Ở Việt Nam việc tiếp cận du lịch chỉ mới đựơc quan tâm vào thập kỷ 90 của thể kỷ XX, nhưng cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều đề án quy hoạch phát triển du lịch đã được đề ra
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã được đề cập đến từ những năm 30 của thể kỉ XX với những định nghĩa về du lịch đã lần lượt được đề ra Đó là những định nghĩa về du lịch, những tài liệu hướng dẫn về quy hoạch, quản lý du lịch, vấn đề môi trường trong hoạt động du lịch … của nhiều tác giả như: Dowling, Buckley, Wood…Đây chính là những tài liệu vô cùng quan trọng để ứng dụng trong thực tiễn và là cơ sở để nghiên cứu về hoạt động du lịch ở từng quốc gia và các vùng lãnh thổ Ở Việt Nam việc tiếp cận du lịch chỉ mới đựơc quan tâm vào thập kỷ 90 của thể kỷ XX, nhưng cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều đề án quy hoạch phát triển du lịch đã được đề ra như:
- “Địa lý du lịch”, Nguyễn Minh Tuệ (Nxb Tp Hồ Chí Minh – 1992)
- “Tuyến điểm du lịch Việt Nam”, Bùi Thị Hải Yến (Nxb Giáo dục – 2004) Những năm gần đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về du lịch Hà Tĩnh của các công nhân viên hoạt động trong ngành Và cũng đã có một số đề tài nghiên về lĩnh vực du lịch của các anh chị sinh viên khóa trước như:
+ Đề tài nghiên cứu: “Đánh giá tiềm năng tài nguyên du lịch của tỉnh Hà Tĩnh, định hướng phát triển” của sinh viên Nguyễn Văn Tuấn, khóa 2004 – 2008
+ Đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu tình hình phát triển du lịch tỉnh Hà Tĩnh từ năm
2001 đến năm 2007 và định hướng phát triển đến năm 2015” của sinh viên Dương Thị Yến, khóa 2005 – 2009
Về huyện Đức Thọ cũng đã có các bài viết về đánh giá sự phát triển du lịch huyện Đức Thọ của ủy ban nhân dân huyện Đức Thọ, của phòng văn hóa, thể thao và du lịch huyện Đức Thọ.Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu nào cụ thể về tình hình phát triển du lịch của huyện Đức Thọ trong thời gian vừa qua.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục tiêu
Phân tích tình hình phát triển du lịch ở Đức Thọ thời kỳ 2005 – 2011, trên cơ sở đó đề ra những định hướng và giải pháp phát triển du lịch của huyện Đức Thọ đến năm
Nhiệm vụ
- Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về du lịch
- Tìm hiểu tình hình phát triển du lịch huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2005 – 2011
- Đề xuất những định hướng và giải pháp phát triển du lịch huyện Đức Thọ đến năm 2020.
Quan điểm nghiên cứu
Quan điểm hệ thống
Du lịch bao gồm nhiều thành phần cùng tồn tại trong một không gian có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau Phát triển du lịch của huyện Đức Thọ chỉ là sự phát triển một không gian nhỏ trong hệ thống sự phát triển của ngành du lịch tỉnh
Hà Tĩnh nói riêng, của cả nước nói chung Đặc trưng phát triển du lịch là sự kết hợp không gian rộng lớn trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau Quan điểm này là cơ sở để hình thành hệ thống du lịch trên lãnh thổ nghiên cứu, đảm bảo cho tính khách quan, khoa học trong nghiên cứu.
Quan điểm tổng hợp
Du lịch là một ngành kinh tế chịu sự tác động tương hỗ của nhiều nhân tố, nhiều lĩnh vực, nhiều ngành Ngược lại, du lịch lại tác động lớn đến sự phát triển nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế khác Vì vậy khi nghiên cứu tình hình, tiềm năng phát triển các điểm du lịch phải xem xét trong mối quan hệ tổng thể các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường.
Quan điểm lãnh thổ
Các đối tượng phân bố trên những phạm vi không gian nhất định và có những đặc trưng lãnh thổ riêng Việc nghiên cứu tình hình phát triển du lịch dựa trên quan điểm lãnh thổ nhằm xem xét, nghiên cứu theo góc độ không gian lãnh thổ để thấy sự phân hóa các yếu tố và thành phần phục vụ mục tiêu nghiên cứu đề tài.
Quan điểm kinh tế - sinh thái bền vững
Phát triển bền vững trở thành một mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của loài người trong thể kỉ XXI Cũng như các ngành kinh tế khác, tiêu chuẩn để đánh giá sự phát triển của ngành du lịch chính là hiệu quả kinh tế mà nó mang lại cho mỗi quốc gia, dân tộc Đồng thời việc phát triển ngành du lịch phải gắn với công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn, tôn tạo các giá trị tự nhiên và nhân văn Cũng chính vì vậy mà trong chính sách phát triển du lịch cần đảm bảo cho ngành du lịch phát triển, thu được lợi nhuận cao vừa đảm bảo cho môi trường sinh thái được bền vững Đây cũng chính là một trong những quan điểm chủ đạo để nghiên cứu đề tài này.
Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Các yếu tố tự nhiên, dân cư, kinh tế trên một lãnh thổ đều có nguồn gốc phát sinh và phát triển Vì thế quan điểm này được vận dụng để phân tích các số liệu, tư liệu trong các thời điểm nhất định từ đó nghiên cứu sự phát triển của ngành du lịch ở huyện Đức Thọ Qua đó làm cơ sở định hướng phát triển của ngành du lịch trong những thời gian tới.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thực địa
Đây là phương pháp không thể thiếu được khi nghiên cứu về du lịch, kết hợp với việc sử dụng bản đồ, các tài liệu có liên quan với thực địa Để nắm được đặc trưng của lãnh thổ một cách thực tế, làm cho thông tin trở nên chính xác Đây là một trong những phương pháp chủ đạo trong quá trình tìm hiểu đề tài.
Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu, xử lí số liệu
Việc nghiên cứu một đề tài cần rất nhiều tài liệu của nhiều cơ quan, ban ngành có liên quan Do vậy cần phải thu thập, tổng hợp, thống kê nguồn tài liệu phù hợp với nội dung nghiên cứu Sau đó cần phải xử lí, phân tích, làm rõ những tài liệu ấy để tạo nên tính chính xác và khoa học của đề tài.
Phương pháp sử dụng bản đồ, biểu đồ
Biểu đồ, bản đồ là một trong những yếu tố quan trọng, sử dụng phương pháp này cho phép thu thập các thông tin mới hỗ trợ cho trong quá trình nghiên cứu Mặt khác lãnh thổ du lịch phân bố rộng và bao gồm nhiều thành phần Do vậy việc thực địa không thể bao quát hết toàn bộ lãnh thổ và cụ thể từng yếu tố Vì vậy cần phải sử dụng bản đồ để quan sát được từng yếu tố và hỗ trợ cho việc nghiên cứu Các biểu đồ nhằm trực quan hóa các số liệu cho ta thấy rõ mức độ phát triển của ngành du lịch tại Đức Thọ theo thời gian và không gian.
Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội học cũng là một phương pháp mang lại hiệu quả trong việc nghiên cứu về hoạt động du lịch Việc điều tra xã hội học mang lại những ý kiến khách quan của du khách và người dân trên địa bàn về hiệu quả, chất lượng dịch vụ của hoạt động du lịch Từ đó có những biện pháp hợp lý để hoạt động du lịch có chất lượng tốt hơn và thực sự mang lại hứng thú khi đến với một điểm du lịch.
Phương pháp chuyên gia
Việc tham khảo ý kiến của lãnh đạo chính quyền, cán bộ ngành du lịch, cán bộ nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch là những kinh nghiệm quý để vận dụng vào nghiên cứu, rút ngắn được thời gian cho quá trình điều tra phức tạp Đồng thời bổ sung có hiệu quả cho phương pháp điều tra cộng đồng.
Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, kiến nghị, mục lục và tài liệu tham khảo thì nội dung chính của đề tài gồm ba chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của phát triển du lịch
Chương 2: Tình hình phát triển du lịch huyện Đức Thọ thời kỳ 2005 - 2011 Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Một số khái niệm liên quan đến du lịch
Thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng Thuật ngữ này được Latinh hóa thành “tornus” và sau đó thành
“tourisme” (tiếng Pháp), “tourism” (tiếng Anh) Tuy nhiên do hoàn cảnh khác nhau và dưới góc độ khác nhau nên mỗi học giả nghiên cứu về du lịch thường có những quan niệm khác nhau về du lịch
Theo Ausher thì “du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân”
Theo nhà nghiên cứu Nga Pizopnhic, 1985 “du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian nhàn rỗi liên quan đến sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và thể trạng, nâng cao trình độ nhận thức - văn hoá hoặc thể thao làm theo việc tiêu thu những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hoá ”
Tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch ở Roma đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” Ở nước ta, theo “pháp hành du lịch” kí ngày 20/2/1999, thì du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định (điểm 1, điều 10, trang 8,
Pháp lệnh du lịch ) Từ đó ta có thể nói rằng du lịch là tổng thể những hoạt động và những mối quan hệ phát sinh qua lại lẫn nhau giữa du khách và các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội phục vụ du lịch Vì thế việc phát triển du lịch đòi hỏi toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ và đầu tư của nhiều lĩnh vực để du lịch ngày càng phát triển góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước
Du khách là một trong những yếu tố để đánh giá sự phát triển của ngành du lịch
Có nhiều tác giả đã đưa ra khái niệm về du khách
- Theo Hiệp hội du lịch quốc tế đã đưa ra định nghĩa:“Du khách quốc tế là những ngườii lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian 24 giờ trở lên”
- Theo quan niệm của nhà kinh tế học người Áo, Jozeptander:“Khách du lịch là loại khách đi lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế”
Tại nhiều nước trên Thế giới thường thấy có sự phân biệt giữa du khách trong nước và du khách nước ngoài Ở nước ta, theo điều 20 chương IV pháp lệnh du lịch, những người được thống kê là du khách quốc tế phải có các đặc điểm cơ bản sau:
- Là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch
- Là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch Đối với du khách trong nước, có thể phân biệt thành 2 nhóm Nhóm 1: Gồm những người vì mục đích du lịch thuần túy Nhóm 2: Là những người sử dụng các dịch vụ của ngành du lịch
Qua đó có thể thấy du khách là người từ nơi khác đến vào thời gian rảnh rỗi của họ với mục đích thỏa mãn tại nơi đến nhu cầu nâng cao hiểu biết, phục hồi sức khỏe, thư giãn, giải trí hoặc thể hiện mình kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tinh thần, vật chất và các dịch vụ do các cơ sở của ngành du lịch cung ứng Về phương diện kinh tế, du khách là người sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp du lịch như lữ hành, lưu trú, ăn uống … Như vậy, du khách là chủ thể của hoạt động du lịch, có vị trí rất quan trọng trong hoạt động du lịch, là một yếu tố cực kỳ quan trọng để phát triển ngành du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế có định hướng của tài nguyên rõ rệt Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức lãnh thổ du lịch, hình thành chuyên môn hoá các ngành du lịch và hiệu quả của các hoạt động du lịch Tuy nhiên mức độ chi phối của tài nguyên du lịch đến sự phát triển của ngành du lịch còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác đặc biệt là trình độ phát triển của nền kinh tế
Tài nguyên du lịch bao gồm thành phần và những kết hợp khác nhau của cảnh quan tự nhiên và các đối tượng lịch sử - văn hoá, kiến trúc, các giá trị văn hoá phi vật thể có thể phục vụ cho dịch vụ du lịch và thoả mãn nhu cầu cho chữa bệnh, nghỉ ngơi tham quan hay du lịch
Khái niệm “tài nguyên du lịch” không đồng nhất với các khái niệm: điều kiện tự nhiên và điều kiện văn hoá lịch sử để phát triển du lịch Thực chất tài nguyên du lịch là giá trị của điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội có khả năng và trực tiếp vào mục đích du lịch
Tài nguyên du lịch được chia làm hai nhóm: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn a Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta Theo khoản 1 (Điều 13, chương II, Luật du lịch Việt Nam năm
2005) quy định: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố điều kiện địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch” Mỗi dạng tài nguyên này có tác động đến du lịch ở một khía cạnh khác nhau
Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch
Vị trí địa lý là một nhân tố vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung trong đó có các ngành du lịch Vị trí địa lý, quyết định tới đặc điểm các yếu tố tự nhiên khác như: địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, sinh vật Bên cạnh đó điểm du lịch nào nằm gần các trung tâm lớn, các thành phố có nền kinh tế phát triển thì khả năng thu hút khách du lịch sẽ cao hơn Cũng chính vì vậy, mà các trung tâm du lịch lớn đều có vị trí địa lý thuận lợi
Như vậy, tùy vào đặc điểm vị trí địa lý cũng như nhu cầu của du khách mà phát triển các loại hình du lịch khác nhau Chính vì vậy vị trí địa lý vẫn là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng để phát triển du lịch
1.2.2 Tài nguyên du lịch a Tài nguyên du lịch tự nhiên
Mỗi một nền kinh tế muốn phát triển được đầu tiên phải kể đến các thành phần tự nhiên Nó là cơ sở đầu tiên cho việc khai thác, xây dựng và định hướng các loại hình kinh tế Đặc biệt đối với du lịch thì các thành phần tự nhiên là điều kiện rất cần thiết Các thành phần tự nhiên có thể hấp dẫn đối với du khách, từ đó được sử dụng vào mục đích phát triển du lịch và trở thành tài nguyên du lịch tự nhiên.Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: Địa chất - địa hình, khí hậu, nước, sinh vật
- Địa chất - Địa hình Đối với hoạt động du lịch, điều quan trọng nhất là đặc điểm hình thái địa hình, nghĩa là các dấu hiệu bên ngoài của địa hình và các dạng địa hình có sức hấp dẫn cho khai thác phát triển du lịch Khách du lịch thường thích những dạng địa hình đồi núi, địa hình bờ biển, địa hình caxtơ Các dạng địa hình có tác động mạnh đến tâm lí du lịch của du khách với địa hình miền núi tạo không gian thoáng đãng thích hợp cho du lịch dã ngoại, du lịch nghỉ dưỡng; đặc biệt là các kiểu địa hình caxtơ (đá vôi) và các kiểu địa hình ven bờ có giá trị rất lớn cho tổ chức du lịch Đặc điểm địa chất có ảnh hưởng tới việc hình thành các dạng địa hình, trong đó có một số dạng địa hình đặc biệt tạo điều kiện phát triển du lịch Bên cạnh đó đặc điểm địa hình và các dạng địa hình ảnh hưởng đến công tác xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và tạo nền cho phong cảnh
Ngoài việc tạo nên những phong cảnh độc đáo, thu hút khách du lịch, địa hình còn tác động đến việc xây dựng các cơ sở phục vụ cho phát triển du lịch, góp phần tạo cho hệ thống du lịch hoàn thiện hơn
- Khí hậu Đây là tài nguyên sớm được khai thác để phục vụ cho sự phát triển du lịch Tất cả các yếu tố của khí hậu như: nhiệt độ, độ ẩm, áp suất đều ảnh hưởng tới sức khoẻ con người Vì thế mà du khách thường ưa thích những khu vực có khí hậu ôn hòa, tránh những nơi quá ẩm hoặc quá nóng Chính vì vậy mà những điểm du lịch có khí hậu thuận lợi và đặc biệt có tác dụng chữa bệnh thì khả năng thu hút khách du lịch sẽ rất cao Sự thu hút mạnh khách du lịch ở Đà Lạt, Sa Pa của nước ta là những minh chứng cụ thể Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động dịch vụ về du lịch Ở mức độ nhất định cần phải chú ý tới những loại hình thời tiết đặc biệt như bão, lũ… làm cản trở tới hoạt động du lịch Điều này quy định tính mùa vụ của du lịch Các vùng khác nhau có tính mùa vụ du lịch không giống nhau do ảnh hưởng của các thành phần khí hậu
Như vậy, khí hậu ảnh hưởng đến sức khỏe con người và các loại hình du lịch, tính mùa vụ của du lịch, có thể phát triển những loại hình du lịch khác nhau ở những nơi có điều kiện khí hậu khác nhau
Tài nguyên nước bao gồm nước đại dương, nước biển, sông, hồ, hồ chứa nước nhân tạo, suối, thác nước, … Nước có vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt và sản xuất của con người Trong hoạt động du lịch nước được sử dụng tùy theo nhu cầu của cá nhân, theo độ tuổi và nhu cầu quốc gia Tài nguyên nước không chỉ có tác dụng phục hồi trực tiếp mà còn ảnh hưởng nhiều đến các thành phần khác của môi trường sống, đặc biệt là nó làm dịu khí hậu ven bờ Địa hình ven bờ thường có khí hậu dịu mát cho phép nghỉ ngơi dài ngày nhờ bãi cát ven bờ vừa có thể tắm biển, vừa lại tắm nắng Có thể phát triển du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển, lướt sóng, lướt ván…Sông hồ thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ ngơi, câu cá, bơi thuyền Đặc biệt là các suối nước nóng, nước khoáng là những tài nguyên có giá trị để phát triển du lịch an dưỡng và chữa bệnh Chính vì vậy những khu vực nghỉ dưỡng ven bờ, ven biển thường thu hút lớn lượng khách du lịch
Hiện nay khi kinh tế càng phát triển đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao thì nhu cầu nghỉ ngơi tham quan du lịch và giải trí trở thành một nhu cầu cấp thiết Thị hiếu về du lịch cũng ngày càng đa dạng và phong phú Ngoài một số hình thức truyền thống như tham quan phong cảnh, các di tích văn hóa lịch sử của loại người, đã xuất hiện một số hình thức mới có sức hấp dẫn rất lớn du khách Đó là du lịch các khu bảo tồn thiên nhiên với đối tượng là động thực vật
Những vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên là những địa chỉ thu hút khách du lịch về với thiên nhiên, có giá trị đối với du lịch cuối tuần Các loài động thực vật đặc hữu có giá trị rất lớn trong du lịch sinh thái hoặc là đối tượng để nghiên cứu Đặc biệt đối với khách du lịch quốc tế những loài sinh vật không có ở đất nước mình thường có sức hấp dẫn mạnh Như vậy tài nguyên động thực vật có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngành du lịch b Tài nguyên du lịch nhân văn
- Các di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử - văn hóa
Di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử văn hóa là tài sản văn hóa tiêu biểu, đặc sắc của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước và cả nhân loại Một di sản quốc gia được công nhận, được tôn vinh, tầm vóc giá trị của di sản được nâng cao, các giá trị văn hóa thẩm mỹ cũng như các ý nghĩa kinh tế, chính trị vượt khỏi phạm vi một nước thì khả năng thu hút khách du lịch và phát triển dịch vụ sẽ to lớn hơn nhiều Đây được coi là một trong những nguồn tài nguyên du lịch quan trọng góp phần phát triển và mở rộng hoạt động du lịch Khách du lịch đến đây thường là những người thích tìm hiểu kho tàng văn hóa lịch sử, đó là những nhà nghiên cứu, sinh viên… Các giá trị này đòi hỏi khách tham quan phải có một trình độ nhất định, ham hiểu biết và nhu cầu tìm hiểu về các giá trị lịch sử - văn hoá này Ở Việt Nam, có những khu di tích văn hóa – lịch sử được đưa vào phát triển du lịch với hiệu quả cao như: Cố đô Huế, cồng chiêng Tây Nguyên, phố cổ Hội An
- Các lễ hội truyền thống
Trong kho báu các di sản của quá khứ để lại, các lễ hội dân tộc là một trong những tài nguyên du lịch quý giá nhất Vì thế các lễ hội dân tộc ngày càng được phát triển cả về hình thức, nội dung, thời gian lẫn quy mô Điều này ảnh hưởng đến việc tổ chức lãnh thổ du lịch và góp phần tạo nên tính mùa vụ của du lịch Ở nước ta, nhiều lễ hội truyền thống được đưa vào khai thác cho hoạt động du lịch như: Hội Chùa Hương, giỗ tổ Hùng Vương, Lễ hội Lam Kinh Tạo điều kiện cho việc tổ chức các loại hình du lịch, các tuyến du lịch với các sản phẩm du lịch độc đáo
- Các phong tục tập quán
Mỗi dân tộc, mỗi địa phương có những điều kiện sinh sống , những đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng Mỗi nét đặc sắc của từng địa phương có sức hấp dẫn riêng đối với từng khách du lịch
Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc có ý nghĩa nhất là các tập tục lạ về cư trú, tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống sinh hoạt, về kiến trúc và trang phục… Khi đi du lịch du khách mong muốn được trải nghiệm, nghỉ ngơi, thư giản nâng cao nhận thức về những giá trị tài nghuyên du lịch tự nhiên cũng như nhân văn, đất nước, con người ở những nơi họ tới Do đó, văn hóa ứng xử, các phong tục tập quán tốt đẹp ở các địa phương, các quốc gia trở thành tài nguyên du lịch quý giá, vừa góp phần tạo nên môi trường xã hội, vừa tạo nên sự đa dạng độc đáo của sản phẩm du lịch thu hút du khách
- Các hoạt động văn hóa – thể thao
Các đối tượng văn hóa – thể thao cũng thu hút khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu Mỗi quốc gia, mỗi địa phương đều có những nét văn hóa độc đáo riêng như văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, các hoạt động thể dục, thể thao…Đặc biệt là các giải thể dục thể thao lớn là những hoạt động mamg tính sự kiện, đây cũng là đối tượng hấp dẫn du khách Đây cũng là điều kiện và là tài nguyên quan trọng để phát triển loại hình du lịch thể thao
Tình hình phát triển du lịch ở Việt Nam và ở Hà Tĩnh
Năm 1995, Việt Nam đón trên 1,3 triệu lượt khách đến năm 2010 là trên 5 triệu lượt khách Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm về khách quốc tế cả giai đoạn 1995-2010 đạt 9,2% Khách du lịch nội địa cũng tăng nhanh với 6,9 triệu lượt khách vào năm 1995, 11,2 triệu lượt khách vào năm 2000 và lên tới 28 triệu lượt khách vào năm 2010, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 9,8% Thu nhập du lịch tăng từ 6,4 nghìn tỷ đồng năm 1995 lên 17,5 nghìn tỷ đồng năm 2000 và trên 96 nghìn tỷ năm 2010, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 19,8%, đứng thứ 5 trong các ngành tạo thu nhập ngoại tệ cho đất nước Đến nay, ngành du lịch đã tạo ra việc làm cho trên 1,4 triệu lao động, trong đó có gần 1 triệu lao động gián tiếp, qua đó góp phần tích cực vào nỗ lực xoá đói giảm nghèo trong cả nước, đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa nơi có tiềm năng du lịch Đồng thời, phát triển du lịch đã góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế liên quan, đặc biệt là các ngành hàng không, xây dựng, sản xuất thủ công mỹ nghệ, làng nghề… Sự phát triển của du lịch Việt Nam cùng với các hoạt động quảng bá xúc tiến cũng đã góp phần tích cực vào nỗ lực đưa hình ảnh đất nước Việt Nam thân thiện, an toàn và mến khách đến với bạn bè quốc tế,…
Bên cạnh những kết quả đạt được, còn những tồn tại trong thực hiện các mục tiêu của Quy hoạch tổng thể Một số chỉ tiêu quan trọng về khách quốc tế, thu nhập du lịch, GDP du lịch chưa đạt so với dự báo Tỷ trọng GDP du lịch giai đoạn 1995-2010 còn hạn chế, chưa thực sự tương xứng với mục tiêu đặt ra là trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam còn thấp, còn thiếu những sản phẩm du lịch đặc thù, mang đậm bản sắc dân tộc, chất lượng sản phẩm chưa cao… Cùng với đó là tình trạng phát triển tự phát ở nhiều khu, điểm du lịch, chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách du lịch, tính chuyên nghiệp còn hạn chế, sự gắn kết giữa các địa phương trong phát triển du lịch chưa được phát huy đầy đủ…
Với tiềm năng lớn, từ năm 2001, Du lịch Việt Nam đã được chính phủ quy hoạch, định hướng để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Mặc dù "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010" có vài chỉ tiêu không đạt được, từ năm 2011, "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 30/12/2011 để tiếp nối
Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung Bộ, có toạ độ địa lý từ
17 0 53’50’’ đến 18 0 45’40’’ vĩ độ Bắc và 105 0 05’50’’ đến 106 0 30’20’’kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp Quảng Bình, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Hà Tĩnh có Thành phố Hà Tĩnh, Thị xã Hồng Lĩnh và 10 huyện: Đức Thọ, Nghi Xuân, Hương Sơn, Hương Khê,
Vũ Quang, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Lộc Hà
Với vị trí đó cùng các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội đã tạo thuận lợi cho phát triển du lịch
Những năm qua, du lịch Hà Tĩnh đã có những bước phát triển Tổng lượt khách du lịch hàng năm tăng 25% Đến nay, toàn tỉnh có 368 di tích được xếp hạng, trong đó có 72 di tích cấp quốc gia, 1 di sản văn hóa phi vật thể (ca trù) được UNESCO công nhận là di sản văn hóa nhân loại Hà Tĩnh cũng đã hình thành các khu, điểm du lịch như: Thiên Cầm, Xuân Thành, Đèo Con, Nước Sốt, Ngã ba Đồng Lộc, chùa Hương tích, khu lưu niệm Nguyễn Du, khu lưu niệm Trần Phú… Toàn tỉnh hiện có 120 cơ sở lưu trú với 2.648 phòng với trên 5.000 giường, trong đó có 1 khách sạn 4 sao, 4 khách sạn 3 sao, 18 khách sạn 2 sao, 24 khách sạn 1 sao và 30 cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn Trong 6 tháng đầu năm 2012, Hà Tĩnh đón gần 465 ngàn lượt khách, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm ngoái (trong đó khách quốc tế đạt gần 10 ngàn lượt khách),doanh thu đạt 218.791 triệu đồng, tăng 68% so với cùng kỳ năm ngoái, nộp ngân sách 21.877 triệu đồng
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, hoạt động du lịch - dịch vụ còn nhiều yếu kém, công tác tuyên truyền quảng bá du lịch còn hạn chế, đội ngũ nhân viên, những người trực tiếp làm du lịch cũng như đội ngũ quản lý nhà nước trên lĩnh vực này còn nhiều yếu kém, cung cách phục vụ chưa có tính chuyên nghiệp… nên chưa khai thác được tối đa tiềm năng lợi thế, du khách đến, lưu trú và sử dụng dịch vụ chưa nhiều Thời gian tới, Hà Tĩnh cần có bước đột phá, phát triển du lịch có trọng tâm, trọng điểm, có quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết, tập trung nguồn lực để xây dựng khu du lịch biển Thiên Cầm, khu văn hóa - du lịch Nguyễn Du, khu văn hóa du lịch Trần Phú, khu di tích Ngã Ba Đồng Lộc sớm đạt tiêu chí điểm du lịch quốc gia và trở thành thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước Bên cạnh đó, tỉnh cần nâng cao chất lượng dịch vụ nhà hàng, khách sạn, quan tâm đến chất lượng dịch vụ, môi trường, tạo nhiều sản phẩm du lich mang tính đặc trưng của địa phương, tập trung đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch Tổng cục du lịch sẽ tiếp tục quan tâm hỗ trợ Hà Tĩnh, đặc biệt là về quảng bá, giới thiệu hình ảnh Hà Tĩnh tới du khách trong và ngoài nước.
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2005 – 2011
Khái quát về tiềm năng phát triển du lịch huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
2.1.1 Vị trí địa lý Đức Thọ là huyện nằm về phía Bắc của tỉnh Hà Tĩnh, có tọa độ địa lý: 18 0 23”-
18 0 36” vĩ Bắc, 105 0 32”-105 0 41” kinh Đông Phía đông nam huyện giáp huyện Can Lộc, phía tây bắc giáp huyện Nam Đàn, phía đông bắc giáp huyện Hưng Nguyên (tỉnh Nghệ An), phía tây giáp huyện Hương Sơn, phía tây nam giáp huyện Vũ Quang, huyện Hương Khê, phía đông giáp thị xã Hồng Lĩnh Huyện Đức Thọ cách thủ đô Hà Nội
325 km về phía nam Vị trí này đã tạo nhiều thuận lợi cho việc phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt là ngành du lịch
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên a Địa hình – Đất đai Địa hình huyện Đức Thọ nằm trên một dải đất hẹp, với đầy đủ các dạng địa hình, có đồi núi, gò đồi, ven trà sơn, thung lũng, đồng bằng, sông suối, với không gian hẹp, trong đó núi đồi chiếm 10,5% diện tích đất tự nhiên Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và bị chia cắt mạnh, phía Tây Nam của huyện chủ yếu là núi thoải chạy dọc ven trà sơn, còn vùng núi dốc là ở những vùng giáp địa giới hành chính huyện Vũ Quang, Can Lộc, xen lẫn giữa địa hình đồi núi là thung lũng nhỏ hẹp tạo ra những đầm lầy sâu và bàu nước chảy ra lưu vực sông Ngàn Sâu đổ ra sông La, chính các thung lũng và dọc 2 bên bờ sông này là vùng sinh sống của dân cư nhằm để tận dụng tối đa khả năng đất đai màu mỡ do lượng phù sa hàng năm bồi đắp Tài nguyên đất của huyện Đức Thọ có các nhóm đất như: Nhóm đất cát, nhóm đất phù sa, nhóm đất bạc màu, nhóm đất đỏ vàng, nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá
Là một huyện có địa hình tương đối đa dạng và phức tạp, vừa có đồi núi, vừa có đồng bằng Địa hình cũng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của ngành du lịch huyện Đức Thọ, chính địa hình đã hình thành nên các loại hình du lịch ở đây b Khí hậu Đức Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm còn chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp của miền Bắc và miền Nam, đặc trưng khí hậu nhiệt đới có hai miền khí hậu rõ rệt: Mùa hè và mùa đông Đặc điểm khí hậu là một trong những yếu tố tác động đến phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng Đặc điểm khí hậu tạo nên tính mùa vụ cho hoạt động của ngành du lịch c Thủy văn
Trên địa bàn huyện có 2 con sông chính chảy qua đó là sông Ngàn Sâu và sông
La với tổng chiều dài là 37 km, có nước quanh năm, diện tích mặt nước khoảng 1,5 vạn m 3 Ngoài ra huyện còn có một hệ thống hồ đập giữ nước như: Đập Trạ, đập Tràm, đập Đá Trắng, đập Trục Xối, đập Phượng Thành, đập Liên Minh- Tùng Châu và một phần đập Khe Lang…Như vậy, với trữ lượng nước hiện có là điều kiện thuận lợi phục vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt cho nhân dân và đặc biệt cho các cơ sở trong ngành du lịch d Sinh vật Đức Thọ có 3.128,68 ha rừng và đất rừng chiếm 15,48 ha diện tích đất tự nhiên, trong đó rừng trồng là 836,73 ha và trồng xung quanh các trục đường giao thông, khuôn viên nhà trường, trụ sở và các khu dân cư, độ che phủ rừng chiếm 38 %, rừng trồng chủ yếu là thông, bạch đàn và keo lá tràm Hiện nay có khoảng 500 ha rừng thông nhựa đã và đang đưa vào khai thác với sản lượng hàng năm ước tính từ 500 đến
700 tấn, giá trị thu được từ bán nhựa thông 2,5 tỷ đồng/năm
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội a Dân cư – lao động
Năm 2011 toàn huyện có 104.452 người với tổng số lao động là 52.500 lao động Với dân số đông sẽ bổ sung nguồn lao động cho các ngành kinh tế trong đó có ngành du lịch Chất lượng nguồn lao động ngày càng được nâng cao sẽ tạo nên những bước tiến mạnh trong phát triển ngành du lịch huyện Tuy nhiên, phần lớn nguồn lao động có tay nghề thấp, chất lượng chưa cao b Thành tựu của các ngành kinh tế
Năm 2011 tốc độ tăng trưởng kinh tế gần 13% Thu nhập bình quân đầu người trên 15 triệu đồng/năm Giá trị công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – thương mại dịch vụ chiếm trên 70% Toàn huyện có 90 doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả Sản xuất nông nghiệp chuyển dịch theo hướng hiện đại Kết quả trên đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng trong công nghiệp – tiểu thủ công ngiệp bình quân đạt từ 18-23% Riêng 9 tháng đầu năm 2011, giá trị công nghiệp – tiểu thủ công ngiệp hơn 200 tỷ đồng đạt 55% so với kế hoạch năm
Cơ cấu kinh tế năm 2011: lĩnh vực nông – lâm – thủy sản chiếm 27,7%, lĩnh vực công nghiệp – xây dựng chiếm 33%, lĩnh vực dịch vụ - thương mại chiếm 39,3%
Hình 2.1 Biểu đồ thể hiện cơ cấu kinh tế huyện Đức Thọ năm 2011 c Cơ sở vật chất – hạ tầng
- Hệ thống giao thông vận tải
Hệ thống giao thông vận tải của huyện tương đối đầy đủ các phương thức vận tải như đường bộ, đường sông và đường sắt về đường bộ: có tổng chiều dài các loại đường trong huyện là 518 km, mật độ đường bình quân 0,81 km/km 2 và 3,38 km/1000 dân Tổng chiều dài mạng đường bộ, đường sắt trong huyện là:
+ Đường sắt 27 km Huyện Đức Thọ có đường sắt Bắc - Nam đi qua 8 xã từ Đức Châu đến Đức Lạng dài 27 km, có nhà ga Đức Lạc
+ Quốc lộ 8A chạy từ Hồng Lĩnh sang Lào, quốc lộ 8A đi qua địa phận Đức Thọ từ xã Đức Thịnh (cầu Đò Trai) đến xã Đức Hoà (cầu Ghềnh Tàng), với chiều dài 16 km
+ Quốc lộ 15A từ Trung Lễ qua Đức Dũng, Đức Thanh dài 5 km, dự kiến thêm đoạn từ thị trấn qua xã Trường Sơn dài 7 km
Toàn huyện có 3 tỉnh lộ với tổng chiều dài 41 km, bao gồm:
Tỉnh lộ 5: Điểm đầu Tùng Ảnh, điểm cuối ở xã Đức Lạng, dài 14 km đi qua các xã Cẩm Thăng, Cẩm Phúc, Cẩm Long Tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương cấp 5, nền đường rộng 6,00 m, mặt đường nhựa rộng 3,50 m
Tỉnh lộ 8B: Điểm đầu ở Yên Trung, điểm cuối ở bến Tam Soa, dài 4 km Tiêu chuẩn kỹ thuật cấp 5, nền đường rộng 6,50 m, mặt đường nhựa rộng 3,50m
Tỉnh lộ 28: Điểm đầu Tùng Ảnh, điểm cuối ở xã Đức Dũng, chiều dài 15 km tuyến đi qua xã Đức An Tiêu chuẩn kỹ thuật cấp V, nền đường rộng 6,00m mặt đường cấp phối rộng 3,50m
Ngoài ra mạng lưới giao thông đường bộ trên địa bàn huyện còn có các tuyến đường liên huyện, liên xã, liên thôn được phân bố trong huyện đảm bảo được mối liên hệ giao thương cũng như nhu cầu đi lại giữa các xã trong huyện với nhau Toàn huyện hiện có trên 750 km đường giao thông nông thôn bê tông, 300 km kênh mương cứng Ngoài ra còn có : Cầu Linh Cảm, Cầu Cố Bá ở Đức Lạc
Hệ thống giao thông phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đi đến các điểm du lịch theo lộ trình của mình một cách dễ dàng Ngoài ra còn tạo điều kiện cho giao lưu và trao đổi hành hóa phục vụ nhu cầu du lịch
- Hệ thống thông tin liên lạc
Về dịch vụ bưu chính viễn thông hiện tại toàn huyện có 3 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Bưu chính, Viễn thông : Bưu điện huyện,Tổng công ty Viễn thông Quân đội – Chi nhánh huyện Đức Thọ (Vietel), Công ty Viễn thông điện lực Việt Nam (EVN-Telecom) Bưu cục, Internet, mạng điện thoại phủ sóng 27/27 xã, thị trấn Các dịch vụ viễn thông góp phần thúc đẩy ngành du lịch phát triển, tạo điều kiện cần thiết để thu hút khách du lịch, giao lưu và trao đổi tin tức một cách nhanh chóng và kịp thời
- Hệ thống cơ sở lưu trú
Huyện Đức Thọ hiện chỉ có một cơ sở lưu trú của UBND huyện, được xây dựng từ nguồn kinh phí của Trung ương nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố Tổng
Bí thư Trần Phú Nhìn bề ngoài cơ sở này khá đồ sộ, nhưng bên trong trang thiết bị sơ sài Nếu cơ sở này được đầu tư đồng bộ, đúng quy chuẩn thì đã góp phần quan trọng trong khai thác, phát triển du lịch của huyện Đức Thọ - một huyện có tiềm năng du lịch khá phong phú Các thiết chế phục vụ văn hoá – thể dục thể thao được đảm bảo
Tình hình phát triển du lịch Đức Thọ giai đoạn 2005 – 2011
Khách du lịch là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá quá trình hình thành và phát triển ngành du lịch ở bất cứ nơi nào Ở Đức Thọ trong những năm vừa qua ngành du lịch đã từng bước ngày càng phát triển và thu hút được lượng khách lớn trong và ngoài địa phương Lượng khách du lịch đến Đức Thọ trong thời gian qua liên tục tăng lên cả khách nội địa và khách quốc tế
Bảng2.1: Số lượng khách du lịch đến Đức Thọ giai đoạn 2005 – 2011
Nguồn : Phòng văn hóa, thể thao và du lịch huyện Đức Thọ, năm 2012
Như vậy, qua bảng số liệu và biểu đồ ta thấy trong suốt giai đoạn trên tổng lượng khách du lịch đến Đức Thọ liên tục tăng lên Từ năm 2005 có 12.459 lượt khách đến năm 2010 lượng khách du lịch đến Đức Thọ đạt 44.856 lượt khách, gấp 3.6 lần so với năm 2005 Sở dĩ giai đoạn này lượng khách đến Đức Thọ tăng là nhờ Sở văn hóa, thể
Hình 2.2 Biểu đồ thể hiện khách du lịch đến Đức Thọ giai đoạn 2005 - 2011
Nội địa Quốc tế thao và du lịch tỉnh Hà Tĩnh kết hợp với phòng văn hóa thể thao và du lịch huyện Đức Thọ triển khai chương trình Tuần lễ văn hóa danh nhân Trần Phú với nhiều hình thức về văn hóa, văn học, lễ hội…
Tỉnh Hà Tĩnh nói chung và huyện Đức Thọ nói riêng được đánh giá là vùng đất giàu tiềm năng, thế mạnh để phát triển ngành du lịch Xác định được vai trò và thế mạnh đó trong những năm gần đây cùng hòa đồng với sự phát triển của ngành du lịch tỉnh nhà, huyện cũng đã chú trọng đầu tư để phát triển ngành du lịch, thu hút khách du lịch đặc biệt là khách quốc tế Lượng khách quốc tế đến với huyện Đức Thọ trong giai đoạn 2005 - 2011 tăng 1,5 lần Đến năm 2011 lượng khách quốc tế đến Đức Thọ đạt
Tuy nhiên số ngày lưu trú bình quân của khách du lịch quốc tế ở Đức Thọ còn rất thấp Nguyên nhân là do cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành du lịch chưa đáp ứng được nhu cầu của khách quốc tế, sản phẩm du lịch đang còn đơn điệu, chưa có sức hấp dẫn du khách
Nguồn khách quốc tế đến Đức Thọ chủ yếu là các thị trường truyền thống như Châu Á, Châu Âu Đặc biệt là khách du lịch đến từ thị trường các nước bạn Lào, vùng Đông bắc Thái Lan thông qua cửa khẩu quốc tế Cầu Treo
Trong giai đoạn 2005-2011, lượng khách nội địa tăng nhanh và ổn định Năm
2011 lượng khách nội địa đến Đức Thọ đạt 43.467 lượt khách, tăng gấp 3.5 lần so với năm 2005
Khách du lịch nội địa đến Đức Thọ thuộc nhiều địa phương trong cả nước với nhiều mục đích khác nhau Có những du khách kết hợp công việc với du lịch, có những đối tượng là khách du lịch lễ hội – tín ngưỡng, du lịch tham quan di tích, các di tích lịch sử, danh thắng Điểm đến của những du khách này thường là: Chùa Am, chùa Phượng Thành, Khu lưu niệm cố tổng bí thư Trần Phú, Phan Đình Phùng, Núi Tùng, Bến Tam Soa… Nhìn chung, lượng khách du lịch đến với Đức Thọ chủ yếu vẫn là khách nội địa, lượng khách quốc tế đang còn ít Chính điều này đã làm hạn chế sự phát triển ngành du lịch của huyện nó ảnh hưởng đến doanh thu của ngành
Bảng 2.2 : Tỉ lệ khách du lịch đến Đức Thọ so với toàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2005
Khách đến Đức Thọ 12.459 16249 21.461 30.670 37.774 42.350 44.836 Khách đến
Tỉ lệ so với toàn tỉnh (% 8,5 8,7 8,7 9,3 8,9 9,6 9,7
( Chi cục thống kê huyện Đức Thọ năm 2012)
So với sự phát triển du lịch của tỉnh Hà Tĩnh, trong những năm gần đây du lịch huyện Đức Thọ cũng đang có sự phát triển Điều này thể hiện ở lượng khách du lịch đến Đức Thọ chiếm một tỉ trọng khá lớn trong lượng khách du lịch đến với tỉnh Hà Tĩnh Năm 2011 lượng khách du lịch đến Đức Thọ chiếm 9.7% so với toàn tỉnh Hà Tĩnh
2.2.2 Lực lượng lao động trong du lịch
Nhìn chung lực lượng lao động của huyện Đức Thọ khá đông, năm 2011 toàn huyện có 104.452 người với tổng số lao động là 52.500 lao động Hàng năm huyện Đức Thọ được bổ sung một lực lượng lao động từ những vùng khác đến để đáp ứng nhu cầu về lao động cho các ngành kinh tế trong đó có ngành du lịch Số lượng lao động trong ngành du lịch huyện Đức Thọ giai đoạn 2005 – 2011 không ngừng tăng lên, số lao động năm 2011 gấp 3,72 lần so với năm 2005
Bảng 2.3 Lao động trong ngành du lịch huyện Đức Thọ giai đoạn 2005 - 2011
Lao động trong ngành du lịch 339 450 557 693 765 980 1262
Nguồn: Phòng văn hóa, thể thao và du lịch huyện Đức Thọ, năm 2012
Người dân huyện Đức Thọ có truyền thống hiếu học, cần cù, chịu khó Năm 2011 toàn huyện có khoảng 1.267 lao động trực tiếp trong ngành du lịch Trong đó trình độ đại học và trên đại học chiếm 3%, trung cấp chiếm 19%, sơ cấp chiếm 27% và lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghiệp vụ du lịch chiếm 51% Cùng với sự phát triển ngành du lịch, chất lượng lao động cũng không ngừng tăng lên Tuy nhiên nhìn chung chất lượng lao động còn thấp và chủ yếu là chưa qua đào tạo nghề nghiệp Lao động trong ngành du lịch chủ yếu làm trong các cơ sở lưu trú, ăn uống, còn các lĩnh vực khác chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ Một bộ phận lao động được đào tạo tại các trường đào tạo chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ Phần lớn lao động chưa qua các lớp đào tạo chuyên nghiệp mà chỉ qua hướng dẫn nghiệp vụ, đào tạo những kỹ năng cơ bản tại các khoá học ngắn ngày hoặc chưa qua đào tạo, trình độ dang còn thấp kém
2.2.3 Doanh thu từ du lịch
Tổng doanh thu từ hoạt động du lịch của huyện Đức Thọ giai đoạn 2005 - 2011 tăng liên tục Năm 2011 doanh thu từ du lịch đạt 37.294 triệu đồng, tăng 11.4% so với năm 2010 Năm 2011doanh thu gấp 2,6 lần so với năm 2005 và nộp ngân sách nhà nước 3.056 triệu đồng Như vậy doanh thu từ du lịch của ngành du lịch huyện Đức Thọ ngày càng tăng và đóng góp một phần không nhỏ cho ngân sách nhà nước
Bảng 2.4 : Doanh thu từ du lịch Đức Thọ giai đoạn 2005 – 2011
Nộp ngân sách nhà nước
Nguồn: Phòng văn hóa, thể thao và du lịch huyện Đức Thọ, năm 2012
Như vậy du lịch huyện Đức Thọ có một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của du lịch tỉnh Hà Tĩnh Nhìn chung doanh thu từ du lịch còn khá đơn giản, chủ yếu tập trung vào hai hoạt động chính là ăn uống và lưu trú Hai loại hình này chiếm gần tới 90% trong cơ cấu doanh thu tại du lịch huyện Đức Thọ Nhìn vào cơ cấu doanh thu có thể thấy rằng trình độ phát triển của các dịch vụ ở đây còn chưa cao và chưa tương xứng với tiềm năng Các dịch vụ du lịch khác như lữ hành, vận chuyển, buôn bán đồ lưu niệm, vui chơi giải trí còn chưa phát triển nên doanh thu từ các loại hình dịch vụ này còn rất thấp Đó cũng là hạn chế của ngành du lịch huyện Đức Thọ, do đó cần có những giải pháp quan trọng để phát triển du lịch nơi đây
2.2.4 Các loại hình du lịch
+ Du lịch văn hoá: Tham quan, lễ hội, tìm hiểu nét văn hoá người dân chủ yếu ở khu vực Tùng Ảnh và dọc sông La, tìm hiểu về lịch sử tại các khu di tích như khu di
Hình 2.3 Biểu đồ thể hiện doanh thu ngành du lịch Đức
Doanh thu Nộp ngân sách tích Trần Phú, đền Thái Yên ở xã Thái Yên, đền Cả Du Đồng, nhà thờ và Mộ Phan Đình Phùng tại xã Tùng Ảnh…
+ Du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí ở khu vực hồ Phượng Thành
+ Du lịch thương mại, hội chợ, hội thảo, liên hoan… ở khu vực thị trấn Đức Thọ + Du lịch thể thao: Hằng năm huyện tổ chức hội đua thuyền trên sông La Hội đua thuyền trên sông La đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa thể thao truyền thống ở huyện Đức Thọ Đến đây du khách có thể trực tiếp tham gia hoạt động thể thao đua thuyền hoặc có thể xem các cuộc thi đấu giữa các đội đua
2.2.5 Điểm - Tuyến du lịch Điểm du lịch:
Dựa vào tiềm năng và sự phân bố tài nguyên du lịch trên địa bàn, huyện Đức Thọ đã quy hoạch và đầu tư xây dựng một số điểm du lịch để hấp dẫn du khách