Tuy nhiên công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Hòa Vang còn hạn chế nhất định do địa hình phức tạp, lực lượng quản lý bảo vệ rừng còn mỏng, thiếu phương tiện tiêu dùng và một
Trang 1
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Th.S Nguyễn Thị Diệu
Trang 2lũ lụt
Huyện Hoà Vang có nguồn tài nguyên rừng phong phú, diện tích đất rừng hiện có là 51.297,6 ha Đây là tiềm năng, lợi thế to lớn cần được phát huy, khai thác có hiệu quả góp phần giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, tăng thu nhập cho người dân và tăng trưởng kinh tế của huyện
Tuy nhiên thực trạng phát triển rừng trong thời gian qua vẫn bộc lộ nhiều hạn chế; quá trình phát triển còn theo chiều rộng, chưa thật sự chú ý đến phát triển chiều sâu, rừng vẫn tiếp tục
bị khai thác trái phép và diễn biến phức tạp, chất lượng rừng ngày càng suy giảm; công tác giao, khoán rừng, đất rừng còn nhiều bất cập; cơ sở hạ tầng kỹ thuật của lâm nghiệp vẫn còn thấp kém, hiệu quả sản xuất lâm nghiệp vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế hiện có, việc sắp xếp tổ chức sản xuất và quản lý bảo vệ rừng còn chưa hợp lý
Rừng của huyện Hòa Vang cũng giống như bao cánh rừng khác trên lãnh thổ nước ta và như trên toàn thế giới đều có vai trò hết sức quan trọng đối với kinh tế-xã hội.Rừng của huyện Hòa Vang
là một phần lá phổi của tp Đà Nẵng Công tác bảo vệ được các cấp, các ngành quan tâm, thông qua các chương trình dự án Tham gia công tác bảo vệ gồm có hạt kiểm lâm huyện Hòa Vang, các ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ, UBND huyện Hòa Vang, lực lương
vũ trang và nhân dân địa phương Tuy nhiên công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Hòa Vang còn hạn chế nhất định do địa hình phức tạp, lực lượng quản lý bảo vệ rừng còn mỏng, thiếu phương tiện tiêu dùng và một số bất cập khác…Nên hàng năm chưa ngăn chặn được triệt
để nạn cháy rừng và khai thác và vận chuyển lâm sản vẫn còn diễn ra làm suy giảm chất lượng rừng cũng như số lượng rừng.Bên cạnh đó còn dẫn tới các hệ lụy khác nghiêm trọng hơn nữa như : ô nhiễm môi trường, làm mất cân bằng hệ sinh thái, suy giảm đa dạng sinh học…
Trang 3
Do vậy dẫn đến khó khăn, phức tạp cho cả Ban Quản lý và UBND các xã Vấn đề này là điều tiên quyết cần được giải quyết để rừng trồng được quản lý tốt hơn, UBND các xã và Ban Quản lý cùng có quyền lợi, nghĩa vụ và sự hưởng lợi trên diện tích rừng tại địa phương Để làm rõ vấn đề này cần phải làm rõ tiến trình, những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý, trồng và quản
lý bảo vệ rừng trồng trên địa bàn một cách cẩn thận “Tìm hiểu hiện trạng phát triển rừng
huyện Hòa Vang và đề xuất một số giải pháp”, nhằm góp phần thực hiện trồng rừng và quản
lý diện tích rừng trồng trên địa bàn huyện hiệu quả hơn
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ
2.1 Mục tiêu
- Tìm hiểu thực trạng phát triển rừng huyện Hòa Vang
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển rừng ở huyện Hòa Vang một cách có hệ quả
2.2 Nhiệm vụ
- Thu thập, nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội huyện Hòa Vang
- Tìm hiểu hiện trạng rừng, hiện trạng phát triển rừng ở huyện Hòa Vang
- Đề xuất một ý kiến về việc trồng, khai thác và bảo vệ rừng thích hợp trên địa bàn huyện Hòa Vang
3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Nhận thấy được vai trò to lớn của tài nguyên rừng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái cũng như đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, do
đó tài nguyên rừng sớm trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều tác giả:
- Thảm thực vật rừng Việt Nam (1978), Thái Văn Trừng, NXB Khoa học kĩ thuật
- Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam (1999)n, Thái Văn Trừng, NXB Khoa học kĩ thuật
- Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Việt Nam (1998), Hoàng Hè, NXB Giáo dục
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Phát triển rừng tại huyện Hòa Vang
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung về thực trạng phát triển rừng
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu nội dung trên ở huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Trang 4
- Về thời gian: Hiện trạng phát triển rừng năm từ 2012 đến nay
5 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống: Đây là quan điểm bao trùm nhất, xác định các phương pháp nghiên cứu
các đối tượng không theo các thành phần riêng rẽ mà được xét trong một hệ thống
- Quan điểm thực tiển: Đây là quan điểm không thể thiếu được đối với quá trình nghiên cứu đề tài Thực tiễn là tiêu chuẩn, là cơ sở nghiên cứu của đề tài và kết quả nghiên cứu lại được áp dụng vào thực tiễn Trên cơ sở nghiên cứu về xu thế phát triển của huyện, quan điểm thực tiễn được vận dụng để đề xuất một số hướng sử dụng hiệu quả tài nguyên rừng của huyện Hòa Vang
để tránh sự suy giảm rừng và đề ra giải pháp nhằm đem lại hiệu quả
- Quan điểm phát triển bền vững: Phát triển bền vững là khai thác, sử dụng rừng của huyện
một cách hiệu vào việc phát triển kinh tế - xã hội hiện tại mà không làm tổn hại đến tự nhiên trong tương lai Do vậy khi xem xét sự phát triển của một đối tượng cũng như đề tranh giải pháp cho nó phải dựa trên quan điểm phát triển bền vững và có tính đến xu thế phát triển bền vững của
nhân loại
- Quan điểm động lực - hình thái: đây là quan điểm dựa vào hình thái ở hiện tại để suy luận
về các hoạt động khai thác trong quá khứ và dự báo hoạt động khai thác trong tương lai của đối
tượng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu:
Tiến hành thu thập, tìm hiểu các tài lệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu từ đó phân tích xử
lý và rút ra những kết luận liên quan Các tài liệu thu thập gồm tất cả các sách báo, tạp chí, các số liệu điều tra cơ bản, số liệu thống kê, các loại bản đồ,…có liên quan
- Phương pháp nghiên cứu thực địa:
Đây là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu địa lí nhằm tìm hiểu, đồng thời kiểm tra, khảo sát thực tế các thông tin thu thập được Phương pháp này được vận dụng để kiểm tra thông tin về địa hình, khí hậu, tình trạng khai thác rừng,…thông qua nghiên cứu hiện trường, ảnh chụp,…
- Phương pháp bản đồ:
Trang 5
Là phương pháp truyền thống của ngành địa lí Trong đề tài này chúng tôi sử dụng bản đồ sử dụng đất, bản đồ hành chính của huyện Hòa Vang và của tp Đà Nẵng làm cơ sở nghiên cứu và phân tích các đặc điểm các đối tượng cần khai thác
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.1.1 Rừng
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
Năm 1930, Morozov đưa ra khái niệm: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối quan hệ lẫn nhau,
nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở bề mặt đất và trong khí quyển Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và một bộ phận của cảnh quan địa lý
Năm 1930, M.E Tcachenco phát biểu: Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật Trong quá trình phát triển của chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau với hoàn cảnh bên ngoài
Năm 1974 I.S Mêlêkhốp cho rằng: Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành
phần cơ bản của sinh quyển địa cầu
1.1.2 Lâm nghiệp
Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất trong nền kinh tế quốc dân có nhiệm vụ trồng cây gây rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ rừng, khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản, phát huy tác dụng phòng hộ và bảo vệ môi trường
1.1.3 Phát triển rừng
Phát triển rừng là việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ
và các giá trị khác của rừng
1.2 PHÂN LOẠI
1.2.1 Theo chức năng
a Rừng phòng hộ
Trang 6hổn loại, nhiều loài, nhiều tầng, có độ che phủ của tán rừng là 0,6 trở lên
- Rừng phòng hộ ven biển
Được lập ra với mục đích chống gió hạn, chắn cát bay, ngăn chặn sự xâm nhập của biển, chống
sạt lở, bảo vệ các công trình ven biển, cây trồng được sử dụng chủ yếu là phi lao, thông…
- Rừng phòng hộ môi trường sinh thái
Nhằm mục đích điều hòa khí hậu, chống ô nhiểm môi trường trong các khu dân cư, khu đô thị, khu du lịch
b Rừng đặc dụng
Loại rừng được thành lập với mục đích chủ yếu là để bảo vệ, bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn
hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch
sử, danh lam thắng cảnh phục vụ nghỉ ngơi, du lịch kết hợp với phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái
+ Tỷ lệ diên tích hệ sinh thái cần bảo tồn phải đạt từ 70% trở lên
+ Điều kiện giao thông phải thuận lợi, đi lại dễ dàng
- Khu bảo tồn thiên nhiên: Nhằm mục đích đảm bảo diển thế tự nhiên và đáp ứng
+ Vùng đất tự nhiên có giá trị tài nguyên thiên nhiên và có giá trị đa dạng sinh học cao
Trang 7
+ Có các loại động vật, thực vật đặc hữu hoặc là nơi cư trú, ẩn náu, kiếm ăn của các loài động vật hoang dã quý hiếm
+ Đủ rộng để chứa được một hay nhiều hệ sinh thái, tỷ lệ cần bảo tồn trên 70%
- Khu dự trữ : Là khu vực gồm một hay nhiều cảnh quan có giá trị thẩm mĩ tiêu biểu, có giá trị văn hóa, lịch sử nhằm phục vụ các hoạt động văn hóa, du lịch nghiên cứu
c Rừng sản xuất
Là đất rừng được sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật và phát triển rừng, bao gồm đất rừng tự nhiên sản xuất, đất có rừng trồng sản xuất, đất khoanh nuôi phục
vụ sản xuất, đất trồng rừng sản xuất
1.2.2 Phân loại theo trữ lượng
- Rừng rất giàu: trữ lượng cây đứng trên 300 m3/ha;
- Rừng giàu: trữ lượng cây đứng từ 201- 300 m3/ha;
- Rừng trung bình: trữ lượng cây đứng từ 101 - 200 m3/ha;
- Rừng nghèo: trữ lượng cây đứng từ 10 đến 100 m3/ha;
- Rừng chưa có trữ lượng: rừng gỗ đường kính bình quân < 8 cm, trữ lượng cây đứng dưới 10 m3/ha
1.2.3 Theo sinh thái
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
- Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới
- Kiểu rừng kín lá cứng hơi khô nhiệt đới
- Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới
- Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô nhiệt đới
- Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp
- Kiểu trảng cây to, cây bụi, cây cỏ cao khô nhiệt đới
- Kiểu truông bụi gai hạn nhiệt đới
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp
- Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp
- Kiểu rừng cây lá kim ẩm ôn đới núi vừa
- Kiểu quần hệ khô lạnh vùng cao
- Kiểu quần hệ lạnh vùng cao
Trang 8
1.2.4 Dựa vào tác động con người
a Rừng tự nhiên
Là rừng có sẵn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh tự nhiên
- Rừng nguyên sinh: Là rừng chưa hoặc ít bị bị tác động của con người, thiên tai; Cấu trúc của rừng còn tương đối ổn định
- Rừng thứ sinh: Là rừng đã bị tác động bởi con người hoặc thiên tai tới mức làm cấu trúc rừng
Là rừng được hình thành do con người trồng, bao gồm:
- Rừng trồng mới trên đất chưa có rừng
- Rừng trồng lại sau khi khai thác rừng trồng đã có
- Rừng tái sinh tự nhiên từ rừng trồng đã khai thác
Theo thời gian sinh trưởng, rừng trồng được phân theo cấp tuổi, tùy từng loại cây trồng, khoảng thời gian quy định cho mỗi cấp tuổi khác nhau
1.2.5 Dựa vào nguồn gốc
Rừng hạt có sức sống mạnh, ổn định, đời sống dài, cây gỗ lớn
1.2.6 Dựa theo tuổi
a Rừng non
Trang 9lá các hệ sinh thái rừng có khả năng giữ lại và tích trữ, hay hấp thụ một lƣợng lớn cacbon trong khí quyển Vì thế sự tồn tại của thực vật và các hệ sinh thái rừng có vai trò đáng kể trong việc chống lại hiện tƣợng nóng lên toàn cầu và ổn định khí quyển, khí hậu
Thực vật sống mà chủ yếu là các hệ sinh thái rừng có khả năng giữ lại và tích tụ trữ lƣợng lớn cacbon trong khí quyển Vì thế sự tồn tại của thực vật và các hệ sinh thái rừng có vai trò đáng kể trong việc chống lại hiện tƣợng ấm lên toàn cầu và ổn định khí hậu
b Đất đai
Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dƣỡng tiềm năng của đất: ở vùng có đủ rừng thì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn đƣợc nạn bào mòn, nhất là trên các đồi núi dốc tác dụng ấy có hiệu quả lớn, nên lớp đất mặt không bị mỏng, mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu đƣợc duy trì Rừng lại lien tục tạo chất hữu cơ Điều này thể hiện ở quy luật phổ biến: Rừng tốt tốto ra đất tốt và đất tốt nuôi lại rừng tốt
Trang 10
Nếu rừng bị phá hủy, đất bị xói mòn, quá trình đất mùn và thoái hóa dễ xảy ra rất nhanh chóng
và mãnh liệt Ước tính ở nơi rừng bị phá hoang trơ đất trống mỗi năm bị rửa trôi mất khoảng 10 tấn mùn/ha Đồng thời các quá trình feralitic, tích tụ sắt, nhôm, hình thành kết von, hóa đá ông, lại tăng cường lên,làm cho đất mất tính chất hóa lý, mất vi sinh vật, không giữ được nước, dễ bị khô hạn, thiếu chất dinh dưỡng, trở nên rất chua, kết cứng lại, đi đến cằn cõi, trơ sỏi đá Thể hiện một quy luật cũng khá phổ biến, đối lập hẳn hoi với quy luật trên, tức là rừng mất thì đất kiệt và đất kiệt thì rừng cũng bị suy vong
c Các tài nguyên khác
Rừng có tác dụng làm giảm xói mòn đất luôn là một vấn đề nghiêm trọng ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các vùng đầu nguồn và các vùng đồi Viêt Nam cũng không ngoại lệ, khi mối lo ngại về xói mòn đất ở vùng đầu nguồn gây nên sự bồi lắng đe dọa đến sản xuất và đời sống Xói mòn đất thường liên quan chặt chẻ tới thảm phủ thực vật, độ dốc, đặc điểm địa chất và lượng mưa Ở những nơi có rừng che phủ thì xói mòn đất luôn thấp hơn, đặc biệt là nhưng nơi có rừng nhiều tầng tán với tầng cây bụit thảm tươi và thảm mục rừng được duy trì Tại các khu vực bằng phẳng thì có rừng hoặc không có rừng chỉ tác động rất ít đến xói mòn Nhưng ở những nơi rất dốc, lượng mưa trung bình thì tốc độ xói mòn rất cao gây ra sạt lở trượt đất Rừng có thể giảm được
tỷ lệ xói mòn xuống khoảng 10-25 lần
Rừng có tác dụng điều tiết dòng chảy bề mặt phụ thuộc vào sự cân bằng của một số các yếu tố thủy văn bao gồm sự ngưng động nước mưa, bay hơi, thoát hơi nước của cây, sự thẩm thấu, giữ nước trong lòng đất và phục hồi nước ngầm Rừng được gằn liền với sự ngưng động của mưa làm tăng dòng chảy Mặt khác rừng tự nhiên còn giúp tăng thêm sự thẩm thấu và khả nẳng giử nước của đất thông qua một lớp thảm tươi và thảm mục Rừng hoạt động như “những bọt nước”, hút nước trong mùa mưa và nhả nước vào mùa khô Ngoài ra rừng có vai trò rất quan trọng trong việc hạn chế lụt lụt và hạn hán Mất rừng là một trong những nguyên nhân gây ra lũ lụt vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô Vì rừng có tác dụng điều tiết dòng chảy sông ngòi với việc giữ nước trên lưu vực trong mùa lũ và cung cấp lại nước trong mùa khô kiệt Rừng làm cho hạn hán
và lũ lụt bớt nghiêm trọng, chế độ thủy văn trên lưu vực có rừng trở nên điều hòa hơn
Rừng có vai trò rất lớn trong việc: chống cát di động ven biển, che chở cho vùng đất bên trong nội địa, rừng bảo vệ đê biển, cải hóa vùng chua phèn,cung cấp gỗ, lâm sản…
Trang 11để động vật rừng phát triển
1.3.2 Đối với kinh tế - xã hội
a Kinh tế
- Lâm sản: Rừng cung cấp một số sản lượng lớn lâm sản phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng
Từ các loại gỗ, tre, nứa các nhà kinh doanh thiết kế tạo ra hàng trăm mặt hàng đa dạng và phong phú như trang sức, mĩ nghệ, dụng cụ lao động, thuyền bè truyền thống…cho tới nhà ở hay đồ dùng gia đình hiện đại Tùy vào đặc điểm tính chất của từng loại cây mà chúng ta có sản phẩm phù hợp Chẳng hạn gỗ huỳnh, săng lẻ, sao nhẹ, bền, xẻ ván dài, ngâm trong nước mặn không bị
hà ăn nên được làm ván các loại thuyền đi trên biển Gỗ Lim, gỗ Sếu là thứ gỗ bền thiên niên nên thường được dùng làm đình chùa, cung điện, chỉ ghép mộng chứ không dóngđinh mà vẫn giữ được công trình hàng thế kỷ
- Dược liệu: Rừng là nguồn dược liệu vô giá Từ ngàn xưa, con người đã khai thác các sản phẩm của rừng để làm thuốc chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe Ngày nay, nhiều quốc gia đã phát triển ngành khoa học “dược liệu rừng” nhằm khai thác có hiệu quả hơn nữa nguồn dược liệu vô cùng phong phú của rừng và tìm kiếm các phương thuốc chữa bệnh nan y
- Du lịch sinh thái: Du lịch sinh thái là một dịch vụ của rừng cần sử dụng một cách bền vững Nhiều dự án phát triển du lịch sinh thái được hình thành và gắn liền với các vườn quốc gia, các khu bảo tồn, các khu rừng có cảnh quan đặc biệt Du lịch sinh thái không chỉ không chỉ phục vụ
Trang 12
nhu cầu về mặt tinh thần mà còn tăng thêm thu nhập cho dân địa phương Thông qua đó, người dân đã gắn bó với rừng hơn, tham gia tích cực hơn trong công tác bảo vệ và xây dựng rừng Thêm một vấn đề đặt ra về môi trường bị ảnh hưởng bởi hoạt động du lịch và làm thế nào để quản lý môi trường nói chung và của các loài động vật
b Xã hội
- Ổn định dân cư: Cùng với rừng, người dân được nhà nước hỗ trợ đất sản xuất rừng, vốn cùng với các biện pháp kỹ thuật, cơ sở hạ tầng để tạo nguồn thu nhập cho người dân Giúp người dân thấy được lợi ích của rừng, gắn bó với rừng hơn Từ đó sẽ ổn định nơi ở sinh sống
- Tạo nguồn thu nhập: Rừng và sản phẩm từ rừng mang lại thu nhập cho người dân Cây rừng được dân khai thác làm nguyên liệu Thông qua hoạt động mua bá trao đổi giữa dân và các công
ty, đại lý, nhà phân phối Không chỉ ở trong nước, các sản phẩm còn được xuất khẩu ra ngoài thị trường nước ngoài làm tăng giá trị sản phẩm Hoạt động du lịch được mở rộng là nguồn thu nhập mới cho người dân Rừng mang lại thực phẩm, dược liệu tự nhiên có giá trị cho con người 1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN RỪNG
1.4.1 Vị trí địa lý
Tùy vào vị trí khác nhau mà các yếu tố về nhiệt độ, độ ẩm, đất đai, có sự thay đổi khác nhau Điều này đã hình thành nên đặc điểm riêng của rừng ở từng nơi, từ đó quy định các hình thái và kiểu rừng khác nhau Khu vực nhiệt đới có hình thái và kiểu rừng nhiệt đới, hay khu vực ôn đới
có hình thái và kiểu rừng ôn đới…
Hay những nước nằm trong khu vực nhiệt đới ven biển có lượng ẩm cao nên thảm thực vật rừng rất phát triển, trong khi các nước nhiệt đới nằm sâu trong lục địa có khí hậu khô hạn, thảm thực vật chủ yếu là hoang mạc và bán hoang mạc
Ngoài ra, vị trí địa lý còn quy định sự có mặt hay không có mặt của các loại cây trồng, vật nuôi Ví dụ như ở Việt Nam chúng ta do nằm trên đường di cư của nhiều loài sinh vật, còn là nơi hội tụ của các loài thực vật bản địa với dòng di cư ôn đới xuống và xích đạo lên Trên lãnh thổ nước ta, cùng với các loài bản địa, sinh vật còn được bổ sung từ các luồng di cư phía bắc là Hymalaya mang đến các loài cây lá kim ngành phụ hạt trần như thông hai lá, thông ba lá, pơmu…, các loài rụng lỏ mựa đụng…và luồng phía nam từ Malaisia – Indonesia lên với các cây
họ dầu, luồng phía tây từ Ấn Độ - Myanma sang mang đến các loài rụng lá mựa khụ…
Trang 13
Tóm lại , vị trí địa lý nước ta ảnh hưởng đến hình thái rừng, kiểu rừng, tính chất, phương thức sản xuất của hoạt động lâm nghiệp, ảnh hưởng đến việc áp dụng các biện pháp khai thác và quản
lý rừng
1.4.2 Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến phát triển rừng Điều kiện tự nhiên như vị trí địa lý, điều kiện đất đai, khí hậu, tài nguyên rừng có tác đông trực tiếp đến sự phát triển kinh tế rừng
a Địa hình
Địa hình chi phối các nhân tố khí hậu, đất, thủy văn, thảm thực vật Làm cho các yếu tố này phân hóa khác nhau theo độ cao Độ dốc, hướng sườn của địa hình còn ảnh hưởng đến nơi bắt đầu và kết thúc của các vành đai đất và vành đai thực vật theo độ cao Địa hình còn là ranh giới của các khu hệ thực vật khác nhau
Địa hình tạo ra sự phân hóa của các thành phần tự nhiên theo độ cao Sự đa dạng của địa hình tạo ra
sự đa dạng trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp
Có thể nói địa hình nước ta, dù ở miền núi hay đồng bằng , ven biển đều thích hợp cho các hoạt động trồng rừng
Địa hình đồi núi với đất feralit là điều kiện thuận lợi cho sự hình thành rừng Đây là nơi diễn ra các hoạt động lâm nghiệp chủ yếu của nước ta Đồi núi thấp (dưới 1000m) ở nước ta chiếm tới 85% nên kiểu rừng nhiệt đới cũng chiếm ưu thế Ngoài ra, yếu tố hướng sườn, độ dốc hướng sườn cũng góp phần hình thành thảm thực vật rừng trong từng khu vực
Địa hình khu vực ven biển nước ta cũng thuận lợi cho việc trồng rừng ngập mặt Kết hợp với lượng phù sa lớn và các yếu tố khí hậu nhiệt đới thuận lợi đã hình thành các kiểu rừng ngập mặn chạy dọc ven biển từ Quảng Ninh đến Cà Mau lớn thứ 3 trên thế giới sau rừng ngập mặn Amazon ở Nam Mỹ và ở Philippin Địa hình còn tạo nên sự phân hóa theo độ cao của các thảm thực vật
Bên cạnh ảnh hưởng của địa hình đến sự hình thành và phân bố các thảm thực vật rừng để dựa vào đó có thể thực hiện việc trồng mới, bố trớ các cây rừng cho thích hợp, thì địa hình cũng ảnh hưởng lớn đến các hoạt động khai thác rừng
b Đất đai
Đất là thành phần của hệ sinh thái rừng Trong cùng một điều kiện khí hậu như nhau, đất là nhân tố quyết định sự phân bố, sinh trưởng phát triển và sản lượng rừng
Trang 14
Đá mẹ, là cơ sở đầu tiên để hình thành đất, có ảnh hưởng trực tiếp đến đặc điểm lí học và hóa học của đất, thông qua đó ảnh hưởng đến phân bố, sinh trưởng và phát triển của rừng Độ sâu của tầng đất liên quan đến độ sâu của tầng đá mẹ và mực nước ngầm có ảnh hưởng đến sự phát triển của cây rừng
Nhân tố đất tạo điều kiện cho việc lựa chọn các giống cây rừng thích hợp cho quá trình trồng rừng đạt hiệu quả
c Khí hậu
Khí hậu là nhân tố chi phối chính trong các hoạt động sản xuất của lâm nghiệp Với các yếu tố, bức xạ mặt trời, nhiệt độ và độ ẩm, nó đã quyết định tới năng suất cây trồng và hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Bức xạ mặt trời: Rất quan trọng đối với thực vật, là nguồn năng lượng đầu vào, đầu tiên chủ
yếu của chuỗi thức ăn Ánh sáng mặt trời ảnh hưởng tới hình thái của tỏn cõy, ảnh hưởng tới qua trình quang hợp của cây Mỗi loài cây khác nhau trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của mình, đòi hỏi một lượng ánh sáng nhất định khác nhau Căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài người ta đưa ra người ta phân cây rừng ra thành loài ưa sáng và loài chịu bóng
Nhu cầu về ánh sáng khác nhau là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng phân tầng ở rừng Trong các quần xã rừng, thực vật ưa sáng thường chiếm tầng trên, thực vật ưa bóng thường chiếm tầng dưới của tán rừng Nhu cầu về ánh sáng cũng dẫn tới mối quan hệ tương trợ hoặc cạnh tranh dẫn tới sự thay thế loài cây này bằng loài cõy khỏc là một nhân tố quyết định xu hướng diễn thế của quần xã thực vật rừng
- Nhiệt độ: Ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại , sinh trưởng và vận động Nhiệt độ ảnh hưởng
tới quá trình trao đổi chất, quá trình hô hấp của sinh vật Đối với cây rừng, nhiệt độ ảnh hưởng tới quá trình đồng hóa (quang hợp) và dị hóa (hô hấp), ảnh hưởng tới quá trình thoát hơi nước và hấp thụ chất dinh dưỡng, ngoài ra nó cũn ảnh hưởng tới quá trình nảy mầm, tái sinh rừng
Mỗi loài cây chỉ thích hợp với một biên độ nhiệt nhất định Ngoài giới hạn của biên độ nhiệt tình hình sinh trưởng và phát triển của các loài cây sẽ ngừng lại và có thể chết
- Độ ẩm: Bao gồm độ ẩm không khí và độ ẩm đất
Độ ẩm không khí dư thừa là một trong những nguyên nhân tạo ra một trong những đặc điểm đặc biệt của rừng mưa nhiệt đới đó là hiện tượng rêu phát triển mạnh bao bọc lấy thân, cành của các cây
Trang 15d Nguồn nước
Nguồn nước có ảnh hưởng rõ rệt và quyết định sự phân bố thảm thực vật trên trái đất Ở mỗi vùng địa lý để đảm bảo cho rừng xuất hiện đều cần thiết phải đảm bảo đủ một giới hạn về lượng mưa nhất định Theo Thái Văn Trừng, chế độ khô ẩm là nhân tố quyết định các kiểu thảm thực vật nguyên sinh.Trong đó chế độ khô ẩm là một phức hệ ba nhân tố gồm lượng mưa hàng năm, chỉ số khô hạn và độ ẩm tương đối trung bình thấp nhất
Nước là nhân tố cần thiết duy trì sự tồn tại và nó còn là nhân tố để hạt giống hoàn thành giai đoạn nẩy mầm Nước ảnh tới rừng thông qua mưa, độ ẩm không khí và độ ẩm đõt
Trên thế giới những cánh rừng giàu có nhất đều được phân bố ở những nơi có điều kiện thuận lợi về nguồn nước như là nằm ỏ hạ lưu của các con sông lớn (rừng Amazụn) hay gần các khu vực ven biển, đại dương như khu vực rừng Ghinờ ở châu Phi hay rừng nhiệt đới khu vực Đông Nam Á Những cánh rừng giàu có nhất trên thế giới là những cánh rừng có lượng mưa lớn Vì vậy, người ta còn gọi là “ Rừng mưa nhiệt đới”
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Các nhân tố thuộc nhóm này gồm: tình hình tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; dân số, lao động, trình độ lao động; cơ sở hạ tầng, văn hóa giáo dục, y tế; các hình thức tổ chức sản xuất
a Dân cư, nguồn lao động
Dân cư, nguồn lao động có ảnh hưởng đến việc phát triển rừng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất lâm nghiệp Dân cư vừa là lực lượng sản xuất trực tiếp trong lâm nghiệp, vừa là nguồn tiêu thụ các sản phẩm lâm nghiệp Hoạt động lâm nghiệp đòi hỏi nhiều lao động Tuy nhiên, lâm nghiệp lại phân bố trên địa bàn rộng lớn, khu vực đồi núi thưa dân nên vấn đề lao động còn khó khăn Truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của đồng bào miền núi cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc sử dụng rừng và canh tác lâm nghiệp ở từng địa phương Tập quán du canh du cư, đốt nương làm rẫy trước đây đã làm cho một số lượng lớn diện tích rừng bị mất đi rất nhiều
Trang 16
b Cơ sở vật chất, hạ tầng lâm nghiệp
Là yếu tố phản ánh trình độ phát triển lâm nghiệp của một quốc gia Cơ sở hạ tầng lâm ngiệp được phát triển hoàn thiện làm tăng năng suất, hiệu quả sản xuất lâm nghiệp Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, việc áp dụng khoa học mới vào sản xuất lâm nghiệp ngày càng được chú trọng Nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng cả các hệ thống vệ tinh cho công tác quản lý, theo dõi diễn biễn rừng
c Đường lối chính sách
Phát triển lâm nghiệp là một vấn đề mang ý nghĩa xã hội to lớn Trong khi hiệu quả sản xuất lâm nghiệp còn thấp so với các ngành kinh tế khác, chi phí sản xuất lớn, nên nếu không có sự quan tâm phát triển nhà nước thì lâm nghiệp khó có thể phát triển được Chính sách nhà nước giữ vai trò định hướng trong phát triển lâm nghiệp, huy động sức người, sức của vào sản xuất lâm nghiệp
Ba nhóm nhân tố trên có sự tác động qua lại lẫn nhau chi phối sự phát triển của rừng, nếu được phối hợp tốt sẽ tạo ra sự phát triển bền vững và ngược lại chỉ quan tâm đến một nhóm nhân tố sẽ làm cho rừng nói riêng và lâm nghiệp nói chung phát triển không bền vững
1.4.3 Các chính sách phát triển rừng
Các nhà xây dựng chính sách, pháp luật đã sớm nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của tài nguyên rừng trên cả ba khía cạnh: kinh tế, khoa học và môi trường Đặc biệt trong những năm gần đây, nhiều chủ trương, chính sách về phát triển lâm nghiệp đã được hoạch định, hệ thống pháp luật về rừng đang từng bước được hoàn thiện, nhiều chương trình, dự án cấp quốc gia và quốc tế được triển khai, tạo đà thúc đẩy việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được tốt hơn Bảo
vệ và phát triển rừng là một trong những lĩnh vực chịu sự tác động rất mạnh của chính sách và pháp luật Điều này cũng có nghĩa là để quản lý rừng công bằng và bền vững đòi hỏi chính sách, pháp luật về rừng phải có mức độ phù hợp cao hơn nữa so với yêu cầu của thực tiễn
Chính sách của Nhà nước tác động cùng chiều vào nền kinh tế, tạo động lực kinh tế mà cốt lõi là lợi ích của người sản xuất, xác lập hành lang và chỗ dựa pháp lý cho các chủ thể kinh tế hoạt động
Trang 17
1.4.4 Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Thị trường tiêu thụ sản phẩm quyết định quy mô sản xuất rừng đáp ứng nhu cầu lâm sản và dịch
vụ rừng cho xã hội Sản phẩm lâm sản và dịch vụ rừng do hộ gia đình hoặc doanh nghiệp lâm nghiệp cung cấp theo tín hiệu của thị trường
Thực trạng phát triển thị trường gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đã thể hiện các ưu điểm theo xu hướng như: Tổng cung, tổng cầu đều tăng trưởng khá nhanh; nhiều tỉnh thành trong cả nước đã ngày càng mở rộng ra nhiều thị trường chính, khó tính, tiềm năng; giảm xuất thô đáng kể; tăng nhập khẩu gỗ nguyên liệu để tăng xuất khẩu; trồng rừng nguyên liệu đã được chú ý, hệ thống doanh nghiệp chế biến lâm sản ngày càng phát triển, từng bước đổi mới thiết bị công nghệ cũng như năng lực cạnh tranh ngày càngphù hợp với xu hướng phát triển thị trường trong nước cũng như ngoài nước
Tuy nhiên bên cạnh đó còn nhiều hạn chế: Thị trường phát triển thiếu đồng bộ; quy hoạch trồng rừng nguyên liệu chưa tổng thể; điều kiện phát triển thị trường còn bất cập nhất là chính sách, khoa học và công nghệ, quản lý Nhà nước; hiệu quả thị trường còn thấp; bảo vệ rừng và môi trường chưa tốt Nhiều luật và chính sách có tác động tích cực đến việc phát triển thị trường, song mức tác động vẫn còn khiêm tốn, thậm chí có lúc, có nơi còn là “lực cản”
Các chính sách phát triển kinh tế thị trường vẫn đang bộc lộ rất rõ nét sự thiếu thống nhất và không rõ ràng dẫn đến những bất cập trong chính sách đầu tư, ưu đãi đối với các doanh nghiệp nhà nước
Một số luật mới ban hành gần đây như Luật đầu tư, Luật canh tranh, Luật Doanh nghiệp chưa thực sự có hiệu lực do chưa có đủ các văn bản hướng dẫn thi hành luật.Việt Nam hiện đang thiếu
hệ thống chính sách kiểm soát chất lượng sản phẩm, thiếu chế tài để điều chỉnh sự sử dụng lâm sản theo hướng bền vững hay kết hợp hài hoà giữa các lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường
Hệ thống chính sách kiểm soát việc tiêu thụ và chế biến gỗ lậu còn yếu kém Các chính sách và chiến lược phát triển hệ thống chế biến, đầu tư phát triển trồng rừng nguyên liệu chưa phù hợp với thực tế phát triển thị trường Tất cả các yếu tố trên của thị trường cả thuận lợi và khó khăn đều có tác động rất lớn đến sự phát triển rừng và ngành lâm nghiệp
Trang 18
1.5 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ RỪNG CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1.5.1 Khái quát chung về rừng
Diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố là 67.148 ha, tập trung chủ yếu ở phía Tây và
Tây Bắc thành phố, bao gồm 3 loại rừng:
- Rừng đặc dụng: 22.745 ha, trong đó đất có rừng là 15.933 ha
- Rừng phòng hộ: 20.895 ha, trong đó đất có rừng là 17.468 ha
- Rừng sản xuất: 23.508 ha, trong đó, đất có rừng là 18.176 ha
Rừng ở Đà Nẵng tập trung chủ yếu ở cánh Tây huyện Hòa Vang, một số ít ở quận Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn Tỷ lệ che phủ là 49,6%, trữ lượng gỗ khoảng 3 triệu m3 Phân bố chủ yếu ở nơi có độ dốc lớn, địa hình phức tạp
* Khu Bảo tồn thiên nhiên Bà Nà
Tổng diện tích tự nhiên là 8.838 ha, trong đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 8.800 ha bao gồm đất có rừng: 6.942 ha (rừng tự nhiên 5.976 ha, rừng trồng 966 ha), đất chưa có rừng 1.858
ha
* Khu văn hóa lịch sử môi trường Nam Hải Vân
Tổng diện tích tự nhiên là 10.850 ha, trong đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp 9.764 ha (rừng
tự nhiên 2.993,4 ha, rừng trồng 2.565,4 ha), đất chưa có rừng là 4.205ha)
Rừng đặc dụng Nam Hải Vân tiếp giáp với vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế) và Bà
Nà - Núi Chúa, cùng tạo ra một hành lang đủ lớn để bảo tồn và phát triển các loài động vật rừng
có nguy cơ tuyệt chủng
* Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà
Tổng diện tích tự nhiên là 4.439 ha, trong đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 4.180 ha, trong
đó đất có rừng là 3.431 ha (rừng tự nhiên 2.806 ha, rừng trồng 625 ha), đất chưa có rừng 748 ha Đây là khu bảo tồn thiên nhiên vừa có hệ sinh thái đất ướt ven biển vừa có thảm rừng nhiệt đới mưa ẩm nguyên sinh Nguồn gen thực vật nhiệt đới của Sơn Trà rất đa dạng, phong phú với số lượng cá thể lớn có khả năng cung cấp giống cây bản địa phục vụ trồng rừng như: Chò chai, Dẻ cau, Dầu lá bóng
Điều đặc biệt là Sơn Trà còn có những loài động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, trong
đó Voọc vá có thể được xem là loài thú sinh trưởng đặc hữu của Đông Dương cần được bảo vệ
Trang 19
1.5.2 Vai trò của rừng đối với thành phố Đà Nẵng
Rừng ở thành phố Đà Nẵng có một vai trò vô cùng to lớn Nhiều năm qua ngành lâm nghiệp cũng đã đóng góp khá nhiều vào ngân sách thành phố, góp phần phát triển kinh tế xã hội thành phố Cung cấp các mặt hàng từ công nghiệp chế biến gỗ, lâm sản và hàng thủ công mỹ nghệ, nhiều mặt hàng có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới đóng góp vào ngân sách của thành phố khá lớn Ngành lâm nghiệp Đà Nẵng chú trọng đẩy nhanh tiến
độ trồng rừng, chủ yếu là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn đã nâng cao độ che phủ và bảo vệ cảnh quan phục vụ phát triển du lịch sinh thái Bên cạnh đó, để hỗ trợ cho đời sống của đồng bào dân tộc, các gia đình ở vùng nông thôn và miền núi, chính quyền địa phương đã triển khai thực hiện nhiều chương trình như: trồng rừng kinh tế, đẩy mạnh khuyến lâm, phát triển kinh tế vườn đồi và các mô hình nông - lâm - thủy sản kết hợp cũng như khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia chế biến lâm sản xuất khẩu từ gỗ rừng trồng
Công tác quản lý, bảo vệ rừng, trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng cảnh quan môi trường, rừng ven biển luôn được chú trọng, đã nâng độ che phủ rừng đạt 39%
Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch Thiên nhiên đã ưu đãi ban cho thành phố các khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc như: Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà, Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Khu văn hóa lịch sử môi trường Nam Hải Vân có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với phát triển kinh
tế cũng như môi trường sinh thái của thành phố:
- Khu Bảo tồn thiên nhiên Bà Nà: Đây là khu rừng có giá trị lớn về đa dạng sinh học, nối liền với
vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế), rừng đặc dụng Nam Hải Vân và dãy rừng tự nhiên phía bắc và tây bắc tỉnh Quảng Nam, tạo nên một dãy rừng xanh độc nhất Việt Nam liên tục trải dài từ biển Đông đến biên giới Việt - Lào Rừng tự nhiên Bà Nà - Núi Chúa có kết cấu thành loài đặc trưng cho sự giao lưu giữa hai luồng thực vật phía bắc và phía nam, đồng thời cũng đặc trưng cho khu đệm giao lưu giữa hai hệ động vật Bắc Trường Sơn và Nam Trường Sơn
Ngoài ra, đây còn là vùng khí hậu mát mẻ, trong lành, đầu nguồn các dòng sông, đóng vai trò đáng kể trong việc bảo vệ môi trường, điều hòa khí hậu, phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch sinh thái của thành phố Đà Nẵng
- Khu văn hóa lịch sử môi trường Nam Hải Vân: Về mặt môi trường, Hải vân tạo ra sự khác biệt
rõ rệt về khí hậu, thời tiết giữa hai sườn phía Nam (Đà Nẵng) và phía Bắc (Thừa Thiên - Huế),
Trang 20
che chắn thành phố Đà Nẵng giảm bớt sự tác động trực tiếp của gió bão hàng năm, đồng thời điều tiết mức độ nhiễm mặn của sông Cu Đê Hải Vân còn có giá trị lớn về mặt văn hóa, lịch sử: đây là nơi ghi dấu ấn lịch sử Nam tiến mở rộng bờ cõi của dân tộc Việt và có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ
- Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà: Đây là nơi có khí hậu mát mẻ, hệ động thực vật đa dạng có ý
ngĩa sinh thái vô cùng to lớn Mặt khác Sơn Trà còn là nguồn cung cấp nước ngọt cho thành phố
và là nơi có nhiều cảnh đẹp và di tích lịch sử nên rất có giá trị về du lịch Ngoài ra, Sơn Trà còn
là bức bình phong che chắn gió bão cho thành phố
Trang 21
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA VANG
2.1 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN RỪNG Ở HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý và ranh giới hành chính
Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Là một huyện ngoại thành bao bọc quanh phía Tây khu vực nội thành thành phố Đà Nẵng, huyện có toạ độ từ 15o55’ đến 16o13’ vĩ độ Bắc và 107o49’ đến 108o13’ kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp các huyện Nam Đông và Phú Lộc của tỉnh Thừa Thiên - Huế
- Phía Nam giáp hai huyện Điện Bàn, Đại Lộc của tỉnh Quảng Nam;
- Phía Đông giáp quận Cẩm Lệ, Liên Chiểu;
- Phía Tây giáp huyện Đông Giang của tỉnh Quảng Nam
Về tổ chức hành chính, huyện có 11 xã: Hòa Bắc, Hòa Châu, Hòa Khương, Hòa Liên, Hòa Nhơn, Hòa Ninh, Hòa Phong, Hòa Phú, Hòa Phước, Hòa Tiến
Trang 22
Với vị trí địa lý thuận lợi như vậy, Hòa Vang có đầy đủ các điều kiện để phát triển các ngành kinh tế trong đó có lâm nghiệp Vị trí địa lý thuận lợi là một điều kiện quan trọng để Hoà Vang khai thác tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội trong ngắn hạn cũng như lâu dài
b Địa hình
Địa hình trên địa bàn huyện cũng khá đa dạng, có thể chia thành các dạng địa hình chính sau:
* Địa hình vùng đồi núi:
Phân bố ở phía Tây, có diện tích khoảng 56.476,7 ha, bằng 79,84% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện
Thuộc địa phận các xã: Hòa Bắc, Hòa Liên, Hòa Ninh, Hòa Phú, có độ cao trung bình khoảng từ 400-500 m, độ dốc lớn >400 , các dãy núi nối tiếp nhau, đây là vùng có địa hình phức tạp, mức
độ chia cắt mạnh, có đỉnh Bà Nà (1487m) cao nhất thuộc xã Hòa Ninh
* Địa hình vùng trung du:
Chủ yếu là đồi núi thấp có độ cao trung bình từ 50 đến 100 m, xen kẽ là những cánh đồng hẹp, bao gồm các xã Hoà Phong, Hoà Khương, Hoà Sơn, Hoà Nhơn với diện tích 11.170 ha, chiếm 15,74 % diện tích toàn huyện Là vùng địa hình tiếp giáp với vùng núi Vùng này bao gồm nhiều đồi bát úp nằm đan xen, mức độ chia cắt thấp, độ dốc 10-200
* Vùng đồng bằng:
Đồng bằng ở đây chủ yếu là đồng bằng ven sông, tổng diện tích là 3.087 ha, chiếm 4,37% diện tích tự nhiên Đây là vùng nằm ở độ cao thấp 2-10 m, hẹp nhưng tương đối bằng phẳng, phân bố dọc 2 hệ thống sông chính: sông Túy Loan và sông Cu Đê, chạy dọc địa phận các xã Hòa Phú, Hòa Phong, Hòa Tiến, Hòa Châu, Hòa Phước, Hòa Liên
Tuy nhiên, có yếu tố không thuận lợi là do địa hình thấp, khu vực này thường bị ngập lụt trong những ngày mưa lũ lớn
c Đất đai
+ Đất dốc tụ: Đây là sản phẩm của quá trình bào mòn được di chuyển không xa, thường phân bố
ở vùng trung du và miền núi Phần lớn đất dốc tụ có nhiều chất hữu cơ, độ phì khá, màu sắc phụ thuộc vào đá mẹ và chất hữu cơ trong đất
Trang 23
+ Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit: Phân bố ở vùng núi cao xã Hòa Liên Đặc điểm là quá trình feralit và sự phân giải chất hữu cơ càng lên cao càng yếu Đất tích lũy mùn khá, thành phần
cơ giới nhẹ, tầng mỏng, lẫn nhiều đá, chiếm diện tích 392 ha
+ Đất feralit đỏ vàng phát triển trên các loại đất khác: phân bố rải rác ở vùng đồi núi Đặc điểm chung là có màu sắc chủ đạo là đỏ vàng đến vàng đỏ, đất chua, nghèo kiềm, khoáng vật nguyên sinh đã phân hóa triệt để
Đất đai có nguồn gốc chủ yếu đá biến chất, đất đỏ vàng phát triển trên các đá mẹ như
mắc-ma, gra-phit Địa hình đất đai của vùng này thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, nông nghiệp và du lịch
Địa hình đa dạng của Hoà Vang cùng với kết cấu đất vững chắc thuận lợi cho bố trí các công trình hạ tầng kỹ thuật, tạo cho huyện tiềm năng phát triển một nền kinh tế với thế mạnh về nông lâm nghiệp và du lịch nhưng đồng thời cũng có nhiều khó khăn, thách thức như hạn hán, lũ lụt… cần phải giải quyết Cần phải có quy hoạch sử dụng đất hợp lý và phải tính đến những tác động tích cực cũng như tiêu cực của quá trình khai thác sử dụng nhằm đảm bảo trạng thái cân bằng về
địa hình, bảo vệ môi trường sinh thái.d Khí hậu
d Khí hậu
Hoà Vang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 01 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25,80C cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, với nhiệt độ trung bình 28-30°C, thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18-23°C Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20°C
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, cao nhất vào các tháng 10, 11 trung bình khoảng 85-87%, thấp nhất vào các tháng 6, 7 trung bình khoảng 76-77%
Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.800 mm, mưa lớn thường tập trung vào hai tháng 10
và 11 gây lũ lụt, ngập úng cho vùng đất thấp Tuy nhiên có những năm lượng mưa thấp, như năm
2003 đạt 1.375 mm gây thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp và đời sống Các hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 2, gió mùa Đông Nam và Tây Nam vào tháng 5 đến tháng 7 Huyện thường xuyên bị chịu ảnh hưởng của bão, trung bình hàng năm có 1-2 cơn bão đi qua, hai năm thường có một cơn bão lớn
Trang 24
Số giờ nắng bình quân hàng năm là 2.076 giờ, nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trung bình từ 233 đến
262 giờ/tháng, lớn nhất là vào tháng 12 và tháng 1 trung bình từ 58 đến 122 giờ/tháng
e.Thủy văn
+ Nước mặt: Hệ thống sông ngòi của Hoà Vang bao gồm các sông chính là sông Cu Đê, sông
Yên, sông Túy Loan, sông Vĩnh Điện; một số sông nhỏ là sông Tây Tịnh, Qúa Giáng, và hệ thống nhiều ao hồ tự nhiên Đặc tính của những con sông chảy qua Hòa Vang này là độ dốc lòng sông cao, mực nước dao động lớn, lượng nước biến động mạnh giữa mùa mưa và mùa khô Sông Cầu Đỏ được bắt nguồn từ sông Yên và sông Túy Loan, sông Yên có thượng nguồn ở Đại Lộc chảy theo hướng Tây Nam-Đông Bắc đến hợp lưu với sông Túy Loan tai Bồ Bản qua địa bàn các
xã Hòa Khương, Hòa Tiến
Sông Túy Loan được bắt nguồn từ sông Lỗ Đông và sông Hội Phước thuộc địa bàn các xã Hòa Phú, Hòa Ninh
Hệ thống sông Cu Đê: là hợp lưu giữa sông Bắc và sông Nam, chảy qua các xã Hòa Bắc, Hòa Liên
Nhìn chung chất lượng nước các sông đều đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương, trừ sông Cẩm Lệ và sông Cu Đê bị nhiễm mặn thủy triều vào thời gian mùa khô từ tháng 5 đến tháng 6
+ Nước ngầm: Theo đánh giá sơ bộ, Hoà Vang có trữ lượng nước ngầm lớn, mực nước ngầm cao Trong tương lai có thể sử dụng nguồn nước ngầm phục vụ sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác Tại Đồng Nghệ (xã Hoà Khương) có nguồn nước khoáng nóng nhưng hiện tại chưa được khai thác với quy mô công nghiệp
Nhìn chung, các điều kiện khí hậu và thuỷ văn của huyện Hoà Vang có nhiều thuận lợi, song cũng có nhiều khó khăn như hạn hán, lũ lụt gây ảnh hưởng không nhỏ đối với sản xuất, đời sống của nhân dân; gây hư hại các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
f Tài Nguyên
- Sinh vật: Tương đối đa dạng và phong phú, đặc biệt là sinh vật rừng Hệ thực vật rừng tại khu
bảo tồn thiên nhiên Bà Nà - Núi Chúa có 793 loài thuộc 487 chi, 134 họ của 4 ngành, trong đó có
19 loài thực vật quý hiếm được ghi vào Sách đỏ Việt Nam Tại khu bảo tồn thiên nhiên Bà Núi Chúa có 256 loài, trong đó lớp Thú có 61 loài thuộc 26 họ, 8 bộ; lớp Chim có 179 loài thuộc
Trang 25
46 ho, 18 bộ; lớp Bò sát có 17 loài thuộc 8 họ, 2 bộ; Trong đó có 44 loài động vật quý hiếm có trong Sách đỏ Việt Nam
- Khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản đã được phát hiện ở Hoà Vang chủ yếu là các loại khoáng
sản làm vật liệu xây dựng, bao gồm: đá ốp lát, đá phục vụ xây dựng, đá mỹ nghệ, tập trung chủ yếu ở các xã trung du và miền núi Hòa Nhơn, Hòa Sơn, Hòa Ninh và Hòa Phú Các mỏ cát xây dựng ở dọc sông Cẩm Lệ, Tuý Loan, Quá Giáng Đất sét với trữ lượng lớn để sản xuất gạch ngói có ở hầu hết các xã đồng bằng và trung du Ngoài ra, đã phát hiện quặng Volfram ở Nà Hoa
(Hoà Ninh), quặng thiếc ở Đồng Nghệ (Hoà Khương) nhưng trữ lượng không lớn
- Nước: Trữ lượng nước ngọt lớn trên các sông Yên, sông Túy Loan, sông Cu Đê là nguồn
cung cấp nước chính cho các nhà máy nước của tp Đà Nẵng và một phần cho huyện Hoà Vang
Trữ năng thuỷ điện của các sông trên địa bàn huyện hiện đang được Công ty Cổ phần thuỷ điện GERUCO Sông Côn khảo sát nghiên cứu Trước mắt Công ty này đang triển khai đầu tư cụm dự
án thuỷ điện sông Hương – Luông Đông tại xã Hoà Phú với tổng công suất dự kiến 4.300 KW (tổng vốn đầu tư khoảng 67 tỷ đồng) và cụm dự án thuỷ điện sông Nam- sông Bắc tại xã Hoà Bắc với tổng công suất dự kiến 12 MW (tổng vốn đầu tư khoảng 877 tỷ đồng)
- Tài nguyên du lịch:
Huyện có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch đa dạng: du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng ở khu vực Bà Nà-Núi Chúa, Đồng Nghệ, Ngầm Đôi (Hoà Phú), du lịch trên sông (dọc sông Cu Đê), du lịch đồng quê, vườn đồi (thuận lợi cho khách từ tp Đà Nẵng đi nghỉ cuối tuần) Nhiều hồ, đầm tự nhiên như Bàu An Ngãi Tây, Bàu Nghè ở Hòa Sơn có thể cải tạo thành các công viên du lịch mặt nước Nếu cơ sở hạ tầng kỹ thuật, khách sạn, nhà hàng, điểm vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển được đầu tư xây dựng tốt sẽ thu hút rất nhiều khách du lịch đến và sẽ tạo nên thu nhập rất lớn cho huyện và cả tp Đà Nẵng
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên của huyện tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sự pháy triển của rừng hay ngành lâm nghiệp Nguồn tài nguyên Hòa Vang khá là đa dạng và phong phú, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát triển rừng cũng như phát triển Có tài nguyên đất phong phú nhiều chủng loại thích cho nhiều loại cây, nguồn nước dồi dào cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho việc phát triển rừng, cung cấp lượng nước cần thiết cho sự sinh trưởng của cây rừng, tạo ra sự đa dạng, phong phú của thực vật rừng Đa số diện tích đất rừng có khoảng cách không lớn với các khu dân cư, nên khi có bất kỳ vấn đề nào xảy ra đối với rừng như cháy rừng, khai
Trang 26
thác rừng trái phép…dễ dàng được các cơ quan chức năng hay người dân phát hiện và xử lý kịp thời
Ngoài ra điều kiện tự nhiên của huyện cũng gây ra nhiều khó khăn: Thành phố Đà Nẵng, trong
đó có huyện Hòa Vang là một trong các tỉnh, thành phố của miền Trung Vào mùa mưa bão thì thường xuyên gánh chịu những cơn bão đổ bộ vào đất liền Vào mùa hè, huyện Hòa Vang cũng phải đối mặt với những đợt nắng nóng cao độ và kéo dài, dễ dàng tạo điều kiện cho những cơn cháy rừng bùng phát Cháy rừng không những gây thiệt hại cho thực vật, động vật trong rừng mà còn gây ô nhiễm môi trường xung quanh
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a Kinh tế
Kinh tế huyện Hòa Vang phát triển đa dạng với đủ loại ngành nghề Phần lớn người dân sinh sống bằng nghề nông, chăn nuôi gia súc, gia cầm, dệt lụa, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, một
bộ phận tham gia sản xuất tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ và phục vụ du lịch Tốc độ
tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2008 - 2012 đạt 10,8% Đóng góp vào tăng trưởng giai đoạn 2008-2013 là sự tăng lên của ngành công nghiêp - xây dựng, thương mại - dịch vụ Trong
đó ngành công nghiệp - xây dựng có tốc độ tăng bình quân gần 13,6%, ngành nông nghiệp tăng 1,1%, ngành thương mại-dịch vụ tăng 16.48% Với điều kiện kinh tế đang ngày càng phát triển như vậy sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ rừng
Bảng 2.1: Giá trị và tốc độ tăng trưởng sản xuất các ngành kinh tế trên địa bàn huyện Hòa
Vang
Toàn huyện
Gía trị (tỷ đồng) 742,80 830,40 943,00 1.000,80 1.104,60 Tăng trưởng(%) 12,20 11,80 13,60 6,10 10,40 Tốc độ tăng trưởng
bình quân(%) 10,80
Nông, lâm,
thủy sản
Gía trị (tỷ đồng) 280,80 295,30 311,70 270,00 280,36 Tăng trưởng(%) 4,50 5,60 5,20 -13,40 3,80 Tốc độ tăng trưởng
1,10
Trang 27
Công nghiệp,
Xây dựng
Gía trị (tỷ đồng) 296,40 342,20 398,80 458,10 507,17 Tăng trưởng(%) 10,20 15,50 16,50 14,90 10,70 Tốc độ tăng trưởng
bình quân (%) 13,60
Thương mại,
dịch vụ
Gía trị (tỷ đồng) 165,60 192,90 232,5 272,7 308,55 Tăng trưởng(%) 15,50 16,50 20,00 17,30 13,10 Tốc độ tăng trưởng
bình quân (%) 16,48
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hòa Vang
Vốn đầu tư cũng là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với phát triển rừng Phải tăng cường cơ chế đầu tư vốn cho phát triển sản xuất lâm nghiệp Trình độ, kỷ thuật của người lao động, tập quán canh tác, ngành nghề truyền thống cũng chi phối mạnh mẽ đến bố trí cơ cấu cây trồng, cơ cấu sản phẩm của huyện
- Đặc điểm xã hội: Huyện Hòa Vang có nguồn lao động dồi dào, truyền thống sản xuất nông lâm
nghiệp kết hợp từ lâu nên tích lũy được khá nhiều kinh nghiệp trong sản xuất, đây cũng là một lợi thế to lớn
b Xã hội
Theo thống kê năm 2012, dân số trên toàn huyện Hòa Vang là 120.698 người, chiếm khoảng 13% dân số toàn thành phố, mật độ dân số của huyện là 149,6 người/km2 thấp hơn nhiều so với mật độ dân số toàn thành phố (599 người/km2)
Lực lượng lao động ở đây tương đối dồi dào có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng rừng và bảo vệ rừng Người dân lao động ở đây cần cù siêng năng gắn bó lâu đời với rừng núi nên có rất nhiều kinh nghiệp phát triển rừng Tuy nhiên nhìn chung trình độ dân trí vẫn còn thấp nên cũng
chưa đạt được hiệu quả cao trong công tác trồng, bảo vệ và phát triển rừng Nguồn lao động của
huyện Hòa Vang dồi dào 66.236 lao động/120.698 người (dân số toàn huyện); chiếm 54,88% Tỷ
lệ người dân trong độ tuổi lao động ở các xã xấp xỉ bằng nhau và trên 50% số dân trong xã Thu nhập bình quân 13,8 triệu đồng/người/năm (năm 2012), thu nhập cơ bản đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của người dân
c Cơ sở hạ tầng
Trang 28
- Giao thông: Hệ thống đường giao thông đối ngoại và nội vùng trên địa bàn huyện tương đối
thuận tiện Quốc lộ 1A là đường giao thông huyết mạch Bắc - Nam chạy từ Cầu Đỏ qua các xã Hoà Châu và Hoà Phước; quốc lộ 14B chạy qua các xã Hoà Khương, Hoà Phong, Hoà Nhơn nối Quảng Nam với Đà Nẵng; tuyến đường tránh Nam Hải Vân đi qua các xã Hoà liên, Hoà sơn, Hoà nhơn; các tuyến đường ĐT 601, 602, 604, 605 do thành phố quản lý và hệ thống các tuyến
đường giao thông liên huyện và liên xã Các tuyến đường sông có thể sử dụng để vận chuyển và lưu thông hàng hóa: sông Cu Đê, sông Hàn, sông Yên, sông Túy Loan Giao thông thuận lợi là
một điều kiện quan trọng để Hoà Vang khai thác tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội trong ngắn hạn cũng như lâu dài
- Hệ thống điện: Hệ thống điện tương đối hoàn chỉnh, rộng khắp trên địa bàn huyện Cơ bản đủ
điều kiện để cung cấp cho đời sống nhân dân và hoạt động sản xuất Hệ thống điện thắp sáng dùng trong sinh hoạt và sản xuất đảm bảo 100% đã có hệ thống mạng ñiện lực quốc gia bao phủ
2.1.3.Chính sách phát triển rừng
a Chính sách giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng
- Chính sách giao đất, giao rừng: Đến thời điểm hiện tại UBND huyện đã giao 40.961 ha rừng
và đất rừng cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân quản lý sử dụng
- Chính sách khoán bảo vệ rừng: Từ ngày 20/7/2013 mức khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi tái
sinh rừng tự nhiên bình quân là 200.000 đồng/ha/năm được quy định tại Thông tư liên tịch số 80/2013/TTLT-BTC-BNN
b Chính sách đầu tư
- Chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020
- Một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015
c Chính sách khoa học và khuyến lâm
Trong những năm gần đây chính sách của Nhà nước về khoa học khuyến lâm đối với các mô hình trồng cây lâm nghiệp trên địa bàn huyện Hòa Vang thu được những hiệu quả đáng ghi nhận như mô hình trồng rừng thâm canh keo lai, trồng thâm canh cây tre Điền Trúc, trồng cây mây nếp…đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân
2.1.4 Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Bên cạnh đó yếu tố thị trường có ý nghĩa rất quan trọng Phát triển bền vững lâm nghiệp nghiệp
Trang 29
sự tăng trưởng kinh tế ngày càng cao trong nông nghiệp Hiện nay nhu cầu của thị trường về sản phẩm lâm nghiệp đang ngày càng cao nên cũng tạo điều kiện cho ngành lâm nghiệp của huyện phát triển Thị trường tiêu thụ sản phẩm khá ổn định, người dân nắm bắt thông tin thị trường kịp thời Trên địa bàn và các vùng lân cận đã có nhiều địa điểm thu mua, chế biến gỗ rừng trồng 2.2 HIỆN TRẠNG RỪNG Ở HUYỆN HÒA VANG
2.2.1 Diện tích và phân bố rừng
a Diện tích rừng, độ che phủ rừng
Diện tích đất lâm nghiệp của thành phố Đà Nẵng được phân bố trên địa bàn 5 quận huyện như: Sơn Trà, Liên Chiểu, Cẩm Lệ, Ngũ Hành Sơn và Hòa Vang Nhưng diện tích rừng thành phố Đà Nẵng tập trung chủ yếu ở huyện Hòa Vang Theo số liệu thống kê thì diện tích đất tự nhiên rừng huyện Hòa Vang năm 2012 là 73.489 ha, trong đó diện tích đất rừng là 50.908,7 ha chiếm 69.3%
Bảng 2.2: Diện tích và độ che phủ rừng qua các năm gần đây
đất tự nhiên(ha)
Diện tích đất rừng(ha)
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hòa Vang
Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện diện tích và độ che phủ rừng giai đoạn 2008-2012
Trang 30
Qua biểu đồ cho thấy tổng diện đất rừng và độ che phủ rừng trên địa bàn huyện Hòa Vang có sự thay đổi qua các năm Năm 2008 diện tích đất rừng là 51.600,8 ha đến năm 2012 là 50.908,7 ha, giảm 692,1 ha, đặc biệt từ năm 2009 đến 2010 diện tích rừng suy giảm nhanh từ 51.545,5 ha xuống còn 50.937,1ha, giảm 608,4 ha Từ 2010 đến 2012 diện tích cũng có sự suy giảm nhưng không đáng kể từ năm 2010 đến 2012 giảm 28,4 ha Như vậy từ năm 2008 đến 2012 diện tích đất rừng huyện Hòa Vang có sự suy giảm nguyên nhân chủ yếu do người dân khai thác bừa bãi, chuyển mục đích sử dụng rừng và công tác quản lý chưa chặt chẽ…Tuy nhiên hiện nay cũng đã
có một số biện pháp hạn chế sự suy giảm rừng như cải tạo rừng, khoanh nuôi, tăng cường công tác quản lý…nên cũng đã khắc phục được sự suy giảm rừng
Độ che phủ rừng cũng có sự thay qua các năm tuy nhiên sự thay đổi không đáng kể, từ năm 2008
độ che phủ rừng là 40,5% đến năm 2012 là 40%, giảm 0,5% Từ năm 2008 đến năm 2011 độ che phủ rừng suy nhiều nhất từ 40,5% xuống còn 39,3%, giảm 1,2% Từ năm 2011 đến 2012 lại tăng lên từ 39,3% lên 40%, tăng 0,7% nhờ công tác trồng rừng được chú trọng, công tác bảo vệ đạt hiệu quả cao
b Phân bố
Huyện Hoà Vang có nguồn tài nguyên rừng phong phú, đây là một trong các thế mạnh của huyện Diện tích đất rừng hiện có là 50.908,7 ha chiếm 69.3% Trong đó, đất rừng sản xuất là 14.748,1ha (29% diện tích đất tự nhiên), tập trung chủ yếu ở Hoà Bắc, Hoà Ninh và Hoà Phú, đất
38.6 38.8 39 39.2 39.4 39.6 39.8 40 40.2 40.4 40.6
Độ che phủ
Trang 31Đơn vị thống kê Tổng Rừng đặc dụng Rừng phòng hộ Rừng sản xuất
Huyện Hòa Vang 51.297,6 28.030,0 8.519,5 14.748,1
Nguồn: Phòng Nông nghiệp huyện Hòa Vang
Biểu đồ 2: Biểu đồ thể hiện cơ cấu diện tích rừng ở huyện Hòa Vang năm 2012
Qua bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy thấy tổng diện tích đất rừng huyện Hòa Vang năm 2012
là 51.297,6 ha Trong đó diện tích đất đặc dụng là 28.030,0 ha, chiếm 54,6 %, diện tích đất rừng phòng hộ là 8.519,5 ha, chếm 16,6%, diện tích đất rừng sản xuất là 14.748,1ha, chiếm 28,8% trong tổng diện tích đất rừng
54.6%
16.6%
28.8%
rừng đặc dụng Rừng phòng hộ Rừng sản xuất
Trang 32
Hình 2: Bản đồ thể hiện hiện trạng sử dụng đất ở huyện Hòa Vang năm 2012
Qua lƣợc đồ trên có thể thấy đƣợc sự khác biệt trong phân bố của các loại đất rừng trên địa bàn huyện Hòa Vang Trong đó diện tích đất rừng đặc dụng tập trung chủ yếu ở xã Hòa Bắc, Hòa Ninh và Hòa Phú; rừng phòng hộ tập trung chủ yếu ở Hòa Bắc, Hòa Ninh, một số ít phân bố ở Hòa Phú; rừng sản xuất phân bố hầu nhƣ tất cả các xã của huyện, chỉ có xã Hòa Châu và Hòa Tiến là không có diện tích đất lâm nghiệp Trong đó diện tích đất đặc dụng có các loại nhƣ: Đất rừng có rừng tự nhiên đặc dụng, đất có rừng trồng đặc dụng, đất trống rừng phòng hộ, phân bố chủ yếu ở xã Hòa Bắc, Hòa Ninh, Hòa Phú Đất có rừng tự nhiên phòng hộ, đất trồng rừng phòng
hộ, đất trống rừng phòng hộ, phân bố chủ yếu ở Hòa Bắc, Hòa Ninh Đất có rừng tự nhiên sản xuất, đất trồng sản xuất, đất rừng trống sản xuất phân bố rộng trên địa bàn huyện
Bảng 2.4: Bảng thể hiện sự phân bố các loại rừng ở các xã thuộc huyện Hòa Vang
Xã Hòa Bắc 4.932,8 21.574,8 4.416,8
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất rừng huyện Hòa Vang-TP Đà Nẵng năm 2012
Trang 33ha, chiếm 19,8% trong tổng diện tích rừng phòng hộ, ngoài ra đất rừng phòng hộ còn phân bố ở các xã như Hòa Phú, Hòa Khương và Hòa Liên Các xã còn lại như: Hòa Phong, Hòa Tiến, Hòa Phước và Hòa Châu là những xã không có đất rừng phòng hộ Đối với rừng đặc dụng thì chỉ phân bố ở 3 xã là: Hòa Bắc với 21.574,8 ha chiếm 77,1%, Hòa Ninh 3.705,0 ha chiếm 13,2% và Hòa Phú 2.750,2 ha chiếm 9,7% Rừng sản xuất huyện Hòa Vang phân bố rãi rác hầu hết các xã chỉ có riêng 2 xã Hòa Châu và Hòa Phước là không có đất rừng sản xuất
2.2.2 Hiện trạng rừng huyện Hòa Vang
a Rừng đặc dụng
Rừng đặc dụng nằm trong địa phận xã Hoà Ninh và Hòa Bắc, thuộc vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Bạch Mã, là khu bảo tồn được thành lập với mục đích bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, phục hồi, tái tạo vốn rừng nhằm nâng độ che phủ của rừng, phát huy tác dụng phòng hộ môi trường của rừng Trong vùng rừng đặc dụng có rừng nguyên sinh với hệ sinh thái đa dạng, các tài nguyên động thực vật phong phú, đặc biệt có nhiều loại gỗ quý, nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp rất hấp dẫn với khách du lịch như khu vực Bà Nà-Núi Chúa