1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu hiện trạng phát triển du lịch ở khu du lịch biển cửa việt – tỉnh quảng trị giai đoạn 2006 2010 định hướng và giải pháp phát triển đến năm 2020

64 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (6)
  • 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu (8)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (8)
    • 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu (8)
  • 3. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu (8)
  • 4. Lịch sử nghiên c ứu (8)
  • 5. Quan điểm nghiên cứu (9)
    • 5.1. Quan điểm hệ thống (9)
    • 5.2. Quan điểm tổng hợp (0)
    • 5.3. Quan điểm sinh thái (9)
    • 5.4. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh (10)
  • 6. Phương pháp nghiên cứu (10)
    • 6.1. Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu (0)
    • 6.2. Phương pháp bản đồ, biều đồ (10)
    • 6.3. Phương pháp thực địa (10)
  • 7. Bố cục của đề tài (11)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG (12)
    • 1.1. Các khái niệm (12)
      • 1.1.1. Du lịch (12)
      • 1.1.2. Du khách (13)
      • 1.1.3. Khu du lịch, điểm du lịch (14)
      • 1.1.4. Tài nguyên du lịch (16)
      • 1.1.5. Cơ sở lưu trú du lịch (17)
    • 1.2. Vai trò của du lịch (19)
      • 1.2.1. Đối với sự phát triển kinh tế (19)
      • 1.2.2. Đối với sự ổn định chính trị xã hội (0)
    • 1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành du lịch (21)
      • 1.3.1. Các nhân tố tự nhiên (21)
      • 2.1.2. Các nhân tố kinh tế - xã hội (23)
    • 2.1. Khái quát chung về tỉnh Quảng Trị (26)
      • 2.1.1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên (26)
      • 2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (29)
    • 2.2. Tiềm năng phát triển du lịch ở khu du lịch biển Cửa Việt – tỉnh Quảng Trị (32)
      • 2.2.1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên (32)
      • 2.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (34)
    • 2.3. Hiện trạng phát triển du lịch ở khu du lịch biển Cửa Việt từ 2006 – 2010 (37)
      • 2.3.1. Về lượng khách (0)
      • 2.3.2. Doanh thu (40)
      • 2.3.3. Thị trường khách du lịch (41)
      • 2.3.4. Các sản phẩm du lịch (42)
      • 2.3.5. Hoạt động đ ầu tư, xúc tiến, quảng bá du lịch (43)
      • 2.3.6. Hiện trạng môi trường phát triển du lịch (45)
    • 2.4. Nhận xét, đánh giá chung (0)
      • 2.4.1. Những kết quả đạt được (46)
      • 2.4.2. Những tồn tại (46)
  • CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHU DU LỊCH BIỂN CỬA VIỆT ĐẾN 2020. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN (48)
    • 3.1. Định hướng phát triển (48)
      • 3.1.1. Định hướng chung (48)
      • 3.1.2. Định hướng cụ thể (49)
    • 3.2. Một số giải pháp phát triển (51)
      • 3.2.1. Giải pháp về công tác tuyên truyền, xúc tiến quảng bá du lịch (51)
      • 3.2.3. Giải pháp về đầu tư và chính sách đầu tư (55)
      • 3.2.4. Giải pháp về đa dạng hóa sản phẩm du lịch (55)
      • 3.2.5. Tạo môi trường du lịch xanh - sạch - đẹp về cảnh quan, lành mạnh về văn hóa và an to àn về chính trị (0)

Nội dung

Nhiệm vụ nghiên cứu - Thu thập các tài liệu, số liệu liên quan đến hoạt động của khu du lịch biển Cửa Việt.. Để nghiên cứu về tài nguyên du lịch, tình hình phát triển của một điểm du l

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng phát triển du lịch ở khu du lịch biển Cửa Việt – tỉnh Quảng Trị

- Tìm hiểu một số định hướng và giải pháp góp phần phát triển du lịch biển Cửa Việt.

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thu thập các tài liệu, số liệu liên quan đến hoạt động của khu du lịch biển Cửa Việt

- Nhận xét, đánh giá hiện trạng phát triển du lịch của khu du lịch biển Cửa Việt

- Tìm hiểu một số định hướng và đề xuất các giải pháp phát triển.

Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Tìm hiểu hiện trạng phát triển khu du lịch biển Cửa Việt – tỉnh Quảng Trị Định hướng và giải pháp phát triển

- Về thời gian: Tình hình phát triển khu du lịch từ 2006 – 2010 và định hướng đến năm 2020

- Về lãnh thổ : Nghiên cứu trên phạm vi khu du lịch biển Cửa Việt – tỉnh Quảng Trị.

Lịch sử nghiên c ứu

Ngày nay, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia cũng như nhiều địa phương Và việc nghiên cứu, phát triển du lịch ngày càng được đẩy mạnh hơn, không ít các công trình nghiên cứu về du lịch, nhiều đề tài, bài báo đã được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng Nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà kinh tế, nhà giáo và cả sinh viên cũng đã tham gia nghiên cứu, viết bài về đề tài du lịch

Liên quan đến du lịch Quảng Trị nói chung và khu du lịch biển Cửa Việt nói riêng đã có một số bài viết, đề tài nghiên cứu, bài báo khoa học được đăng tải như:

- Đào Đình Bắc - Quy hoạch du lịch (NXB Hà Nội)

- Non nước Việt Nam – Tổng cục du lịch Việt Nam ( 2008 )

- Nguyễn Bích San – Cẩm nang hướng dẫn dẫn du lịch ( NXB văn hóa thông tin)

- Quy hoạch du lịch Quảng Trị giai đoạn 2007 – 2010, tầm nhìn đến 2020 ( 2007)

- Phát triển du lịch Quảng Trị trong bối cảnh mới - TS Nguyễn Phú Đức

- Sở văn hóa – thể thao và du lịch Quảng Trị (2004) – Du lịch Quảng Trị - hội nhập và phát triển

- Sở văn hóa – thể thao và du lịch Quảng Trị (2005) – Góp phần xây dựng du lịch đặc sắc và hấp dẫn riêng của Quảng Trị (Kỉ yếu – hội thảo du lịch)

- Cửa Việt – thành phố biển trong tương lai ( báo QĐND, số ra ngày 01/02/2010 ) Phần lớn đó là các bài viết của các nhà khoa học và của sở văn hóa – thể thao và du lịch tỉnh Quảng Trị, đề cập đến vấn đề du lịch chung của nhiều vùng miền cũng như trong tỉnh Quảng Trị, chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể và đánh giá nào về khu du lịch biển Cửa Việt.

Quan điểm nghiên cứu

Quan điểm hệ thống

Địa lý một vùng là một hệ thống gồm nhiều thành phần có mối quan hệ tương tác lẫn nhau như: phân hệ khách du lịch, tổng thể tự nhiên, công trình kĩ thuật, văn hóa – xã hội… Vì vậy, khi nghiên cứu một thành phần nào đó phải đặt trong hệ thống của lãnh thổ đó Cũng như đề tài này nghiên cứu hiện trạng phát triển du lịch ở khu du lịch biển Cửa Việt phải đặt trong hệ thống các yếu tố tự nhiên, kinh tế- xã hội của một vùng Từ đó có cái nhìn tổng hợp trong các mối quan hệ đa phương và tránh sai sót khi nghiên cứu

5.2 Quan điểm tổng hợp

Tài nguyên du lịch là hệ thống các yếu tố về tự nhiên và kinh tế – xã hội để phát triển du lịch trên một lãnh thổ nào đó Để nghiên cứu về tài nguyên du lịch, tình hình phát triển của một điểm du lịch thì phải vận dụng quan điểm tổng hợp nhằm phát hiện ra các mối quan hệ, tác động qua lại, cấu trúc bên trong và động lực phát triển của nó Quan điểm này được vận dụng sau khi đã phân tích từng yếu tố, thành phần để phác họa nên tổng thể các điều kiện phát triển trên lãnh thổ nghiên cứu

Quan điểm sinh thái

Hiện nay, mục tiêu chiến lược của nhân loại là phát triển nền kinh tế bền vững, vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế đồng thời cũng bảo vệ và duy trì môi trường sinh thái, tạo nên sự bền vững được vận dụng nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch và con người, ảnh hưởng của tự nhiên đến sự phát triển du lịch.

Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Các yếu tố tự nhiên, dân cư, kinh tế trên một lãnh thổ đều có nguồn gốc phát sinh và phát triển, vì vậy mà quan điểm này được vận dụng để phân tích các số liệu trong một thời gian nhất định từ đó nghiên cứu và đánh giá thực trạng phát triển của ngành du lịch biển ở khu du lịch biển Cửa Việt, qua đó làm cơ sở để đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp bản đồ, biều đồ

Phương pháp này cho phép thu thập các thông tin về số lượng, chất lượng, phân bố, thực trạng khai thác của khu vực nghiên cứu Đồng thời sau khi nghiên cứu, điều tra, đánh giá, phương pháp bản đồ còn được sử dụng để thể hiện sự phân bố về số lượng, chất lượng, khả năng tồn tại và khai thác của đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ là công cụ để thể hiện tình hình phát triển của một đối tượng, hay sự thay đổi về chất và lượng của một đối tượng nghiên cứu nào đó, qua đó cho ta một cái nhìn tổng quan về sự thay đổi của đối tượng đó.

Phương pháp thực địa

Khảo sát thực địa là phương pháp truyền thống trong nghiên cứu địa lý đặc biệt là trong việc nghiên cứu hiện trạng phát triển du lịch Tác giả tiến hành khảo sát thực địa tại địa bàn, làm việc với cơ quan địa phương Kết quả điều tra thực địa là cơ sở ban đầu và là điều kiện thẩm định lại một số nhận định trong giáo trình nghiên cứu Thông qua đó đã cho phép đề ra những giải pháp khắc phục những nhược điểm, phát huy những ưu điểm Đây là phương pháp khoa học nhất để thu hút được số liệu tương đố chính xác về số lượng khách, nhu cầu sở thích của khách và những dịch vụ mà khách quan tâm.

Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, kiến nghị thì nội dung chính của đề tài được triển khai ra ba chương sau :

Chương 1: Cơ sở lý luận chung

Chương 2: Hiện trạng phát triển du lịch ở khu du lịch biển Cửa Việt – tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006 - 2010

Chương 3: Định hướng phát triển khu du lịch biển Cửa Việt đến 2020 và một số giải pháp

CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG

Các khái niệm

Ngày nay trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa – xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới Thuật ngữ du lịch trở nên rất thông dụng Nó bắt nguồn từ tiếng Pháp: ‘Tour’ nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn “ touriste” là người đi dạo chơi Du lịch gắn liền với việc nghỉ ngơi, giải trí nhằm hồi phục, nâng cao sức khỏe và khả năng lao động của con người, nhưng trước hết liên quan mật thiết với sự di chuyển nơi ở của họ Vậy du lịch là gì ?

Trong vòng hơn 6 thập kỉ vừa qua, kể từ khi thành lập Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch IUOTO năm 1925 tại Hà Lan, khái niệm du lịch luôn luôn được tranh luận và cho đến ngày nay khái niệm du lịch vẫn chưa có sự thống nhất Do có sự khác nhau về hoàn cảnh và góc độ nhận thức nên đã có nhiều quan điểm khác nhau về du lịch Năm 1963, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tại Roma đã đưa ra định nghĩa “ Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi đến không phải là nơi làm việc của họ”

Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì: “Du lịch là tổng hòa các mối quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội làm cơ sở nhất định, lấy chủ thể du lịch, khách du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện phát triển”

Trong giáo trình thống kê du lịch thì các tác giả lại định nghĩa : “Du lịch là một ngành kinh tế - xã hôi, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi hoặc kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác”

Theo I.I Pirogionic, 1985 thì: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa”

Theo pháp lệnh du lịch Việt Nam ban hành ngày 20/02/1999 thì: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghĩ dưỡng trong một thời gian nhất định”

Từ điển Bách Khoa toàn thư thì đã tách ra “Du lịch” thành hai thành phần riêng biệt:

- Du lịch là sự di chuyển và cư trú qua đêm tạm thời trong thời gian rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh có hoặc không kèm theo tiêu thụ một giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng

- Du lịch là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm, tạm thời và thời gian rỗi của các cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú bởi mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh

Như vậy có rất nhiều quan niệm về du lịch nhưng chúng ta có thể kết luận rằng du lịch là tổng thể những hoạt động và những mối quan hệ phát sinh qua lại lẫn nhau giữa du khách và các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội phục vụ du lịch Do đó để đẩy mạnh hoạt động du lịch đòi hỏi toàn xã hội đều có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ và đầu tư để du lịch ngày càng phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước

Gắn liền với hoạt động du lịch, khách du lịch được xem là yếu tố quyết định sự hoạt động của du lịch Đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về khách du lịch (du khách), nhưng hầu hết tất cả các định nghĩa đều xem du khách là người đi khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình

Theo nhà kinh tế học người Anh Odgilvi: “Khách du lịch là loại khách đi xa nhà một thời gian nhất định, tiêu khoản những khoản tiền tiết kiệm được”

Morval lại cho rằng: “Khách du lịch là người đến đất nước khác theo nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nguyên nhân chủ yếu không phải là thương mại”

Còn theo quan niệm của nhà kinh tế học người Áo Jozepstander: “du khách là loại khách đi lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thõa mãn những nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi mục tiêu kinh tế”

Ngoài ra nhiều nước trên thế giới thường có sự phân biệt giữa du khách trong nước và du khách nước ngoài Ở nước ta, theo điều 20 chương VI pháp lệnh Du lịch thì du khách quốc tế phải có các đặc điểm sau:

- Là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch

- Là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam ra nước ngoài du lịch

- Là những người đi ra khỏi môi trường sông thường xuyên của một nước đang thường trú đến Việt Nam trong thời gian dưới 12 tháng ngoài mục đích tiến hành các hoạt động nhằm đem lại thu nhập và kiếm sống ở Việt Nam

Du khách trong nước là những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của mình để đến một nơi khác trong nước với thời gian liên tục dưới 12 tháng mà mục đích của chuyến đi không nhằm các hoạt động đem lại thu nhập và kiếm sống ở nơi đến

Vai trò của du lịch

1.2.1 Đối với sự phát triển kinh tế a Góp phần tăng GDP

Ngành du lịch được xem là ngành “công nghiệp không khói” , mang lại lượng lớn ngoại tệ trong nền kinh tế quốc dân, nhất là đối với các nước có tiềm năng lớn về du lịch thì đây được xem là nguồn thu lớn trong GDP Theo thống kê của tổ chức du lịch thế giới, hiện nay một số quốc gia trên thế giới có thu nhập từ du lịch và dịch vụ du lịch đóng góp từ 5 – 6,5% GDP Hằng năm doanh thu từ ngành du lịch là rất lớn, đã góp phần nâng cao đời sống của người dân, thúc đẩy nền kinh tế phát triển b Thu hút lao động, giải quyết việc làm

Tài nguyên du lịch thường có mặt khắp mọi nơi ngay cả vùng xa xôi, hẻo lánh Khi con người đưa những tài nguyên này vào sử dụng đòi hỏi phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực đó Chính điều này sẽ góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động, giải quyết được vấn đề thất nghiệp và thêm việc làm cho nhân dân quanh khu vực du lịch Đồng thời, nơi đây cũng thu hút thêm lao động đến tìm việc làm, nhất là khu vực người dân sống trong khu vực có dự án du lịch, bởi du lịch phát triển tức là có thêm nhiều dịch vụ, hoạt động du lịch cũng phát triển Do đó sẽ cần nhiều lao động có tay nghề, kĩ năng hoạt động du lịch… Du lịch không chỉ tạo việc làm cho bản thân người lao động trong ngành mà còn thu hút lao động của các ngành khác, bởi các loại hình du lịch và dịch vụ du lịch rất phong phú và đa dạng để ngày càng đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của du khách c Kích thích đầu tư

Ngành du lịch có cấu trúc khác với các ngành khác, nó được tạo nên bởi nhiều doanh nghiệp và hàng loạt các dịch vụ khác nhau có diện đầu tư rộng Việc đầu tư cơ sở hạ tầng như: điện, nước, giao thông, khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi, giải trí… các công trình văn hóa nghệ thuật, các lễ hội thường đem lại lợi nhuận thấp nên nhà nước chịu trách nhiệm đầu tư nhằm tạo điều kiện cho du lịch phát triển qua đó kích thích sự đầu tư của các tầng lớp nhân dân, các doanh nghiệp Từ đó kéo theo tăng nguồn đầu tư từ các ngành khác như xây dựng, giao thông vận tải, tiểu thủ công nghiệp, ngân hàng… d Thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương

Phát triển du lịch là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để phát triển và đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế của một vùng và một địa phương có nền kinh tế còn kém phát triển

Du lịch phát triển tạo điều kiện cho những người dân sinh sống tại vùng có địa điểm du lịch mở rộng kinh doanh, phát triển kinh tế gia đình, tăng thu nhập, cải thiện đời sống qua các hình thức kinh doanh như: nhà hàng, khách sạn, các dịch vụ giải trí, sản xuất và các nhà hàng lưu niệm… góp phần tăng thu nhập cho gia đình và địa phương e Tăng nguồn thu ngoại tệ

Du lịch phát triển, nhất là du lịch quốc tế sẽ đem lại nguồn thu ngoại tệ thông qua hoạt động xuất nhập khẩu du lịch Ngành du lịch tạo nên sự biến đổi trong cơ cấu thu chi của đất nước, của vùng du lịch Đối với khách du lịch quốc tế, khi mang ngoại tệ đến đổi và chi tiêu ở các khu vực du lịch sẽ tăng tổng số tiền trong cán cân thu chi của vùng và của đất nước

Hoạt động du lịch là nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước, ở các nước phát triển nguồn thu từ du lịch chiếm tới 20% nguồn thu ngoại tệ của đất nước Nguồn thu này thường được sử dụng để mua sắm máy móc, trang thiết bị cần thiết cho quá trình tái sản suất xã hội, góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật cho đất nước

1.2.2 Đối với sự ổn định chính trị xã hội

Ngành du lịch có tác động đến nhiều mặt của một đất nước và một vùng thông qua nhu cầu của du khách Du lịch được xem như là một “giấy thông hành của hòa bình” , đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Chính du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau, có nền văn hóa và trình độ phát triển khác nhau xích lại gần nhau hơn, hiểu nhau hơn và tăng thêm tình đoàn kết cộng đồng Du lịch là chiếc cầu nối các dân tộc trên thế giới lại với nhau, là công cụ, là môi trường thuận lợi góp phần củng cố hòa bình, giao lưu quốc tế giữa các dân tộc trên phạm vi toàn cầu

Những chuyến du lịch, tham quan tại các di tích lịch sử, các công trình văn hóa, thắng cảnh giúp mỗi người dân hiểu biết nhiều hơn về đất nước mình, từ đó giáo dục tinh thần yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc.

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành du lịch

1.3.1 Các nhân tố tự nhiên

Bất kì một nền kinh tế muốn phát triển được thì trước thì trước hết phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện tự nhiên, là cơ sở đầu tiên cho việc khai thác, xây dựng và phát triển kinh tế Đặc biệt ngành du lịch lại càng gắn bó mật thiết và liên quan chặt chẽ đến các điều kiện tự nhiên hơn nữa Các thành phần tự nhiên, cảnh quan thiên nhiên có thể đem lại sức hút cho du khách, vì vậy chúng được sử dụng vào mục đích phát triển du lịch và trở thành tài nguyên du lịch tự nhiên, các thành phần tự nhiên đó gồm: a Vị trí địa lí

Vị trí địa lí là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển du lịch Khoảng cánh từ địa điểm du lịch đến nơi ở của khách du lịch quyết định đến số lượng du khách, sự tăng hay giảm của doanh thu du lịch Những điểm ở gần trung tâm du lịch, có vị trí thuận lợi sẽ thu hút khách du lịch, những nơi xa trung tâm du lịch sẽ hạn chế du khách do tốn thời gian và chi phí đi lại của du khách Nhưng trong một số trường hợp, với những du khách có khả năng thanh toán cao, có tính hiếu kì trước những điều mới lạ thì những địa điểm ở xa nơi cư trú lại có sức hấp dẫn lớn b Địa hình Địa hình đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần tạo nên phong cảnh và sự đa dạng của cảnh quan du lịch Ở những nơi địa hình càng tương phản, càng độc đáo thì càng có sức hấp dẫn du khách Khách du lịch thường thích những dạng địa hình đồi núi, địa hình bờ biển, địa hình caxtơ Địa hình núi là nơi thuận lợi để tổ chức các hình thức du lịch mạo hiểm leo núi, nhảy dù… hay xây dựng các nhà nghỉ dưỡng Ở địa hình bờ biển có thể tổ chức tham quan du lịch, tắm biển, lướt ván, câu cá… Đặc biệt kiểu địa hình caxtơ như núi và hang động caxtơ là những dạng tài nguyên du lịch rất có giá trị Trên thế giới đã đưa vào khai thác hàng ngàn hang động, núi đá vôi, thu hút một khối lượng du khách lớn trong tổng du khách toàn cầu Ở Việt Nam, địa hình caxtơ rất phổ biến từ Quảng Bình ra Bắc, với hệ thống hang động, núi đá vôi kì vĩ như Phong Nha – Kẻ Bàng, Vịnh Hạ Long…hàng năm thu hút hàng triệu lượt du khách đến tham quan, đem lại nguồn thu lớn cho du lịch nước ta

Ngoài việc tạo nên những phong cảnh đẹp thì địa hình còn có tác động rất lớn đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng – vật chất kĩ thuật phục vụ cho các nhu cầu của du khách c Khí hậu

Khí hậu có tác động rất lớn đến hoạt động du lịch, quyết định đến thời gian du khách lưu lại điểm du lịch dài hay ngắn, đến tính mùa vụ trong các loại hình du lịch

Ví dụ như mùa đông có thể phát triển các loại hình du lịch trên núi như trượt băng, trượt tuyết, mùa hè có thể đẩy mạnh các loại hình du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng, lướt ván… Do đó, ở những vùng có khí hậu khác nhau thì đặc điểm mùa vụ và các loại hình du lịch cũng có sự khác nhau Phần lớn du khách thường ưa thích những nơi có khí hậu ôn hòa, dễ chịu mà tránh những nơi quá nóng, quá lạnh hoặc quá ẩm d Thủy văn Đây là một yếu tố không thể thiếu được để duy trì sự sống và các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người Trong hoạt động du lịch, nước được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau Tài nguyên nước phân bố trên khắp thế giới như trong các biển, đại dương, sông, hồ…và nhiều nơi trên thế giới đã xây dựng những khu nghĩ dưỡng ven hồ, ven biển… thu hút lượng lớn du khách đến nghỉ ngơi Dọc các sông, hồ, suối có thể tổ chức các hoạt động du lịch như câu cá, bơi thuyền, nghỉ dưỡng… Trong tài nguyên nước, cần phải nói đến tài nguyên nước khoáng, đây là loại tài nguyên có giá trị về du lịch an dưỡng và chữa bệnh e Sinh vật

Thế giới động vật và thực vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của ngành du lịch thông qua sự đa dạng và tính đặc hữu Hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về với thiên nhiên, tham quan các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên ngày càng lớn Đây cũng là nơi thu hút đông lượng du khách đến tham quan Các loài động thực vật quý hiếm, nhất là những loài đặc hữu có sức hấp dẫn mạnh đối với du khách từ nơi xa đến, vì vậy, du lịch về với thiên nhiên đang dần trở thành một xu thế và nhu cầu phổ biến đối với du khách Tuy nhiên, không phải bất kì mọi tài nguyên động thực vật đều trở thành đối tượng tham quan của du lịch Để phục vụ mục đích du lịch khác nhau, người ta đưa ra các chỉ tiêu sau:

Chỉ tiêu phục vụ mục đích tham quan du lịch

+ Thảm thực vật phong phú, độc đáo và điển hình

+ Có loài đặc trưng cho khu vực, loài đặc hữu, loài quý hiếm đối với thế giới và trong nước

+ Có một số động vật ( thú, chim, bò sát, cá…) phong phú hoặc điển hình cho vùng + Có các loại khai thác đặc sản phục vụ nhu cầu của du khách

+ Thực, động vật có màu sắc hấp dẫn, vui mắt, một số loài phổ biến, dễ quan sát bằng mắt thường, ống nhòm hoặc nghe tiếng hót, tiếng kêu và có thể chụp ảnh được + Đường sá thuận tiện cho việc đi lại tham quan, vui chơi của khách

Ngoài ra, người ta còn đưa ra một số chỉ tiêu nhằm mục đích săn bắn thể thao hay nghiên cứu khoa học Tóm lại, tài nguyên động thực vật có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành du lịch

2.1.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội a Dân cư và nguồn lao động

Dân cư vừa là lực lượng lao động sản xuất quan trọng của xã hội, đồng thời vừa là thị trường tiêu thụ các sản phẩm của các ngành sản xuất, trong đó có du lịch Cùng với các hoạt động lao động, sản xuất ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu của cá nhân và xã hội thì mỗi người còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch Nhu cầu du lịch của mỗi người tùy thuộc vào đặc điểm của xã hội, nhân khẩu, mức thu nhập của bản thân, đặc điểm kết cấu dân cư theo nghề nghiệp, theo lứa tuổi Mỗi lứa tuổi khác nhau sẽ có nhu cầu du lịch khác nhau và lựa chọn các loại hình du lịch khác nhau Ví dụ như giới trẻ thường thích du lịch những nơi có thể tổ chức các hoạt động mạnh: thể thao, trò chơi mạo hiểm, leo núi… Những người già lại thích những nơi yên tĩnh có thể nghỉ dưỡng, chữa bệnh…

Sự phát triển du lịch còn tùy thuộc vào trình độ văn hóa chung của dân cư Nếu đất nước đó dân cư có trình độ văn hóa cao, nhu cầu đi du lịch của cộng đồng sẽ tăng lên rõ rệt Đặc biệt là ở các nước phát triển thì du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống tinh thần của người dân Ngày nay, du lịch được xem như là một tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân b Sự phát triển các ngành kinh tế và mức thu nhập bình quân đầu người

Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có vai trò quyết định làm xuất hiện nhu cầu du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực Một đất nước còn ở trong tình trạng kém phát triển, thu nhập của người dân thấp thì không thể phát triển ngành du lịch Ở các nước có nền kinh tế chậm phát triển thì nhu cầu về du lịch và trình độ phát triển ngành du lịch nhìn chung còn hạn chế Ngược lại, nhu cầu và loại hình du lịch ở các nước có nền kinh tế phát triển lại phong phú và đa dạng: đó là nhu cầu du lịch cuối tuần, các kì nghỉ dài ngày hay tổ chức các chuyến du lịch ra nước ngoài…

Nền kinh tế phát triển làm cho người dân có mức sống cao hơn, do đó họ có khả năng thanh toán cao những chi phí của chuyến du lịch trong nước cũng như nước ngoài Vì vậy, có thể nói thu nhập của dân cư là chỉ tiêu quan trọng và điều kiện vật chất để con người có thể đi du lịch, khi thu nhập tăng thì mức tiêu dùng du lịch và cơ cấu tiêu dùng du lịch cũng tăng theo c Các nhân tố chính trị Đây là nhân tố đặc biệt quan trọng, có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển ngành du lịch của một quốc gia Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện đất nước hòa bình, có sự hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc, các quốc gia Nếu đất nước có chiến tranh, mất ổn định về chính trị, gây tổn thất cho các công trình, cơ sở hạ tầng và môi trường du lịch Do đó, sự ổn định về chính trị là tiền đề để đẩy mạnh phát triển du lịch của một quốc gia, qua đó thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc trong nước và các nước khác trên thế giới d Các chính sách nhà nước

Hiện nay, du lịch đã trở thành ngành kinh tế quan trọng đối với nhiều quốc gia trên thế giới Vì vậy, nhà nước luôn khuyến khích và phát triển ngành du lịch nhằm thu hút khách du lịch từ trong nước cũng như quốc tế, từ đó tăng nguồn thu từ ngành du lịch Ở nước ta, nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm đẩy mạnh hoạt động du lịch như hỗ trợ tiền thuê đất để xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch, hỗ trợ về tín dụng với lãi suất ưu đãi để tăng thêm nguồn vốn cho phát triển du lịch, hay chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực nhằm nâng cao chất lượng lao động cho ngành du lịch… Có thể nói rằng nếu một quốc gia có điều kiện kinh tế và văn hóa – xã hội để phát triển du lịch nhưng chính sách hỗ trợ cho ngành du lịch của nhà nước đó không phù hợp và chưa tương xứng thì ngành du lịch của quốc gia đó sẽ không mang lại hiệu quả cao e Các di sản, di tích lịch sử và lễ hội truyền thống

Các di sản, di tích lịch sử-văn hóa là tài sản văn hóa qúy giá của mỗi địa phương, mỗi một dân tộc và đất nước Các tài nguyên này có sức hút rất lớn đối với những du khách ham hiểu biết và muốn mở rộng kiến thức của mình như các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên… Mỗi di sản, di tích lịch sử - văn hóa của từng địa phương đều mang nhưng nét độc đáo và có ý nghĩa riêng, nếu các cấp chính quyền địa phương có chính sách khai thác đúng đắn vừa đem lại nguồn thu nhập từ du lịch, vừa góp phần giáo dục ý thức bảo vệ các giá trị tinh thần của nhân dân

Khái quát chung về tỉnh Quảng Trị

2.1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Vị trí địa lí: Tỉnh Quảng Trị thuộc vùng Bắc Trung Bộ, tọa độ địa lý từ 16 0 18’ đến

17 0 10’ vĩ độ Bắc, 106 0 32’ đến 107 0 34’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Phía Nam giáp huyện Phong Điền và A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế Phía Đông giáp Biển Đông Phía Tây giáp tỉnh Savanakhet và Salavan, nước CHDCND Lào Tỉnh có 1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện

Quảng Trị có lợi thế về địa lý - kinh tế, là đầu mối giao thông, nằm ở trung điểm đất nước, ở vị trí quan trọng - điểm đầu trên tuyến đường huyết mạch chính của hành lang kinh tế Đông - Tây nối với Lào - Thái Lan - Mianmar qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo đến các cảng biển Miền Trung như: Cửa Việt, Chân Mây, Đà Nẵng, Vũng Áng Quảng Trị có điều kiện giao thông khá thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ Qua địa phận Quảng Trị có các tuyến giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh (nhánh Đông và nhánh Tây), tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy dọc qua tỉnh, và Quốc lộ 9 gắn với đường xuyên Á cho phép Quảng Trị có thể giao lưu kinh tế với các tỉnh trong vùng và cả nước Cảng Cửa Việt là một trong những cảng biển có thể phục vụ cho vận chuyển hàng hóa trong vùng và trung chuyển hàng hóa qua đường Xuyên Á Cách không xa trung tâm tỉnh lỵ Đông Hà có sân bay Phú

Bài - Thừa Thiên Huế (khoảng 80 km) và sân bay quốc tế Đà Nẵng (khoảng 150 km) Chính vị trí địa lí này đã tạo thuận lợi cho tỉnh Quảng Trị mở rộng hợp tác kinh tế trong khu vực, giao thương hàng hóa, vận tải quốc tế, phát triển thương mại nói chung, dịch vụ và du lịch nói riêng Địa hình: Về điều kiện địa hình, Quảng Trị như một Việt Nam thu nhỏ với trên 4/5 diện tích là đồi núi, nơi phong phú các hệ sinh thái từ núi trung bình, núi thấp, cao nguyên bazan, karst, đến gò đồi, đồng bằng ven biển, cồn-trằm, cửa sông và đảo-biển Nhìn chung địa hình Quảng Trị có dạng bậc, từ đông sang tây, cũng là từ biển vào lục địa, địa hình nâng cao dần, lần lượt là các đồng bằng cồn cát ven biển, đồng bằng bồi tích sông-biển, vùng gò đồi thấp và cao, chuyển lên vùng núi thấp và trung bình, sau đó địa hình thấp xuống với bậc núi thấp và thung lũng, giáp biên giới phía Tây

Các khối núi thấp và trung bình tập trung chủ yếu ở phía tây bắc của lãnh thổ (Động

Sá Mùi 1617 m, Động Voi Mẹp 1701 m…), một số dãy núi thấp-trung bình phân bố ở phía nam, thuộc huyện Đakrông (Động Ca Cút 1405 m) Các dãy, khối núi thấp và trung bình là phần tiếp tục của dải Trường Sơn Bắc từ Nghệ An kéo dài; nhưng đến Quảng Trị, Trường Sơn Bắc hầu như bị cắt thành 2 đoạn bởi thung lũng xuyên ngang Đakrông-Quảng Trị, với điểm thấp nhất của đường chia nước là 370 m, tạo một hành lang Đông-Tây thuận lợi nhất của Bắc Trung Bộ Địa mạo Quảng Trị rất phong phú và đa dạng bao gồm: 9 nhóm, 36 dạng địa hình Mỗi một dạng nguồn gốc được đặc trưng bởi hình thái, cấu trúc, lớp phủ bề mặt, trạng thái động lực và thời gian thành tạo Trong đó nhóm nguồn gốc địa hình bóc mòn và địa hình dòng chảy là đa dạng hơn cả Chạy dọc suốt hơn 75km đường bờ biển là các bãi cát, trong đó có nhiều bãi biển đẹp như : Cửa Việt, Cửa Tùng, Mỹ Thủy…

Với một địa hình đa dạng, Quảng Trị có tiềm năng lớn trong việc phát triển kinh tế nói chung cũng như du lịch nói riêng

Khí hậu: Quảng Trị nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Bắc Trung Bộ, có nền nhiệt độ cao, chế độ ánh sáng và mưa, ẩm dồi dào… với 2 mùa là: mùa nóng và mùa lạnh Nhiệt độ trung bình năm từ 22 0 -25 0 C Mùa lạnh có 3 tháng (12 và 1, 2 năm sau), nhiệt độ xuống thấp, tháng lạnh nhất nhiệt độ xuống dưới 22 0 C ở đồng bằng, dưới 20 0 C ở độ cao trên 500 m Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 8 nhiệt độ cao trung bình 28 0 C, tháng nóng nhất từ tháng 6, 7, nhiệt độ tối cao có thể lên tới 40 0 -

42 0 C Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.200 - 2.500 mm, số ngày mưa trong năm dao động từ 154-190 ngày Chế độ mưa ở Quảng Trị biến động rất mạnh theo các mùa và cả các năm Trên 70% lượng mưa tập trung vào các tháng 9, 10, 11 Có năm lượng mưa trong 1 tháng mùa mưa chiếm xấp xỉ 65% lượng mưa trung bình nhiều năm Mùa khô thường từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau, khô nhất vào tháng 7, đây là thời kỳ có gió Tây Nam thịnh hành Tỉnh Quảng Trị chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính là gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc Đặc biệt gió Tây Nam khô nóng ở Quảng Trị là hiện tượng rất điển hình, được đánh giá là dữ dội nhất ở nước ta Gió Tây Nam khô nóng làm ảnh hưởng không nhỏ tới các hoạt động kinh tế

- xã hội, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Quảng Trị nằm trong khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của bão Mùa bão thường tập trung vào các tháng 9 và 10 Bão có cường suất gió mạnh kèm theo mưa lớn tạo ra lũ quét ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư

Nhìn chung, khí hậu Quảng Trị mang tính chuyển tiếp giữa khí hậu miền Bắc và khí hậu miền Nam, đồng thời có sự phân hoá giữa khí hậu Đông và Tây Trường Sơn

Do đó, tương đối thuận lợi cho việc phát triển và đa dạng các loại hình du lịch Tuy nhiên, các hiện tượng thời tiết như bão, lũ… cũng là rào cản lớn cho sinh hoạt và các hoạt động du lịch

Thủy văn: Quảng Trị có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, mật độ trung bình 0,8-1 km/km 2 Do đặc điểm địa hình bề ngang hẹp, có dãy Trường Sơn núi cao ở phía Tây nên các sông của Quảng Trị có đặc điểm chung là ngắn và dốc Toàn tỉnh có 12 con sông lớn nhỏ, tạo thành 03 hệ thống sông chính là sông Bến Hải, sông Thạch Hãn và sông Ô Lâu Trong đó hệ thống sông Thạch Hãn có chiều dài 155 km, diện tích lưu vực lớn nhất 2.660 km 2 Nhánh sông chính là Thạch Hãn bắt nguồn từ các dãy núi lớn Động Sa Mui, Động Voi Mẹp… Sông Thạch Hãn đổ ra biển ở Cửa Việt Trong tỉnh còn có một số hồ lớn như hồ như Khe Mây, Trúc Kinh… Ngoài ra còn phải kể đến các mỏ nước khoáng nóng được phát hiện ở Tân Lâm (huyện Cam Lộ), Ba Ngao, Làng Rượu, Na Lân (huyện Đakrông) Các điểm nước khoáng này đều có lưu lượng khoảng 0,4 - 4 l/s, nhiệt độ 45 - 70 0 C, trong đó điểm làng Rượu có lưu lượng lớn nhất

(4 l/s) và nhiệt độ cao nhất (70 0 C) Tất cả các điểm nước khoáng nóng đều thuộc nhóm nước khoáng cacbonic

Về đặc điểm hải văn: Quảng Trị có bờ biển dài 75km, nước biển thường xuyên ấm áp, là nơi cư trú nhiều hải sản Thuỷ triều trên dải bờ biển Quảng Trị có chế độ bỏn nhật triều khụng đều, gần ẵ số ngày trong hàng thỏng cú 2 lần nước lớn, 2 lần nước ròng

Sinh vật: Quảng Trị cũng là tỉnh có hệ động – thực vật khá phong phú, bao gồm động thực - vật biển và trên cạn

Sinh vật trên cạn: Động vật rừng cũng khá phong phú và đa dạng Hiện tại có khoảng 67 loài thú, 193 loài chim và 64 loài lưỡng cư bò sát (thuộc 17 họ, 3 bộ) đang sinh sống tại rừng Quảng Trị, trong đó 29 loài thú, 22 loài chim, 18 loài bò sát lưỡng cư có trong sách đỏ Rừng Quảng Trị có khoảng 1.053 loại thực vật thuộc 528 chi,

130 họ, trong đó có 175 loài cây gỗ

Quảng Trị còn có một vùng lãnh hải rộng lớn với nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, mực nang, cua, hải sâm Trữ lượng hải sản vùng biển tỉnh Quảng Trị có khoảng 60.000 tấn Khả năng khai thác hàng năm khoảng 17.000 tấn Với sự đa dạng sinh học khá cao, nên tiềm năng để Quảng Trị phát triển du lịch sinh thái là rất lớn

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Quảng Trị là một tỉnh nghèo so với cả nước, điểm xuất phát thấp, nông nghiệp còn chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu GDP Tuy nhiên, bằng những nỗ lực của mình, trong những năm gần đây kinh tế xã hội của tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2005-2009 đạt trên 11%, thu nhập bình quân đầu người năm 2009 là 13,7 triệu đồng (khoảng 800 USD/ người); Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng trong GDP của ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 34,7%, ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 29,9 %, ngành dịch vụ chiếm 35,4%

Sản xuất công nghiệp: Đang có bước phát triển khá Giá trị sản xuất công nghiệp trong giai đoạn 2005 - 2009 tăng bình quân 26,84%/năm Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu là vật liệu xây dựng, cơ khí, khai khoáng, và chế biến các sản phẩm nông - lâm - thủy hải sản Khu Kinh tế Thương mại Đặc biệt Lao Bảo, Khu công nghiệp Nam Đông Hà, Quán Ngang và một số cụm công nghiệp đã và đang được các nhà đầu tư quan tâm đầu tư kinh doanh, sản xuất Khu kinh tế Đông Nam của tỉnh gắn với cảng biển Mỹ Thủy đã được đưa vào quy hoạch Nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp được triển khai xây dựng và đưa vào sản xuất, bước đầu tạo ra các sản phẩm công nghiệp Các ngành nghề truyền thống từng bước được khôi phục và phát triển

Tiềm năng phát triển du lịch ở khu du lịch biển Cửa Việt – tỉnh Quảng Trị

2.2.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên a Vị trí địa lí

Biển Cửa Việt thuộc địa phận thị trấn Cửa Việt – huyện Gio Linh – tỉnh Quảng Trị, nằm cách thị xã Đông Hà 15km về phía Đông Nam, đây là bãi tắm có diện tích rộng, gần cảng lớn, nước sạch, bãi cát thoai thoải dài theo những rặng dương xanh ven biển

- Phía Bắc giáp địa bàn xã Gio Hải là nơi cung ứng lương thực, thực phẩm tương đối lớn trong vùng

- Phía Nam là hạ lưu sông Hiếu, là cửa biển thuận tiện, trên bến dưới thuyền nhộn nhịp đông vui

- Phía Đông giáp Biển Đông

- Phía Tây giáp xã Gio Việt và xã Gio Thành

Hiện nay, khu du lịch biển Cửa Việt được quy hoạch vởi tổng diện tích 318,4ha, trước tiên sẽ quy hoạch, xây dựng trước 143ha Nơi đây đang được Tổng cục du lịch Việt Nam quy hoạch để phát triển tổ hợp du lịch ven biển Cửa Việt – Cửa Tùng – đảo Cồn Cỏ với tổng diện tích 746 ha nằm trải dài ven biển từ Cửa Tùng đến Cửa Việt Khu du lịch biển Cửa Việt có vị trí địa lí rất thuận lợi, với điểm cuối của Quốc lộ

9, thuộc tuyến đường Xuyên Á nối từ cảng Cửa Việt đến Lào - Đông Bắc Thái Lan - Myanma , rất thuận tiện cho giao thông buôn bán và đi lại của người dân Từ Thị trấn Cửa Việt đến thành phố Đông Hà khoảng 15 km về phía Tây Nam, đến huyện lị Gio Linh 10 km về phía Tây Bắc và về phía Bắc đến Thị trấn Cửa Tùng 15 km Ngoài ra, đến với Cửa Việt chúng ta có thể đi bằng đường thủy qua cửa biển hay theo dọc sông Hiếu, cảng Cửa Việt lại ở ngay gần khu du lịch Đây là những điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật, nâng cấp hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc nhằm đẩy mạnh hoạt động du lịch b Địa hình

Bãi biển Cửa Việt như cánh cung trải dài hơn 2km, bắt đầu từ cửa biển nơi con sông Thạch Hãn đổ ra biển cho đến xã Gio Hải Khu vực nằm trong vùng cát bồi trầm tích ven biển nên độ dốc không đáng kể, hướng dốc chung từ Tây sang Đông

Xa xa trong làn sương sớm, hòn đảo Cồn Cỏ nhô lên trên nền trời trong vắt tạo nên một phong cảnh bình minh tuyệt đẹp Bãi biển bằng phẳng với một dãi cát trắng chạy dài, kết hợp với những tiếng sóng vỗ bọt tung trắng xóa khiến nơi đây đang ngày càng thu hút khách thập phương đến tham quan, nghỉ ngơi và du lịch c Khí hậu

Cửa Việt nằm trọn trong khí tiết nhiệt đới, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới chung toàn tỉnh lại rất điển hình, mang tính phức tạp và khắc nghiệt, có nhiều yếu tố bất lợi như: bão lụt, hạn hán, gió nóng Tây Nam gây nhiều khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt

Bên cạnh cái dịu mát của cơn gió Đông Nam đưa lại vào từng buổi chiều, Cửa Việt lại phải chịu từng cơn gió Tây Nam khô nóng gay gắt vào mùa hạ và khô hanh đến nứt cả môi của gió Đông Bắc vào mùa Đông Nền nhiệt ở đây tương đối cao, tổng lượng nhiệt cả năm lên đến trên dưới 9000 0 C, nhiệt độ trung bình năm từ 23 0 C– 25 0 C

Cửa Việt nhìn chung một năm có 2 mùa rõ rệt: mùa lạnh từ cuối tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 Lượng mưa trung bình khá cao: 2300 - 2700mm, tập trung chủ yếu vào tháng 9, tháng

10 và tháng 11 chiếm 70 - 80% lượng mưa cả năm

So với toàn tỉnh, Cửa Việt chịu ảnh hưởng nhiều của gió Tây Nam khô nóng thổi từ tháng 3 đến tháng 8, là địa phương có thời gian và cường độ gió Tây Nam thổi nhiều và mạnh nhất Tuy nhiên biển Cửa Việt sẽ được làm dịu đi bằng những cơn gió biển (gió Đông Nam) vào các buổi chiều làm giảm hẳn cảnh nóng nảy của mùa hè Đó là một trong những lý do mà lượng khách du lịch về bãi tắm Cửa Việt ngày càng đông d Thủy văn

Do địa hình bằng phẳng, độ dốc nhỏ nên hệ thống thủy văn xung quanh và trong khu du lịch đơn giản, tạo điều kiện cấp thoát nước tốt Ở phía Nam trong khu du lịch có Cửa Việt, là nơi hạ nguồn sông Thạch Hãn đổ ra biển Đông Trong khu du lịch còn có một đầm nước lớn và một hệ thống nước ngầm dồi dào, chất lượng tốt phục vụ cho sản xuất cũng như sinh hoạt

Biển Cửa Việt nằm trong hệ thống biển Đông, lại nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên có đặc điểm hải văn khá phức tạp Nhiệt độ nước biển có giá trị cực đại vào tháng 9, với giá trị cao nhất, tuyệt đối từ 32 đến 33 o C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 với giá trị trung bình 20,2 đến 21,5 o C, thấp nhất tuyệt đối có trị số 19,1 o C Độ mặn có giá trị lớn nhất vào mùa khô, từ tháng 1 đến tháng 5 Giá trị trung bình xấp xỉ 3,26% , cao nhất tuyệt đối 3,34%

Chính sự thay đổi về nhiệt độ, độ mặn và các đặc điểm thời tiết khác mà thuỷ triều trong vùng biển này khá phức tạp Mang đặc điểm chế độ bán nhật triều không đều Độ lớn thuỷ triều giảm từ 1,1m đến 0,7m Sóng biển trong khu vực này tương đối phù hợp với chế độ gió Trong mùa đông, từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, sóng thịnh hành hướng Bắc, Đông Bắc Độ cao sóng trung bình 0,9 đến 1,2m Thời kỳ này trùng với mùa bão hoạt động, khi có bão, độ cao cực đại thường từ 4- 6m Vào mùa hè (tháng 5 – tháng 9) hướng sóng thịnh hành là Tây Nam, độ cao trung bình xấp xỉ 0,9- 1m e Sinh vật

Vùng biển Cửa Việt nằm trong hệ thống vùng biển tỉnh Quảng Trị nên có tiềm năng về sinh vật biển rất phong phú và đa dạng, trong đó có loài san hô đỏ, một loài rất hiếm và quý ở Việt Nam cũng như trong khu vực Giữa hai vùng triều thường gặp cùm đá, các loại diệp, ốc, cá ghim Thành phần loài động vật đáy khá phong phú với

108 loài, thuộc 67 giống, 47 họ của 3 ngành, trong số lượng loài có giá trị làm thực phẩm chiếm tới trên 20 loài, có những loài có giá trị cao như bào ngư, trai ngọc, ốc đụn, tôm hùm Khu hệ cá biển cũng rất phong phú với 267 loài, 120 giống, 69 họ đã được phát hiện, nhiều loài cá kinh tế ở Việt Nam đều bắt gặp trong vùng này Nhìn chung, vùng biển Cửa Việt có tiềm năng thủy sản rất lớn, phong phú về cả số lượng lẫn trữ lượng Đây là một điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch, đặc biệt là các loại hình du lịch nhu lặn biển, ẩm thực biển

2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội a Kinh tế - xã hội

- Dân cư và lao động

Dân số theo số liệu điều tra năm 2009 trong vùng quy hoạch thuộc thị trấn Cửa Việt là gần 4.500 người Trong đó có gần 3.000 lao động, đa số sống bằng nghề biển, phát triển kinh tế vườn trên vùng cát Lao động có trình độ còn hạn chế, đặc biệt lao động trong các ngành dịch vụ Vì vậy, hiện nay vấn đề đặt ra cho nơi này là việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hợp lí nguồn lao động nhằm đẩy mạnh hoạt động dịch vụ - du lịch

- Cơ sở hạ tầng – vật chất phát triển du lịch

Hiện trạng phát triển du lịch ở khu du lịch biển Cửa Việt từ 2006 – 2010

Với sự đầu tư ngày càng lớn của nhà nước, doanh nghiệp và các cá nhân, khu du lịch Cửa Việt ngày càng thu hút khách du lịch trong lẫn ngoài nước, là điểm đến hấp dẫn của du khách mỗi mùa hè sang

Bảng 2.1: Số lượng du khách đến khu du lịch biển Cửa Việt giai đoạn 2006 –

( Nguồn Sở văn hóa - thể thao – du lịch tỉnh Quảng Trị năm

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện lượt khách đến khu du lịch biển Cửa Việt giai đoạn

Từ thực tế, biểu đồ và bảng số liệu trên cho ta thấy rằng tổng lượng khách đến với khu du lịch biển Cửa Việt ngày càng tăng Chỉ trong vòng 5 năm ( từ năm 2006 –

2010 ) tổng số khách đã tăng lên thêm hơn 38.000 người, năm 2006 tổng lượng khách mới 12.000 và đến năm 2010 đã tăng lên 50.100 người Trong đó khách quốc tế tăng thêm 2.300 người, khách nội địa tăng thêm 35.600 người Đặc biệt giai đoạn từ 2008 đến 2010 có mức tăng mạnh nhất: Năm 2008 tổng lượt khách đến khu du lịch biển Cửa Việt tăng 25% so với năm 2007 và tăng thêm 8000 người, năm 2009 là năm có tốc độ tăng mạnh nhất, tăng 54% so với năm 2008 và tăng đến 94% so với năm 2007, nâng tổng số lượt khách đến khu du lịch năm 2009 là 38.500 người

Về cơ cấu du khách đến khu du lịch biển Cửa Việt thì số lượng khách quốc tế tuy có tăng đều theo thời gian nhưng vẫn chiếm tỉ lệ thấp, năm 2006 tổng lượt khách đến khu du lịch biển Cửa Việt là 12.000 người thì đến 96.5% là khách nội địa, chỉ có 3.5% là khách quốc tế Đến năm 2010 tổng lượng khách đến khu du lịch tăng lên 50.100 người nhưng khách quốc tế cũng chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ, tuy có tăng hơn so với năm 2006 nhưng không đáng kể (5.4%) Trong khi đó khách nội địa vẫn chiếm đến 94.6% Qua đó chúng ta thấy rõ lượng khách đến khu du lịch liên tục tăng nhưng nhưng phần lớn là khách nội địa Điều này làm hạn chế doanh thu từ du lịch cũng như số ngày lưu trú của du khách khi đến khu du lịch bởi phần lớn khách nội địa thường nghỉ dưỡng, tham quan trong một thời gian ngắn và chi phí thấp hơn

Du khách đến Cửa Việt không chỉ tắm biển mà tham quan một số cảnh quan trong khu vực cũng như các địa phương lân cận Do đó, số ngày khách lưu trú cũng có sự thay đổi theo thời gian

Bảng 2.2: Thời gian lưu trú bình quân của du khách tại khu du lịch biển Cửa

Việt thời kì 2006 – 2010 Đơn vị: (ngày)

Số ngày khách lưu trú trung bình 1,33 1,53 1,6 1,66 1,65

Số ngày khách quốc tế 1,57 1,64 1,73 1,75 1,7

Số ngày khách nội địa 1,46 1,5 1,57 1,65 1,65

( Nguồn sở văn hóa – thể thao và du lịch tỉnh Quảng Trị năm 2011)

Số ngày lưu trú tại khu du lịch biển Cửa Việt có xu hướng tăng nhưng nhìn chung vẫn thấp Năm 2006 số ngày khách trung bình là 1,33 ngày/người, năm 2010 tăng lên 1,65 ngày/người Trong đó khách quốc tế có số ngày khách trung bình cao hơn khách nội địa Năm 2010 ngày khách nội địa là 1,65 ngày/người thì ngày khách quốc tế là 1,7 ngày/người Số ngày khách lưu trú còn thấp cũng như chưa thu hút được nhiều du khách quốc tế là do một số nguyên nhân như: cơ sở vật chất, hạ tầng còn hạn chế, cơ sở lưu trú, cơ sở ăn uống, dịch vụ giải trí còn chưa phát triển và mở rộng để đáp ứng nhu cầu của du khách

Như vậy, để thu hút lượng khách quốc tế, khách nội địa và kéo dài thời gian lưu trú của du khách nghỉ tại khu du lịch thì cần phải đầu tư trang thiết bị phục vụ nhu cầu của du khách, trang bị và hiện đại hóa hệ thống nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng, đẩy mạnh phát triển các dịch vụ phụ trợ nhằm tạo điểm nhấn thu hút du khách, đặc biệt là khách quốc tế

Cùng với sự tăng lên của số lượng khách du lịch thì doanh thu từ các hoạt động du lịch mang lại cho khu du lịch cũng không ngừng tăng lên

Bảng 2.3: Tổng doanh thu của khu du lịch Cửa Việt giai đoạn 2006 – 2010 Đơn vị (tỉ đồng)

( Nguồn sở văn hóa – thể thao và du lịch tỉnh Quảng Trị năm 2011 )

Biểu đồ 2.2: Biểu đồ thể hiện tổng doanh thu của khu du lịch biển Cửa Việt giai đoạn 2006 – 2010

Như vậy, tổng doanh thu của khu du lịch Cửa Việt khá cao và tăng đều theo thời gian Năm 2006 doanh thu từ du lịch mới chỉ được 9 tỉ đồng nhưng đến năm 2010 đã tăng lên 36,5 tỉ đồng, tức tăng hơn 400% Từ năm 2006 đến năm 2010 doanh thu đã tăng thêm 27,5 tỉ đồng Đặc biệt từ năm 2009 đến 2010 là những năm có mức doanh thu tăng mạnh nhất, năm 2009 tăng 47% so với năm 2008 và năm 2010 tăng 23% so với năm 2009

Bình quân doanh thu trên một du khách là 750.000/khách, khá cao so với thực trạng du lịch hiện nay của khu du lịch Đây là những bước tiến mới cho ngành du lịch Quảng Trị nói chung và khu du lịch Cửa Việt nói riêng Vì vậy, khu du lịch biển Cửa Việt ngày càng được chú trọng đầu tư nhằm khai thác thế mạnh, phát triển đa dạng các hoạt động du lịch, đưa lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách Nhà nước và góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương

2.3.3 Thị trường khách du lịch Đây là một yếu tố đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển ngành du lịch Do đó những năm gần đây, du lịch tỉnh Quảng Trị nói chung và du lịch Cửa Việt nói riêng đã chú trọng đầu tư và khai thác có hiệu quả nguồn khách trong nước và du khách quốc tế, nhất là du khách đến từ các nước ASEAN, Tây Âu, Bắc Mỹ… Đặc biệt là du khách đến từ các nước ASEAN như Lào, Thái Lan… Đây là một thị trường rộng và tiềm năng đối với du lịch tỉnh Quảng Trị nói chung cũng như du lịch Cửa Việt nói riêng do lợi thế về vị trí địa lí, giao thông Ngoài ra, nguồn khách đến từ các nước châu Á – Thái Bình Dương cũng đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho khu du lịch, bao gồm các nước như Trung Quốc, Nhật Bản… Đây là điều kiện thuận lợi để tăng doanh thu cho khu du lịch, do đó cần có các chính sách thu hút khách du lịch hợp lí để khai thác hiệu quả thế mạnh này

Hiện nay, du khách đến khu du lịch Cửa Việt có thể đi bằng đường bộ qua cửa khẩu Lao Bảo, theo đường Trường Sơn, đường 9, theo quốc lộ 1A… hoặc bằng đường hàng không từ sân bay Phú Bài – Thừa Thiên Huế Trong tương lai, khi cảng Cửa Việt mở rộng và hiện đại hơn thì du khách cũng có thể đi bằng đường thủy đến khu du lịch Cửa Việt

2.3.4 Các sản phẩm du lịch

Số lượng du khách và doanh thu du lịch của một địa phương phụ thuộc chặt chẽ vào sự đa dạng và mức độ đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của du khách do sản phẩm của du lịch ở địa phương đó mang lại Khu du lich biển Cửa Việt có nhiều điều kiện thuận lợi để tạo ra các sản phẩm du lịch đa dạng, thu hút du khách Đó là nét hoang sơ với bờ biển cát trắng trải dài, thoải và rộng, các hòn đảo xa xa, những ngôi chùa cổ kính trong vùng cùng với đó là sự hòa quyện nét văn hóa và con người nơi đây… Đây là nét độc đáo, nét riêng mà không phải khu du lịch nào cũng có được Vì vậy, đòi hỏi ban quan quản lí du lịch cũng như các ban chỉ đạo phải có chính sách, chủ trương phát triển hợp lí để có thể khai thác thế mạnh này Hơn nữa, để Cửa Việt thành khu du lịch quốc gia, ngoài các tiêu chí về diện tích, giá trị cảnh quan và cơ sở vật chất – kĩ thuật, hạ tầng đủ đáp ứng nhu cầu của du khách thì điều quan trọng hơn là sản phẩm du lịch ở đây không được trùng lặp với sản phẩm của các địa phương lân cận, đảm bảo môi trường du lịch trong lành, khắc phục phần nào tính thời vụ hiện nay của các khu du lịch biển miền Trung Do đó, khi đầu tư khai thác thì Cửa Việt phải tạo được điểm riêng đối với du khách thập phương, là một khu du lịch biển nhưng đòi hỏi không hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, tất cả các mùa trong năm phải có dịch vụ khép kín Như vậy, quy hoạch, đầu tư phải đảm bảo tính hài hòa, đồng bộ, kết hợp các giá trị hiện có và tạo ra các giá trị mới để có sản phẩm du lịch đa dạng hơn

Với điều kiện đó thì khu du lịch có thể đa dạng hóa các loại hình dịch vụ như du lịch tắm biển kết hợp với tham gia các lễ hội truyền thống của địa phương như đua thuyền, lễ hội cầu ngư, vãn cảnh chùa… Đặc biệt trong tương lai cần mở rộng phạm vi du lịch ra biển như thăm đảo Cồn Cỏ, tạo nên đặc sắc cho Cửa Việt Đồng thời, có thể kết hợp đẩy mạnh các loại hình du lịch thể thao như: lướt sóng, dù bay…

Tuy nhiên, hiện nay sản phẩm du lịch chính ở Cửa Việt chỉ có nghỉ dưỡng, giải trí cảnh quan ven biển Sản phẩm du lịch nhìn chung còn nghèo nàn Điều này làm khu du lịch còn phụ thuộc mạnh vào tính mùa du lịch, chưa hấp dẫn du khách đến nghỉ dưỡng, tham quan

Nhận xét, đánh giá chung

2.4 Nhận xét, đánh giá chung

2.4.1 Những kết quả đạt được

Bước đầu tài nguyên du lịch ở khu du lịch biển Cửa Việt đã khai thác có hiệu quả Trên cơ sở đó, đã thu hút được một lượng khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng tại khu du lịch

Hệ thống cơ sở vật chất đang trong qúa trình xây dựng và nâng cấp Các dự án đầu tư cho du lịch tăng nhanh về số lượng và chất lượng

Việc quy hoạch hệ thống giao thông, hạ tầng đến khu du lịch đã góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Giúp sự di chuyển của du khách đến khu du lịch dễ dàng, thuận tiện hơn

Hoạt động xúc tiến và quảng bá du lịch đã được tiến hành với nhiều hình thức và phương tiện khác nhau góp phần thu hút khách du lịch, các nhà đầu tư Từng bước nâng cao thương hiệu cho khu du lịch, hấp dẫn du khách trong và ngoài nước

Công tác quy hoạch tổng thể đến quy hoạch chi tiết đã được triển khai, góp phần hình thành cơ sở pháp lí cho quá trình thu hút đầu tư phát triển du lịch Trong giai đoạn 2007 – 2010 đã tiến hành lập được một số quy hoạch, đề án phát triển khu du lịch Cửa Việt như đề án Quy hoạch, kế hoạch phát triển thương mại, du lịch ở Cửa Việt giai đoạn 2007 – 2010 và tầm nhìn đến 2020, đề án quy hoạch phát triển du lịch ven biển Cửa Tùng – Cửa Việt của huyện Gio Linh… Trên cơ sở đó đã có nhiều dự án triển khai và bước đầu đã mang lại hiệu quả

Phát triển du lịch đã thu hút một lực lượng lao động đáng kể góp phần không nhỏ trong việc giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương Qua đó giúp họ có ý thức tốt hơn trong việc bảo vệ môi trường biển

Các sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, chưa có sản phẩm đặc thù, độc đáo riêng cho du lịch Cửa Việt Cơ sở lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí chưa được chú ý đầu tư xây dựng Các mặt hàng lưu niệm còn đơn giản, chưa khai thác hết tiềm năng du lịch ở đây Mới chỉ chú trọng vào dịch vụ nghỉ ngơi, tắm biển, việc chú trọng giới thiệu về giá trị nhân văn còn hạn chế Do đó, chưa có sự đầu tư đúng tầm cũng như quy hoạch dài hạn

Từ đó việc thu hút du khách và khai thác mức chi tiêu của du khách còn rất hạn chế Các công trình giải trí, vui chơi cũng như sản phẩm du lịch đáp ứng thị hiếu của du khách hầu như còn rất ít

Cơ sở hạ tầng, hệ thống kết cấu hạ tầng còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là giao thông và cung cấp điện Hệ thống đường đã được nâng cấp nhiều nhưng vẫn còn nhiều đoạn đường xấu, khổ đường còn hẹp Về điện thì vào mùa hè thường bị mất điện, do đây là mùa cao điểm về thiếu điện nhưng cũng là mùa cao điểm du lịch trên địa bàn Theo điều tra của tác giả, hầu hết các cơ sở kinh doanh đều chưa có các nguồn điện dự phòng Do đó, việc mất điện vào mùa du lịch cũng ảnh hưởng lớn đến các hoạt động du lịch nơi đây

Việc đầu tư phát triển, thực trạng đầu tư còn ở quy mô nhỏ, chưa có các dự án thực sự lớn đầu tư vào khu du lịch Chính sách vay vốn ưu đãi dành cho các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng – vật chất kĩ thuật của các doanh nghiệp kinh doanh trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn, trong khi nguồn vốn của các doanh nghiệp có hạn Hiệu quả kêu gọi, thu hút đầu tư vào các lĩnh vực du lịch còn thấp, nhiều dự án đăng kí nhưng không triển khai

Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch tuy đã có nhiều nỗ lực nhưng vẫn chưa đạt được những tín hiệu tích cực, chưa tạo được thương hiệu riêng cho khu du lịch trong lòng du khách Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch nhìn chung còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế trong việc tiếp cận, phát huy hiệu quả của các chương trình xúc tiến du lịch Nhìn chung, các doanh nghiệp trên địa bàn mới chỉ tập trung khai thác thị trường khách nội địa, chưa chú trọng khai thác khách quốc tế, nhất là nguồn khách đến từ các nước ASEAN như Lào, Thái Lan…

Hoạt động du lịch đồng nghĩa với việc gia tăng lượng khách đến khu du lịch, làm cho áp lực của du lịch lên môi trường tăng cao Việc khu du lịch thiếu các công trình công cộng cho du khách cũng làm cho môi trường biển ở đây nguy cơ ô nhiễm cao hơn

Nhìn chung, trong quá trình phát triển du lịch ở khu du lịch biển Cửa Việt đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, song nó cũng nảy sinh nhiều vấn đề đòi hỏi người làm du lịch phải có những hướng phát triển hợp lí nhằm đem lại hiệu quả cao trong khai thác các giá trị du lịch.

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHU DU LỊCH BIỂN CỬA VIỆT ĐẾN 2020 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm