1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu về thành tựu, hạn chế và chiến lược hỗ trợ phát triển chính thức (oda) của hàn quốc đối với việt nam công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần thứ xv năm 20

108 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu về thành tựu, hạn chế và chiến lược hỗ trợ phát triển chính thức (oda) của hàn quốc đối với việt nam
Tác giả Shin Wonseok, Hồ Anh Tuấn, Kang Yunja, Park Hyeyeon
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Minh Giới
Trường học Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại Công trình dự thi
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt công trình Để thực hiện công trình nghiên cứu này, chúng tôi đã phân tích về chính sách ODA của hai nước Việt Nam và Hàn Quốc, sau đó phân tích về các chương trình hỗ trợ của Hàn

Trang 1

ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH

한국의 對 베트남 공적개발원조(ODA)의 성과와 발전 전략에 관한 연구

Shin Wonseok (CN)

Hồ Anh Tuấn Kang Yunja Park Hyeyeon

TS Trần Thị Minh Giới hướng dẫn

LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: Lĩnh vực Kinh tế

CHUYÊN NGÀNH : Kinh tế phát triển

Mã số công trình : ………

Trang 2

MỤC LỤC

 

Tóm tắt công trình 1 

Phần Mở đầu 2 

Chương 1: Khái quát về ODA của Hàn Quốc đối với Việt Nam 9 

1.1.Khái niệm về hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) 9 

1.2 Tình hình kinh tế Việt Nam và tính thiết yếu của ODA 10 

1.3.Tình hình tiếp nhận ODA của Việt Nam 19 

1.4.Nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong việc sử dụng ODA 31 

Chương 2: Thành tựu và hạn chế việc sử dụng ODA Hàn Quốc đối với Việt Nam giai đoạn 1992-2012 35 

2.1 Công nghệ thông tin 35 

2.2 Bảo vệ sức khỏe và Y tế 45 

2.3 Giáo dục 56 

2.4 Công nghiệp và Năng lượng 63 

2.5 Môi trường và lĩnh vực khác 73 

2.6 Hệ thống Hành chính 78 

2.7 Phát triển nông thôn 86 

2.8 Cứu hộ: 88 

Chương 3: Chiến lược ODA của Hàn Quốc đối với Việt Nam 89 

3.1 Định hướng sử dụng vốn ODA của Việt Nam 89 

3.2 Chiến lược để Hàn Quốc nâng cao hiệu quả sử dụng ODA 97 

Kết luận 103 

Tài liệu tham khảo 105

Trang 3

Tóm tắt công trình

Để thực hiện công trình nghiên cứu này, chúng tôi đã phân tích về chính sách ODA của hai nước Việt Nam và Hàn Quốc, sau đó phân tích về các chương trình

hỗ trợ của Hàn Quốc đối với Việt Nam với mục đích sau:

Thứ nhất là đánh giá thành tựu và hạn chế của việc sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức của Hàn Quốc đối với Việt Nam Thứ hai là nghiên cứu và

đề ra một phương cách sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức của Hàn Quốc đối với Việt Nam một cách hiệu quả hơn

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chia các chương trình hỗ trợ

ra bảy phần, xem xét nội dung, mục đích, quy mô, hiệu quả chương trình ở chương 2 Giống như nội dung phân tích trên, các chương trình hỗ trợ của Hàn Quốc có phần thành công cũng có phần hạn chế Tuy nhiên, chúng tôi rất hy vọng

về một tương lai tốt đẹp là các chương trình hỗ trợ ngày càng phát triển hơn Yếu

tố làm các chương trình hỗ trợ này phát triển cũng có nữa Đó là việc áp dụng điểm mạnh của Hàn Quốc cho các chương trình hỗ trợ như công nghệ thông tin, giáo dục, y tế, phát triển nông thôn Những lĩnh vực này là lĩnh vực chính phủ Hàn Quốc chủ động phát triển để vượt qua vị trí nước đang phát triển Vì thế chính phủ và người Hàn Quốc cố gắng truyền đạt kinh nghiệm phát triển lĩnh vực này cho Việt Nam

Mặc dù bên Việt Nam và Hàn Quốc đánh giá cao về kết quả chương trình hỗ trợ của Hàn Quốc nhưng chúng tôi cần xem xét phân tích về hạn chế và lý do hạn chế đó để chương trình hỗ trợ của Hàn Quốc tiếp tục phát triển Vì thế trong chương 3, chúng tôi đưa ra ý kiến về Chiến lược để Hàn Quốc nâng cao hiệu quả

sử dụng ODA như sau:

(1) Cần đánh giá theo dõi và nghiên cứu sau khi chương trình hoàn thành

(2) Cần tiếp tục hỗ trợ thêm

(3) Cần chuyển giao công nghệ khi xây dựng hệ thống mạng máy tính

(4) Cần hợp tác với chuyên gia là người Hàn Quốc đang sinh sống tại Việt Nam (5) Cần hợp tác với tổ chức nhân sự để nâng cao hiệu quả chương trình

Trang 4

Phần Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Năm 2012 là năm kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam và Hàn Quốc Trong 20 năm từ 1992 đến 2012, Việt Nam và Hàn Quốc đã giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau; củng cố và phát triển mối quan hệ thông qua nhiều lĩnh vực như giao lưu dân sự, kinh tế, chính trị Trước hết, chúng ta có thể nhìn quy mô của giao lưu dân sự thông qua tình hình kiều dân của hai nước Theo thông tin trang web của Bộ Ngoại Giao và Thương Mại Hàn Quốc, vào tháng 11 năm 2011, số người Hàn Quốc đang cư trú tại Việt Nam là 85.000, số người Việt Nam đang sống tại Hàn Quốc là 103.000 Như vậy, đã có nhiều người đang sống hội nhập tại nước đối tác với nhiều mục đích khác nhau

Trong mối quan hệ đa dạng giữa Việt Nam và Hàn Quốc, lĩnh vực quan trọng nhất là quan hệ kinh tế Tiêu chí cho xem thấy sự quan trọng của quan hệ kinh tế là quy mô thương mại Năm 1992, năm bắt đầu thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, quy mô thương mại chỉ vào khoảng 500 triệu USD nhưng đến năm 2011 thì quy mô này đã tăng lên rất nhiều, đạt tới 18 tỉ 549 triệu USD Như vậy, hai nước Việt Nam và Hàn Quốc đã thực sự trở thành đối tác rất quan trọng của nhau qua sự phát triển nhanh và liên tục của quan hệ kinh tế Đối với Hàn Quốc thì Việt Nam đã trở thành quốc gia đối tác thương mại lớn thứ ba trong Đông Nam Á1 còn đối với Việt Nam thì Hàn Quốc đã trở thành quốc gia đầu tư thứ nhất2

Nhờ mối quan hệ năng động và hữu hảo, chính phủ hai nước Việt Nam và Hàn Quốc đã cam kết tiếp tục thắt chặt mối quan hệ Vì thế vào tháng 8 năm 2001, cả hai bên đã cùng ra tuyên bố Việt-Hàn “Quan hệ Đối tác toàn diện trong thế kỷ 21” Đến năm 2009, khi sang thăm Việt Nam, Tổng thống Lee Myung Bak đã nâng cấp mối quan hệ này thành quan hệ “Đối tác hợp tác chiến lược” và hai nước đã trở thành quốc gia có sự hợp tác với nhau một cách mạnh mẽ

1 Tiêu chuẩn năm 2011, lượng thương mại 18 tỉ 549 triệu USD, nguồn từ Hiệp hội Thương mại Hàn Quốc

2 Tiêu chuẩn lũy kế bên Việt Nam, lúc tháng 9 năm 2011, 23 tỉ 400 triệu USD, nguồn từ trang web Bộ Ngoại Giao và Thương Mại Hàn Quốc

Trang 5

Vậy lý do chính để hai nước Việt-Hàn có thể giữ gìn và phát triển mối quan hệ vừa thân thiện vừa mạnh mẽ và nhanh chóng trong một quá trình thật ngắn của 20 năm là gì? Có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó yếu tố rất không thể không kể đến, đó là nguồn vốn “hỗ trợ phát triển chính thức” tức là ODA (Official Development Assistance) từ phía Hàn Quốc Số tiền Hàn Quốc đã sử dụng cho ODA cho đến bây giờ thì viện trợ không hoàn lại là khoảng 150 triệu, còn viện trợ hoàn lại là 1 tỉ 340 triệu USD3 Vậy thì khi thực hiện nguồn vốn ODA này thì hai nước có thể đạt được hiệu quả là gì? Hiệu quả đó chính là việc viên trợ cho nước nhận viên trợ - Việt Nam - phát triển đều khắp, bền vững và xóa đói giảm nghèo Hơn nữa viện này giúp thúc đẩy và củng cố tình hữu nghị, giao lưu và giúp đỡ lẫn nhau giữa hai nước Điều này cũng được biểu hiện trong tuyên bố chung Việt Nam-Hàn Quốc

“Phía Việt Nam cho rằng nguồn vốn ODA của Hàn Quốc đã đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế xã hội Việt Nam Phía Hàn Quốc khẳng định sẽ tiếp tục hợp tác với phía Việt Nam như là một đối tác hợp tác trọng điểm trong thời gian tới.”

Tuyên bố chung Việt Nam-Hàn Quốc về việc thiết lập quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược (21 10 2009)

Ngoài ra chính phủ Hàn Quốc sẽ tăng vốn ODA lên vì Hàn Quốc đã trở thành nước thành viên OECD/DAC Như vậy, vào tháng 6 năm 2009 tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Hàn Quốc được tổ chức ở đảo Che Ju, Hàn Quốc đã cam kết rằng sẽ tăng vốn ODA lên gấp đôi tới năm 2015 so với năm 2008 Như vậy, tính đến nay Hàn Quốc đã tài trợ một lượng ODA rất lớn cho Việt Nam và sẽ còn tài trợ nhiều hơn nữa trong thời gian tới

Những điều mà chúng tôi vừa đề cập ở trên là lý do để chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu về thành tựu, hạn chế và chiến lược hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Hàn Quốc đối với Việt Nam” nhằm đánh giá, kiểm tra lại thành quả cũng như những hạn chế còn tồn tại, đồng thời nghiên cứu đề ra một

3 Viện trợ không hoàn lại: khoảng 150 triệu USD (Lũy kế từ năm 1991 đến tháng 11, năm 2011),

Viện trợ hoàn lại: khoảng 1 tỉ 340 triệu USD (Lũy kế từ năm 1995 đến tháng 11, năm 2011), nguồn từ trang web Bộ Ngoại Giao và Thương Mại Hàn Quốc

Trang 6

chiến lược cho việc sử dụng nguồn vốn này ngày càng hiệu quả hơn Đặc biệt là nghiên cứu này tập trung vào việc nâng cao hiệu quả của việc hỗ trợ bằng cách liên

hệ với kinh nghiệm và điểm mạnh của Hàn Quốc căn cứ vào sự cần thiết của Việt Nam thông qua lý giải về chiến lược phát triển của Việt Nam và sự tôn trọng lẫn nhau

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của nghiên cứu này gồm hai phần sau đây:

Thứ nhất là việc đánh giá thành tựu và hạn chế về việc sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức của Hàn Quốc đối với Việt Nam Để thực hiện điều này, chúng tôi chia các kết quả trong 20 năm, giai đoạn năm 1992 đến 2012 ra tám lĩnh vực như sau, rồi phân tích về thành tựu và hạn chế

1 Công nghệ thông tin

là cũng có nhiều công trình nghiên cứu chi tiết được tiếp cận dưới góc độ đặc biệt hay lĩnh vực đặc biệt của một nước Tuy nhiên những công trình nghiên cứu về ODA của Hàn Quốc đối với Việt Nam lại quá ít May mắn là có một số tài liệu và

Trang 7

công trình nghiên cứu về lĩnh vực này đã được thực hiện ở Hàn Quốc

Trước hết là một tài liệu có tên là “Kế hoạch chương trình hỗ trợ trung và dài hạn dành cho Việt Nam” Đây là một tài liệu do KOICA - một cơ quan thuộc Bộ Ngoại Giao và Thương Mại Hàn Quốc - công bố nhằm thực hiện chương trình hỗ trợ cho Việt Nam được hiệu quả hơn Tài liệu này dài tới 149 trang với các nội dung như tình hình thực tế Việt Nam, những kết quả đã thực hiện được, chiến lược

để việc thực hiện chương trìnhtrong tương lai hiệu quả hơn nên được coi là tài liệu tham khảo rất có ích cho người nghiên cứu về lĩnh vực này Tuy nhiên, thời điểm

mà tài liệu này xuất bản là năm 2005 nên không thể phản ánh thực tế hiện tại và các thống kê tham khảo cũng đã trở nên lạc lậu so với hiện nay

Thứ hai là các công trình nghiên cứu về lĩnh vực đặc biệt việc hỗ trợ phát triển chính thức Hàn Quốc đối với Việt Nam

- Current issues of Official Development Assistance (ODA) for the

transportation in Vietnam and its policy implications, Pham Thi Hoang Anh (2010), luận văn thạc sĩ Trường Đại học Myongji

- Educational development cooperation in official development assistance : focusing on the Korea-Vietnam case,Chun Hae Lim (2009), luận văn thạc

sĩ Trường Đại học Kyunghee

Hai luận văn trên là hai công trình nghiên cứu về sử dụng và hiệu quả của ODA Hàn Quốc như thế nào trong ngành chính sách phát triển hệ thống giao thông của Việt Nam và lĩnh vực hợp tác giáo dục Vì thế nó được thực hiện nghiên cứu chi tiết và sâu sắc nhưng không thể phản ánh ảnh hưởng của ODA Hàn Quốc trong cả nước và tất cả các ngành ở Việt Nam Còn những công trình nghiên cứu bên phía Việt Nam cũng ít Dù nghiên cứu phân tích về ODA của một nước đặc biệt cũng tồn tại nhưng hầu hết là nghiên cứu về ODA của những nước có quy mô lớn như Nhật Bản hay Pháp, còn nghiên cứu về hỗ trợ của Hàn Quốc thì khó tìm thấy

Vì vậy, đề tài mà chúng tôi chọn là đề tài mới, chưa từng được thực hiện Đặc biệt là trong phần nghiên cứu, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích nguồn vốn hỗ trợ này dưới nhiều góc độ, không chỉ với lập trường của nước hỗ trợ - Hàn Quốc, mà

Trang 8

còn là lập trường của nước tiếp nhận viện trợ - Việt Nam, thông qua đánh giá của chính phủ và truyền thông

4 Giới hạn đề tài và phương pháp nghiên cứu

a Giới hạn đề tài

Với đề tài này, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu tập trung vào nguồn vốn “Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)” của Hàn Quốc đối với Việt Nam và nguồn vốn này được thực hiện trong thời gian 20 năm (từ năm 1982 đến năm 2012) Hầu hết viện trợ không hoàn lại của Hàn Quốc được thực hiện thông qua KOICA, còn viện trợ có hoàn lại thì được thực hiện thông qua EDCF Vì thế nghiên cứu này thực hiện căn cứ vào hỗ trợ phát triển chính thức được thực hiện thông qua KOICA và EDCF

- KOICA (Korea International Cooperation Agency): viện trợ không hoàn lại

- EDCF (Economic Development Cooperation Fund): viện trợ có hoàn lại

Để thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng các tài liệu tham khảo sau đây:

Tài liệu Hàn Quốc

- Tuyên bố chung Việt Nam-Hàn Quốc về việc thiết lập quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược (21 10 2009)

- Luật cơ sở hỗ trợ phát triển quốc tế, Bộ Ngoại Giao và Thương Mại Hàn Quốc (Khoa chính sách phát triển) 02-2100-8344

- Phòng Thủ trướng Quốc vụ, “Chiến lực hiệp lực quốc gia 2011~2015 - Việt Nam, Gana, Quần đảo Solomon”

- Thông báo của Bộ Khoa học Kỹ thuật Giáo dục số 2012-50, “Thông báo Chương trình thí điểm nuôi dưỡng và hỗ trợ trường đại học lãnh đạo hiệp lực quốc tế năm 2012”

- Jang Hyonshick (2011), “Korea International Cooperation Agency 1991~2010”, KOICA

- Han Seungheon (2010), “새로운 ODA 질적평가와 한국에의 시사점”, Tài liệu nghiên cứu nội bộ KOICA, 개발정책포커스 Số 6

- Seo Dongshin (2011), “국제 원조사회의 대 아시아 지원전략과 동향

Trang 9

및 시사점”, Tài liệu nghiên cứu nội bộ KOICA, 개발정책 포커스 Số 7

- Lee Kyewoo, Park Chanyong(2005), “베트남을 위한 중장기 원조사업

계획 Country Program Paper: Vietnam”, Tài liệu nghiên cứu nội bộ KOICA

- Tài liệu nội bộ KOICA (2009), “Chiến lực hỗ trợ dành cho Việt Nam và báo cáo kết quả chương trình hỗ trợ”

- Trang web Bộ Ngoại Giao và Thương Mại Hàn Quốc

- Trang web ODA Korea của Phòng Thủ trướng Quốc vụ,

http://www.odakorea.go.kr/

- Trang web Hiệp hội Thương mại Hàn Quốc

Tài liệu Việt Nam

- Ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, Nghị định 131/ 2006/ NĐ-CP ngày 09/ 11/ 2006

- Quyết định số 106/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt Đề án

"Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và các khoản vốn vay ưu đãi khác của các nhà tài trợ thời kỳ 2011-2015"

- QUYẾT ĐỊNH Phê duyệt Quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia đến năm 2020 (Số 32/2012/QĐ-TTG)

- PHÊ DUYỆT CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

VÀ TRUYỀN THÔNG VIỆT NAM DẾN NĂM 2010 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020 (Số 246/2005/QĐ-TTG)

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 75/2007/QĐ-TTg ngày 28/05/2007

- Kế Hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội 5 năm 2011 – 2015, Bộ Kế hoạchvà Đầu tư

- Trang web Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam

- Trang web UN Agencies in Viet Nam

- Trang web Thế giới và Việt Nam, http://www.tgvn.com.vn

- Báo web Kinh tế Việt Nam, http://ven.vn/

- Báo web – ICT News, http://ictnews.vn

- Báo web Hà Nội Mới, http://hanoimoi.com.vn

- Báo web Công lý, http://congly.com.vn

Trang 10

Tài liệu tổ chức thế giới

- DEVELOPMENT AID AT A GLANCE - STATISTICS BY REGION ASIA (2013), OECD

- Trang web ODCE – DAC, www.oecd.org/dac/stats

b Phương pháp chủ yếu được sử dụng khi thực hiện đề tài này

Để thực hiện nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

So sánh ODA của Hàn Quốc với ODA của các nước khác và tổ chức hỗ trợ

thông qua quan điểm lớn

Phân tích về thành tựu và hạn chế bằng tài liệu báo cáo kết quả của cơ quan

thực hiện Hàn Quốc, tài liệu của chính phủ Việt Nam và bài báo của các báo chí Việt Nam

Tổng hợp nội dung phân tích về thành tựu và hạn chế, đưa ra chiến lược

cho hướng phát triển hiệu quả

c Đóng góp mới của đề tài

Thứ nhất là phân tích những chính sách về ODA của hai nước Việt Nam và Hàn Quốc để hai nước lập kế hoạch và thực hiện chương trình hỗ trợ hiệu quả hơn trong tương lai

Thứ hai là xem xét nỗ lực của Hàn Quốc cho Việt Nam phát triển thông qua phân tích về thành tựu và hạn chế của các chương trình hỗ trợ mà phía Hàn Quốc

Trang 11

Phần Nội dung

Chương 1 Khái quát về ODA của Hàn Quốc đối với Việt Nam

1.1.Khái niệm về hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

(1) Định nghĩa ODA đối với Hàn Quốc

Để nâng cao hiệu quả của hỗ trợ phát triển chính thức, Hàn Quốc đã đưa ra một đạo luật có tên là “Luật cơ sở hỗ trợ phát triển quốc tế”, Bộ Ngoại Giao và Thương Mại Hàn Quốc (Phòng chính sách phát triển) 02-2100-8344 Trong văn bản này, chính phủ Hàn Quốc định nghĩa về ODA như sau:

“Hỗ trợ phát triển quốc tế” nghĩa là hỗ trợ phát triển cho vay hoặc không trả lại mà chính phủ, đoàn thể địa phương hoặc cơ quan công quyền dành cho các nước đang phát triển trực tiếp hoặc gián tiếp để phát triển và nâng cao phúc lợi của quốc gia đối tác (được gọi là “hỗ trợ phát triển giữa hai bên”) và hỗ trợ phát triển giữa nhiều bên được cung cấp thông qua các

tổ chức quốc tế (23, số 2 câu 1)

Tinh thần cơ sở và mục tiêu

A Xóa đói giảm nghèo cho các nước đang phát triển

B Nâng cao nhânquyền cho phụ nữ, trẻ em và thực hiện xóa bỏ sự phân biệt đối xử nam nữ

C Thực hiện sự phát triển bền vững và chủ nghĩa nhân đạo

D Nâng cao quan hệ kinh tế với quốc gia đối tác

E Theo đuổi hòa bình và phồn vinh của xã hội toàn cầu.(23)

(2) Định nghĩa về ODA của OECD

Khái niệm của DAC - Uỷ ban Hỗ trợ Phát triển (Development Assistance Committee-DAC) - Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD), năm 1969

“ODA là những luồng tài chính chuyển tới các nước đang phát triển và tới những tổ chức đa phương để chuyển tới các nước đang phát triển mà:

Trang 12

- được cung cấp bởi các tổ chức chính phủ (trung ương và địa phương) hoặc bởi

cơ quan điều hành của các tổ chức này;

- có mục tiêu chính là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phúc lợi của các nước đang phát triển;

- mang tính chất ưu đãi và có yếu tố không hoàn lại ≥ 25% (được tính với tỷ suất chiết khấu 10%)”(33)

(3) Định nghĩa về ODA của Việt Nam

Theo Nghị định số 87/CP ngày 5-8-1997 của Chính phủ Việt Nam thì ODA bao gồm các khoản tiền viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay ưu đãi với phần không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của khoản vay Còn theo Quy chế quản

lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành kèm theo Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính Phủ thì ODA được định nghĩa như sau:

“Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA): là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính Phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ”

1.2 Tình hình kinh tế Việt Nam và tính thiết yếu của ODA

1.2.1 Tình hình kinh tế Việt Nam

Việt Nam là một nước đang phát triển với dân số đông, trong hơn 30 năm qua đang phải phục hồi khỏi sự tàn phá của chiến tranh Sau khi Liên bang Xô viết tan

rã, Việt Nam mất đi chỗ dựa về tài chính Đồng thời, sự cứng nhắc của nền kinh tế

kế hoạch hóa tập trung đã khiến cho nền kinh tế Việt Nam không có nhiều điều kiện phát triển Sau nhiều năm với các cuộc chiến tranh kéo dài, trong hoàn cảnh bị

cô lập về chính trị và trì trệ về kinh tế, Việt Nam đang nhanh chóng hòa mình vào dòng chảy chung của kinh tế và chính trị thế giới Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách Đổi Mới, hướng tới một nền kinh tế thị trường Trong môi trường tự do đầu tư, những nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới đang thể hiện rõ sự quan tâm chưa từng có đối với Việt Nam

Trang 13

Tăng trưởng GDP hàng năm đạt mức 8-9,5% trong suốt hơn mười năm cho đến năm 1997 Mặc dù vậy, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, tốc

độ tăng trưởng của Việt Nam giảm xuống còn 5,8% năm 1998, 4,7% năm 1999 nhưng sau đó phục hồi và đạt mức 6,7% năm 2000, 7% năm 2002, 7,7% năm 2004, 8% năm 2006 và 8,5% năm 2007 Năm 2008, nền kinh tế thế giới trong năm 2008

đã chứng kiến sự suy thoái sâu rộng trên quy mô toàn cầu Trong bối cảnh đó, nền kinh tế Việt Nam cũng chịu tác động mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng GDP là 6,23% 5,32% vào năm 2009, 6,78% năm 2010, 5,89% năm 2011

Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2000-2011

Kinh tế Việt Nam được chia thành 3 khu vực (hay còn gọi 3 ngành lớn) kinh tế,

đó là: 1) nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; 2) công nghiệp (bao gồm công nghiệp khai thác mỏ và khoáng sản, công nghiệp chế biến, xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất và phân phối khí, điện, nước); 3) thương mại, dịch vụ, tài chính,

du lịch, văn hóa, giáo dục, y tế

Vào năm 2007, khu vực thứ nhất chiếm 20,29 % GDP thực tế, khu vực thứ hai chiếm 41,58 % (trong đó công nghiệp chế biến chiếm 21,38 %)

Về cơ bản, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, việc gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và trở thành thành viên WTO đã tạo

ra những sự thay đổi nhanh chóng hơn đối với thể chế kinh tế và thương mại của Việt Nam Tỉ lệ dân số sống dưới mức nghèo, được xác định bằng tỉ lệ dân số sống dưới mức 1 USD/ngày, đã giảm đáng kể và thấp hơn các nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ và Philippines Các nhà đầu tư coi Việt Nam là điểm đến hấp dẫn thứ nhì trong khu vực sau Trung Quốc Tuy nhiên, nền kinh tế cũng đang bọc lộ ngày càng rõ những lo ngại về chất lượng và sự bền vững của quá trình tăng trưởng, xét

cả về trung hạn và dài hạn như:

1 Chất lượng tăng trưởng kinh tế không cao, thể hiện ở tốc độ chuyển dịch cơ cấu chậm, tính hiệu quả và sức cạnh tranh thấp

Cơ cấu kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã có sự chuyển dịch tích cực (mặc dù chưa rõ nét): tỷ trọng nông- lâm- thuỷ sản trong GDP đã giảm đều đặn (từ 40,5% xuống 22,09% trong thời kỳ 1991-2008) và tỷ trọng công nghiệp- xây dựng tăng lên tương ứng (từ 23,8% tăng lên 39,73% trong cùng thời kỳ) Trong khi đó,

Trang 14

khu vực dịch vụ sau một thời gian dài chững lại (1995-2004) và tăng chậm hơn nhịp độ tăng trưởng chung của GDP, hiện nay đã trở lại tốc độ tăng trưởng khá

Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế Việt Nam chuyển dịch chậm hơn dự kiến, kể cả cơ cấu ngành, cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ Trong nhiều năm qua, xét theo tỷ trọng giá trị tăng thêm trong GDP, cơ cấu kinh tế chủ yếu biến đổi theo sự chuyển dịch của hai nhóm ngành nông- lâm - thủy sản và công nghiệp- xây dựng Tỷ trọng dịch vụ trong GDP trồi sụt theo từng năm và chưa thể hiện một xu thế chuyển dịch

rõ ràng hướng tới một cơ cấu hiện đại, trong khi đây là khu vực có rất nhiều cơ hội

và tiềm năng phát triển Mục tiêu đặt ra cho chuyển dịch cơ cấu ngành trong GDP năm 2010 (khu vực nông nghiệp 15-16%; công nghiệp và xây dựng 43- 44%; dịch

vụ 40- 41%) rất khó đạt được

Sự chuyển dịch cơ cấu ngành có liên quan chặt chẽ đến cơ cấu lao động và cơ cấu đầu tư Cơ cấu lao động chưa có sự chuyển dịch rõ rệt theo hướng tiến bộ, lao động chưa có việc làm còn lớn, đang bị “tắc nghẽn” trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn Trong khi đó, cơ cấu đầu tư thể hiện sự mất cân đối lớn giữa nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản và tình trạng đầu tư tràn lan ở các địa phương

Nhìn từ góc độ dài hạn, quá trình chuyển dịch cơ cấu chưa diễn ra theo một quy hoạch chiến lược tổng thể có tầm nhìn dài hạn, với một lộ trình hợp lý và được bảo đảm thực hiện nghiêm ngặt Những năm qua là giai đoạn hình thành cơ cấu được định hướng bởi các quy hoạch mang tính cục bộ ngành và địa phương, nhằm phục

vụ cho các lợi ích cục bộ và ngắn hạn Chính vì thế, quy hoạch tổng thể thường bị điều chỉnh, phá vỡ, hiệu quả đầu tư thấp, cơ cấu chuyển dịch không đúng yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng cao, bền vững, nâng cao sức cạnh tranh Tất cả những điều nói trên phản ánh tầm nhìn cơ cấu hạn chế, nặng về hiện vật và tư duy “chính sách ngành”, chưa theo kịp các xu hướng công nghệ và nguyên lý phát triển hiện đại

Sức cạnh tranh của nền kinh tế: Năng lực cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước được chia thành ba nhóm: (1) nhóm các sản phẩm có thế mạnh xuất khẩu, (2) nhóm các sản phẩm có thể cạnh tranh trong tương lai, nhưng hiện vẫn cần

Trang 15

được bảo hộ, và (3) nhóm các sản phẩm không thể cạnh tranh quốc tế Đối với nhóm thứ nhất, năng lực cạnh tranh thể hiện ở chỉ tiêu tỷ lệ giá trị xuất khẩu trong giá trị sản xuất của Việt Nam liên tục tăng trong các năm qua Tuy nhiên, sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu còn chậm, chưa có tính đột phá, các sản phẩm trong nhóm có thế mạnh xuất khẩu chưa khẳng định sự vượt trội về chất lượng và giá trị gia tăng cao Nhiều mặt hàng kim ngạch tăng chủ yếu dựa vào biến động giá của thị trường thế giới nên sự tăng trưởng này còn mang tính bất ổn, thiếu bền vững Bên cạnh đó, phần lớn các mặt hàng trong nhóm thứ hai và thứ ba của Việt Nam đã được bảo hộ trong một thời gian dài, tuy nhiên cho đến nay, những hàng hoá thuộc hai nhóm này vẫn có chất lượng kém và giá thành cao, không thể cạnh tranh trên thị trường trong nước chứ chưa nói đến khả năng xuất khẩu

Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước được thể hiện rõ nhất qua các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất kinh doanh và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu Từ năm 2000 đến nay, nhìn chung, hai chỉ tiêu trên của Việt Nam đều thấp, mặc dù có xu thế tăng trong các năm 2000-2004 (tỷ suất lợi nhuận trên vốn đạt 4,85% năm 2004), nhưng lại giảm vào năm 2005 (4,42%) Nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ quy mô sản xuất kinh doanh nhìn chung vẫn là nhỏ

và siêu nhỏ, đi kèm với trình độ kỹ thuật công nghệ thấp: số doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2005 chiếm tới 96,81%; số doanh nghiệp có trang bị tài sản cố định dưới

5 tỷ đồng chiếm 86% Trong các thành phần kinh tế, tỷ suất lợi nhuận của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cao nhất và liên tục tăng (từ 9% năm 2000 lên 13% năm 2004) Đáng lo ngại là khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước (chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ), với tỷ suất lợi nhuận trên vốn giảm từ 2,3% năm

2001 xuống còn 1,6% năm 2004 Rõ ràng là các doanh nghiệp càng nhỏ, trình độ công nghệ càng yếu, thì tỷ suất lợi nhuận đạt được càng thấp Khi so sánh tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, chúng ta cũng có một kết luận tương tự Tính chung tỷ suất lợi nhuận trên vốn và trên doanh thu của các doanh nghiệp đầu tư trong nước đều thấp hơn tỷ lệ lãi suất vay ngân hàng

Với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của sản phẩm còn rất thấp, năng lực cạnh tranh trên bình diện quốc gia của Việt Nam cũng không mấy khả quan

Trang 16

Mặc dù ổn định kinh tế vĩ mô, tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư cao trong GDP, chính sách đối với FDI được cải thiện là những yếu tố cơ bản tạo ra tính cạnh tranh cho toàn

bộ nền kinh tế của Việt Nam, thế nhưng theo báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) về cạnh tranh toàn cầu, Việt Nam luôn nằm ở nhóm nước có năng lực cạnh tranh thấp của thế giới, và năng lực cạnh tranh của Việt Nam hầu như không được cải thiện theo thời gian, thậm chí còn xấu đi: số nước tham gia xếp hạng càng tăng thì thứ hạng cạnh tranh của Việt Nam càng bị tụt xuống Tại nhiều tiêu chí trong bảng xếp hạng về năng lực cạnh tranh của WEF, Việt Nam đứng cuối bảng WEF cũng đánh giá trong 15 vấn đề khó giải quyết nhất của Việt Nam và có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường kinh doanh thì 3 vấn đề nghiêm trọng nhất là lạm phát, sự yếu kém của cơ sở hạ tầng và sự thiếu hụt lao động được đào tạo Ba vấn đề trên được đánh giá có mức độ nghiêm trọng nhất, vượt trên cả vấn nạn tham nhũng, chính sách không ổn định và căn bệnh thủ tục hành chính

2 Chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa bền vững, thể hiện ở các vấn đề xã hội

và môi trường ngày càng bức xúc

Dưới góc độ xã hội – môi trường, cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế, sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ nét và có chiều hướng gia tăng; chất lượng nguồn nhân lực cũng chưa theo kịp yêu cầu tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế; tỷ lệ thời gian lao động không được sử dụng ở nông thôn vẫn còn cao; tốc độ xoá đói giảm nghèo bắt đầu chững lại trong những năm gần đây; tốc độ suy thoái

và ô nhiễm môi trường diễn ra nhanh chóng Đây là những biểu hiện đáng báo động về chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

Lao động và việc làm

Rõ ràng lợi thế về nguồn lao động dồi dào của Việt Nam không được sử dụng hết, thậm chí vẫn đang bị lãng phí nghiêm trọng, bởi cho đến nay, vẫn có tới 4,7% lao động ở thành thị thất nghiệp và gần 20% lao động ở nông thôn chưa được sử dụng Theo ước tính, số thất thoát thời gian lao động trên tương đương với trên 10 triệu lao động thất nghiệp hoàn toàn Đặc biệt, thực tế cho thấy, so sánh giữa tỉnh,

Trang 17

thành phố, nơi nào có trình độ phát triển kinh tế càng cao thì tỷ lệ thất nghiệp càng cao, tiêu biểu là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh

Có thể nói, nguồn lao động lớn chưa sử dụng hoặc sử dụng chưa hiệu quả đang trở thành vấn đề xã hội Thất nghiệp, thiếu việc làm, không chỉ khiến người lao động không có thu nhập để trang trải cuộc sống, không đủ để tái sản xuất sức lao động, khó thoát được nghèo đói, mà còn dẫn đến nhiều vấn đề xã hội như gây phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, tệ nạn xã hội và tội phạm tăng… Sức ép về dân số tiếp tục gia tăng cũng sẽ làm cho tình trạng thiếu việc làm căng thẳng hơn trong thời gian tới

Nguyên nhân trực tiếp, dễ thấy nhất của tình trạng trên chính là sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ còn chậm Tỷ trọng đóng góp vào tốc độ tăng trưởng do yếu tố vốn đóng góp còn chiếm tới gần 60%, còn do yếu tố lao động chỉ chiếm khoảng 20% (và do yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp chỉ chiếm trên 20%)

Xóa đói giảm nghèo

Mặc dù Việt Nam đã hoàn thành sớm kế hoạch toàn cầu “giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015” mà Liên hợp quốc đề ra, nhưng thành tựu xoá đói giảm nghèo vẫn chưa vững chắc Số hộ có mức thu nhập bình quân đầu người nằm ngay cận trên của chuẩn nghèo còn khá nhiều và nguy cơ bị tổn thương của các hộ này trước những đột biến bất lợi còn lớn và khả năng tái nghèo còn cao Điều này thể hiện ở việc nếu so với mức “chuẩn” cũ của Việt Nam, năm 2008 người nghèo chiếm khoảng 13,5%; còn nếu theo chuẩn mới, tỷ lệ người nghèo sẽ tăng lên 20% Nhưng, nếu tính theo cách của thế giới thì tỷ lệ này còn cao gấp 2-3 lần

Điều dễ nhận thấy là người nghèo đang gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận

và hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản Khả năng tiếp cận các dịch vụ, lợi ích của tăng trưởng và thành quả do sự phát triển mang lại cho mọi công dân một cách khách quan và công bằng chưa cao Chẳng hạn, trong lĩnh vực y tế và giáo dục, báo

Trang 18

cáo của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc về an sinh xã hội cho biết nhóm 20% giàu nhất hưởng 45% các trợ cấp y tế, nhóm 20% nghèo nhất chỉ nhận được 7%; nhóm 20% giàu nhất hưởng 35% các trợ cấp giáo dục, trong khi nhóm 20% nghèo nhất chỉ nhận có 15% (Trần Hải Hạc, 2008) Bởi vậy, chỉ số đói nghèo HPI (tỷ lệ người sống dưới ngưỡng các phương diện phát triển con người) của Việt Nam rất cao, xếp thứ 36/177 quốc gia trong năm 2008 Những người thiếu thốn nhất tại Việt Nam phải chịu cảnh đói nghèo ở nhiều phương diện nhất

Chất lượng nguồn nhân lực và các vấn đề giáo dục và y tế

Sự phát triển toàn diện con người Việt Nam đã được khẳng định thông qua sự gia tăng vững chắc của chỉ số HDI trong 15 năm qua, và trong báo cáo về phát triển con người của Liên hợp quốc năm 2005, Việt Nam đã được chú ý như một ví dụ thành công tiêu biểu cho nhóm nước đang phát triển cân bằng phát triển kinh tế và phát triển con người Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung ở Việt Nam còn thấp, cơ cấu còn bất hợp lý, chưa đáp ứng tốt nhu cầu đào tạo nhân lực, nhân tài Điều này không chỉ ảnh hưởng đến việc tăng cơ hội việc làm và thu nhập, mà còn là yếu tố hạn chế sức cạnh tranh của nền kinh tế và việc nâng cao chất lượng tăng trưởng

Theo kết quả điều tra lao động và việc làm của Tổng cục Thống kê, năm 2007

số người được đào tạo nghề nghiệp và kỹ năng (có trình độ sơ cấp hoặc có chứng chỉ hành nghề trở lên) chỉ chiếm 24%, rất thấp so với các nước trong khu vực Hơn thế nữa, cơ cấu đào tạo của lực lượng lao động còn nhiều bất hợp lý, số lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật còn quá thiếu so với yêu cầu Đội ngũ lao động trí thức của Việt Nam cũng yếu kém cả về số lượng và chất lượng so với khu vực và thế giới, chưa đáp ứng được yêu cầu triển khai công nghệ mới theo những mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống giáo dục - đào tạo, nhưng chất lượng giáo dục - đào tạo của cả hệ thống giáo dục quốc dân nói chung, vẫn là một vấn đề nhức nhối của cả đất nước trong nhiều năm trở lại đây Chi cho giáo dục bình quân đầu người ở Việt Nam hiện nay cũng vào loại thấp nhất trong

Trang 19

khu vực, và lại tập trung quá nhiều vào giáo dục tiểu học, trong khi cần ưu tiên cho giáo dục đại học để nâng cao nguồn lực con người, hỗ trợ cho nền kinh tế và đảm bảo tốc độ tăng trưởng trong nước Việc cải cách hệ thống giáo dục được xem như một khâu nền tảng của một chiến lược phát triển nguồn nhân lực, chưa được triển khai một cách hiệu quả

Bên cạnh đó, trong lĩnh vực y tế, hiện vẫn còn một số khó khăn và đứng trước nhiều thách thức Tình trạng quá tải của các cơ sở khám chữa bệnh, đặc biệt là ở các trung tâm, các thành phố lớn, ở các tuyến trên còn ở mức rất cao và kéo dài Việc chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo còn hạn chế, chi phí cho y tế còn cao, quản lý nhà nước đối với một số lĩnh vực y tế còn buông lỏng, dẫn đến thị trường thuốc chữa bệnh chưa được kiểm soát chặt chẽ, an toàn thực phẩm còn thấp…

Công bằng xã hội và sự phân hóa giàu nghèo

Báo cáo Phát triển con người năm 2005 của UNDP đã ca ngợi Việt Nam đạt được tăng trưởng và vẫn đảm bảo sự công bằng Theo nhiều nhận xét chuyên gia,

hệ số Gini của Việt Nam tương đối ổn định trong giai đoạn 2002-2006 và vào loại trung bình của thế giới Tuy nhiên, xu hướng bất bình đẳng giữa người giàu và người nghèo vẫn đang ngày càng rõ rệt tại Việt Nam, thể hiện qua hệ số Gini tăng dần theo thời gian: từ 0,35 năm 1993 lên 0,43 năm 2006 Thực tế cho thấy tác động của tăng trưởng kinh tế tới giảm nghèo đang có xu hướng giảm và bất bình đẳng lại tăng lên tương ứng Năm 1990, sự cách biệt của 20% số hộ giàu nhất và 20% số hộ nghèo nhất chỉ là 4,1 lần; nhưng con số đã tăng lên 8,37 vào năm 2006 Khoảng cách nông thôn – thành thị, sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng trong

cả nước ngày càng lớn

Thực trạng trên trước hết cho thấy sự tồn tại của hai vấn đề: một là chênh lệch chính của một bộ phận người giàu và tình trạng nghèo khó của một bộ phận người nghèo; hai là sự điều tiết của Nhà nước bằng nhiều biện pháp như thuế thu nhập, chính sách phân phối, chính sách xã hội cần làm tốt hơn

Trang 20

Phân tích sâu hơn, chúng ta có thể thấy mặc dù kinh tế có bước tăng trưởng cao trong những năm qua, nhưng hiệu quả của nó tác động đến người nghèo lại giảm tương đối so với các tầng lớp có thu nhập cao Theo một kết quả nghiên cứu, người nghèo không được hưởng đầy đủ các kết quả của quá trình tăng trưởng Nếu tăng trưởng kinh tế tăng 10 điểm phần trăm, thì người nghèo chỉ có thể được hưởng lợi

số đó Trái lại, nhóm các hộ giàu có thể khai thác nhiều hơn cơ hội tăng trưởng cho phúc lợi của mình Kết quả là, trong khi tăng trưởng kinh tế góp phần to lớn vào xóa đói giảm nghèo thì chính nó lại gia tăng thêm khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, do thành quả tăng trưởng không được chia sẻ một cách đồng đều mà theo hướng có lợi cho nhóm người vốn đã có cuộc sống dư dật, khá giả hơn Ở đây có

sự đánh đổi giữa mục tiêu tăng trưởng và công bằng xã hội Sở dĩ có tình trạng trên

là do tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng tập trung vào các ngành đòi hỏi vốn cao,

ít lao động và lao động có trình độ cao, điều này chắc chắn tác động trực tiếp đến người nghèo, những người mà bản thân ít vốn liếng, tri thức và trình độ cao để tham gia vào các ngành sản xuất đó Các chính sách bảo hộ, thay thế nhập khẩu sẽ làm tăng chi phí sản xuất và giá cả sản xuất đối với hàng triệu người nghèo Cơ hội việc làm, thu nhập, tiếp cận thông tin, tri thức của người nghèo vì thế ngày càng thấp – điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong những năm tiếp theo

Nền kinh tế Việt Nam lựa chọn là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy tăng trưởng kinh tế mà Đảng và Nhà nước đã xác định là tăng trưởng

có chất lượng, tăng trưởng bền vững, tăng trưởng vì con người, vì một xã hội ngày càng công bằng hơn, dân chủ hơn, tăng trưởng gắn với bảo vệ môi trường Tuy nhiên, kinh nghiệm của chính nền kinh tế đổi mới của nước ta trong những năm gần đây cho thấy rằng tốc độ tăng trưởng cao không nhất thiết đi liền với xu hướng tạo ra một nền kinh tế mạnh Bằng việc xác định rõ định hướng phát triển trong dài hạn, Việt Nam cần có sự lựa chọn thứ tự ưu tiên các mục tiêu phát triển phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, tài nguyên, môi trường trong từng giai đoạn nhất định,

từ đó thực sự có những bước phát triển bền vững

1.2.2 Tính thiết yếu của ODA đối với Việt Nam

Trang 21

1 ODA là nguồn vốn có vai trò quan trọng trong việc bổ sung vốn cho đầu tư phát triển

Vốn đầu tư cùng với tài nguyên thiên nhiên, lao động và kỹ thuật tạo thành 4 yếu tố vật chất, xã hội Tất cả các nước khi tiến hành công nghiệp hóa đều cần vốn đầu tư lớn Đó chính là trở ngại lớn nhất để thực hiện chương trình công nghiệp hóa đối với các nước nghèo

2 ODA giúp tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại, và phát triển nguồn nhân lực

Những lợi ích quan trọng mà ODA mang lại cho nước tiếp nhận tài trợ là công nghệ, kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và trình độ quản lý tiên tiến Các nhà tài trợ còn ưu tiên đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực vì họ tin tưởng rằng phát triển của một quốc gia quan hệ mật thiết với việc phát triển nguồn nhân lực

Ngoài ra nguồn vốn còn là nguồn lực quan trọng hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, tăng cường thể chế, phát triển các lĩnh vực xã hội, như y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường, phát triển nông thôn, đặc biệt là trong công tác xóa đói giảm nghèo

1.3.Tình hình tiếp nhận ODA của Việt Nam

Sau năm 1986, Việt Nam bắt đầu chính sách mở cửa cải cách “Đổi Mới”, từ

đó Việt Nam đã nhận được nhiều nguồn vốn ODA từ các nước hỗ trợ tiên tiến và các tổ chức hỗ trợ quốc tế để sử dụng cho việc phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và nâng cao mức sống nhân dân Các nước hỗ trợ ODA chủ yếu là Nhật Bản, Pháp, Đan Mạch có 25 nước, tổ chức hỗ trợ ODA quốc tế là 19 tổ chức như Ngân hàng Quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu Á 369 tổ chức phi chính phủ (NGO) quốc tế Việt Nam đã được đánh giá là nước nhận được ODA lớn trên thế giới do khả năng sử dụng nguồn vốn này hiệu quả, thành quả ODA có thể nhìn thấy rõ ràng, hệ thống tiếp nhận ưu tú Theo báo cáo của OECD, năm 2011 Việt Nam trở thành quốc gia tiếp nhận ODA nhiều thứ hai ở châu Á

<Bảng 1.1 - Các quốc gia tiếp nhận ODA nhiều nhất Châu Á năm 2011>(32, tr.2)

Trang 22

Quốc Gia tiền Số Tỉ lệ

(Nguồn: OECD, Đơn vị: triệu USD)

Như vậy so với đầu những năm 2000, nguồn ODA đổ vào Việt Nam bắt đầu

tăng nhanh chóng Mặc dù năm 2008 bị khủng hoảng tiền tệ thế giới và Việt Nam

xếp vào nước thu nhập bình quân thấp nhưng xu thế vẫn là ODA tiếp tục tăng

<Bảng 2.1 – Vốn ODA cam kết và sử dụng thực tế từ nam 1993-2012>(15)

Như đã nói ở trên, Việt Nam là một nước nhận được ODA lớn từ rất nhiều

nước và tổ chức quốc tế khác vì tính sử dụng và sự phụ thuộc vào rất thích hợp,

Cam kết

Sử dụng

Trang 23

rành mạch Trong GDP của Việt Nam, tỉ lệ ODA chiếm chỉ 4 % nên mức độ phụ thuộc vào ODA thấp Trong ngân sách chính phủ, tỉ lệ ODA chiếm cũng là trên dưới 15% nên duy trì mức độ ổn định Do tiềm năng phát triển của Việt Nam và

sự đạt được kết quả như mong đợi của ODA nên nhiều quốc gia vẫn tiếp tục hỗ trợ cho Việt Nam một cách ổn định Ngoài ra, tại Hội nghị các nhà tư vấn cho Việt Nam 2011 (CG 2011), các nhà tài trợ đã cam kết ủng hộ cho Việt Nam 7,386

tỷ USD vốn ODA cho năm tài khóa 2012 Mặc dù thấp hơn con số 7,905 tỷ USD của năm 2011 và con số 8,063 tỷ USD của năm 2010, nhưng theo các chuyên gia,

“đây vẫn là con số khá cao trong bối cảnh những bất ổn kinh tế thế giới vẫn còn tiếp diễn, nhiều quốc gia hỗ trợ ODA cho Việt Nam đang đứng trước những khó khăn.”(5) Như vậy điều này có nghĩa là Việt Nam đã được cácquốc gia hỗ trợ tin tưởng Các lĩnh vực sử dụng đượcnguồn viện trợ ODA thường là kinh tế xã hội,

cơ sở hạ tầng chiếm phần lớn

1.3.1.Hỗ trợ từ Hàn Quốc

Lịch sử hỗ trợ của Hàn Quốc đối với Việt Nam

Ngày 22 tháng 12 năm 1992, Việt Nam và Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ, bắt đầu thành lập hạ tầng quan hệ nâng cao hợp tác kinh tế và xã hội cho tương lai Sau đó, vào năm 1994 thì văn phòng đại diện ở nước ngoài của KOICA được thành lập tại Việt Nam nên công việc hỗ trợtrở nênnhanh chóng và

dễ dànghơn Sau khi thiết lập ngoại giao, Việt Nam đã trở thành quốc gia đối tác nhận được sự quan tâm đặc biệt của Hàn Quốc Nguồn hỗ trợ này được sử dụng chủ yếu trong các lĩnh vực y tế và giáo dục Ở lĩnh vực y tế, việc cung cấp nước an toàn bằng cách phát triển nguồn nước và nâng cao chất lượng phục vụ y tế bằng cách thành lập cơ sở vật chất y tế là hoạt động chủ yếu, còn ngành giáo dục thì tập trung vào chương trình huấn luyện nghề.(18, tr.106)

Hệ thống xúc tiến công tác hỗ trợ của Hàn Quốc

Hệ thống xúc tiến công tác hỗ trợ ngoại giao của Hàn Quốc được thành lập với

ba tổ chức lớn Cơ quan lập và thực hiện chính sách viện trợ có hoàn lại là Bộ Kế hoạch Tài chính và một cơ quan trực thuộc Bộ có tên là Ngân hàng Xuất nhập khẩu

Trang 24

Hàn Quốc (Keximbank) Còn cơ quan lập và thực hiện chính sách của viện trợ

không hoàn lại là Bộ Ngoại giao và Thương mại và cơ quan trực thuộc Bộ là

KOICA Và cơ quan cấp cao có tên là Ủy ban Hiệp lực Phát triển Quốc tế đã được

thành lập trực thuộc Văn phòng Thủ tướng Quốc vụ để quản lý toàn bộ và xem xét

công việc

Sự thay đổi tổng số tiền viện trợ Hàn Quốc đối với Việt Nam

Từ năm 1991 đến năm 2011, Hàn Quốc đã hỗ trợ tất cả là 1.394 triệu USD

(không hoàn lại: 135 triệu đô-la / có hoàn lại: 1.259 triệu đô-la) để giúp Việt Nam

phát triển

Tổng số

tiền

Viện trợ không hoàn

(đơn vị: triệu USD)(30)Theo khu vực thì vùng châu thổ sông Hồng và Thủ đô Hà Nội chiếm 39% và

khu vực Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 30% là nơi được tập trung hỗ trợ, còn

khu vực cao nguyên miền trung thì mức độ hỗ trợ thấp.(24, tr.25)

Hàn Quốc là một quốc gia mới bắt đầu hỗ trợ nước ngoài nhưng đã tập trung

vào việc giúp Việt Nam với dự toán nguồn vốn ODA cho Việt Nam cao nhất Hơn

nữa số tiền đó tăng lên theo từng năm.(20, tr.38)

Trang 25

<Bảng 3.1 - Kết quả chương trình hỗ trợ Việt Nam của KOICA>(18, tr.107)

(Đơn vị: triệu USD)Nă

Trang 26

<Bảng 4.1 – Sự thay đổi hỗ trợ Việt Nam của KOICA>

Lĩnh vực chủ yếu của viện trợ Hàn Quốc đối với Việt Nam

Trước đây các chương trình hỗ trợ đã được thực hiện một cách không tập trung nên về sau KOICA đã quyết địnhchỉ tập trung việc hỗ trợ vào5 lĩnh vực và 1 lĩnh vực chung để việc thực hiện đạt hiệu quả tốt hơn

- Giúp đào tạo nhân lực thông qua việc tạo nhiều

cơ hội tiếp cận giáo dục cơ sở, đào tạo nhân lực kỹ thuật và đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với tầng lớp nghèo ở vùng sâu, vùng xa của các nước đang phát triển

- Cải thiện hoàn cảnh có tính tổng hợp bằng cách

Trang 27

xây dựng · nâng cấp thiết bị giáo dục, cải thiện chính sách và chế độ giáo dục huấn luyện, viết giáo trình và chương trình giáo khoa, nâng cao năng lực giáo viên, hỗ trợ các thiết bị giảng dạy

Cho vay

- Xây dựng trung tâm huấn luyện nghề quy mô lớn

để nâng cao kỹ thuật và sức sản xuất, giúp liên kết với chương trình giáo dục công nghệ thông tin như giáo dục từ xa (e-learning)

- Hỗ trợ nâng cao hệ thống bảo vệ sức khỏe và y

tế của các nước đang phát triển thông qua việc nâng cao khả năng cho những người làm công tác bảo vệ sức khỏe và y tế, cải thiện chế độ và nâng cao sức tiếp cận phục vụ

- Nâng cao việc bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em, nâng cao hỗ trợ chống bệnh tật cho tầng lớp yếu thiếu như phòng chống và nâng cao sức kiểm soát

về bệnh truyền nhiễm

Cho vay

- Thành lập hệ thống tổng thể (Total System) liên kết kế hoạch phát triển, xây dựng bệnh viện, cung cấp dược phẩm ban đầu dùng cho cấp cứu, đào tạo nhân lực y tế, giữ gìn và phát triển để sử dụng lâu dài chứ không phải chỉ cấp thời

Hành

chính

công

Không hoàn lại

- Nâng cao khả năng hành chính và việc cải thiện chế độ công quyền thông qua phát triển khả năng (Capacity Development) của chính phủ các nước đang phát triển - chủ thể chính của phát triển quốc gia đó

- Truyền chiến lực phát triển tính chủ đạo của chính phủ như phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp, nuôi dưỡng các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách khoa học kỹ thuật, v.v., nâng cao khả năng hành chính công như chính phủ điện tử, giáo

Trang 28

dục huấn luyện viên chức v.v., hỗ trợ bằng các hình thức cải thiện hành chính và chính sách xã hội như thuế, hải quan, quyền sở hữu công nghiệp, môi trường, thống kê, lập pháp, tư pháp, v.v

Cho vay

- Hỗ trợ chương trình nâng cao năng lực chính phủ của các quốc gia đối tác thông qua sự linh kết với kỹ thuật hành chính và công nghệ thông tin của Hàn Quốc như chính phủ điện tử

- Giúp xóa đói giảm nghèo bằng cách nâng cao khả năng sản xuất nông nghiệp và tăng thu nhập đối với nông dân của các nước đang phát triển

- Xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp như truyền đạt kỹ thuật nông nghiệp, cải thiện chính sách và chế độ nông nghiệp, phát triển hệ thống nước sử dụng cho nông nghiệp, thiết bị nghiên cứu nông nghiệp v v., hỗ trợ bằng hình thức cung cấp vật tư sản xuất nông nghiệp như máy móc nông nghiệp, phân bón,

v v

Cho vay

- Tập trung vào phát triển nông thôn quy mô lớn, chương trình hệ thống cung cấp nước ruộng để nâng cao hạ tầng nông nghiệp

- Xây dựng cơ sở hạ tầng vừa hiệu quả vừa dễ tiếp cận vì hết sức cơ bản của các nước đang phát triển

- Hỗ trợ bằng cách tra xét tính hợp lý trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng như đường bộ, đường sắt, cảng, v v., nâng cao chính sách cung cấp và phục

vụ điện lực, phát triển tổng hợp lãnh thổ và tra xét tính hợp lý sử dụng đất đai, đào tạo nhân lực, xây dựng thiết bị

Cho - Hệ thống giáo thông hoặc cơ sở hạ tầng như

Trang 29

vay đường bộ, đường sắt, cảng, v v., tập trung vào các

phương tiện giao thông tương lai ít thải ra cácbon như xe buýt CNG, tàu điện nhẹ

- Tập trung vào cơ sở hạ tầng năng lượng có tính phi doanh nghiệp như xâp dựng hệ thống cung cấp

và phân phối điện lực, nâng cao hiệu quả năng lượng, năng lượng tái tạo, v.v

Lĩnh

vực

chung

Không hoàn lại

- Khi thực hiện chương trình hỗ trợ thì phản ánh

đủ tiêu chuẩn giá trị như môi trường, phụ nữ, nhân quyền, chủ nghĩa dân chủ, v v

- Tiếp tục giúp các nước thuộc về “toàn Đông Á

về biến đổi khí hậu” thực hiện các chương trình để phát triển xanh

- Tiếp tục thực hiện các chương trình thực hiện nâng cao nhân quyền và bình đẳng giới của dân nhân các quốc gia đối tác

Cho vay

- Hỗ trợ các nước đang phát triển nâng cao khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu, hỗ trợ các lĩnh vực tăng trưởng xanh để xây dựng cơ sở hạ tầng

(Nguồn: KOICA và kế hoạch cơ sở hiệp lực phát triển nước ngoài )

Đặc điểm của hỗ trợ Hàn Quốc

Khác với các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản hoặc các nước phương Tây, hiện nay Hàn Quốc không thể hỗ trợ đến các lĩnh vực cần vốn lớn như cơ sở hạ tầng xã hội Như vậy, để đạt được hiệu quả với số tiền không lớn đó, chính phủ Hàn Quốc đang thực hiện chương trình hỗ trợ tập trung mạnh vào những lĩnh vực

so với các nước khác như: lĩnh vực giáo dục và đào tạo, điều tra sự hợp lý trong lĩnh vực khai thác tài nguyên hoặc xây dựng, tư vấn về kinh tế, kinh doanh, lĩnh vực môi trường bằng cách gửi chuyên gia đến huấn luyện, đào tạo hoặc yêu cầu phía Việt Nam cử các tu nghiệp sinh đến Hàn Quốc để học tập

Trang 30

1.3.2 Hỗ trợ từ các chính phủ

1) Nhật Bản

Nước hỗ trợ Việt Nam lớn nhất từ năm 1992 - Nhật Bản - đã hỗ trợ trong năm 2010-2011 là 1.234 triệu USD(33), còn vào năm 2012 thì tăng đến 1,9 tỷ USD(5) Thứ tự ưu tiên trong chương trình hỗ trợ của chính phủ Nhật Bản là ba lĩnh vực: Xúc tiến tăng trưởng, Nâng cao chất lượng đời sống, Phát triển hệ thống xã hội

<Bảng 5.1 - Thứ tự ưu tiên hỗ trợ đối với Việt Nam của Nhật Bản>(19, tr.87)

thông, thông tin) 4) Phát triển nguồn nhân lực để tăng trưởng 5) Cải cách kinh tế bao gồm doanh nghiệp nhà nước

Nâng cao chất

lượng đời sống

1) Giáo dục 2) Sức khỏe và phục vụ y tế 3) Nông nghiệp – phát triển địa phương 4) Môi trường

Phát triển hệ thống

Kinh tế - Xã hội

1) Phát triển hệ thống pháp luật 2) Cải cách hành chính (môi trường làm việc của viên chức nhà nước)

Như vậy, Nhật Bản thực hiện hỗ trợ hầu hết các lĩnh vực để phát triển Việt Nam nhờ dự án to lớn này Trong đó, tập trung vào các chương trình lớn như giao thông và năng lượng

2) Pháp

Một trong những nước hỗ trợ Việt Nam đứng thứ hai là Pháp Nước này đã hỗ trợtrung bình năm 2010-2011 là 290 triệu USD(33) Mục đích hỗ trợ Việt Nam của Pháp là việc thành lập “quan hệ song phương lâu dài” nhờ đóng góp vào sự pháp

Trang 31

triển bền vững của Việt Nam Vì thế chính sách cơ bản hỗ trợ đối với Việt Nam của Pháp là phát triển ngôn ngữ và văn hóa, quan hệ song phương kinh doanh và

kỹ thuật khoa học, thực hiện chương trình nhờ vào kỹ thuật Pháp và hỗ trợ kinh tế thông qua chương trình này, v.v Trong đó, những lĩnh vực tập trung là phát triển bền vững, giáo dục cơ sở, huấn luyện và bảo vệ sức khỏe cơ bản

3) Đức

Đứng thứ ba trong chương trình hỗ trợ Việt Nam là Đức Nước này đã hỗ trợ trung bình năm 2010-2011 là 110 triệu USD(33) Trong chính sách hỗ trợ đối với Việt Nam của Đức, những lĩnh vực hỗ trợ tập trung là giúp đỡ chính sách cải cách kinh tế Việt Nam, thúc đẩy doanh nghiệp doanh nhân, đẩy mạnh nhân lực thông qua giáo dục và bảo vệ sức khỏe, xóa đói giảm nghèo thông qua tài nguyên thiên nhiên, phát triển hệ thống giao thông, v.v Phương hướng hỗ trợ đối với Việt Nam của Đức được quyết định thông qua các cuộc trao đổi mỗi năm giữa Việt Nam và Đức Hai nước Việt Nam và Đức đang thực hiện chương trình hiệp lực tập trung vào việc chuyển đổi sang kinh tế thị trường, sử dụng bền vững của tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ sức khỏe và phòng chống bệnh Aid

1.3.3.Hỗ trợ từ các tổ chức khác

1) Ngân hàng Thế giới (WB)

Là đối tác viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam trong năm 2012 Đối với Việt Nam, Ngân hàng Thế giới đã tập trung viện trợ vào 7 lĩnh vực: dự án lĩnh vực giao thông, sự phát triển năng lượng và đô thị, sự phát triển khu nông thôn và nông nghiệp, giáo dục, y tế và cải thiện hành chính công

Vốn ODA cung cấp từ ngân hàng thế giới cho Việt Nam từ năm

2003-2012(19, tr.91-92)

Trang 32

2011 2.348 2006 1.844

2) Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)

Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) bắt đầu các hoạt động hỗ trợ Việt Nam từ năm 1993 Trong giai đoạn 1993-2006, ADB đã dành cho Việt Nam khoảng 4 tỷ USD Cùng với chiến lược hỗ trợ Việt Nam giai đoạn 2006-2010, ADB là bên cung cấp ODA lớn nhất ở Việt Nam kể từ năm 2007 xét về quy mô chương trình hỗ trợ hàng năm Tính đến 31/3/2012, danh mục hỗ trợ của ADB dành cho Việt Nam gồm

59 khoản vay và 48 dự án hỗ trợ kỹ thuật đạt giá trị ròng là 7,1 tỷ USD ADB đã góp phần tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Việt Nam và mức sống được cải thiện bằng cách cung cấp hỗ trợ cho phát triển xã hội toàn diện, bền vững và tái tạo tài nguyên thiên nhiên và quản lý bảo vệ của môi trường

3) Quỹ tiền tệ Thế giới (IMF)

Việt Nam và IMF đã thiết lập mối quan hệ từ những năm 1990 trở lại đây Sự giúp đỡ của IMF trong suốt thời gian qua và nhất là trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự nỗ lực của Chính phủ và nhân dân Việt Nam, đã giúp Việt Nam kiềm chế được lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo tăng trưởng kinh tế

4) Các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (Bộ ngoại giao Việt Nam) –UN

organizations

Các tổ chức phi chính phủ nước ngoài có quan hệ với Việt Nam rất sớm Sau

1975, phần lớn số NGOs nước ngoài đã chấm dứt hoạt động ở miền Nam Việt Nam, chủ yếu viện trợ nhân đạo (lương thực, thuốc men ), giúp Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh Có từ 70 đến 100 tổ chức NGO viện trợ cho Việt Nam với tổng giá trị viện trợ khoảng 20-30 triệu USD mỗi năm trong giai đoạn 1986-1992 Trong hơn 10 năm qua (1994-2006), số lượng các tổ chức có quan hệ với Việt Nam

đã tăng gấp 3 lần, từ 210 tổ chức vào năm 1994 lên khoảng 650 tổ chức vào năm

Trang 33

2006 Giá trị viện trợ năm 1993 là 40 triệu đô la Mỹ, đến năm 2002 là 85 triệu đô la

Mỹ, năm 2004 là 140 triệu USD, năm 2005 là 175 triệu USD, năm 2006 là 217

triệu USD Chương trình viện trợ của các NGOs được triển khai ở 61 tỉnh thành

trong cả nước, đặc biệt tập trung vào những vùng còn nghèo, vùng sâu, vùng xa và

ngày càng tập trung hơn vào các lĩnh vực phù hợp với các ưu tiên và định hướng

phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Việt Nam, đặc biệt là xoá đói giảm nghèo và

phát triển bền vững Sự trợ giúp của NGOs nước ngoài không chỉ là viện trợ vật

chất mà bao gồm cả chuyển giao kinh nghiệm, công nghệ, nâng cao dân trí, chăm

sóc y tế, phổ cập giáo dục

Nguồn- One plan Between

The Government of the Socialist Republic of Viet Nam

1.4.Nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong việc sử dụng ODA(15)

Sau 20 năm, kể từ khi chính thức nhận được viện trợ ODA của cộng đồng các

nhà tài trợ từ năm 1993 cho đến nay, Việt Nam đã thu hút được gần 80 tỷ USD vốn

ODA Con số này đã đưa Việt Nam trở thành quốc gia tiếp nhận ODA lớn thứ 7

trên thế giới (theo Peter Reeh - Chuyên gia văn phòng Liên hợp quốc tại Hà Nội)

Đáng lưu ý là, dù nội tại nền kinh tế Việt Nam và tình hình kinh tế thế giới những

Trang 34

năm gần đây đang gặp không ít khó khăn, nhưng các nhà tài trợ vẫn cam kết viện trợ cho Việt Nam những khoản vốn ODA tương đối lớn Theo đó, năm 2009, các nhà tài trợ đã cam kết dành cho Việt Nam 7,3 tỷ USD vốn ODA; năm 2010 là 8,063 tỷ USD; năm 2011 là 7,9 tỷ USD; 2011 là 7,386 tỷ USD và 2012 là 6,486 tỷ USD

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ODA

Trên thế giới đã có nhiều nước thành công trong việc sử dụng vốn ODA để hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội Trước đây là Nhật Bản, Hàn Quốc và gần đây là Thái Lan, Trung Quốc, In-đô-nê-xia, Philipin,…Một trong những nguyên nhân sử dụng nguồn vốn ODA có hiệu quả là các nước này xây dựng được một hệ thống quản lý ODA phù hợp theo mô hình quản lý tập trung đi đôi với phân cấp trách nhiệm trên

cơ sở khung thể chế pháp lý về ODA không ngừng hoàn thiện

Tương tự như các nước tiếp nhận vốn ODA khác, để nâng cao hiệu quả viện trợ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Chính phủ Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện khung pháp lý về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Kể từ khi nối lại quan hệ với cộng đồng tài trợ quốc tế vào năm 1993 đến nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành 4 Nghị định về quản lý ODA (Nghị định 20/CP (15/3/1994), Nghị định 87/CP (5/8/1997), Nghị định 17/2001/NĐ-CP (4/5/2001) và Nghị định 131/2006/NĐ-CP (09/11/2006)) Các nghị định sau được hoàn thiện trên cơ sở thực tiễn thực hiện nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của quan hệ hợp tác phát triển

Cùng với nỗ lực hoàn hiện thể chế, công tác quản lý nhà nước về ODA đã

Trang 35

không ngừng được cải tiến và đạt được nhiều tiến bộ Nếu như trong giai đoạn đầu của quá trình tiếp nhận ODA, quản lý nhà nước theo mô hình tập trung nhiều ở cấp trung ương thì nay theo mô hình phân cấp mạnh mẽ để các bộ, ngành và địa phương phát huy tính chủ động và nâng cao trách nhiệm từ khâu xây dựng dự án, thực hiện dự án, khai thác và vận hành các sản phẩm đầu ra Theo Nghị định 131/2006/NĐ-CP Việt Nam có 4 cấp tham gia vào quá trình quản lý và thực hiện nguồn vốn ODA (Ban QLDA, Chủ dự án, Cơ quan chủ quản, Cơ quan quản lý nhà nước về ODA) Các cấp này có chức năng và nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể:

- Ban QLDA: Đơn vị giúp việc cho Chủ dự án trong việc quản lý thực hiện chương trình, dự án ODA

- Chủ dự án: Là đơn vị được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA và nguồn vốn đối ứng để thực hiện chương trình, dự án theo nội dung đã được cấp có thẩm quyền phê duyệtvà quản lý, sử dụng công trình sau khi chương trình, dự án kết thúc

- Cơ quan chủ quản: Là các bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan trực thuộc Chính phủ, các cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức nghề nghiệp, các cơ quan trực thuộc Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có chương trình, dự án

- Các cơ quan quản lý nhà nước về ODA: Gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ

Để nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng vốn ODA, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Tuyên bố Pa-ri về hiệu quả viện trợ và Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với các nhà tài trợ “quốc gia hóa” Tuyên bố này thành Cam kết Hà Nội về hiệu quả viện trợ để phù hợp với hoàn cảnh và các điều kiện phát triển cụ thể của Việt Nam Ngay sau khi Chương trình hành động Accra (AAA) được quốc tế thông qua, Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Gia Khiêm đã phê duyệt văn kiện này

và giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Tổ công tác ODA của

Trang 36

Chính phủ, các cơ quan Việt Nam và các nhà tài trợ triển khai thực hiện Chương trình hành động này và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện (Văn bản số 6656/VPCP-QHQT ngày 07 tháng 10 năm 2008 của Văn phòng Chính phủ)

Thực hiện quyết định nêu trên của Phó Thủ tướng Chính phủ, một loạt các hoạt động thực hiện Chương trình hành động Accra đã được trù liệu bao gồm các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức, xây dựng các kế hoạch cụ thể chung của Việt Nam và các nhà tài trợ, cũng như của các Bộ, ngành và địa phương để triển khai các hoạt động ưu tiên trong Chương trình hành động Accra nhằm đạt các mục tiêu đề ra trong Tuyên bố Pa-ri và Cam kết Hà Nội về hiệu quả viện trợ vào năm

2010

Các hoạt động nâng cao hiệu quả viện trợ ở Việt Nam được triển khai trong khuôn khổ Nhóm Quan hệ đối tác về Hiệu quả viện trợ (PGAE), 22 Nhóm quan hệ đối tác ngành và Nhóm hỗ trợ quốc tế, thực hiện thí điểm sáng kiến một Liên Hợp Quốc, các sáng kiến về cải thiện tình hình thực hiện các chương trình, dự án ODA của Nhóm 6 Ngân hàng phát triển (ADB, AFD, JICA, KfW, Korea Eximbank và Ngân hàng Thế giới) và nhiều hoạt động nâng cao hiệu quả viện trợ của EC, Nhóm các nhà tài trợ đồng chính kiến (LMDG) và của một số nhà tài trợ song phương và

đa phương khác

Các hoạt động nâng cao hiệu quả viện trợ đang giúp Việt Nam cải thiện việc thu hút và nỗ lực sử dụng ODA có hiệu quả, làm cho nguồn lực này phát huy tác dụng mạnh mẽ hơn đối với sự nghiệp phát triển của Việt Nam cũng như nỗ lực vượt qua những thách thức đặt ra trong giai đoạn phát triển mới

Trang 37

Chương 2 Thành tựu và hạn chế việc sử dụng ODA Hàn Quốc

đối với Việt Nam giai đoạn 1992-2012

2.1 Công nghệ thông tin

Ngành Công nghệ thông tin là lĩnh vực mà Hàn Quốc tập trung hỗ trợ vì nhiều

lý do Chính vì vậy, KOICA đã giải thích về lĩnh vực này trong một tài liệu được công bố như sau:

“Thời đại kinh tế kỹ thuật số nhờ cơ bản Internet đã xuất hiện nên công nghiệp công nghệ thông tin trở thành động lực hạt nhân để một quốc gia phát triển, còn các thiết bị kỹ thuật cao và nội dung đang phát huy sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc đời của chúng ta Nhưng

sự phát triển và quảng bá của kỹ thuật công nghệ thông tin tại các nước không đồng đều nên chênh lệch thông tin giữa các nước đã làm tăng sự chênh lệch sức cạnh tranh quốc gia thậm chí đến gây nên sự chênh lệch phát triển trong mọi lĩnh vực kinh tế xã hội nên đối với các nước đang phát triển, nâng cao sức cạnh tranh ngành công nghệ thông tin là việc cần phải giải quyết ngay KOICA đang giúp ngành công nghệ thông tin dành cho các nước đang phát triển bằng cách áp dụng

kỹ thuật Hàn Quốc - một nước phát triển ngành công nghệ thông tin -

Do đó đã đóng góp cho việc xóa bỏ chênh lệch thông tin trong xã hội quốc tế.” (18, tr.213)

Như vậy cho thấy lĩnh vực này rất quan trọng đối với cả hai nước Việt Nam

và Hàn Quốc Từ bây giờ chúng ta nhìn chung các chương trình chủ yếu sau đó phân tích về thành tựu và hạn chế của một số chương trình

Trang 38

<Bảng 1.2 - Tình hình hiện tại các chương trình CNTT>

200

6

Chương trình Hỗ trợ Thư viện Điện tử tại Học viện Chính trị

200

7

Chương trình Hỗ trợ xây dựng hệ thống Pilot mua sắm điện tử

Nguồn: KOICA, Bộ Ngoại Giao và Thương Mại Hàn Quốc

(1) Chương trình xây dựng mạng máy tính viện Khoa học Xã hội và Nhân văn

Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (người

có liên quan đến viện khoa học, học viên, v.v )

Mục đích

o Xây dựng nền tảng thúc đẩy giao lưu học thuật giữa Việt-Hàn

o Giúp đào tạo nhân lực liên quan đến công nghệ thông tin

Trang 39

Bằng cách liên kết với chương trình xây dựng mạng máy tính của chính phủ Việt Nam, sẽ nâng cấp thiết bị

o Đóng góp cho việc hợp tác giữa các cơ quan Việt Nam và Hàn Quốc thong qua trao đổi học thuật trên internet trong ngành khoa học xã hội và nhân văn

o Gửi đoàn viên ngành máy vi tính, tiếp tục quản lý mạng máy tính

(2) Chương trình thành lập Trung tâm Khoa học Kỹ thuật Việt - Hàn

Tên

chương

trình

Chương trình thành lập Trung tâm Khoa học Kỹ thuật Việt - Hàn

o Giúp đỡ xúc tiến phát triển kỹ thuật khoa học của Việt Nam

Trang 40

o Mời tu nghiệp sinh: 80 người

Đặc biệt là lựa chọn 8 lĩnh vực trọng tâm của công nghiệp hóa Việt Nam, truyền đạt kỹ thuật tiên tiến, vì vậy mở rộng cơ bản công nghiệp hóa, cuối cùng khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội

(3) Chương trình thành lập Trường Cao đẳng CNTT Hữu Nghị Việt - Han

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Minh Giang (2003), “Hàn Quốc tiếp tục viện trợ cho Dự án xây dựng Trường Cán bộ Tòa án”, Báo web Công lý, http://congly.com.vn, 31/10/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc tiếp tục viện trợ cho Dự án xây dựng Trường Cán bộ Tòa án
Tác giả: Trần Minh Giang
Năm: 2003
2. Việt Hà (2012), “Hàn Quốc hỗ trợ Cao đẳng CNTT Việt - Hàn nâng cấp lên Đại học”, Báo web – ICT News, http://ictnews.vn, 17/04/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc hỗ trợ Cao đẳng CNTT Việt - Hàn nâng cấp lên Đại học
Tác giả: Việt Hà
Năm: 2012
3. Hồng Hải (2003), “Hàn Quốc hỗ trợ dự án tăng cường vai trò của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam”, Báo web Hà Nội Mới, http://hanoimoi.com.vn, 31/10/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc hỗ trợ dự án tăng cường vai trò của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam
Tác giả: Hồng Hải
Năm: 2003
4. Đoàn Hạnh (2012), “2013, Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt-Hàn sẽ là đại học”, Báo web – ICT News, 03/05/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2013, Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt-Hàn sẽ là đại học
Tác giả: Đoàn Hạnh
Năm: 2012
5. Nguyễn Hòa (2011), “7,386 tỷ USD ODA cho Việt Nam trong năm 2012”, Báo web Kinh tế Việt Nam, http://ven.vn/, 07/12/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 7,386 tỷ USD ODA cho Việt Nam trong năm 2012
Tác giả: Nguyễn Hòa
Năm: 2011
7. Nguyễn Thị Kim Tiến - Bộ trưởng Bộ Y tế, “Hợp tác y tế Việt Nam - Hàn Quốc: Phấn đấu tương xứng với tiềm năng”, Trang web Thế giới và Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác y tế Việt Nam - Hàn Quốc: Phấn đấu tương xứng với tiềm năng
9. ĐỀ ÁN "ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC THỜI KỲ 2006 - 2010", Ban hành kèm theo Quyết định số 290/2006/QĐ- TTg ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC THỜI KỲ 2006 - 2010
17. Han Seungheon (2010), “새로운 ODA 질적평가와 한국에의 시사점”, Tài liệu nghiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: 새로운 ODA 질적평가와 한국에의 시사점
Tác giả: Han Seungheon
Năm: 2010
18. Jang Hyonshick (2011), “Korea International Cooperation Agency 1991~2010”, KOICA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Korea International Cooperation Agency 1991~2010
Tác giả: Jang Hyonshick
Năm: 2011
19. Lee Kyewoo, Park Chanyong(2005), “베트남을 위한 중장기 원조사업 계획 Country Program Paper: Vietnam”, Tài liệu nghiên cứu nội bộ KOICA Sách, tạp chí
Tiêu đề: 베트남을 위한 중장기 원조사업 계획 Country Program Paper: Vietnam
Tác giả: Lee Kyewoo, Park Chanyong
Năm: 2005
20. Seo Dongshin (2011), “국제 원조사회의 대 아시아 지원전략과 동향 및 시사점” , Tài liệu nghiên cứu nội bộ KOICA, 개발정책포커스 Số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 국제 원조사회의 대 아시아 지원전략과 동향 및 시사점
Tác giả: Seo Dongshin
Năm: 2011
24. Phòng Thủ trướng Quốc vụ, “Chiến lực hiệp lực quốc gia 2011~2015 - Việt Nam, Gana, Quần đảo Solomon” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lực hiệp lực quốc gia 2011~2015 - Việt Nam, Gana, Quần đảo Solomon
25. Tài liệu nội bộ KOICA (2009), “Chiến lực hỗ trợ dành cho Việt Nam và báo cáo kết quả chương trình hỗ trợ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lực hỗ trợ dành cho Việt Nam và báo cáo kết quả chương trình hỗ trợ
Tác giả: Tài liệu nội bộ KOICA
Năm: 2009
26. Tài liệu nội bộ KOICA (2011), “Báo cáo điều tra độ thỏa mãn của nước được hỗ trợ chương trình không hoàn lại năm 2011” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra độ thỏa mãn của nước được hỗ trợ chương trình không hoàn lại năm 2011
Tác giả: Tài liệu nội bộ KOICA
Năm: 2011
27. Thông báo Bộ Khoa học Kỹ thuật Giáo dục số 2012-50, “Thông báo Chương trình thí điểm nuôi dưỡng và hỗ trợ trường đại học lãnh đạo hiệp lực quốc tế năm 2012” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo Chương trình thí điểm nuôi dưỡng và hỗ trợ trường đại học lãnh đạo hiệp lực quốc tế năm 2012
6. Nguyễn Bắc Son - Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thong (2012), Trang web Thế giới và Việt Nam, http://www.tgvn.com.vn Link
8. Ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, Nghị định 131/ Khác
10. Kế Hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội 5 năm 2011 – 2015, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Khác
11. PHÊ DUYỆT CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG VIỆT NAM DẾN NĂM 2010 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020 (Số 246/2005/QĐ-TTG) Khác
12. Quyết định số 106/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt Đề án "Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và các khoản vốn vay ưu đãi khác của các nhà tài trợ thời kỳ 2011-2015&#34 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w