Định hướng và giải pháp phát triển đến năm 2020” nhằm khai thác tốt hơn tiềm năng du lịch của Đà Nẵng, đa dạng các loại hình du lịch của thành phố để thu hút du khách, đồng thời tạo việ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ
- -
NGUYỄN THỊ LỆ HƯƠNG
Tìm hiểu loại hình du lịch ẩm thực ở thành phố Đà Nẵng Định hướng và giải pháp
phát triển đến năm 2020
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN KHOA HỌC
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoạt động du lịch xuất hiện từ rất sớm Lúc đầu có thể do tình cờ người ta
đi du ngoạn, tham quan thắng cảnh nhưng đến sau này người ta mới có ý thức phát triển thành một hoạt động xã hội Hoạt động du lịch có liên quan đến cả mặt kinh tế
- xã hội lẫn tự nhiên, đặc biệt hoạt động du lịch góp một phần không nhỏ trong cơ cấu GDP Vì vậy việc đẩy mạnh phát triển du lịch là một điều cần thiết nhằm khai thác tiềm năng của đất nước, cải thiện đời sống dân cư, tăng cường giao lưu văn hóa giữa các nước trong khu vực và trên thế giới
Ngành du lịch nước ta đã hình thành từ những năm 60 của thế kỉ XX Tuy nhiên du lịch Việt Nam chỉ thật sự phát triển nhanh từ đầu thế kỉ 90 cho đến nay, nhờ chính sách Đổi Mới của Nhà nước
Đà Nẵng nằm trên tuyến đường biển và hàng không quốc tế đã tạo cho thành phố này một vị trí thuận lợi trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế của cả nước, trong khu vực và trên thế giới Thành phố Đà Nẵng còn là trung điểm của 3 di sản văn hóa nổi tiếng : cố đô Huế, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, cộng thêm những điểm riêng biệt vốn có của thành phố đã là những điều kiện tiên quyết làm cho du lịch Đà Nẵng có một sức hút mạnh mẽ Đà Nẵng có nhiều điểm tham quan nổi tiếng như: Bà
Nà, Ngũ Hành Sơn, Bán đảo Sơn Trà, Nam Hải Vân, Cổ Viện Chàm… Nhìn chung
Đà Nẵng là một thành phố có nhiều tiềm năng có thể khai thác để phát triển du lịch Nhưng từ trước đến giờ khi nói đến du lịch Đà Nẵng người ta sẽ nghĩ ngay đến: một là du lịch biển và hai là du lịch sinh thái – hai loại hình du lịch tiêu biểu của Đà Nẵng, vì thời gian khai thác thác hai loại hình du lịch này cũng đã lâu nên không tránh khỏi sự nhàm chán của du khách khi đến đây
Kinh tế phát triển, số lượng du khách ngày một nhiều kéo theo nhu cầu tăng cao nên việc mở rộng, đa dạng các loại hình du lịch là một điều cần thiết Trên thế giới có nhiều loại hình du lịch mà ở Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng vẫn chưa có hoặc chưa phát triển như du lịch thời trang, du lịch điện ảnh, du lịch ẩm thực…Đặc biệt là du lịch ẩm thực – một loại hình du lịch tương đối còn mới lạ Kể
Trang 3từ khi ra đời du lịch ẩm thực đã phát triển nhanh chóng biểu hiện đó là ngày càng xuất hiện nhiều hơn các chương trình ẩm thực trên các kênh du lịch và ngược lại, du lịch trên các kênh ẩm thực.Trong khi đó Đà Nẵng có nhiều tiềm năng để phát triển loại hình này, nhưng vẫn chưa được đầu tư, chú trọng phát triển
Với những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “ Tìm hiểu loại hình du lịch ẩm
thực ở thành phố Đà Nẵng Định hướng và giải pháp phát triển đến năm 2020” nhằm
khai thác tốt hơn tiềm năng du lịch của Đà Nẵng, đa dạng các loại hình du lịch của thành phố để thu hút du khách, đồng thời tạo việc làm cải thiện đời sống dân cư địa phương
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
- Tìm hiểu loại hình du lịch ẩm thực ở thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất giải pháp phát triển loại hình du lịch ẩm thực phục vụ phát triển du lịch
2.2 Nhiệm vụ
- Tổng quan tài liệu có liên quan đến loại hình du lịch ẩm thực
- Tìm hiểu tiềm năng phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất những giải pháp phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại thành phố Đà Nẵng đến năm 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 4những tác động nhất định đến sự phát triển nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế khác Vì vậy khi nghiên cứu tình hình, tiềm năng phát triển của loại hình du lịch ẩm thực phải xem xét trong mối quan hệ tổng thể các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội
4.2 Quan điểm hệ thống
Phát triển du lịch ẩm thực ở Đà Nẵng chỉ là sự phát triển một mặt nhỏ trong hệ thống sự phát triển của ngành du lịch thành phố Đà Nẵng nói riêng, của vùng du lịch Duyên hải Nam Trung Bộ - Tây Nguyên và cả nước nói chung Đặc trưng phát triển của du lịch là sự kết hợp không gian rộng lớn trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau Quan điểm này là cơ sở để hình thành hệ thống du lịch trên lãnh thổ nghiên cứu, đảm bảo cho tính khách quan, khoa học trong nghiên cứu
4.3 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững trở thành một mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của loài người từ thế kỉ XXI Cũng như các ngành kinh tế khác, tiêu chuẩn để đánh giá sự phát triển của ngành du lịch chính là hiệu quả kinh tế mà nó mang lại cho mỗi quốc gia, dân tộc Đồng thời việc phát triển ngành du lịch phải gắn với công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn, tôn tạo các giá trị tự nhiên và nhân văn Cũng chính vì vậy mà trong chính sách phát triển du lịch cần đảm bảo cho ngành du lịch phát triển, thu được lợi nhuận cao vừa đảm bảo cho môi trường sinh thái được bền vững
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu
Thu thập và xử lý tài liệu là một phương pháp không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu một đề tài Dựa vào mục đích và yêu cầu của đề tài, các số liệu sẽ được cung cấp bởi các cơ quan, ban ngành liên quan Đây chính là nguồn tư liệu có tính khách quan cao Thông qua nguồn tư liệu sẽ góp phần vào việc phân tích, so sánh, tổng hợp để tìm ra nội dung, những kết luận cần thiết cho đề tài nghiên cứu
5.2 Phương pháp sử dụng bản đồ - biểu đồ
Biểu đồ, bản đồ là một trong những yếu tố quan trọng, sử dụng phương pháp này cho phép thu thập các thông tin mới hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu
Trang 5Lãnh thổ du lịch phân bố rộng và bao gồm nhiều thành phần Do vậy việc thực địa không thể bao quát hết toàn bộ lãnh thổ và cụ thể từng yếu tố Vì vậy cần phải
sử dụng bản đồ để hỗ trợ cho việc nghiên cứu Việc sử dụng các biểu đồ nhằm trực quan hóa các số liệu cho ta thấy rõ mức độ phát triển của loại hình du lịch ẩm thực theo thời gian và không gian
5.3 Phương pháp thực địa
Phương pháp thực địa là một phương pháp quan trọng, sử dụng phương pháp này ta sẽ có một cách nhìn nhận, đánh giá chính xác, khách quan hơn về đối tượng nghiên cứu đặc biệt đối với đề tài về du lịch
6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài về ẩm thực không hẳn là một đề tài hoàn toàn mới lạ ở Việt Nam và
Đà Nẵng, trong thời gian qua đã có một số tác giả nghiên cứu về đề tài ẩm thực như
- “Nghiên cứu đặc sản ẩm thực phục vụ phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng”(Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn - Viện nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Đà Nẵng)
- “ Thực trạng phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam ”( Nguyễn Thị Ngà, Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội)
- “Dấu ấn ẩm thực làng nghề Kim Long ở Huế”( Phạm Thị Kim Chi)
- “ Ẩm thực Đà Nẵng qua khảo sát các quán ăn nhà hàng phục vụ du lịch ” (Nguyễn Thị Thanh Mai – Tuyển tập báo cáo “ Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học” lần thứ 6)
- “Tiềm năng du lịch ẩm thực Phú Yên : Nhìn từ các loại hình sản phẩm bánh tráng ” ( Tôn Nữ Khánh Trang, Lê Thị Như Khuê – Phân viện văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế )
7 Cấu trúc
A PHẦN MỞ ĐẦU
B PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 Cơ sở lý luận chung
Chương 2 Loại hình du lịch ẩm thực ở thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2005 – 2009 Chương 3 Định hướng phát triển và một số giải pháp phát triển loại hình du lịch ẩm thực đến năm 2020
C PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm du lịch
Từ “tourism” (du lịch) xuất hiện sớm nhất trong quyển từ điển du lịch Oxford xuất bản năm 1811 ở nước Anh có nghĩa là đi xa và du hãm Từ đó các định nghĩa truyền thống đều thống nhất “ du lịch ” theo quan niệm đơn giản là một kì nghỉ hay là một chuyến đi để giải trí Dưới góc độ kinh tế - xã hội khái niệm du lịch
được nhà nghiên cứu du lịch Nga I.I.Pirigiơnic định nghĩa như sau: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với việc di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên, nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”
Theo luật du lịch Việt Nam có hiệu lực từ ngày một tháng một năm 2006 “ du lịch ” được hiểu là : “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tha m quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Theo UNWTO (United Natonal World Tourist Oraganization) : “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là làm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”
Từ các định nghĩa trên cho ta thấy du lịch là một hoạt động liên quan đến một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ bằng các cuộc hành trình ngắn ngày hoặc dài ngày ở một nơi khác với mục đích chủ yếu không phải là kiếm lời Quá trình đi du lịch của họ được gắn với các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ, hiện tượng ở nơi họ đến
Trang 71.1.2 Khách du lịch
Ngành du lịch muốn hoạt động và phát triển thì đối tượng “khách du lịch” là nhân tố quyết định Nếu không có “khách du lịch” thì các nhà kinh doanh du lịch không thể kinh doanh được, không có “khách du lịch” thì hoạt động của các nhà kinh doanh du lịch trở nên vô nghĩa Nếu xét trên góc độ thị trường thì “khách du lịch” chính là “cầu thị trường”, còn các nhà kinh doanh du lịch là “cung thị trường” Sau đây là một số định nghĩa về khách du lịch :
Định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia (League of Nations) về khách du lịch
nước ngoài: “Bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24h”
Định nghĩa của Liên hiệp Quốc tế của các Tổ chức Chính thức về Du lịch (IUOTO): Năm 1950 IUOTO đưa ra định nghĩa về khách du lịch quốc tế có 2 điểm
khác với định nghĩa trên là: “Sinh viên và những người đến học ở các trường cũng được coi là khách du lịch” và “Những người quá cảnh không được coi là khách du lịch trong 2 trường hợp, hoặc là họ hành trình qua một nước không dừng l ạ i trong thời gian vượt quá 24h, hoặc là họ hành trình trong khoảng thời g i a n dưới 24h và có dừng lại nhưng không với mục đích du lịch”
Định nghĩa về khách du lịch của Việt Nam : Trong Pháp lệnh du lịch của Việt Nam ban hành năm 1999 có nói: “ Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi
du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi
đến.”
1.1.3 Loại hình du lịch
a Khái niệm loại hình du lịch
Theo tác giả Trương Sỹ Quý thì loại hình du lịch có thể định nghĩa như sau :
“ Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn nhu cầu, động cơ du lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chung một mức giá bán nào
đó ”
Trang 8b Các loại hình du lịch
Các loại hình du lịch được phân loại như sau :
- Theo phạm vi lãnh thổ của chuyến du lịch :du lịch quốc tế, du lịch nội địa
- Theo nhu cầu thực hiện hành vi trong du lịch: du lịch nghỉ dưỡng, giải trí; du
lịch thể thao; du lịch vì mục đích tôn giáo; du lịch vì mục đích văn hóa; du lịch chữa bệnh; du lịch sinh thái; du lịch về thăm thân nhân, quê hương; du lịch thương gia; du lịch quá cảnh; du lịch công vụ
Ngoài ra còn phân theo : đối tượng đi du lịch, hình thức tổ chức chuyến đi, theo phương tiện sử dụng trong thời gian đi du lịch, theo loại hình lưu trú, theo thời gian đi du lịch
Khái niệm ẩm thực trong đề tài này không chỉ hàm nghĩa ăn uống đơn thuần
mà là một danh từ diễn tả những gì liên quan đến đồ ăn, thức uống, cách chế biến và nghệ thuật thưởng thức đồ ăn thức uống của một cộng đồng người, một địa phương, một dân tộc hay một quốc gia
1.2.2 Văn hóa ẩm thực
Khái niệm văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội Văn hóa ẩm thực là nội dung nói đến lĩnh vực chế biến, cách thưởng thức các thức ăn, đồ uống…Đó chính là nét văn hóa hình thành trong cuộc sống Văn hóa ẩm thực có 3 nội dung:
Trang 9- Cách thức chế biến các đồ ăn, thức uống
- Các nguyên liệu ẩm thực có giá trị tôn nhau
- Cách thức thưởng thức mà nâng cao lên thành “đạo”
Như vậy, văn hóa ẩm thực không chỉ là nét văn hóa về vật chất mà còn là văn hóa về tinh thần Nét văn hóa về vật chất thể hiện trong cách trang trí món ăn sao cho đẹp mắt, món ăn dậy mùi thơm…kích thích vị giác của thực khách Nét văn hóa
về tinh thần thể hiện ở cách giao tiếp, ứng xử giữa con người trong bữa cơm, những nguyên tắc, chuẩn mực, phong tục ăn uống
1.2.3 Đặc sản ẩm thực
Đặc sản ẩm thực là những đồ ăn, thức uống, hàng quà….đặc biệt của một vùng, địa phương, cộng đồng, được sản sinh ra từ những nguyên liệu đặc hữu của vùng, địa phương hoặc từ cách chế biến tinh túy, độc đáo của cá nhân, cộng đồng để cho các
đồ ăn, thức uống , hàng quà đó đạt đến chất lượng tuyệt hảo, mang các đặc trưng riêng thậm chí trở thành một thương hiệu của vùng, địa phương khiến các thực khách cho rằng chỉ những đồ ăn, thức uống, hàng quà do người dân ở đó làm ra mới ngon
1.2.4 Khái niệm loại hình du lịch ẩm thực
a Khái niệm
Theo định nghĩa của Hiệp hội du lịch ẩm thực, du lịch ẩm thực là sự theo đuổi những kinh nghiệm ẩm thực độc đáo và đáng nhớ, thường khi đi du lịch nhưng cũng có thể chỉ là du lịch ẩm thực tại nhà Cụm từ “độc đáo và đáng nhớ” là chìa khóa để hiểu
du lịch ẩm thực Nhiều người khi nghe đến cụm từ “du lịch ẩm thực” thường nghĩ ngay đến một nhà hàng sang trọng hay những chai rượu vang hảo hạng Tuy nhiên , đó không phải là tất cả Đôi khi du lịch ẩm thực chỉ là thưởng thức những chiếc bánh ngọt tại cửa hàng địa phương hay khám phá ra một địa chỉ ẩm thực thú vị trên một con phố không tên mà chỉ người dân địa phương biết đến…Chính những trải nghiệm độc đáo và thú vị là điều hấp dẫn, thu hút du khách đến với loại hình du lịch này
Du lịch ẩm thực bao gồm các loại kinh nghiệm ẩm thực Nó bao gồm các trường học nấu ăn, sách dạy nấu ăn, các chương trình ẩm thực trên truyền hình, các cửa hàng tiện ích của nhà bếp và các tour du lịch ẩm thực…
Trang 10Như vậy, du lịch ẩm thực qua các tour du lịch là một tập hợp con của du lịch
ẩm thực nói chung Theo nghĩa này, du lịch ẩm thực là một loại hình du lịch với mục đích tìm hiểu văn hóa ẩm thực của điểm đến Trong phạm vi chuyên đề khóa luận tôi chỉ xin giới hạn việc nghiên cứu ở nghĩa hẹp của du lịch ẩm thực như một loại hình du lịch
Yếu tố văn hóa chính là linh hồn của du lịch ẩm thực Chẳng ai đi du lịch chỉ
để “ăn”một cách thuần túy Vấn đề ăn uống trong du lịch đã được nâng lên thành cả một nghệ thuật Ăn không chỉ để hưởng thụ cuộc sống mà qua ăn uống, người ta còn
có thể nâng cao vốn tri thức của mình về một nền văn hóa Các giá trị văn hóa được thể hiện trong cách chế biến hay cách thức ăn uống theo đúng kiểu của người dân bản địa Bên cạnh đó, giá trị văn hóa còn thể hiện ở không gian kiến trúc, cách bài trí của nhà hàng, quán ăn: ở cung cách phục vụ, trang phục của nhân viên hay chính
ở lối sống của người dân bản địa
Du lịch ẩm thực còn phản ánh trong đó những giá trị lịch sử của mỗi vùng miền Huế xưa kia từng là đất kinh kì, nơi mà lối sống của tầng lớp quý tộc và thượng lưu trí thức luôn được đề cao nên thực đơn và cách chế biến món ăn Huế luôn mang tính công phu, tỉ mỉ Tư tưởng đó sau này dù khi không còn ở vị trí trung tâm của đất nước nhưng người Huế vẫn cứ muốn tìm những cái cầu kỳ trong
ăn uống để khẳng định sắc thái của mình Đó chính là cái không hướng đến sự ăn
Trang 11nhiều, ăn no, ăn thoải mái mà hướng đến triết lý ăn để thưởng thức cái đẹp của người Huế Đó cũng chính là cái khung cảnh ăn uống mang đậm yếu tố thiên nhiên, hòa quyện, gắn bó với con người Chính đặc trưng rõ nét đó đã tạo ra một "
lối nấu Huế" để phân biệt với những nơi khác
- Du lịch ẩm thực hướng tới việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống của điểm đến
Du lịch ẩm thực phát triển dựa trên nền văn hóa ẩm thực mang đậm bản sắc của điểm đến, cái mà du khách tìm đến là bản sắc riêng của nền văn hóa đó Điều đó
có nghĩa là sự lai tạp giữa nền văn hóa ẩm thực bản địa với văn hóa ẩm thực của những vùng miền khác sẽ làm mất đi ý nghĩa của du lịch ẩm thực, làm giảm tính hấp dẫn của điểm đến với du khách.Vì vậy, phát triển du lịch ẩm thực đặt ra yêu cầu phải bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của điểm đến
- Du lịch ẩm thực mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư địa phương
Du lịch ẩm thực không có nghĩa là chỉ dẫn du khách đi ăn tại các nhà hàng sang trọng , mà đó có thể chỉ là tìm đến những quán ăn bình dân, thưởng thức những món ăn ở đó , để du khách có thể hòa mình với lối sống của người dân bản địa Du khách cũng có thể tới tham quan các làng nghề ẩm thực truyền thống của địa phương, tham gia vào một công đoạn sản xuất hoặc được tự tay chế biến những món
ăn từ chính những sản phẩm của làng nghề Điều đó có nghĩa là các nhà hàng, quán
ăn bình dân và các làng nghề truyền thống của cư dân địa phương cũng là một yếu
tố góp phần phát triển du lịch ẩm thực Mặt khác, du lịch ẩm thực phát triển cũng sẽ thúc đẩy sự phát triển của các nhà hàng, quán ăn và các làng nghề truyền thống, mang lại lợi ích cho chính các hộ kinh doanh của địa phương Bên cạnh đó, du lịch
ẩm thực phát triển sẽ tiêu thụ một lượng lớn hơn các sản phẩm nông sản và thực phẩm do địa phương tạo ra, đồng thời giúp gia tăng giá trị các sản phẩm đó lên gấp rất nhiều lần
Ngoài ra, cũng giống bất kì hoạt động du lịch nào khác, du lịch ẩm thực phát triển cũng sẽ mang lại nguồn thu lớn cho địa phương từ các khoản phí và thuế mà các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn nộp
Trang 12Về mặt xã hội, du lịch ẩm thực cũng mang lại rất nhiều lợi ích cho địa phương
Du lịch ẩm thực thu hút lượng khách lớn đến từ những nền văn hóa khác, sẽ thổi vào một luồng sinh khí mới cho điểm đến Nền văn hóa mới với lối sống, tác phong, suy nghĩ mới sẽ giúp dân cư địa phương mở mang đầu óc, thay đổi nhận thức đối với thế giới xng quanh Đó sẽ là động lực để nhân dân địa phương tự làm mới bản thân, nắm bắt cơ hội làm giàu trên chính mảnh đất quê hương của mình Cũng chính bởi lợi ích to lớn mà du lịch ẩm thực mang lại cho cộng đồng dân cư địa phương sẽ giúp
họ hiểu được tầm quan trọng của các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương cũng như tính cấp thiết phải giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống đó Như vậy phát triển du lịch ẩm thực cần gắn với lợi ích cả cộng đồng dân cư địa phương
- Du lịch ẩm thực mang lại những kinh nghiệm ẩm thực độc đáo và đáng nhớ cho du khách
Bất cứ hình thức du lịch nào cũng đều nhằm mang lại sự trải nghiệm cho du khách Có thể đó là sự trải nghiệm cảm giác mạo hiểm trong một chuyến du lịch mạo hiểm hay đơn giản là cảm giác được thư giãn Đối với du lịch ẩm thực thì đó là
sự trải nghiệm mùi vị của món ăn, trải nghiệm không gian của nhà hàng mang đậm phong cách của người dân bản địa Những trải nghiệm đó càng để lại ấn thượng sâu sắc trong lòng du khách khi nền văn hóa ẩm thực của điểm đến càng độc đáo, khác
Du lịch ẩm thực còn góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo
Vì chính yêu cầu hỗ trợ liên ngành trong hoạt động du lịch là cơ sở cho các ngành khác phát triển như giao thông vận tải, tài chính, bưu điện…Chính du lịch giúp nền
Trang 13kinh tế trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa Với du lịch ẩm thực thì khách du lịch cũng không thể ăn uống liên tục cả ngày Theo điều tra của Hiệp hội nhà hàng quốc gia Hoa Kì, hiệp hội công nghiệp du lịch của Mỹ và ủy ban du lịch Canada, khách du lịch, người quan tâm đến rượu vang, ẩm thực cũng cho thấy một sức hút đối với các viện bảo tàng, nhà hát, mua sắm, âm nhạc, liên hoan phim và giải trí ngoài trời Thực tế là chi tiêu cho các hoạt động này nhiều khi còn lớn hơn cả tổng hóa đơn buổi tối Như vậy, không chỉ ngành kinh doanh ăn uống tăng doanh thu mà doanh thu của các doanh nghiệp khác cũng tăng lên đáng kể nhờ phát triển hoạt động du lịch ẩm thực
Mặt khác du lịch ẩm thực dựa trên nguồn tài nguyên chính là ẩm thực, nguồn tài nguyên hấp dẫn có sẵn quanh năm Phát triển loại hình du lịch ẩm thực nhờ vậy mà sẽ kéo dài thời gian lưu trú của khách, góp phần khắc phục tính mùa vụ trong du lịch
- Du lịch ẩm thực giúp tăng sản lượng tiêu thụ và gia tăng các giá trị cho các sản phẩm nông nghiệp, chăn nuôi, thủy hải sản, công nghiệp chế biến thực phẩm
Khi loại hình du lịch được phát triển thì nguồn nguyên nhiên liệu sẵn có của địa phương sẽ được tận dụng triệt để, góp phần vào tăng sản lượng và giá trị cho
các sản phẩm nông nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, công nghiệp chế biến thực phẩm
- Du lịch ẩm thực thúc đẩy sự phát triển du lịch quốc tế, tạo nên sự phát triển đường giao thông quốc tế, góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh
tế quốc tế
Du lịch ẩm thực thu hút những đối tượng khách từ những vùng miền, quốc gia khác đến Do đó, nó góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch quốc tế Bên cạnh đó, các mối quan hệ quan hệ quốc tế cũng được củng cố và phát triển thông qua :
Các tổ chức quốc tế mang tính chất chính phủ, phi chính phủ về du lịch có tác động tích cực trong việc hình thành các mối quan hệ kinh tế quốc tế
Du lịch quốc tế phát triển tạo nên sự phát triển đường lối giao thông quốc tế
Du lịch quốc tế như một đầu mối xuất - nhập khẩu ngoại tệ,góp phần làm phát
triển quan hệ ngoại hối quốc tế
Trang 14- Du lịch ẩm thực góp làm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, đáp ứng ngày tốt hơn nhu cầu của du khách
Việc phát triển loại hình du lịch ẩm thực, sẽ làm đa dạng loại hình du lịch của một địa phương Đồng thời, sẽ thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của những đối tượng khách muốn tìm hiểu về văn hóa ẩm thực của các vùng miền khác, tăng thêm cơ hội lựa chonjcho các chương trình du lịch
1.3.2 Ý nghĩa về mặt xã hội
- Du lịch ẩm thực góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động
Một loại hình du lịch mới ra đời là động lực phát sinh ra các dịch vụ mới, đây sẽ
là cơ sở cho việc tạo công ăn, giải quyết việc làm cho một số thành phần lao động Các dịch vụ mới ra đời, đòi hỏi một lực lượng lao động mới với trình độ và kĩ năng mới hơn Các dịch vụ kèm theo cũng sẽ đòi hỏi một lượng lao động tương ứng
- Du lịch ẩm thực góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Xã hội ngày một phát triển, nhiều nét văn hóa mới du nhập, phần nào bản sắc văn
hóa riêng bị mai một Vì vậy phát triển du lịch ẩm thực, không những giúp cho nền kinh tế phát triển mà còn quan trọng hơn đó là sự giữ gìn bản sắc văn hóa vùng miền khác nhau, tạo ra một nét đặc trưng riêng cho địa phương
- Phát triển du lịch ẩm thực góp phần nâng cao hình ảnh trong mắt bạn
bè quốc tế
Du lịch luôn đi kèm với quảng bá, một khi loại hình du lịch ẩm thực phát triển thì hình ảnh về địa phương, vùng miền đó sẽ dược nhìn nhận dưới một góc độ khác - góc độ du lịch Du khách sẽ biết đến địa điểm ẩm thực nhiều hơn, nếp sống, món ăn, phong tục, đặc sản, văn hóa, của địa phương sẽ góp phần nâng cao hình ảnh về sự đặc sắc vốn có của địa phương đó
1.4 Mô hình phân tí ch SWOT
1.4.1 Khái niệm mô hình SWOT
Có nhiều khái niệm về mô hình phân tích SWOT, nhưng có thể hiểu đơn giản SWOT là : Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức kinh doanh
Trang 15nào Viết tắt của 4 chữ Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội) và Threats (nguy cơ, rủi ro), SWOT cung cấp một công cụ
phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một công ty hay của một đề án kinh doanh SWOT phù hợp với làm việc và phân tích theo nhóm, được
sử dụng trong việc lập kế hoạch kinh doanh, xây dựng chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản phẩm và dịch vụ
Hình 1.1 Mô hình phân tích SWOT 1.4.2 Nguồn gốc của mô hình phân tích SWOT
Mô hình phân tích SWOT là kết quả của một cuộc khảo sát trên 500 công ty
có doanh thu cao nhất do tạp chí Fortune bình chọn và được tiến hành tại Viện Nghiên cứu Standford trong thập niên 60-70, nhằm mục đích tìm ra nguyên nhân vì sao nhiều công ty thất bại trong việc thực hiện kế hoạch Nhóm nghiên cứu gồm có Marion Dosher, Ts Otis Benepe, Albert Humphrey, Robert Stewart và Birger Lie Việc Du Pont lập kế hoạch kinh doanh dài hạn vào năm 1949 đã khơi mào cho một phong trào “tạo dựng kế hoạch” tại các công ty Cho tới năm 1960, toàn bộ 500 công ty được tạp chí Fortune bình chọn đều có “Giám đốc kế hoạch” và các “Hiệp hội các nhà xây dựng kế hoạch dài hạn cho doanh nghiệp”, hoạt động ở cả Anh quốc
và Hoa Kỳ
Tuy nhiên, tất cả các công ty trên đều thừa nhận rằng các kế hoạch dài hạn này không xứng đáng để đầu tư công sức bởi không có tính khả thi, chưa kể đây là một
Trang 16khoản đầu tư tốn kém và có phần phù phiếm Trên thực tế, các doanh nghiệp đang
thiếu một mắt xích quan trọng: làm thế nào để ban lãnh đạo nhất trí và cam kết thực
hiện một tập hợp các chương trình hành động mang tính toàn diện mà không lệ thuộc
vào tầm cỡ doanh nghiệp hay tài năng của các chuyên gia thiết lập kế hoạch dài hạn
Để tạo ra mắt xích này, năm 1960, Robert F Stewart thuộc Viện Nghiên cứu
Standford, Menlo Park, California, đã tổ chức một nhóm nghiên cứu với mục đích
tìm hiểu quá trình lập kế hoạch của doanh nghiệp nhằm tìm ra giải pháp giúp các
nhà lãnh đạo đồng thuận và tiếp tục thực hiện việc hoạch định, điều mà ngay nay
chúng ta gọi là “thay đổi cung cách quản lý” Công trình nghiên cứu kéo dài 9 năm,
từ 1960 đến 1969 với hơn 5000 nhân viên làm việc cật lực để hoàn thành bản thu
thập ý kiến gồm 250 nội dung thực hiện trên 1100 công ty, tổ chức Và sau cùng,
nhóm nghiên cứu đã tìm ra 7 vấn đề chính trong việc tổ chức, điều hành doanh
nghiệp hiệu quả Tiến sĩ Otis Benepe đã xác định ra “Chuỗi lôgíc”, hạt nhân của hệ
8 Monitor and repeat steps 1 2 and 3 (Giám sát và lặp lại các bước 1, 2 và 3)
1.4.3 Vai trò và ý nghĩa của SWOT
Phân tích SWOT là việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp xếp
theo định dạng SWOT dưới một trật tự lô gíc dễ hiểu, dễ trình bày, dễ thảo luận và
đưa ra quyết định, có thể được sử dụng trong mọi quá trình ra quyết định Các mẫu
SWOT cho phép kích thích suy nghĩ hơn là dựa trên các phản ứng theo thói quen
hoặc theo bản năng Mẫu phân tích SWOT được trình bày dưới dạng một ma trận 2
hàng 2 cột, chia làm 4 phần: Strengths, Weaknesses, Opportunities, and Threats
Trang 17Lưu ý rằng cần xác định rõ ràng chủ đề phân tích bởi SWOT đánh giá triển vọng của một vấn đề hay một chủ thể nào đó, chẳng hạn một:
- Công ty (vị thế trên thị trường, độ tin cậy )
- Sản phẩm hay nhãn hiệu
- Đề xuất hay ý tưởng kinh doanh
- Phương pháp
- Lựa chọn chiến lược (thâm nhập thị trường mới hay đưa ra một sản phẩm mới )
- Cơ hội sát nhập hay mua lại
- Đối tác tiềm năng
- Khả năng thay đổi nhà cung cấp,
- Thuê ngoài hay gia công một dịch vụ, một hoạt động hay một nguồn lực
- Cơ hội đầu tư
Trang 18CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LOẠI HÌNH DU LỊCH ẨM THỰC Ở THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2005 – 2009 2.1 Nguồn lực về tự nhiên để phát triển du lịch
2.1.1 Vị trí địa lí
Thành phố Đà Nẵng gồm vùng đất liền và vùng quần đảo trên biển Đông Vùng đất liền nằm ở 15055' đến 16014' vĩ độ Bắc, 107018' đến 108020' kinh độ Đông, Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp Biển Đông Vùng biển gồm quần đảo Hoàng Sa nằm ở 15045’ đến 17015’ vĩ độ Bắc, 1110 đến 1130 kinh độ Đông, cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía Nam
Hình 2.1 Vị trí thành phố Đà Nẵng 2.1.2 Điều kiện tự nhiên
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam Mỗi năm có 2 mùa
rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài
Trang 19Đà Nẵng có mức độ đa dạng sinh học cao, đa dạng về thành phần loài, tập trung chủ yếu ở các Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà-Núi Chúa và Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà Tại Khu BTTN Bà Nà-Núi Chúa với diện tích tự nhiên hơn 8.830 ha, hiện có 793 loài thực vật, 256 loài động vật, có 19 loài có tên trong Sách Đỏ Việ t Nam Tuy kém đa dạng hơn so với các hệ thực vật khác như: Bạch Mã, Cát Tiên, Cúc Phương, nhưng về cầu trúc thành phần loài thì Bà Nà-Núi Chúa hoàn toàn tương đồng.
Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng 60 km, có vịnh Đà Nẵng nằm chắn bởi sườn núi Hải Vân và Sơn Trà, mực nước sâu, thuận lợi cho việc xây dựng cảng lớn và một số cảng chuyên dùng khác; và nằm trên các tuyến đường biển quốc tế nên rất thuận lợi cho việc giao thông đường thuỷ Mặc khác Vịnh Đà Nẵng còn là nơi trú đậu tránh bão của các tàu có công suất lớn
Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000 km2, có các động vật biển phong phú trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao gồm 16 loài (11 loài tôm, 02 loại mực và 03 loại rong biển)
2.2 Nguồn lực về kinh tế - xã hội để phát triển du lịch
2.2.1 Dân cư - lao động
So với cả nước thì nguồn nhân lực du lịch của Đà Nẵng chưa bằng, song so trong khu vực thì lại có phần nổi trội Nguyên nhân xuất phát từ việc Đà Nẵng là một trong những thành phố ở miền Trung đi đầu trong hoạt động kinh doanh du lịch nên đã xây dựng được đội ngũ lao động có kinh nghiệm TP Đà Nẵng tập trung nhiều cơ sở đào tạo du lịch như Trường Cao đẳng nghề Du lịch Đà Nẵng, Đại học Kinh tế Đà Nẵng, Đại học Ngoại ngữ Đà Nẵng, Đại học Duy Tân… là một lợi thế Chính quyền thành phố đã đầu tư lớn cho nhân lực của ngành thông qua các hoạt động như xây dựng mở rộng trường cao đẳng nghề, mời các chuyên gia du lịch của thế giới đến tập huấn, hướng dẫn, đầu tư kinh phí cho dự án đào tạo nhân lực chất lượng cao như chọn người giỏi đưa đi đào tạo ở nước ngoài
Đà Nẵng là thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm 6 quận nội thành, 1 huyện ngoại thành và 1 huyện đảo Tổng cộng gồm 57 phường, xã và thị trấn
Trang 20Bảng 2.1 Diện tích, dân số trung bình, mật độ dân số các quận huyện
thành phố Đà Nẵng năm 2010
Diện tích tự nhiên (Km2)
Dân số trung bình (Người)
Mật độ dân số (người/km2) Số phường, xã
Tổng số Phường Tr đó:
I CÁC QUẬN NỘI
( Nguồn: Niên giám thống kê Đà Nẵng 2010)
Dân số Đà Nẵng gia tăng với tốc độ khá cao trong những năm gần đây, đặc biệt ở các quận ven đô Số liệu chính thức cho thấy tốc độ tăng dân số hiện tại của thành phố
từ năm 2000 đến 2007 ở mức 1,7% Tuy nhiên, số liệu này chưa thống kê hết dân số nhập cư đến các khu vực đô thị Dân cư tập trung với mật độ cao ở khu vực trung tâm, tuy nhiên các khu đô thị cũng đang từng bước được mở rộng ra khu vực ngoại vi thành phố Số lượng dân nhập cư vào cũng Đà Nẵng tăng nhanh, là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng dân số Nghiên cứu chiến lược phát triển liên kết thành phố Đà Nẵng và vùng phụ cận ước tính số dân nhập cư không chính thức chiếm khoảng 20% tổng dân số Quy hoạch chung xây dựng thành phố Đà Nẵng đến năm 2025 dự báo dân
số Đà Nẵng sẽ đạt 1.082.000người năm 2015 và 1.500.000 người năm 2025
Tính đến năm 2009, lực lượng lao động đang làm việc trong các ngành kinh
tế quốc dân của Đà Nẵng là 408.300 người (NGTK Đà Nẵng, 2009) Cơ cấu lao động của thành phố chuyển dịch mạnh mẽ trong những năm gần đây với sự gia tăng nhanh chóng tỷ trọng lao động trong các ngành dịch vụ Tính tới năm 2009, khu vực
Trang 21dịch vụ tiếp tục dẫn đầu các ngành kinh tế quốc dân trong việc thu hút lao động (57,38%) Xu hướng này dự kiến sẽ tiếp tục được duy trì trong thời gian tới, mặc dù mức độ chuyển dịch sẽ không mạnh mẽ như giai đoạn 2005-2007 Thương mại là lĩnh vực chiếm tỷ lệ lao động cao nhất trong các ngành dịch vụ (30,79% năm 2008)
2.2.2 Cơ sở vật chất – hạ tầng
Mức độ dễ dàng tiếp cận điểm đến du lịch là nhân tố khác hình thành lợi thế cạnh tranh du lịch của thành phố Khoảng cách giữa thị trường khách với Đà Nẵng được rút ngắn nhờ sân bay quốc tế Đà Nẵng – sân bay lớn thứ 3 của Việt Nam, và nằm ngay cửa ngõ đi vào miền Trung – nơi có nguồn tài nguyên du lịch đặc sắc Cảng nước sâu Tiên Sa đủ điều kiện để đón tàu du lịch biển cao cấp, đã góp phần tạo nên lợi thế thu hút dòng khách du lịch đường biển – đây là dòng khách mà TP
Đà Nẵng có lợi thế khai thác hơn các thành phố du lịch khác Hệ thống đường bộ của Đà Nẵng nói chung, các cung đường du lịch nói riêng được đánh giá tốt về chất lượng và đẹp về cảnh quan, vừa giúp rút ngắn thời gian di chuyển vừa làm cho khách thư giãn, dịu mắt lại sau một chuyến bay dài
Khoảng thời gian đi lại giữa các điểm tham quan trong thành phố và các tỉnh thành lân cận không dài, có thể tiếp cận bằng nhiều phương tiện vận chuyển khác nhau cũng là một lợi thế Chính nhân tố dễ dàng tiếp cận điểm đến không chỉ mang lại cho khách sự hài lòng với quyết định lựa chọn của mình mà còn là để khách quyết định quay lại lần sau Tiêu chí về khoảng cách giữa thị trường khách và điểm đến cũng là một yếu tố để các điểm đến du lịch cạnh tranh nhau trong việc thu hút khách du lịch dài ngày và ngắn ngày
Năm 2012, sân bay quốc tế Đà Nẵng được xây dựng lại, nâng cấp lên giúp thực hiện quy trình nhập cảnh và xuất cảnh được nhanh chóng; các thiết bị, tiện nghi liên quan đến sự tiện lợi như vệ sinh, ăn uống, nghỉ ngơi, vận chuyển hành lý, bao gói hành
lý được sắp xếp hợp lý Từ Đà Nẵng có những chuyến bay quốc tế trực tiếp đi Singapore, Malaysia, Hàn Quốc… Năm 2013, sân bay Thừa Thiên - Huế đóng cửa sửa chữa là một cơ hội cho ngành Du lịch Đà Nẵng đồng thời là một dấu hiệu cho thấy đây
sẽ là đối thủ tiềm năng trong việc khai thác các chuyến bay với mục đích du lịch
Trang 22Tương tự như vậy, hệ thống giao thông tốt cũng là một lợi thế của Đà Nẵng để rút ngắn thời gian di chuyển từ điểm này đến điểm khác Hiện tại thành phố có khoảng 305 khách sạn với 9.615 phòng, trong đó số lượng khách sạn đạt chuẩn từ 3 sao trở lên đang dần tăng trong các năm gần đây, các thương hiệu lớn như Life Resort, Intercontinental Danang Sun Peninsula Resort, Hotel Novotel Danang Premier Han River, Hyatt Regency Danang Resort And Spa… lần lượt đến với thành phố đã làm gia tăng chất lượng dịch vụ phục vụ khách du lịch.
2.2.3 Đường lối chính sách phát triển
- Tổ chức và quản lý: tăng cường năng lực quản lý của Sở VHTTDL Đà Nẵng;
phát huy mạnh hơn nữa vai trò tổ chức thực hiện xúc tiến du lịch của Trung tâm Xúc tiến du lịch Đà Nẵng; phát huy vai trò của Ban chỉ đạo du lịch, củng cố nhân sự của hiệp hội du lịch với sự tham gia của các doanh nghiệp du lịch nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phối hợp liên ngành; thực hiện quản lý quy hoạch tổng thể phát triển du lịch gắn liền với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của thành phố; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển và hội nhập quốc tế
- Cơ chế chính sách, đầu tư: khuyến khích đầu tư phát triển dịch vụ du lịch tại
các khu, điểm du lịch trên địa bàn thành phố như: Sơn Trà, Hải Vân, Làng Vân và một số loại hình du lịch làng quê, làng nghề truyền thống…; xây dựng cơ chế hợp tác giữa khu vực công và tư nhân; xây dựng chính sách và đầu tư phát triển các loại hình du lịch mới, sản phẩm du lịch đặc trưng, đặc biệt là giải trí về đêm; xây dựng khu ẩm thực, mua sắm, vui chơi giải trí lớn; xây dựng chính sách hỗ trợ xúc tiến quảng bá trong và ngoài nước, cơ chế tham gia xã hội hóa trong quảng bá xúc tiến
và đào tạo du lịch; xây dựng cơ chế khuyến khích chất lượng, hiệu quả du lịch thông qua đánh giá, xếp hạng, bình chọn và tôn vinh đối với các doanh nghiệp và địa danh; phổ biến Luật Bảo vệ môi trường, Luật Du lịch và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan
2.2.4 Tiềm năng du lịch thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng nằm ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Việt Nam; đồng thời là trung tâm giữa 3 di sản văn hóa thế giới (quần thể di tích Cố đô Huế, đô thị cổ Hội
Trang 23An và khu đền tháp Mỹ Sơn) Không chỉ vậy, Đà Nẵng còn là điểm cuối của tuyến hành lang kinh tế Đông Tây và là cửa ngõ ra biển Thái Bình Dương của các nước Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam Đây là điều kiện thuận lợi để Đà Nẵng thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.
Với bờ biển dài hơn 60km, Đà Nẵng có nhiều bãi biển đẹp, thoai thoải, cát trắng mịn, nước trong xanh Biển Đà Nẵng đã được tạp chí Forbes của Mỹ bình chọn là 1 trong 6 bãi biển quyến rũ nhất hành tinh (năm 2005)
Đà Nẵng còn mang nét hấp dẫn riêng biệt bởi vị thế tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, có bán đảo Sơn Trà vươn ra biển, đèo Hải Vân được mệnh danh là
“thiên hạ đệ nhất hùng quan” hay khu du lịch Bà Nà Hills với hệ thống cáp treo đạt 2
kỷ lục thế giới và khu vui chơi giải trí trong nhà lớn nhất Đông Nam Á - Fantasy Park
Không chỉ được thiên nhiên ưu đãi ban tặng nhiều cảnh quan đẹp, Đà Nẵng còn chứa đựng những giá trị văn hóa đặc sắc với các di tích lịch sử nổi bật như: thành Điện Hải, nơi lưu giữ dấu tích hào hùng của nhân dân Đà Nẵng trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp; bảo tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chămpa lưu giữ những hiện vật quý của Vương quốc Chămpa hùng mạnh một thời; đình Hải Châu, ngôi đình cổ nhất tại Đà Nẵng; đình Tuý Loan, ngôi đình duy nhất còn giữ được 15 sắc phong từ thời Minh Mạng đến Bảo Đại… Ngoài ra, Đà Nẵng còn có lễ hội Quán Thế Âm được tổ chức vào 19/2 Âm lịch hàng năm, thu hút hàng vạn phật tử và du khách trong cả nước về hành hương, thăm viếng
Đến Đà Nẵng, du khách sẽ được thưởng thức nhiều món đặc sản như mì Quảng, bánh tráng cuốn thịt heo, hải sản tươi ngon; tham gia các sự kiện du lịch lớn như: cuộc thi trình diễn pháo hoa quốc tế, cuộc thi dù bay quốc tế
Đà Nẵng hiện có sân bay quốc tế với nhiều đường bay quốc tế trực tiếp; cảng nước sâu Tiên Sa - nơi thường xuyên tiếp nhận các tàu biển cao cấp đưa du khách quốc tế đến với Đà Nẵng Nơi đây còn là trạm dừng chính của các tuyến xe lửa và
xe khách, thuận tiện cho khách nội địa đến thành phố
Trang 242.3 Thực trạng hoạt động du lịch ẩm thực ở Đà Nẵng giai đoạn 2005 – 2009 2.3.1 Khái quát về du lịch Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng là một điểm dừng chân lý tưởng, du khách có thể thưởng thức những giây phút tuyệt vời trên đỉnh núi, trong rừng sâu hay bên bờ sông, bờ biển; cũng có thể hưởng thụ những dịch vụ với chất lượng quốc tế khi nghỉ ngơi tại các khu du lịch của thành phố Đà Nẵng Đà Nẵng, với định hướng là một trung tâm dịch vụ, du lịch của miền Trung, của cả nước và xa hơn nữa là khu vực, quốc tế Hàng loạt khu du lịch đã và đang được xây dựng, hài hòa với thiên nhiên nhưng cũng không kém phần hiện đại
Theo Sở VHTTDL Đà Nẵng, trong năm 2011, hàng loạt các dự án du lịch lớn
đã được đưa vào sử dụng như Fusion Maria Resort, Hyatt Regency, Khu nghỉ mát Vinpearl Luxury (vượt chuẩn 5 sao), Khu vui chơi giải trí Fantasy Park tại Bà Nà, Khu du lịch Xuân Thiều với chất lượng phục vụ cao
Năm 2011, số lượng khách đến Đà Nẵng đạt trên 2,35 triệu lượt người, bằng 111% kế hoạch năm, tăng 32,8% Doanh thu ngành du lịch đạt 1.800 tỷ đồng, đạt 119% kế hoạch năm, tăng 45% so với năm 2010.Trong tháng 12/2011 lại có thêm sự kiện là nhà ga mới của sân bay quốc tế Đà Nẵng bắt đầu đưa vào khai thác Nhà ga mới có công suất phục vụ khoảng 4,5 - 5 triệu lượt khách/năm (theo báo Dân Việt)
Bảng 2.2 Dự báo lượng du khách đến Đà Nẵng giai đoạn 2010-2020
Trang 25Tốc độ tăng trưởng về khách du lịch bình quân hàng năm giai đoạn 2006 -
2010 là 22% (tăng 8% so với kế hoạch đề ra) Năm 2006 tổng lượt khách du lịch đạt 774.000 lượt; năm 2007 tổng lượt khách du lịch đạt 1.024.020 lượt (tăng 32%); năm
2010, tổng lượt khách du lịch đạt 1.770.000 khách, tăng 33% so với năm 2009 và tăng 22% so với kế hoạch, trong đó khách quốc tế tăng 18%, khách nội địa tăng 38%
Doanh thu chuyên ngành du lịch giai đoạn 2006 - 2010 tăng bình quân hàng năm đạt 25% (tăng 7% so với kế hoạch) Từ 435 tỷ đồng năm 2006 lên 1.239 tỷ đồng năm 2010 Thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch năm 2006 đạt 958 tỉ đồng lên 3.097 tỷ đồng năm 2010
2.3.2 Các loại hình du lịch đã phát triển ở Đà Nẵng
a Du lịch biển
Với lợi thế đường bờ biển dài và đẹp, bãi cát trắng mịn với những bãi tắm đẹp trải dài ôm lấy thành phố như bãi tắm Non Nước, Mỹ Khê, Phạm Văn Đồng, Xuân Thiều cộng thêm yếu tố lợi thế về vị trí địa lý thuận lợi nằm ở trung độ đất nước,
kế cận với 3 di sản thế giới của miền Trung; đặc biệt, năm 2005 bãi biển Mỹ Khê được tạp chí uy tín của Mỹ Forbes bình chọn là 1 trong 6 bãi biển quyến rũ nhất hành tinh đã tạo nền tảng cho thành phố xác định việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong đó ưu tiên phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn với việc định vị
du lịch biển trong quá trình xây dựng và phát triển thương hiệu du lịch Đà Nẵng trên bản đồ du lịch biển thế giới Du lịch biển được đa dạng bởi các loại hình thể thao dưới nước như : mô tô nước, dù bay, lặn biển…
b Du lịch sinh thái
Môi trường Đà nẵng ở một số nơi vẫn giữ được nét hoang sơ vốn có, đây là điều kiện thuận lợi cho Đà Nẵng phát triển loại hình du lịch sinh thái Loại hình du lịch này ngày một được chú trọng đầu tư và phát triển Đà Nẵng có nhiều khu du lịch sinh thái nổi tiếng rất thu hút khách du lịch như : Bán đảo Sơn Trà, Ngầm Đôi, suối Hoa, suối Lương, Nam Hải Vân, Bà Nà – Suối Mơ…
c Du lịch hội nghị