1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch huyện lộc hà tỉnh hà tĩnh giai đoạn 2007 – 2012 định hướng phát triển đến năm 2020

76 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do chọn đề tài Ngày nay cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng Khoa Học – Kỹ Thuật loài người đã tạo ra khối lượng của cải vật chất rất lớn, góp phần thỏa mãn nhu cầu n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA ĐỊA LÝ 

NGUYỄN VĂN HÒA

Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2007 –

2012 Định hướng phát triển đến năm 2020

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SƯ PHẠM ĐỊA LÝ

Trang 2

PHẦN A MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngày nay cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng Khoa Học – Kỹ Thuật loài người đã tạo ra khối lượng của cải vật chất rất lớn, góp phần thỏa mãn nhu cầu ngày càng phong phú của con người, trong đó hoạt động du lịch trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa – xã hội và có ý nghĩa

to lớn đối với hoạt động kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường Hằng năm hoạt động

du lịch đã thu hút hàng tỉ lượt người trên thế giới và đem lại nguồn lợi lớn về nhiều mặt Hoạt động này đã tạo nguồn thu đáng kể làm tăng thu nhập quốc dân và đạt hiệu quả cao ở nhiều vùng lãnh thổ, đồng thời còn góp phần giải quyết việc làm, thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác Hoạt động du lịch cũng góp phần phục hồi tăng cường sức khỏe cho người lao động Vì vậy nghiên cứu những vấn đề liên quan đến du lịch ở một khu vực địa phương cụ thể là một việc làm cần thiết và thiết thực

Nằm ở trung tâm khu vực Bắc Trung Bộ và cả nước, trên “Tuyến du lịch xuyên Việt”, điểm đầu của tuyến du lịch “Con đường Di sản Miền Trung”, một trong những cửa ngõ quan trọng của không gian du lịch “Hành lang Đông - Tây”, với hệ thống giao thông đường bộ (QL 1A, QL 8, QL12, đường Hồ Chí Minh), đường sắt và đường thủy nối với các trung tâm du lịch lớn và các tỉnh trong cả nước, nước Lào (qua cửa khẩu quốc tế Cầu Treo) , Hà Tĩnh có vị trí thuận lợi trong mối liên kết vùng để phát triển du lịch

Huyện Lộc Hà có rất giàu tiềm năng để phát triển ngành du lịch Thiên nhiên

và con người ở đây chứa đựng nhiều tiềm ẩn để có thể phát triển Lộc Hà trở thành

Trang 3

một trung tâm du lịch của tỉnh Nếu như thiên nhiên ở đây thu hút khách du lịch bằng những thắng cảnh tuyệt đẹp thì tài nguyên du lịch nhân văn lại hấp dẫn với khách du lịch bằng sự độc đáo thể hiện trong chiều sâu lịch sử của một vùng đất địa linh nhân kiệt

Là một người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất địa linh nhân kiệt này, chứng kiến và cảm nhận được sự thay đổi từng ngày của ngành du lịch ở địa phương, với mong muốn góp phần hiểu biết nhỏ bé của mình vào việc phát triển ngành du lịch của huyện Lộc Hà, từng bước đưa du lịch huyện Lộc Hà phát triển và trở thành trung tâm du lịch lớn của tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và cả nước nói chung, đồng thời tích lũy một vốn kiến thức phục vụ cho nghề dạy học sau này của bản thân

Với những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài “Tiềm năng và hiện trạng phát triển

du lịch huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2007 – 2012 Định hướng phát tri ển đến năm 2020” làm đề tài khóa luận của mình

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu tiềm năng và tài nguyên du lịch trên bình diện quốc gia phục vụ cho các hoạt động du lịch đã được nghiên cứu từ rất lâu và đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này cả trong và ngoài nước

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu của một số tác giả có đóng góp lớn như: N.B.Likhainop ( Nga ), David ( Mỹ ), H.Robinson ( Anh ), Capar (Pháp ) … đã nghiên cứu về tiềm năng, tài nguyên du lịch, quá trình khai thác lãnh thổ du lịch

Ở Việt Nam trong thời gian qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về du lịch và tài nguyên du lịch Trong đó phải kể đến các công trình nghiên cứu có giá trị như:

- “ Đánh giá tài nguyên du lịch – tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam ”, Vũ Tuấn Cảnh ( Chủ biên thực hiện năm 1992 )

- “ Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam ”, Phạm Trung Lương ( Thực hiện năm 2000 )

Trang 4

Bên cạnh các công trình nghiên cứu nêu trên một số công trình viết dưới dạng khảo cứu hay viết giáo trình cũng được phát hành cho thấy vấn đề du lịch nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó phải kể đến:

- “Địa lý du lịch”, Nguyễn Thị Minh Tuệ (Nxb Tp Hồ Chí Minh – 1992)

- “Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam”, Lê Thông (Nxb Đại học Sư phạm – 2008)

- “Tuyến điểm du lịch Việt Nam”, Bùi Thị Hải Yến (Nxb Giáo dục – 2004)

Hà Tĩnh là địa phương có tiềm năng để phát triển du lịch, cùng với quá trình khai thác tài nguyên du lịch thì công tác nghiên cứu những vấn đề liên quan cũng được tiến hành song song Các công trình nghiên cứu tiêu biểu:

- Quy hoạch tổng thể du lịch tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 ( Viện nghiên cứu phát triển du lịch Hà Nội )

Ngoài ra còn có các báo cáo của ngành chức năng ( ngành thương mại – du lịch), những báo cáo về các công trình nghiên cứu khác

Khoa Địa lí trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng cũng có một số đề tài nghiên cứu về du lịch tỉnh Hà Tĩnh:

- Đề tài nghiên cứu: “Đánh giá tiềm năng tài nguyên du lịch của tỉnh Hà Tĩnh, định hướng phát triển” của sinh viên Nguyễn Văn Tuấn, khóa 2004 – 2008

- Đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu tình hình phát triển du lịch tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2001 đến năm 2007 và định hướng phát triển đến năm 2015” của sinh viên Dương Thị Yến, khóa 2005 – 2009

- Đề tài nghiên cứu: “Du lịch huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn

2005-2010 Thực trạng và giải pháp phát triển” Hoàng Văn Trung, Khóa 2008 - 2012

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiện cứu đề tài

3.1 Mục tiêu

Tìm hiểu các nhân tố tự nhiên, các điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến hoạt động du lịch

Trang 5

Tiềm năng cũng như hiện trạng khai thác, phát triển hoạt động du lịch huyện Lộc Hà, định hướng khai thác các tài nguyên du lịch phục vụ cho phát triển du lịch đạt hiệu quả kinh tế cao, gắn liền với việc sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên với bảo

vệ và phát triển cảnh quan, môi trường du lịch

3.2 Nhiệm vụ

- Tổng quan cơ sở lí luận về du lịch

- Tìm hiểu tiềm năng phát triển ngành du lịch ở huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh

- Những định hướng để thúc đẩy ngành du lịch ở huyện Lộc Hà phát triển có hiệu quả

4 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Tìm hiểu tiềm năng và hiện trạng phát triển ngành du lịch ở huyện Lộc Hà và thông qua đó đưa ra những định hướng phát triển

- Về thời gian: những tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch huyện Lộc

Hà giai đoạn 2007 – 2012 và định hướng phát triển đến năm 2020

để hình thành hệ thống du lịch trên lãnh thổ nghiên cứu, đảm bảo cho tính khách quan, khoa học trong nghiên cứu

5.2 Quan điểm tổng hợp

Du lịch là một ngành kinh tế chịu sự tác động tương hỗ của nhiều nhân tố, nhiều lĩnh vực, nhiều ngành Ngược lại, du lịch lại tác động lớn đến sự phát triển nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế khác Vì vậy khi nghiên cứu tình hình, tiềm năng phát

Trang 6

triển các điểm du lịch phải xem xét trong mối quan hệ tổng thể các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội

5.3 Quan điểm lãnh thổ

Trong nghiên cứu địa lí nói chung và địa lí du lịch nói riêng, đối tượng nghiên cứu nào cũng cần được xác định trên một lãnh thổ cụ thể Ở đó các thành phần, các sự vật, hiện tượng địa lí vừa có sự phân hóa sâu sắc trong không gian lại vừa có sự gắn kết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trên nhiều phương cả về tự nhiên – kinh tế - văn hóa – xã hội trên một vùng lãnh thổ Vì vậy sử dụng quan điểm lãnh thổ trong nghiên cứu địa lí sẽ giúp chúng ta nắm vững một cách cụ thể

về bản chất và mối liên hệ giữa các quá trình, các hiệ tượng địa lí Từ đó giúp cho việc quản lí và khai thác, sử dụng tài nguyên trong phạm vi nghiên cứu một cách có hiệu quả Quan điểm lãnh thổ rất cần thiết cho việc nghiên cứu các tài nguyên du lịch để làm cơ sở cho việc xây dựng hệ thống lãnh thổ du lịch phù hợp với quy hoạch phát triển của địa phương và cả nước

5.4 Quan điểm lịch sử viễn cảnh

Theo quan điểm triết học Mác – Lênin thì mọi sự vật hiện tượng luôn trong

tư thế vận động và phát triển Vì vậy trong quá trình nghiên cứu, đánh giá về sự phát triển của ngành du lịch huyện Lộc Hà không chỉ dừng lại ở hiện tại mà còn tìm hiểu định hướng cho sự phát triển của nó trong tương lai

5.5 Quan điểm kinh tế - sinh thái bền vững

Phát triển bền vững trở thành một mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của loài người trong thể kỉ XXI Cũng như các ngành kinh tế khác, tiêu chuẩn để đánh giá sự phát triển của ngành du lịch chính là hiệu quả kinh tế mà nó mang lại cho mỗi quốc gia, dân tộc Đồng thời việc phát triển ngành du lịch phải gắn với công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn, tôn tạo các giá trị tự nhiên và nhân văn Cũng chính

vì vậy mà trong chính sách phát triển du lịch cần đảm bảo cho ngành du lịch phát triển, thu được lợi nhuận cao vừa đảm bảo cho môi trường sinh thái được bền vững Đây cũng chính là một trong những quan điểm chủ đạo để nghiên cứu đề tài này

Hoạt động du lịch tác động tới môi trường tuy không lớn như các hoạt động kinh tế khác, song quá trình nghiên cứu và phát triển du lịch phải luôn xem xét tới

Trang 7

mức độ tác động của nó Bảo vệ môi trường sinh thái chính là bảo vệ môi trường sống cho hoạt động du lịch của huyện Lộc Hà đảm bảo mục tiêu phát triển du lịch trong tương lai

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu, xử lí số liệu

Việc nghiên cứu một đề tài cần rất nhiều tài liệu của nhiều cơ quan, ban ngành có liên quan Do vậy cần phải thu thập, tổng hợp, thống kê nguồn tài liệu phù hợp với nội dung nghiên cứu Sau đó cần phải xử lí, phân tích, làm rõ những tài liệu ấy để tạo nên tính chính xác và khoa học của đề tài

6.2 Phương pháp thực địa

Đây là phương pháp không thể thiếu đối với du lịch, kết hợp nghiên cứu bản

đồ, các tài liệu có liên quan với thực địa Để nắm được đặc trưng của lãnh thổ một cách thực tế, làm cho thông tin trở nên chính xác Đây là một trong những phương pháp chủ đạo trong quá trình tìm hiểu đề tài

6.4 Phương pháp chuyên gia

Việc tham khảo ý kiến của lãnh đạo chính quyền, cán bộ ngành du lịch, cán

bộ nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch là những kinh nghiệm quý để vận dụng vào nghiên cứu, rút ngắn được thời gian cho quá trình điều tra phức tạp Đồng thời bổ

sung có hiệu quả cho phương pháp điều tra cộng đồng

7 Bố cục của đề tài

Trang 8

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, kiến nghị thì nội dung chính của đề tài được triển khai ra ba chương sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận chung

Chương 2 Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch huyện Lộc Hà giai đoạn 2007 - 2012

Chương 3 Định hướng và giải pháp phát triển du lịch huyện Lộc Hà đến năm 2020

Phần phụ lục và tài liệu tham khảo

Trang 9

PHẦN B NỘI DUNG Chương 1 Cơ sở lí luận chung

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Du lịch

Ngày nay trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa – xã hội Hoạt động du lịch phát triển một cách mạnh mẽ và trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước trên thế giới

Thuật ngữ “Du lịch” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa đi một vòng Thuật ngữ này được Latinh hóa thành “tourisme” (tiếng Pháp), “tourism” (tiếng Anh) Tuy nhiên do hoàn cảnh khác nhau và dưới góc độ khác nhau nên mỗi học giả nghiên cứu về du lịch thường có những quan niệm khác nhau về du lịch

Tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch ở Roma đưa ra định nghĩa: “Du lịch

là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”

Năm 1985 I.I Pirôgiơnic đã đưa ra khái niệm về du lịch tương đối hoàn chỉnh và được nhiều người tán thành: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian nhàn rỗi liên quan đến sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và thể trạng, nâng cao trình độ nhận thức - văn hoá hoặc thể thao làm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hoá”

Ở nước ta, theo “Pháp lệnh du lịch Việt Nam” ban hành ngày 20/2/1999, thì:

“Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định

(điểm 1, điều 10, trang 8, Pháp lệnh du lịch)

Trang 10

Trong từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam các học giả đã tách 2 nội dung

cơ bản của du lịch thành 2 thành phần riêng biệt với 2 thuật ngữ gồm:

- Du lịch là sự di chuyển và cư trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng

- Du lịch là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm, tạm thời và thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú bởi mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh

Từ những quan niệm nêu trên, có thể khẳng định mục đích của du lịch chủ yếu phục vụ cho nhu cầu nghĩ ngơi, giải trí nhằm phục hồi sức khỏe và khả năng lao động của con người, thưởng thức vẽ đẹp của thiên nhiên, những món ăn đặc sản Chính trên cơ sở này ngành kinh doanh du lịch ra đời nhằm phục vụ cho nhu cầu du lịch thông qua nhiều hình thức khác nhau Đến nay hoạt động du lịch đã nhanh chóng trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội thu hút hàng tỉ người tham gia, bao gồm hầu hết các dân tộc, quốc gia trên thế giới

1.1.2 Du khách

Gắn liền với hoạt động, du khách là một trong những yếu tố để đánh giá sự phát triển của ngành du lịch Thị trường khách có ảnh hưởng lớn đến doanh thu của ngành du lịch và cơ cấu các sản phẩm dịch vụ du lịch

Định nghĩa du khách xuất hiện sớm nhất trong từ điển du lịch Oxford xuất bản năm 1811 với từ du khách ý chỉ người từ ngoài đến với mục đích tham quan du ngoạn

Sau này có nhiều tác giả đã đưa ra khái niệm về du khách:

- Theo Hiệp hội du lịch quốc tế đã đưa ra định nghĩa: “Du khách quốc tế là những người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian 24h trở lên”

Trang 11

- Theo quan niệm của nhà kinh tế học người Áo, Jozeptander: “Khách du lịch là loại khách đi lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế”

Tại nhiều nước trên Thế giới thường thấy có sự phân biệt giữa du khách trong nước và du khách nước ngoài Ở nước ta, theo điều 20 chương IV pháp lệnh

du lịch, những người được thống kê là du khách quốc tế phải có các đặc điểm cơ bản sau:

- Là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch

- Là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch

Đối với du khách trong nước, có thể phân biệt thành 2 nhóm:

+ Nhóm 1: Gồm những người vì mục đích du lịch thuần túy

+ Nhóm 2: Là những người sử dụng các dịch vụ của ngành du lịch

Như vậy có thể thấy du khách là người từ nơi khác đến vào thời gian rảnh rỗi của họ với mục đích thỏa mãn tại nơi đến nhu cầu nâng cao hiểu biết, phục hồi sức khỏe, xây dựng hay tăng cường tình cảm của con người (với nhau hoặc với thiên nhiên), thư giãn, giải trí hoặc thể hiện mình kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tinh thần, vật chất và các dịch vụ do các cơ sở của ngành du lịch cung ứng Về phương diện kinh tế, du khách là người sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp du lịch như lữ hành, lưu trú, ăn uống …

Như vậy, du khách là chủ thể của hoạt động du lịch, có vị trí rất quan trọng trong hoạt động du lịch, là một yếu tố cực kỳ quan trọng để phát triển ngành du lịch

1.1.3 Tài nguyên du lịch

Du lịch là một trong những ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến việc hình thành chuyên môn hóa các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động

Trang 12

dịch vụ Dĩ nhiên hoạt động này chịu sự chi phối gián tiếp của các nhân tố kinh tế -

xã hội như phương thức sản xuất và tính chất của quan hệ sản xuất, trình độ phát triển kinh tế văn hóa và cơ cấu khối lượng nhu cầu du lịch … Do vị trí đặc biệt quan trọng của nó, tài nguyên du lịch được tách thành một phân hệ riêng biệt trong

hệ thống lãnh thổ nghĩ ngơi du lịch

Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và những kết hợp khác nhau của cảnh quan tự nhiên cùng cảnh quan nhân văn có thể sử dụng cho dịch vụ du lịch Tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên, các đối tượng văn hóa lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch

Tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử, bởi vì những thay đổi cơ cấu và lượng nhu cầu đã lôi cuốn vào hoạt động du lịch những thành phần mới mang tính chất tự nhiên cũng như tích chất văn hóa lịch sử Nó là một phạm trù động, bởi vì khái niệm tài nguyên du lịch thay đổi phụ thuộc vào sự tiến bộ kĩ thuật, sự cần thiết

về kinh tế, tính hợp lí vào mức độ nghiên cứu

Từ sự phân tích trên có thể khái quát lại khái niệm tài nguyên du lịch như sau:

“ Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa – lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ Những tài nguyên này được sử dụng ch nhu cầu trực tiêpa và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch.”

a Tài nguyên du lịch tự nhiên

Tài nguyên du lịch vốn dĩ rất phong phú và đa dạng, nó được chia ra thành hai nhóm: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Trong đó tài nguyên du lịch tự nhiên được xem là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch, nó chính là môi trường sống của con người và mọi sinh vật trên Trái Đất

Tài nguyên tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta Theo khoản 1 (Điều 13, chương II, Luật du lịch Việt Nam năm 2005) quy định: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố điều kiện địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được

Trang 13

khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch” Mỗi dạng tài nguyên này có tác động đến du lịch ở một khía cạnh khác nhau

Tài nguyên du lịch tự nhiên chính là các đối tượng, hiện tượng tự nhiên xung quanh chúng ta được đem vào phục vụ cho mục đích du lịch Thông thường các chuyến du lịch người ta sẽ tìm đến các nơi có phong cảnh đẹp và thuận lợi nhất Phong cảnh đẹp bao nhiêu, khí hậu càng thuận lợi thì khả năng thu hút khách du lịch càng đông bấy nhiêu Căn cứ vào mức độ thay đổi của môi trường tự nhiên do con người gây nên, có thể chia thành 4 loại phong cảnh:

1 Phong cảnh nguyên sinh

2 Phong cảnh tự nhiên, trong đó thiên nhiên biến đổi tương đối ít do con người

3 Phong cảnh nhân tạo, trước hết là những yếu tố do con người tạo ra

4 Phong cảnh suy biến, loại phong cảnh bị thoái hóa khi có những thay đổi không có lợi đối với môi trường tự nhiên

Trong bốn loại phong cảnh trên, phần lớn các địa điểm du lịch được xây dựng ở phong cảnh tự nhiên, có một số trường hợp được xây dựng trong phong cảnh nhân tạo Như vậy môi trượng tự nhiên có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển nghỉ ngơi và du lịch Qua nhiều công trình nghiên cứu và thực tiễn cho thấy: Những người dân thành phố hàng ngày sống trong môi trường công nghiệp và đô thị hóa thường có nhu cầu nghĩ ngơi và du lịch trong môi trường tự nhiên Trong môi trường tự nhiên các thành phần tự nhiên với tư cách là tài nguyên du lịch tự nhiên có tác động mạnh mẽ tới các hoạt động du lịch như: địa hình, khí hậu, nguồn nước, động thực vật

b Tài nguyên du lịch nhân văn

Nhóm tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra, hay nói cách khác nó

là đối tượng và hiện tượng được tạo ra Đây cũng là nguyên nhân khiến cho tài nguyên du lịch nhân tạo có những đặc điểm rất khác biệt so với tài nguyên du lịch

tự nhiên Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm di tích lịch sử văn hóa, lễ hội, các đối tượng gắn với văn hóa thể thao và hoạt động nhận thức khác

Trang 14

- Các di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại Bao gồm các di tích văn hóa di chỉ khảo cổ, di tích lịch sử, di tích văn hóa nghệ thuật

Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia được chia thành

- Di tích văn hóa khảo cổ

- Di tích lịch sử

- Di tích văn hóa nghệ thuật

- Các loại danh lam thắng cảnh

- Các lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc hoặc là một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại: hướng về tổ tiên, ôn lại truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc… Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều thể hiện những sắc thái riêng biệt của mình để thu hút khách du lịch

- Các đối tượng gắn liền với dân tộc học bao gồm các tập tục lạ về cư trú, các tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống sinh hoạt, về các kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc… Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều thể hiện những sắc thái riêng biệt của mình để thu hút khách

du lịch

- Các đối tượng văn hóa, thể thao và các hoạt động nhận thức như: các trung tâm nghiên cứu, các viện khoa học, các trường đại học, các thư viện lớn và nổi tiếng, các triển lãm nghệ thuật, các trung tâm thường xuyên tổ chức liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, các cuộc thi đấu thể thao quốc tế, các cuộc thi hoa hậu…

1.2 Ý nghĩa của hoạt động du lịch với kinh tế, xã hội và môi trường

1.2.1 Ý nghĩa về kinh tế

Việc phát triển du lịch kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, sản phẩm du lịch mang tính liên ngành và có mối quan hệ với nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân Sản phẩm du lịch thường mang tính đặc thù và càng không

Trang 15

thể so sánh giá cả của nơi này với nơi khác được, vì ở mỗi khu vực có những điều kiện phát triển du lịch riêng biệt Những địa điểm du lịch hấp dẫn sẽ thu hút khách

từ đó thúc đẩy các ngành thương mại, dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp phát triển Như vậy có thể nói rằng vai trò của du lịch đối với nền kinh tế là rất quan trọng, biểu hiện qua các nội dung sau :

a Du lịch ảnh hưởng đến thu nhập quốc dân

Ngành du lịch được xem là “công nghiệp không khói”, “con gà đẻ trứng vàng”, hoạt động của nó mang lại lượng lớn ngoại tệ lớn trong nền kinh tế quốc dân, nhất là đối với các nước có tiềm năng lớn về du lịch thì đây được xem là nguồn thu lớn trong GDP

Theo thống kê của Tổ chức du lịch Thế giới, hiện nay một số quốc gia trên thế giới có thu nhập từ du lịch và các dịch vụ có liên quan đến du lịch chiếm 60% - 70% trong tổng sản phẩm quốc nội Riêng đối với các nước phát triển, doanh thu từ nguồn du lịch quốc tế chiếm hơn 20% nguồn thu ngoại tệ cho đất nước Nguồn thu này có vai trò quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã hội Do vậy du lịch quốc tế góp phần xây dựng cơ sở vật chất cho đất nước

Du lịch quốc tế là một phương tiện rất hiệu quả để đưa hình ảnh của đất nước đến với bạn bè thế giới Cũng chính vì vậy, du lịch quốc tế không chỉ mang lại nguồn thu lớn mà còn góp phần quảng bá hình ảnh, thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác

Du lịch nội địa cũng góp phần tăng thu nhập cho nhân dân địa phương, góp phần sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên du lịch

b Ảnh hưởng đến cán cân thu chi

Đối với du lịch quốc tế, việc du khách quốc tế mang ngoại tệ đến trao đổi và tiêu làm tăng tổng số tiền trong cán cân thu chi của một vùng lãnh thổ và của mỗi quốc gia Tương tự như vậy, việc tiêu tiền của khách du lịch nội địa cũng gây những biến động trong cán cân thu chi của nhân dân trong vùng

c Du lịch ảnh hưởng đến các ngành kinh tế khác

Trang 16

Trong cơ cấu nền kinh tế, tất cả các ngành đều có mối quan hệ mật thiết với nhau Cũng chính vì vậy, mà sự phát triển của ngành du lịch có tác động tới sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác như: nông nghiệp, công nghiệp và các ngành dịch vụ khác Du lịch đòi hỏi các loại hàng hoá có chất lượng cao, mẫu mã phong phú, kiểu dáng đẹp Do vậy, ngành du lịch góp phần định hướng cho sự phát triển các ngành kinh tế khác về số lượng, cơ cấu sản phẩm và việc chuyên môn hoá trong sản xuất

Du lịch là một ngành dịch vụ và có tác động mạnh đến các ngành dịch vụ khác như: giao thông vận tải, thông tin liên lạc, giáo dục, y tế, Việc phát triển các ngành du lịch đòi hỏi sự phát triển toàn diện của các loại hình dịch vụ, cơ sở vật chất kỹ thuật, đường xá, nhà ga, sân bay, ngân hàng, mạng lưới thương nghiệp Bên cạnh đó thúc đẩy các ngành thủ công – mỹ nghệ phát triển

1.2.2 Ý nghĩa về chính trị, xã hội

Du lịch được xem như một nhân tố củng cố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Bên cạnh đó, du lịch quốc tế còn làm cho những con người sống ở những khu vực khác nhau có sự hiểu biết và xích lại gần nhau, tạo nên tình hữu nghị giữa các dân tộc

Thông qua các hoạt động du lịch, du khách có điều kiện tìm hiểu những giá trị văn hóa, truyền thống và những thắng cảnh của đất nước mình, từ đó thêm yêu quê hương đất nước hơn

Ngoài các ý nghĩa to lớn về chính trị, du lịch còn có ý nghĩa xã hội quan trọng Thông qua du lịch, con người được thay đổi môi trường, thỏa mãn được trí tò

mò, đồng thời mở mang kiến thức, đáp ứng lòng ham hiểu biết Du lịch tạo khả năng cho con người mở mang hiểu biết lẫn nhau, hiểu biết về lịch sử văn hóa, phong tục tập quán, đạo đức, chế độ xã hội, kinh tế… Du lịch còn làm giàu và phong phú thêm khả năng thẩm mỹ của con người khi họ được đi thăm quan kho tàng mỹ thuật của một đất nước

Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu đất nước, giữ gìn và nâng cao truyền thống dân tộc Thông qua các chuyến du lịch người dân có điều kiện làm quen với cảnh đẹp, với lịch sử và văn hóa dân tộc, qua đó thêm yêu đất nước mình

Trang 17

Trong từng chuyến du lịch, du khách và người dân địa phương có sự tiếp xúc

và trao đổi, học hỏi lẫn nhau, trau dồi được những nét văn hoá tốt đẹp và những bài học kinh nghiệm cần thiết

Đồng thời, du lịch quốc tế làm cho các dân tộc có nền văn hóa khác nhau trở nên gần gũi nhau hơn, phát triển lành mạnh hơn, giúp cho các quốc gia tìm được tiếng nói chung qua việc quảng bá hình ảnh của nhau để phát triển du lịch Du lịch

là công cụ, là môi trường thuận lợi góp phần củng cố tính đoàn kết, hòa bình, giao lưu quốc tế giữa các dân tộc trên phạm vi toàn cầu

1.2.3 Ý nghĩa về môi trường

Việc đầu tư phát triển du lịch luôn được quan tâm, chú ý tới vấn đề bảo vệ môi trường Loại hình du lịch nào có môi trường sạch đẹp, an ninh được đảm bảo thì thu hút được nhiều du khách Vấn đề môi trường ảnh hưởng đến ấn tượng của

Như vậy, tùy vào đặc điểm vị trí địa lý cũng như nhu cầu của du khách mà phát triển các loại hình du lịch khác nhau Chính vì vậy vị trí địa lý vẫn là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng để phát triển du lịch

1.3.2 Tài nguyên du lịch

a Tài nguyên du lịch tự nhiên

Mỗi một nền kinh tế muốn phát triển được đầu tiên phải kể đến các thành phần tự nhiên Nó là cơ sở đầu tiên cho việc khai thác, xây dựng và định hướng các

Trang 18

loại hình kinh tế Đặc biệt đối với du lịch thì các thành phần tự nhiên là điều kiện rất cần thiết Các thành phần tự nhiên có thể hấp dẫn đối với du khách, từ đó được

sử dụng vào mục đích phát triển du lịch và trở thành tài nguyên du lịch tự nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: Địa chất – địa hình, khí hậu, nước, sinh vật

- Địa chất - Địa hình

Đối với hoạt động du lịch, điều quan trọng nhất là đặc điểm hình thái địa hình, nghĩa là các dấu hiệu bên ngoài của địa hình và các dạng địa hình có sức hấp dẫn cho khai thác phát triển du lịch Khách du lịch thường thích những dạng địa hình đồi núi, địa hình bờ biển, địa hình caxtơ

+ Địa hình vùng đồi thường tạo không gian thoáng đãng và bao la Do sự phân cắt của địa hình nên có tác động mạnh đến tâm lí du lịch dã ngoại, rất thích hợp với du lịch cắm trại

+ Địa hình núi có ý nghĩa lớn đối với du lịch, đặc biệt là các khu vực thuận lợi cho việc tổ chức thể thao như leo núi, du lịch mạo hiểm hay xây dựng các nhà

an dưỡng, các trạm nghỉ, các cơ sở du lịch thuận tiện cho lộ trình của du khách Trong tài nguyên du lịch miền núi, cùng với địa hình, khí hậu và sinh vật tạo nên tài nguyên du lịch tổng hợp có khả năng tổ chức các loại hình du lịch ngắn ngày cũng như dài ngày

+ Địa hình bờ biển có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch Có thể tận dụng khai thác du lịch với các mục đích khác nhau: từ tham quan du lịch, nghỉ dưỡng, tắm biển đến những môn thể thao dưới nước như lướt ván, câu cá Với những bãi biển rộng, bằng phẳng kết hợp với phong cảnh đẹp, hấp dẫn gần trung tâm du lịch thì càng thu hút du khách

+ Địa hình caxtơ là một kiểu địa hình đặc biệt có giá trị rất lớn cho tổ chức

du lịch Một trong các kiểu caxtơ được quan tâm nhất đối với du lịch là hang động caxtơ Những cảnh quan thiên nhiên của hang động caxtơ rất hấp dẫn du khách Đây chính là nguồn tài nguyên du lịch, một loại hàng hóa đặc biệt có thể sinh lợi dễ dàng

Trang 19

Đặc điểm địa chất có ảnh hưởng tới việc hình thành các dạng địa hình, trong

đó có một số dạng địa hình đặc biệt tạo điều kiện phát triển du lịch Bên cạnh đó đặc điểm địa hình và các dạng địa hình ảnh hưởng đến công tác xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và tạo nền cho phong cảnh

Ngoài việc tạo nên những phong cảnh độc đáo, thu hút khách du lịch, địa hình còn tác động đến việc xây dựng các cơ sở phục vụ cho phát triển du lịch, góp phần tạo cho hệ thống du lịch hoàn thiện hơn

- Khí hậu

Khí hậu là thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên đối với hoạt động

du lịch Để đánh giá cụ thể tác động của các điều kiện khí hậu đối với hoạt động du lịch, ngoài các đặc điểm chung của từng khu vực cần phải đánh giá ảnh hưởng của các điều kiện đó tới sức khỏe con người và xây dựng các loại hình du lịch

Đây là tài nguyên sớm được khai thác để phục vụ cho sự phát triển du lịch Tất cả các yếu tố của khí hậu như: nhiệt độ, độ ẩm, áp suất đều ảnh hưởng tới sức khoẻ con người Vì thế mà du khách thường ưa thích những khu vực có khí hậu ôn hòa, tránh những nơi quá ẩm hoặc quá nóng Chính vì vậy mà những điểm du lịch

có khí hậu thuận lợi và đặc biệt có tác dụng chữa bệnh mang lại sự thoải mái cho con người thì khả năng thu hút khách du lịch sẽ rất cao Sự thu hút mạnh khách du lịch ở Đà Lạt, Sa Pa của nước ta là những minh chứng cụ thể

Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động dịch vụ về du lịch Ở mức độ nhất định cần phải chú ý tới những loại hình thời tiết đặc biệt như bão, lũ… làm cản trở tới hoạt động du lịch Điều này quy định tính mùa vụ của du lịch Ví dụ mùa đông là mùa du lịch trên núi, có thể phát triển các loại hình du lịch thể thao như trượt băng, trượt tuyết Mùa hè là mùa du lịch quan trọng có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch biển, du lịch trên núi Các vùng khác nhau có tính mùa vụ du lịch không giống nhau do ảnh hưởng của các thành phần khí hậu

- Tài nguyên nước

Tài nguyên nước bao gồm nước đại dương, nước biển, sông, hồ, hồ chứa nước nhân tạo, suối, thác nước, giếng phun… Nước có vai trò quan trọng trong đời

Trang 20

sống sinh hoạt và sản xuất của con người Trong hoạt động du lịch nước được sử dụng tùy theo nhu cầu của cá nhân, theo độ tuổi và nhu cầu quốc gia Tài nguyên nước không chỉ có tác dụng phục hồi trực tiếp mà còn ảnh hưởng nhiều đến các thành phần khác của môi trường sống, đặc biệt là nó làm dịu khí hậu ven bờ

+ Địa hình ven bờ thường có khí hậu dịu mát cho phép nghỉ ngơi dài ngày nhờ bãi cát ven bờ vừa có thể tắm biển, vừa lại tắm nắng Có thể phát triển du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển, lướt song, lướt ván…

+ Sông hồ thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ ngơi, câu cá, bơi thuyền

+ Các suối nước nóng, nước khoáng là những tài nguyên có giá trị để phát triển du lịch an dưỡng và chữa bệnh

Chính vì vậy những khu vực nghỉ dưỡng ven bờ, ven biển thường thu hút lớn lượng khách du lịch

- Tài nguyên sinh vật

Hiện nay khi kinh tế càng phát triển đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao thì nhu cầu nghỉ ngơi tham quan du lịch và giải trí trở thành một nhu cầu cấp thiết Thị hiếu về du lịch cũng ngày càng đa dạng và phong phú Ngoài một số hình thức truyền thống như tham quan phong cảnh, các di tích văn hóa lịch sử của loại người, đã xuất hiện một số hình thức mới có sức hấp dẫn rất lớn du khách Đó là du lịch các khu bảo tồn thiên nhiên với đối tượng là động thực vật

Những vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên là những địa chỉ thu hút khách du lịch về với thiên nhiên, có giá trị đối với du lịch cuối tuần Các loài động thực vật đặc hữu có giá trị rất lớn trong du lịch sinh thái hoặc là đối tượng để nghiên cứu Đặc biệt đối với khách du lịch quốc tế những loài sinh vật không có ở đất nước mình thường có sức hấp dẫn mạnh

Như vậy tài nguyên động thực vật có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngành du lịch

b Tài nguyên du lịch nhân văn

- Các di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử - văn hóa

Trang 21

Di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử văn hóa là tài sản văn hóa quí giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước và cả nhân loại Một di sản quốc gia được công nhận, được tôn vinh, tầm vóc giá trị của di sản được nâng cao, các giá trị văn hóa thẩm mỹ cũng như các ý nghĩa kinh tế, chính trị vượt khỏi phạm vi một nước thì khả năng thu hút khách du lịch và phát triển dịch vụ sẽ to lớn hơn nhiều

Các di tích lịch sử văn hóa chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa nghệ thuật của mỗi quốc gia Đây được coi là một trong những nguồn tài nguyên du lịch quan trọng góp phần phát triển và mở rộng hoạt động du lịch Khách du lịch đến đây thường là những người thích tìm hiểu kho tàng văn hóa lịch sử, đó là những nhà nghiên cứu, sinh viên… Các giá trị này đòi hỏi khách tham quan phải có một trình độ nhất định, ham hiểu biết và nhu cầu tìm hiểu về các giá trị lịch sử - văn hoá này

Ở Việt Nam, có những khu di tích văn hóa – lịch sử được đưa vào phát triển

du lịch với hiệu quả cao như: Cố đô Huế, phố cổ Hội An, cồng chiêng Tây Nguyên

- Các lễ hội truyền thống

Các lễ hội đã tạo nên một môi trường mới giúp cho con người tham dự có điều kiện tiếp xúc với bí ẩn cội nguồn của mọi sinh vật sống Lễ hội dân tộc thu hút những ai muốn hành hương trở về với cội nguồn với những nét đặc sắc văn hóa của nhân dân Trong kho báu các di sản của quá khứ để lại, các lễ hội dân tộc là một trong những tài nguyên du lịch quý giá nhất Vì thế các lễ hội dân tộc ngày càng được phát triển cả về hình thức, nội dung, thời gian lẫn quy mô Điều này ảnh hưởng đến việc tổ chức lãnh thổ du lịch và góp phần tạo nên tính mùa vụ của du lịch

Ở nước ta, nhiều lễ hội truyền thống được đưa vào khai thác cho hoạt động

du lịch như: Hội Chùa Hương, giỗ tổ Hùng Vương, Lễ hội Lam Kinh Tạo điều kiện cho việc tổ chức các loại hình du lịch, các tuyến du lịch với các sản phẩm du lịch độc đáo

1.3.3 Các nhân tố kinh tế - xã hội

Trang 22

a Dân cư, lao động

Đây là một trong những nhân tố quan trọng đối với sự phát triển ngành du lịch Nếu không có dân cư và lao động thì tất cả các điều kiện khác chỉ ở dạng tiềm năng

Dân cư là lực lượng sản xuất quan trọng của xã hội Cùng với hoạt động lao động, dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch Số lượng người lao động trong các hoạt động sản xuất và dịch vụ ngày càng đông sẽ gắn liền trực tiếp với kinh tế

du lịch

Nhu cầu du lịch của con người tùy thuộc vào đặc điểm xã hội, nhân khẩu, mức thu nhập của dân cư Việc nắm vững số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, sự phân bố và mật độ dân cư có ý nghĩa rất lớn đối với phát triển du lịch Cần phải nghiên cứu, phân tích kết cấu dân cư theo nghề nghiệp, lứa tuổi để xác định nhu cầu du lịch, vì đây là nhân tố có tác dụng thúc đẩy du lịch phát triển Mỗi lứa tuổi khác nhau sẽ lựa chọn loại hình du lịch khác nhau Người già thường tham gia du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh; trẻ em ưa thích các loại hình du lịch mạo hiểm kết hợp với thể thao và giải trí

Ngoài ra lao động nước ta lại có truyền thống và tay nghề trong sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ độc đáo và đặc sắc như: hàng thổ cẩm, đồ gốm sứ, sơn mài, mây tre… Đó là những mặt hàng đáp ứng nhu cầu của khách du lịch

Sự tập trung dân cư vào các thành phố, sự tăng dân số, tăng mật độ, độ dài tuổi thọ, sự phát triển của đô thị hóa… liên quan mật thiết với sự phát triển du lịch

b Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế

Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng hàng đầu làm xuất hiện nhu cầu du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực Không thể nói tới nhu cầu hoặc hoạt động du lịch của xã hội nếu như nếu như lực lượng sản xuất

xã hội còn ở trong tình trạng thấp kém, thu nhập người lao động thấp

Vai trò to lớn của nhân tố này được thể hiện ở nhiều khía cạnh quan trọng

Sự phát triển của nền sản xuất xã hội sinh ra nhu cầu nghỉ ngơi du lịch Các nhu

Trang 23

cầu thường nảy sinh trực tiếp từ sản xuất Nền sản xuất xã hội càng phát triển, thị trường nhu cầu của nhân dân càng lớn, chất lượng càng cao

Ở các nước có nền kinh tế chậm phát triển, nhìn chung nhu cầu nghỉ ngơi du lịch còn hạn chế Ngược lại, nhu cầu nghỉ ngơi du lịch ở các nước phát triển rất đa dạng Bên cạnh nhu cầu giải trí cuối tuần, hàng năm nhân dân còn đòi hỏi những đợt nghỉ dài ngày ở vùng biển (vào mùa hè), trên núi (vào mùa đông), trong nước hoặc ở nước ngoài Rõ ràng những nhu cầu này phải dựa trên cơ sở vững chắc của nền sản xuất xã hội

Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tác dụng trước hết làm ra đời hoạt động du lịch, rồi sau đó đẩy nó phát triển với tốc độ nhanh hơn Giữa nhu cầu và hiện thực tồn tại một khoảng cách nhất định Khoảng cách ấy phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội: trình độ càng cao khoảng cách càng rút ngắn Sự phát triển của du lịch cũng bị chi phối bởi nền sản xuất xã hội

Những cái thiết yếu nhất đối với khách du lịch là: mạng lưới đường sá, phương tiện giao thông, khách sạn, nhà hàng… phải đảm bảo Điều này khó làm được nếu có thể trông cậy vào một nền kinh tế kém phát triển

Nền sản xuất xã hội phát triển tạo điều kiện ra đời của nhiều nhân tố khác nhau như nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, mức sống, mức thu nhập, thời gian rỗi rãi Trong nền sản xuất xã hội nói chung, hoạt động của một số ngành như công nghiệp, nông nghiệp và cả giao thông có ý nghĩa quan trọng để phát triển du lịch

- Công nghiệp cùng với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tạo nên những tiền đề nâng cao thu nhập của người lao động, đồng thời tăng thêm khả năng đi du lịch Công nghiệp phát triển cao, sản xuất ra những vật liệu đa dạng để xây dựng các công trình du lịch và hàng tiêu dùng cho khách du lịch Sự tập trung dân cư trong các trung tâm du lịch lớn, bầu không khí bị các xí nghiệp công nghiệp làm bẩn, tình trạng căng thẳng và tiếng ồn làm tăng thêm bệnh tật khiến con người tìm chổ nghỉ ngơi và hồi phục sức khỏe ngoài nơi sinh sống công nghiệp phát triển là sức hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước

- Nông nghiệp có ý nghĩa rất lớn vì du lịch không thể phát triển được nếu như không đảm bảo việc ăn uống cho khách du lịch Nhiều du khách đi tham quan

Trang 24

các nước khác vì nguồn rau quả và rau xanh có thể tìm được ở đó Sự có mặt của nguồn rau quả, rau xanh, … mở ra khả năng phát triển ngành hoa quả chữa bệnh Ngoài ra, các cảnh đẹp phục vụ cho du lịch cũng có thể xuất phát từ nông nghiệp như ruộng bậc thang, vườn cây ăn trái

- Mạng lưới giao thông cũng là một trong những tiền đề kinh tế quan trọng nhất để phát triển du lịch Nhờ mạng lưới giao thông hoàn thiện mà du lịch phát triển với tốc độ nhanh Hòa bình, trình độ vật chất văn hoá và thời gian tự do tạo điều kiện phát triển du lịch, nhưng chỉ có thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng, du lịch mới trở thành hiện tượng phổ biến

c Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch và sự thay đổi của nó theo thời gian và không gian trở thành một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình ra đời và phát triển du lịch Sự hoat động mang tính chất xã hội của cá nhân trong thời gian rỗi được quyết định bởi nhu cầu và định hướng có giá trị Nhu cầu nghỉ ngơi là hình thức thể hiện và giải quyết mâu thuẫn giữa chủ thể với môi trường bên ngoài, giữa điều kiện sống hiện có với điều kiện sống cần có thông qua các dạng nghỉ ngơi khác nhau

Nhu cầu nghỉ ngơi có tính chất kinh tế - xã hội là sản phẩm của sự phát triển

xã hội Nó được hình thành trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội dưới tác động của các yếu tố khách quan thuộc môi trường bên ngoài và phụ thuộc trước hết vào phương thức sản xuất Cụ thể hơn đó là nhu cầu của con người về khôi phục sức khỏe và khả năng lao động, thể chất và tinh thần bị hao phí trong quá trình sinh sống

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch đặc trưng cho mọi giai đoạn phát triển của xã hội

Nó ra đời ở một trình độ nhất định của sự phát triển lực lượng sản xuất, là kết quả tác động tổng hợp của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, tăng mật độ và sự tập trung dân cư vào các thành phố, kéo dài tuổi thọ… Song chỉ trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật, nhu cầu mới trở thành hiện thực trên quy mô xã hội

Điều kiện sống của nhân dân là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch Nó được hình thành nhờ việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh hoạt,

Trang 25

nâng cao khẩu phần ăn uống, phát triển đầy đủ mạng lưới y tế, văn hóa – giáo dục…

Du lịch chỉ có thể phát triển khi mức sống (vật chất, tinh thần của con người) đạt tới trình độ nhất định Một trong những nhân tố then chốt là mức thu nhập thực

tế của mỗi người trong xã hội Không có mức thu nhập cao thì khó có thể nghĩ đến việc nghỉ ngơi du lịch

Ngoài ra du lịch không thể phát triển được nếu con người thiếu thời gian rảnh rỗi Nó thực sự trở thành một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động du lịch Thời gian rỗi nhiều hay ít, dài hay ngắn phụ thuộc vào năng suất lao động, đặc điểm của quan hệ xã hội Nâng cao năng suất lao động xã hội, một mặt cho phép có thêm thời gian rỗi, mặt khác đòi hỏi phải tăng thời gian này như một điều kiện cần thiết cho tái xuất giản đơn và tái xuất mở rộng sức lực, tinh thần của con người

Như vậy để phát triển du lịch trong nước, điều kiện quan trọng đặc biệt là có những thời gian rảnh rỗi vào cuối tuần Có thể coi đây là nhân tố rất thuận lợi để phát triển loại hình du lịch ngắn ngày

d Đường lối chính sách phát triển của Nhà nước

Chính sách là những biện pháp, pháp chế do cơ quan có quyền lực đưa ra dựa trên những điều kiện thực tiễn nhất định nhằm phát triển kinh tế - xã hội

Chính sách phát triển du lịch có vai trò rất quan trọng Chính sách đúng đắn

sẽ giúp ngành du lịch ngày càng phát triển, ngược lại những chính sách không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển ngành du lịch

Các nước trên thế giới hiện nay rất quan tâm đến vấn đề du lịch, các nước đều đưa du lịch vào trong kế hoạch phát triển hàng năm, thậm chí còn xem du lịch như là công cụ để phát triển kinh tế và văn hóa xã hội của đất nước Đối với các nước phát triển, du lịch quốc tế như là một điều kiện thuận lợi để cải thiện cán cân thanh toán quốc tế nên Nhà nước luôn khuyến khích việc tiếp cận du khách quốc tế, đưa ra nhiều chính sách, chủ trương và các hoạt động hấp dẫn nhằm thu hút, lôi kéo khách du lịch quốc tế vào trong nước đồng thời hạn chế nhân dân đi du lịch nước ngoài

Trang 26

Tuy nhiên việc phát triển ngành du lịch không chỉ dựa vào việc lôi kéo khách du lịch quốc tế mà lượng khách du lịch trong nước cũng chiếm một phần không nhỏ trong việc tăng thu ngân sách nhà nước Ở Việt Nam, ngành du lich được xem như là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn Vì thế Nhà nước ta đã

có nhiều chính sách đúng đắn nhằm thúc đẩy sự phát triển du lịch cho các địa phương:

- Hỗ trợ tiền thuê đất để đầu tư xây dựng cở sở hạ tầng phát triển du lịch: Các địa phương hỗ trợ cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước để xây dựng cơ sở

hạ tầng trong những năm đầu và đưa ra mức giá quy định tại các điều khoản của Luật du lịch kể từ khi nhà đầu tư hết thời hạn, đồng thời cũng sẽ được hưởng ưu đãi của Chính phủ

- Hỗ trợ thuế thu nhập doanh nghiệp để đầu tư nâng cấp, mở rộng cơ sở du lịch: Đối với một số nhà đầu tư thời gian đầu nhà nước có thể hỗ trợ toàn bộ thuế thu nhập, hỗ trợ một phần trong những năm tiếp theo

- Hỗ trợ về tín dụng: Xem xét cho các nhà đầu tư trong nước vay một phần vốn với lãi suất ưu đãi để trực tiếp đầu tư hoặc tham gia góp vốn liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài trong quá trình đầu tư phát triển du lịch hoặc sản xuất hàng lưu niệm phục vụ khách du lịch

- Hỗ trợ về đào tạo phát triển nguồn nhân lực: Cung cấp lao động có tay nghề và hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ quản lý, chuyên môn kỹ thuật cho đội ngũ lao động ở các địa phương đang làm việc tại các

cơ sở của các nhà đầu tư phát triển du lịch

Ngoài ra nhà nước còn kêu gọi thu hút đầu tư xây dựng các khu du lịch mang tính quốc tế, đồng thời tận dụng khai thác tiềm năng du lịch sẵn có như các

kỳ quan thiên nhiên, các thắng cảnh đẹp, khai thác du lịch sinh thái, đồng quê, các khu di tích lịch sử, lễ hội… cũng là một trong những nhân tố tạo điều kiện thúc đẩy

du lịch phát triển Một chính sách thông thoáng cũng là điều kiện thúc đẩy du lịch phát triển

Trang 27

Chương 2 Tiềm năng và hiện trạng phát tiển du lịch huyện Lộc Hà giai đoạn

năm 2007 - 2012 2.1 Khái quát về tỉnh Hà Tĩnh

Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung Bộ, có toạ độ địa lý từ

17053'50'' đến 18045'40'' vĩ độ Bắc và 105005'50'' đến 106030'20'' kinh độ Đông

Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp Quảng Bình, phía Đông giáp biển

Đông, phía Tây giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Hà Tĩnh có thành phố Hà Tĩnh, Thị xã Hồng Lĩnh và 10 huyện: Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên,

Kỳ Anh, Lộc Hà

Ngoài ra Hà Tĩnh còn có 137 km bờ biển có nhiều cảng và cửa sông lớn cùng với hệ thống đường giao thông khá tốt, rất thuận lợi cho giao lưu văn hoá phát triển kinh tế xã hội

Hà Tĩnh nằm phía Đông dãy Trường Sơn có địa hình hẹp và dốc nghiêng dần từ Tây sang Đông Địa hình đồi núi chiếm gần 80% diện tích tự nhiên, đồng bằng có diện tích nhỏ, bị chia cắt bởi các dãy núi, sông suối

Hà Tĩnh nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa với 2 mùa rõ rệt: mùa nóng và mùa lạnh Nhiệt độ trung bình năm là 220C - 250C, lượng mưa bình quân hàng năm trên 2200mm và tập trung khoảng 99% lượng mưa vào mùa mưa (từ tháng 8 đến tháng 11 hàng năm)

Sông ngòi nhiều nhưng ngắn Dài nhất là sông Ngàn Sâu 131 km, ngắn nhất

là sông Cày 9 km; sông Cả đoạn qua Hà Tĩnh giáp Nghệ An cũng chỉ có 37 km

Hà Tĩnh hiện có 276.003 ha rừng Trong đó rừng tự nhiên 199.847 ha, trữ lượng 21,13 triệu m3, rừng trồng 76.156 ha, trữ lượng 2,01 triệu m3, độ che phủ của rừng đạt 45%

Rừng tự nhiên thường gặp là kiểu rừng nhiệt đới, vùng núi cao có thể gặp các loại rừng lá kim á nhiệt đới Rừng trồng phần lớn là thông nhựa, hiện có trên

18000 ha trong đó có trên 7000 ha có khả năng khai thác, Hà Tĩnh là một trong

Trang 28

những tỉnh có trữ lượng rừng giàu của cả nước (trữ lượng rừng trồng đạt 1469863

m3, trữ lượng rừng tự nhiên đạt 21115828 m3)

Thảm thực vật rừng Hà Tĩnh rất đa dạng, có trên 86 họ và 500 loài cây gỗ Trong đó có nhiều loại gỗ quý như lim xanh, sến, táu, đinh, gụ, pơmu và nhiều loài thú quý hiếm như hổ, báo, hươu đen, dê sừng thẳng, trĩ, gà lôi và các loài bò sát khác

Hà Tĩnh có bờ biển dài 137 km Do chế độ thuỷ triều, độ sâu, địa mạo, địa hình, đường đẳng sâu đáy biển, gió mùa Đông Bắc nên vùng biển này có đầy đủ thực vật phù du và nhiều loại hải sản sinh sống, cư trú Trữ lượng cá 8 - 9 vạn tấn/năm; tôm, mực, 7 - 8 ngàn tấn/năm nhưng mới khai thác được 20 - 30%

Theo tổng điều tra dân số ngày 01/04/2009, dân số Hà Tĩnh là 1.227.554 người Các dân tộc chủ yếu sống tại Hà Tĩnh là người Kinh và một dân tộc thiểu số khác cùng nhóm với người Kinh là người Chứt, Thái, Mường, Lào sống ở các huyện: Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê với khoảng vài ngàn người sống ở miền núi Như vậy Hà Tĩnh có nguồn lao động dồi dào, chất lượng lao động khá tốt, truyền thống lao động cần cù, sang tạo, văn hóa phong phú, đa dạng của các dân tộc…Đây chính là nguồn lực quan trọng cho tỉnh Hà Tĩnh phát triển kinh tế -

km đi từ cảng Vũng Áng qua Quảng Bình đến cửa khẩu Cha Lo sang Lào và Đông Bắc Thái Lan

+ Hải cảng: Chính phủ Việt Nam đã có quy hoạch định hướng xây dựng cụm cảng Vũng Áng với các Cảng tổng hợp và Cảng chuyên dùng, phục vụ Công nghiệp cơ khí, luyện cán Thép, đóng và sửa chữa tàu thuỷ, hoá dầu và đặc biệt là để giúp nước bạn Lào xuất, nhập khẩu hàng hoá, mở rộng buôn bán với các nước

Trang 29

Cầu cảng số I thuộc Cảng Vũng Áng có công suất thiết kết lượng hàng thông qua 460.000 tấn/năm, hiện đã tiếp nhận tàu hàng rời 30.000 tấn và tàu chuyên dùng 45.000 tấn Dự án đầu tư giai đoạn II của Cảng đang được triển khai, sẽ tăng công suất và đảm bảo điều kiện đồng bộ cho Cảng tiếp nhận được tàu 50.000 tấn Ở huyện Lộc Hà phía Bắc Hà Tĩnh có cảng Hộ Độ và cảng Cửa Sót, đủ điều kiện tiếp nhận tàu 200 – 500 tấn

2.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Lộc Hà

Huyện Lộc Hà được thành lập dựa trên Nghị định 20/2007/NĐ-CP của Chính Phủ Theo đó huyện Lộc Hà được tách ra từ 2 huyện Can Lộc và Thạch Hà, với toàn bộ đất đai và dân số cắt ra từ 7 xã của huyện Can Lộc và 6 xã của huyện Thạch Hà Đó là các xã: Ích Hậu, Phù Lưu, Hồng Lộc, Bình Lộc, Tân Lộc, An Lộc, Thịnh Lộc, Thạch Kim, Thạch Bằng, Hộ Độ, Mai Phụ, Thạch Mỹ, Thạch Châu,(có câu nói Kim Bằng Nam Bắc Mỹ Châu) Với tổng diện tích tự nhiên là 11.830,85

ha, Huyện Lộc Hà có tạo độ địa lí 18022’N đến 18032’B, từ 105048’T đến

105055’Đ Phía Đông giáp Biển Đông với đường bờ biển dài 12km phía Tây giáp huyện Can Lộc phía Nam giáp huyện Thạch Hà và Tp Hà Tĩnh phía Bắc giáp huyện Nghi Xuân

Với vị trí địa lí như vậy Lộc Hà sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng giao lưu quan hệ với các vùng trong cả nước và quốc tế nhất là các huyện trong tỉnh và các tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, nước Lào thông qua cửa khẩu quốc tế Cầu Treo Đây sẽ là tiền đề thuận lợi để phát triển du lịch huyện Lộc Hà Phía đông của huyện Lộc Hà tiếp giáp với vùng biển rộng lớn giàu tiềm năng tạo điều kiện phát triển tổng hợp kinh tế biển, đặc biệt là du lịch biển

Tiếp giáp với huyện Can Lộc, Nghi Xuân, Thạch Hà đây là những huyện có tiềm năng du lịch phong phú có thể kết hợp với huyện Lộc Hà xây dựng các tuyến

du lịch, đẩy mạnh phát triển du lịch

Địa hình của huyện Lộc Hà chủ yếu là đồng bằng, đồi núi chỉ chiếm 10%

diện tích tự nhiên Địa hình tương đối bằng phẳng Núi Bằng Sơn (rú Bờng): cao khoảng 230m, trên núi có chùa Kim Dung, Núi Tiên Am: cao khoảng 100m, thuộc

xã Thịnh Lộc Địa hình đồi núi phức tạp, gồ ghề, bề mặt ngang hẹp lịa bị chia cắt bởi hệ thống các sông suối Chính vì thế mà xuất hiện rất nhiều cảnh quan đẹp có

Trang 30

khả năng thu hút du khách Đây là nơi có hệ sinh thái rừng rất phát triển là cơ sở để phát triển du lịch sinh thái

Đồng bằng ở huyện Lộc Hà có quy mô vừa phải, đất đai khá màu mở như đất phù sa, đất cát pha Đây cũng là vùng sản xuất nông nghiệp chính của huyện

Đặc biệt là địa hình vùng bờ biển có nhiều ưu thế để phát triển kinh tế nói chung trong đó có hoạt động du lịch Với 12km đường bờ biển lại có nhiều vũng vịnh nhỏ ăn sâu vào đất liền, lại có nhiều bãi cát mịn (Biển Xuân hải, Cửa Sót, Chân Tiên), Lộc Hà có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển triển du lịch, nuôi trồng thủy hải sản, xây dựng các cảng biển

Khí hậu

Lộc Hà có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, mùa khô và lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, nền nhiệt khá cao và ổn định (tổng lượng nhiệt trung bình năm khoảng 80000C, nhiệt độ trung bình năm là: 23,80C) Lượng mưa tương đối dồi dào và lượng mưa trung bình năm đạt 2661mm đây là điều kiện thuận lợi để hoạt động du lịch diễn ra một cách bình thường trong năm

Tuy nhiên khí hậu Lộc Hà lại có sự phân mùa rõ rệt thể hiện rõ ở chế độ mưa: mưa tập trung vào các tháng XII, IX, X, XI chiếm 80 đến 85% tổng lượng mưa trong năm mùa khô kéo dài từ cuối tháng XI đến tháng IV năm sau, và chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của áp thấp và bão nhiệt đới có sức tàn phá nặng nề thời kì bão trùng với mùa mưa nên thường xuyên xảy ra ngập lụt vào các tháng XII, IX, X, XI Điều này tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất, đời sống xã hôi Trong đó có hoạt động du lịch, cụ thể nó sẽ làm gián đoạn thời gian du lịch trong năm, dẫn đến hoạt động du lịch có tính “mùa vụ” Ngoài ra chúng còn phá hoại nhiều cảnh quan, công trình du lịch và cơ sở vật chất

kĩ thuật phục vụ cho hoạt động du lịch

Thủy văn và hải văn

Lộc Hà là huyện có dòng chảy mặt vào loại trung bình (0.5 - 1km/km2) Đặc điểm của các con sông ở đây ngắn dốc Lớn nhất là sông Cửa Sót: sông Rào Cái và Sông Nghèn hợp lưu tại xã Hộ Độ (Lộc Hà) và xã Thạch Sơn (Thạch Hà), đoạn sông từ Hộ Độ chảy qua Cửa Sót dài 8km gọi là sông Cửa Sót Lưu vực sông Cửa

Trang 31

Sót do hai lưu vực Sông Nghèn và sông Rào Cái hợp lại, trải rộng hình nan quạt với diện tích lưu vực 1090km2 Sông Cửa Sót chịu tác động mạnh mẽ của thủy triều

Nhìn chung hệ thống sông, suối, hồ ở Lộc Hà có nhiều giá trị, ngoài những giá trị tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, phát triển nuôi trồng thủy sản còn có

ý nghĩa rất lớn để phát triển du lịch

Về hải văn: là huyện giáp biển, nước biển quanh năm trong xanh tinh khiết,

độ mặn của nước biển cao hơn mức trung bìn h một chút, cộng với sự gia tăng nồng

độ cao của nguyên tố Brôm, Iốt nên rất tốt cho sức khỏe con người Mặt khác sóng biển ở đây rất nhẹ nhàng, êm dịu trừ những ngày có gió màu đông bắc và áp thấp, bão nhiệt đới) cùng với nhiều bãi biển đẹp Với những điều kiện trên sẽ góp phần thu hút không ít khách du lịch đến đây để tắm biển Như vậy có thể khẳng định biển Lộc Hà được coi là một nguồn lợi và thế mạnh lớn trong những thế mạnh chủ yếu của huyện

Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Lộc Hà

- Dân cư, lao động: Lộc Hà có dân số khá đông, đến năm 2013 dân số huyện Lộc Hà là 86.213 người Tỷ lệ gia tăng dân số có xu hướng giảm dần nếu như năm

2007 là 1% thì năm 2012 là 0,6% Dân cư phân bố khá đồng đều Dân cư tập trung chủ yếu ở nông thôn với khoảng 85% dân số của toàn huyện năm 2012 Về thành phần dân tộc huyện Lộc Hà 100% là dân tộc kinh Đều có chung những nét phong tục tập quán, nếp sống sinh hoạt, truyền thống văn hóa Người dân huyện Lộc Hà theo hai tôn giáo chính đó là đạo Phật và đạo Thiên Chúa Giáo Đây được xem là đối tượng nghiên cứu của dân tộc học và là một tiềm năng quan trọng tạo tiền đề phát triển du lịch huyện Lộc Hà

Theo số liệu thống kê, năm 2012 cả huyện có 35.739 lao động chiếm 41,6% dân số toàn huyện Trong đó lao động nông nghiệp chiếm 63,19%, còn lại 36,81%

số lao động trong lĩnh vực khác

Tuy nhiên, phần lớn nguồn lao động được đào tạo có tay nghề cao đang còn hạn chế Do huyện chưa có những chính sách thu hút nguồn nhân tài, mặt khác nền kinh tế của huyện đang còn chưa phát triển nên lực lượng lao động phổ thông có tay nghề thường rời quê hương đi các địa phương khác trong cả nước làm việc

Trang 32

Như vậy với dân số đông sẽ bổ sung nguồn lao động cho các ngành kinh tế trong đó có ngành du lịch Chất lượng nguồn lao động ngày càng được nâng cao sẽ tạo nên những bước tiến mạnh trong phát triển ngành du lịch huyện Lộc Hà

Về kinh tế : Trong những năm vừa qua cùng với những điều kiện sẵn có, sự

phấn đấu của huyện uỷ, chính quyền và cán bộ nhân dân trên địa bàn huyện, kinh tế của huyện Lộc Hà đạt mức tăng trưởng khá cao

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giai đoạn 2007-2012 đạt trên 10,6%

- Thu nhập bình quân đầu người trên 15,5 triệu đồng/năm Thu ngân sách trên địa bàn trên 129 tỷ đồng

- Năm 2012, cơ cấu kinh tế huyện Lộc Hà có bước chuyển dịch khá: Khu vực nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 35,5%; Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp chiếm 29,9%; Dịch vụ chiếm 34,6%

- Về nông – lâm – ngư nghiệp

+ Về trồng trọt: Hiện tại trồng trọt vẫn giữ vị trí quan trọng trong ngành sản xuất nông nghiệp của huyện Trong nhiều năm qua, giá trị sản xuất của trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng cao, năm 2012 tỷ trọng của trồng trọt chiếm khoảng 65,8%

Trang 33

trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, đạt 112.000 triệu đồng Trong trồng trọt, sản xuất lương thực là chủ đạo, tổng diện tích gieo trồng đạt 1.430 ha với tổng sản lượng lương thực là 18.916 tấn và đạt tốc độ tăng trưởng cao, bình quân 5,2% /năm (thời kì 2007 - 2012)

+ Về chăn nuôi: Trong những năm qua, chăn nuôi ở Lộc Hà đã được quan tâm đầu tư, phát triển Tỷ trọng chăn nuôi tăng dần trong cơ cấu ngành nông nghiệp (từ 30,1% năm 2005 lên 34,2% năm 2012)

+ Về lâm nghiệp: năm 2012 diện tích rừng ngập mặn của huyện có 2.035,49

ha Giai đoạn 2007 – 2012 bình quân mỗi năm trồng mới được 100 – 150 ha rừng ngập mặn

+ Về ngư nghiệp: ngành nuôi trồng thuỷ sản tiếp tục có những chuyển biến tích cực Năm 2012 tổng diện tích nuôi trồng đạt 825 ha, tổng sản lượng đánh bắt

và nuôi trồng đạt 9.400 tấn

Tuy nhiên trong những năm gần đây tỉ trọng của hoạt động nông – lâm – ngư nghiệp ngày càng giảm xuống do sự phát triển mạnh mẽ hơn của các ngành kinh tế khác

- Về công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

Thời kì 2007 – 2012 giá trị tổng sản lượng ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp liên tục tăng, bình quân hàng năm tốc độ tăng trưởng ở mức 7 – 8,5

%/năm

Năm 2012 giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ước đạt hơn

447 tỷ đồng, tăng 11,4% so với năm 2011, toàn huyện có đến 835 cơ sở sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, tổng mức lưu chuyển hàng hoá ước đạt 430 tỷ đồng

- Về dịch vụ

Là một trong những ngành giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế Trong những năm gần đây, ngành dịch vụ luôn đạt tốc độ tăng trưởng khá và chiếm tỷ trọng cao Năm 2012 tỉ trọng của ngành dịch vụ chiếm 34,6% trong cơ cấu kinh tế

Trang 34

- Giao thông vận tải và thông tin liên lạc: huyện Lộc Hà có hệ thống giao thông vận tải khá phát triển Khách du lịch đến huyện Lộc Hà bằng tuyến đường bộ tỉnh lộ 9, đường số 7 nối với quốc lộ 1A, đường mỏ sắt đi ngang qua Hộ Độ nối với quốc lộ 1A, đường 22-12 nối với huyện Nghi Xuân Đặc biệt là ưu tiên phát triển

hệ thống giao thông nông thôn có ý nghĩa quan trọng, làm thay đổi bộ mặt đời sống kinh tế - xã hội nông thôn và rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn

- Về thông tin liên lạc hiện nay huyện Lộc Hà có mạng lưới thông tin liên lạc khá phát triển, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho ngành thông tin liên lạc không ngừng được mở rộng, nâng cấp như xây dựng thêm tổng đài điện thoại và tăng dung lượng, số lượng thiết bị, mở rộng chiều dài đường cáp nội hạt… Hoạt động bưu điện mở rộng ra khắp toàn huyện Bình quân điện thoại tính trên 100 dân đạt

07 máy năm 2012 Cũng góp phần nâng cao phục vụ nhu cầu thông tin ngày càng

co của khách du lịch

2.3 Tiềm năng phát triển du lịch huyện Lộc Hà

2.3.1 Tiềm năng du lịch tự nhiên

Lộc Hà là một trong những huyện ven biển của tỉnh Hà Tĩnh, thiên nhiên ở đây phân hóa đa dạng, phức tạp tạo nên những cảnh quan tự nhiên độc đáo có sức hấp dẫn rất lớn với du khách trong và ngoài nước Ở Lộc Hà vừa có kiểu địa hình miền núi trung du, lại vừa có cả đồng bằng ven biển đã hình thành nên những kiểu cảnh quan tự nhiên khác nhau: cảnh quan vùng ven biển với các bãi biển, đầm phá, bán đảo… Cảnh quan đồi núi với núi rừng, sông suối, thác nước, hồ nước… Trong

đó nổi lên các dạng tài nguyên du lịch có tiềm năng như:

Trang 35

không có ổ xoáy, cá dữ… là điều kiện thuận lợi để hình thành các bãi tắm thu hút khách du lịch đến đây vừa vui chơi trên biển vừa có thể thưởng thức những món ăn đặc sản được khai thác từ vùng biển này

Vùng biển phía bắc của huyện với các bãi biển có bãi cát rộng thoải, nước trong, sóng êm dịu…kết hợp với rừng chắn cát ven bờ tạo nên cảnh quan đẹp nổi tiếng ở vùng Thịnh Lộc, du khách đến đây vừa tắm biển Chân Tiên, vui chơi trên biển vừa có hội thưởng thức những hải sản hấp dẫn như tôm, cua, mực, hến, cá

Xuôi về phía nam du khách còn bắt gặp nhiều bãi biển đẹp trong đó phải kể đến bãi biển Xuân Hải nằm cạnh trung tâm huyện Lộc Hà Đây là bãi biển cát tự nhiên mịn màng, bằng phẳng, sóng nhẹ, nước trong xanh, độ mặn vừa phải và còn mang đậm nét hoang sơ từ lâu đã trở thành nơi tắm biển lí thú, có sức hấp dẫn thu hút khách du lịch trong và ngoài nước Nằm bên bờ biển là thị trấn , khí hậu ở đây rất mát mẻ trong lành, là điểm dừng chân đáng tin cậy của du khách Biển Lộc Hà không chỉ có bãi tắm đẹp mà còn có nhiều nguồn thủy hải sản phong phú như tôm, cua, ghẹ, mực, hến, vẹm xanh, sò, các loại cá… là nguồn thực phẩm biển tươi sống

để cung cấp cho các nhà hàng, khách sạn phục vụ du khách

Biển Cửa Sót thuộc xã Thạch Kim huyện Lộc Hà Cửa Sót là nơi sông

Nghèn đổ ra Cửa Sót hấp dẫn du khách với bãi biển đẹp, cát trắng, phẳng mịn,

những ngọn sóng xô nhẹ cuốn mọi thứ ra xa trong nắng chiều óng ả Một vẻ đẹp đến mê hồn không khí ở Cửa Sót rất trong lành và dịu nhẹ, tạo cảm giác thư thái, an nhàn cho du khách Khi bình minh lên những tia nắng như được đánh thức sau một giấc ngủ dài, oằn mình vươn vai bên những hạt sương mịt mờ của sóng biển tạo nên bức tranh tuyệt đẹp Buổi chiều là thời gian tốt nhất để du khách đắm mình trong làn nước biển xanh trong mát lạnh Những con sóng vỗ nhẹ vào người tạo cảm giác thích thú, dễ chịu vô cùng Những bãi cát trải dài lấp lánh dưới ánh nắng chói chang và cùng làn gió mang vị mặn của biển khiến người ta cảm thấy tâm hồn tươi mát hơn, và thoải mái hơn Du khách cũng có thể nằm hàng giờ trên cát, lắng nghe tiếng gió biển vi vu, tiếng sóng vỗ rì rào bên tai hay là nô đùa cùng mọi người Một trong những điểm thích thú nhất thu hút du khách du lịch chính loại hình câu cá Du khách có thể câu ngay gần bờ hoặc cũng có thể thuê một chiếc mủng nhỏ lênh đênh trên biển giữa sóng trời mênh mông

b Danh thắng

Trang 36

Là địa phương được thiên nhiên ưu đãi, Lộc Hà có những danh thắng tự nhiên độc đáo, đã thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến đây vừa tham quan, giải trí, vừa tìm hiểu, nghiên cứu Rú Bờng là một trong những danh thắng đó Núi Bằng Sơn tức Rú Bờng, là ngọn núi nằm giữa xã Thạch Bằng và Thạch Mỹ Tập trung những khối đá trập trùng, chỗ thì dựng đứng như thành vách, nơi thì chồng chất lên nhau thành đống, lại có đoạn đá nhọn lởm chởm như những thanh gươm dựng đứng Làm dịu đi vẽ đẹp hiểm trở của những vách đá nhấp nhô là những lùm cây xanh mướt, những bụi sim, hoa tím xen lẫn những khóm phong lan cheo leo trên đá, lững lờ trên những cành cây Điểm xuyết vào đó là những cây cổ thụ như trầm mặc suy tư Xa

xa là những rừng hoa ngâu đốm vàng ẩn hiện

Thế nhưng cảnh đích thực của núi Bằng Sơn khiến du khách đến thăm phải sửng sốt và sự tạo hóa của thiên nhiên ngay dưới lòng suối Với chiều dài khoảng 50m lòng suối chi chít những trụ đá hoa cương thiên hình vạn dạng Vào những ngày trời trong xanh khi những tia nắng ban mai rọi xuống, nhứng khối đa hoa cương ánh lên muôn màu lóng lánh rực rỡ như hàng vạn kim cương khoe mình bên làn nước trong xanh Du khách đi dọc dòng như được đắm mình vào thế giới huyền ảo của thiên nhiên, du khách sẽ có cảm giác đi sâu vào thế giới thần thoại Càng đi cảm thấy dòng suối hẹp lại nhưng cảnh vật lại càng kì thú Bất chợt từ trên nhìn xuống ta bắt gặp cả một đàn cừu trắng đang nô giỡn trên đồng cỏ Càng về phía thượng nguồn, độ dốc càng lớn, nước chảy càng mạnh Từng đoạn, từng đoạn chia khúc thành những thác nhỏ, nước chảy âm thầm dội vào vách núi, cảnh vật càng thêm huyền ảo Đây đó vang tiếng chim gù, tiếng hót véo von của chim Khướu, chim Vành Khuyên, chim Chào Mào… Thỉnh thoảng lại vang lên tiếng tắc kè vọng lại trong những hóc đá lùm cây Hương rừng ngọt ngào, dịu thơm hòa lẫn tiếng chim kêu ríu rít làm cho du khách có cảm giác như lạc vào cõi tiên

c Tài nguyên sinh vật

Lộc Hà là huyện có đường bờ biển khá dài, giáp với vùng biển rộng lớn giàu tiềm năng, tài nguyên sinh vật phong phú đa dạng Theo số liệu thống kê năm 2012 cho thấy diện tích rừng ngập mặn của huyện có 2.035,49 ha chiếm gần 17,20% diện tích tự nhiên Rừng đước trải dài dọc bờ biển phân bố chủ yếu ở Hộ Độ, Thạch Bắc, Thạch Châu, Thạch Kim, Thạch Bằng, Thịnh Lộc Nếu du khách xuôi thuyền

từ Hộ Độ đến Thịnh Lộc du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẽ đẹp của rừng ngập

Trang 37

mặn Từ Hộ Độ đã có những rừng đước xanh, bạt ngàn và đang lay uốn như muốn chào đón du khách vào khám phá Đi khoảng 200m nữa du khách sẽ thấy những cánh đồng màu nâu, lốm đốm, đen xen màu trắng đó chính là những cánh đồng muối Cùng với ánh nắng của buổi bình minh hòa lẫn trong những làn nước trong xanh, với những đoàn thuyền ra khơi, với những kênh rạch chằng chịt du khách như được sống trong vùng sông nước Khi tới rừng đước thuộc xã Thạch Kim du khách sẽ có cơ hội thử tài của mình bằng việc câu cá bống và thưởng thức món cá bống nướng Men theo bờ biển lên phía bắc là những cánh rừng phi lao chắn cắt trải dài, đến đây du khách có thể mắc võng nghỉ ngơi và tắm biển Xuân Hải (Thạch Bằng) và biển Chân Tiên (Thịnh Lộc)

Diện tích rừng rộng lớn vừa có tác dụng điều hòa khí hậu, nhưng đây cũng là điều kiện để phát triển loại hình du lịch sinh thái, một loại hình đang phát triển trong giai đoạn hiện nay Điều này giúp cho ngành du lịch huyện Lộc Hà có thêm

cơ cở để đa dạng các loại hình từ đó thu hút khách du lịch

2.3.2 Tiềm năng du lịch nhân văn

a Di tích lịch sử văn hóa

Di tích lịch sử văn hóa chứa đựng tất cả những truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa trí tuệ, giá trị văn hóa truyền thống của địa phương được đúc kết qua hàng trăm năm, Lộc Hà được xem là “địa linh nhân kiệt’’

Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, nhân dân huyện Lộc Hà đã đúc kết được những truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa trí tuệ, giá trị văn hóa truyền thống của địa phương Tất cả những truyền thống văn hóa đó sẽ mãi là di sản quý báu cần được lưu giữ và phát huy Những danh nhân lỗi lạc như: Mai Thúc Loan, vị Hoàng đế có công đánh đuổi quân xâm lược nhà Đường, nhà sử học Phan Phu Tiên nhà nghiên cứu văn học và nhà giáo nổi tiếng đầu đời Lê, võ tướng Nguyễn Xí thời Lê Sơ Làng Thu Hoạch, trấn Nghệ An (nay là xã Thạch Châu) là quê hương của dòng họ Phan Huy, một dòng họ văn hóa của thế kỷ 18 và 19 Dòng họ này có các tên tuổi lớn như: Bình Chương Đô đốc Phan Huy Cận, Thượng thư Phan Huy Ích, nhà bác học Phan Huy Chú, các nhà thơ Phan Huy Thực, Phan Huy Ôn, P han Huy Vịnh, Phan Huy Thàng, Giáo sư sử học Phan Huy Lê Làng Đại Yên, trấn

Trang 38

Nghệ An (nay là xóm 4 + 3 xã Thạch Mỹ huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh) là quê hương của dòng họ Phan Trọng, một dòng họ văn hóa của thế kỷ 15 mở rộng ra cả

Hà Tây Dòng họ này có các tên tuổi lớn như: Bình Chương sự kiêm tri Quốc Tử Giám tư nghiệp Phan Trọng Lê Phiêu…Làng Ích Hậu là quê hương của dòng họ Nguyễn Chi nổi tiếng về truyền thống yêu nước, văn chương và khoa bảng Dòng

họ Nguyễn Chi (tức họ Nguyễn Đức, cháu chắt trực hệ Trần Đức Mậu) sinh ra những tên tuổi lớn như: lãnh tụ phong trào chống thuế Nghệ Tĩnh Nguyễn Hàng Chi, Giáo sư nhà văn hóa học Nguyễn Đổng Chi, Giáo sư dân tộc học Nguyễn Từ Chi, Giáo sư cổ văn học Nguyễn Huệ Chi…Gắn với đó là các di tích lịch sử được xây dựng như: Đình Đỉnh Lự, đền thờ Mai Thúc Loan, nhà thờ dòng họ Phan Huy

- Đền thờ Mai Thúc Loan: thuộc làng Mai Lâm - xã Mai Phụ - Lộc Hà để

tưởng nhớ vua Mai Thúc Loan ( Mai Hắc Đế) - thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Hoan Châu - người đã có công đánh đuổi quân xâm lược nhà Đường Thế kỷ thứ XIII nước ta bị nhà Đường cai trị, người dân ở các châu, hoan lầm than dưới sự bóc lột bằng chế độ thuế và chế độ cống nộp sản vật Cũng là một nông dân lao động, cũng từng nếm trải nỗi tủi nhục, cơ cực trong những lần làm phu cống vải nên ông rất thấu hiểu nỗi thống khổ của nhân dân Ý chí đánh đuổi quân xâm lược nhà Đường cũng đã được nhen nhóm từ đấy Mùa hạ năm Quý Sửu (713), cuộc khởi nghĩa Hoan Châu chính thức bùng nổ trên đường Mai Thúc Loan cùng đoàn phu đi cống vải tại dốc Trương Bàng- một địa danh nằm ở phía bắc huyện Nam Đàn Mai Thúc Loan đã chỉ huy nghĩa quân xông lên đánh trả đoàn quân tiếp viện và thừa thắng đánh chiếm cả trụ sở Hoan Châu ở Sa Nam rồi lần lượt giải phóng luôn cả Châu Diễn, Châu Ái rộng lớn Sau sự kiện này, ông được nhân dân suy tôn làm hoàng đế- Mai Hắc Đế (vua đen họ Mai)

Tưởng nhớ đến công lao của ông đối với quê hương đất nước, người dân trên quê hương Mai Phụ cũng đã lập đền thờ ông tại làng Mai Lâm Đền toạ lạc trên diện tích hơn 500m2, nằm trong lòng khu dân cư thuộc làng Mai Lâm quay mặt về hướng chính Nam với cổng vào được xây dựng theo kiểu cột nanh, trên đầu cột có gắn nghê trang trí, không có cánh cửa đóng mở Hai bên cột có đắp hình hai ông tướng mặt mày dữ tợn trong tư thế đứng, một tay chống ngang hông Phía trước 2 cột nanh có đắp 2 câu đối bằng chữ hán, tạm dịch là: “Bốn phương hưởng ứng giúp

Ngày đăng: 09/05/2021, 17:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w