giúp đỡ người bị

thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để

di dời đến địa điểm mới

Giá trị quyền sử dụng đất: Là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do

Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất

Hộ nông dân: Là các hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất,

sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông nghiệp Ngoài hoạt

Trang 18

động sản xuất nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau

Thu nhập: Là số tiền kiếm được hoặc thu góp được trong một khoảng

thời gian nhất định (thường là 01 năm), hay thu nhập là phần giá trị còn lại của sản phẩm sau khi trừ đi các khoản chi phí vật chất hay chi phí thuê ngoài Thu nhập có thể được tính bằng tiền hoặc bằng công

Thu nhập của hộ gia đình: Là toàn bộ thu nhập của những thành viên

trong gia đình đó Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định

Tích lũy tài sản (tích lũy): Phản ánh chi tiêu cho đầu tư tài sản cố định,

đầu tư tài sản lưu động và tài sản quý hiếm trong một thời kỳ nhất định (thường là 01 năm)

Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index - viết tắt là CPI): là chỉ số

tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá và sự thay đổi của mức giá chính là lạm phát Để tính Chỉ số lạm phát của một thời kỳ, người ta áp dụng công thức sau:

Chỉ số lạm phát thời kỳ T = (CPI thời kỳ T - CPI thời kỳ T-1)/CPI thời kỳ T-1 Trong đề tài, sử dụng chỉ số lạm pháp để đưa các giá trị điều tra thời kỳ

có phát sinh số liệu về cùng thời điểm cuối năm 2000 (giá cố định năm 2000)

để so sánh Bảng 1.1 Là chỉ số giá CPI từ năm 2000 đến 2013 - năm gốc là năm 2000 [28]

Trang 19

Bảng 1.1 Chỉ số giá tiêu dùng từ năm 2000 đến năm 2013

125,5

134,9

146,3

179,6

192,0

214,6

253,5

270,7

287,1

Nguồn: Tổng cục thống kê, năm 2014

Mức tăng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây (Năm 2004 tăng: 9,5%; năm 2005: 8,4%; năm 2006: 6,6%; năm 2007: 12,63%; năm 2008: 19,89%; năm 2009: 6,52%; năm 2010: 11,75%; năm 2011: 18,13%; năm 2012: 6,81%; năm 2013: 6,04%)

1.1.2 Một số chính sách về thu hồi đất, bồi thường, tái định cư

Trong quá trình quản lý của Nhà nước về đất đai, Nhà nước đã dùng nhiều biện pháp khác nhau để phân phối và phân phối lại quỹ đất quốc gia cho nhiều chủ sử dụng đất, một trong những biện pháp đó chính là thu hồi đất Vậy, thu hồi đất là việc Nhà nước ban hành quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân

xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của luật đất đai năm 2003 Có thể nói, thu hồi đất là giai đoạn kết thúc việc sử dụng đất của chủ thể này, nhưng lại là bước kế tiếp của việc sử dụng đất của một chủ thể mới Đó cũng là mối quan hệ qua lại giữa giao đất và thu hồi đất Do vậy, các quy định về thu hồi đất cần kết nối được lợi ích của 3 chủ thể quan trọng là Nhà nước, chủ đầu tư

sử dụng đất và người bị thu hồi đất, đồng thời phải có những chính sách quan tâm tới đời sống kinh tế xã hội của những chủ thể sau thu hồi đất

Đặc trưng của thu hồi đất: Thu hồi đất là một trong những nội dung

quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai Vì vậy, để thực thi nội dung này,

Trang 20

quyền lực của Nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích không chỉ của Nhà nước mà của toàn xã hội, để đảm bảo được những lợi ích trên thì việc thu hồi đất phải bao gồm những đặc trưng sau:

- Thu hồi đất phải là quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai và thẩm quyền này phải tuân thủ theo Điều 44 của Luật Đất đai 2003

- Việc thu hồi đất phải xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng hoặc là những biện pháp chế tài được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng

Nói tóm lại, thu hồi đất là một trong những nội dung quan trọng trong khâu quản lý của Nhà nước về đất đai Song, để có thể ổn định và phát triển kinh tế xã hội sau thu hồi đất, lập lại trật tự kỷ cương trong quản lý Nhà nước

về đất đai đang là một vấn đề nổi cộm, khó giải quyết Đặc biệt, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà nước với tư cách là chủ đầu tư lớn nhất có nhiệm vụ xây dựng các cơ sở kinh tế, hạ tầng xã hội, sử dụng đất vào mục đích công cộng, lợi ích cộng đồng, bảo vệ chủ quyền quốc gia cùng với các chủ đầu tư khác có nhu cầu sử dụng đất rất lớn, trong khi những diện tích Nhà nước có nhu cầu sử dụng lại do những tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang có quyền sử dụng đất Chính vì thế khi thu hồi đất sẽ không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực tới đời sống của các chủ thể bị thu hồi đất, do đó một trong những việc mà Đảng và nhà nước luôn coi trọng đó là hỗ trợ cho người dân ổn định việc làm và đời sống kinh tế sau khi thu hồi đất

Nhìn chung công tác tác thu hồi đất, bồi thường, tái định cư để phục vụ phát triển luôn là vấn đề được xã hội quan tâm Chính sách về đất đai của Việt Nam từng bước được hoàn thiện và có xu hướng ngày càng có lợi hơn cho người dân bị thu hồi đất Luật Đất đai lần đầu tiên được Quốc hội Việt

Trang 21

Nam thông qua năm 1987, đến nay đã có bốn lần sửa đổi, bổ sung (vào các năm 1993, 1998, 2003 và 2013 - có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2014)

Luật đất đai đã quy định cụ thể, rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Tại khoản 1, Điều 5 Luật đất đai năm 2003 đã quy định: “đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồi nước, tài nguyên trong lòng đất… đều thuộc sở hữu toàn dân”

Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành luật đất đai đã quy định chi tiết về căn cứ, nội dung, thẩm quyền và trình

tự, thủ tục thực hiện việc quy hoạch, thu hồi, đền bù đất; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Về điều kiện nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện các dự án đầu tư, kinh doanh phi nông nghiệp được quy định tại điều 100, Nghị định 181/2004/NĐ-CP; Về điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thực hiện dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở để bán hoặc cho thuê được quy định tại điều 101 Nghị định 181/2004/NĐ-CP

Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ và Thông tư 116/2004/TT-BTC ngày 7/12/2004 của Bộ Tài chính đã quy định cụ thể vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế nói chung Về một số nội dung của các chính sách này như sau:

Nhà nước tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất có nghĩa vụ chi trả tiền bồi thường Về tái định cư, chỉ thực hiện đối với một trong trường hợp

hộ gia đình, phải chuyển chổ ở Quyền lợi của người sử dụng đất khi bị thu hồi được Điều 42 Luật Đất đai 2003 có quy định …“Khu tái định cư được

Trang 22

quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”

Về nguyên tắc bồi thường: Người bị Nhà nước thu hồi đất có đủ điều kiện thì được bồi thường; trường hợp không đủ điều kiện thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố xem xét để hỗ trợ Người bị thu hồi đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi

Về giá đất cụ thể được quy định trong Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004, sau đó Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 có điều chỉnh bổ sung nghị định 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất Đặc biệt các điều khoản trong Nghị định 69/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13/8/2009 và Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có những tháo gỡ những vướng mắc về quy hoạch sử dụng đất; giá đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất; phát triển quỹ đất Trong Nghị định 69/2009/NĐ-CP có quy định: người trực tiếp sản xuất bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp được nhận hỗ trợ ổn định đời sống từ 6 đến 24 tháng tùy tỷ lệ thu hồi đất nông nghiệp (điều 20) Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp đào tạo việc làm “hỗ trợ bằng tiền từ 1,5 đến 5 lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đát nông nghiệp bị thu hồi” (khoản a, điều 22) Như vậy, các chính sách về đền bù đất đai sau này đã có những điều chỉnh có lợi cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp

Đối với tỉnh Đồng Nai, hàng năm Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định quy định về giá đất trên địa bàn tỉnh theo luật đất đai năm 2003; tuy vậy,

do nhiều nguyên nhân mà khung giá đất đưa ra thường thấp hơn giá thực tế được giao dịch trên thị trường nhiều lần

Trang 23

Trước những phát triển nhanh chóng của kinh tế, xã hội của đất nước

và điều kiện hội nhập quốc tế, một số nội dung của Luật Đất đai, các luật có liên quan và văn bản liên quan đất đai của cả nước và của tỉnh cần phải tiếp tục hoàn thiện, nhất là quyền sử hữu hoặc sử dụng, chính sách thu hồi, bồi thường và nhiều chính sách khác liên quan đến đất đai như thị trường đất đai, bất động sản, sự minh bạch trong thủ tục quản lý đất đai, tính công bằng trong quan hệ đất đai

1.1.3 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xu hướng biến động đất nông nghiệp

1.1.3.1 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội mỗi quốc gia

Ở Việt Nam, nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước Trong gần 30 năm qua, nông nghiệp, nông dân, nông thôn lại đi trước mở đường trong quá trình đổi mới, tạo điều kiện để đất nước vươn lên

Những năm qua, ngành nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, giá trị và giá trị sản lượng nông nghiệp liên tục tăng, chủng loại cây trồng, vật nuôi đa dạng hơn, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng gia tăng sản phẩm đã qua chế biến, giảm cung cấp sản phẩm thô, từ đó an ninh lương thực trong nước được đảm bảo, nhiều sản phẩm nông nghiệp trở thành những hàng hóa xuất khẩu chủ đạo, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế như gạo, thủy hải sản, cà phê, cao su Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nông dân được cải thiện, công bằng hơn trong tiếp cận các cơ hội phát triển Bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc theo hướng văn minh, hiện đại, hệ thống kết cấu hạ tầng cũng như mạng lưới các tổ chức kinh tế hoạt động nông thôn ngày càng phát triển

Trang 24

Song, cũng như các nước thực hiện quá trình công nghiệp hóa, ở nước

ta, quá trình này thường đi kèm những thay đổi không nhỏ về các mặt kinh tế

- xã hội; và nông nghiệp, nông dân, nông thôn thường bị thiệt thòi, chịu nhiều

hy sinh Nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn là khu vực chậm phát triển nhất trong nền kinh tế Sản xuất nông nghiệp vẫn mang nặng tính chất của nền sản xuất nhỏ, manh mún, sử dụng không hiệu quả dẫn đến gây lãng phí các nguồn lực quý giá cho phát triển nông nghiệp Thu nhập của người nông dân tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn khoảng cách khá xa so với khu vực thành thị, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Nhiều hộ gia đình ở nông thôn tuy đã thoát khỏi diện nghèo đói, nhưng thực tế thu nhập chỉ cao hơn mức chuẩn nghèo đói không đáng kể Người dân nông thôn không có nhiều cơ hội tiếp cận với các thành tựu của phát triển, các dịch vụ

cơ bản như vệ sinh, môi trường, y tế, giáo dục cũng chưa được cung cấp đầy đủ Hệ thống hạ tầng nông thôn còn lạc hậu, chất lượng xuống cấp nghiêm trọng

Nhìn nhận vai trò của nông nghiệp, nông dân nước ta đối với sự phát triển nông thôn có thể qua những nội dung chính như:

- Về kinh tế: Thành tựu lớn nhất của nông nghiệp, nông thôn nước ta

trong những năm vừa qua là tăng trưởng nhanh, liên tục Bình quân tăng trưởng hàng năm của nông - lâm - ngư nghiệp nước ta thời kỳ 1991 - 2000 là

4,5% Năm 2003 là 3,25%, mặc dù thời tiết, khí hậu và thị trường nông sản có nhiều điều bất ổn Trong kết quả chung đó, điều nổi bật nhất là thành tựu trong việc giải quyết vấn đề lương thực Nông nghiệp nước ta không những bảo đảm về anh ninh lương thực mà còn tạo ra một khối lượng lớn lương thực cho xuất khẩu và an ninh lương thực

Nông nghiệp, nông dân đã góp phần quan trọng trong việc tăng nguồn hàng xuất khẩu, tăng nguồn ngoại tệ để tăng trưởng kinh tế Nông, lâm, thủy

Trang 25

sản và hàng thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong những năm vừa qua Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản và hàng thủ công mỹ nghệ ngày càng tăng lên và đạt giá trị hàng tỷ đôla Mỹ, đó

là nguồn ngoại tệ quý giá để đầu tư phát triển kinh tế cho đất nước

Ngành nông, lâm, ngư nghiệp đã có chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tính chất thuần nông, thuần lương thực, mang tính tự cung tự cấp sang một nền nông nghiệp đa dạng mang tính chất sản xuất hàng hóa

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đa dạng hóa và sản xuất hàng hóa là điều kiện cơ bản để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hiệu quả của từng ngành, cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân

- Về xã hội: Cùng với những chuyển biến về mặt kinh tế, trong xã hội

nông thôn cũng có sự chuyển biến tích cực về tư duy và lối sống So với trước đây, người nông dân hiện nay năng động hơn, chủ động hơn, biết theo

“những tín hiệu của thị trường” để điều chỉnh sản xuất với mong muốn tăng thu nhập và cải thiện đời sống Chính vì vậy đời sống vật chất và tinh thần của dân cư trong nông thôn được cải thiện rõ rệt Với những nỗ lực của các tầng lớp dân cư nông thôn, với sự hỗ trợ của nhà nước, tỷ lệ nghèo đói đã giảm đi nhanh chóng

1.1.3.2 Xu hướng biến động đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp là một yếu tố đầu vào đặc biệt và rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Biến động của quỹ đất nông nghiệp diễn ra theo hai hướng:

Hướng thứ nhất: do quá trình đô thị hóa, do sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, do sự hình thành các trung tâm công nghiệp mới làm cho quỹ đất nông nghiệp bị thu hẹp lại Ở Việt Nam xu hướng này đã và đang diễn ra ngày một nhanh Đây là xu hướng vận động tất yếu nên vấn đề đặt ra là lựa chọn địa điểm để xây dựng đô thị và khu công nghiệp cũng như

Trang 26

các cơ sở hạ tầng thế nào để bảo đảm tính khoa học tính kinh tế có lợi cho toàn xã hội

Hướng thứ hai: do sức ép về lao động và việc làm, do nhu cầu về nông sản ngày càng tăng trong khi quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, việc khai khẩn đất chưa sử dụng, đất hoang hóa đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho quỹ đất nông nghiệp tăng lên

Trong cơ chế thị trường, đất đai trở thành đối tượng của sự mua bán, chuyển nhượng, thế chấp, thuê mướn Hiện nay nước ta trong qua trình phát triển càng làm tăng lên nhu cầu về đất đai, vì vậy thị trường đất đai trở nên sôi động

Về cung đất đai xét trên tổng quỹ đất đai là cố định, thể hiện trên đồ thị

là một đường thẳng, tuy nhiên cung của từng loại đất có thể biến động do có

sự chuyển đổi mục đích sử dụng qua lại lẫn nhau Cầu về đất đai là cầu phát sinh do sự tăng lên của nhu cầu đối với các sản phẩm từ đất đai và các nhu cầu khác của các ngành, của nhu cầu xây dựng nhà ở Đối với đất nông nghiệp, mức cung đất nông nghiệp cũng có thể tăng hoặc giảm Sự tăng lên của mức cung đất nông nghiệp có thể được biểu hiện ở một số khía cạnh như: chuyển những diện tích đất hoang hóa thành đất nông nghiệp mới khai phá; chuyển một phần đất khác (chủ yếu là đất lâm nghiệp) thành đất nông nghiệp; lưu chuyển đất nông nghiệp giữa các chủ thể Việc lưu chuyển đất nông nghiệp giữa các chủ thể không làm tăng tổng cung đất nông nghiệp nhưng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng thị trường đất nông nghiệp

Về giảm cung đất nông nghiệp biểu hiện với các hình thức: xu hướng chuyển nhanh đất nông nghiệp sang đất đô thị do quá trình đô thị hóađang diễn ra ngày càng nhanh; chuyển một phần đất nông nghiệp thành đất phục vụ cho sản xuất công nghiệp; chuyển đất nông nghiệp thành đất chuyên dùng như giao thông, thủy lợi, du lịch; tác động của biến đổi khí hậu

Trang 27

Về cầu đất nông nghiệp, xét về lâu dài do quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, tổng lượng cầu về đất nông nghiệp có xu hướng giảm tương đối

và sẽ giảm tuyệt đối so với các loại đất khác Cơ sở của xu hướng này là sự phát triển của lực lượng sản xuất ngày càng cao tạo điều kiện để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp Ngoài ra xu hướng giảm tương đối

tỷ suất lợi nhuận của sản xuất nông nghiệp so với các ngành khác, tạo ra sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang lĩnh vực khác vì vậy gây ra giảm cầu đất nông nghiệp

Như vậy, theo sự phát triển kinh tế xã hội thì đất sản xuất nông nghiệp

có xu hướng giảm dần, ngược lại đất sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp tăng lên

1.1.4 Đô thị hóa và phát triển công nghiệp vùng nông thôn

Đô thị hoá nông thôn là sự phát triển của nền văn minh phi nông nghiệp,

là quá trình phát triển tất yếu của một quốc gia; đó là quá trình chuyển hóa và tập trung dân cư thành dân cư đô thị; đồng thời đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sản xuất phi nông nghiệp tăng;

bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại, không gian đô thị mở rộng Đô thị phát triển trước hết sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phân công sản xuất, kinh tế hàng hóa phát triển, đẩy nhanh phát triển hạ tầng cơ sở phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống của con người

Nội dung của đô thị hóa rất đa dạng và các ảnh hưởng của nó đối với xã hội cũng rất phong phú; xu hướng và tiến trình đô thị hóa phụ thuộc vào đặc điểm, điều kiện của từng địa phương, vùng và quốc gia Tuy nhiên, một số biểu hiện chung của đô thị hóalà sự gia tăng tỷ lệ dân số đô thị, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nhiều ngành, nghề mới ra đời, phát triển các hoạt động dịch vụ, tăng tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp; kết cấu hạ tầng cơ sở, văn hóa xã hội, môi trường sinh thái thay đổi

Trang 28

Đối với Việt Nam, quá trình phát triển đô thị có thể chia thành các giai đoạn như sau: Giai đoạn trước năm 1990 đô thị hóa diễn ra chậm; giai đoạn từ năm 1990 trở lại đây, mạng lưới đô thị quốc gia đã và đang được phát triển,

mở rộng; năm 1999 có 629 đô thị đến năm 2009 đã tăng lên 754 đô thị, đến năm 2013 là 770 đô thị

Phát triển công nghiệp ở nông thôn những năm gần đây gắn liền với quá trình phát triển đô thị Trong xu thế phát triển kinh tế, đô thị dần trở thành các trung tâm giao lưu kinh tế, thương mại, văn hóa và các dịch vụ xã hội khác; các cơ sở sản xuất công nghiệp được chuyển về khu vực nông thôn, nhất là ngành sản xuất nguyên liệu nông nghiệp và ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, hạn chế sự di động nhân lực từ nông thôn vào thành thị

Đô thị hóa song hành với quá trình công nghiệp hóa ở nước ta đang từng ngày làm đổi thay diện mạo đất nước, cung cấp những công năng đô thị

đa dạng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống hiện đại

Tuy nhiên, song song với quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiêp cũng đã nảy sinh nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết, trước tiên là một phần đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp chuyển sang mục đích sử dụng khác Một bộ phận nông dân phải chuyển đổi nghề nghiệp và thu nhập, đời sống có những biến đổi nhất định Người nông dân khi chuyển thành người đô thị phải chấp nhận một thời kỳ quá độ để chuyển tiếp từ một đối tượng có thu nhập thấp trở thành đối tượng có thu nhập trung bình trong xã hội đô thị - nếu không sẽ trở thành người nghèo đô thị So với mặt bằng xã hội hiện nay, người nông dân thu nhập thấp bằng 1/3 người dân đô thị và cơ hội để phát triển không thể so sánh là tương đồng với người dân đô thị Ở một bình diện khác, làn sóng đô thị hóa tự phát trên diện rộng cũng làm nảy sinh nhiều bất cập và để lại những hậu quả nặng nề về mặt xã hội, quy hoạch, kiến trúc, sản

Trang 29

xuất, hệ sinh thái , gây nên nhiều áp lực đối với sự phát triển của đất nước [20]

Công trình nghiên cứu “Công nghiệp hóa từ nông nghiệp, lí luận và thực tiễn” của Đặng Kim Sơn đã rút ra những bài học thực tiễn từ các học thuyết và kinh nghiệm trên thế giới về phát triển nông nghiệp; những nghiên cứu công nghiệp hóa từ phát triển nông nghiệp và triển vọng ở Việt Nam Theo đó, nông thôn là thị trường tiêu thụ hàng hóa cho lĩnh vực công nghiệp quan trọng hơn vai trò là nguồn cung cấp tài nguyên cho công nghiệp Bởi vậy, tốc độ tăng thu nhập và quy mô dân số trong nông nghiệp sẽ quyết định

độ lớn của thị trường nội địa đối với hàng hóa của khu vực công nghiệp [14]

Đô thị hóa là quá trình tất yếu diễn ra không chỉ đối với nước ta mà còn đối với tất cả các nước trên thế giới, nhất là đối với các nước châu Á Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng nhanh

Đô thị hóa góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội của khu vực, nâng cao đời sống nhân dân Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết như vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất, phương thức đền bù giải phóng mặt bằng, cách thức

di dân, giãn dân… Nếu không có một chiến lược và giải pháp cụ thể, chúng

ta sẽ gặp nhiều vướng mắc và lúng túng trong quá trình giải quyết, đôi khi làm nảy sinh những vấn đề ngày càng phức tạp [4]

1.1.4.1 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến sản xuất

Ảnh hưởng tích cực: Trên thực tế hiện nay cho thấy quá trình giảm dần

quỹ đất canh tác do đô thị hóa đã kéo theo một bộ phận lao động nông nghiệp chuyển sang hoạt động phi nông nghiệp, qua đó số lao động công nghiệp và lao động trong các ngành thương mại, dịch vụ tăng lên

Ảnh hưởng tiêu cực: Quá trình Đô thị hóa đã lấy đi một phần đất nông

nghiệp để xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm mục đích phát triển kinh tế, đem lại

Trang 30

hiệu quả kinh tế cao cho xã hội Tuy nhiên, khi cả xã hội được hưởng lợi ích

do qua trình chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, thì một bộ phận nông dân lại bị thiệt thòi do quá trình đó gây ra Đó là những người nông dân trực tiếp bị thu hồi đất nông nghiệp cho việc xây dựng các khu công nghiệp và đô thị Những người này sẽ phải thay đổi cuộc sống một cách thụ động Vì vậy họ sẽ gặp không ít khó khăn Chính sách của Nhà nước phải bù đắp cho họ đỡ bị thiệt thòi Những năm qua, công tác đền bù và giải phóng mặt bằng tuy vẫn đảm bảo thực hiện, song nó vẫn luôn là vấn đề nóng bỏng ở tất cả các địa phương

1.1.4.2 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến đời sống của hộ nông dân

a) Ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập

- Ảnh hưởng tích cực: Đô thị hóa sẽ tạo điều kiện cho người lao động

chuyển đổi cơ cấu việc làm, từ thuần nông thu nhập thấp sang việc làm mới

- Ảnh hưởng tiêu cực: Tuy nhiên, việc chuyển đất nông nghiệp sang

xây dựng các khu công nghiệp cũng gây ra không ít khó khăn cho những hộ trực tiếp bị thu hồi đất sản xuất Cuộc sống từ bao đời nay của họ vẫn gắn liền với công việc đồng áng Nay bắt họ rời xa nó, chuyển sang một lĩnh vực hoạt động sản xuất khác quả thực là một thách thức đối với những hộ thuần nông Như trên đã nói, có khu công nghiệp hay đô thị mới thì sẽ có một số lao động được tuyển vào làm việc trong các nhà máy, công ty nhưng để được

Trang 31

vào làm việc ở đó người lao động phải qua đào tạo, phải có trình độ chuyên môn kỹ thuật thích ứng với những công việc mới Nếu chỉ là lao động phổ thông đơn thuần thì thu nhập thấp, thậm chí không đủ đảm bảo cuộc sống

b) Ảnh hưởng đến cơ sở vật chất kỹ thuật và môi trường sống

- Ảnh hưởng tích cực: Quá trình đô thị hóa đã tạo điều kiện cho phát

triển kinh tế và hệ thống hạ tầng kỹ thuật vùng nông thôn Nhìn chung khi địa phương nào có khu công nghiệp và khu chế xuất hay những đô thị mới thì ở

đó sẽ có một hệ thống đường giao thông rất tốt Và đặc biệt là đối với mạng lưới điện, từ các xã có thể chưa có mạng lưới điện đến nay có thể 100% số hộ nông dân dùng điện Ở Yên Dũng môi trường rất được quan tâm, hàng loạt các đường ống thoát nước được xây dựng và lắp đặt Có nhiều hộ còn được lắp đặt hệ thống cung cấp nước sạch Tóm lại đô thị hóa đem lại vô số lợi ích

và những mặt tích cực Tuy nhiên không phải nó không có những tác động xấu tới cơ sở vật chất kỹ thuật và môi trường sống

- Ảnh hưởng tiêu cực; Tuy một số hạng mục công trình đã được đầu tư,

xong đã xuống cấp nhanh chóng Đặc biệt là các công trình thuỷ lợi, công trình điện Nguyên nhân là do sau khi đầu tư xong lại không có sự bảo dưỡng thường xuyên, không có kế hoạch khai thác tiết kiệm và triệt để

Ngoài ra khi tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng mới đã ảnh hưởng xấu tới những công trình cũ thậm chí còn phá hỏng các công trình cũ Về mặt môi trường, khu công nghiệp đã gây ra những hậu quả rất đáng lo ngại cho môi trường đặc biệt là môi trường nước và không khí

Trước hết là ô nhiễm nước thải gồm nước thải công nghiệp, nước thải bệnh viện, nước thải sinh hoạt đây là những chất thải rất có hại cho sức khỏe con người Nếu không được xử lý tốt đây sẽ là nguồn gây bệnh rất đáng lo ngại Ô nhiễm môi trường không khí chủ yếu do các khí CO2, SO2, gây ra

Trang 32

c) Tác động về xã hội

- Tác động tích cực: Quá trình Đô thị hóa đã tạo nên nhiều tác động

tích cực không những về mặt kinh tế mà còn cả về mặt xã hội, làm thay đổi cuộc sống người dân ở các khu công nghiệp và khu đô thị như:

+ Thay đổi bộ mặt văn hoá của địa phương

+ Phát triển cộng đồng tổ chức

+ Thay đổi nếp sống của công đồng theo hướng tốt lên

+ Do kinh tế phát triển nên các hộ nông dân ở đây có điều kiên tiếp xúc với phương tiên thông tin đại chung nhiều hơn, có cơ hội hưởng thụ văn hoá nhiều hơn

- Tác động tiêu cực:

+ Tệ nạn xã hội nhiều hơn trước khi có các khu công nghiệp do nhiều thành phần trong xã hội đến đây mưu sinh kiếm sống

+ Làm mất đi những phong tục tập quán tốt của địa phương do lối sống

đô thị thâm nhập vào

+ Do không có kế hoạch chi tiêu tiền đền bù nên một số người đã sử dụng tiền sai mục đích do đó đã vô tình đẩy họ vào các tệ nạn xã hội như rượu chè cờ bạc, lô đề

1.1.5 Lao động, việc làm và các vấn đề liên quan

1.1.5.1 Lao động và các vấn đề liên quan đến lao động

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội [25] Do vậy, lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định đến sự phát triển của đất nước

- Nguồn lao động (lực lượng lao động): Là một bộ phận dân số trong

độ tuổi quy định thực tế có tham gia lao động (đang có việc làm) và những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm

Trang 33

- Độ tuổi lao động: Theo quy định của Bộ luật lao động thì độ tuổi lao động được tính như sau:

+ Đối với nam giới: Từ 15 đến 60 tuổi

+ Đối với nữ giới: Từ 15 đến 55 tuổi

Tuy nhiên, theo khái niệm trên thì những người trong độ tuổi lao động không có nhu cầu làm việc hoặc không có khả năng làm việc thì không được tính trong lực lượng lao động: Ví dụ như học sinh, người tàn tật

- Lao động có thể được phân loại theo những tiêu thức sau:

+ Phân loại theo tính chất lao động gồm có: Lao động trực tiếp và lao động gián tiếp

+ Phân loại theo thời gian lao động gồm có: Lao động thường xuyên và lao động tạm thời

+ Phân loại theo trình độ được đào tạo:

- Lao động trình độ cao đẳng, đại học trở lên

- Lao động trình độ trung cấp

- Lao động trình độ sơ cấp

- Lao động phổ thông

+ Phân loại theo ngành nghề gồm có:

- Lao động nông nghiệp

- Lao động công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp

Theo định nghĩa trên, các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm:

Trang 34

- Các hoạt động tạo ra của cải, vật chất và giá trị tinh thần, không bị pháp luật cấm, được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật

- Những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình và cho cộng đồng kể cả những việc trả công bằng tiền hoặc hiện vật

- Người có việc làm: Là những người thuộc lực lượng lao động mà trong tuần lễ trước tính đến thời điểm điều tra:

+ Đang làm công việc để nhận tiền lương, lợi nhuận hay hiện vật + Đang làm công việc không được tiền lương hay lợi nhuận trong các công việc sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình mình

- Người có đủ việc làm: Bao gồm những người có số giờ làm việc trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra ≥ 40 hoặc ≤ 40 nhưng ≥ số giờ quy định đối với những người làm công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành

- Phân loại việc làm: Việc làm được phân loại theo các mức độ sau: + Phân loại việc làm dựa theo mức độ đầu tư thời gian cho việc làm:

* Việc làm chính: Là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác

* Việc làm phụ: Là những việc làm mà người lao động dành nhiều thời gian nhất sau việc làm chính

+ Phân loại việc làm dựa theo mức độ sử dụng thời gian lao động, năng suất và thu nhập:

* Việc làm đầy đủ: Là sự thoả mãn nhu cầu về việc làm cho bất kỳ ai

có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân Một việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động làm việc theo chế độ do Bộ Luật lao động Việt Nam quy định (8h/ngày)

Trang 35

* Việc làm có hiệu quả: Là việc làm với năng suất, chất lượng cao, tiết kiệm được chi phí lao động, tăng năng suất lao động đảm bảo được chất lượng của các sản phẩm làm ra

* Thiếu việc làm: Là trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ và thất nghiệp Đó là tình trạng có việc làm nhưng do nguyên nhân khách quan ngoài

ý muốn của người lao động, họ phải làm việc nhưng không hết sử dụng hết thời gian theo quy định hoặc làm những công việc có thu nhập thấp không đủ sống khiến họ muốn kiếm thêm việc làm bổ sung

- Thiếu việc làm được thể hiện dưới 2 dạng: Thiếu việc làm vô hình và thiếu việc làm hữu hình

+ Thiếu việc làm vô hình: Là trạng thái những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian, thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp Trên thực tế họ vẫn làm việc nhưng sử dụng ít thời gian trong sản xuất do vậy thời gian nhàn rỗi nhiều

+ Thiếu việc làm hữu hình: Là hiện tượng lao động làm việc thời gian

ít hơn thường lệ, họ không đủ vệc làm đang kiếm thêm việc làm và sẵn sàng làm việc

* Thất nghiệp

Thất nghiệp là hiện tượng mà người lao động trong độ tuổi lao động có khả năng lao động muốn làm việc nhưng lại chưa có việc làm và đang tìm kiếm việc làm

Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần phải được phân loại để hiểu rõ về nó Thất nghiệp có thể được chia thành các loại như sau:

- Xét về nguồn gốc thất nghiệp có thể chia thành:

+ Thất nghiệp tạm thời: Xảy ra khi có một số người đang trong thời gian tìm kiếm công việc hơặc nơi làm tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng, hoặc

Trang 36

những người mới bước vào thị trường lao động đang tìm kiếm việc hoặc chờ đợi đi làm

+ Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối cung - cầu giữa các loại lao động (không đồng bộ giữa tay nghề và cơ hội có việc làm khi động thái của nhu cầu và sản xuất thay đổi)

+ Thất nghiệp do thời vụ: Xuất hiện như là kết quả của những biến động thời vụ trong các cơ hội lao động

+ Thất nghiệp chu kỳ: Là loại thất nghiệp xảy ra do giảm sút giá trị tổng sản lượng của nền kinh tế Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh doanh, tổng giá trị sản xuất giảm dần dẫn tới hầu hết các nhà sản xuất giảm lượng cầu đối với các yếu tố đầu vào trong đó có lao động

- Xét về tính chủ động của người lao động, thất nghiệp bao gồm:

+ Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp xảy ra khi người lao động

bỏ việc để tìm công việc khác tốt hơn hoặc chưa tìm được việc làm phù hợp với nguyện vọng

+ Thất nghiệp không tự nguyện: Là thất nghiệp xảy ra khi người lao động chấp nhận làm việc ở mức tiền lương, tiền công phổ biến nhưng vẫn không tìm được việc làm

- Ngoài ra ở các nước đang phát triển, người ta còn chia thất nghiệp thành thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp vô hình

+ Thất nghiệp hữu hình: Xảy ra khi người có sức lao động muốn tìm kiếm việc làm nhưng không tìm được trên thị trường

+ Thất nghiệp vô hình: Là biểu hiện của tình trạng chưa sử dụng hết lao động ở các nước đang phát triển, họ là những người có việc làm ở khu vực nông thôn hoặc thành thị không chính thức, việc làm này cho năng suất thấp và không ổn định

Trang 37

1.1.5.3 Sự cần thiết phải tạo việc làm cho người lao động sau thu hồi đất

Tạo việc làm, hạn chế tối đa việc dư thừa lao động là một trong những vấn đề xã hội có tính chất chiến lược, nó là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia Đặc biệt là tạo việc làm cho những lao động ở trong vùng Thu hồi đất, đảm bảo ổn định và nâng cao thu nhập cho họ, đồng thời phải đảm họ có cuộc sống bằng hoặc tốt hơn trước là một trong những vấn đề nổi cộm mà Đảng và Nhà nước ta đang quan tâm giải quyết Bởi vì nếu không tạo việc làm ổn định cho người dân sau Thu hồi đất thì nó không những ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống KTXH của người dân, mà nó còn ảnh hưởng rất lớn tới

sự phát triển KTXH của đất nước nói chung, hơn nữa nếu không có chính sách ổn định việc làm, thu nhập cho người lao động sau Thu hồi đất thì sớm muộn gì họ cũng sẽ rơi vào tình trạng thất nghiệp và nghèo đói, điều này nó

sẽ là vật cản quá trình Đô thị hóanông nghiệp, nông thôn đi đến thành công Ngoài ra, đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp của việc Thu hồi đất thường là những người lao động nông thôn, trong khi việc làm của họ lại phụ thuộc chủ yếu vào đất đai canh tác, bởi đây là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thiếu được của họ, nó không những giúp người dân ổn định cuộc sống mà còn đảm bảo duy trì cuộc sống lâu dài cho họ Do vậy, thiếu đất canh tác ở mức độ nào đó đồng nghĩa với việc thiếu việc làm của lao động nông thôn và vấn đề này đang gây ra rất nhiều bức xúc hiện nay Mặt khác, trong những năm qua việc Thu hồi đất thường tập trung vào những vùng đất tốt và thuận tiện giao thông, đây cũng là những nơi tạo việc làm và cho thu nhập chính của người dân Chính vì vậy, việc Thu hồi đất ảnh hưởng rất lớn tới việc làm và đời sống kinh tế của người dân Do đó, tạo việc làm cho người dân sau Thu hồi đất là việc làm rất cần thiết, yêu cầu phải được thực hiện đồng bộ và có sự kết hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành

Trang 38

1.1.6 Thu nhập và vấn đề thu nhập đối với người dân sau thu hồi đất

C1: Khấu hao tài sản cố định

- Thu nhập ổn định: Là khả năng tạo thu nhập một cách ổn định, lâu dài qua các năm, đảm bảo ổn định cuộc sống lâu dài thông qua các hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ

- Phân loại thu nhập: Theo mức độ, thì thu nhập bao gồm: Thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên

+ Thu nhập thường xuyên: Là các khoản thu nhập có tính chất lặp đi lặp lại và ổn định như: Tiền lương, tiền công,tiền trợ cấp, các khoản thu nhập

do tổ chức cá nhân chi trả,

+ Thu nhập không thường xuyên: Là các khoản thu nhập không ổn định, đột xuất như: Quà biếu tặng, thu nhập từ các hoạt động khoa học,

1.1.6.2 Vấn đề thu nhập đối với người dân sau thu hồi đất

Việc thu hồi đất tác động rất lớn tới đời sống của người dân, biểu hiện

rõ rệt nhất ở thu nhập và việc làm của người dân sau thu hồi đất Sau khi bị

Trang 39

thu hồi đất, người dân với trình độ hạn chế nên họ rất khó tìm kiếm được việc làm mới, và họ cũng không định hướng được nên chuyển sang làm việc gì để

có thể tạo được thu nhập một cách ổn định, do vậy rất nhiều người dân trong vùng thu hồi đất chỉ mong muốn làm sao có được việc làm đem lại thu nhập

ổn định cho dù thu nhập đó có thấp hơn chút ít so với thu nhập trước kia Một khảo sát thực tế cho thấy thu nhập của người dân sau thu hồi đất phần lớn bị giảm sút so với trước thu hồi (53%) chỉ có gần 13% số hộ có thu nhập tăng hơn trước do được chuẩn bị trước Nguyên nhân dẫn đến thực tế này là do lao động ở những vùng thu hồi đất thường là lao động phổ thông chưa qua đào tạo, trình độ tay nghề thấp không đáp ứng được yêu cầu của công việc mới do vậy có tới 67% lao động nông nghiệp sau thu hồi đất vẫn giữ nguyên nghề

cũ, 13% chuyển sang nghề mới và có ≈ 20% lao động không có việc làm hoặc có nhưng việc làm không ổn định [4] Qua đây, ta có thể thấy được một vấn đề bức thiết cần tháo gỡ hiện nay là làm thế nào để người dân sau thu hồi đất có được thu nhập ổn định, đảm bảo nâng cao cuộc sống cho họ, hạn chế được hiện tượng nghèo đói sau thu hồi đất

1.2 Tình hình nghiên cứu, giải quyết vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Kinh nghiệm về thu hồi đất và phục hồi kinh tế cho nông dân sau thu hồi đất của một số nước trên thế giới

Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức: Công tác khuyến khích

phát triển kinh tế đô thị là một trọng tâm được ưu tiên ở tất cả các đô thị của nước Đức Công tác lãnh đạo và quản lý các khu công nghiệp đều chú ý tập trung khai thác các tiềm năng kinh tế địa phương tạo điều kiện thuận lợi để

nó phát triển [3] Việc này liên quan đến hàng loạt các nhân tố như tác động vào hoạt động của các doanh nghiệp thông qua chính sách tài chính thuế, duy trì khuyến khích các doanh nghiệp mới, chuẩn bị mặt bằng và cơ sở hạ tầng, marketing đô thị, khuyến khích đổi mới công nghệ, xây dựng chính sách việc

Trang 40

làm cho địa phương Nước Đức hiện nay đang ở trong thời kỳ “phi công nghiệp hoá” nên đã giải thể các nhà máy xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 để chuyển sang các dây chuyền sản xuất hiện đại có công nghệ cao và sạch, tạo năng suất lao động cao và chống lại ô nhiễm môi trường Các dự án phát triển kinh tế ở các khu công nghiệp chuẩn bị một cách nghiêm túc, dân chủ và hướng vào phục vụ lợi ích của cộng đồng

Thành phố Nordhorn và Lingen là những thành phố để lại bài học bổ ích về chuyển đổi công nghệ tạo việc làm mới, khuyển khích các công ty vào

hỗ trợ các công ty mới Doanh nghiệp dệt đã phát triển sớm cách đây hơn 100 năm Thời kỳ hoàng kim là năm 1960 đã có 11.000 công nhân, đến những năm gần đây chỉ còn 1.000 chỗ làm Từ khi công nghiệp dệt đi xuống thành phố đã tạo được 10.000 chỗ làm mới Từ ngành dệt độc tôn này đã chuyển sang đa ngành, bắt buộc phải có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế mạnh mẽ Quá trình cải tạo công nghiệp dệt cũng là quá trình đô thị hóa Thành phố còn tập trung đầu tư vào phát triển hệ thống giao thông để phát triển kinh tế, kết quả đạt được là tạo 18.000 chỗ làm mới Nước Đức còn giải quyết việc làm cho lao động bằng cách lập ra qũy bổ sung do nhà nước tài trợ, mục đích tạo thêm việc làm, trợ cấp thất nghiệp và phân tích cơ cấu thất nghiệp, để xây dựng các chương trình bồi dưỡng nâng cao tay nghề, tạo việc làm thay thế đáp ứng nhu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, hạn chế tình trạng thất nghiệp Đây là kinh nghiệm có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp nhà nước đang chuyển đổi cơ cấu kinh tế và Đô thị hóaở các vùng ngoại vi thành phố, đòi hỏi chuẩn bị nguồn nhân lực từ con em nông dân để họ bước vào làm việc ở các khu liên doanh và các khu công nghiệp mới

Kinh nghiệm của Trung Quốc: Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất

thế giới Tốc độ đô Đô thị hóacũng đang diễn ra rất nhanh chóng Diện tích đất canh tác hạn chế trong khi dân số đang làm cho tỷ lệ thất nghiệp ở các

Ngày đăng: 17/05/2021, 22:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w