Nhiệm vụ nghiên cứu - Thu thập các tài liệu, số liệu liên quan đến hoạt động của khu du lịch biển Cửa Việt.. Để nghiên cứu về tài nguyên du lịch, tình hình phát triển của một điểm du l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ
BÙI VĂN QUYẾT
Tìm hiểu hiện trạng phát triển du lịch ở khu du lịch biển Cửa Việt – tỉnh Quảng Trị giai đoạn
2006 - 2010 Định hướng và giải pháp phát triển
đến năm 2020
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM ĐỊA LÝ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của thầy cô giáo, bạn bè, của Sở văn hóa – thể thao và du lịch tỉnh Quảng Trị, phòng văn hóa – thể thao và du lịch huyện Gio Linh, Ban quản lí du lịch Cửa Việt, UBND thị trấn Cửa Việt Qua đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu trường ĐHSP Đà Nẵng, Ban chủ nhiệm khoa Địa lí, cùng tất cả thầy
cô, bạn bè trong khoa Địa lí và các cơ quan, ban ngành tỉnh Quảng Trị
đã tạo mọi điều kiện cho em có thể hoàn thành bài hóa luận tốt nghiệp này
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, Thạc sĩ Hoàng Thị Diệu Huyền đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình thực hiện và hoàn thành bài khóa luận này
Trong quá trình làm bài khóa luận này, do còn nhiều khó khăn nên
đề tài không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của tất cả các quý thầy cô để đề tài em được hoàn thiện hơn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn !!
Sinh viên thực hiện
Bùi Văn Quyết
Trang 3Bản đồ tuyến điểm du lịch tỉnh Quảng Trị
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
UBND : Uỷ ban nhân dân
NXB : Nhà xuất bản
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
CHDCND: Cộng hòa dân chủ nhân dân
NQ-HĐND: Nghị quyết hội đồng nhân dân
QĐ-UBND: Quyết định ủy ban nhân dân
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - Association of Southeast Asian Nations
IUOTO: Hiệp hội các tổ chức du lịch quốc tế - (International Union of Official Travel Organisation)
Trang 5PHỤ LỤC ẢNH
Lễ hội nhịp cầu Xuyên Á Một chiều trên biển Cửa Việt
Lễ hội đua thuyền trên sông Hiếu Cổng vào khu du lịch Cửa Việt
Tượng đài chiến thắng Cửa Việt Các kiốt phục vụ hải sản
Trang 6A – PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế nói chung cùng với sự bùng
nổ dân số, quá trình đô thị hóa diễn ra quá mức đã có những tác động rất lớn đến đời
Trang 7sống của con người Bên cạnh những tác động tích cực mà các yếu tố trên mang lại cho con người thì có không ít những tác động tiêu cực con người phải đối mặt như: thiên tai, ô nhiễm môi trường, áp lực công việc cao… Từ đó vấn đề nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe, khôi phục sức lao động cho con người là vấn đề được cả xã hội quan tâm Chính vì vậy, hoạt động du lịch ngày càng trở thành một nhu cầu tất yếu khách quan của con người Trong những thập kỉ gần đây, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế lớn, được mệnh danh là “ ngành công nghiệp không khói” và có vai trò quan trọng trong đời sống con người Du lịch đang phát triển mạnh và đáp được những nhu cầu ngày càng cao của con người trong xã hội hiện nay Đặc biệt là du lịch biển – loại hình du lịch đưa con người về với thiên nhiên, hòa vào môi trường trong lành và hài hòa của khí trời, bên tiếng sóng vỗ rì rào và những bãi cát dài thơ mộng Cảnh quan thoáng đãng, hoang dã sẽ giúp con người có những giây phút nghỉ ngơi thoải mái, lấy lại sức khỏe và tinh thần sau những ngày làm việc căng thẳng, mệt mỏi Đây là loại hình phát triển rất phong phú và đa dạng với nhiều loại hình thu hút khách du lịch Hằng năm, du lịch biển đã đem lại nhiều lợi ích cho những quốc gia có biển và là một trong những loại hình du lịch chiếm ưu thế nhất trên thế giới
Đối với Quảng Trị - một mảnh đất nằm trên khúc ruột miền trung của nước ta, tài nguyên của tỉnh khá đa dạng và phong phú với tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn, đó là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch của tỉnh Với một đường bờ biển dài 75km cùng nhiều bãi biển đẹp và cực kì quyến rũ, trong đó bãi biển Cửa Việt là một trong những bãi biển ở nước ta còn giữ được vẻ đẹp hoang sơ và
là một trong hai bãi biển đẹp nhất tỉnh Quảng Trị Đến với Cửa Việt, du khách sẽ được thỏa sức nô đùa cùng sóng biển hoặc nằm yên bình sưởi nắng trên bờ cát trắng Được nghe những âm thanh tuyệt diệu của tiếng gió biển, tiếng sóng vỗ Vào lúc chiều tà, du khách có thể mê say ngắm nhìn những đàn hải âu bay lượn, đùa giỡn trên những làn sóng thẳm xa Đến đây, du khách còn có dịp tham quan tượng đài chiến thắng Cửa Việt, được tham gia vào hội đua thuyền, được thưởng thức các đặc sản biển của người dân địa phương Đó là những điều kiện thuận lợi để khai thác phát triển khu du lịch biển Cửa Việt Tuy nhiên, do một số nguyên nhân mà những tiềm năng ấy vẫn chưa được khai thác triệt để
Với mong muốn góp một phần hiểu biết nhỏ bé của mình vào việc phát triển khu
du lịch biển Cửa Việt tương xứng với tiềm năng, qua đó giới thiệu về khu du lịch biển
Trang 8Cửa Việt với tất cả du khách trong và ngoài nước, đưa khu du lịch biển Cửa Việt trở thành một điểm du lịch tham quan và nghỉ ngơi nổi tiếng trong thời gian tới Tôi đã
chọn đề tài “ Tìm hiểu hiện trạng phát triển du lịch ở khu du lịch biển Cửa Việt – tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006 - 2010 Định hướng và giải pháp phát tri ển đến năm 2020” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng phát triển du lịch ở khu du lịch biển Cửa Việt – tỉnh Quảng Trị
- Tìm hiểu một số định hướng và giải pháp góp phần phát triển du lịch biển Cửa Việt
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu thập các tài liệu, số liệu liên quan đến hoạt động của khu du lịch biển Cửa Việt
- Nhận xét, đánh giá hiện trạng phát triển du lịch của khu du lịch biển Cửa Việt
- Tìm hiểu một số định hướng và đề xuất các giải pháp phát triển
3 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Tìm hiểu hiện trạng phát triển khu du lịch biển Cửa Việt – tỉnh Quảng Trị Định hướng và giải pháp phát triển
- Về thời gian: Tình hình phát triển khu du lịch từ 2006 – 2010 và định hướng đến năm 2020
- Về lãnh thổ : Nghiên cứu trên phạm vi khu du lịch biển Cửa Việt – tỉnh Quảng Trị
4 Lịch sử nghiên cứu
Ngày nay, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia cũng như nhiều địa phương Và việc nghiên cứu, phát triển du lịch ngày càng được đẩy mạnh hơn, không ít các công trình nghiên cứu về du lịch, nhiều đề tài, bài báo đã được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng Nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà kinh tế, nhà giáo và cả sinh viên cũng đã tham gia nghiên cứu, viết bài về đề tài du lịch
Liên quan đến du lịch Quảng Trị nói chung và khu du lịch biển Cửa Việt nói riêng
đã có một số bài viết, đề tài nghiên cứu, bài báo khoa học được đăng tải như:
Trang 9- Đào Đình Bắc - Quy hoạch du lịch (NXB Hà Nội)
- Non nước Việt Nam – Tổng cục du lịch Việt Nam ( 2008 )
- Nguyễn Bích San – Cẩm nang hướng dẫn dẫn du lịch ( NXB văn hóa thông tin)
- Quy hoạch du lịch Quảng Trị giai đoạn 2007 – 2010, tầm nhìn đến 2020 ( 2007)
- Phát triển du lịch Quảng Trị trong bối cảnh mới - TS Nguyễn Phú Đức
- Sở văn hóa – thể thao và du lịch Quảng Trị (2004) – Du lịch Quảng Trị - hội nhập
5 Quan điểm nghiên cứu
5.2 Quan điểm tổng hợp
Tài nguyên du lịch là hệ thống các yếu tố về tự nhiên và kinh tế – xã hội để phát triển du lịch trên một lãnh thổ nào đó Để nghiên cứu về tài nguyên du lịch, tình hình phát triển của một điểm du lịch thì phải vận dụng quan điểm tổng hợp nhằm phát hiện
ra các mối quan hệ, tác động qua lại, cấu trúc bên trong và động lực phát triển của nó Quan điểm này được vận dụng sau khi đã phân tích từng yếu tố, thành phần để phác họa nên tổng thể các điều kiện phát triển trên lãnh thổ nghiên cứu
5.3 Quan điểm sinh thái
Trang 10Hiện nay, mục tiêu chiến lược của nhân loại là phát triển nền kinh tế bền vững, vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế đồng thời cũng bảo vệ và duy trì môi trường sinh thái, tạo nên sự bền vững được vận dụng nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch và con người, ảnh hưởng của tự nhiên đến sự phát triển du lịch
5.4 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Các yếu tố tự nhiên, dân cư, kinh tế trên một lãnh thổ đều có nguồn gốc phát sinh
và phát triển, vì vậy mà quan điểm này được vận dụng để phân tích các số liệu trong một thời gian nhất định từ đó nghiên cứu và đánh giá thực trạng phát triển của ngành
du lịch biển ở khu du lịch biển Cửa Việt, qua đó làm cơ sở để đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
Sử dụng phương pháp này chủ yếu để thu thập, xử lý, phân tích và tổng hợp tài liệu Từ nguồn tài liệu thô đã thu thập, cần xử lý thành tài liệu tinh để từ đó rút ra nhận xét, kết luận vấn đề nghiên cứu
6.2 Phương pháp bản đồ, biều đồ
Phương pháp này cho phép thu thập các thông tin về số lượng, chất lượng, phân
bố, thực trạng khai thác của khu vực nghiên cứu Đồng thời sau khi nghiên cứu, điều tra, đánh giá, phương pháp bản đồ còn được sử dụng để thể hiện sự phân bố về số lượng, chất lượng, khả năng tồn tại và khai thác của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ là công cụ để thể hiện tình hình phát triển của một đối tượng, hay sự thay đổi về chất và lượng của một đối tượng nghiên cứu nào đó, qua đó cho ta một cái nhìn tổng quan về sự thay đổi của đối tượng đó
6.3 Phương pháp thực địa
Khảo sát thực địa là phương pháp truyền thống trong nghiên cứu địa lý đặc biệt là trong việc nghiên cứu hiện trạng phát triển du lịch Tác giả tiến hành khảo sát thực địa tại địa bàn, làm việc với cơ quan địa phương Kết quả điều tra thực địa là
cơ sở ban đầu và là điều kiện thẩm định lại một số nhận định trong giáo trình nghiên cứu Thông qua đó đã cho phép đề ra những giải pháp khắc phục những nhược điểm, phát huy những ưu điểm Đây là phương pháp khoa học nhất để thu hút được
số liệu tương đố chính xác về số lượng khách, nhu cầu sở thích của khách và những dịch vụ mà khách quan tâm
Trang 117 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, kiến nghị thì nội dung chính của đề tài được triển khai ra ba chương sau :
Chương 1: Cơ sở lý luận chung
Chương 2: Hiện trạng phát triển du lịch ở khu du lịch biển Cửa Việt – tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006 - 2010
Chương 3: Định hướng phát triển khu du lịch biển Cửa Việt đến 2020 và một số
giải pháp
Trang 12B – PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG 1.1 Các khái ni ệm
1.1.1 Du lịch
Ngày nay trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa – xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới Thuật ngữ du lịch trở nên rất thông dụng Nó bắt nguồn từ tiếng Pháp: ‘Tour’ nghĩa là
đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn “ touriste” là người đi dạo chơi Du lịch gắn liền với việc nghỉ ngơi, giải trí nhằm hồi phục, nâng cao sức khỏe và khả năng lao động của con người, nhưng trước hết liên quan mật thiết với sự di chuyển nơi ở của họ Vậy du lịch là gì ?
Trong vòng hơn 6 thập kỉ vừa qua, kể từ khi thành lập Hiệp hội quốc tế các tổ chức
du lịch IUOTO năm 1925 tại Hà Lan, khái niệm du lịch luôn luôn được tranh luận và cho đến ngày nay khái niệm du lịch vẫn chưa có sự thống nhất Do có sự khác nhau
về hoàn cảnh và góc độ nhận thức nên đã có nhiều quan điểm khác nhau về du lịch Năm 1963, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tại Roma đã đưa ra định nghĩa “ Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi đến không phải
là nơi làm việc của họ”
Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì: “Du lịch là tổng hòa các mối quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội làm cơ sở nhất định, lấy chủ thể du lịch, khách du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện phát triển”
Trong giáo trình thống kê du lịch thì các tác giả lại định nghĩa : “Du lịch là một ngành kinh tế - xã hôi, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi hoặc kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác”
Theo I.I Pirogionic, 1985 thì: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao
Trang 13trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa”
Theo pháp lệnh du lịch Việt Nam ban hành ngày 20/02/1999 thì: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghĩ dưỡng trong một thời gian nhất định”
Từ điển Bách Khoa toàn thư thì đã tách ra “Du lịch” thành hai thành phần riêng biệt:
- Du lịch là sự di chuyển và cư trú qua đêm tạm thời trong thời gian rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh có hoặc không kèm theo tiêu thụ một giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng
- Du lịch là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm, tạm thời và thời gian rỗi của các cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú bởi mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh
Như vậy có rất nhiều quan niệm về du lịch nhưng chúng ta có thể kết luận rằng du lịch là tổng thể những hoạt động và những mối quan hệ phát sinh qua lại lẫn nhau giữa du khách và các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội phục vụ du lịch Do đó để đẩy mạnh hoạt động du lịch đòi hỏi toàn xã hội đều có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ và đầu tư để du lịch ngày càng phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước
1.1.2 Du khách
Gắn liền với hoạt động du lịch, khách du lịch được xem là yếu tố quyết định sự hoạt động của du lịch Đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về khách du lịch (du khách), nhưng hầu hết tất cả các định nghĩa đều xem du khách là người đi khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình
Theo nhà kinh tế học người Anh Odgilvi: “Khách du lịch là loại khách đi xa nhà một thời gian nhất định, tiêu khoản những khoản tiền tiết kiệm được”
Morval lại cho rằng: “Khách du lịch là người đến đất nước khác theo nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nguyên nhân chủ yếu không phải là thương mại”
Còn theo quan niệm của nhà kinh tế học người Áo Jozepstander: “du khách là loại khách đi lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thõa mãn những nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi mục tiêu kinh tế”
Trang 14Ngoài ra nhiều nước trên thế giới thường có sự phân biệt giữa du khách trong nước
và du khách nước ngoài Ở nước ta, theo điều 20 chương VI pháp lệnh Du lịch thì du khách quốc tế phải có các đặc điểm sau:
- Là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch
- Là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam ra nước ngoài du lịch
- Là những người đi ra khỏi môi trường sông thường xuyên của một nước đang thường trú đến Việt Nam trong thời gian dưới 12 tháng ngoài mục đích tiến hành các hoạt động nhằm đem lại thu nhập và kiếm sống ở Việt Nam
Du khách trong nước là những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của mình để đến một nơi khác trong nước với thời gian liên tục dưới 12 tháng mà mục đích của chuyến đi không nhằm các hoạt động đem lại thu nhập và kiếm sống ở nơi đến
Như vậy, có thể nói rằng du khách là người từ nơi khác đến vào thời gian rãnh rỗi của họ với mục đích thỏa mãn tại nơi đến nhu cầu nâng cao hiểu biết, phục hồi sức khỏe, tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc, quốc gia và khu vực, thư giãn, giải trí hoặc thể hiện mình kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tinh thần, vật chất và các dịch vụ do các cơ sở ngành du lịch cung ứng
1.1.3 Khu du l ịch, điểm du lịch
- Khu du lịch
Các nhà khoa học du lịch Trung Quốc đã đưa ra khái niệm và đặc điểm về khu du lịch: “ Khu du lịch được xác định là đơn vị cơ bản để làm quy hoạch và quản lý du lịch, là thể tổng hợp địa lí lấy chức năng du lịch làm chính và nội dung quy hoạch quản lí để triển khai các hoạt động du lịch.”
Theo khoản 7 - điều 7 - chương 1 - Luật du lịch Việt Nam năm 2006: “ Khu du lịch
là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, ưu thế nổi bật về cảnh quan thiên nhiên được quy hoạch đầu tư phát triển, nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch đem lại hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường.”
Luật du lịch cũng quy định ở nước ta, khu du lịch gồm : khu du lịch địa phương và khu du lịch quốc gia
- Khu du lịch địa phương là nơi :
+ Có diện tích tối thiểu là 200ha
+ Có tài nguyên du lịch hấp dẫn
Trang 15+ Có khả năng đảm bảo phục vụ tối thiểu 100.000 lượt khách du lịch/ năm
+ Có mặt bằng, không gian đáp ứng yêu cầu của các hoạt động về nghỉ ngơi, giải trí, tham quan du lịch
+ Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất – kĩ thuật du lịch và dịch vụ đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật do cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền ban hành
Khu du lịch địa phương do chủ tịch UBND tỉnh ban hành
- Khu du lịch quốc gia là nơi:
+ Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn với ưu thế về cảnh quan thiên nhiên, có khả năng thu hút nhiều khách du lịch
+ Có diện tích tối thiểu 1000ha
+ Có khả năng đảm bảo phục vụ ít nhất 1 triệu lượt khách/năm
+ Có quy hoạch phát triển khu du lịch được cấp có thẩm quyền phê duyệt
+ Có mặt bằng, không gian đáp ứng yêu cầu của các hoạt động về nghỉ ngơi, giải trí, tham quan trong khu du lịch
+ Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kĩ thuật du lịch và dịch vụ đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
+ Có cơ sở lưu trú du lịch, khu vui chơi giải trí, thể thao và các cơ sở dịch vụ đồng
ra cặp khái niệm điểm du lịch và điểm tài nguyên du lịch
Điểm tài nguyên du lịch là nơi ở có ít hay nhiều nguồn tài nguyên du lịch có sức hấp dẫn đối với khách song chưa được tổ chức khai thác Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch Điểm tài
Trang 16nguyên du lịch có thể chưa phải là điểm du lịch song nó có thể trở thành điểm du lịch khi không có việc tổ chức khai thác Ngược lại điểm du lịch cũng có thể trở thành điểm tài nguyên du lịch khi sản phẩm du lịch đi vào giai đoạn thoái trào, hoạt động kinh doanh du lịch ngừng trệ
Theo luật du lịch Việt Nam năm 2006: “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên
du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”
1.1.4 Tài nguyên du l ịch
Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và những kết hợp khác nhau của cảnh quan thiên nhiên và cảnh quan nhân văn có thể sử dụng cho dịch vụ du lịch và thỏa mãn về nhu cầu về chữa bệnh, nghỉ ngơi, tham quan hay du lịch
Về thực chất, tài nguyên du lịch là các đối tượng tự nhiên, các đối tượng văn hóa – lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới sự ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch
Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố quan trọng đối với phát triển kinh tế
và đời sống con người, hiểu theo nghĩa rộng tức: “ Tài nguyên là bao gồm tất cả các nguồn lực, năng lượng và thông tin có trên trái đất đồng thời trong không gian vũ trụ liên quan mà con người có thể sử dụng phục vụ đời sống cho sự nghiệp phát triển của mình.”
Các yếu tố tài nguyên liên quan đến các điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử văn hoá, kinh tế- xã hội vốn có trong tự nhiên hoặc do con người tạo dựng nên, các yếu
tố này luôn luôn tồn tại và gắn liền với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội đặc thù của mỗi vùng miền, mỗi địa phương Nhưng các yếu tố này chỉ trở thành tài nguyên du lịch khi được đầu tư quy hoạch và phát triển, được khai thác và sử dụng cho mục đích phát triển du lịch
Trong pháp lệnh du lịch nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam(1999) thì tài nguyên du lịch được hiểu là : “ Cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, các giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm
Trang 17dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch,
điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.”
Tài nguyên du lịch có thể được hiểu là tài nguyên du lịch đang khai thác và tài nguyên du lịch chưa được khai thác Mức độ khai thác các tiềm năng liên quan đến tài nguyên du lịch phụ thuộc vào các tiềm năng, nguyên vốn có còn tiềm ẩn, trình độ phát triển khoa học công nghệ tạo ra các phương tiện để khai thác các tiềm năng tài nguyên đó
Vậy ta có khái niệm tài nguyên du lịch: “ Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hoá lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần phục vụ và phát triển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch.”
Khi xét về cơ cấu, người ta thường chia làm hai loại:
- Tài ngyên du lịch tự nhiên: Bao gồm điều kiện khí hậu thời tiết, các cảnh quan, phong cảnh đẹp, các dạng địa hình độc đáo có sức thu hút khách du lịch và thỏa mãn những nhu cầu vui chơi, giải trí, tham quan của du khách
- Tài nguyên du lịch nhân văn: Là các đối tượng và hiện tượng do con người tạo ra như các di tích lịch sử, văn hóa, các lễ hội, các phong tục tập quán độc đáo của từng địa phương, từng vùng và mỗi quốc gia
1.1.5 Cơ sở lưu trú du lịch
Theo thông tư số 882008/TT – Bộ Văn Hóa - Thể Thao và Du lịch năm 2008 đã quy định: Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch
vụ khác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú chủ yếu
Theo Luật du lịch nước ta thì cơ sở lưu trú du lịch bao gồm: Khách sạn, làng du lịch, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, các cơ sở lưu trú du lịch khác
Việc xếp hạng các cơ sở lưu trú du lịch ở nước ta thực hiện theo tiêu chuẩn quốc gia do bộ Khoa học – công nghệ theo Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kĩ thuật, dựa trên các tiêu chí sau :
- Khách sạn: Là cơ sở du lịch, có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị và dịch vụ cần thiết phục vụ khách lưu trú và sử dụng dịch vụ, bao gồm các loại sau:
Trang 18+ Khách sạn thành phố: Là khách sạn được xây dựng tại các đô thị, chủ yếu phục
vụ khách thương gia, khách công vụ, khách tham quan du lịch
+ Khách sạn nghỉ dưỡng: Là khách sạn được xây dựng thành khối hoặc thành quần thể các biệt thự, căn hộ ở các khu vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp, phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan của khách du lịch
+ Khách sạn nổi: Là khách sạn di chuyển hay neo đậu trên mặt nước
+ Khách sạn bên đường: Là khách sạn gần đường giao thông, gắn với việc cung cấp nhiên liệu, bảo dưỡng, sửa chữa phương tiện vận chuyển và cung cấp các dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch
- Làng du lịch: Là cơ sở lưu trú du lịch gồm tập hợp các biệt thự hoặc một số cơ sở lưu trú du lịch khác như căn hộ và bãi cắm trại, được xây dựng ở nơi có tài nguyên du lịch, cảnh quan thiên nhiên đẹp, có hệ thống dịch vụ gồm các nhà hàng, quầy bar, cửa hàng mua sắm, khu vui chơi giải trí, thể thao và các tiện ích khác phục vụ khách
du lịch
- Biệt thự du lịch: Là biệt thự có trang thiết bị tiện nghi cho khách du lịch thuê, có thể tự phục vụ trong thời gian lưu trú
- Căn hộ du lịch: Là căn hộ có trang thiết bị tiện nghi cho khách du lịch thuê, có thể
tự phục vụ trong thời gian lưu trú, nếu có từ 10 căn hộ du lịch trở lên thì được gọi là khu căn hộ du lịch
- Bãi cắm trại du lịch: Là khu vực đất được quy hoạch ở nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp, có kết cấu hạ tầng, có cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch và dịch vụ cần thiết phục vụ khách cắm trại
- Nhà nghỉ du lịch: Là cơ sở lưu trú du lịch, có trang thiết bị, tiện nghi cần thiết phục vụ khách du lịch như khách sạn nhưng không đủ tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn
- Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê: Là nơi sinh sống của người sở hữu hoặc
sử dụng hợp pháp trong thời gian cho thuê lưu trú du lịch, có trang thiết bị, tiện nghi cho khách du lịch thuê lưu trú, có thể có dịch vụ khác theo khả năng đáp ứng của chủ nhà
- Các cơ sở lưu trú du lịch khác: gồm tàu thủy du lịch, tàu hỏa du lịch, lều du lịch…
Trang 191.1.6 Sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình, đó là tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch và đội ngũ cán bộ nhân viên du lịch
Theo Michael M Coltman, sản phẩm du lịch có thể là một món hàng cụ thể
như thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát
- Cơ cấu của sản phẩm du lịch:
+ Những thành phần tạo lực hút (lực hấp dẫn đối với du khách) gồm nhóm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn
+ Cơ sở du lịch (Điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch) gồm cơ sở hạ tầng
kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch
+ Dịch vụ du lịch: là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa những tổ chức cung ứng du lịch và khách du lịch và thông qua các hoạt động tương tác đó để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng du lịch
b Thu hút lao động, giải quyết việc làm
Tài nguyên du lịch thường có mặt khắp mọi nơi ngay cả vùng xa xôi, hẻo lánh Khi con người đưa những tài nguyên này vào sử dụng đòi hỏi phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực đó Chính điều này sẽ góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động, giải quyết được vấn đề thất nghiệp và thêm việc làm cho nhân dân quanh khu vực du lịch
Đồng thời, nơi đây cũng thu hút thêm lao động đến tìm việc làm, nhất là khu vực người dân sống trong khu vực có dự án du lịch, bởi du lịch phát triển tức là có thêm
Trang 20nhiều dịch vụ, hoạt động du lịch cũng phát triển Do đó sẽ cần nhiều lao động có tay nghề, kĩ năng hoạt động du lịch… Du lịch không chỉ tạo việc làm cho bản thân người lao động trong ngành mà còn thu hút lao động của các ngành khác, bởi các loại hình
du lịch và dịch vụ du lịch rất phong phú và đa dạng để ngày càng đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của du khách
d Thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương
Phát triển du lịch là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để phát triển và đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế của một vùng và một địa phương có nền kinh tế còn kém phát triển
Du lịch phát triển tạo điều kiện cho những người dân sinh sống tại vùng có địa điểm du lịch mở rộng kinh doanh, phát triển kinh tế gia đình, tăng thu nhập, cải thiện đời sống qua các hình thức kinh doanh như: nhà hàng, khách sạn, các dịch vụ giải trí, sản xuất và các nhà hàng lưu niệm… góp phần tăng thu nhập cho gia đình và địa phương
e Tăng nguồn thu ngoại tệ
Du lịch phát triển, nhất là du lịch quốc tế sẽ đem lại nguồn thu ngoại tệ thông qua hoạt động xuất nhập khẩu du lịch Ngành du lịch tạo nên sự biến đổi trong cơ cấu thu chi của đất nước, của vùng du lịch Đối với khách du lịch quốc tế, khi mang ngoại tệ đến đổi và chi tiêu ở các khu vực du lịch sẽ tăng tổng số tiền trong cán cân thu chi của vùng và của đất nước
Hoạt động du lịch là nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước, ở các nước phát triển nguồn thu từ du lịch chiếm tới 20% nguồn thu ngoại tệ của đất nước Nguồn thu này thường được sử dụng để mua sắm máy móc, trang thiết bị cần thiết cho quá trình
Trang 21tái sản suất xã hội, góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật cho đất nước
1.2.2 Đối với sự ổn định chính trị xã hội
Ngành du lịch có tác động đến nhiều mặt của một đất nước và một vùng thông qua nhu cầu của du khách Du lịch được xem như là một “giấy thông hành của hòa bình” , đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Chính du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau, có nền văn hóa và trình độ phát triển khác nhau xích lại gần nhau hơn, hiểu nhau hơn và tăng thêm tình đoàn kết cộng đồng Du lịch là chiếc cầu nối các dân tộc trên thế giới lại với nhau, là công cụ, là môi trường thuận lợi góp phần củng cố hòa bình, giao lưu quốc tế giữa các dân tộc trên phạm vi toàn cầu
Những chuyến du lịch, tham quan tại các di tích lịch sử, các công trình văn hóa, thắng cảnh giúp mỗi người dân hiểu biết nhiều hơn về đất nước mình, từ đó giáo dục tinh thần yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc
Ngoài ý nghĩa về chính trị thì du lịch cũng đem lại nhiều ý nghĩa về mặt xã hội Thông qua du lịch, con người được thỏa mãn trí tò mò, mở mang hiểu biết lẫn nhau, hiểu biết về văn hóa, lịch sử, phong tục, tập quán ở đất nước mình và trên thế giới Trong một chừng mực nào đó, du lịch còn có vai trò giữ gìn, phục hồi sức khỏe cho con người, hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động cho con người
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành du lịch
1.3.1 Các nhân tố tự nhiên
Bất kì một nền kinh tế muốn phát triển được thì trước thì trước hết phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện tự nhiên, là cơ sở đầu tiên cho việc khai thác, xây dựng và phát triển kinh tế Đặc biệt ngành du lịch lại càng gắn bó mật thiết và liên quan chặt chẽ đến các điều kiện tự nhiên hơn nữa Các thành phần tự nhiên, cảnh quan thiên nhiên
có thể đem lại sức hút cho du khách, vì vậy chúng được sử dụng vào mục đích phát triển du lịch và trở thành tài nguyên du lịch tự nhiên, các thành phần tự nhiên đó gồm:
a Vị trí địa lí
Vị trí địa lí là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển du lịch Khoảng cánh từ địa điểm du lịch đến nơi ở của khách du lịch quyết định đến số lượng du khách, sự tăng hay giảm của doanh thu du lịch Những điểm ở gần trung tâm du lịch, có vị trí
Trang 22thuận lợi sẽ thu hút khách du lịch, những nơi xa trung tâm du lịch sẽ hạn chế du khách do tốn thời gian và chi phí đi lại của du khách Nhưng trong một số trường hợp, với những du khách có khả năng thanh toán cao, có tính hiếu kì trước những điều mới lạ thì những địa điểm ở xa nơi cư trú lại có sức hấp dẫn lớn
b Địa hình
Địa hình đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần tạo nên phong cảnh và sự
đa dạng của cảnh quan du lịch Ở những nơi địa hình càng tương phản, càng độc đáo thì càng có sức hấp dẫn du khách Khách du lịch thường thích những dạng địa hình đồi núi, địa hình bờ biển, địa hình caxtơ Địa hình núi là nơi thuận lợi để tổ chức các hình thức du lịch mạo hiểm leo núi, nhảy dù… hay xây dựng các nhà nghỉ dưỡng Ở địa hình bờ biển có thể tổ chức tham quan du lịch, tắm biển, lướt ván, câu cá… Đặc biệt kiểu địa hình caxtơ như núi và hang động caxtơ là những dạng tài nguyên du lịch rất có giá trị Trên thế giới đã đưa vào khai thác hàng ngàn hang động, núi đá vôi, thu hút một khối lượng du khách lớn trong tổng du khách toàn cầu Ở Việt Nam, địa hình caxtơ rất phổ biến từ Quảng Bình ra Bắc, với hệ thống hang động, núi đá vôi kì vĩ như Phong Nha – Kẻ Bàng, Vịnh Hạ Long…hàng năm thu hút hàng triệu lượt du khách đến tham quan, đem lại nguồn thu lớn cho du lịch nước ta
Ngoài việc tạo nên những phong cảnh đẹp thì địa hình còn có tác động rất lớn đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng – vật chất kĩ thuật phục vụ cho các nhu cầu của du khách
d Thủy văn
Đây là một yếu tố không thể thiếu được để duy trì sự sống và các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người Trong hoạt động du lịch, nước được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau Tài nguyên nước phân bố trên khắp thế giới như trong các biển,
Trang 23đại dương, sông, hồ…và nhiều nơi trên thế giới đã xây dựng những khu nghĩ dưỡng ven hồ, ven biển… thu hút lượng lớn du khách đến nghỉ ngơi Dọc các sông, hồ, suối
có thể tổ chức các hoạt động du lịch như câu cá, bơi thuyền, nghỉ dưỡng… Trong tài nguyên nước, cần phải nói đến tài nguyên nước khoáng, đây là loại tài nguyên có giá trị về du lịch an dưỡng và chữa bệnh
e Sinh vật
Thế giới động vật và thực vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của ngành du lịch thông qua sự đa dạng và tính đặc hữu Hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về với thiên nhiên, tham quan các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên ngày càng lớn Đây cũng là nơi thu hút đông lượng du khách đến tham quan Các loài động thực vật quý hiếm, nhất là những loài đặc hữu có sức hấp dẫn mạnh đối với du khách từ nơi xa đến, vì vậy, du lịch về với thiên nhiên đang dần trở thành một xu thế và nhu cầu phổ biến đối với du khách Tuy nhiên, không phải bất kì mọi tài nguyên động thực vật đều trở thành đối tượng tham quan của du lịch Để phục vụ mục đích du lịch khác nhau, người ta đưa ra các chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu phục vụ mục đích tham quan du lịch
+ Thảm thực vật phong phú, độc đáo và điển hình
+ Có loài đặc trưng cho khu vực, loài đặc hữu, loài quý hiếm đối với thế giới và trong nước
+ Có một số động vật ( thú, chim, bò sát, cá…) phong phú hoặc điển hình cho vùng + Có các loại khai thác đặc sản phục vụ nhu cầu của du khách
+ Thực, động vật có màu sắc hấp dẫn, vui mắt, một số loài phổ biến, dễ quan sát bằng mắt thường, ống nhòm hoặc nghe tiếng hót, tiếng kêu và có thể chụp ảnh được + Đường sá thuận tiện cho việc đi lại tham quan, vui chơi của khách
Ngoài ra, người ta còn đưa ra một số chỉ tiêu nhằm mục đích săn bắn thể thao hay nghiên cứu khoa học Tóm lại, tài nguyên động thực vật có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành du lịch
2.1.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội
a Dân cư và nguồn lao động
Dân cư vừa là lực lượng lao động sản xuất quan trọng của xã hội, đồng thời vừa là thị trường tiêu thụ các sản phẩm của các ngành sản xuất, trong đó có du lịch Cùng
Trang 24với các hoạt động lao động, sản xuất ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu của cá nhân
và xã hội thì mỗi người còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch Nhu cầu du lịch của mỗi người tùy thuộc vào đặc điểm của xã hội, nhân khẩu, mức thu nhập của bản thân, đặc điểm kết cấu dân cư theo nghề nghiệp, theo lứa tuổi Mỗi lứa tuổi khác nhau sẽ có nhu cầu du lịch khác nhau và lựa chọn các loại hình du lịch khác nhau Ví dụ như giới trẻ thường thích du lịch những nơi có thể tổ chức các hoạt động mạnh: thể thao, trò chơi mạo hiểm, leo núi… Những người già lại thích những nơi yên tĩnh có thể nghỉ dưỡng, chữa bệnh…
Sự phát triển du lịch còn tùy thuộc vào trình độ văn hóa chung của dân cư Nếu đất nước đó dân cư có trình độ văn hóa cao, nhu cầu đi du lịch của cộng đồng sẽ tăng lên
rõ rệt Đặc biệt là ở các nước phát triển thì du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống tinh thần của người dân Ngày nay, du lịch được xem như
là một tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân
b Sự phát triển các ngành kinh tế và mức thu nhập bình quân đầu người
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có vai trò quyết định làm xuất hiện nhu cầu
du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực Một đất nước còn ở trong tình trạng kém phát triển, thu nhập của người dân thấp thì không thể phát triển ngành du lịch Ở các nước có nền kinh tế chậm phát triển thì nhu cầu về du lịch và trình độ phát triển ngành du lịch nhìn chung còn hạn chế Ngược lại, nhu cầu và loại hình du lịch ở các nước có nền kinh tế phát triển lại phong phú và đa dạng: đó là nhu cầu du lịch cuối tuần, các kì nghỉ dài ngày hay tổ chức các chuyến du lịch ra nước ngoài…
Nền kinh tế phát triển làm cho người dân có mức sống cao hơn, do đó họ có khả năng thanh toán cao những chi phí của chuyến du lịch trong nước cũng như nước ngoài Vì vậy, có thể nói thu nhập của dân cư là chỉ tiêu quan trọng và điều kiện vật chất để con người có thể đi du lịch, khi thu nhập tăng thì mức tiêu dùng du lịch và cơ cấu tiêu dùng du lịch cũng tăng theo
c Các nhân tố chính trị
Đây là nhân tố đặc biệt quan trọng, có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển ngành du lịch của một quốc gia Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện đất nước hòa bình, có sự hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc, các quốc gia Nếu đất nước có chiến tranh, mất ổn định về chính trị, gây tổn thất cho các công trình, cơ sở hạ tầng và môi trường du lịch Do đó, sự ổn định về chính trị là tiền đề để
Trang 25đẩy mạnh phát triển du lịch của một quốc gia, qua đó thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc trong nước và các nước khác trên thế giới
d Các chính sách nhà nước
Hiện nay, du lịch đã trở thành ngành kinh tế quan trọng đối với nhiều quốc gia trên thế giới Vì vậy, nhà nước luôn khuyến khích và phát triển ngành du lịch nhằm thu hút khách du lịch từ trong nước cũng như quốc tế, từ đó tăng nguồn thu từ ngành
du lịch Ở nước ta, nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm đẩy mạnh hoạt động du lịch như hỗ trợ tiền thuê đất để xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch, hỗ trợ về tín dụng với lãi suất ưu đãi để tăng thêm nguồn vốn cho phát triển du lịch, hay chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực nhằm nâng cao chất lượng lao động cho ngành du lịch… Có thể nói rằng nếu một quốc gia có điều kiện kinh tế và văn hóa – xã hội để phát triển
du lịch nhưng chính sách hỗ trợ cho ngành du lịch của nhà nước đó không phù hợp và chưa tương xứng thì ngành du lịch của quốc gia đó sẽ không mang lại hiệu quả cao
e Các di sản, di tích lịch sử và lễ hội truyền thống
Các di sản, di tích lịch sử-văn hóa là tài sản văn hóa qúy giá của mỗi địa phương, mỗi một dân tộc và đất nước Các tài nguyên này có sức hút rất lớn đối với những du khách ham hiểu biết và muốn mở rộng kiến thức của mình như các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên… Mỗi di sản, di tích lịch sử - văn hóa của từng địa phương đều mang nhưng nét độc đáo và có ý nghĩa riêng, nếu các cấp chính quyền địa phương có chính sách khai thác đúng đắn vừa đem lại nguồn thu nhập từ du lịch, vừa góp phần giáo dục ý thức bảo vệ các giá trị tinh thần của nhân dân
Ngoài ra, các lễ hội cũng tạo nên những nét riêng cho từng địa phương, từng khu vực du lịch Đây là kho báu quý giá của quá khứ để lại cho thế hệ hiện tại Các lễ hội dân tộc, các cuộc hành hương về cội nguồn, những cuộc đua thuyền truyền thống…
đã thu hút hàng ngàn du khách đến với các địa phương diễn ra các lễ hội, tăng số lượng du khách và doanh thu trong năm
Trang 26CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở KHU DU LỊCH BIỂN
CỬA VIỆT – TỈNH QUẢNG TRỊ GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
2.1 Khái quát chung về tỉnh Quảng Trị
2.1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Vị trí địa lí: Tỉnh Quảng Trị thuộc vùng Bắc Trung Bộ, tọa độ địa lý từ 16018’ đến
17010’ vĩ độ Bắc, 106032’ đến 107034’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Phía Nam giáp huyện Phong Điền và A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế Phía Đông giáp Biển Đông Phía Tây giáp tỉnh Savanakhet và Salavan, nước CHDCND Lào Tỉnh có 1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện
Quảng Trị có lợi thế về địa lý - kinh tế, là đầu mối giao thông, nằm ở trung điểm đất nước, ở vị trí quan trọng - điểm đầu trên tuyến đường huyết mạch chính của hành lang kinh tế Đông - Tây nối với Lào - Thái Lan - Mianmar qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo đến các cảng biển Miền Trung như: Cửa Việt, Chân Mây, Đà Nẵng, Vũng Áng Quảng Trị có điều kiện giao thông khá thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ Qua địa phận Quảng Trị có các tuyến giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh (nhánh Đông và nhánh Tây), tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy dọc qua tỉnh, và Quốc lộ 9 gắn với đường xuyên Á cho phép Quảng Trị có thể giao lưu kinh tế với các tỉnh trong vùng và cả nước Cảng Cửa Việt là một trong những cảng biển có thể phục vụ cho vận chuyển hàng hóa trong vùng và trung chuyển hàng hóa qua đường Xuyên Á Cách không xa trung tâm tỉnh lỵ Đông Hà có sân bay Phú Bài - Thừa Thiên Huế (khoảng 80 km) và sân bay quốc tế Đà Nẵng (khoảng 150 km) Chính vị trí địa lí này đã tạo thuận lợi cho tỉnh Quảng Trị mở rộng hợp tác kinh tế trong khu vực, giao thương hàng hóa, vận tải quốc tế, phát triển thương mại nói chung, dịch vụ và du lịch nói riêng
Địa hình: Về điều kiện địa hình, Quảng Trị như một Việt Nam thu nhỏ với trên 4/5
diện tích là đồi núi, nơi phong phú các hệ sinh thái từ núi trung bình, núi thấp, cao nguyên bazan, karst, đến gò đồi, đồng bằng ven biển, cồn-trằm, cửa sông và đảo-biển Nhìn chung địa hình Quảng Trị có dạng bậc, từ đông sang tây, cũng là từ biển vào lục địa, địa hình nâng cao dần, lần lượt là các đồng bằng cồn cát ven biển, đồng bằng bồi tích sông-biển, vùng gò đồi thấp và cao, chuyển lên vùng núi thấp và trung bình, sau đó địa hình thấp xuống với bậc núi thấp và thung lũng, giáp biên giới phía Tây
Trang 27Các khối núi thấp và trung bình tập trung chủ yếu ở phía tây bắc của lãnh thổ (Động
Sá Mùi 1617 m, Động Voi Mẹp 1701 m…), một số dãy núi thấp-trung bình phân bố ở phía nam, thuộc huyện Đakrông (Động Ca Cút 1405 m) Các dãy, khối núi thấp và trung bình là phần tiếp tục của dải Trường Sơn Bắc từ Nghệ An kéo dài; nhưng đến Quảng Trị, Trường Sơn Bắc hầu như bị cắt thành 2 đoạn bởi thung lũng xuyên ngang Đakrông-Quảng Trị, với điểm thấp nhất của đường chia nước là 370 m, tạo một hành lang Đông-Tây thuận lợi nhất của Bắc Trung Bộ
Địa mạo Quảng Trị rất phong phú và đa dạng bao gồm: 9 nhóm, 36 dạng địa hình Mỗi một dạng nguồn gốc được đặc trưng bởi hình thái, cấu trúc, lớp phủ bề mặt, trạng thái động lực và thời gian thành tạo Trong đó nhóm nguồn gốc địa hình bóc mòn và địa hình dòng chảy là đa dạng hơn cả Chạy dọc suốt hơn 75km đường bờ biển là các bãi cát, trong đó có nhiều bãi biển đẹp như : Cửa Việt, Cửa Tùng, Mỹ Thủy…
Với một địa hình đa dạng, Quảng Trị có tiềm năng lớn trong việc phát triển kinh tế nói chung cũng như du lịch nói riêng
Khí hậu: Quảng Trị nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Bắc Trung Bộ, có
nền nhiệt độ cao, chế độ ánh sáng và mưa, ẩm dồi dào… với 2 mùa là: mùa nóng và mùa lạnh Nhiệt độ trung bình năm từ 220-250C Mùa lạnh có 3 tháng (12 và 1, 2 năm sau), nhiệt độ xuống thấp, tháng lạnh nhất nhiệt độ xuống dưới 220C ở đồng bằng, dưới 200C ở độ cao trên 500 m Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 8 nhiệt độ cao trung bình 280C, tháng nóng nhất từ tháng 6, 7, nhiệt độ tối cao có thể lên tới 400-
420C Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.200 - 2.500 mm, số ngày mưa trong năm dao động từ 154-190 ngày Chế độ mưa ở Quảng Trị biến động rất mạnh theo các mùa và cả các năm Trên 70% lượng mưa tập trung vào các tháng 9, 10, 11 Có năm lượng mưa trong 1 tháng mùa mưa chiếm xấp xỉ 65% lượng mưa trung bình nhiều năm Mùa khô thường từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau, khô nhất vào tháng 7, đây là thời kỳ có gió Tây Nam thịnh hành Tỉnh Quảng Trị chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính là gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc Đặc biệt gió Tây Nam khô nóng ở Quảng Trị là hiện tượng rất điển hình, được đánh giá là dữ dội nhất ở nước ta Gió Tây Nam khô nóng làm ảnh hưởng không nhỏ tới các hoạt động kinh tế
- xã hội, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Quảng Trị nằm trong khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của bão Mùa bão thường tập trung vào các tháng 9 và 10 Bão có cường
Trang 28suất gió mạnh kèm theo mưa lớn tạo ra lũ quét ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư
Nhìn chung, khí hậu Quảng Trị mang tính chuyển tiếp giữa khí hậu miền Bắc và khí hậu miền Nam, đồng thời có sự phân hoá giữa khí hậu Đông và Tây Trường Sơn
Do đó, tương đối thuận lợi cho việc phát triển và đa dạng các loại hình du lịch Tuy nhiên, các hiện tượng thời tiết như bão, lũ… cũng là rào cản lớn cho sinh hoạt và các hoạt động du lịch
Thủy văn: Quảng Trị có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, mật độ trung bình 0,8-1
km/km2 Do đặc điểm địa hình bề ngang hẹp, có dãy Trường Sơn núi cao ở phía Tây nên các sông của Quảng Trị có đặc điểm chung là ngắn và dốc Toàn tỉnh có 12 con sông lớn nhỏ, tạo thành 03 hệ thống sông chính là sông Bến Hải, sông Thạch Hãn và sông Ô Lâu Trong đó hệ thống sông Thạch Hãn có chiều dài 155 km, diện tích lưu vực lớn nhất 2.660 km2 Nhánh sông chính là Thạch Hãn bắt nguồn từ các dãy núi lớn Động Sa Mui, Động Voi Mẹp… Sông Thạch Hãn đổ ra biển ở Cửa Việt Trong tỉnh còn có một số hồ lớn như hồ như Khe Mây, Trúc Kinh… Ngoài ra còn phải kể đến các mỏ nước khoáng nóng được phát hiện ở Tân Lâm (huyện Cam Lộ), Ba Ngao, Làng Rượu, Na Lân (huyện Đakrông) Các điểm nước khoáng này đều có lưu lượng khoảng 0,4 - 4 l/s, nhiệt độ 45 - 700C, trong đó điểm làng Rượu có lưu lượng lớn nhất (4 l/s) và nhiệt độ cao nhất (700C) Tất cả các điểm nước khoáng nóng đều thuộc nhóm nước khoáng cacbonic
Về đặc điểm hải văn: Quảng Trị có bờ biển dài 75km, nước biển thường xuyên
ấm áp, là nơi cư trú nhiều hải sản Thuỷ triều trên dải bờ biển Quảng Trị có chế độ bán nhật triều không đều, gần ½ số ngày trong hàng tháng có 2 lần nước lớn, 2 lần nước ròng
Sinh vật: Quảng Trị cũng là tỉnh có hệ động – thực vật khá phong phú, bao gồm
động thực - vật biển và trên cạn
Sinh vật trên cạn: Động vật rừng cũng khá phong phú và đa dạng Hiện tại có khoảng 67 loài thú, 193 loài chim và 64 loài lưỡng cư bò sát (thuộc 17 họ, 3 bộ) đang sinh sống tại rừng Quảng Trị, trong đó 29 loài thú, 22 loài chim, 18 loài bò sát lưỡng
cư có trong sách đỏ Rừng Quảng Trị có khoảng 1.053 loại thực vật thuộc 528 chi,
130 họ, trong đó có 175 loài cây gỗ
Trang 29Quảng Trị còn có một vùng lãnh hải rộng lớn với nhiều loài hải sản có giá trị kinh
tế cao như tôm hùm, mực nang, cua, hải sâm Trữ lượng hải sản vùng biển tỉnh Quảng Trị có khoảng 60.000 tấn Khả năng khai thác hàng năm khoảng 17.000 tấn Với sự đa dạng sinh học khá cao, nên tiềm năng để Quảng Trị phát triển du lịch sinh thái là rất lớn
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Kinh tế
Quảng Trị là một tỉnh nghèo so với cả nước, điểm xuất phát thấp, nông nghiệp còn chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu GDP Tuy nhiên, bằng những nỗ lực của mình, trong những năm gần đây kinh tế xã hội của tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2005-2009 đạt trên 11%, thu nhập bình quân đầu người năm 2009 là 13,7 triệu đồng (khoảng 800 USD/ người); Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng trong GDP của ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 34,7%, ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 29,9 %, ngành dịch vụ chiếm 35,4%
Sản xuất công nghiệp: Đang có bước phát triển khá Giá trị sản xuất công nghiệp
trong giai đoạn 2005 - 2009 tăng bình quân 26,84%/năm Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu là vật liệu xây dựng, cơ khí, khai khoáng, và chế biến các sản phẩm nông - lâm - thủy hải sản Khu Kinh tế Thương mại Đặc biệt Lao Bảo, Khu công nghiệp Nam Đông Hà, Quán Ngang và một số cụm công nghiệp đã và đang được các nhà đầu tư quan tâm đầu tư kinh doanh, sản xuất Khu kinh tế Đông Nam của tỉnh gắn với cảng biển Mỹ Thủy đã được đưa vào quy hoạch Nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp được triển khai xây dựng và đưa vào sản xuất, bước đầu tạo ra các sản phẩm công nghiệp Các ngành nghề truyền thống từng bước được khôi phục và phát triển
Sản xuất nông nghiệp: Thế mạnh là sản xuất lương thực, cây công nghiệp dài
ngày: cao su, hồ tiêu, cà phê; trồng rừng; chăn nuôi trang trại; nuôi trồng và đánh bắt hải sản Sản lượng lương thực có hạt năm 2009 đạt 22,05 vạn tấn Cơ cấu cây trồng, vật nuôi đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa Diện tích cây công nghiệp dài ngày hiện có trên 14.000 ha cao su; 4.200 ha cà phê; 2.200 ha hồ tiêu, và đang tiếp tục tăng lên hàng năm
Thu hút đầu tư: Đến cuối năm 2009, tỉnh đã thu hút được 144 dự án đầu tư trong
và ngoài nước với tổng số vốn đầu tư đăng ký khoảng 24.034 tỷ đồng, trong đó có 8
Trang 30dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đầu tư khoảng 616 tỷ đồng Đã có 51
dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, đạt hiệu quả cao như: Nhà máy sản xuất
gỗ MDF GERUCO (450 tỷ đồng), nhà máy sản xuất thạch cao - ximăng (vốn đầu tư
120 tỷ đồng), nhà máy dệt may Hoà Thọ (54 tỷ đồng), nhà máy sản xuất nước uống tăng lực super horse, nhà máy sản xuất xăm lốp xe máy Camel, nhà máy lắp ráp điện thoại di động ICALL Ngoài ra, có một số dự án đầu tư trong và ngoài nước đang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thành, đi vào hoạt động
Thương mại và du lịch: Đây là ngành có nhiều tiềm năng phát triển Trung tâm
thương mại Đông Hà, khu kinh tế Thương mại đặc biệt Lao Bảo đang phát huy tác dụng tốt, là những trung tâm động lực phát triển kinh tế của tỉnh Hệ thống chợ được quy hoạch và xây dựng khá đồng bộ
Hoạt động du lịch đang được quan tâm tăng cường đầu tư phát triển mạnh, đã hình thành một số tuyến điểm có quy mô quốc gia, quốc tế Hoạt động quảng bá du lịch đã được chú trọng, doanh thu du lịch ngày càng cao Cơ sở hạ tầng du lịch ngày càng hoàn thiện, số nhà nghỉ, nhà hàng, khách sạn tăng
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội: Hệ thống giao thông thuận lợi, bao gồm cả
đường bộ, đường sắt và đường thủy: Quốc lộ 1A, Đường Hồ Chí Minh, đường sắt chạy xuyên qua tỉnh theo hướng Bắc – Nam, Quốc lộ 9 gắn với Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo chạy theo hướng Đông – Tây; cảng Cửa Việt đang được đầu tư nâng cấp để đón tàu có trọng tải 5.000 đến 6.500 DWT Cảng biển Mỹ Thủy có khả năng đón tàu có trọng tải 50.000 DWT ra vào thuận lợi đã được Chính phủ phê duyệt quy hoạch và đang được tỉnh đẩy mạnh xúc tiến đầu tư xây dựng Bưu chính viễn thông phát triển,
có mạng cáp quang trang bị đến 100% huyện và thị xã Hệ thống cấp điện, nước dùng cho sinh hoạt và sản xuất được đảm bảo; Các dịch vụ vận tải, ngân hàng, bảo hiểm, y tế, giáo dục đang phát triển nhanh chóng
- Xã hội
Dân số : Năm 2010 dân số trung bình của tỉnh là 601.672 người Toàn tỉnh có
136.743 hộ gia đình, bình quân 4,4 nhân khẩu/hộ Dân số thành thị có 170.073 người, chiếm 28,31% Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 1,05% năm 2007 và 1,12% năm 2010; dân số cơ học tăng không đáng kể Bình quân mỗi năm dân số trung bình toàn
tỉnh tăng thêm khoảng 5.000-6.000 người
Trang 31Trong cơ cấu dân số phân theo giới tính, nữ chiếm 50,3%, nam chiếm 49,7%; phân theo độ tuổi, từ 0-59 tuổi chiếm khoảng 90,9%, chỉ tiêu này cho thấy đây là cơ cấu dân số trẻ, riêng dân số dưới 15 tuổi chiếm 37,9%, đây là lực lượng lao động dự trữ dồi dào của tỉnh
Mật độ dân số toàn tỉnh là 126,7 người/km2, thuộc loại thấp so với các tỉnh, thành khác trong cả nước Dân cư phân bố không đều giữa các vùng lãnh thổ, tập trung đông ở các thành phố, thị xã, các huyện đồng bằng như thị xã Quảng Trị: 308 người/km2, thị xã Đông Hà: 1.157 người/km2, trong khi đó huyện Đakrông chỉ có 29 người/km2, Hướng Hoá 64 người/km2 Sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các vùng gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc xây dựng các công trình hạ tầng giao thông, điện, nước, thủy lợi, trường học, trạm y tế phục vụ sản xuất và dân sinh ở những vùng có địa hình núi cao, chia cắt, thưa dân
Nguồn nhân lực: Năm 2010 toàn tỉnh có 346.287 nghìn người trong độ tuổi lao
động, chiếm khoảng 57,5% dân số, số người trong độ tuổi lao động tăng thêm bình quân mỗi năm khoảng 3.000 - 4.000 người Đội ngũ lao động được đào tạo, có chuyên môn kỹ thuật của tỉnh còn hạn chế Số người đạt trình độ từ sơ cấp, có chứng chỉ nghề trở lên chiếm 26% (trong đó cao đẳng, đại học trở lên chiếm 4,4%; trung học chuyên nghiệp 5,9%; công nhân kỹ thuật có bằng 1,5%, công nhân kỹ thuật không bằng 8,3%, sơ cấp/chứng chỉ nghề 2,9%) Còn lại phần lớn là lao động không
có chuyên môn kỹ thuật chiếm 74% Phần lớn lao động trên địa bàn tỉnh làm việc trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp (năm 2010 chiếm tỷ lệ 55%); lao động trong các lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ có xu hướng chiếm tỉ trọng ngày
càng tăng trong cơ cấu lao động xã hội
Nhìn chung, trình độ và tay nghề đội ngũ lao động còn thấp, lực lượng lao động phục vụ cho ngành du lịch còn yếu và thiếu Vì vậy, vấn đề đặt ra là tỉnh cần đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực, phát huy yếu tố nội lực con người là nhiệm
vụ cấp bách trước mắt cũng như chiến lược lâu dài của tỉnh nhằm đáp ứng kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế
Trang 322.2 Tiềm năng phát triển du lịch ở khu du lịch biển Cửa Việt – tỉnh Quảng Trị 2.2.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
a Vị trí địa lí
Biển Cửa Việt thuộc địa phận thị trấn Cửa Việt – huyện Gio Linh – tỉnh Quảng Trị, nằm cách thị xã Đông Hà 15km về phía Đông Nam, đây là bãi tắm có diện tích rộng, gần cảng lớn, nước sạch, bãi cát thoai thoải dài theo những rặng dương xanh ven biển
- Phía Bắc giáp địa bàn xã Gio Hải là nơi cung ứng lương thực, thực phẩm tương đối lớn trong vùng
- Phía Nam là hạ lưu sông Hiếu, là cửa biển thuận tiện, trên bến dưới thuyền nhộn nhịp đông vui
- Phía Đông giáp Biển Đông
- Phía Tây giáp xã Gio Việt và xã Gio Thành
Hiện nay, khu du lịch biển Cửa Việt được quy hoạch vởi tổng diện tích 318,4ha, trước tiên sẽ quy hoạch, xây dựng trước 143ha Nơi đây đang được Tổng cục du lịch Việt Nam quy hoạch để phát triển tổ hợp du lịch ven biển Cửa Việt – Cửa Tùng – đảo Cồn Cỏ với tổng diện tích 746 ha nằm trải dài ven biển từ Cửa Tùng đến Cửa Việt
Khu du lịch biển Cửa Việt có vị trí địa lí rất thuận lợi, với điểm cuối của Quốc lộ
9, thuộc tuyến đường Xuyên Á nối từ cảng Cửa Việt đến Lào - Đông Bắc Thái Lan - Myanma , rất thuận tiện cho giao thông buôn bán và đi lại của người dân Từ Thị trấn Cửa Việt đến thành phố Đông Hà khoảng 15 km về phía Tây Nam, đến huyện lị Gio Linh 10 km về phía Tây Bắc và về phía Bắc đến Thị trấn Cửa Tùng 15 km Ngoài ra, đến với Cửa Việt chúng ta có thể đi bằng đường thủy qua cửa biển hay theo dọc sông Hiếu, cảng Cửa Việt lại ở ngay gần khu du lịch Đây là những điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật, nâng cấp hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc nhằm đẩy mạnh hoạt động du lịch
b Địa hình
Bãi biển Cửa Việt như cánh cung trải dài hơn 2km, bắt đầu từ cửa biển nơi con sông Thạch Hãn đổ ra biển cho đến xã Gio Hải Khu vực nằm trong vùng cát bồi trầm tích ven biển nên độ dốc không đáng kể, hướng dốc chung từ Tây sang Đông
Xa xa trong làn sương sớm, hòn đảo Cồn Cỏ nhô lên trên nền trời trong vắt tạo nên một phong cảnh bình minh tuyệt đẹp Bãi biển bằng phẳng với một dãi cát trắng