Việt Nam cũng là một trong những nước có diện tích trồng cà phê và đứng hàng đầu về sản xuất và xuất khẩu cà phê.. Diện tích, năng suất, sản lượng cà phê tăng nhanh, kim ngạch xuất khẩu
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
giải pháp phát triển đến năm 2020
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN KHOA HỌC
A PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 21 Lý do chọn đề tài
Cây cà phê được người dân ở Ethiopia phát hiện ra đầu tiên Vào thế kỷ XIV những người buôn nô lệ đã mang cà phê từ Ethiopia sang Ả Rập, sau đó nó được trồng ở các nước thuộc Châu Mỹ, Châu Á Hiện nay, cây cà phê được trồng ở trên
50 quốc gia trên thế giới Việt Nam cũng là một trong những nước có diện tích trồng cà phê và đứng hàng đầu về sản xuất và xuất khẩu cà phê
Trải qua hơn 100 năm kể từ năm 1850 khi người Pháp đưa cây cà phê vào Việt Nam, loại cây này đã không ngừng được phát triển và dần trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta Diện tích, năng suất, sản lượng cà phê tăng nhanh, kim ngạch xuất khẩu cà phê ngày càng tăng không chỉ đem lại nguồn thu lớn cho đất nước mà còn góp phần tạo công ăn việc làm, từng bước cải thiện đời sống cho người dân
Gia Lai là tỉnh thuộc Tây Nguyên có vị trí kinh tế - xã hội chiến lược đồng thời có diện tích đất đỏ Bazan lớn (781 nghìn ha) với điều kiện sinh thái khá thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, nhất là cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, chè,…trong đó cà phê là cây trồng chủ lực có diện tích lớn và phát triển nhanh trên địa bàn tỉnh Đến nay diện tích cà phê trên địa bàn tỉnh là 75.000 ha với sản lượng mỗi năm đạt khoảng 140.000 tấn, cà phê là một trong những loại cây trồng cho sản phẩm xuất khẩu lớn nhất của tỉnh với kim ngạch xuất khẩu hằng năm chiếm khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh và chiếm hơn 17% kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước Tuy nhiên do nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan mà hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh Do đó trong những năm tới cần có những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê góp phần thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển hơn nữa
Người dân sống trên địa bàn tỉnh Gia Lai phần lớn đều sống dựa vào nguồn thu nhập từ nông nghiệp mà cụ thể cà phê cũng là một trong cây trồng mang lại nguồn thu nhập cao cho người dân Cũng như hầu hết các địa bàn khác, Gia Lai có điều kiện thuận lợi để phát triển cây cà phê, tuy nhiên do kĩ thuật canh tác của người dân còn hạn chế, chưa đúng yêu cầu, công tác thu hoạch bảo quản chưa đạt yêu cầu nên hiệu quả mang lại chưa cao Do đó một yêu cầu được đặt ra trong việc phát
Trang 3triển kinh tế của xã hội đó là tìm các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
trong sản xuất cà phê Xuất phát từ thực tiễn đó em chọn đề tài: “Tình hình phát
triển cây cà phê ở tỉnh Gia Lai giai đọan 2005 – 2011 Định hướng và giải pháp phát triển đến năm 2020”
2 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Tìm hiểu tình hình phát triển cây cà phê ở tỉnh Gia Lai giai đoạn 2005 – 2011
từ đó đề xuất các giải pháp và định hướng cho việc phát triển cây cà phê ở tỉnh Gia Lai
2.2 Nhiệm vụ
- Khái quát cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về tình hình phát triển cây cà phê
- Tìm hiểu tình hình phát triển cây cà phê ở tỉnh Gia Lai giai đoạn 2005 -2011
- Giải pháp và định hướng phát triển đến năm 2020
3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: tỉnh Gia Lai
- Nội dung: Tình hình phát triển cây cà phê ở tỉnh Gia Lai giai đọan 2005 –
2011 Định hướng và giải pháp phát triển đến năm 2020
- Thời gian: Từ năm 2005 đến năm 2011
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Tình hình phát triển cây cà phê ở tỉnh Gia Lai giai đọan 2005 – 2011 Định hướng và giải pháp phát triển đến năm 2020
4 Lịch sử nghiên cứu
Tại Gia Lai đã có một số công trình nghiên cứu về cây cà phê hoặc nghiên cứu những khía cạnh khác về cây cà phê Mỗi tác giả nghiên cứu các khía cạnh khác nhau về cây cà phê và mỗi nghiên cứu có tầm quan trọng, ứng dụng và sử dụng vào các mục đích khác nhau
Trang 4Với mong muốn giải quyết các vấn đề mà các công trình nghiên cứu khác chưa đề cập đến, trong nội dung của nghiên cứu này tác giả dựa trên cơ sở số liệu thống kê về tình hình phát triển cây cà phê tại Gia Lai giai đoạn 2005 – 2011 để phân tích tình hình phát triển cây cà phê gia đoạn 2005 - 2011 Từ đó đưa ra giải pháp và định hướng phát triển cây cà phê đến năm 2020
5 Quan điểm nghiên cứu
5.1 Quan điểm hệ thống
Theo quan điểm này thì địa lý của một tỉnh bao gồm cả về tự nhiên, kinh tế, xã hội là một hệ thống hoàn chỉnh Trong hệ thống này tồn tại những địa hệ cấp thấp hơn và giữa chúng đều có mối quan hệ tương tác lẫn nhau Khi nghiên cứu tình hình phát triển cây cà phê ở Gia Lai cần phải nghiên cứu tổng hợp các điều kiện ảnh hưởng đến việc phát triển cây cà phê trong một hệ thống nhất,với sự tương tác qua lại giữa các nhân tố với nhau
5.2 Quan điểm tổng hợp
Các sự vật hiện tượng đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tất cả chúng đều
có quá trình hình thành, phát triển trong mối liên hệ nhiều chiều giữa bản thân các hiện tượng đó với nhau và giữa chúng với các sự vật hiện tượng khác Vì vậy khi nghiên cứu một vấn đề cần đặt nó trong mối quan hệ tương tác giữa các thành phần nghiên cứu Do đó quan điểm này được vận dụng nhằm phân tích các thành phần để
đi đến phác họa một tổng thể tự nhiên của vùng cùng với các mối quan hệ tương tác giữa chúng
5.3 Quan điểm phát triển bền vững
Đây là quan điểm có ý nghĩa đặc thù trong nghiên cứu địa lý và ứng dụng ngày càng nhiều trong nghiên cứu ảnh hưởng của tự nhiên, đặc biệt là giữa con người với việc sử dụng, khai thác, tái tạo hệ địa lý tự nhiên Việc nghiên cứu tình hình phát triển cây cà phê ở Gia Lai không chỉ làm rõ tầm quan trọng của cây cà phê mà còn đưa ra các giải pháp và định hướng nhằm giúp cho việc nâng cao hiệu quả trong việc phát triển cây cà phê hiện tại và tương lai
5.4 Quan điểm sinh thái
Trang 5Đây là quan điểm có ý nghĩa đặc thù trong nghiên cứu địa lý và ứng dụng ngày càng nhiều trong nghiên cứu ảnh hưởng của tự nhiên, đặc biệt là giữa con người với việc sử dụng, khai thác, tái tạo hệ địa lý tự nhiên
Việc phân tích các điều kiện tự nhiên trên địa bàn tỉnh nhằm mục đích đề xuất phương hướng sử dụng tự nhiên hợp lý và lâu dài cho nông nghiệp, chúng ta cần phải tính đến tác dụng của nó đến toàn bộ hệ sinh thái của huyện
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Bao gồm việc thu thập tài liệu, số liệu có liên quan từ cơ sở, cơ quan và các ban ngành để tiến hành phân tích và xử lý số liệu Các nguồn tài liệu thu thập được rất đa dạng, phong phú vì vậy phải sử dụng linh hoạt và xử lý đúng số liệu thì mới làm sáng tỏ được vấn đề cần chứng minh
6.2 Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Từ các bảng số liệu đã thu thập được từ cơ sở, đề tài đã phân tích, xử lý số liệu, thành lập các bản đồ, lựa chọn các phương thức thể hiện, so sánh đối chiếu, phân tích các biểu đồ, bảng số liệu để xác định sự phân bố và tình hình phát triển cây cà phê theo không gian và thời gian
6.3 Phương pháp thực địa
Mục đích của phương pháp này nhằm thu thập nhiều nhất tư liệu, đảm bảo tính xác thực, chính xác và khoa học của tài liệu thu thập được đây là phương pháp không thể thiếu được của ngành Địa Lí giúp ta nắm chắc được những đặc trưng cần thiết và thông tin chính xác hơn
7 Cấu trúc đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Tình hình phát triển cây cà phê ở tỉnh Gia Lai giai đoạn
2005-2011
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển đến năm 2020
Trang 6B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Tổng quan về cây cà phê
Cây cà phê được người dân ở Ethiopia phát hiện ra đầu tiên Vào thế kỉ XIV những người buôn nô lệ đã mang cà phê từ Ethiopia sang vùng Ả Rập, sau đó nó được trồng ở các nước thuộc Châu Mỹ, Châu Á Hiện nay, cây cà phê được trồng tại hơn 75 quốc gia trên thế giới Cây cà phê được các nhà truyền đạo đưa vào trồng tại Việt Nam từ năm 1857, trước hết là ở một số nhà thờ tại Hà Nam, Quảng Bình, Kon Tum,…Song mãi tới đầu thế kỉ XX trở đi cây cà phê mới được trồng trên quy mô tương đối lớn của các chủ đồn điền người Pháp tại Phủ Quỳ - Nghệ An và sau đó là
ở Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng nhưng diện tích không quá vài hecta Năm 1905 người Pháp đưa cây cà phê vối và cà phê mít vào trồng thay thế cà phê ở những vùng có độ cao thấp không thích hợp với cà phê chè, tới năm 1925 cà phê mới được trồng nhiều ở Tây Nguyên Hiện nay nước ta trồng chủ yếu cà phê vối (Robusta) chiếm 95% tổng diện tích cà phê của cả nước và là nước xuất khẩu cà phê thứ 2 trên thế giới sau Brazil, cà phê cũng là mặt hàng nông sản xuất khẩu nhiều thứ 2 của Việt Nam sau lúa gạo
Cà phê là loại cây thích nghi với điều kiện khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ thích hợp từ 240C đến 300C Lượng mưa để sinh trưởng phát triển tốt là 1500mm đến 2000mm Độ ẩm thích hợp là khoảng 80%, ưa ánh sang dồi dào Đất trồng cà phê phải có tầng sâu tối thiểu 70cm Cây cà phê yêu cầu phải có thời gian khô hạn từ 2 đến 3 tháng sau thu hoạch để phân hóa mần hoa, khi nở hoa thời tiết phải khô ráo không có sương mù Cà phê là loại cây có giá trị kinh tế cao, là một trong ba đồ uống quan trọng của con người Ngoài ra cà phê còn là nguyên liệu dùng trong nhiều nghành công nghiệp thực phẩm như bánh, kẹo…Hiện nay cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của thế giới, hoạt động mậu dịch của cà phê chỉ xếp sau dầu mỏ
Trang 71.1.2 Các loại cà phê trên thế giới
Có 3 dòng cà phê chính trên thế giới:
- Cây cà phê chè (Arabica)
Đây là loài có giá trị kinh tế nhất trong số các loài cây cà phê Cà phê chè chiếm 61% các sản phẩm cà phê toàn thế giới Cà phê arabica còn được gọi là Brazilian Milds nếu nó đến từ Brasil, gọi là Colombian Milds nếu đến từ Colombia, và gọi là Other Milds nếu đến từ các nước khác Qua đó có thể thấy Brasil và Colombia là hai nước xuất khẩu chính loại cà phê này, chất lượng cà phê của họ cũng được đánh giá cao nhất Các nước xuất khẩu khác gồm có Ethiopia, Mexico, Guatemala, Honduras, Peru, Ấn Độ
Cây cà phê arabica ưa sống ở vùng núi cao Người ta thường trồng nó ở độ cao
từ 1000-1500 m Cây có tán lớn, màu xanh đậm, lá hình oval Cây cà phê trưởng thành
có thể cao từ 4-6 m, nếu để mọc hoang dã có thể cao đến 15 m Quả hình bầu dục, mỗi quả chứa hai hạt cà phê
Cà phê chè sau khi trồng khoảng 3 đến 4 năm thì có thể bắt đầu cho thu hoạch Thường thì cà phê 25 tuổi đã được coi là già, không thu hoạch được nữa Thực tế nó vẫn có thể tiếp tục sống thêm khoảng 70 năm Cây cà phê arabica ưa thích nhiệt độ từ 16-25°C, lượng mưa khoảng trên 1000 mm
Trên thị trường cà phê chè được đánh giá cao hơn cà phê vối (coffea canephora hay coffea robusta) vì có hương vị thơm ngon và chứa ít hàm lượng caffein hơn Một bao cà phê chè (60 kg) thường có giá cao gấp 2 lần một bao cà phê vối Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới nhưng chủ yếu là cà phê vối Năm 2005 dự kiến diện tích trồng cà phê chè mới đạt khoảng 10% tổng diện tích trồng cà phê cả nước (khoảng 40.000 ha/410.000 ha)
Lý do khó phát triển cà phê chè do độ cao ở Việt Nam không phù hợp, những vùng chuyên canh cà phê ở Việt Nam như Buôn Ma Thuột Đắk Lắk, Bảo Lộc Lâm Đồng… đều chỉ có độ cao từ 500-1000m so với mực nước biển, loài cây này lại nhiều sâu bệnh hại nên không kinh tế bằng trồng cà phê vối nếu trồng ở Việt Nam
- Cà phê vối (robusta)
Là cây quan trọng thứ hai trong các loài cà phê Khoảng 39% các sản phẩm cà phê được sản xuất từ loại cà phê này
Trang 8Nước xuất khẩu cà phê vối lớn nhất thế giới là Việt Nam Các nước xuất khẩu quan trọng khác gồm Côte d’Ivoire, Uganda, Brasil, Ấn Độ
Cây cà phê vối có dạng cây gỗ hoặc cây bụi, chiều cao của cây trưởng thành có thể lên tới 10 m Quả cà phê có hình tròn, hạt nhỏ hơn hạt cà phê arabica Hàm lượng caffein trong hạt cà phê robusta khoảng 2-4%, trong khi ở cà phê arabica chỉ khoảng 1-2%
Giống như cà phê chè, cây cà phê vối 3-4 tuổi có thể bắt đầu thu hoạch Cây cho hạt trong khoảng từ 20 đến 30 năm Cà phê vối ưa sống ở vùng nhiệt đới, độ cao thích hợp để trồng cây là dưới 1000 m Nhiệt độ ưa thích của cây khoảng 24-29°C, lượng mưa khoảng trên 1000 mm Cây cà phê vối cần nhiều ánh sáng mặt trời hơn so với cây cà phê chè
Cà phê vối chứa hàm lượng caffein cao hơn và có hương vị không tinh khiết bằng cà phê chè, do vậy mà được đánh giá thấp hơn Giá một bao cà phê canephora thường chỉ bằng một nửa so với cà phê arabica Năm 2004 Việt Nam xuất khẩu trên 14 triệu bao cà phê loại này, chiếm gần một nửa lượng cà phê vối xuất khẩu của toàn thế giới (trên 30 triệu bao) Hiện nay gần 90% diện tích cà phê ở Việt Nam được trồng cà phê vối, 10% trồng cà phê chè, khoảng 1% còn lại được trồng cà phê mít (coffea excelsa)
- Cà phê mít (Liberia)
Cây cao 2m -5m Thân, lá và quả đều to, khác biệt hẳn các loại cà phê khác là
cà phê vối, cà phê mít Do lá to, xanh đậm nhìn xa như cây mít nên gọi là cà phê mít là
vì vậy Cây chịu hạn tốt, ít cần nước tưới nên thường trồng quảng canh, tuy nhiên do năng suất kém, chất lượng không cao (Có vị chua) nên không được ưa chuộng và phát triển diện tích
Tại Việt Nam cây trồng chủ yếu ở các tỉnh như Nghệ An, Gia Lai, Kon Tum là những tỉnh có điều kiện phù hợp cho phát triển cây công nghiệp nhưng không hoàn toàn thuận lợi cho cà phê phát triển Đây cũng chính là lý do Đắk Lắk và nhất là Buôn
Ma Thuột vốn được xem là thủ phủ cà phê nhưng lại có rất ít diện tích trồng loại cà phê này
Ở Tây nguyên, Cà phê mít thường nở hoa và thu hoạch muộn hơn các loài cà phê khác do đặc điểm là nở hoa nhờ nước mưa, quả thường thu hoạch vào tháng 12 âm lịch, sau khi các loài cà phê khác đã thu hoạch xong Sản lượng của cà phê mít không
Trang 9lớn, hạt nhân to, thon dài trắng Cây thường được trồng thuần loài hay làm đai rừng chắn gió cho các lô cà phê vối, thường trồng thành hàng với khoảng cách 5-7m một cây
Do đặc tính chịu hạn và có sức chống chọi với sâu bệnh cao nên hiện cà phê mít được dùng làm gốc ghép cho các loại cà phê khác rất được các nhà vườn ưa chuộng
Hạt cà phê mít thường được trộn vào với cà vối, cà chè khi rang xay để tạo hương vị
Thông tin chưa được kiểm chứng: Cà phê mít thường hợp với gu của người châu Âu, các loại cà phê hòa tan theo gu châu Âu thường có tỉ lệ cà phê mít nhiều nên thường có vị chua đặc trưng
1.1.3 Đặc điểm của cây cà phê
- Rễ: Cây cà phê có 3 loại rễ
+ Rễ cọc: Rễ cọc có độ dài từ 0,3 – 0,5m, mọc từ thân chính Nhiệm vụ chính
là dùng làm trục giữ thân tránh đổ ngã
+ Rễ nhánh: Là những rễ nhánh mọc ra từ rễ cọc, ăn sâu vào đất để hút nước
Rễ nhánh có thể ăn sâu xuống đất tới 1,2 – 1,5m Rễ nhánh càng ăn sâu, khả năng hút nước và chịu hạn càng tốt Các rễ bên mọc từ rễ nhánh phát triển ra xung quanh hình thành hệ thống rễ con
+ Rễ con: Sự phát triển của rễ con phụ thuộc vào độ dày của tầng đất canh tác, giống cà phê, chế độ bón phân, tưới nước, canh tác Hệ thống rễ này hầu hết tập trung ở tầng đất mặt (từ 0-30cm) Nhiệm vụ chủ yếu là hút chất dinh dưỡng và nuôi cây
Theo các kết quả khảo sát bộ rễ cây cà phê thì có tói 85% khối lượng rễ nằm trong vùng đất có độ sâu 0-30cm tính từ mặt đất Tổng độ dài của một bộ rễ của cây
cà phê trưởng thành có thể lên tới 22,765m Rễ cây cà phê có thể hút dinh dưỡng của vùng đất có thể tích 12-15m3 đất Nếu chỉ cắt bỏ ít rễ con ở gần mặt đất thì không ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của cây, nhưng nếu rễ cọc bị đứt, xoắn hay bị gút lại sẽ làm cây chết non
- Thân cành: Cây cà phê thân gỗ, nếu để cây phát triển tự do có thể cao tới hàng trục mét Cành mọc từ thân chính gọi là cành cơ bản (cành cấp 1), cành mọc từ
Trang 10cành cấp 1 gọi là cành thứ cấp (cành cấp 2) Trong điều kiện chăm sóc tốt, các cành
cơ bản của cây cà phê bắt đầu xuất hiện sau khi trồng khoảng 20 - 40 ngày
- Lá: Đối với cà phê vối, lá có tuổi thọ từ 7 – 10 tháng Các tác động về thời tiết hoặc chế độ dinh dưỡng không tốt có thể làm lá rụng sớm hơn Cành và lá có tương quan chặt chẽ với năng suất cà phê Các nghiên cứu chứng tỏ rằng lá, cành và than cà phê là nơi dự trữ các nguồn dinh dưỡng để tạo hoa và nuôi dưỡng sự phát triển của quả Lượng tinh bột hình thành trong quá trình quang hợp của lá sẽ được tích lũy trong lá và hệ thống mô của cây, nếu lượng này suy giảm sẽ dẫn đến hiện tượng rụng hoa, quả và cho hạt nhỏ, năng suất thấp Đây chính là các yếu tố cần quan tâm trong quá trình chăm sóc cây cà phê để đạt năng suất cao
- Hoa: Hoa cà phê mọc ra ở các chồi nách là của cành sơ cấp và cành thứ cấp Hoa cà phê thường nở về đêm và nở hết khoảng 4 – 5 giờ sáng Cà phê vối thụ phấn chéo là chủ yếu, đặc tính này phụ thuộc rất nhiều vào gió và côn trùng, vì vậy việc nuôi việc nuôi ong mật trong vườn cà phê là biện tăng tỉ lệ đậu quả của cà phê Cà phê vối không ra hoa lại ở những đoạn cành đã ra hoa năm trước
- Quả: Sau khi thụ phấn, quả phát triển nhanh, thường quả cà phê có 1- 2 nhân (tùy theo lượng nước tưới và chế độ dinh dưỡng) Thời gian sinh trưởng đối với quả
cà phê vối thường từ 9-11 tháng
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây cà phê
1.1.4.1 Nhân tố tự nhiên
a Vị trí địa lí
Cà phê là một loại cây nhiệt đới phát triển giữa đường vĩ độ : 25° Bắc và 25° Nam Nhưng nó vẫn đòi hỏi nhiều yếu tố như điều kiện môi trường rõ ràng chuyên biệt cho các mục đích trồng trọt mang tính thương mại Như : nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, gió và chất lượng đất….tất cả điều đó rất quan trọng Ngoài ra còn nhiều yếu tố thiết yếu khác nữa để loại cây này có thể phát triển tốt
Trang 11b Đất
- Thành phần lí tính của đất
Cà phê là cây lâu năm có bộ rễ khỏe, đòi hỏi đất tốt để phát triển và cho năng suất cao So với loại cây lâu năm khác, bộ rễ cây cà phê rất háo khí vì vậy đòi hỏi đất trồng phải tơi xốp và có khả năng thoát nước tốt tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển Trong số các đặc tính vật lí của đất, cấu tượng và tầng sâu của đất là 2 yếu tố quan trọng bậc nhất Đất để trồng cây cà phê phải có tầng sâu tối thiểu là 70cm Tầng đất càng sâu bộ rễ càng có điều kiện phát triển mạnh, ăn xuống sâu để hút nước và huy động một lượng lớn các chất dinh dưỡng khoáng ở trong đất để nuôi cây
Ngoài tầng sâu, độ tơi xốp của đất cũng là một yếu tố hết sức quan trọng đối với cây cà phê Do bộ rễ có đặc tính háo khí nên đất trồng phải thoáng khí, không bị ngập úng, giữ nước tốt trong những tháng mùa khô nhưng lại thoát nước tốt trong những tháng mùa mưa Đất bị nén chặt thoát nước kém bộ rễ sẽ kém phát triển, đặc biệt là hệ thống rễ tơ bị thối chết do thiếu ôxy
Hàm lượng mùn và chất hữu cơ trong đất là một trong những chỉ tiêu quan trọng
để đánh giá độ phì nhiêu của đất Hàm lượng mùn càng cao thì đất càng tơi xốp và khả năng giữ các chất dinh dưỡng khoáng càng cao Yêu cầu đất để trồng cây cà phê phải
có hàm lượng mùn >3%
- Thành phần hóa học của đất
Các kết quả nghiên cứu về nhu cầu phân bón đều khẳng định đạm và kali là 2 nguyên tố dinh dưỡng khoáng mà cây cà phê cần với lượng cao nhất Riêng trong giai đoạn cây còn nhỏ, đang hình thành các bộ phận cành lá mới và sự phát triển của bộ rễ thì nhu cầu của cây đối với nguyên tố lân và đạm cũng rất cao
Ngoài các nguyên tố đa lượng, cây cà phê còn cần một số nguyên tố vị lượng khác, trong đó đực biệt là nguyên tố lưu huỳnh, kẽm, canxi, magiê, bo,…
Về độ pH của đất trông cây cà phê, một số nghiên cứu gần đây cho thấy cây cà phê có khả nẵng sinh trưởng và phát triển tròn khoảng pH từ 4,5 – 6,5
c Khí hậu
- Nhiệt độ
Trong các yếu tố khí hậu, nhiệt độ là yếu tố mang tính giới hạn đối với sinh trưởng và phát triển của cà phê
Trang 12Đối với cây cà phê nhiệt độ thích hợp từ 20 – 300C, thích hợp nhất từ 24 –
26oC Cà phê chịu rét rất kém, ở nhiệt độ 70C cây đã ngừng sinh trưởng và từ 50C trở xuống cây bắt đầu bị gây hại nghiêm trọng
Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm cũng như biên độ nhiệt giữa ngày và đêm có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đặc biệt là hương vị của hạt cà phê Ở những vùng vào giai đoạn hạt cà phê được hình thành và tích lũy chất khô, nhiệt độ càng xuống thấp và chênh lệch biên độ giữ ngày và đêm càng cao thì chất lượng cà phê càng cao
- Lượng mưa
Sau nhiệt độ, lượng mưa là một trong những yếu tố khí hậu quyết định đến khả năng sinh trưởng, năng suất và kích thước của hạt cà phê và ảnh hưởng của tình trạng nước trong cây đến quá trình phân hóa mầm hoa, kích thích sự tăng trưởng trở lại của chồi hoa, quá trình nở hoa và tăng trưởng kích thước của vỏ…tình trạng nước trong cây lại phụ thuộc chủ yếu vào lượng mưa và sự phân bố của nó vào các tháng trong năm
Nhìn chung cây cà phê cần một lượng mưa cả năm khá cao và phân bố đồng đều giữa các tháng trong năm nhưng phải có thời gian khô hạn tối thiểu từ 2-3 tháng Thời gian khô hạn này chính là yếu tố quyết định đến quá trình phân hóa mầm hoa ở cây cà phê
Cây cà phê ưa thích với điều kiện khí hậu nóng ẩm cần có một lượng mư trong năm khá cao từ 1.500 – 2000mm và phân bố đồng đều trong khoảng trong 9 tháng
Cà phê là cây thụ phấn chéo bắt buộc nên ngoài yêu cầu phải có một thời gian khô hạn ít nhất là 2-3 tháng sau giai đoạn thu hoạch để phân hóa mầm hoa, giai đoạn lúc cây nở hoa yêu cầu phải có thời tiết khô ráo, không có mưa để quá trình thụi phấn được thuận lợi
- Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của cây trồng
vì nó liên quan trực tiếp đến quá trình thoát hơi nước của cây Độ ẩm không khí thích hợp cho cây cà phê là trên 80% Độ ẩm không khí cao sẽ làm giảm sự mất nước của cây Tuy nhiên nếu độ ẩm không khí quá cao cũng là điều kiện thuận lợi cho nhiều
Trang 13loại sâu bệnh hại phát triển Ngược lại nếu độ ẩm không khí quá thấp làm cho quá trình bốc hơi nước tăng lên làm cho cây bị thiếu nước và héo, đặc biệt là trong những tháng mùa khô có nhiệt độ cao và tốc độ gió lớn
- Ánh sáng
Lịch sử cây cà phê là sống dưới tán rừng, là cây ưa che bóng Tuy nhiên trong quá trình chọn lọc và trồng trọt nhiều giống cà phê cũng thích nghi dần với môi trường mới
Ở những vùng có độ cao trên 800m so với mực nước biển, nhiệt độ thấp hơn nên không nhất thiết phải trồng cây che bóng Ngược lại ở những vùng có độ cao thấp, nhiệt độ cao, ánh sáng nhiều nhất thiết phải có cây che bóng, cây che bóng ở những vùng này không chỉ có tác dụng điều hòa nhiệt độ, giảm quá trình bốc hơi nước mà còn hạn chế ảnh hưởng của gió Bên cạnh đó cây che bóng cũng có tác dụng làm cho thời gian quả chín chậm lại, đủ thời gian cho hạt tích lũy các chất dinh dưỡng đặc biệt là các chất thơm làm cho chất lượng hạt tăng lên
- Gió
Vì xuất xứ của cây cà phê từ vùng nhiệt đới nên ưa khó hậu nóng ẩm và nặng gió Tuy nhiên gió nhẹ là điều kiện thuận lợi cho sự lưu thông không khí, tăng khả bốc hơi nước và trao đổi chất của cây Gió mạnh hay bão làm rụng lá, quả, gãy cành… Nhìn chung tất cả các vùng trồng cà phê ở nước ta đều bị ảnh hưởng của gió hoặc gió bão
1.1.4.2 Nhân tố kinh tế - xã hội
a Kĩ thuật trồng và chăm sóc
* Kĩ thuật trồng
- Thời vụ: Trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5, tháng 6)
- Khoảng cách, mật độ: Đất tốt, điều kiện thâm canh cao thì trồng thưa và ngược lại Khoảng cách: đất tốt và bằng phẳng 3 x 3 m (1.118 cây/ha); đất trung bình và dốc
3 x 2.5 m (1.330 cây/ha)
- Cách trồng, bón phân lót: Đào hố trước trồng 1 tháng ( 60 x 60 x60 cm) Bón lót: - Lớp đất mặt trộn với 10 – 20 kg phân chuồng hoai + Hữu cơ sinh học HVP
Trang 140.5 kg vôi bột đưa xuống hố Lớp đất dưới để một phía sau dùng làm bồn quanh gốc Lúc trồng bón lót ngoài tán lá cây 100 gram phân NPK 16–16–8–13 S
Dặm chặt đất ở xung quanh gốc, sau cơn mưa lớn cần vét bồn, để phòng cây bị lấp
* Bón phân và chăm sóc
- Đánh chồi vượt cho cây cà phê: Chồi vượt phát triển rất nhanh trong mùa mưa,
do vậy cần đánh chồi vượt kịp thời Trung bình 1 tháng đánh chồi vượt 1 lần Khi đánh chồi vượt chú ý vặt các cành tăm, cành nhớt mọc quá nhiều ở cùng một vị trí đốt cành
Ở mỗi vị trí đốt cành chỉ nên để lại không quá 3 cành dự trữ được phát sinh Chú ý vặt các cành thứ cấp mọc dày trên đỉnh tán tạo điều kiện để ánh sáng lọt vào bộ tán cà phê
- Đào rãnh ép xanh, hoặc cày rạch hàng ép xanh: Đào rãnh sâu 30cm, dài 1m, rộng 20-25cm dọc theo mép trong bồn cà phê, mỗi gốc cà phê đào 1-2 rãnh Dồn tất cả
cỏ rác trên lô và cả phân chuồng vào rãnh, lấp đất lại Cũng có thể cày rạch hàng giữa
2 hàng cà phê, cày sâu 50cm, nên cày 1 hàng, bỏ một hàng và năm sau lại cày luân phiên để hạn chế làm tổn thương bộ rễ cà phê Tương tự như rãnh đào trong mép bồn, rãnh cày là vị trí để ép xanh cỏ rác trên lô và bón phân chuồng
- Làm cỏ, bón phân: Làm sạch cỏ trên hàng cà phê, không để cỏ dại cạnh tranh với cà phê Bón phân cho cà phê sau khi làm cỏ sạch Liều lượng phân bón và loại phân bón như sau:
+ Phân hữu cơ: phân chuồng hoai :liều lượng 15-20 m3/ha ( 2 năm bón 1 lần) + Phân hữu cơ sinh học HVP ORGANIC chuyên thúc cà phê với lượng 1-1,5 tấn/ha (chia 2-3 lần bón/năm) Kết hợp việc bón phân hữu cơ với đào rãnh ép xanh cho vườn cà phê
+ Vôi bột: bón 300-400 kg/ha/năm, rải tung đều khắp mặt đất, tiếp xúc với đất càng nhiều càng tốt, không cần lấp đất
Trang 15Cà phê kinh doanh: Sử dụng loại phân NPK 16-8-16-13S-TE, có thành phần NPK cân đối, có thành phần lưu huỳnh và trung vi lượng cần thiết phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng cà phê trong mùa mưa
Bón 3 lần trong mùa mưa Đối với vườn cà phê đạt từ 3-4 tấn nhân/ha, bón với liều lượng sau:
Đợt 1: 500-700 kg/ha, bón vào đầu mùa mưa, khi mưa đã đều
Đợt 2: 700-800 kg/ha, bón vào giữa mùa mưa
Đợt 3: 800-1000 kg/ha, bón gần cuối mùa mưa, trước khi chấm dứt mưa 20 ngày
Nếu năng suất vườn cây cao hơn mức 3-4 tấn nhân/ha, ở mỗi đợt bón, cần bón tăng cường thêm từ 150-200 kg/ha/lần Bỏ phân khi đất đủ ẩm Rạch rãnh xung quanh tán cây cà phê, rải phân đều và lấp đất
+ Phân bón lá:
HVP 801S chuyên cà phê: phun định kỳ 7-10 ngày/1lần để nuôi cành dưỡng lá
HVP 15-30-15: phun giai đoạn trước ra hoa 1 tháng để hình thành mầm hoa
HVP AUXIN ORGANIC: phun trước khi ra hoa 10 ngày để thúc ra hoa đồng loạt
HVP 5-35-6 chống dụng trái cà phê: phun giai đoạn 7-14 ngày trước khi trổ hoa
và sau khi đã đậu trái non Định kỳ phun 7 ngày /1lần để dưỡng trái
HVP siêu to hạt: phun định kỳ 7 ngày /1 lần giai đoạn trái đang lớn để làm to hạt, tăng chất lượng hạt cà phê
- Tỉa cành: Thường xuyên tỉa bỏ những chồi vượt, những cành bị sâu bệnh gây hại, những cành đã ra quả ở những năm trước chỉ còn 2-3 cặp lá ở đầu cành
b Phòng trừ sâu bệnh
* Bệnh hại
- Bệnh lở cổ rễ (nấm Rhizoctonia solani): Bệnh thường gây hại cây con ở vườn ươm và thời kỳ kiến thiết cơ bản Bệnh hại ở phần cổ rễ, làm cổ rễ bị teo, khô thắt lại Phòng trị: Tiêu huỷ những cây bệnh nặng, dùng các loại thuốc để tưới vào gốc như: Validamycin (Validacin); Pencycuron (Monceren) hoặc các loại thuốc gốc đồng
- Bệnh khô cành, khô quả (nấm Collectotrichum coffeanum) Bệnh thường phát triển vào đầu mùa mưa nhưng thể hiện rõ rệt khi quả còn non đến lúc 6-7 tháng tuổi
Trang 16Phòng trị: Bón phân đầy đủ, kịp thời cân đối NPK, dùng các loại thuốc Propineb (antracol); Carbendazim(bavistin); hoặc các loại thuốc gốc đồng như copper sulfat (Bordeaux), Kasugamycin 2 % + Copper Oxychloride 45% (Kasuran) để phòng trừ 2-
3 lần/vụ
- Bệnh tuyến trùng: Do tuyến trùng Pratylenchus coffae gây vết thương, tuyến trùng Meloidogyne spp gây nốt sần, tuyến trùng Tylenchus gây nội sinh Cây bị bệnh thường sinh trưởng kém, vào mùa khô thường bị vàng héo, có khả năng lây lan lớn Phòng trị: Phát hiện sớm, tiêu hủy những cây bệnh nặng, cây bị bệnh nhẹ nên tăng cường bón phân hữu cơ, xử lý đất bằng thuốc cytokinin (Sincocin)
- Bệnh rỉ sắt (Hemileia vastatrix) Triệu chứng: Bệnh thường xuất hiện ở những vườn cây già cỗi, đầu tư kém Bệnh hại trên lá, vết bệnh hình tròn, có lớp bột phấn vàng màu da cam ở mặt dưới lá Bệnh làm rụng lá, thường hại nặng vào tháng 10-11-
12 và tháng 3, 4 trong năm
Phòng trị: Cuối mùa mưa (tháng 10-110 dùng copper sulfat (Bordeaux 1%) hay copper hidroxide (Champion) phun mặt dưới lá 3-4 tuần/lần khi bệnh mới xuất hiện Hiện nay có thể dùng các loại thuốc nội hấp Hexaconazole 85% (Anvil), cyproconazole 94% (Bonanza), Propiconazole 90% (Tilt)
Chú ý: Bệnh đã phát triển cần vệ sinh vườn, tỉa cành cho thông thoáng kết hợp với dùng thuốc hóa học
- Nấm hồng (Corticium salmonicolor) Tác hại trên cành và phần ngọn của cây, thường phát sinh mạnh vào đầu và trong mùa mưa, khi phát hiện thấy cành bị bệnh và cắt đốt kịp thời Tiến hành phun thuốc phòng trừ: dùng Bordeaux hay Oxyt clorua Đồng1% phun vào vùng bị bệnh, boặc dùng dung dịch Bordeaux 5% quét lên vết bệnh
ở cành chưa bị héo
* Sâu hại
- Rệp sáp (Pseudococus Spp): Gây hại ở chùm quả và vùng rễ làm cho cây cà phê phát triển kém, làm rụng quả Thường xuyên theo dõi và phát hiện sớm Thực hiện phun thuốc trên những cây phát hiện rệp
Phòng trị: Phát hiện sớm dùng Alpha-cypermethrin 90% (Fastac), Methidathion 96% (Supracide 40 EC)
- Mọt đục cành (Xyleborus mortati): Phá hại chủ yếu trong thời kỳ kiến thiết cơ bản sang thời kỳ kinh doanh
Trang 17Phòng trị: Phát hiện cắt bỏ kịp thời, gom đốt những cành bị mọt
- Sâu đục vỏ trái (Prays endolemma): Thường tấn công trái non làm rụng trái hay tạo các ụ lớn trên vỏ trái làm trái bị biến dạng, giảm giá trị sản phẩm
Phòng trị: Cần theo dõi thu gom các trái rụng đem chôn để trừ ấu trùng đang phát triển trong vỏ trái
- Mọt đục trái (Stephanoderes lampei): Đục từ núm quả vào trong sau đó phá hạt Dùng các loại thuốc để trừ như: Phun Fenvalerate 92% (First 20EC), Etofenprox 96% (Trebon), Lambda-cyhalothrin (Karate) vào giai đoạn quả chuyển từ xanh sang chín Ngoài ra còn bị một số bệnh khác do thiếu dinh dưỡng được gọi là bệnh sinh lý như bệnh vàng lá do thiếu lưu huỳnh (S), bệnh rụt cổ do thiếu kẽm (Zn)…
- Sâu đục thân thường gọi là Bore (Xylotrechus quadripe) Chỉ tác hại trên giống
cà phê chè ở tuổi cây thường từ cuối năm thứ 3 trở đi Sâu đẻ trứng vào kẻ nút của vỏ sau đó sâu non nỏ vào phá hoại phần gỗ bên trong thân cây là cho cây héo rồi chết Loại sâu này khả năng xuất hiện quanh năm nhưng tập trung đẻ trứng rộ vào hai thời
kỳ xuân, hè (tháng 3,4,5) và thu đông (tháng 10,11)
Trồng cây bóng mát cho cà phê để hận chế sự tác hại của sâu Dùng Boremun 4% phun phủ kín lên thân cây từ ngọn đến gốc 1 năm 2 lần để diệt trừ trứng, sâu non và sâu trưởng thành vào tháng 3-4 (xuân – hè) và tháng 10-11 (vụ thu đông) Những cây
bị sâu nặng phải kịp thời cưa cắt kịp thời để kịp thời diệt nguồn sâu trưởng thành
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Tình hình sản xuất cà phê ở Việt Nam
Việt Nam là nước đứng thứ hai về sản lượng cà phê cung cấp cho thị trường thế giới, đứng hàng thứ nhất về cà phê vối, chỉ trong gần 2 thập niên qua
Năm 1961 diện tích cà phê cả nước đạt khoảng 21,2 nghìn ha (sau 50 năm), năm
1981 diện tích khoảng 92 nghìn ha (sau 30 năm), năm 2001 diện tích cà phê cả nước đạt 473,5 nghìn ha (sau 10 năm), đến năm 2011 diện tích cà phê cả nước đạt khoảng 570,9 nghìn ha, năng suất đạt 21,9 tạ/ha, sản lượng 1.167,9 nghìn tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,69 tỷ USD là bước tiến vượt bậc của ngành cà phê, góp phần quan trọng trong tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của ngành nông nghiệp trong những năm qua
Trang 18Trong 17 năm qua (1995 - 2011), diện tích cà phê biến động mạnh theo diễn biến của giá cà phê trên thị trường:
Giá cà phê giảm và đứng ở mức rất thấp (dưới 1.000 USD/tấn), diện tích cà phê
có chiều hướng giảm nhẹ, diện tích dưới 500 nghìn ha
- Giai đoạn 2006 - 2011
Mặc dù nhà nước khuyến cáo giữ ổn định diện tích nhưng do giá cà phê tăng trở lại và đạt mức trên 2.205 USD/tấn vào năm 2011 người dân vẫn tiếp tục mở rộng diện tích
Trang 19Năm 2011 cả nước đạt 570,9 nghìn ha, tăng 82,2 ngàn ha so với năm 2006 (bình quân tăng 13,7 ngàn ha/năm khoảng 2,8% /năm )
Năm 2012, qua kiểm tra tại một số tỉnh vùng Tây nguyên và Tây Bắc, một số nơi vùng Tây Nguyên và Tây Bắc, nông dân vẫn tiếp tục trồng mới cà phê
1.2.1.2 Năng suất, sản lượng
Năng suất, sản lượng cà phê cũng diễn biến theo giá cà phê xuất khẩu
Hình 1.2: Biểu đồ thể hiện năng suất cà phê thế giới và Việt Nam từ 1961
đến 2010
So sánh năng suất cà phê Việt Nam và cà phê thế giới cho thấy:
- Giai đoạn từ 1961 - 1986 năng suất cà phê Việt Nam thấp hơn giai đoạn sau, tương đương năng suất bình quân cà phê thế giới
- Giai đoạn từ 1987 - 2001 năng suất cà phê Việt Nam tăng vọt gấp 2 - 4 lần so năng suất cà phê trung bình thế giới
- Giai đoạn từ 2001 - 2006 năng suất cà phê Việt Nam có giảm nhưng vẫn cao hơn năng suất cà phê thế giới khoảng hơn 2 lần
Những năm gần đây năng suất cà phê Việt Nam cao hơn năng suất cà phê thế giới khoản 2,5 lần Là kết quả của quá trình đầu tư thâm canh cao, tuy nhiên cũng là
Trang 20một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến xuy thoái nhanh vườn cà phê đang kinh doanh hiện nay
- Giai đoạn từ 1995 - 1999
Diện tích cà phê ở mức dưới 400 nghìn ha, chủ yếu phát triển ở những vùng đất thuận lợi và giá cà phê xuất khẩu duy trì ở mức trên 1.200USD/tấn, người dân tăng cường đầu tư thâm canh nên năng suất đạt bình quân trên 22tạ/ha, riêng năm 1997 đạt 24,1 tạ/ha
Sản lượng bình quân đạt 387 nghìn tấn/năm
- Giai đoạn 2000 - 2005
Do hiệu ứng tăng giá cà phê của giai đoạn trước, diện tích cà phê tăng nhanh (trên 550 nghìn ha) và nhiều diện tích phát triển trên những chân đất không phù hợp, đồng thời giai đoạn này giá cà phê xuống rất nhanh (dưới 1.000USD/tấn, thậm chí các năm 2001, 2002 chỉ đạt bình quân dưới 500USD/tấn), người sản xuất hạn chế đầu tư thâm canh:
Về năng suất giảm mạnh: bình quân chỉ đạt 16,7 tạ/ha, giảm 5,3 tạ/ha (24%) Sản lượng bình quân đạt 784 nghìn tấn, tăng 400 nghìn tấn gấp 2 lần so bình quân giai đoạn 1995 - 1999
Trang 21Hình 1.3: Biểu đồ thể hiện sản lượng cà phê Việt Nam từ 1995 đến 2011
Sản lượng bình quân cả giai đoạn 2006 - 2011 đạt khoảng 1.025 nghìn tấn/năm, tăng 241 nghìn tấn so bình quân giai đoạn 2000 - 2005
Sản lượng cà phê năm 2011 đạt khoảng 1.167,9 nghìn tấn tăng 5,0% so với năm
2010
1.2.2 Tình hình sản xuất cà phê ở Tây Nguyên
Khu vực Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Đắk Lắk, Đăk Nông, Lâm Đồng, Gia Lai và Kon Tum Với 60 vạn ha đất đỏ Bazan, chiếm 40% tiềm năng phát triển cây công nghiệp dài ngày của cả nước Việt Nam Ở đây cũng là vùng sản xuất cà phê lớn nhất
cả nước, cây công nghiệp này có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội
ở đây Sự phát triển bền vững ngành sản xuất cà phê có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển bền vững nền kinh tế ở đây
Tây Nguyên được xem là vùng chuyên môn hóa cây công nghiệp lâu năm, đặc biệt là cây cà phê Theo quy hoạch diện tích cà phê được phát triển ở Tây Nguyên với quy mô 150 ngàn ha vào năm 2000, nhưng do giá cà phê tăng đột biến vào năm 1994,1995 đã làm diện tích cà phê tại Tây Nguyên đã tăng từ 81.737 ha năm 1990 lên
Trang 2248.260 tấn năm 1991 lên 384.535 tấn năm 1999 Diện tích cà phê tăng đột biến vào giai đoạn 1991- 1999 chủ yếu là tăng từ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Năm 1990, 31 nông trường quốc doanh trung ương và 25 nông trường quốc doanh địa phương có diện tích cà phê chiếm 59,5% tổng diện tích cà phê Tây Nguyên, thì đến năm 1999, 35 nông trường quốc doanh trung ương và 16 nông trường quốc doanh địa phương chiếm 42,6% diện tích, điều này chứng tỏ cà phê người dân tăng rất nhanh trong giai đoạn này
Bảng 1.1: Tỷ trọng cà phê Tây Nguyên so với cả nước
Diện tích cả nước (ha) 565300 522200 510200 503200 520891 Diện tích của TN (ha) 477471 448448 440621 434335 452026
(Nguồn của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2011)
Giai đoạn 2001 -2005 giá cà phê thay đổi thất thường làm cho diện tích thay đổi theo, năm 2001 có diện tích là 477 ngàn ha thì năm 2005 là 452 ngàn ha Riêng 5 tỉnh Đắk Lắk, Đăk Nông, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum luôn chiếm khoảng 84- 86% diện tích cà phê của cả nước như bảng
Đắk Lắk được xem là thủ phủ cà phê của Tây Nguyên và của cả nước Năm
2005, diện tích cà phê của Đắk Lắk chiếm 38.6 % tổng diện tích cà phê toàn quốc, với sản lượng 330.660 tấn, chiếm 50 % tổng sản lượng cà phê của cả nước, tiếp đó là Lâm Đồng chiếm 26.6%, Gia Lai 17,2%, Đăk Nông 15.2% và Kon Tum là 2.4% Năng suất cao nhất là của tỉnh Đắk Lắk bình quân xấp xỉ 1.94 tấn nhân/ha, cao hơn mức bình quân chung của cả nước là hơn 1,5 tấn nhân/ha
Với việc phân bố diện tích như vậy cho thấy diện tích chủ yếu tập trung ở Đắk Lắk, Lâm Đồng, các tỉnh khác diện tích không lớn Nhưng ngay trong mỗi tỉnh diện tích cũng chỉ tập trung ở một số huyện, chẳng hạn trong 13 huyện và thành phố của Đắk Lắk thì sản xuất cà phê chủ yếu tập trung ở 5 huyện Tình hình này cho thấy sự phân tán trong sản xuất và sự phát triển theo phong trào thiếu quy hoạch
Diện tích trồng cà phê khá nhạy cảm với giá cả, phân tích số liệu thống kê về diện tích và giá bán cà phê nhân trên thị trường các tỉnh Tây Nguyên, chẳng hạn lấy tỉnh Đắk Lắk làm đại diện Mối quan hệ giữa diện tích và giá bán cà phê hạt là dương,
Trang 23và hệ số co dãn là 4.19 Nghĩa là nếu giá giảm 1% thì mức giảm diện tích là 4.19% Những biến động về mặt diện tích này cho thấy việc sản xuất cà phê vẫn còn sự bất ổn, chưa theo quy hoạch và thiếu bền vững
Tây Nguyên được xem là vùng có lợi thế so sánh trong chuyên môn hóa sản xuất cây cà phê, có điều kiện đất đai, thời tiết, khí hậu thuận lợi để phát triển sản xuất cây
cà phê cho năng suất, sản lượng cao với chi phí thấp
Sự khác biệt về diện tích và sản lượng giữa cà phê các tỉnh do nhiều yếu tố, cả khách quan lẫn chủ quan Về yếu tố khách quan, chính là sự khác biệt về điều kiện đất đai, sự phân bố đất đai và địa hình giữa các tỉnh là nguyên nhân chủ yếu
Số liệu thống kê cho thấy diện tích tăng nhanh, nhưng năng suất không đều khoảng 1,5 tấn /ha Để đánh giá việc mở rộng diện tích cà phê và hiệu quả sản xuất cà phê, qua phân tích mối quan hệ giữa năng suất và diện tích cho thấy khi diện tích tăng 1% thì năng suất chỉ tăng 0,0014%, nghĩa là tăng thêm 1 ha thì năng suất tăng rất ít không đáng kể Vì vậy, không cần phải tăng diện tích nữa vì năng suất biên quá nhỏ Quá trình phát triển ngành sản xuất cà phê đã thể hiện sự không bền vững, khi mà chúng ta đang khai thác quá mức nguồn tài nguyên đất đai, giảm đáng kể diện tích rừng, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái Vấn đề quan trọng là phải thực hiện quy hoạch của Chính phủ một cách nghiêm túc, chuyển dần những diện tích có điều kiện sản xuất không thuận lợi chi phí cao, năng suất thấp sang canh tác các cây trồng phù hợp
Trong sản xuất cà phê hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu là kinh tế hộ, sự phát triển bền vững trong sản xuất của họ sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả của ngành này Vì thế chúng tôi tiến hành điều tra xã hội học với 230 hộ sản xuất cà phê trên địa bàn Tây Nguyên
Qua số liệu điều tra, năng suất trung bình của các hộ điều tra là 2.097 cao hơn mức trung bình của cả nước là dưới 2 tấn Năng suất cao nhất của các hộ điều tra là 4.0 tấn, điều này chứng tỏ tiềm năng để tăng năng suất là rất lớn Tính về giá trị sản xuất trên mỗi ha chỉ mới khoảng 36 triệu đồng là thấp so với mục tiêu của ngành nông nghiệp 50 triệu/ha là thấp, tuy nhiên hộ có giá trị cao nhất cũng đạt tới hơn 70 triệu đồng/ha Giá trị sản xuất thấp vì năng suất chưa cao, vì giá cả cà phê hạt trong năm
Trang 24không nhiều vì khi giá tăng 1000đ/kg thì giá trị sản suất tăng 1700đ và nó chỉ tạo ra hơn 5% sự ảnh hưởng còn yếu tố sản lượng đưa tới hơn 94% Kết luận này trùng với kết luận trên là phải tăng năng suất cà phê
Bảng 1.2: Diện tích - năng suất - sản lượng cà phê của các tỉnh năm 2011
STT Địa phương Tổng diện tích
(ha)
Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
(Nguồn của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2011)
Tỉnh Đắk Lắk có diện tích cà phê lớn nhất 200.161 ha (năm 2011); Lâm Đồng đạt 145.734 ha (năm 2011); Đắk Nông đạt 116.350 ha (năm 2011); Gia Lai đạt 77.569
ha (năm 2011) Kon Tum là tỉnh có diện tích thấp nhất 12.148 ha (năm 2011)
- Đắk Lắk có năng suất và sản lượng cao nhất đạt 25,12 tạ nhân/ha, sản lượng 487.748 tấn; Lâm Đồng năng suất đạt 24,90 tạ nhân/ha sản lượng 343.375 tấn; Đắk Nông năng suất đạt 22,20 tạ nhân/ha, sản lượng 179.658 tấn cà phê nhân; và Gia Lai năng suất đạt 20,16 tạ nhân/ha, sản lượng 151.772 tấn cà phê nhân
Trang 25CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÂY CÀ PHÊ Ở TỈNH GIA
LAI GIAI ĐOẠN 2005 - 2011 2.1 Tiềm năng phát triển cây cà phê ở tỉnh Gia Lai
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Gia Lai là một tỉnh miền núi nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao trung bình
700 - 800m so với mực nước biển.Với diện tích 15.536,92 km², tỉnh Gia Lai trải dài từ 12°5’20” đến 14°36’30” vĩ bắc, từ 107°27’23” đến 108°54’40” kinh đông Phía bắc Gia Lai giáp tỉnh Kon Tum, phía nam giáp tỉnh Đắk Lắk, phía tây giáp Campuchia với 90km là đường biên giới quốc gia, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên
Trang 26- Địa hình cao nguyên là cao nguyên đất đỏ bazan – Pleiku (có diện tích khoảng 4.550 km2) và cao nguyên Kon Hơnờng (có diện tích khoảng 1.250 km2), chiếm 1/3 diện tích tự nhiên
- Địa hình thung lũng phân bố dọc theo các sông, suối, khá bằng phẳng, ít bị chia cắt
2.1.1.3 Tài nguyên đất
Đất đai tỉnh Gia Lai có 26 loại đất, gồm 7 nhóm chính:
- Nhóm đất phù sa có diện tích 46.430 ha, chiếm 3% diện tích tự nhiên, phân bố ở nơi có địa hình bằng phẳng, gần nguồn nước (sông suối lớn), tầng đất dày Đây là loại đất tốt, thích hợp cho việc trồng các loại rau, hoa màu, lương thực
- Nhóm đất xám có diện tích 364.806 ha, chiếm 23,55% diện tích tự nhiên, tập trung thành vùng dọc theo sông Ba, sông Ayun ở tây nam huyện Chư Prông và các huyện, thị xã: An Khê, Đăk Pơ, Ayun Pa, Ia Pa Đất có thành phần cơ giới nhẹ, dễ thoát nước, khả năng giữ chất dinh dưỡng kém nên nghèo dinh dưỡng Loại đất này thích hợp với những loại cây công nghiệp ngắn ngày như mía, vừng, sắn, thuốc lá, đậu
đỗ các loại hoặc trồng rừng để giữ đất
- Nhóm đất đen có tổng diện tích 27.870 ha, chiếm 1,8% diện tích tự nhiên, phhân bố chủ yếu ở các huyện Mang Yang, Chư Prông, Chư Sê và Đức Cơ Trên diện tích này thích hợp cho việc trồng rừng, khôi phục thảm thực vật để bảo vệ đất
- Nhóm đất đỏ vàng có diện tích 781.765 ha, chiếm 50,44% diện tích tự nhiên, tập trung ở các huyện trên cao nguyên Pleiku và cao nguyên Kon Hơnờng, thích hợp cho việc trồng các cây công nghiệp dài ngày như cà phê, chè, hồ tiêu, cao su và cây công nghiệp ngắn ngày, hoa màu, lương thực
Trang 27- Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi có diện tích 175.582 ha chiếm 11,35% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở vùng núi phía bắc và đông bắc tỉnh, có độ cao từ 1000
m trở lên Loại đất này chủ yếu dành cho phát triển lâm nghiệp
- Nhóm đất thung lũng dốc tụ có diện tích 14.140 ha, chiếm 0,91% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở độ cao từ 300 - 700 m, độ dốc từ 3 - 800, trên địa bàn các huyện Mang Yang, Chư Sê, vùng Ayun Pa và thành phố Pleiku
- Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá có diện tích 113.423 ha, chiếm 7,32% diện tích tự nhiên, tập trung ở các huyện thị: An Khê, Ayun Pa, Phú Thiện, Krông Pa Nhóm đất này không có khả năng khai thác để phất triển nông nghiệp, thích hợp cho việc trồng rừng bảo vệ đất
- Hệ thống sông Sê San: Bắt nguồn từ những đỉnh núi cao nhất của dãy Trường Sơn, núi Tiêu (1.988 m), Ngọc Lĩnh (2.598 m), có hai nhánh lớn là sông Đăk Bla, Pôkô và một nhánh nhỏ là sông Sa Thầy, chảy qua các huyện Đăk Đoa, Chư Păh, Ia
Trang 28Ngoài những hệ thống sông chính, Gia Lai còn có các nhánh sông Srê Pôk như
Ia Đrăng, Ia Lôp đều bắt nguồn từ núi Hdrung chảy qua các huyện Chư Sê, Chư Prông của tỉnh và nhiều sông, suối, hồ lớn nhỏ khác cung cấp nước sinh hoạt cho người và nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Ngành công nghiệp điện năng: Gia Lai có tiềm năng về thủy điện rất lớn và trữ năng khoảng 7,1 tỉ KW Ngoài 4 công trình thủy điện lớn còn có 85 công trình thủy điện thủy điện nhỏ với công suất 80.200 KW phân bố khá đều khắp, tạo điều kiện cho phát triển sản xuất Bên cạnh đó, công trình thủy điện Yaly với công suất 720 MW và sản lượng điện 3,68 tỉ KWh đã hoàn thành vào tháng 4/2002 có tác động lớn đến phát triển ngành kinh tế của tỉnh, đảm bảo nhu cầu năng lượng cho toàn vùng Thủy điện SêSan 3 với công suất thiết kế 273 MW gồm 2 tổ máy có tổng công suất 260 MW, sản lượng điện trung bình hằng năm 1,12 tỉ KWh nằm phía hạ lưu của thủy điện Yaly Tổng trữ lượng nguồn nước mặt khoảng 24 tỉ m3 Đây chính là những tiềm năng lớn để công nghiệp điện năng được coi là công nghiệp mũi nhọn ở Gia Lai Tỉnh Gia Lai hiện
có 4 nhà máy thủy điện lớn có công suất lớn hơn 100 MW gồm Yaly, Kanak-An Khê, SêSan 3, và SêSan 4
- Ngành công nghiệp sản xuất VLXD: Hiện có 2 nhà máy xi măng với công suất 14,2 vạn tấn/năm; 5 nhà máy đá granit đã đưa vào hoạt động với tổng công suất khoảng 450.000 m2/năm; Các doanh nghiệp khai thác đá xây dựng đủ sản lượng để cung cấp cho nhu cầu xây dựng các công trình trong tỉnh
Trang 29- Khu công nghiệp Trà Đa với diện tích 124,5 ha có 24 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động Tỉnh đang quy hoạch khu công nghiệp Tây Pleiku với diện tích 600 ha Ngoài ra tỉnh còn có các cụm công nghiệp ở các địa bàn Thị xã An Khê, huyện Chư
Sê, huyện Ayun Pa,…là những địa điểm thuận lợi nhiều mặt cho các nhà đầu tư triển khai các dự án đầu tư
Khu kinh tế cửa khẩu 19 với diện tích 110 ha đã đầu tư 28 tỉ đồng để phát triển
cơ sở hạ tầng
* Nông – lâm nghiệp
Do đặc trưng là đất đỏ bazan ở thành phố Pleiku và các huyện vùng cao của Gia Lai có thể canh tác các loại cây công nghiệp như cao su, cà phê, điều,… Riêng huyện Đăk Pơ và thị xã An Khê thích hợp cho việc trồng cây ngắn ngày do chịu ảnh hưởng khí hậu của vùng giáp ranh (Bình Định) Huyện Đăk Pơ là vụa rau của cả vùng Tây Nguyên, hàng năm cung cấp trên 100 tấn rau cho khu vực
Đất đai phù hợp với sản xuất nông nghiệp ở Gia Lai có gần 500.000 ha trong đó
có hơn 264.000 ha (năm 2011) đất trồng cây hàng năm và hơn 205.000 ha (năm 2011) đất trồng cây lâu năm
Bảng 2.1: Diện tích các loại cây trồng năm thời kì 2007- 2011
Cây CN lâu năm
Cây ăn quả
Trong 7 khung nhóm đất chính của tỉnh, nhóm đất Bazan có 386.000 ha, tập trung chủ yếu vùng Tây Trường Sơn, rất thích hợp với các cây công nghiệp dài ngày Thêm vào đó, do tính chất đặc biệt của khí hậu thuận lợi cho phát triển cây trồng,
Trang 30nghiệp tập trung có quy mô lớn với những sản phẩm hàng hóa có lợi thế cạnh tranh như cà phê, cao su, hạt điều, mía đường, bông, thuốc lá,…
Đến năm 2011, toàn tỉnh có 95.704 ha cao su, 77.568 ha cà phê, 19.390 ha điều, 7.306 ha hồ tiêu, 50.702 ha ngô, 63.352 ha sắn, 1.484 ha bông,…quỹ đất thích hợp để phát triển các cây công nghiệp vẫn còn khá nhiều
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Gia Lai năm 2011
Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo
ngành hoạt động
Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo ngành hoạt động thì cơ cấu ngành trồng trọt chiếm tỉ trọng lớn nhất 90,15% (năm 2011) nhờ có vị trí thuận lợi cũng như các điều kiện tự nhiên phù hợp như đất đai, khí hậu, thủy văn tạo điều kiện phát triển trồng trọt, đặc biệt là phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm như cao su, cà phê,
hồ tiêu, điều,…Tỉ trọng ngành chăn nuôi chiếm 9,66% (năm 2011), tỉ trọng ngành dịch
vụ thấp nhất 0.19% (năm 2011)
Gia Lai có gần 800.000 ha đất lâm nghiệp, trong đó rừng sản xuất 537.064 ha (năm 2011), đất rừng phòng hộ 206.622 ha, đất rừng đặc dụng 56.106 ha So với Tây Nguyên, Gia Lai chiếm 28% diện tích đất lâm nghiệp, 30% diện tích đất có rừng và 38% trữ lượng gỗ Sản lượng gỗ khai thác hàng năm cả rừng tự nhiên và rừng trồng từ 65.000 – 85.000 m3 sẽ đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu cho chế biến gỗ, bột giấy với quy mô lớn và chất lượng cao
Trang 312.1.2.2 Văn hóa xã hội
* Dân số - dân tộc
Gia Lai hiện có 1.335.287 người (năm 2011), mật độ dân số là 85,230 người/km2
55.73 29.27
11.98
3.02
%
Kinh Jarai Banar Dân tộc khác
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Gia Lai năm 2011
Hình 2.2: Biểu đồ thể hiện cơ cấu dân tộc tỉnh Gia Lại năm 2011
Gia Lai có hơn 34 dân tộc, trong đó dân tộc kinh chiếm 55,73%, dân tộc thiểu số chủ yếu là dân tộc Jarai và Banar chiếm 41,25% (Jarai chiếm 29,27% và Banar chiếm 11,98%), còn lại là các dân tộc khác
Trang 32Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Gia Lai năm 2011
Hình 2.3: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên tỉnh Gia Lai giai đoạn 2005
– 2011
Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên tỉnh Gia Lai giai đoạn 2005 – 2011 giảm từ 19,66
‰ (năm 2005) xuống 16,48 ‰ (năm 2011) Kết quả này đã góp phần tích cực cho công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân Tuy nhiên, tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên tỉnh Gia Lai hiện nay vẫn ở mức cao, đặc biệt các dân tộc thiểu số tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên rất cao
* Lao động
Dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 53%; lao động đã qua đào tạo
chiếm trên 30% tổng số lao động xã hội Tỷ lệ tăng dân số và lao động hàng năm khá cao, giá nhân công rẻ Nguồn lao động của tỉnh Gia Lai dồi dào vì vậy thuận lợi cho sản xuất cà phê
* Lịch sử văn hóa
Nằm trên địa bàn chiến lược ở khu vực Bắc Tây Nguyên, Gia Lai là vùng có lịch
sử hình thành và phát triển lâu đời, đa dạng về thành phần cư dân và nền văn hóa cổ xưa mang bản sắc dân tộc độc đáo của đồng bào các dân tộc thiểu số Dù trải qua
nhiều biến đổi lịch sử, Gia Lai vẫn duy trì được một nền văn hóa mang đậm bản sắc văn hóa Tây Nguyên bản địa