Nghiên cứu này được thiết kế bằng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, nhằm xác định tỷ lệ tăng huyết áp, mô tả kiến thức, thực hành phòng THA tại cộng đồng và xác định m
Trang 1SƠN VINH QUANG
THỰC TRẠNG TĂNG HUYẾT ÁP VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG TĂNG HUYẾT ÁP CỦA NGƯỜI DÂN ĐỘ TUỔI 25 – 60 TẠI XÃ AN THẠNH 3 HUYỆN CÙ LAO DUNG, SÓC TRĂNG NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 60.72.03.01
Hà Nội - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
SƠN VINH QUANG
THỰC TRẠNG TĂNG HUYẾT ÁP VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG TĂNG HUYẾT ÁP CỦA NGƯỜI DÂN ĐỘ TUỔI 25 – 60 TẠI XÃ AN THẠNH 3 HUYỆN CÙ LAO DUNG, SÓC TRĂNG NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 60.72.03.01
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHẠM THỊ NHÃ TRÚC TS TRẦN THỊ MỸ HẠNH
Hà Nội - 2017
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái niệm và phân loại THA 4
1.1.1 Khái niệm huyết áp và tăng huyết áp 4
1.1.2 Phân loại THA 4
1.1.3 Một số đặc điểm sinh lý về THA 5
1.2 Tình hình THA trên thế giới và Việt Nam 12
1.2.1 Tình hình THA thế giới 12
1.2.2 Tình hình THA ở Việt Nam 14
1.3 Nguyên nhân, biểu hiện và biến chứng của THA 7
1.3.1 Nguyên nhân 7
1.3.2 Yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp 7
1.3.3 Biểu hiện của THA 10
1.3.4 Biến chứng của THA 10
1.4 Các biện pháp phòng tăng huyết áp[48] 11
1.5 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng tăng huyết áp 15
1.6 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 19
1.7 KHUNG LÝ THUYẾT 20
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.3 Thiết kế nghiên cứu 21
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu 21
Trang 42.5 Phương pháp chọn mẫu 22
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu 23
2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.7 Các biến số nghiên cứu chính 25
2.8 Một số khái niệm và cách đánh giá sử dụng trong nghiên cứu 25
2.9 Cách đánh giá cho điểm 26
2.10 Phương pháp xử lý số liệu 27
2.12 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 28
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 29
3.1.1 Đặc điểm chung của ĐTNC 29
3.2 Tỷ lệ tăng huyết áp của ĐTNC 31
3.3 Kiến thức về THA và phòng THA của ĐTNC 34
3.3.1 Kiến thức về THA của ĐTNC 34
3.3.2 Kiến thức về yếu tố nguy cơ THA 35
3.3.3 Kiến thức về biện pháp phòng THA 36
3.3.4 Kiến thức chung về phòng THA 37
3.4 Thực hành phòng THA của ĐTNC 37
3.4.1 Thực hành phòng THA 37
3.4.2 Thực trạng hút thuốc lá của ĐTNC 38
3.4.3 Thực trạng uống rượu, bia của ĐTNC 39
3.4.4 Thực hành hoạt động thể lực của ĐTNC 39
3.4.5 Thực hành chung về phòng THA của ĐTNC 40
3.5 Tiếp cận thông tin, truyền thông về phòng THA 40
3.5.1 Nguồn thông tin về THA mà ĐTNC được tiếp cận 40
3.5.2 Kênh thông tin về THA mà ĐTNC muốn tiếp cận 41
3.6 Một số yếu tố liên quan đến THA 42
3.6.1 Mối liên quan giữa một số đặc điểm của ĐTNC với THA 42
3.6.2 Liên quan giữa hút thuốc lá với THA 44
Trang 53.6.3 Liên quan giữa chế độ ăn uống với THA 45
3.6.4 Liên quan giữa kiến thức và thực hành chung phòng THA với THA 46
3.7 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng THA 47
3.7.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng THA của ĐTNC 47
3.7.2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng THA của ĐTNC 49
3.7.3 Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành phòng THA của ĐTNC 51
Chương 4: BÀN LUẬN 52
4.1 Một số đặc điểm chung của ĐTNC 52
4.2 Tỷ lệ THA của đối tượng nghiên cứu 54
4.2.1 Tỷ lệ tăng huyết áp chung 54
4.2.2 Tỷ lệ THA theo một số đặc điểm nhân khẩu học 54
4.2.3 Thời điểm phát hiện THA của ĐTNC 56
4.3 Kiến thức về THA và phòng THA của ĐTNC 56
4.3.1 Kiến thức chung phòng THA ĐTNC 56
4.3.2 Kiến thức về THA của ĐTNC 57
4.4 Thực hành phòng THA của ĐTNC 60
4.5 Một số yếu tố liên quan 64
4.5.1 Một số yếu tố liên quan đến THA 64
4.5.2 Liên quan giữa kiến thức, thực hành chung với THA 68
4.5.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng THA của ĐTNC 69
4.5.4 Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng tăng huyết áp của ĐTNC 70
4.5.5 Liên quan giữa KT chung phòng THA với TH chung phòng THA 72
4.6 Ưu điểm, khuyết điểm của nghiên cứu 72
4.6.1 Ưu điểm: 72
4.6.2 Khuyết điểm: 73
Chương 5: KẾT LUẬN 74
KHUYẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 85
Trang 6Phụ lục 1: PHIẾU ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG TĂNG HUYẾT ÁP VÀ KIẾN
THỨC, 85
Phụ lục 2: CÁC BIẾN NGHIÊN CỨU 94
Phụ lục 3: Cách đánh giá cho điểm kiến thức và thực hành phòng THA 103
Phụ lục 4: PHIẾU ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU 107
Phụ lục 5: QUY TRÌNH ĐO HUYẾT ÁP 108
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Phân loại THA theo WHO/ISH (năm 2003): 4
Bảng1.2: Phân độ THA theo JNC VII (năm 2003) [43]: 5
Bảng 1.3: Phân loại THA tại Việt Nam hiện nay 5
Bảng 3.1: Các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: (n = 380) 29
Bảng 3.2: Tình trạng THA của đối tượng nghiên cứu: (n = 380) 31
Bảng 3.3: Tỷ lệ THA theo một số đặc điểm nhân khẩu học ( n = 380 ) 31
Bảng 3.4 Tỷ lệ THA theo chỉ số BMI và WHR (n= 380) 33
Bảng 3.5: Thời điểm phát hiện THA của ĐTNC 33
Bảng 3.6: Kiến thức về THA của ĐTNC ( n = 380 ) 34
Bảng 3.7: Kiến thức về các yếu tố nguy cơ THA ( n = 380 ) 35
Bảng 3.8 Kiến thức về biện pháp phòng THA ( n = 380 ) 36
Bảng 3.9: Tỷ lệ ĐTNC biết về triệu chứng, biến chứng, yếu tố nguy cơ, biện pháp phòng THA ( n = 380 ) 36
Bảng 3.10: Kiến thức chung phòng THA 37
Bảng 3.11: Thực hành phòng THA 37
Bảng 3.12: Thực trạng hút thuốc lá của ĐTNC ( n = 380 ) 38
Bảng 3.13: Thực trạng uống rượu, bia của ĐTNC ( n = 380 ) 39
Bảng 3.14: Thực hành hoạt động thể lực của ĐTNC (n = 380) 39
Bảng 3.15: Thực hành chung phòng THA 40
Bảng 3.16: liên quan giữa một số đặc điểm của ĐTNC với THA (n = 380) 42
Bảng 3.17: Mối liên quan giữa gia đình có THA và kinh tế gia đình với THA 43
Bảng 3.18: Liên quan giữa các chỉ số BMI và WHR với THA ( n = 380) 44
Bảng 3.19: Liên quan giữa hút thuốc lá với THA ( n = 380 ) 44
Bảng 3.20: Liên quan giữa uống rượu, bia với THA 45
Bảng 3.21: Liên quan giữa chế độ ăn với THA 45
Bảng 3.22: Liên quan giữa kiến thức, thực hành chung với THA (n = 380) 46
Bảng 3.23: Mối liên quan giữa kiến thức phòng THA với nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn và nghề nghiệp của ĐTNC 47
Trang 9Bảng 3.24: Mối liên quan giữa kiến thức phòng THA với kinh tế gia đình, tiền sử có THA của ĐTNC, gia đình có người bị THA 48 Bảng 3.25: Mối liên quan giữa thực hành phòng THA với nhóm tuổi, giới tính, trình
độ học vấn và nghề nghiệp của ĐTNC 49 Bảng 3.26: Mối liên quan giữa thực hành phòng THA với kinh tế gia đình, tiền sử
có THA của ĐTNC, gia đình có người bị THA 50 Bảng 3.27: Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành phòng THA của ĐTNC (n=380) 51
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Nguồn thông tin về THA mà ĐTNC được tiếp cận 40
Biểu đồ 3.2: Sự mong muốn tiếp cận các nguồn thông tin về THA của ĐTNC 41
Trang 11LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học và quý thầy, cô trường Đại học y tế công cộng, đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, cung cấp cho em nắm được một số kiến thức cơ bản trong suốt thời gian hai năm học vừa qua
Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn: TS Phạm Thị Nhã Trúc cùng với giáo viên hỗ trợ:
TS Trần Thị Mỹ Hạnh, là hai người Thầy đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ, giúp
đỡ, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu và tạo mọi điều thuận lợi để cho
em hoàn thành tốt Luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn quý thầy, cô các bộ môn, các bạn đồng nghiệp, các bạn học viên lớp YTCC 19-ĐT, đã có những ý kiến đóng góp và lời khuyên rất chân tình trong suốt quá trình tôi thực hiện Luận văn
Xin thành thật biết ơn Trường CĐYT Đồng Tháp đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường và rất biết ơn lãnh đạo, nhân viên Trạm Y tế và đặc biệt là người dân của xã An Thạnh 3 huyện Cù Lao Dung, Sóc Trăng đã giúp tôi rất nhiều trong việc thu thập số liệu cũng như cung cấp thông tin chính xác, trung thực để làm cơ sở nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Sơn Vinh Quang
Trang 12TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Hiện nay, tăng huyết áp (THA) ngày càng phổ biến ở mọi đối tượng, giới
tính và nghề nghiệp Hiện tại xã An Thạnh 3, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng chưa được triển khai dự án phòng chống THA, cho nên việc tuyên truyền kiến thức cho người dân, việc quản lý và theo dõi THA của người dân chưa được quan tâm
đúng mức
Nghiên cứu này được thiết kế bằng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, nhằm xác định tỷ lệ tăng huyết áp, mô tả kiến thức, thực hành phòng THA tại cộng đồng và xác định một số yếu tố liên quan đến THA và
kiến thức, thực hành phòng THA của người dân độ tuổi từ 25 - 60 tại xã An Thạnh 3
huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng năm 2017 Nghiên cứu thực hiện khảo sát từ tháng 01 đến 10/2017, trên 380 người bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
Kết quả cho thấy, tỷ lệ THA ở người dân độ tuổi từ 25 – 60 là 23,7%; trong
đó, tỷ lệ đã THA trước thời điểm nghiên cứu là 72,2% và mới phát hiện THA tại thời điểm nghiên cứu là 27,8%; nhóm tuổi từ 45 – 60 có nguy cơ bị THA cao hơn gấp 2,9 lần so với nhóm tuổi từ 25 – 44 Những người có BMI ≥ 25 có nguy cơ bị THA cao gấp 1,8 lần so với những người có BMI < 25; những người có uống rượu/bia có nguy cơ bị THA cao gấp 2,3 lần so với những người không uống rượu/bia và những người có thực hành chung phòng THA không đạt có nguy cơ THA cao gấp 2,5 lần so với những người có thực hành chung phòng THA đạt
ĐTNC có kiến thức đạt về THA là 28,9%; thực hành đạt là 24,2%; Nam có kiến thức phòng THA không đạt cao gấp 1,6 lần so với nữ; Những người có kiến thức phòng THA không đạt có nguy cơ thực hành không đạt cao gấp 3,7 lần so với những người có kiến thức phòng THA đạt
Kết quả nghiên cứu giúp đưa ra các khuyến nghị cho địa phương nhằm xây dựng chương trình nâng cao sức khỏe phù hợp cho người dân, hạn chế sự gia tăng
và gánh nặng bệnh tật do THA gây ra
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, tăng huyết áp (THA) là vấn đề đang được quan tâm trong lĩnh vực điều trị và y tế công cộng ở tất cả các nước trên thế giới THA gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như tai biến mạch máu não, suy tim , suy thận thậm chí còn đe dọa tính mạng hoặc để lại những di chứng nặng nề cho người bệnh, làm tăng gánh nặng cho gia đình và xã hội
Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã có khoảng 1,5 tỷ người trên thế giới mắc THA và có 9,4 triệu người mỗi năm trên toàn thế giới tử vong do nguyên nhân trực tiếp là THA[75] Theo điều tra gần đây của Viện Tim mạch Việt Nam tại 8 tỉnh/thành phố của nước ta thì tỷ lệ THA của những người từ 25 tuổi trở lên là 25,1%, trong đó có 52% không biết mình bị THA; 30% số người biết bị THA nhưng không điều trị; 64% số người biết bị THA đã được điều trị nhưng không đạt
HA mục tiêu [62]
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến THA như: tuổi cao, hút thuốc lá, sử dụng nhiều rượu/bia, khẩu phần ăn không hợp lý, ít hoạt động thể lực, béo phì, căng thẳng trong cuộc sống… [33] Như vậy, nếu kiểm soát được các yếu tố nguy cơ có thể phòng tránh được THA, phần lớn các yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát được, nếu người dân có kiến thức đúng và biết cách phòng tránh Phát hiện các yếu tố THA có ý nghĩa rất lớn đến việc phòng THA trong cộng đồng đặc biệt là nhóm yếu tố liên quan đến lối sống, chế độ ăn uống, luyện tập và hành vi [54],[59]
Tuy nhiên, thực tế hầu hết người dân còn thiếu kiến thức, thực hành về phòng THA Theo điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam ( năm 2008 – 2009 ), 77% người dân hiểu sai về THA và các yếu tố nguy cơ của THA Đây cũng là một trong các nguyên nhân để tỉ lệ THA gia tăng ở nước ta, THA không những là vấn đề phổ biến mà còn là “ kẻ giết người thầm lặng” [42]
Tại Việt Nam chương trình phòng chống THA là một trong những chương trình mục tiêu quốc gia về Y tế, hiện nay 63 tỉnh/thành đang triển khai dự án phòng chống THA trong đó có tỉnh Sóc Trăng [49] Tại tỉnh Sóc Trăng mặc dù dự án
Trang 14phòng chống THA đã được triển khai vào năm 2011 nhưng chưa đủ rộng ( chỉ mới thí điểm được 19 xã trong số 109 xã của toàn tỉnh) và hiệu quả mang lại rất thấp do đây là vấn đề không dễ được cải thiện Chúng ta cần tìm hiểu, nhìn nhận một cách thực tế, khách quan về kiến thức của người dân như: yếu tố nguy cơ mắc, biến chứng, mức độ nguy hiểm của THA và việc phòng tránh THA Tuy nhiên khi tiến hành khảo sát nhanh cán bộ y tế và người dân đang sinh sống tại xã An Thạnh 3, huyện Cù Lao Dung, kết quả cho thấy tổng số bệnh nhân đến Trạm y tế xã khám bệnh được chẩn đoán là THA khoảng 30% và chỉ có 2/10 người dân ( 20% ) được phỏng vấn, hiểu đúng về yếu tố nguy cơ, các biện pháp phòng tránh cũng như mức
độ nguy hiểm của THA Đa số những người còn lại hiểu chưa đúng hoặc chưa đầy
đủ về THA Tỉ lệ này thấp hơn so với các xã còn lại trong huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng (xã An Thạnh 2 chiếm 30% và Thị Trấn Cù Lao Dung chiếm 40% ) Theo kết quả khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự của huyện Cù Lao Dung năm 2017,
tỷ lệ THA ở người trẻ tuổi khá cao chiếm khoảng 26% trong tổng số người được khám tuyển (67/258) Vì vậy câu hỏi đặt ra, tỷ lệ THA của người dân độ tuổi 25 –
60 là bao nhiêu? Tỷ lệ mắc ở nhóm tuổi nào nhiều nhất và nhóm tuổi nào THA đang
có xu hướng tăng lên? Kiến thức, thực hành phòng THA của người dân độ tuổi 25 –
60 như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến THA và kiến thức, thực hành về phòng THA của người dân độ tuổi 25 – 60 tại xã An Thạnh 3, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng? điều kiện tiếp cận các kênh truyền thông về phòng THA của người dân tại xã An Thạnh 3 ra sao? Để trả lời các câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng tăng huyết áp và kiến thức, thực hành phòng tăng huyết áp của người dân độ tuổi 25 – 60 tại xã An Thạnh 3, huyện Cù Lao Dung, Sóc Trăng năm 2017” Kết quả nghiên cứu giúp đưa ra các khuyến nghị phù hợp, hiệu quả, giúp địa phương xây dựng chương trình nâng cao sức khỏe phù hợp cho người dân, giúp người dân địa phương nâng cao nhận thức về các yếu tố nguy cơ và kiến thức, thực hành phòng THA nhằm hạn chế sự gia tăng và gánh nặng bệnh tật do THA gây ra
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Xác định tỷ lệ tăng huyết áp của người dân độ tuổi từ 25 – 60 tại xã An Thạnh 3,
huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng năm 2017
2 Mô tả kiến thức, thực hành phòng tăng huyết áp của người dân độ tuổi từ 25 –
60 tại xã An Thạnh 3, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng năm 2017
3 Xác định một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp và kiến thức, thực hành phòng tăng huyết áp của người dân độ tuổi từ 25 – 60 tại xã An Thạnh 3, huyện
Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng năm 2017
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm và phân loại THA
1.1.1 Khái niệm huyết áp và tăng huyết áp
Khái niệm huyết áp:
Huyết áp (HA) là áp lực máu có trong động mạch, do tim co bóp đẩy máu từ thất trái vào hệ động mạch, đồng thời cũng do ảnh hưởng của lực cản thành động mạch Kết quả làm cho máu được lưu thông đến các tế bào để cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng cho nhu cầu toàn cơ thể
Khi tim co bóp tống máu, áp lực động mạch tăng lên đạt mức cao nhất gọi là huyết áp tâm thu (HATT) hay là HA tối đa
Khi tim nghỉ, áp lực đó xuống đến mức thấp nhất gọi là huyết áp tâm trương (HATTr) hay là HA tối thiểu [17]; [19]; [30]; [50]
Khái niệm Tăng huyết áp:
THA là khi trị số huyết áp đo được ở trên mức bình thường THA có thể là tăng cả tâm thu và tâm trương hoặc chỉ tăng 1 trong 2 dạng đó [17]; [27]
THA là tình trạng huyết áp thường xuyên tăng trên mức bình thường Theo WHO, THA khi HATT ≥ 140 mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90 mmHg [5]
1.1.2 Phân loại THA
Phân loại THA có nhiều thay đổi trong những năm gần đây TheoWHO/ISH (năm 2003) chia THA làm 3 độ [13]; [20]; [22]; [57]
Bảng 1.1: Phân loại THA theo WHO/ISH (năm 2003):
Trang 17Liên Ủy Ban Quốc Gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá, điều trị THA Hoa
Kỳ (JNC) lại đưa ra phân loại hơi khác qua các kì họp và gần đây JNC VII (năm 2003) chia THA như sau:
Bảng1.2: Phân độ THA theo JNC VII (năm 2003) [43]:
Phân độ THA Huyết áp (mmHg)
Bảng 1.3: Phân loại THA tại Việt Nam hiện nay
Nếu HATT và HATTr ở hai phân độ khác nhau tính theo chỉ số HA lớn hơn
1.1.3 Một số đặc điểm sinh lý về THA
Ở người bình thường không phải HA lúc nào cũng ổn định HA luôn thay đổi tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố trong một thời gian nhất định Đó là sự thay đổi sinh lý của HA [17], [16]
HA thay đổi theo nhịp ngày đêm: ở người bình thường trong một ngày HA
Trang 18được ghi nhận nhờ một máy đo HA tự động liên tục suốt 24 h người ta nhận thấy
HA ban ngày cao hơn ban đêm khoảng 20%, từ 22h đến 7h sáng là thời gian HA thấp nhất trong ngày, khi tỉnh dậy tim làm việc mạnh hơn và HA tăng lên nhanh hơn Người THA thì có tỷ lệ HA ban ngày cũng như HA ban đêm hoặc đảo ngược ban đêm cao hơn ban ngày Trong ngày, HA dao động nhẹ và tăng cao vào một số thời điểm tạo thành các đỉnh cao, hiện tượng này gặp cả ở người bình thường và người THA [29], [32]
HA tăng giảm theo thời tiết: Một nghiên cứu tại Anh của tác giả Richard
Mitchell năm 2002, thực hiện theo dõi một năm 5.663 người từ 18 tuổi trở lên (2.564 nam, 3.099 nữ), cho thấy người thường xuyên tiếp xúc với khí hậu lạnh
có mức huyết áp tâm trương tăng lên đến 1,45 lần và tăng huyết áp tâm thu lên 1,25 lần [80] Khí hậu lạnh, các mạch máu ngoại biên co lại để giảm sự thải nhiệt, giữ thân nhiệt nên huyết áp tăng Ngược lại, khí hậu nóng, mạch ngoại biên giãn ra nhằm tăng sự thải nhiệt để điều hòa thân nhiệt, do đó huyết áp giảm xuống
HA thay đổi tuỳ theo sự hoạt động của cơ thể: Kể cả lao động trí óc lẫn chân
tay Khi cơ thể tăng cường vận động, nhu cầu ôxy và năng lượng đảm bảo cho hoạt động đó tăng lên, tim phải làm việc nhều hơn bằng cách tăng tần số và cường độ co bóp, do đó làm THA Khi nghỉ ngơi, HA trở lại bình thường Trong lao động trí óc cũng vậy, khi lao động trí óc căng thẳng kéo dài liên tục, HA có thể tăng lên cao [16], [19], [33]
HA thay đổi do trạng thái tâm lý: Như lo âu, bồn chồn, xúc động, thần kinh
căng thẳng, stress dễ dàng làm cho tăng hoạt động hệ thần kinh giao cảm giải phóng nhiều adrenalin và non-adrenalin làm nhịp tim đập nhanh và gây tăng HA [19]
HA thay đổi theo giới: Nam cao hơn nữ khoảng 3 – 5 mmHg
HA thay đổi theo tư thế: Ở tư thế đứng, 400-800 ml máu dồn xuống vùng
thấp của cơ thể, làm giảm khoảng 20% lưu lượng máu tĩnh mạch về tim Ở người bình thường, lưu lượng tim giảm kích thích phản xạ áp lực hành tủy làm huyết áp vẫn giữ được như cũ nhờ co mạch ngoại biên Tư thế hạ huyết áp được định nghĩa
Trang 19là giảm huyết áp tâm thu ≥20 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥10 mmHg trong vòng 3 phút đứng [76] Tư thế đứng làm tăng tiết Restinin và Angiotensine II Khi chuyển từ nằm sang đứng, huyết áp tăng nhẹ 10-20 mmHg để đảm bảo cung cấp máu tốt hơn cho các bộ phận trong cơ thể [61]
THA là một vấn đề rất phức tạp, từng cơ thể có mức độ đáp ứng khác nhau Trong lúc đi tìm nguyên nhân THA, người ta thấy có rất nhiều yếu tố liên quan mật thiết đến THA, có thể làm THA dễ xuất hiện hơn và làm nặng hơn Có rất nhiều yếu
tố ảnh hưởng lên sự hình thành THA và thường xuyên tác động lẫn nhau, trong đó yếu tố môi trường và di truyền được đề cập nhiều nhất
1.2 Nguyên nhân, biểu hiện và biến chứng của THA
1.2.1 Nguyên nhân
1.2.1.1 Tăng huyết áp nguyên phát
THA nguyên phát chiếm khoảng 90% các trường hợp [5], cơ chế THA cho đến nay chưa được rõ ràng, nhưng đồng thời y học cũng chứng minh có một số yếu
tố nguy cơ gây nên THA
1.2.1.2 Tăng huyết áp thứ phát
Bệnh nhân THA có nguyên nhân rõ ràng như:
- THA do thận: như viêm cầu thận, viêm thận mạn mắc phải hoặc bẩm sinh, thận đa nang, hẹp động mạch thận, suy thận…
- Do nội tiết: phì đại thượng thận bẩm sinh, hội chứng Cushing, ĐTĐ…
- Do nguyên nhân khác: nhiễm độc thai nghén, hẹp eo động mạch chủ, rối loạn chuyển hóa…ngoài ra còn có thể do: dò động tĩnh mạch, cường giáp, hẹp hở van động mạch chủ…
- Do thuốc: thuốc ngừa thai, các chất giảm đau không chứa steroid, thuốc gây
tê, các corticoide…
1.2.2 Yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp
Tuổi
Tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc THA càng nhiều do thành động mạch bị lão hóa
và xơ vữa, giảm tính đàn hồi làm cho HA tối đa hay HA tâm thu tăng cao hơn, gọi
là THA tâm thu đơn thuần Một cuộc điều tra của Viện Tim Mạch cho thấy tỷ lệ
Trang 20THA là 6% ở lứa tuổi 16 – 39; đã tăng lên 21,5% ở lứa tuổi 50 – 59; 30,6% ở lứa tuổi 60 - 69 và 47,5% ở lứa tuổi 70 trở lên [2], [13], [23]
Chế độ ăn
Trên thế giới người ta thấy ở những vùng mà người dân ăn quá nhiều muối thì tần suất THA tăng cao rõ rệt so với các vùng khác Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ
ra mối liên quan giữa muối ăn và THA Những quần thể có tập quán ăn mặn luôn có
tỉ lệ người THA cao hơn so với các quần thể có tập quán ăn nhạt [13], [62] Ở Việt Nam Viện dinh dưỡng từng điều tra về lượng muối mà một người tiêu thụ mỗi ngày, kết quả: người Nghệ An 14g, người Thừa Thiên Huế 13g, tỉ lệ THA ở địa phương này là 18% Ở Hà Nội, người dân ăn mỗi ngày 9g muối, tỉ lệ mắc THA là 11% [38], [24],[56]
Hút thuốc lá
Hút thuốc lá bao gồm hút thuốc điếu có đầu lọc, hút thuốc lào hoặc hút thuốc giồng Thuốc lá có chất nicotin kích thích thần kinh giao cảm, kích thích co mạch gây tăng huyết áp Hút một điếu thuốc lá, huyết áp tâm thu tăng lên 11 mmHg và huyết áp tâm trương tăng 9 mmHg kéo dài 20 - 30 phút Thuốc lá làm tăng nhịp tim và chất CO trong khói thuốc lá làm giảm cung cấp oxy mô tế bào, cùng với áp lực dòng máu tăng làm tổn thương theo tế bào nội mạc động mạch, tạo điều kiện xơ vữa động mạch hình thành [11]
Uống nhiều rượu, bia
Người uống nhiều rượu, bia sẽ làm tăng huyết áp, làm giảm hoặc làm mất tác dụng của thuốc chữa THA, cũng là yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch Ngoài ra, việc uống rượu, bia quá mức còn gây bệnh xơ gan và tổn thương thần kinh khác, từ
đó gián tiếp làm THA Vì vậy hạn chế được rượu, bia có thể phòng được THA Một
số điều tra cho thấy, nếu dùng rượu, bia thích hợp thì có thể làm giảm nguy cơ bệnh mạch vành Do đó nếu dùng rượu, bia cần hạn chế ít hơn 30 ml rượu mạnh/ngày ( <
1 lon bia, < 60 ml rượu vang) [62]
Thừa cân, béo phì
Người có BMI cao hơn sẽ có tỷ lệ tăng huyết áp cao hơn Các chuyên gia tư vấn của Tổ chức Y tế thế giới kết luận rằng người châu Á thường có tỷ lệ phần trăm
Trang 21chất béo trong cơ thể cao hơn so với người da trắng ở cùng độ tuổi, giới tính và BMI [83] Người béo phì có khối lượng tổ chức mỡ tăng, lòng động mạch mở rộng, lưu lượng máu trong hệ thống tuần hoàn tăng do đó nhịp tim tăng gây THA
Căng thẳng, lo âu quá mức
Những nghiên cứu đã chứng minh được những người bị căng thẳng thần kinh, lo âu quá mức sẽ làm tăng nhịp tim Dưới tác dụng của các chất trung gian: adrenalin, noadrenalin làm động mạch bị co thắt dẫn đến THA [27]
Bệnh đái tháo đường
THA và đái tháo đường (ĐTĐ) là hai bệnh lý phổ biến, không chỉ gặp ở người lớn tuổi mà còn xuất hiện ngày càng nhiều ở người trẻ tuổi Tại Việt Nam tỉ lệ bệnh nhân ĐTĐ đồng thời mắc THA khoảng 50 – 70% Nhiều nghiên cứu cho thấy ĐTĐ và THA thường song hành với nhau vì có cùng các yếu tố nguy cơ như: thừa cân, béo phì, chế độ ăn nhiều năng lượng và ít vận động…[10], [4],[7] Tỉ lệ THA ở người bị ĐTĐ cao gấp hai lần người không bị ĐTĐ Ngược lại, khoảng 50 – 70% bệnh nhân ĐTĐ đồng thời bị THA THA là một yếu tố nguy cơ làm tăng biến chứng của ĐTĐ, và ngược lại ĐTĐ làm cho THA khó kiểm soát hơn [4],[10]
Rối loạn mỡ máu
Chất mỡ hay còn gọi là Chất béo hoặc chất lipid máu [2], [23] Cholesterol
và triglyceride máu là thành phần chất béo trong máu Chúng thường được gọi là các thành phần mỡ của máu hay chính xác hơn là Lipid máu Nồng độ chất Cholesterol trong máu cao là nguyên nhân chủ yếu gây ra xơ vữa động mạch, dần dần làm hẹp lòng các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan khác trong
cơ thể Động mạch bị xơ vữa sẽ kém đàn hồi và đây cũng chính là yếu tố gây THA
Ít vận động thể lực
Hoạt động thể lực là việc sử dụng lực của hệ cơ xương dẫn đến tiêu thụ năng lượng nhiều hơn lúc nghỉ ngơi Hoạt động thể lực như tập thể dục 30 phút đều đặn mỗi ngày giúp làm giảm huyết áp tâm thu 4-9 mmHg, phòng ngừa một số bệnh mạn tính và cải thiện chất lượng sống rõ rệt
Người ít vận động thể lực hay có lối sống tĩnh tại, cũng được xem là một nguy cơ của THA Cần thực hiện chế độ tập luyện đều đặn ít nhất 30 – 45 phút mỗi
Trang 22ngày vào các ngày trong tuần, sẽ mang lại lợi ích rõ rệt cho sức khỏe, làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch nói chung và THA nói riêng [62]
Tiền sử gia đình có người bị THA
Theo thống của nhiều nhà khoa học qua kết quả nghiên cứu ghi nhận, THA
có thể có yếu tố di truyền [40], [27], [62] Trong một gia đình, nếu có ông, bà, cha,
mẹ bị THA thì con cái có nguy cơ mắc THA nhiều hơn Do đó, những người có tiền
sử gia đình có người thân bị THA thì cần phải cố gắng loại bỏ các yếu tố nguy cơ THA, như vậy mới có thể phòng tránh được THA
1.2.3 Biểu hiện của THA
Hầu hết người bệnh tăng huyết áp thường không có triệu chứng và không được phát hiện trong nhiều năm Đau đầu có thể xảy ra khi huyết áp tâm thu trên 200mmHg hoặc huyết áp tăng rất nhanh như trong tăng huyết áp ác tính Những hậu quả của tăng huyết mãn tính biểu hiện chủ yếu thông qua các tổn thương của hệ tim mạch, mạch máu não và bệnh động mạch vành
Các triệu chứng rất mơ hồ, thông thường bệnh nhân có cảm giác nhức đầu, nhức vùng chẩm, nhiều nhất vào buổi sáng, chóng mặt, đỏ mặt, mỏi gáy Nặng hơn nữa, bệnh nhân có thể có triệu chứng của tổn thương cơ quan đích gồm mắt mờ; chảy máu cam, tiểu máu, đau ngực do thiếu máu cơ tim, các triệu chứng của thiếu máu não, ngưng thở và đau do bóc tách động mạch chủ, phình động mạch
1.2.4 Biến chứng của THA
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng về điều trị tăng huyết áp cho biết giảm huyết áp từ 10 – 15mmHg sẽ làm giảm 1/3 tai biến mạch vành và tử vong tim mạch qua 5 năm theo dõi Tăng huyết áp thường kết hợp với bệnh mạch vành, bệnh mạch máu não, suy tim và tử vong sớm Ngoài ra, tăng huyết
áp cũng kết hợp với suy thận, bệnh mạch máu ngoại biên, phình động mạch chủ, sa sút trí tuệ, rung nhĩ Những biến chứng này có ảnh hưởng lớn đến người bệnh, gây tàn phế và trở thành gánh nặng về tinh thần lẫn vật chất của gia đình người bệnh và
xã hội.[64]
Một số biến chứng chính của tăng huyết áp gồm [65]
- Các biến chứng về tim: Cơn đau thắt ngực, Nhồi máu cơ tim, suy tim
Trang 23- Các biến chứng tại não: Xuất huyết não, nhũn não, bệnh não do tăng huyết
áp Các biến chứng về thận: Đái ra protein, phù, suy thận
- Các biến chứng về mắt: Mờ mắt, xuất huyết, xuất tiết và phù gai thị
- Các biến chứng về mạch máu: Phình hoặc phình tách thành động mạch, các bệnh động mạch ngoại vi Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ lớn cho bệnh tim mạch, 69% bệnh nhân nhồi máu cơ tim có tăng huyết áp, 77% bệnh nhân bị đột quỵ có tăng huyết áp, 74% bệnh nhân bị suy tim mãn tính có tăng huyết áp và trong 60% bệnh nhân động mạch ngoại biên có tăng huyết áp [70]
Theo một điều tra của Viện Tim mạch tại 4 tỉnh phía Bắc Việt Nam năm
2003 cho thấy tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu (10%) gây suy tim tại cộng đồng ở người lớn Việt Nam 46% bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được điều trị tại Viện Tim mạch (2005) có liên quan với tăng huyết áp và hơn 1/3 bệnh nhân tai biến mạch máu não điều trị tại Khoa Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai (2003) có nguyên nhân là tăng huyết áp [26]
Gần đây người ta nhận thấy tăng huyết áp tâm thu đơn thuần làm tăng nguy
cơ nhiều hơn cho bệnh nhân, đặc biệt là đột quỵ Hơn nữa, áp lực mạch máu tăng
là yếu tố dự báo có giá trị nguy cơ động mạch vành Những nguyên nhân có thể của nguy cơ bị tăng huyết áp tâm thu đơn thuần bao gồm gia tăng lực tải, một phần do phải duy trì một áp lực mạch rộng Các động mạch bị xơ cứng hơn tạo ra một sóng dội, là sóng làm tăng tải tâm thu của tim
1.3 Các biện pháp phòng tăng huyết áp[48]
Áp dụng các biện pháp tích cực thay đổi lối sống với mọi bệnh nhân và với
cả người chưa bị THA để ngăn ngừa THA với người chưa bị THA, ngăn ngừa tiến triển và giảm được huyết áp, giảm số thuốc cần dùng và giảm được các biến chứng đối với người đã bị THA:
- Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng:
+ Giảm ăn mặn: dưới 6 gam muối hay một thìa cà phê muối mỗi ngày
+ Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi
+ Hạn chế thức ăn có chứa nhiều cholesterol và axit béo no
- Tích cực giảm cân (nếu thừa cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ khối
Trang 24cơ thể (BMI: body mass index) từ 18,5 đến 24,9
- Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90 cm ở nam và dưới 80 cm ở nữ
- Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần (nữ) 1 cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với 330 ml bia hoặc
120 ml rượu vang hoặc 30 ml rượu mạnh
- Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá, thuốc lào…
- Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30 - 60 phút mỗi ngày
- Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý
- Tránh bị lạnh đột ngột
1.4 Tình hình THA trên thế giới và Việt Nam
Tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ cao đối với bệnh tim mạch ở các nước công nghiệp và ngay cả nước ta THA đang trở thành vấn đề sức khỏe trên toàn cầu
do sự gia tăng tuổi thọ và tăng tần suất các yếu tố nguy cơ THA ước lượng là nguyên nhân gây tử vong 9,4 triệu người và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật chung toàn cầu ( 64 triệu người sống trong tàn phế) [71]
1.4.1 Tình hình THA thế giới
Năm 2014, Tổ chức Y tế thế giới công bố tỷ lệ THA chung trên toàn thế giới là 22%, có xu hướng tăng ở các nước đang phát triển, tỷ lệ ở người da đen cao hơn các sắc tộc khác [21] tỉ lệ THA ở người trên 25 tuổi là 40% [85] THA ảnh hưởng sức khỏe của hơn 1 tỉ người trên toàn thế giới [77], là yếu tố nguy
cơ tim mạch quan trọng nhất liên quan đến bệnh mạch vành, suy tim, bệnh mạch máu não và bệnh thận mạn tính [69]
Tỉ lệ THA được nghiên cứu nhiều ở các nước với các vùng địa lý khác nhau
và dân tộc khác nhau trên toàn thế giới Theo WHO, châu Phi là nơi có tỉ lệ THA cao nhất chiếm 46% trong đó tỉ lệ nam và nữ bằng nhau, tỉ lệ THA thấp nhất ở khu vực châu Mỹ chiếm 35% trong đó nam 39% và nữ 32% [73],[85] Tại Hoa Kì THA
ở người từ 18 tuổi trở lên tăng dần theo năm: giai đoạn 2007 – 2008 là 28,6%, giai
Trang 25đoạn 2009 – 2010 là 29,7% [85]
THA thường không rõ nguyên nhân Tuy vậy, nhiều nghiên cứu trên thế giới
đã chứng minh một số yếu tố nguy cơ quan trọng có thể làm tăng huyết áp như: chủng tộc, giới tính, tuổi, trình độ học vấn, thói quen trong ăn uống, sinh hoạt; tiểu đường, rối loạn mỡ máu, tiền sử gia đình có người THA, thừa cân béo phí…[77],[74]
Năm 2006, tại Mexico (thuộc khu vực Bắc Mỹ) Để mô tả sự phổ biến của THA ở người trưởng thành ở Mexico, tiến hành trên 33.366 đối tượng (55,6% nữ) người Mỹ gốc Mexico (> 20 tuổi) Kết quả là 43,2% người tham gia có THA Trong
đó, tỷ lệ THA ở nam là 47,3%, tỷ lệ THA ở nữ là 40,3% Đồng thời, THA cũng tăng theo tuổi, cao nhất là nhóm >60 tuổi là 72,8% Đây là một trong các bệnh mãn tính phổ biến nhất ở Mexico [84]
Theo một điều tra tại Hoa Kỳ cho thấy đã có 56.561 người Mỹ bị tử vong vì THA trong năm 2006 [79] Theo thống kê của Hội tim mạch Hoa Kì, khoảng 2/3 tất
cả các ca đột quỵ và khoảng 1/2 số ca bệnh mạch vành có liên quan đến THA Còn theo thống kê của WHO, đối với người bị THA, nguy cơ đột quỵ tăng gấp bốn lần; nguy cơ nhồi máu cơ tim tăng gấp hai lần so với người không bị THA [81]
Tỉ lệ THA khác nhau ở các chủng tộc, tại Hoa kỳ tỉ lệ THA ở người da đen cao hơn so với người da trắng, sự khác biệt về tỉ lệ THA ở các chủng tộc có thể do
sự khác biệt về di truyền, văn hóa, thói quen ăn uống, sinh hoạt, điều kiện sống và các hành vi liên quan khác…[82] Một nghiên cứu khác tỉ lệ THA người da đen 39,6% cao hơn người da đỏ 32%, tỉ lệ ở nam giới 30,3% cao hơn nữ giới là 26,2% [85]
Tỉ lệ mắc THA ở một số quốc gia phát triển cũng rất cao Tại Hoa Kỳ năm
2007 ước tính có khoảng 68 triệu người trưởng thành mắc THA [43] Trong năm
2010 Hoa Kỳ mất khoảng 93,5 tỉ đô cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe, thuốc men và chi phí cho người bệnh phải nghỉ việc do THA [72]
Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại cộng đồng ở đô thị Addis Ababa của Tesfaye F năm 2009 cho thấy tỉ lệ THA ở nam giới là 35,2%, ở nữ giới là 28,9% Tuy nhiên trong số đó chỉ có 35,2% nhận thức được tình trạng THA của họ
Trang 26[82]
Kết quả nghiên cứu năm 2010 tại Campuchia cho thấy các yếu tố liên quan đến THA như: hút thuốc, thói quen ăn uống không có lợi cho sức khỏe, ít vận động thể lực, thừa cân, béo phì [78] Theo nghiên cứu của tác giả Kuang HocK Lim tại Malaysia năm 2015 cho rằng các quốc gia châu Á những người có chỉ số BMI ≥ 23
có nguy cơ THA cao hơn những người có BMI < 23 [75]
1.4.2 Tình hình THA ở Việt Nam
Tại Việt Nam tỷ lệ THA ở người lớn ngày càng gia tăng Trong những năm
1960 tỷ lệ THA khoảng 1%, năm 1992 là 11,2%, năm 2001 là 16,3% và năm 2005
là 18,3% [46], đến năm 2009 là 25,4% [3] Tỷ lệ tăng huyết áp tăng dần từ Bắc vào Nam, cao nhất ở Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, theo một số nghiên cứu từ năm 2007 đến năm 2014, kết quả tỷ lệ tăng huyết áp dao động từ 13,0% đến 38,9% [12],[34],[36],[37] Theo kết quả điều tra quốc gia năm 2015 thì tỷ lệ tăng huyết áp ở nhóm 30-69 tuổi là 30,6% [9] và đến năm 2016 tỷ lệ THA chung toàn quốc là 48 % [39]
Cuộc điều tra trên phạm vi toàn quốc, cụ thể tại 27 điểm rãi rác khắp cả nước
ở 20 tỉnh thành, qua 51.654 người, con số THA chiếm 11,8% dân số trên 15 tuổi Vậy cả nước đã có 4,61 triệu người bị THA trên tổng số 39,3 triệu người trên 15 tuổi Trong đó, tỷ lệ nam bị nhiều hơn nữ, nhưng vì hiện tại dân số nữ đông hơn nam nên tổng số THA ở nữ nhiều hơn nam Tỷ lệ THA cao nhất ở Thanh Hóa và Quảng Trị, ít nhất là vùng đồng bằng Sông Hồng Tuổi càng cao thì HA thường cao, nhất là HATT Ở tuổi 35 thì cứ 20 người có 1 người THA (5%), ở tuổi từ 45 thì cứ
7 người có 1 người THA (14,3%), ở tuổi từ 65 trở lên cứ 3 người có 1 người THA (33,3%) [42]
Năm 2007 một nghiên cứu tại tỉnh Nghệ An là nơi người dân hay ăn mặn, mỗi ngày trung bình ăn 13,9g muối thì tỉ lệ THA 17,9%, còn người dân Hà Nội ăn nhạt hơn, chỉ có 10,5g muối thì chỉ có 10,6% bị THA Một số nghiên cứu cho thấy vùng ven biển ăn mặn có tỉ lệ THA cao rõ hơn ở vùng đồng bằng và vùng miền núi [ 63]
Năm 2011 một nghiên cứu tại tỉnh Lạng Sơn trên 1049 bệnh nhân THA, độ
Trang 27tuổi mắc THA đa số là trên 50 tuổi, trong đó nam chiếm 52,14%; nữ 47,8% Các yếu tố liên quan đến THA như: cán bộ nghỉ hưu 59,1%, cán bộ văn phòng 11,73%, giáo viên 3,53%, nhân viên y tế 3,15%, nông dân và đối tượng khác 19,92% và các nguy cơ như thói quen uống rượu/bia 21,45%, hút thuốc lá 13,44%, ít hoạt động thể lực 8,2%, mắc bệnh kèm theo như rối loạn mỡ máu 18,30%, đái tháo đường 13,16% [58]
Năm 2014 một nghiên cứu được tiến hành tại hai xã Nhơn Châu và xã Nhơn Hội thành phố Quy Nhơn, ĐTNC ở độ tuổi 25 - 64, kết quả cho thấy tỉ lệ THA ở nhóm tuổi: 25 – 34 là 7,5%; nhóm tuổi 35 – 44 là 14,2%; nhóm tuổi 45 – 54 là 46,7%; nhóm tuổi 55 – 64 là 31,6%; trong đó nữ chiếm 27,5% và nam chiếm 19,2% [51]
Năm 2015 một nghiên cứu tại huyện Hồng Ngự - Đồng Tháp, cho thấy tỉ lệ THA chung của ĐTNC là 20,8%, nam có tỉ lệ THA cao hơn nữ lần lượt là nam 27,1%, nữ 16,6% Huyết áp tăng dần theo nhóm tuổi, tuổi càng cao HA càng tăng, nhóm tuổi từ 60 – 69 có nguy cơ THA cao gấp 25,4 lần so với nhóm tuổi bình thường Kết quả có ý nghĩa thống kê (p< 0,05) [45] Cũng trong thời gian này một nghiên cứu khác tại xã Sơn Thủy, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi, cho thấy, tỉ lệ THA chung của ĐTNC là 24% Trong đó tỉ lệ ĐTNC được phát lần đầu tại thời điểm nghiên cứu là 90,1% và tỉ lệ ĐTNC đã đã được phát hiện THA và điều trị trước thời điểm nghiên cứu là 9,9% [15]
Thực trạng THA đều có điểm chung là tỷ lệ THA đang có xu hướng tăng theo tuổi Và theo thời gian thì tỷ lệ THA cũng tăng Đồng thời có sự khác biệt tỷ lệ THA giữa nam và nữ, cũng như sự phân bố cũng khác nhau giữa các khu vực
1.5 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng tăng huyết áp
Tuy THA là một vấn đề rất nguy hiểm nhưng kiến thức, thực hành của người dân nói chung và của người bị THA nói riêng với vấn đề này còn chưa được quan tâm đúng mức Trong số những người bị THA ở Việt Nam thì có tới 52% (khoảng 5,7 triệu người) là không biết mình có bị tăng huyết áp; 30% (khoảng 1,6 triệu người) của những người đã biết bị THA nhưng vẫn không có một biện pháp điều trị nào; và 64% những người đó (khoảng 2,4 triệu người) tăng huyết áp đã được điều
Trang 28trị nhưng vẫn chưa đưa được huyết áp về số huyết áp mục tiêu Như vậy hiện nay Việt Nam có khoảng 9,7 triệu người dân hoặc là không biết bị tăng huyết áp, hoặc là tăng huyết áp nhưng không được điều trị hoặc có điều trị nhưng chưa đưa được số huyết áp về mức bình thường
Có nhiều nghiên cứu cho thấy kiến thức, thực hành phòng tăng huyết áp còn thấp và chưa đồng bộ
* Các nghiên cứu về kiến thức phòng THA:
Theo tác giả Nguyễn Bích Ngọc tại Hải Dương năm 2007, tỉ lệ có kiến thức phòng THA đạt 30,6% [33]; tác giả Nguyễn Văn Út và cộng sự tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương năm 2007 cho thấy, bệnh nhân biết kiến thức về các biến chứng
do THA là: liệt 71,1%, suy tim 64,8%, suy thận 51% [60]
Còn trong nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương (năm 2011) về tuân thủ điều trị THA tại cộng đồng ở Hà Nội cũng cho thấy có tới 48,4% số người THA có kiến thức không đạt về tuân thủ điều trị THA [47] Cũng trong năm 2011 một nghiên cứu khác trên 360 bệnh nhân về kiến thức, thực hành ở bệnh nhân từ 40 tuổi
bị THA tại xã Long Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh của Tạ Quốc Đạt và cộng
sự kết quả cho thấy chỉ có 21,7% người bị THA biết phải uống thuốc suốt đời và chỉ
có 27,5% người bị THA đang uống thuốc hạ áp [18]
Đầu năm 2012, một nghiên cứu tại quận Cái Răng cho thấy kiến thức phòng THA đạt rất thấp chỉ có 25,1% trong nhóm chưa có chẩn đoán THA, trong khi đó ở nhóm có chuẩn đoán THA chiếm 51,3% [25] Cũng trong thời gian này một nghiên cứu khác được tiến hành tại huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc kết quả cho thấy tỷ
lệ người có kiến thức về phòng tránh biến chứng của bệnh THA đạt là 38% Trong
đó ở nam là 48,5% và nữ là 27,5% [42] Một nghiên cứu khác năm 2012 tại Ba Vì –
Hà Nội cho thấy trên 68% ĐTNC có kiến thức đạt về bệnh và phòng THA và gần 32% có kiến thức không đạt [48]
Năm 2014 một nghiên cứu tại hai xã đảo của Thành phố Quy Nhơn ĐTNC
độ tuổi 25 – 64 cho thấy: biết trị số THA là 29,2% và không biết chiếm 70,8% Biết THA là nguy hiểm chiếm 90%, không biết 10%; biết phát hiện THA bằng cách đo
HA 66,8% và không biết là 33,2%; ĐTNC biết THA là nguy hiểm đối với sức khỏe
Trang 29chiếm 90%, không biết chiếm 10%; ĐTNC cho biết THA cần điều trị 91,2% và không biết hoặc không điều trị chiếm 8,2% Tỉ lệ ĐTNC có kiến thức chung về phòng THA: kiến thức đúng tương đối thấp chỉ có 34,3% và 65,7% có kiến thức chưa đúng [68]
* Các nghiên cứu về thực hành phòng THA:
Theo tác giả Nguyễn Bích Ngọc tại Hải Dương năm 2007, tỉ lệ thực hành phòng THA đạt là 44,3% [33]; tác giả Trần Thiện Thuần tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ thực hành chung về hạn chế ăn mỡ là 87,3%, hạn chế ăn mặn là 74,4%, hoạt động thể lực là 12,8%, bỏ và không hút thuốc lá 70,4%, không và hạn chế uống rượu 51,4% [53], nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương (năm 2011) về tuân thủ điều trị THA tại cộng đồng ở Hà Nội cũng cho thấy số người bị THA có thực hành không đạt về tuân thủ điều trị THA là 55,2% [47]
Đầu năm 2012, một nghiên cứu tại quận Cái Răng cho thấy, tỷ lệ thực hành phòng chống THA ở đối tượng chưa có chẩn đoán THA chỉ đạt 61,2% và thực hành đạt trong nhóm có tiền sử THA là 88,7% [25], cũng trong thời gian này một nghiên cứu khác được tiến hành tại huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc kết quả cho thấy tỷ
lệ người có thực hành về phòng tránh biến chứng của bệnh THA đạt là 61,5% Trong đó nam là 61,2% và nữ là 61,8% [42] và nghiên cứu của Nguyễn Danh Quang cũng cho thấy, tỷ lệ ĐTNC thực hành đạt về phòng THA là trên 63% và gần 37% có thực hành không đạt [48]
Năm 2014 một nghiên cứu tại hai xã đảo của Thành phố Quy Nhơn ĐTNC
độ tuổi 25 – 64 cho thấy Việc thực hiện biện pháp phòng chống THA như: thay đổi lối sống chiếm 20,9%, không hút thuốc 17%, luyện tập thể lực 14,7%, ăn nhiều rau quả 13,3%, hạn chế rượu/bia 12,6%, hạn chế ăn mặn 12,1%, hạn chế nhiều chất béo 9,3% Tỷ lệ ĐTNC thực hành đúng về phòng THA chiếm 19,2% và thực hành chưa đúng chiếm 80,8% [51]
Như vậy còn một tỷ lệ rất lớn những người bị THA chưa được trang bị đầy
đủ kiến thức về THA và phòng tránh biến chứng của THA, cũng như chưa thực hiện được những biện pháp hiệu quả để phòng tránh THA và biến chứng của THA Đây
là một mối nguy cơ rất lớn làm gia tăng các trường hợp bị biến chứng của THA, gây
Trang 30lên các trường hợp tử vong và tàn phế ở người bị THA
* Mối liên quan:
Một nghiên cứu tại quận Cái Răng cho thấy có các yếu tố liên quan đến THA
có ý nghĩa thống kê như: tuổi, tình trạng hôn nhân, tiền sử gia đình, BMI, WHR và những người có kiến thức phòng chống THA không đạt thì thực hành không đạt cao gấp 2,2 lần so với những người có kiến thức đạt [25]
Năm 2012 một nghiên cứu tại Hà Nội của Nguyễn Danh Quang cũng cho thấy, có các mối liên quan giữa nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn đến kiến thức
và thực hành phòng THA một cách có ý nghĩa thống kê (p<0,05) và có mối liên quan chặt chẽ giữa kiến thức với thực hành phòng THA Người có kiến thức không đạt thì có nguy cơ thực hành không đạt cao gấp 3,95 lần người có kiến thức đạt [48]
Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng: Có mối liên quan giữa kiến thức phòng tránh biến chứng của THA với việc thực hiện các biện pháp phòng tránh biến chứng của THA, người có kiến thức tốt sẽ có thực hành tốt hơn Kiến thức và thực hành phòng tránh biến chứng của THA cũng chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, cơ cấu gia đình, thời gian phát hiện THA .[42]
Qua những kết quả nghiên cứu cho thấy đa số tỷ lệ kiến thức về phòng THA của ĐTNC còn thấp, đây cũng chính là một trong các nguyên nhân để tỷ lệ THA ngày càng gia tăng ở nước ta Thực tế ở Việt Nam cho thấy THA và các biến chứng
do THA ngày càng cao, tình trạng nhận biết và nhận thức về THA vẫn còn thấp, những người bị THA thì không biết mình THA, những người biết bị THA nhưng không có biện pháp điều trị nào
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, THA và các yếu tố nguy cơ, nhất là yếu tố liên quan đến lối sống, vốn có thể thay đổi được, đã trở thành vấn đề cần giải quyết Ngoài việc điều trị, những thái độ, thực hành để kiểm soát HA, cần phải có hàng loạt các biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm làm thay đổi các hành vi có chiều hướng có lợi cho sức khỏe cộng đồng Do vậy, cần tìm hiểu các rào cản trong suy nghĩ và thực hành của người dân để có thể xây dựng, thay đổi và điều chỉnh các
Trang 31biện pháp giáo dục, chăm sóc sức khỏe cho phù hợp và hiệu quả với từng địa phương
1.6 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu
An Thạnh 3 là một trong 08 xã thuộc huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng, được công nhận là xã đảo theo quyết định số: 1900/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 04/10/2016, toàn xã có 05 ấp, dân số chung là 9.384 người, trong đó độ tuổi từ 25 – 60 là 5.913 người Người dân sinh sống ở đây tập trung đầy đủ ba dân tộc: Kinh (88%), Hoa (1%), Khmer ( 11% ), kinh tế mang tính chất thuần nông, chủ yếu là nông nghiệp chiếm 80%, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo là
24 % đa số là người dân tộc Khmer Trong những năm gần đây, trồng mía và nuôi tôm là thế mạnh của xã Người dân ở đây hầu hết không theo tôn giáo nào, một số ít theo đạo phật và tin lành
Những năm gần đây cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội và với sự đầu tư của huyện Cù Lao Dung và tỉnh Sóc Trăng, An Thạnh 3 trở thành một trong những xã trọng điểm của huyện, nên đời sống của người dân đang được cải thiện, giao thông được mở rộng đến tận vùng sâu, vùng xa trong xã, chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng nâng lên Bên cạnh, sự phát triển về kinh tế - xã hội,
mô hình bệnh tật của địa phương cũng có sự thay đổi rõ rệt Cụ thể là, tỉ lệ mắc bệnh truyền nhiễm như: Sốt xuyết huyết, tay chân miệng, sốt rét, lao, HIV… ngày càng giảm.Tuy nhiên, tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, nhất là người dân tộc Khmer, vùng sâu, vùng xa, chất lượng giáo dục chưa cao, trình độ dân trí còn thấp, mạng lưới Y tế ấp hoạt động chưa hiệu quả, chế độ ăn uống không hợp lý, nghỉ ngơi, sinh hoạt thiếu khoa học, góp phần làm tỉ lệ mắc các bệnh không lây nhiễm như: ĐTĐ, THA, bệnh tim mạch, viêm phế quản…ngày càng gia tăng Xã cũng đã triển khai hoạt động các chương trình Y tế như: tiêm chủng mở rộng, bệnh tâm thần, phòng chống bướu cổ, phòng chống suy dinh dưỡng, chương trình sức khỏe sinh sản – kế hoạch hóa gia đình…đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên chương trình khám sàng lọc, phát hiện sớm, điều trị và quản lý người bị THA tại tỉnh Sóc Trăng, hiện nay chưa được triển khai tại huyện Cù Lao Dung cũng như tại xã An Thạnh 3
Trang 32Kiến thức về THA, phòng THA:
- Kiến thức về nhận biết THA:triệu chứng, chẩn đoán và theo dõi phát hiện bệnh, biến chứng, sự nguy hiểm,điều trị…
- Kiến thức về yếu tố nguy cơ mắc;
- Kiến thức phòng THA: Cách phòng tránh, chế độ ăn uống sinh hoạt, kiến thức về thừa cân/ kiểm soát cân nặng
TĂNG HUYẾT ÁP
Thực hành về phòng THA:
- Thực hiện chế độ ăn uống hợp lý;
-Việc sử dụng rượu, bia, thuốc lá;
- việc sử dụng muối, dầu mỡ;
- Thực hiện các hoạt động thể lực
-Việc kiểm soát thừa cân, béo phì;
- Việc đi khám phát hiện sớm bệnh/ Khám sức khỏe định kỳ;
- Chế độ tập luyện hợp lý
- Tự kiểm tra huyết áp
Yếu tố nhân khẩu học
- Tuổi; Dân tộc; Giới tính;
- Trình độ học vấn; Nghề
nghiệp;
- Tình trạng hôn nhân, tiền sử
gia đình có người THA
- Các bệnh lý gây THA
Yếu tố kinh tế - xã hội
-Điều kiện kinh tế của hộ gia
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người dân trong độ tuổi từ 25 – 60 đang sinh sống tại xã An Thạnh 3, huyện
Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Người dân nằm trong độ tuổi từ 25 – 60, bao gồm đã mắc hoặc chưa mắc THA (tức là sinh từ tháng 01/1992 đến tháng 01/1957) có hộ khẩu thường trú tại địa bàn nghiên cứu
+ Có khả năng trả lời phỏng vấn (không mất khả năng nói, nghe, trí nhớ…) + Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Đang bị bệnh không thể tham gia nghiên cứu (đang mắc bệnh cấp tính, tâm thần, tai biến mạch máu não, bị câm, bị điếc)
+ Vắng mặt trên địa bàn vào thời điểm nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 01/2017 đến tháng 10/2017
- Địa điểm: Xã An Thạnh 3, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu
Được tính theo công thức tính cỡ mẫu trong điều tra xác định tỉ lệ:
Trang 34p : Là tỷ lệ của sự kiện trong quần thể nghiên cứu (bao trùm cả thực trạng THA và KT, TH phòng THA) Do kiến thức tác động đến thực hành của người dân dẫn đến việc phòng bệnh THA đúng hoặc sai, nên chúng tôi sử dụng kết quả nghiên cứu của Trần Văn Tân có tỷ lệ người dân có kiến thức đạt về phòng THA là 34,3%
để tính giá trị p trong nghiên cứu p = 0,343 [51]
d = 0,05 (mức độ sai số chấp nhận được)
Thay vào công thức ta tính được cỡ mẫu cần điều tra là : n = 346 người Ước lượng 10% mẫu dự phòng cho phỏng vấn thất bại Do đó cỡ mẫu trong nghiên cứu này là n = 380 người
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu thực hiện chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, trong giai đoạn điều tra
+ Bước 1 : Lập danh sách 5913 người dân đang sinh sống tại xã có độ tuổi
từ 25 – 60 theo thứ tự vần A,B,C và được đánh số từ 1 đến 5913 (danh sách do Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình huyện cung cấp )
+ Bước 2 : Tính khoảng cách mẫu (K) : K = N/n
Trong đó : N là người dân trong độ tuổi từ 25 – 60 tại xã An Thạnh 3, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng
n là cỡ mẫu cần điều tra được chọn ( n = 380)
Thay vào đó ta tính được : K = 5913/380 = 15,6 Lấy tròn 16
+ Bước 3 : Từ danh sách ĐTNC tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên người thứ nhất (n1 ) trong khoảng cách từ 1 đến K , từ số thứ tự của người thứ nhất (n1) cộng với hệ số K = 16 để chọn người thứ 2, tiếp tục như thế cho đến khi đủ số mẫu cần điều tra (n = 380) Những người trong danh sách nghiên cứu đã chọn, sẽ được điều tra viên (ĐTV) mời đến Trạm Y tế hoặc Nhà Cộng đồng để đo chiều cao, vòng bụng, vòng mông, đo HA, cân nặng và phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi đã thiết
kế sẵn Sau ba lần mời mà không đến hoặc đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu thì thay thế một người khác trong gia đình nằm trong độ tuổi nghiên cứu Nếu tất cả thành viên trong gia đình đó đều từ chối tham gia nghiên cứu thì lấy bù người kế tiếp trong danh sách đã được lập ở Bước 1
Trang 352.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu
+ Máy đo HA máy cơ loại đồng hồ hiệu YAMASU: 02 cái
+ Ống nghe hiệu Aneroid: 02 cái
+ Cân hiệu Nhơn Hòa: 02 cái
+ Thước dây
+ Phiếu điều tra: là bộ câu hỏi được thiết kế sẵn Bộ câu hỏi đã được thử nghiệm thực địa và chỉnh sửa hoàn thiện trước khi tiến hành điều tra
2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu
Đối tượng được mời đến Trạm Y tế xã hoặc Nhà Cộng đồng của từng ấp để
đo chiều cao, vòng bụng, vòng mông, đo HA, cân nặng và phỏng vấn trực tiếp theo
bộ câu hỏi đã thiết kế sẵn và dặn không sử dụng chất kích thích trong vòng 2 giờ trước khi tham gia đo HA ( rượu, bia, cà phê, thuốc lá…) Tổ điều tra gồm 5 người, trong đó 01 người tiếp đón và hướng dẫn chung, 01 người đo chiều cao và cân nặng,
01 người đo HA, 02 người phỏng vấn, học viên chịu trách nhiệm giám sát chung
Thời gian : Buổi sáng từ 7h30 phút đến 11h30 phút ; buổi chiều từ 13h30 phút
đến 16h30 phút
* Phần 1: Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn:
Danh sách mẫu được lựa trước khi xuống thực địa, bộ câu hỏi được thử nghiệm trước khi điều tra chính thức Sau khi bộ câu hỏi được xây dựng xong, điều tra thử 10 đối tượng, học viên sẽ giám sát và chỉnh sửa lỗi trong nội dung bộ câu hỏi cho phù hợp, sau đó in ra để phục vụ công tác điều tra Tổ chức tập huấn điều tra viên (ĐTV) và giám sát khi tiến hành nghiên cứu: ĐTV gồm 05 nhân viên của TTYT huyện và 05 CTV xã là người giúp việc ( phát thư mời cho ĐTNC và dẫn đường )
Nội dung tập huấn: Mục đích của điều tra; kỹ năng đo đạc, cách thức phỏng
vấn; kỹ năng tiếp xúc và làm việc với ĐTNC
Các bước phỏng vấn thu thập số liệu:
- Bước 1: Điều tra viên (ĐTV) giới thiệu về mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu
Trang 36- Bước 2: ĐTV giải thích cho ĐTNC về tính bảo mật của thông tin mà đối tượng cung cấp
- Bước 3: ĐTV tiến hành phỏng vấn sau khi ĐTNC đồng ý tham gia phỏng vấn
và ký vào giấy đồng ý tham gia nghiên cứu
- Bước 4: ĐTV đọc từng câu hỏi trong bộ câu hỏi cho ĐTNC nghe và trả lời
- Bước 5: ĐTV hỏi lại ĐTNC có câu hỏi gì liên quan cần hỏi thêm không, nếu
có ĐTV giải đáp các thắc mắc hoặc ghi nhận lại và hẹn giải đáp sau
- Bước 6: ĐTV chào và cám ơn ĐTNC đã tham gia cuộc phỏng vấn này
* Phần 2: Đo chỉ số nhân trắc, HA:
Chuẩn bị 02 máy đo HA loại máy cơ đồng hồ hiệu YAMASU; 02 ống nghe hiệu Aneroid của Nhật Bản; 02 cái cân đồng hồ hiệu Nhơn Hòa; 02 thước dây…
và bàn tay để ngửa, bàn tay được đo đặt ở mức ngang tim
+ Nên đo huyết áp ít nhất 2 lần ,mỗi lần cách nhau ít nhất 1-2 phút Nếu số đo huyết áp giữa 2 lần đo chênh nhau trên 10 mmHg, cần đo lại lần 3 sau khi đã nghỉ ít nhất 5 phút Giá trị huyết áp ghi nhận là trung bình của hai lần đo cuối cùng
+ Đo theo “Quy trình đo huyết áp đúng” của Bộ Y tế hướng dẫn theo Quyết định số 3192/QĐ-BYT, ngày 31/8/2010
- Cân nặng: ĐTV kiểm tra và chỉnh cân trước khi cân Đối tượng tham gia
mặc quần áo mỏng, bỏ giày, dép, vật nặng trong túi trước khi cân và đứng yên trên cân không dao động khi đọc kết quả, đơn vị tính là kg
- Đo chiều cao: ĐTV kẻ sẵn vạch Centimét lên tường, đối tượng đứng thẳng,
các điểm: chẩm, mông, gót cùng áp sát và thẳng đứng sát tường Đơn vị tính là Centimét
Trang 37- Đo vòng mông: Đối tượng mặc quần áo mỏng, đứng thẳng tư thế thoải mái,
không căng cơ mông khi đo, ĐTV đo ngang qua mấu chuyển lớn của xương đùi, đơn vị tính là Centimét
- Đo vòng bụng (eo): Bằng một thước dây, đo ngang rốn vào cuối thì thở ra
nhẹ nhàng Khi đo đối tượng đứng thẳng, mặc quần áo mỏng, hai chân dang rộng bằng vai, hai tay buôn xui, đơn vị tính là Centimét
Quy trình giám sát thu thập số liệu: hướng dẫn ĐTV sử dụng bộ công cụ đo
đạc, bộ câu hỏi Giám sát viên trực tiếp tham gia cùng với ĐTV 10 để quan sát và kịp thời hỗ trợ những thiếu sót trong quá trình điều tra Sau mỗi ngày điều tra, ĐTV kiểm tra lại phiếu, đảm bảo thu thập đầy đủ các thông tin trong phiếu Giám sát viên gặp ĐTV để thu và kiểm tra phiếu điều tra, nếu có những thông tin nào còn thiếu hoặc nghi ngờ thì đưa lại cho điều tra viên điều tra lại vào ngày hôm sau
2.7 Các biến số nghiên cứu chính (chi tiết ở phụ lục 2)
Nhóm biến số về đặc điểm nhân khẩu học: Giới tính, tuổi, dân tộc, nghề
nghiệp, trình độ học vấn…
Nhóm biến số kiến thức về THA và phòng THA: Biết chỉ số HA, cách phát
hiện THA, triệu chứng có thể có của THA, yếu tố nguy cơ THA, biến chứng THA
Nhóm thực hành phòng THA: Hút thuốc lá, sử dụng rượu,bia, thói quen ăn
uống, hoạt động thể lực, khám sức khỏe định kỳ
Nhóm chỉ số nhân trắc: Chỉ số HA, BMI, cân nặng, chiều cao, vòng
2.8 Một số khái niệm và cách đánh giá sử dụng trong nghiên cứu
- Có tiền sử THA: Là đối tượng được xác định có những bằng chứng ghi nhận bởi cơ sở y tế là bị THA trước khi tiến hành nghiên cứu
Trang 38- THA: Tại thời điểm khảo sát ĐTNC được xác định là THA khi có các trị số
đo HA đáp ứng theo tiêu chuẩn chẩn đoán THA của Bộ Y tế Việt Nam hoặc ĐTNC
đã được chẩn đoán, kết luận THA bởi các cơ sở y tế và đang điều trị thuốc chống THA
- Hoạt động thể lực: Là các hoạt động thể lực ngoài hoạt động trong khi làm việc như: đi bộ, chạy, thể dục dưỡng sinh, chơi các môn thể thao…
- Thời gian hoạt động thể lực: Được tính từ khi tập luyện cho đến khi ngừng tập Thời gian tập luyện trong ngày được tính bằng tổng lượng thời gian của các hoạt động thể dục, thể thao tại các thời điểm tập trong ngày
- Lao động: có hai hình thức:
+ Lao động chân tay bao gồm: nông dân và lao động phổ thông
+ Lao động trí óc bao gồm: nhân viên văn phòng, bác sĩ, kỉ sư, giáo viên…
- Thừa cân, béo phì: Là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân ảnh hưởng tới sức khỏe, dựa vào chỉ số khối cơ thể (BMI) Theo WHO BMI > 25 thừa cân; BMI > 30 là béo phì
- Mức độ uống rượu, bia:
+ Uống ít: mỗi ngày uống < 1 lon bia hoặc < 60 ml rượu vang hoặc < 30 ml rượu mạnh
+ Uống vừa: mỗi ngày uống từ 1-2 lon bia hoặc 60 – 120 ml rượu vang hoặc
30 - 60 ml rượu mạnh
+ Uống nhiều: mỗi ngày uống > 2 lon bia hoặc > 120 ml rượu vang hoặc >
60 ml rượu mạnh
2.9 Cách đánh giá cho điểm (chi tiết ở phụ lục 3)
Kiến thức và thực hành về phòng tăng huyết áp của ĐTNC được chia thành hai mức độ đạt và không đạt Sau khi tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan, chúng tôi quy ước như sau:
* Đánh giá cho điểm về kiến thức phòng THA:
Kiến thức về phòng THA bao gồm kiến thức về THA, yếu tố nguy cơ và phòng mắc bệnh THA gồm 10 câu ( từ B1 – B10) Trong đó, có các câu hỏi một lựa chọn
và nhiều lựa chọn, mỗi câu hỏi lựa chọn đúng sẽ có điểm tương ứng trong bảng
Trang 39đánh giá cho điểm, lựa chọn sai không có điểm Dựa vào phần trả lời các câu hỏi phỏng vấn của ĐTNC và theo thang điểm để tính cộng điểm đánh giá kiến thức đạt hay không đạt
Tổng điểm cho phần kiến thức phòng THA tối đa là 21 điểm ĐTNC có kiến thức đạt, thì phải trả lời đạt từ 14 điểm (70%) trở lên trong tổng số điểm tối đa của câu hỏi phần kiến thức
* Đánh giá cho điểm về thực hành phòng THA:
Thực hành phòng THA bao gồm thực hành về hút thuốc lá, sử dụng rượu/bia, chế độ ăn, luyện tập thể lực được đánh giá dựa trên các câu hỏi (C1; C4; C7; C10; C13; C14; C15; C16; C17; C18; C19; C20; C21) Câu hỏi chỉ có một lựa chọn, mỗi câu lựa chọn đúng sẽ được 01(một) điểm, lựa chọn sai không có điểm Dựa vào phần trả lời các câu hỏi phỏng vấn của ĐTNC và theo thang điểm để tính cộng điểm đánh giá thực hành đạt hay không đạt
Tổng số điểm phần thực hành phòng THA tối đa là 13 điểm ĐTNC có thực hành đạt, thì phải lựa chọn đạt từ 09 điểm (70%) trở lên trong tổng số điểm tối đa của câu hỏi phần thực hành
2.10 Phương pháp xử lý số liệu
Sau khi thu thập số liệu, phiếu điều tra được rà soát kiểm tra tính đầy đủ của thông tin, làm sạch, mã hóa, nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và xử lý phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 19.0 Áp dụng phương pháp phân tích thống kê chia làm 2 phần:
- Thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %) được sử dụng phù hợp cho các biến số: đặc điểm nhân khẩu học, thực trạng THA, kiến thức, thực hành phòng THA của ĐTNC
- Kiểm định χ2 và OR được dùng để: xác định các yếu tố liên quan đến THA
và kiến thức, đến thực hành về phòng THA của ĐTNC
2.11 Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ các khía cạnh của đạo đức theo quy định của trường Đại học Y tế công cộng và chỉ được triển khai sau khi được thông qua Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng
Trang 40Bộ câu hỏi không có các vấn đề nhạy cảm, riêng tư nên không có ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe của đối tượng nghiên cứu Các đối tượng tham gia vào nghiên cứu đều được giải thích đầy đủ về mục đích và nội dung nghiên cứu và những lợi ích của nghiên cứu mang lại Đối tượng nghiên cứu có quyền đặt câu hỏi
về mục đích của nghiên cứu và nghiên cứu viên sẽ có trách nhiệm trả lời Họ có quyền từ chối hoặc ngừng tham gia nghiên cứu bất cứ giai đoạn nào, không cần giải thích lý do Các đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ điền vào phiếu tự nguyện tham gia nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn
2.12 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục
* Hạn chế và sai số của nghiên cứu có thể xảy ra:
Nghiên cứu chỉ tiến hành trên phạm vi xã An Thạnh 3 của huyện Cù Lao Dung nên chưa thể khái quát và đại diện một cách chính xác cho tất cả người dân tại huyện Cù Lao Dung
- Kết quả nghiên cứu chỉ có giá trị tại thực địa nghiên cứu Vì địa bàn nghiên cứu nhỏ (chỉ 1/8 xã) với ĐTNC chủ yếu là nông dân nên tính đại diện của kết quả nghiên cứu với cộng đồng không cao
- Khi phỏng vấn có thể gặp sai số do điều tra viên, hoặc sai số nhớ lại hoặc không muốn hợp tác của ĐTNC
- Sai số do quá trình nhập và xử lý số liệu
- Sai số khi cân, đo