Do đó, kiến thức của học sinh về SKSS cònhạn chế, dẫn đến tăng khả năng lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền quađường tình dục; quan hệ tình dục sớm, không an toàn; mang thai ngoài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NÔNG VĂN NHÂN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT TRÀNG ĐỊNH,
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NÔNG VĂN NHÂN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT TRÀNG ĐỊNH,
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Dương Thị Anh Đào
Trang 3Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo và các em học sinh TrườngTrung học phổ thông Tràng Định, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, cùng gia đình
và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, kết quả trìnhbày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kìcông trình nào khác
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Kế hoạch hóa gia đìnhSức khỏe sinh sảnHọc sinh
Tổ chức Y tế thế giớiThanh niên
Vị thành niênQuan hệ tình dụcTrung học phổ thôngThanh niên cộng sảnTrang
Nhà xuất bảnĐối chứngThực nghiệmGiáo dục tình dụcGiáo dục dân sốGiáo dục sức khỏeSức khỏe Bà mẹ - Trẻ em
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
4.1 Sức khỏe sinh sản 3
4.1.1 Định nghĩa Sức khỏe sinh sản 3
4.1.2 Nội dung cơ bản của vấn đề Sức khỏe sinh sản 4
4.1.3 Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản ở Việt Nam 7
4.2 Sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên 8
4.2.1 Khái niệm vị thành niên, thanh niên 8
4.2.2 Khái niệm Sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên 9
4.2.3 Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên 10
4.2.3.1 Thực trạng công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản trên thế giới 10
4.2.3.2 Những thách thức về SKSS trên toàn thế giới 10
4.2.3.3 Thực trạng chăm sóc SKSS VTN ở Việt Nam 11
4.2.4 Hậu quả của thiếu kiến thức về SKSS VTN 12
4.3 Tình hình nghiên cứu 13
4.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 13
4.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 18
4.4 Cơ sở lý luận của biện pháp nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên 22
5 Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu 24
5.1 Đối tượng nghiên cứu 24
5.2 Thời gian nghiên cứu 24
5.3 Địa điểm nghiên cứu 25
5.4 Phương pháp nghiên cứu 25
5.4.1 Thiết kế nghiên cứu 25
Trang 85.4.2 Phương pháp nghiên cứu 26
5.4.2.1 Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu 26
5.4.2.2 Đạo đức nghiên cứu 26
5.4.2.3 Phương pháp thiết kế bài giảng, hoạt động 26
5.4.2.3 Phương pháp kiểm tra đánh giá 27
5.4.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 33
PHẦN II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 34
CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPH TRÀNG ĐỊNH, HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN 34
1.1 Điều tra nhận thức về sức khỏe sinh sản của HS trường THPT Tràng Định 34
1.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 34
1.1.2 Hiểu biết về sự dậy thì 35
1.1.2.1 Hiểu biết về sự thay đổi thể chất và sinh lý ở tuổi dậy thì 35
1.1.2.2 Hiểu biết về các dấu hiệu thay đổi tâm lý ở tuổi dậy thì 37
1.1.2.3 Sự chia sẻ học sinh nhận được trước những thay đổi ở tuổi dậy thì 38
1.1.3 Hiểu biết về một số vấn đề liên quan đến quan hệ tình dục 41
1.1.3.1 Hiểu biết về quan hệ tình dục 41
1.1.3.2 Hiểu biết về các biện pháp tránh thai 43
1.1.3.3 Hiểu biết về nạo, phá thai 45
1.1.4 Hiểu biết về bệnh lây truyền qua đường tình dục 46
1.1.4.1 Nhận biết bệnh lây truyền qua đường tình dục 46
1.1.4.2 Hiểu biết về những con đường lây truyền các bệnh lây truyền qua đường tình dục 48
1.1.4.3 Hiểu biết về cách phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục 49
1.1.5 Hiểu biết về sinh sản và kế hoạch hóa gia đình 50
1.1.6 Điều tra HS về vấn đề giáo dục tình dục cho vị thành niên, thanh 51
1.1.6.1 Giáo dục tình dục cho vị thành niên, thanh niên 51
1.1.6.2 Nội dung về sức khỏe sinh sản học sinh mong muốn được học 52
Trang 9CHƯƠNG 2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPH TRÀNG ĐỊNH, HUYỆN TRÀNG ĐỊNH,
TỈNH LẠNG SƠN 55
2.1 Kết quả áp dụng biện pháp dạy lý thuyết kiến thức sức khỏe sinh sản nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh 55
2.1.1 Kết quả đánh giá bài kiểm tra kiến thức sức khỏe sinh sản 55
2.1.2 Kết quả đánh giá hiểu biết về các biện pháp tránh thai 56
2.1.3 Kết quả đánh giá hiểu biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/ AIDS 58
2.1.4 Hiểu biết về kế hoạch hóa gia đình 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
1 Kết luận 61
2 Kiến nghị 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 34
Bảng 1.2 Mức độ hiểu biết về sự thay đổi thể chất, sinh lý ở tuổi dậy thì 36
Bảng 1.3 Mức độ hiểu biết về các dấu hiệu thay đổi tâm lý ở tuổi dậy thì 37
Bảng 1.4 Nguồn thông tin và kiến thức học sinh nhận được khi bước vào tuổi dậy thì 40
Bảng 1.5 Các biện pháp tránh thai nên sử dụng 44
Bảng 1.6 Hiểu biết về nạo, phá thai của đối tượng nghiên cứu 45
Bảng 1.7 Hiểu biết về bệnh lây truyền qua đường tình dục 46
Bảng 2.1 Xếp hạng kết quả bài kiểm tra đánh giá mức độ nhận thức kiến thức sức khỏe sinh sản 55
Bảng 2.4 Quan điểm về vấn đề kế hoạch hóa gia đình của học sinh 59
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Hiểu biết về các dấu hiệu thay đổi thể chất và sinh lý của tuổi dậy thì 35
Hình 1.2 Hiểu biết về các dấu hiệu thay đổi tâm lý của tuổi dậy thì 37
Hình 1.3 Tỷ lệ học sinh trao đổi thông tin về tuổi dậy thì 38
Hình 1.4 Lời khuyên học sinh nhận được khi đến tuổi dậy thì 39
Hình 1.5 Quan điểm về QHTD trong và ngoài hôn nhân 41
Hình 1.6 Hiểu biết về hậu quả QHTD trước và ngoài hôn nhân 42
Hình 1.7 Quan điểm về sử dụng biện pháp tránh thai 43
Hình 1.8 Hiểu biết về hậu quả của nạo, phá thai 45
Hình 1.9 Tỉ lệ và mức độ nhận biết về bệnh lây truyền qua đường tình dục của học sinh 47
Hình 1.10 Tỷ lệ học sinh hiểu biết về các con đường lây truyền bệnh LTQĐTD 48
Hình 1.11 Tỉ lệ học sinh h iểu biết về cách phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục 49
Hình 1.12 Nguồn tìm hiểu các bệnh lây truyền qua đường tình dục 50
Hình 1.13 Hiểu biết về khoảng cách sinh con thích hợp 51
Hình 1.14 Nguồn cung cấp nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản phù hợp cho vị thành niên, thanh niên 52
Hình 1.15 Nội dung về sức khỏe sinh sản học sinh mong muốn được học 53
Hình 2.1 Tỷ lệ học sinh biết rõ cách sử dụng các biện pháp tránh thai 57
Hình 2.2 Tỷ lệ học sinh biết rõ nguyên nhân, triệu chứng và cách phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS 58
Trang 12PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, đảm bảo ổn định dân số,phát triển kinh tế xã hội là mục tiêu và yêu cầu đặt ra đối với mọi dân tộc, mọi đấtnước, nhất là trong thời kỳ hội nhập Trong xu thế hội nhập và giao lưu giữa cácquốc gia, các sản phẩm văn hóa từ các nước trong khu vực và trên thế giới có điềukiện du nhập vào nước ta ngày càng mạnh mẽ Song hành cùng những yếu tố vănhóa có tác động giáo dục lành mạnh, trong sáng, phù hợp với đạo đức, lối sống củadân tộc và tuổi trẻ Việt Nam, có không ít những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đếnthanh thiếu niên nước ta, trong đó có những yếu tố liên quan đến vấn đề sức khỏesinh sản (SKSS) nói chung và SKSS vị thành niên (VTN) nói riêng.Trong khi đó,các chính sách, chiến lược SKSS cho thanh thiếu niên còn ít, chưa cụ thể Thiếu các
cơ sở dịch vụ cung cấp SKSS thân thiện với VTN, Thanh niên (TN), đa số cán bộcung cấp dịch vụ chưa được huấn luyện về nghiệp vụ, thái độ định kiến của cộngđồng, nhận thức của nhiều lãnh đạo địa phương còn hạn chế… Có thể nói rằng vấn
đề SKSS, sức khỏe tình dục VTN, TN ở nước ta còn nhiều bất cập
Trong cơ cấu dân số, Việt Nam là nước có dân số trẻ Theo số liệu tổng điều tradân số và nhà ở năm 2009, số lượng Thanh thiếu niên ở độ tuổi 14 – 25 chiếmkhoảng 24,1% [8] Hàng năm, trên toàn thế giới có khoảng 15 triệu trẻ em gái từ 15đến 19 tuổi sinh con, chiếm 10% tổng số trẻ em sinh ra trên toàn thế giới Trong sốcác trường hợp mắc các bệnh lây qua quan hệ tình dục cứ 20 người mắc bệnh thì có
1 người ở lứa tuổi VTN Theo số liệu chính thức điều tra quốc gia về TN và VTN thì
có tới 7,6% số VTN, TN có quan hệ tình dục (QHTD) trước hôn nhân Tuổi QHTDtrung bình lần đầu của TN Việt Nam hiện nay là 18,1 tuổi, 66,7% con trai chấp nhậnQHTD trước hôn nhân, 26,8% nữ thanh niên chưa lập gia đình có quan hệ tình dụctrước hôn nhân và đã từng mang thai [25]
Theo thống kê mới nhất của Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, trung bìnhmỗi năm cả nước có khoảng 300.000 ca nạo phá thai ở độ tuổi 15 -19 Trong đó, 60
- 70% là học sinh (HS), sinh viên Với con số này, Việt Nam trở thành nước có tỷ lệ
Trang 13nạo phá thai ở tuổi VTN cao nhất Đông Nam Á và đứng thứ 5 trên thế giới Mỗinăm nước ta có khoảng 800.000 - 1.000.000 người mắc bệnh lây truyền qua đườngtình dục, trong đó VTN và TN chiếm khoảng 40% [11] Điều này cho thấy tồn tại
về các vấn đề tránh thai, kiến thức về thai nghén, kỹ năng thuyết phục về tình dục
an toàn trong thanh thiếu niên còn rất hạn chế
Trường học là môi trường phù hợp nhất cho việc nâng cao nhận thức về SKSScho học sinh (HS), đặc biệt là đối với HS dân tộc thiểu số sinh sống tại những địaphương có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, địa hình phức tạp cách xa các trung tâm vănhóa Tuy nhiên, hiện nay tại các trường Trung học phổ thông (THPT), giáo dụcSKSS là nội dung chưa bắt buộc Việc tuyên truyền nội dung giáo dục SKSS đượcthực hiện bằng cách lồng ghép vào một số môn học chính khóa là Sinh học, Địa lý,Giáo dục công dân… nhưng với chương trình học quá nặng, việc lồng ghép nộidung SKSS còn gặp nhiều khó khăn, không mang tính chất bắt buộc và phụ thuộcvào thời lượng dư của mỗi môn học Do đó, kiến thức của học sinh về SKSS cònhạn chế, dẫn đến tăng khả năng lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền quađường tình dục; quan hệ tình dục sớm, không an toàn; mang thai ngoài ý muốn, nạophá thai tiền hôn nhân… để lại hậu quả nghiêm trọng về khả năng phát triển nănglực, thể chất và tâm lý cho các em
Trường THPT Tràng Định là ngôi trường nằm trên địa bàn huyện Tràng Định,tỉnh Lạng Sơn Đó là một huyện vùng cao biên giới nằm ở phía Bắc của Tỉnh LạngSơn Học sinh theo học tại trường phần lớn là người dân tộc thiểu số, sinh sống ởcác thôn, bản cách xa trung tâm, điều kiện kinh tế gia đình, địa phương còn nhiềukhó khăn, hạn chế trong việc tiếp xúc với các dịch vụ chăm sóc SKSS
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của học sinh Trường THPT Tràng Định, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn”, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động
giáo dục SKSS trong trường THPT Tràng Định nói riêng và cộng đồng nói chung
Trang 142 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng hiểu biết về sức khỏe sinh sản của học sinh trường THPTTràng Định
- Đánh giá được hiệu quả của một số giải pháp can thiệp giúp nâng cao nhậnthức về SKSS của học sinh trường THPT Tràng Định
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cắt ngang trên 500 HS tại trường THPT Tràng Định Sử dụng bộcâu hỏi thiết kế sẵn để điều tra hiểu biết của HS về những kiến thức liên quan đếnSKSS, cụ thể:
+ Hiểu biết kiến thức về những biến đổi ở tuổi dậy thì như: những biến đổi về cơthể, những biến đổi về thể chất và sinh lý, thay đổi về tâm lý
+ Hiểu biết kiến thức về quan hệ tình dục và giáo dục tình dục, ý kiến và hậuquả của quan hệ tình dục trong và ngoài hôn nhân, cách giáo dục tình dục thích hợpcho thanh niên, VTN
+ Hiểu biết kiến thức các vấn đề về sinh sản và kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ)như: tuổi sinh con đầu lòng, số con mong muốn, khoảng sinh thích hợp, ý kiến vềthực hiện KHHGD, hiểu biết và ý kiến về việc chấp nhận các biện pháp tránh thai,nguồn cung cấp các thông tin về SKSS - KHHGD
+ Hiểu biết kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD), cáccon đường lây bệnh và nguồn cung cấp thông tin về các bệnh LTQĐTD
- Nghiên cứu can thiệp trên 50 HS bằng giải pháp giảng dạy nội dung về SKSS
để đánh giá hiệu quả của giải pháp can thiệp, trên cơ sở đó phát triển các giải phápgóp phần nâng cao nhận thức về SKSS
4 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
4.1 Sức khỏe sinh sản
4.1.1 Định nghĩa Sức khỏe sinh sản
Theo định nghĩa của WHO: “SKSS là một tình trạng hài hòa về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải đơn thuần là không có bệnh tật hay tàn phế trong tất cả các vấn đề liên quan tới tình dục và hệ thống sinh sản của con người, những chức năng và quá trình hoạt động của nó” [4, 5, 6, 8, 9] Định nghĩa này đã
Trang 15được Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) họp tại Cairo, Ai Cập vàonăm 1994 công nhận
Từ định nghĩa trên có thể khẳng định, việc chăm sóc SKSS là một tổng thể cácbiện pháp kỹ thuật và dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phúc bằng cáchphòng ngừa và giải quyết các vấn đề về SKSS Nó cũng bao gồm cả sức khỏe tình dụcvới mục đích là đề cao cuộc sống và các mối quan hệ riêng tư, không chỉ là việc tư vấn
và chăm sóc liên quan đến sinh sản và cách bệnh LTQĐTD
Trước đây, khi nói về SKSS thường người ta cho rằng đó là những vấn đềliên quan đến KHHGĐ, đến vấn đề sinh sản và sức khỏe của phụ nữ Ngày nay, mọingười đều nhận thấy rằng sức khỏe sinh sản có nội hàm rộng hơn bao gồm nhiềuvấn đề về lối sống, quan hệ yêu đương, tri thức về KHHGĐ, về hoạt động tình dục
và nhiều vấn đề khác
Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy, khi nói đến SKSS thường đề cập đến kháiniệm sức khỏe tình dục vì chúng có liên quan mật thiết nhau và sức khỏe tình dụcđược xem là một bộ phận của nội dung SKSS
Khi nói đến sức khỏe tình dục, chúng ta cũng cần xem xét đến yếu tố có liênquan như: vấn đề tình dục an toàn và lành mạnh, tình dục có trách nhiệm, việc giáodục tình dục, vì sao cần coi hành vi tình dục người là một thực thể sức khỏe Cóvậy, trong điều kiện nhất định mới có thể trang bị đầy đủ cho các đối tượng trong đó
có TN, VTN
4.1.2 Nội dung cơ bản của vấn đề Sức khỏe sinh sản
Trong kế hoạch hành động sau Hội nghị Cairo của Quỹ Dân số Liên HiệpQuốc (UNFPA), SKSS bao gồm sáu nội dung chính có liên quan mật thiết với nhau
đó là SKSS, KHHGĐ, sức khỏe phụ nữ và làm mẹ an toàn, vô sinh, bệnh nhiễmkhuẩn và bệnh LTQĐTD, vấn đề tình dục
Ở Việt Nam, theo chiến lược chăm sóc SKSS giai đoạn 2001 – 2010, Ủy bandân số quốc gia đã nêu ra bảy nội dung cụ thể được ưu tiên gồm:
Quyền sinh sản: Là quyền cơ bản nhất của tất cả các cặp vợ chồng, cá nhân
trong việc tự do quyết định và có trách nhiệm về sinh sản, khoảng cách, thời điểm
Trang 16sinh con, quyền có được thông tin và phương tiện để làm được điều này, cũng nhưquyền có được những chuẩn mực cao nhất về sức khỏe tình dục và SKSS Quyềnsinh sản còn bao gồm quyền nam và nữ quyết định vấn đề sinh sản mà không bịphân biệt, đối xử, ép buộc hay cưỡng bức Khi thực hiện quyền này, cả nam và nữđều phải cân nhắc nhu cầu cuộc sống của bản thân và con cái sau này, cũng nhưtrách nhiệm của họ đối với cộng đồng, xã hội (Hội nghị Quốc tế và Phát triển tạiCairo, Ai Cập, 1994).
Kế hoạch hóa gia đình bao gồm: Sử dụng tốt, rộng rãi và đa dạng các biện
pháp tránh thai (BPTT); mỗi gia đình chỉ có từ một đến hai con dù trai hay gái;khoảng cách sinh giữa các lần sinh con từ 3 đến 5 năm; tuổi đẻ lần đầu là 22, lầncuối là dưới 35; không sinh con đầu lòng trước 20 tuổi và con cuối cùng sau 35tuổi; vai trò và trách nhiệm của nam giới trong KHHGĐ; lợi ích của việc thực hiệntốt công tác KHHGĐ (Khống chế sự gia tăng dân số, giảm tai biến sản khoa, đảmbảo sức khoẻ phụ nữ, nâng cao chất lượng cuộc sống)
Làm mẹ an toàn: Là những biện pháp được áp dụng để đảm bảo sự an toàn
cho cả người mẹ và thai nhi, để làm giảm tỉ lệ tử vong và bệnh tật từ khi người mẹmang thai, trong khi sinh và suốt thời kì hậu sản (42 ngày sau đẻ)
Phòng tránh thai, phá thai an toàn: Để phòng tránh thai, quan trọng nhất là
áp dụng rộng rãi các BPTT Nếu phá thai, cần phá thai an toàn đó là thực hiện việcphá thai thật tốt để đảm bảo sức khoẻ cho người phụ nữ Chỉ phá thai khi chắc chắn
đã có thai bằng xét nghiệm thai sớm hoặc siêu âm, việc này chỉ được thực hiện ởcác cơ sở y tế được phép phá thai, do những cán bộ đã được đào tạo chu đáo về cácphương pháp phá thai Phải làm tốt công tác tư vấn trước và sau phá thai, không pháthai chui Thực hiện tốt những lời dặn dò của thầy thuốc sau phá thai về sử dụngthuốc, vệ sinh, sinh hoạt tình dục…
Phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, LTQĐTD và HIV/ AIDS: vệ sinh thân thể, vệ sinh kinh nguyệt, vệ sinh thai nghén, vệ sinh sinh hoạt tình
dục, vệ sinh sau đẻ, sẩy, phá thai; phòng và điều trị sớm những bệnh viêm nhiễmđường sinh sản cho cả nam và nữ; cung cấp kiến thức chung, đặc biệt là đường lây
Trang 17truyền của các bệnh LTQĐTD, gồm cả HIV/AIDS và hậu quả của các bệnh LTQĐTD;không dùng chung các dụng cụ bị nhiễm dịch cơ thể của người khác; sống thuỷ chungmột vợ một chồng; sử dụng rộng rãi và đúng cách bao cao su (BCS).
Chăm sóc SKSS VTN: Giáo dục sinh lý kinh nguyệt; giáo dục sinh lý thụ thai
và các BPTT, những điều kiện và các dấu hiệu có thai; giáo dục vệ sinh cho VTN nữ,
vệ sinh kinh nguyệt; giáo dục tình bạn, tình yêu lành mạnh, những nguy cơ do thainghén, nguy cơ có thai ngoài ý muốn; giáo dục về sức khoẻ tình dục và tình dục antoàn
Bình đẳng giới trong chăm sóc SKSS: Bình đẳng giới trong gia đình và xã
hội, đặc biệt trong việc lựa chọn các BPTT nhằm đạt mục tiêu tình dục an toàn vàlành mạnh
Như vậy, chúng ta không chỉ quan tâm đến vấn đề KHHGĐ, mà còn phải bảo
vệ và chăm sóc SKSS cho nhân dân, đặc biệt là VTN, TN và phụ nữ Điều này đượcthể hiện rất rõ trong quyền chăm sóc SKSS, đó là quyền được thông tin về chăm sócSKSS; quyền được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp; quyền được lựachọn các BPTT; quyền được đảm bảo an toàn; quyền được đảm bảo kín đáo; quyềnđược giữ bí mật; quyền được tôn trọng; quyền được thông cảm, thoải mái; quyềnđược tiếp cận sử dụng dịch vụ và quyền được bày tỏ ý kiến [3, 4, 5, 6, 8]
Như vậy, với những nội dung trên, khái niệm SKSS trước hết là một kháiniệm rộng không chỉ giới hạn ở sức khỏe người mẹ mà còn ở sức khỏe người phụ
nữ và vấn đề liên quan đến quá trình sinh sản của nam nữ, nhấn mạnh nhiều đếnviệc tự quyết định của phụ nữ với sinh đẻ Vấn đề này, hiện nay ở nhiều loại đốitượng, trong đó có cả HS, SV và người lớn vẫn cho rằng SKSS là vấn đề chỉ dànhcho những người đã lập gia đình và có con
Khái niệm SKSS có ý nghĩa xã hội vì nó giúp nâng cao những yêu cầu bảo vệchức năng đặc thù của phụ nữ là mang thai, sinh đẻ và nuôi con Chức năng đặc thùnày, xét về mặt đạo lý và giá trị là chức năng xã hội vì nó quan tâm đến cả hai giới,mặc dù hiện nay vấn đề ưu tiên trong SKSS là dành ưu tiên cho phụ nữ, nhưngchính bản thân nam giới đôi khi cũng không được hưởng đầy đủ về SKSS như vấn
Trang 18đề vô sinh, rối loạn chức năng tình dục của nam giới Hiện nay, ở nước ta ít có cơ
sở y tế và thầy thuốc chuyên khoa chữa trị Do vậy nói đến SKSS phải là “tình trạngkhỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội, của tất cả những gì liên quan đến hoạtđộng và chức năng của bộ máy sinh sản” và việc chăm sóc SKSS đến cả hai giớimặc dù một giới nào đó được ưu tiên chăm sóc nhiều hơn
Từ những nội dung trên, có thể nói rằng: “SKSS là bộ phận quan trọng vàđiển hình của đời sống giới tính, gắn bó mật thiết với những yếu tố khác của đờisống giới tính” [2]
4.1.3 Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản ở Việt Nam
Ở Việt Nam nhiệm vụ chăm sóc SKSS được Chính phủ giao cho Bộ y tế vàUỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Các hoạt động chăm sóc sức khoẻ sinh sản ởnước ta đã đạt được những thành quả tốt đẹp: Các dịch vụ làm mẹ an toàn đang pháttriển thành một mạng lưới rộng khắp trong toàn quốc từ thành thị đến nông thôn Bộ
Y tế có Vụ Bảo vệ bà mẹ trẻ em và kế hoạch hoá gia đình, các Sở Y tế có Trungtâm CSSKSS, các huyện, thành phố, thị xã có các Đội Kế hoạch hoá gia đìnhthường xuyên tổ chức các đợt xuống cơ sở phối hợp với các Trạm Y tế xã thực hiệntuyên truyền vận động, cung cấp kiến thức về chăm sóc SKSS, hỗ trợ các Trạm Y tếthực hiện các biện pháp tránh thai lâm sàng cho phụ nữ Hàng năm Uỷ ban Dân số,Gia đình và Trẻ em phối hợp với ngành Y tế và các đoàn thể tổ chức từ 2 đến 3 đợtchiến dịch truyền thông vận động lồng ghép với dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ
để vận động đối tượng thực hiện 3 gói dịch vụ: Kế hoạch hoá gia đình, làm mẹ antoàn và phòng chống viên nhiễm đường sinh sản Các đợt chiến dịch hàng năm đãvận động được trên 70% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện các biệnpháp tránh thai hiện đại góp phần quan trọng để cả nước đạt tổng tỷ suất sinh giảm
từ 3,8 con (năm 1989) xuống còn 1,92 con năm 2006 [39]
Theo tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam là một trong những nước triển khai cácchương trình chăm sóc SKSS sớm và có hiệu quả Bao gồm các chương trình Y tếQuốc gia như: Chương trình làm mẹ an toàn, chương trình Dân số - KHHGĐ, chươngtrình phòng chống suy dinh dưỡng, phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp đều được triển
Trang 19khai có hiệu quả, sức khoẻ của bà mẹ và trẻ em được cải thiện đáng kể [40].
Tuy nhiên trong những năm qua chương trình Dân số - KHHGĐ và chăm sócSKSS mới chỉ thành công ở vùng thành thị và vùng nông thôn phát triển Nhữngvùng nghèo, vùng sâu, vùng xa còn gặp rất nhiều khó khăn Tỷ lệ sử dụng cácBPTT ở những vùng này còn thấp chỉ đạt 60%, có tới 56,3% phụ nữ có thai chưađược khám lần nào trong suốt thời kỳ mang thai và chỉ có 42% sản phụ được cácnhân viên y tế chăm sóc khi sinh nở [41]
Công tác chăm sóc SKSS hiện nay đang đứng trước những thách thức:
Theo ước tính ở nước ta có từ 2.200 đến 2.800 bà mẹ tử vong hàng năm,trong khi 90% các trường hợp tử vong mẹ có thể tránh được nếu như làm tốt côngtác quản lý thai nghén, trang bị đầy đủ kiến thức cho các bà mẹ và tiếp cận tốt vớicác dịch vụ y tế [38]
Cơ sở vật chất và trình độ chuyên môn, đội ngũ cán bộ còn thiếu ở tuyến xã,hiện nay cả nước còn gần 30% số xã chưa có nữ hộ sinh và y sỹ sản nhi, việc quản
lý thai nghén còn nhiều hạn chế, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Chất lượng công tác KHHGĐ còn hạn chế như tỷ lệ thất bại trong việc sửdụng các BPTT còn cao, tỷ lệ sử dụng các BPTT hiện đại còn ở mức trung bình, sốcon trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ ở miền núi, vùng cao, vùng sâuvùng xa còn ở mức cao Chăm sóc SKSS VTN và TN chưa được quan tâm đúngmức, tình trạng mang thai ngoài ý muốn và nạo phá thai còn ở mức cao [42]
Chăm sóc phụ nữ mang thai và các bà mẹ còn nhiều hạn chế, việc chăm sóc sausinh và phương pháp nuôi con khoa học chưa được biết nhiều ở các bà mẹ ở vùngcao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Dân số tăng thêm mỗi nămvẫn lớn, trong những năm tới mỗi năm vẫn tăng khoảng 1,1 triệu người [38]
4.2 Sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên
4.2.1 Khái niệm vị thành niên, thanh niên
Thuật ngữ Adolescent được đưa vào năm 1904 theo đề xuất của nhà tâm lýhọc G.Stanley, nhằm để chỉ một thời kỳ quá độ từ trẻ con chuyển sang người lớn
Nó cũng được quan niệm đồng nghĩa với tuổi đang lớn hoặc đang trưởng thành
Trang 20Theo từ ghép gốc Hán thì khái niệm trên được thể hiện trong thuật ngữ “Vị thànhniên” Theo từ điển tiếng Việt: “Vị thành niên là những người chưa đến tuổi trưởngthành để chịu trách nhiệm về những hành động của mình”.
Theo WHO, tuổi VTN dùng để chỉ những người từ 10 đến 19 tuổi, tuổi TN lànhững người từ 15 đến 24 tuổi Ở Việt Nam những người từ 10 đến 24 tuổi gọichung là Thanh thiếu niên VTN, TN là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con sang ngườilớn, do đó đòi hỏi mỗi cá nhân phải có những thay đổi để thích nghi Tuổi dậy thìnằm trong tuổi VTN, TN và là thời kỳ phát triển đặc trưng của VTN, TN Tuổi dậythì có nhiều thay đổi lớn về thể chất, sinh lý, tâm lý và tình cảm [6, 8, 9] Ở ViệtNam, theo số liệu mới nhất của cuộc điều tra biến động Dân Số - KHHGĐ giai đoạn
2007 – 2012, số người ở tuổi VTN chiếm 16,4%, độ tuổi TN chiếm 8,4% dân số cảnước [15]
4.2.2 Khái niệm Sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên
SKSS VTN là những nội dung về SKSS liên quan, tương ứng với lứa tuổiVTN, đó là một trạng thái hoàn hảo của VTN về thể chất, tinh thần và xã hội trongmọi khía cạnh liên quan đến bộ máy sinh sản cũng như quá trình và chức năng của
nó chứ không phải chỉ có bệnh tật hay khuyết tật của bộ máy đó [4, 5, 9]
SKSS VTN, đó là những hiểu biết về giới của mình, có quan hệ tình yêu, tìnhdục lành mạnh và có trách nhiệm Có hiểu biết về các biện pháp tránh thai và cách
sử dụng chúng Biết quyết định khi nào kết hôn, khi nào có con và có bao nhiêu concho phù hợp Hiểu biết về các bệnh lây qua đường tình dục, HIV/AIDS và cáchphòng tránh [7]
Trong giai đoạn hiện nay, đối với VTN nước ta, vấn đề SKSS là một trongnhững vấn đề cấp bách, đòi hỏi phải được nhìn nhận, đánh giá và giải quyết mộtcách toàn diện, từ nhận thức đến chính sách, từ nguồn lực xã hội đến các hành độnggiải quyết các vấn đề liên quan đến SKSS VTN
Nhiều năm qua, mặc dù chúng ta đã có rất nhiều cố gắng trong việc thực hiệncác chương trình quốc gia và các cam kết quốc tế có liên quan đến SKSS VTN,nhưng về tổng thể, vấn đề SKSS VTN còn là vấn đề mới, khó và rất phức tạp, hiệu
Trang 21quả các hoạt động cho SKSS VTN còn rất hạn chế Những nỗ lực, cố gắng tham giagiải quyết vấn đề SKSS VTN của các ngành, đoàn thể còn mang tính đơn lẻ, thiếuđồng bộ và thiếu tính thống nhất Hơn lúc nào hết, việc đưa ra chương trình hànhđộng cấp Quốc gia về vấn đề SKSS VTN là cần thiết và cấp bách [6]
4.2.3 Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên
4.2.3.1 Thực trạng công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản trên thế giới
Nền kinh tế xã hội của các nước trên thế giới phát triển rất khác nhau nên tìnhhình về chăm sóc SKSS cũng rất khác nhau Chăm sóc SKSS cho lứa tuổi VTN đãđược quan tâm song các nước vẫn xác định VTN là nhóm dễ bị tổn thương nhất[44] Ở nhiều nước Châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản các cá nhân, các cặp vợ chồng
đã có thể làm chủ khả năng sinh sản của mình Nghĩa là họ chủ động được việc sinhcon khi nào và sinh mấy con, thực tế trong vòng 35 năm ở độ tuổi sinh đẻ (15 đến49) họ chỉ mất 5 đến 6 năm cho việc chửa đẻ và nuôi con, phần thời gian còn lại họquan tâm nhiều đến việc chăm sóc sức khoẻ mà đặc biệt là “sức khoẻ tình dục'' [37]
Một trong những vấn đề quan tâm lớn của xã hội đối với SKSS VTN là vấn
đề QHTD sớm dẫn đến mang thai ngoài ý muốn VTN QHTD sớm là vấn đề xã hộicủa nhiều quốc gia trên thế giới Do tác động của nhiều yếu tố: đô thị hoá, phimảnh, phương tiện thông tin và trào lưu xã hội làm cho tỷ lệ VTN có hoạt độngtình dục sớm ngày càng tăng trên toàn thế giới, trong khi đó hiểu biết về thời điểm
có thai của VTN rất thấp [33] Vấn đề cần quan tâm cùng với việc QHTD sớm là sựthiếu hiểu biết của VTN về các bệnh LTQĐTD và các biện pháp tránh thai Mộtnghiên cứu ở Nigeria cho thấy 80% nữ VTN dưới 19 tuổi được hỏi đã từng cóQHTD và một nghiên cứu khác nhận được quan niệm của các đối tượng về cácbệnh lây truyền QĐTD và HIV/AIDS là không thể tránh được [43]
4.2.3.2 Những thách thức về SKSS trên toàn thế giới
Bệnh LTQĐTD gồm cả HIV/AIDS: Hàng năm có khoảng 340 triệu người mắc
bệnh LTQĐTD, hầu hết các bệnh đều có thể điều trị được Tuy nhiên rất nhiều trườnghợp không được điều trị do không được chẩn đoán bởi thiếu các dịch vụ HIV là cănbệnh hàng năm có tới 5 triệu ca nhiễm mới, trong đó có 600.000 trường hợp là trẻ sơ
Trang 22sinh Hàng năm có trên 100 triệu trường hợp mắc các bệnh LTQĐTD, những trườnghợp này thường ở lứa tuổi 15 đến 24 Sự lây nhiễm này lan tràn cùng với HIV, ước tính50% các trường hợp nhiễm mới HIV xuất hiện ở người trẻ Nhiễm trùng đường sinhdục có thể dẫn tới hậu quả đáng tiếc đó là vô sinh, khoảng 60 triệu đến 80 triệu cặp vợchồng vô sinh trên thế giới, nguyên nhân thông thường là do tắc ống dẫn trứng sauviêm nhiễm đường sinh dục không được điều trị tích cực [38].
Vấn đề thai nghén, sinh đẻ và sức khoẻ trẻ sơ sinh: Hàng năm khoảng 8 triệu
trong số 210 triệu phụ nữ có thai bị các biến chứng liên quan đến thai nghén, đe doạđến cuộc sống của họ, nhiều trường hợp bị tàn phế, thập trí tử vong Năm 2000 cókhoảng 529.000 bà mẹ chết trong khi mang thai và trong khi sinh mà nguyên nhân
có thể phòng tránh được nếu được quan tâm hơn về kiến thức CSSKSS cho các bà
mẹ Tuy nhiên tỷ lệ tử vong mẹ đã thay đổi theo chiều hướng tích cực trong nhữngnăm gần đây do làm tốt việc CSSKSS [38]
Vấn đề kế hoạch hoá gia đình: Việc sử dụng các BPTT đã tăng ổn định ở các
nước phát triển và các nước đang phát triển Một số nghiên cứu cũng cho biết hoạtđộng tình dục của VTN và người lớn chưa xây dựng gia đình cũng chưa được đápứng nhu cầu về phương tiện tránh thai, khoảng 80 triệu phụ nữ hàng năm có thaingoài ý muốn, nhiều trường hợp trong số này có thai do không thành công trong sửdụng BPTT
Nạo thai không an toàn: Hàng năm có khoảng 19 triệu trường hợp phá thai
không an toàn, trong đó khoảng 40% ở độ tuổi từ 15 đến 24 tuổi Việc nạo phá thaikhông an toàn đã làm tử vong ước tính 68.000 phụ nữ Bên cạnh đó nạo phá thaikhông an toàn còn để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng khác như: nhiễm trùng đườngsinh sản, thủng tử cung, vô sinh [37, 38]
4.2.3.3 Thực trạng chăm sóc SKSS VTN ở Việt Nam
Chăm sóc SKSS VTN còn nhiều hạn chế nhất là việc cung cấp thông tin vàkiến thức về chăm sóc SKSS cho lứa tuổi này, khi hỏi về vấn đề quan hệ tình dụctrước hôn nhân có 12,8 % VTN được hỏi cho rằng có thể chấp nhận được, 3,4% cho
là không thành vấn đề và 20,4% cho rằng chấp nhận được vấn đề có thai trước hôn
Trang 23nhân Trong khi đó 16% VTN được phỏng vấn không biết một BPTT nào và khôngbiết cách phòng tránh bệnh LTQĐTD [33] Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứudân số và sức khoẻ nông thôn cho kết quả: Khoảng 1/3 số VTN không biết một dấuhiệu nào khi dậy thì và không hiểu biết về QHTD [36].
Một thách thức lớn trong việc chăm sóc SKSS VTN ở nước ta hiện nay làvấn đề chưa nhận thức đầy đủ, chưa đúng mức về SKSS VTN của toàn xã hội.Nhiều nhà lãnh đạo chính quyền và nhà hoạch định chính sách vẫn coi vấn đề sứckhoẻ, SKSS VTN thuần tuý chỉ là vấn đề xã hội, liên quan đến tập quán, lối sống.Nhận thức về SKSS VTN của các bậc cha mẹ còn nhiều lệch lạc, phong kiến, coiVTN là trẻ con, chưa có sự trao đổi cởi mở, bình đẳng và hướng dẫn cần thiết choVTN [32]
4.2.4 Hậu quả của thiếu kiến thức về SKSS VTN
Tổng điều tra quốc gia về VTN, TN Việt Nam – SAVY 1 (2003), cho thấy tỉ
lệ đã QHTD trong VTN chưa kết hôn từ 14 đến 17 tuổi là 1,1 % nam và 0,2 % nữ
Tỉ lệ này ở SAVY 2 (2009) là 2,2 % nam và 0,5 % nữ [23,25] Số liệu cho thấy, tỉ lệVTN có QHTD ngày càng tăng
Trong báo cáo năm 2014 của Tổng cục Thống kê, mỗi năm nước ta cókhoảng 1,2 đến 1,6 triệu ca nạo phá thai Nếu như tỉ lệ nạo phá thai ở tuổi VTNchiếm 5 - 7% tổng số ca nạo phá thai trong các năm trước, thì đến nay, tỉ lệ đó đãtăng lên 18 - 20% Bên cạnh đó, xã hội hiện đại cũng dẫn đến những bệnh tật mớixuất hiện liên quan đến đường sinh sản hoặc những bệnh tật có từ trước ảnh hưởngđến sự sinh sản, thai nghén… Điều đáng nói là, một số bệnh tật ở người cha, người
mẹ tương lai còn gây ảnh hưởng xấu đến thai nhi sau này nếu không được phát hiện
Trang 24Báo cáo cũng chỉ ra rằng, tỉ lệ trẻ em bị dị tật bẩm sinh ở nước ta hiện naychiếm khoảng 1,5 - 3% Sự thiếu hiểu biết về kiến thức sinh sản, không kiểm tra sứckhỏe trước và trong khi mang thai dẫn đến việc không dự phòng cũng như khôngphát hiện sớm những dị tật bẩm sinh của trẻ
Những vấn đề trên đều có ảnh hưởng trực tiếp đến tình cảm vợ chồng hoặcảnh hưởng đến các yếu tố khác như: Kinh tế, sức khỏe, tâm lý; sâu rộng hơn là ảnhhưởng đến cộng đồng, xã hội Điều đáng nói là phần lớn những rắc rối ấy có thể dựphòng nhằm tránh hoặc giảm nhẹ rủi ro nếu người nam và người nữ được hướngdẫn và chăm sóc SKSS tiền hôn nhân tốt
Tuổi VTN là đại diện cho tương lai đất nước, việc chăm lo cho sự phát triểnlành mạnh về mọi mặt của tuổi VTN là trách nhiệm của toàn xã hội, bậc cha mẹ,thầy cô giáo, gia đình và nhà trường…Thông tin giáo dục SKSS cho VTN, tư vấnSKSS cho VTN giúp các em vượt qua những trở ngại về hoàn cảnh, về tâm lý, vượtqua những mặc cảm, bối rối của tuổi trẻ để hiểu biết mình, có thái độ đúng đắn vớicác vấn đề liên quan đến SKSS
4.3 Tình hình nghiên cứu
4.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hướng nghiên cứu SKSS trong đối tượng thanh thiếu niên ở nước ngoàithường tập trung nghiên cứu về những vấn đề cụ thể, nhạy cảm của SKSS như vấn
đề nạo phá thai, sinh đẻ sớm, vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân, các bệnhLTQĐTD đã cho chúng ta thấy những “con số biết nói” thật bất ngờ Theo Tổ chức
Y tế Thế giới (WHO) “hàng năm có khoảng 20 triệu ca nạo phá thai không an toàn
Ở Châu Phi thai nghén ngoài dự định dao động từ 50% - 90% trong số VTN chưachồng và 25% - 40% trong số VTN có chồng” [1]
Theo các nghiên cứu ở nhiều nơi trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương,
đã chỉ ra thực trạng nhận thức về SKSS ớ lứa tuổi thanh thiếu niên là “nhận thứccủa lớp trẻ trong khu vực-dù đã kết hôn hay chưa-về các vấn đề SKSS bao gồm tìnhdục, chức năng sinh sản, các biện pháp tránh thai, quan hệ tình dục an toàn cònnhiều hạn chế” [11]
Trang 25 Kiến thức về tình dục, SKSS, QHTD lần đầu, tình dục trước hôn nhân
Nghiên cứu ở các nước đang phát triển cho thấy, VTN thiếu hụt kiến thức vềtình dục và SKSS Nguồn thông tin về tình dục và SKSS chủ yếu với VTN là từsách báo, phim ảnh, bạn đồng lứa Giáo dục tình dục, SKSS trong nhà trường vàgiao tiếp bố mẹ với VTN về tình dục, SKSS rất hạn chế
Nghiên cứu ở Thổ Nhĩ Kì (2008) thấy rằng tuổi QHTD lần đầu là 16 tuổi ởnam và 17 tuổi ở nữ VTN (tương tự với tuổi trung bình QHTD lần đầu của VTNmột số nước Châu Âu là 17 tuổi) và tỉ lệ VTN có QHTD có xu hướng tăng lên [45]
Ở Thụy Điển, xã hội cởi mở về tình dục và kiến thức tình dục, SKSS được giảngdạy trong trường phổ thông Tuổi được đồng ý QHTD là 15 tuổi, nhiều dịch vụchăm sóc SKSS được miễn phí [48]
Điều tra quốc gia ở Croatia (2007) với học sinh phổ thông 15 – 19 tuổi chothấy 28 % nam, 17 % nữ có QHTD trước 16 tuổi QHTD sớm ở nam có liên quanvới việc đã từng sử dụng chất gây nghiện, đánh nhau, trêu chọc bạn bè [53]
Số liệu điều tra quốc gia về VTN Mỹ (2006) cho thấy 42 % VTN nhóm 13 – 15tuổi và 69 % nhóm 16 – 18 tuổi đã QHTD Kết nối với nhà trường là yếu tố giảmQHTD ở VTN và yếu tố liên quan tăng QHTD ở VTN là sử dụng chất gây nghiện [18]
Ở một số nước Châu Phi, VTN có QHTD sớm và quan hệ nhiều bạn tình làphổ biến, ảnh hưởng của bạn đồng lứa có vai trò quan trọng tới QHTD ở VTN[46,52] Nghiên cứu ở Nigeria (2006) thấy rằng 19% nam và 6% nữ VTN học sinhphổ thông trung học đã QHTD Tuổi trung bình QHTD lần đầu ở nam là 15,7 tuổi
và ở nữ là 16,1 tuổi Khoảng 1/4 VTN có sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất và25% VTN QHTD lần đầu là không tự nguyện Tuổi VTN càng thấp càng thiếu kiếnthức về tình dục, SKSS [49] Nghiên cứu với nữ VTN 12 – 19 tuổi ở một số nướcchâu Phi (2007) thấy tỉ lệ QHTD lần đầu không mong muốn là 38% ở Malawi, 30%
ở Ghana, 23% ở Uganda và 15% ở Burkina Faso Nghiên cứu của Ott (2010) cũngcho thấy, nam VTN chủ động hơn nữ về QHTD [52]
Nghiên cứu ở một số nước Châu Á, Châu Phi (2002) thấy tỉ lệ QHTD trướchôn nhân khá cao: 23,0 % (Triều tiên); 49,5 % (Philippines); 81,4 % (Thái Lan);
Trang 2614,8 % (Việt Nam) và 71,0 % (Nigeria) Điều này phản ánh nhu cầu tư vấn về tìnhdục an toàn và dịch vụ chăm sóc SKSS thích hợp cho VTN và TN ở các nước đangphát triển rất cao Tỉ lệ QHTD trong 3 tháng trước điều tra ở VTN đang là học sinhTHPT tại Trung Quốc (2009) là 4,5 % với nam và 1,8% với nữ [47] Nghiên cứu ởIran (2006) với VTN 15 – 18 tuổi cho thấy, 28 % VTN đã QHTD, yếu tố liên quanvới QHTD gồm tuổi cao hơn, thái độ đồng tình với QHTD trước kết hôn, sử dụngrượu bia [50, 55].
Có thai, nạo phá thai
Ở khu vực Tiểu Sa mạc Sahara (Châu Phi), VTN QHTD sớm, có thai, nạophá thai, nhiễm HIV gia tăng là vấn đề được quan tâm Nghiên cứu (2001) cho thấyVTN nữ thường được coi là “con mồi” khai thác tình dục của nam giới nhiều tuổihơn và đã kết hôn Nghiên cứu tại Kenia (2003), so sánh nhóm VTN có thai lần đầu
và có thai lặp lại thấy trên 50 % số VTN mang thai là khi chưa kết hôn, nhóm VTNlần đầu mang thai có xu hướng là mang thai không mong muốn [57]
Nghiên cứu ở Mỹ (2005) với VTN có thai để tìm hiểu về QHTD và các yếu
tố liên quan thấy rằng 2/3 VTN hài lòng vì không có thai, số còn lại là thất vọng vàhầu hết cho rằng bạn tình của họ thất vọng hơn [66] Nhóm VTN có thai sớm, nạophá thai sớm bị nhiều ảnh hưởng tiêu cực hơn các nhóm khác Nữ VTN thườngkhông muốn có thai nhưng một bộ phận nữ VTN thụ động, không có kĩ năng, độnglực về phòng tránh có thai ngoài ý muốn [58]
Nghiên cứu về nạo phá thai tuổi VTN ở Thụy Điển (2005) thấy rằng, VTN đồngtình với nạo phá thai, nhưng thiếu kiến thức về nạo phá thai VTN ngại sử dụng BPTT
và QHTD khi sử dụng bia rượu là yếu tố làm tăng nguy cơ có thai [67]
Nghiên cứu ở Hy Lạp (2004) với VTN nạo phá thai tại các cơ sở y tế thấyrằng, 65% VTN có thai là ở đô thị, 73% là chưa kết hôn, 62% là QHTD lần đầutrước 15 tuổi, BPTT được sử dụng phổ biến là xuất tinh ngoài (49%) và BCS (28,5
%) Quyết định nạo phá thai từ nữ (65%) hoặc cả hai (73%) Bố mẹ ít khi biết đượcVTN có thai hoặc nạo phá thai [59]
Nghiên cứu ở Châu Phi (2001) cho thấy, có thai VTN liên quan tới tần suất
Trang 27QHTD, không sẵn có BPTT, QHTD lần đầu bị ép buộc, không thảo luận với bạntrai về TD [51] Nhiều VTN không biết có thể có thai trong QHTD lần đầu, VTNnhận thức được về BPTT nhưng tỉ lệ QHTD không an toàn vẫn cao do không chủđộng BPTT và bạn tình từ chối sử dụng [54] Một số nghiên cứu ở các nước đangphát triển (2011) thấy rằng, VTN có thai thường nạo phá thai tại các cơ sở y tế tưnhân mặc dù chất lượng dịch vụ kém [60, 56, 64].
Nghiên cứu của Brown (2005) cho thấy có thai và tai biến liên quan đếnmang thai là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và bệnh tật ở phụ nữ trẻ tại cácnước đang phát triển Một số nghiên cứu ở Ghana, Kenya, Zimbabue, Bangladesh,
Ai Cập, Indonesia, Philippines, Bolivia, Brazil, Columbia, Mexico, Pháp, Nhật bản
và Mỹ thấy hậu quả mang thai ở VTN ảnh hưởng đến học vấn, tình trạng kinh tế xãhội, sức khoẻ cho mẹ và con [55, 50, 68, 61, 54]
Sử dụng biện pháp tránh thai
Vialard và cộng sự (2005), Aruda (2011) thấy rằng hầu hết VTN không chủđộng tìm các BPTT trừ khi họ lo lắng về sự mang thai hoặc đã có QHTD một số lần
mà chưa dùng BPTT Sử dụng BPTT hay không có thể do bạn tình, sợ có thai, hay
do cha mẹ muốn bảo vệ con gái khỏi có thai, hoặc để điều hoà kinh nguyệt [69].VTN sử dụng BCS không thường xuyên trong QHTD với bạn tình thường xuyên là
do niềm tin không cần sử dụng, cam kết tương lai, có quan niệm chung, phong tụctập quán, mức độ khoái cảm và tình yêu [62, 70] Nữ VTN có kiến thức tốt hơn nam
về BCS, ít ảnh hưởng bạn đồng lứa hơn, nhận thức nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn,
tự tin hơn Nhưng nữ lại ít quyết định sử dụng BCS hơn trong QHTD do nam giớihoặc động lực trong mối quan hệ của họ [63] Nữ VTN có QHTD trước tuổi 17 ít sửdụng BPTT hơn VTN có QHTD không sử dụng BPTT thường là xuất thân từ cácgia đình nhiều thành viên, muốn có con, và xuất thân từ tầng lớp xã hội thấp hơn[68] Nghiên cứu ở Mỹ (2005) cho thấy, bạo hành bằng lời nói có liên quan đếnkhông sử dụng BCS trong QHTD gần nhất ở VTN và bạo hành thể chất có liênquan đến mang thai [71]
Một số nghiên cứu ở Goatemala, Nigeria, Jamaica, Triều Tiên, Philippines,
Trang 28Thái Lan, và Việt Nam thấy tỉ lệ cao thanh thiếu niên biết về nguy cơ QHTD không
an toàn, nhưng tỉ lệ sử dụng BCS vẫn thấp, tỉ lệ VTN Nepal (2010) sử dụng BCSchỉ chiếm 50 % [72, 65, 61, 80, 107, 73, 83, 79, 81, 75]
Bệnh LTQĐTD và HIV
Nghiên cứu với VTN đã QHTD ở Uganda (2006) thấy tỉ lệ nữ mắc bệnhLTQĐTD là 4,5% bị lậu, 8% trùng roi, 4% bị giang mai và 15,2% huyết thanhdương tính HIV Tỉ lệ tương ứng ở nam VTN là 4,7%; 0 %; 2,8% và 5,8% Báo cáocủa Berlan và cộng sự (2010) cho thấy một số tiến bộ về Vắcxin và kĩ thuật chẩnđoán nhanh một số bệnh LTQĐTD giúp tiếp cận sớm phòng tránh các bệnh này ởVTN Ancheta (2005) đề cập rằng để giảm nguy cơ mắc bệnh LTQĐTD ở VTN cần
có tiếp cận kết hợp các vấn đề về sinh học, nhận thức, tâm lý, hành vi và xã hội [54,
65, 52, 46, 76, 85, 77, 84, 78, 57]
Nghiên cứu ở VTN một số nước châu Á, Thái Bình Dương (2007) cho thấy
13 % nữ và 4 % nam đã từng mắc bệnh LTQĐTD trong đó 33 % có QHTD trước 15tuổi và 55 % có nhiều bạn tình Yếu tố liên quan với mắc bệnh LTQĐTD là nữ, cónhiều bạn tình, đã từng QHTD để nhận tiền hay quà tặng Nghiên cứu khác cũngthấy rằng, có nhiều bạn tình cũng liên quan đến nguy cơ bệnh LTQĐTD ở VTN.Một số tác giả đề cập rằng quan tâm đến SKSS VTN là vấn đề cấp thiết ở Châu Á
và các nước đang phát triển vì nhiều nguy cơ liên quan mang thai, nạo phá thai, sứckhoẻ và lây nhiễm HIV/AIDS, bệnh LTQĐTD ở VTN [61, 82, 57]
Thông tin về về tình dục, sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên hầunhư không có và việc thảo luận về tình dục thường bị cấm kỵ Nhiều người lớn cònnghĩ rằng việc đưa giáo dục SKSS cho thanh thiếu niên vào chương trình học sẽkhiến lớp trẻ có quan hệ tình dục sớm hơn và nhiều hơn Tuy nhiên hàng loạtnghiên cứu cũng cho thấy, thông qua việc nghiên cứu và giáo dục SKSS hay giáodục sức khỏe tình dục sẽ làm cho “thanh thiếu niên đã có quan hệ tình dục chấpnhận thực hiện những hành vi tình dục an toàn hơn, cũng như lớp trẻ đã bắt đầuquan hệ tình dục muộn hơn hoặc giảm bớt hoạt động tình dục nói chung” [11]
Cũng qua các nghiên cứu trên cho thấy ở một số nước trong khu vực, cha mẹ
Trang 29được xem là những người có trách nhiệm chính trong việc giáo dục SKSS cho vịthành niên và thanh niên Nhưng trên thực tế, do việc việc thiếu hiểu biết chính xáchoặc không biết cách nói chuyện với con cái về chủ đề trên khiến lớp trẻ thích thulượm những thông tin từ những người khác hay nguồn khác như bạn bè đồng lứa,phương tiện truyền thông không được kiểm soát hơn là từ cha mẹ Và lẽ tất nhiênchính điều đó đã gây cho các em những hệ lụy không mong muốn.
Như vậy, ở hầu hết các nước trên thế giới đều có sự quan tâm rất lớn đến vấn
đề SKSS, coi đó là vấn đề mang tính chiến lược quốc gia, đặc biệt là vấn đề chămsóc SKSS cho VTN, TN
4.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Mặc dù SKSS VTN là chủ đề mới được quan tâm ở nước ta song cũng đã córất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như:
Nghiên cứu của Klingberg – Allvin và cộng sự (2006) cho thấy, chủ đề vềQHTD, SKSS như có thai, nạo hút thai, bệnh LTQĐTD ở Việt Nam vẫn còn là chủ
đề nhạy cảm với văn hóa truyền thống Việt Nam Tuy nhiên, thực tế vấn đề QHTD,nạo phá thai ở VTN Việt Nam ngày càng gia tăng trong những năm gần đây [74].Nghiên cứu khác cũng nhận thấy rằng nhận thức, thái độ của VTN về tình dục,SKSS ngày càng cởi mở hơn VTN ngày nay cho rằng tình dục không nhất thiết gắnvới hôn nhân như quan niệm truyền thống, mà tình dục còn thể hiện tình yêu và sựgần gũi [17] Một nghiên cứu nữa cũng cho thấy, các thông tin về tình dục và BPTT
mà VTN có được chủ yếu là từ thông tin đại chúng chứ không phải từ nhà trườnghay gia đình và tỉ lệ nữ biết về các BPTT cao hơn nam [22]
Tổng điều tra quốc gia về VTN, TN Việt Nam – SAVY 1 (2003), cho thấy tỉ
lệ đã QHTD trong VTN chưa kết hôn từ 14 đến 17 tuổi là 1,1 % nam và 0,2 % nữ
Tỉ lệ này ở SAVY 2 (2009) là 2,2 % nam và 0,5 % nữ [23,25]
Một nghiên cứu khác của Đỗ Thị Như Mai tiến hành trên đối tượng VTN, TNtại Phú Yên cho thấy phần lớn thanh thiếu niên Phú Yên không đồng tình vớiQHTD trước hôn nhân (60,2 % không đồng ý, 31,0 % đắn đo, chỉ có 8,0 % đồng ý).Trong số những người đã có QHTD thì chỉ có 16,1 % sử dụng BPTT trong lần quan
Trang 30hệ đầu tiên với BCS (82,6 %), viên tránh thai khẩn cấp (13,1 %) và xuất tinh ngoài
âm đạo (4,3 %) Lý do không sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên được các emđưa ra cao nhất là không thích dùng (45 %), bạn tình không thích sử dụng (13,5 %),không định quan hệ lúc đó (12,6 %), không biết cách sử dụng hoặc không biết tìm ởđâu chỉ chiếm 1,8 % [27]
Nghiên cứu của Khuất Thu Hồng trên 6 trường phổ thông cấp II và cấp III tạiKhánh Hòa, nghiên cứu do trường ĐH Y Thái Bình thực hiện tại 5 tỉnh (Hà Nội,Thái Bình, Bình Dương, Bình Định và Thành phố Hồ Chí Minh) theo chương trìnhhợp tác y tế Việt Nam – Thụy Điển hay nghiên cứu của John Chlker cùng cộng sựtiến hành ở Nghệ An và Hà Nội tháng 5/1995 [19, 20, 21, 24, 26]
Gammeltoft (2002) phân tích các nghiên cứu về tình dục trong thanh thiếuniên Việt Nam thấy rằng, các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào các hiện tượngQHTD mà chưa tìm hiểu về quan niệm, hành vi tình dục và các yếu tố nguy cơ Tácgiả thấy rằng sự cản trở về tình dục an toàn không chỉ từ quan hệ cá nhân mà còn từ
ý nghĩa đạo đức và sự kiềm chế xã hội Gợi ý đưa ra là bên cạnh việc chú ý đến vaitrò cá nhân trong các hành vi tình dục, các nghiên cứu cần lưu ý vai trò của cộngđồng, xã hội hình thành các mối tương tác về tình dục [80]
Hay nghiên cứu của Kaljee và cộng sự ở Hà Nội và Khánh Hòa (2011) thấyrằng, giao tiếp giữa cha mẹ và VTN về tình dục, SKSS rất hạn chế, gợi ý cần cóchương trình can thiệp nâng cao kiến thức, kĩ năng giao tiếp giữa cha mẹ và VTN
về tình dục, SKSS [73]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nga và cộng sự thực hiện tại Na Rì, Bắc Kạn
“Kiến thức, thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục của vịthành niên và phụ nữ 15 – 49 tại huyện Na Rì, Bắc Kạn” Nghiên cứu cho thấy, có
50 % VTN trả lời “không biết” các dấu hiệu dậy thì, 53,3 % không biết dấu hiệuxuất hiện kinh nguyệt ở nữ và 22,8 % không biết dấu hiệu mộng tinh ở nam khi bắtđầu dậy thì; 80,6 % VTN trả lời “không thể chấp nhận được” khi hỏi về QHTDtrước hôn nhân; sự trao đổi giữa cha mẹ – con cái, giáo viên – học sinh về SKSS vàsức khỏe tình dục khá hạn chế (tương ứng là 24,7 % và 21,2 %), đa số trao đổi với
Trang 31bạn bè (74,0 %), có 28,2 % trao đổi với anh/chị/em trong gia đình [16].
Nghiên cứu tại Hà Nội và Nha Trang (2007) cũng cho thấy VTN đề caoQHTD sau kết hôn và QHTD trong hôn nhân VTN nhận thức được sự kì thị vớivấn đề QHTD trước kết hôn và ngoài hôn nhân với nữ cao hơn nam [83] Nghiêncứu khác ở thành phố Hồ Chí Minh (2007) thấy rằng, VTN cho rằng tiêu chuẩnquan trọng nhất khi kết hôn là tình yêu, sự cảm thông và tin tưởng nhau chứ khôngphải vấn đề trinh tiết Nam VTN cho rằng QHTD là thể hiện tình yêu, sự gần gũi,còn nữ VTN cho rằng QHTD chỉ có thể chấp nhận với tình yêu nghiêm túc và camkết tiến tới hôn nhân [86] Chuẩn mực đạo đức xã hội theo các quan điểm truyềnthống vô tình là rào cản với vấn đề giáo dục tình dục cho tuổi VTN, làm cho VTNkhó có được đời sống tình dục an toàn và thỏa mãn
Đề tài nghiên cứu “Khảo sát đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi về sức khỏesinh sản của vị thành niên, thanh niên 15 đến 24 tuổi vùng ven biển, đầm phá, vạn
đò tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2010” do Tôn Thất Chiểu và Chi cục DS – KHHGĐtỉnh Thừa Thiên Huế tiến hành trên 1000 VTN, TN Kết quả nghiên cứu cho thấy,
đa số đều nhận biết được những đặc điểm biểu hiện sự biến đổi ở tuổi dậy thì (tăngchiều cao và cân nặng, xuất hiện mụn trứng cá, mọc lông mu, lông nách, chú ýnhiều đến bạn khác giới, xuất tinh, có kinh nguyệt); có 40,9 % trao đổi với cha mẹkhi các em có dấu hiệu đầu tiên của tuổi dậy thì, nhà trường và bạn thân là 35,9 %
và 26,5 %, sách báo 26,2 %, anh chị là 18,2 %; nhận thức về HIV/AIDS là bệnhLTQĐTD có tỉ lệ cao nhất, đa số VTN, TN đều có nhận thức đúng đắn về 3 conđường lây nhiễm cơ bản của HIV là: QHTD không an toàn (58,5 %), qua đườngmáu (64,0 %) và lây nhiễm từ mẹ sang con (58,3 %) [29]
Một nghiên cứu khác của Lê Cự Linh và cộng sự R W Blum (2009) tiếnhành nghiên cứu ở ngoại thành Hà Nội cho thấy, sự kết nối giữa cha mẹ với con cáilàm giảm QHTD trước hôn nhân VTN chơi với bạn hư, đã từng bị lạm dụng tìnhdục làm tăng QHTD trước kết hôn ở VTN [79] Nghiên cứu khác (2006) sử dụng 3phương pháp thu thập số liệu khác nhau là phỏng vấn trực tiếp, phiếu hỏi tự điền,trả lời thông tin qua sự hỗ trợ của máy tính (ACASI) để tìm hiểu tỉ lệ VTN có
Trang 32QHTD Kết quả cho thấy tỉ lệ trả lời đã QHTD trước hôn nhân trong ACASI là 17,1
% nam và 4,5 % nữ, cao hơn so với thu thập số liệu qua phiếu tự điền hay phỏngvấn trực tiếp [87] Phương pháp ACASI cũng thích hợp với nghiên cứu các chủ đềnhạy cảm như hành vi tình dục, SKSS ở VTN [75, 88]
Đề tài của Hoàng Thị Tâm “Nghiên cứu thực trạng hiểu biết, thái độ và hành
vi về SKSS của học sinh THPT ở thành phố Huế ”, tiến hành trên đối tượng là HSđang học tại 9 trường THPT của thành phố Huế theo phương pháp mô tả cắt ngangtrên mẫu đã chọn Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiểu biết, thái độ, hành vi vềSKSS của HS THPT và tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới sự hiểu biết, thái độ,hành vi về SKSS của HS THPT Kết quả nghiên cứu cho thấy, VTN biết các dấuhiệu dậy thì khá cao chiếm 98,6 %, trong đó tỉ lệ nam biết tới 97,2 % và nữ là100%; 84 % VTN biết rõ về HIV/AIDS; 75,4 % biết rõ về bệnh LTQĐTD; VTNbiết cách phòng tránh bệnh LTQĐTD, HIV/AIDS khá cao, trong đó biết cần sửdụng BCS là 93,2 %, không QHTD với gái mại dâm 92,0 %, không QDTD vớinhiều người 90,6 %, không dùng chung bơm kim tiêm 91,4 % [10]
Một nghiên cứu khác của Phạm Thị Hương Trà Linh và cộng sự tiến hànhtrên đối tượng SV trường Cao đẳng Y tế Phú Thọ (2014) cho thấy có 2,8 % khôngbiết sử dụng BPTT nào; 5,0 % không biết tác hại của nạo phá thai; hầu hết SV biết
ít nhất một bệnh LTQĐTD, bệnh biết nhiều nhất là HIV/AIDS (89,5 %), đa số đềubiết ít nhất một nguyên nhân gây bệnh, nguyên nhân biết nhiều nhất là QHTD vớinhiều người (74,6 %), chỉ có 1,9 % không biết nguyên nhân mắc các bệnhLTQĐTD; đa số SV biết biện pháp hiệu quả nhất để phòng tránh lây nhiễm bệnhLTQĐTD là sử dụng BCS khi QHTD; vẫn còn 14,3 % không biết cách phòng tránhbệnh LTQĐTD [28]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hạnh và cộng sự, “Nghiên cứu sự hiểubiết và ý kiến cá nhân của giáo viên THCS tại Hà Nội và Điện Biên về sức khỏesinh sản” Kết quả cho thấy, điểm trung bình hiểu biết về SKSS của các GV ở HàNội và Điện Biên là 26 điểm, hạng giỏi chiếm 64,8 %, khá chiếm 33,6 %, yếuchiếm 1,6 %; BPTT các GV biết rõ nhất là sử dụng BCS (74,2 %); bệnh LTQĐTD
Trang 33biết nhiều nhất là HIV/AIDS (99,2 %), tiếp đến là bệnh giang mai (89,8 %) và bệnhlậu (88,3 %); hầu hết các GV đều nhận thức rõ và chấp nhận các quan điểm vềKHHGĐ theo quy định của Nhà nước [89].
Như vậy, chủ đề chung xuyên suốt các nghiên cứu này đều tập trung vào cácvấn đề thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của VTN, TN đối với SKSS Nhữngnội dung thường được đề cập đến là tình yêu, QHTD, sử dụng các BPTT, có thaisớm, vấn đề nạo phá thai ở tuổi VTN, nhận thức về HIV/AIDS và các bệnhLTQĐTD Ngoài ra, còn có nội dung về các quan điểm KHHGĐ theo quy định củaNhà nước Các nghiên cứu cung cấp cho chúng ta một bức tranh toàn cảnh về SKSSVTN ở Việt Nam, số liệu trong những nghiên cứu trên phần lớn có tính chất thống
kê, mô tả
Tại tỉnh Lạng Sơn hiện chưa có nhiều công trình nghiên cứu về nhận thức,thái độ hành vi của thanh niên, VTN về SKSS Mới chỉ có một nghiên cứu lớn là đềtài “Thực trạng bao phủ chăm sóc SKSS tại 3 tỉnh phía Bắc Việt Nam” (Lạng Sơn,Hưng Yên, Hòa Bình) được thực hiện với sự phối hợp giữa Vụ Bảo hiểm y tế (Bộ Ytế), Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP), Viện Nghiên cứu Y xã hộihọc (ISMS) và Trung tâm nghiên cứu hệ thống y tế - Đại học Y Hà Nội (CHSR)
Ngoài ra, chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về đánh giá thực trạng hiểu biết,thái độ, hành vi liên quan đến SKSS của VTN, TN hay các giải pháp nhằm nâng caonhận thức về SKSS tại bất kì địa phương nào trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
4.4 Cơ sở lý luận của biện pháp nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên
Giáo dục SKSS VTN là 1 trong 10 nội dung của “Chiến lược quốc gia về chămsóc sức khỏe sinh sản” Nội dung này được thực hiện chủ yếu trong các nhà trườngcùng với sự phối hợp của ngành y tế, các đoàn thể, các tổ chức xã hội và gia đình
Đối tượng của giáo dục SKSS VTN là thanh thiếu niên trong độ tuổi VTN, TN.Đây là lứa tuổi chuyển tiếp từ tuổi ấu thơ sang người lớn, là giai đoạn phát triển mạnh
mẽ và phức tạp nhất của cuộc đời mỗi con người Biểu hiện của nó là xảy ra đồng thờinhững thay đổi bao gồm sự chín muồi về thể chất, sự biến đổi điều chỉnh tâm lý và các
Trang 34quan hệ xã hội, bước đầu hình thành nhân cách nên nẩy sinh nhiều rắc rối về tâm lý hơncác lứa tuổi khác VTN phát triển qua các thời kì chuyển tiếp đầy tiềm năng nhưng cũngrất mỏng manh, vì vậy cần được nuôi dưỡng chăm sóc trong một môi trường an toàn,thân thiện để có thể lớn lên và trưởng thành Trẻ em bước vào tuổi VTN bằng những dấuhiệu của tuổi dậy thì (đó là lần đầu tiên có kinh nguyệt đối với nữ và xuất tinh đối vớinam) Tuổi dậy thì phụ thuộc vào nhiều yếu tố: dân tộc (châu Á thường sớm hơn châuÂu), nơi sinh sống (thành thị sớm hơn nông thôn), mức sống (hiện nay sớm hơn ngàytrước)… Tuổi dậy thì là tuổi bắt đầu có khả năng sinh sản, nhưng cơ thể các em vẫn cònđang ở giai đoạn hoàn thiện, cần phải giúp các em vượt qua được những khủng hoảngcủa tuổi dậy thì mới trở thành người lớn thực sự.
Giáo dục SKSS VTN là khái niệm đã rất quen thuộc trong các nhà trường,tuy vậy nó vẫn còn là vấn đề tế nhị hoặc bị coi là đơn giản, lại có phần ảnh hưởngcủa tập quán, truyền thống văn hóa, xã hội, do đó nếu chỉ có tác động từ nhà trường
mà không có sự kết hợp chặt chẽ với gia đình và xã hội, thì sẽ gặp nhiều khó khăntrong giáo dục SKSS VTN
VTN và TN là nguồn nhân lực chủ yếu của đất nước trong tương lai Nếuđược quan tâm chăm sóc để bắt đầu một cuộc sống tốt đẹp, là đã tạo cho các em cơhội và ý chí để cống hiến tốt nhất; ngược lại nếu để mắc phải những sai lầm trongthời kì này thì các em sẽ bị tổn thương về tinh thần (hoặc thậm chí cả về thể xác)khó mà hồi phục được Ngày nay, điều kiện dinh dưỡng và môi trường sống làmcho tuổi VTN thực tế có thể kéo dài hơn (dậy thì đến sớm hơn, lấy vợ lấy chồngmuộn hơn) nên tình trạng QHTD trước hôn nhân, sống thử…ngày càng phổ biến
Số VTN trong học đường ngày càng tăng, tình yêu ở tuổi học đường có thể dẫn tớiQHTD trước hôn nhân, nếu không có kiến thức để tự bảo vệ, dễ dẫn đến có thaingoài ý muốn, làm cho HS nữ phải bỏ học để kết hôn sớm hoặc phải nạo phá thai,điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe hoặc để lại hậu quả không tốt cho cảcuộc đời Kết hôn sớm trong điều kiện chưa có việc làm cũng là một yếu tố ảnhhưởng đến SKSS VTN…đó là chưa nói đến các quan niệm lệch lạc biểu hiện ởnhận thức thẩm mỹ, lối sống của một bộ phận thanh thiếu niên hiện nay
Trang 35Ngày nay, VTN tiếp xúc rất sớm các thông tin có lợi và bất lợi từ sách báo,truyền hình, điện ảnh, internet hay trò chơi điện tử cùng nhiều khía cạnh khác củahiện thực xã hội, gia đình… Vì vậy, vấn đề giáo dục SKSS VTN phải được xem xéttrong một bối cảnh mới, với phương pháp và hình thức mới Nội dung giáo dụcSKSS VTN phải toàn diện, phương pháp phải tổng lực, hình thức phải phong phú,chủ thể phải tích cực, dạy ít nhưng học nhiều Kiến thức về giáo dục SKSS VTNkhông phải loại tri thức khó hay khô khan, do vậy giáo viên cần tạo điều kiện để các
em chủ động chiếm lĩnh tri thức, từ đó biến thành vốn sống của mình để VTN luônvững vàng, làm chủ được bản thân trong mọi tình huống [4, 5, 31, 34, 30, 35, 6]
Mặc dù Bộ Y tế đã xây dựng Kế hoạch tổng thể quốc gia về bảo vệ, chăm sóc
và nâng cao sức khỏe VTN và TN trong từng giai đoạn, song kinh phí phân bổ chocác hoạt động liên quan tới SKSS/TD cho vị thành niên còn rất hạn chế Cácchương trình về Dân số và SKSS được thực thi một cách rộng rãi trong những nămgần đây hầu hết chỉ tập trung vào đối tượng là các cặp vợ chồng chứ chưa chú ý tớiđối tượng VTN
Hiện nay, có nhiều chương trình của các tổ chức phi chính phủ cho việc nângcao nhận thức về SKSS VTN ở nước ta Tuy nhiên, các chương trình này chỉ thựchiện trên một nhóm nhỏ, trong thời gian nhất định, chưa mang tính bền vững Do
đó, chúng tôi nhận định, nhà trường là một trong những môi trường tốt để áp dụngcác biện pháp nâng cao kiến thức về SKSS cho VTN
5 Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu.
5.1 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là 500 học sinh các khối 10, khối 11 và khối 12 đanghọc tập tại trường THPT Tràng Định, có sức khỏe bình thường, không có dị tật bẩmsinh hoặc bệnh truyền nhiễm, có trạng thái tâm sinh lý bình thường Mẫu nghiêncứu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên từ 15 lớp thuộc 3 khối học sinh đang
học tập tại Trường THPT Tràng Định
5.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 02/2017 đến tháng 10/2017
Trang 365.3 Địa điểm nghiên cứu
Trường THPT Tràng Định, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
5.4 Phương pháp nghiên cứu
5.4.1 Thiết kế nghiên cứu: Chia thành 2 giai đoạn.
Giai đoạn 1: Nghiên cứu cắt ngang
Giai đoạn này tiến hành trên 450 mẫu chia đều cho 3 khối (Khối 10, khối 11
và khối 12) Cỡ mẫu được tính toán cho nghiên cứu cắt ngang cho một tỷ lệ theocông thức sau:
Trong đó:
n: mẫu nghiên cứu
p: tỉ lệ hiểu biết về sức khỏe sinh sản ở từng khối, ước tính p = 0,5
Z (1-α/2) = 1,96 là giá trị của hệ số giới hạn tin cậy ứng với α = 0,05 với độ tincậy của ước lượng khoảng là 95%
ε: Độ chính xác tương đối được chọn là 0,16
Từ công thức (1) trên ta tính được n = 150
Như vậy, mỗi khối cần 150 HS, vậy 3 khối cần 150 x 3 = 450 HS (Dự phòngcác trường hợp rủi ro có thể xảy ra như: SV không tiếp tục tham gia nghiên cứu,làm tròn là 500 HS)
Giai đoạn 2: Nghiên cứu can thiệp
Chọn ra 100 HS khối 11, để tiến hành nghiên cứu can thiệp Chia thành 2nhóm, mỗi nhóm 50 HS: Nhóm đối chứng (ĐC) – nhóm không được can thiệp vàthực nghiệm (TN0) – nhóm được can thiệp Tiến hành can thiệp bằng biện phápgiảng dạy trong thời gian 4 tiết với nội dung kiến thức về SKSS, sức khỏe tình dục,tình dục an toàn, các bệnh LTQĐTD, các BPTT, vấn đề KHHGD Sau khi can thiệp
có sự kiểm tra, đánh giá, so sánh nhóm ĐC với TN0
Z 2 (1-α/2) x p (1-p) n= (1)
(p.ε)2
Trang 375.4.2 Phương pháp nghiên cứu
5.4.2.1 Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu
Các thông tin của sinh viên gồm:
- Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
- Những hiểu biết về tuổi dậy thì: sự thay đổi ở tuổi dậy thì, sự cảm nhận và
trao đổi khi có những thay đổi ở tuổi dậy thì, hiểu biết về tuổi dậy thì ở nam và nữ,tuổi có kinh nguyệt, tuổi xuất tinh lần đầu
- Hiểu biết về các biện pháp tránh thai: hiểu biết về mang thai, các biện pháp
tránh thai và hậu quả của nạo phá thai, mang thai và sinh con ở tuổi bị thành niên
- Hiểu biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục: HIV/AIDS; các biện
pháp phòng tránh HIV/AIDS và một số bệnh lây truyền qua đường tình dục khác
Việc điều tra tiến hành bằng sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn (đã đượcphê duyệt bởi Trung tâm SKSS và kế hoạch hóa gia đình, trường ĐHSP Hà Nội)(mẫu phiếu số 1)
5.4.2.2 Đạo đức nghiên cứu
- Thông tin của đối tượng nghiên cứu được đảm bảo bí mật tuyệt đối
- HS có quyền không trả lời câu hỏi hoặc dừng tham gia nghiên cứu ở bất kỳthời điểm nào trong quá trình nghiên cứu
5.4.2.3 Phương pháp thiết kế bài giảng, hoạt động
- Thu thập tài liệu và thông tin liên quan tới vấn đề nghiên cứu của đề tài từ
các trung tâm thư viện, viện nghiên cứu, trung tâm lưu trữ, mạng internet…
- Các hoạt động và bài giảng được thiết kế theo hướng tiết học riêng: dạy kiếnthức về SKSS bao gồm kiến thức SKSS, sức khỏe tình dục, tình dục an toàn, cácbệnh LTQĐTD, các BPTT, vấn đề KHHGD…Bài giảng gồm 4 tiết, mỗi tiết học cóthời lượng 45 phút Tiến hành giảng dạy liên tục trong 4 tuần, mỗi tuần 1 tiết Nộidung cụ thể của từng tiết giảng:
+ Tiết 1: Giảng dạy các nội dung về SKSS, SKSS VTN Vấn đề giáo dục SKSStrên thế giới và ở Việt Nam
+ Tiết 2: Giảng dạy nội dung về sức khỏe tình dục và tình dục an toàn
Trang 38+ Tiết 3: Giảng dạy nội dung liên quan đến các Bệnh LTQĐTD và các BPTT
+ Tiết 4: Giảng dạy các nội dung liên quan đến KHHGĐ
5.4.2.3 Phương pháp kiểm tra đánh giá
- Tiến hành kiểm tra đánh giá HS nhóm ĐC và nhóm TN0 ngay sau khi canthiệp bằng bộ câu hỏi trắc nghiệm được thiết kế sẵn (mẫu phiếu số 2) Bộ câu hỏigồm 3 phần, cụ thể như sau:
Mẫu 2 ĐIỀU TRA NHẬN THỨC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN
Họ và tên: Ngày điều tra: _/ _/201_
Giới tính: Nữ Nam
Địa chỉ liên hệ: Xã/Phường: Quận/huyện: _ Tỉnh:
Ngày tháng năm sinh (theo dương lịch)? / _/ _
PHẦN I TRẮC NGHIỆM VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN
(Anh/chị khoanh tròn vào câu trả lời thích hợp, mỗi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng)
1 Dấu hiệu cơ bản chứng tỏ khả năng có con của người phụ nữ là gì?
a Vú đã phát triển c Bắt đầu có kinh nguyệt
b Chậu hông mở rộng d Bước vào tuổi 13
2 Bộ phận nào dưới đây sản xuất ra tế bào sinh dục nữ (trứng)?
a Ống dẫn trứng b Vòi trứng c Tử cung d Buồng trứng
3 Bộ phận nào dưới đây sản xuất ra tế bào sinh dục nam (tinh trùng)?
a Bọng tinh b Tuyến tiền liệt c Tinh hoàn d Mào tinh
4 Sau khi rụng, trứng có khả năng sống trong khoảng thời gian bao lâu?
a 01 tuần b 24 giờ c 03 ngày d 01 giờ
5 Tinh trùng có khả năng sống trong đường sinh dục nữ bao lâu?
a 01 tuần b 24 giờ c 03 ngày d 01 giờ
6 Sự thụ tinh xảy ra ở đâu trong đường sinh dục nữ?
Trang 39b Trong buồng trứng d Trong âm đạo
7 Sự thụ tinh xảy ra khi nào?
a Có một lượng tinh trùng vừa đủ
b Trứng vào tử cung và gặp tinh trùng ở đó
c Một tinh trùng kết hợp với một trứng
d Trứng chín và rụng
8 Trứng đã thụ tinh sẽ làm tổ và phát triển ở đâu?
a Trong buồng trứng c Trong khoang bụng
b Trong ống dẫn trứng d Trong tử cung
9 Người phụ nữ có chu kỳ kinh nguyệt 28 ngày thì thời gian dễ thụ thai nhất là khinào?
a Trong vòng 01 tuần trước khi có kinh nguyệt
b Vào những ngày có kinh nguyệt
c Vào những ngày giữa của chu kỳ kinh nguyệt
d Vào 04 ngày sau khi có kinh nguyệt
10 Hậu quả của việc sinh con khi người phụ nữ đã cao tuổi (sinh sau 35 tuổi) là gì?
a Sinh ra những đứa con ốm yếu, dễ mắc bệnh
b Sinh ra con kém thông minh
c Gây ảnh hưởng không đáng kể đến mẹ và con
d Dễ gặp tai biến khi sinh, con sinh ra dễ bị dị tật
11 Hậu quả của sinh con ở tuổi vị thành niên là gì?
a Người mẹ bị suy dinh dưỡng, thiếu máu
b Cấu tạo cơ quan sinh sản của mẹ chưa hoàn chỉnh và gặp nhiều khó khăn khichưa đủ những điều kiện cần thiết để làm mẹ
c Người mẹ dễ mắc bệnh phụ khoa
d Gây những ảnh hưởng không đáng kể đến sức khỏe mẹ và con
12 Hậu quả của đẻ nhiều con là gì?
a Đẻ khó, dễ đẻ non tháng
b Ảnh hưởng không đáng kể đến sức khỏe mẹ và con
Trang 40c Con sinh ra dễ bị dị tật, kém thông minh
d Ảnh hưởng đến mức sống gia đình và ảnh hưởng đến sức khỏe mẹ và con
13 Biện pháp tránh thai tự nhiên là biện pháp nào dưới đây?
14 Biện pháp tránh thai nào dưới đây ngăn không cho trứng đã thụ tinh làm tổtrong dạ con?
15 Biện pháp tránh thai nào dưới đây ngăn không cho tinh trùng gặp trứng?
b Thuốc tránh thai d Que cấy tránh thai
16 Biện pháp nào dưới đây ngăn không cho trứng chín và rụng?
17 Triệt sản nam là gì?
a Cắt bỏ tinh hoàn c Cắt và thắt ống dẫn tinh
b Cắt bỏ mào tinh hoàn d Cắt bỏ tuyến tiền liệt
18 Hậu quả của triệt sản nam là gì?
a Gây rối loạn về sinh lý
b Ảnh hưởng đến sinh dục và làm thay đổi giới tính
c Dễ phát sinh bệnh tật liên quan đến sinh sản
d Nhìn chung không ảnh hưởng đến sinh lý
19 Triệt sản nữ là gì?
a Cắt bỏ buồng trứng c Làm cho trứng không chín và rụng
b Cắt bỏ tử cung d Cắt và thắt ống dẫn trứng
20 Hậu quả của triệt sản nữ là gì?
a Gây rối loạn về sinh lý
b Ảnh hưởng đến sinh dục và làm thay đổi giới tính