Một trong những giải pháp quan trọng nhằm đạt mục tiêu trên là nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ về lĩnh vực di truyền giống của thế giới, thông qua việc nhập các g
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp hà nội
Hà Nội, 2009
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, do tôi nghiên cứu, có sự giúp đỡ của tập thể các đồng nghiệp trong, ngoài cơ quan và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ nghiên cứu khoa học nào khác
Hải Dương, ngày 10 tháng 12 năm 2009
Tác giả luận văn
Vũ Đức Cảnh
Trang 3Ban Giám đốc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương đ> tạo mọi
điều kiện về cơ sở vật chất để tiến hành thí nghiệm và hoàn thành luận văn
Tập thể cán bộ công nhân viên Trạm nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình, các phòng ban Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương đ> giúp đỡ trong thời gian qua
Tác giả trân trọng cảm ơn Th.S Nguyễn Ngọc Dụng, các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp, bộ môn Chăn nuôi chuyên khoa Trường Đại học Nông nghiệp - Hà Nội đ> giúp đỡ, tạo điều kiện để hoàn thiện bản luận văn này
Tôi dành sự biết ơn sâu sắc tới gia đình đ> động viên, khích lệ, giúp đỡ tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn
Hải Dương, ngày 10 tháng 12 năm 2009
Tác giả luận văn
Vũ Đức Cảnh
Trang 4MụC LụC
1 mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.3.1 ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 ý nghĩa thực tiễn 2
2 TổNG QUAN TàI LIệU 3
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 3
2.1.1 Cơ sở lý luận về đặc điểm ngoại hình của thủy cầm 3
2.1.2 Tính trạng số lượng của vật nuôi 4
2.1.3 Sức sống và khả năng kháng bệnh 7
2.1.4 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng, khả năng cho thịt ở gia cầm 10 2.1.5 Khả năng cho thịt 18
2.1.6 Cơ sở khoa học về tiêu tốn thức ăn 20
2.1.7 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm 21
2.1.8 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 31
3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 37
3.1 Đối tượng nghiên cứu 37
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 37
3.3 Nội dung nghiên cứu 37
3.3.1 Trên đàn vịt sinh sản 37
3.3.2 Trên đàn vịt nuôi thịt 38
3.4 Phương pháp nghiên cứu 38
3.4.1 Chuẩn bị vịt thí nghiệm 38
3.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 40
3 4.3 Phương pháp xử lý số liệu 46
4 kết quả nghiên cứu và thảo luận 47
4.1 Kết quả nghiên cứu trên đàn vịt Super Heavy ông bà 47
4.1.1 Đặc điểm ngoại hình 47
4.1.2 Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn từ 1 – 24 tuần tuổi 48
4.1.3 Khối lượng cơ thể giai đoạn từ 1 – 24 tuần tuổi 51
4.1.4 Lượng thức ăn thu nhận giai đoạn 1 – 24 tuần tuổi 53
4.1.5 Một số chỉ tiêu trong giai đoạn thành thục sinh dục 55
4.1.6 Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tỷ lệ trứng chọn giống qua các tuần đẻ 58
4.1.7 Tỷ lệ nuôi sống, tiêu tốn thức ăn trên 10 trứng giai đoạn sinh sản 61
4.1.8 Một số chỉ tiêu về chất lượng trứng 62
4.1.9 Một số chỉ tiêu về quả ấp nở 63
4.2 Kết quả nghiên cứu trên đàn vịt bố mẹ Super Heavy 64
Trang 54.2.1 Đặc điểm ngoại hình 64
4.2.2 Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn 1 – 24 tuần tuổi 65
4.2.3 Khối lượng cơ thể giai đoạn 1 – 24 tuần tuổi 67
4.2.4 Tiêu tốn thức ăn giai đoạn 1 - 24 tuần tuổi 69
4.2.5 Tuổi thành thục sinh dục 71
4.2.6 Tỷ lệ nuôi sống, tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tiêu tốn thức ăn/10 trứng 72
4.2.7 Một số chỉ tiêu về chất lượng trứng 75
4.2.8 Kết quả ấp nở của vịt Super Heavy bố mẹ (trống AB x mái CD) 76
4.3 Kết quả nghiên cứu trên đàn vịt Super Heavy thương phẩm ABCD77 4.3.1 Tỷ lệ nuôi sống vịt thương phẩm ABCD 77
4.3.2 Khối lượng cơ thể và sinh trưởng tuyệt đối 78
4.3.3 Sinh trưởng tương đối 80
4.3.4 Tiêu tốn và chi phí thức ăn 82
4.3.5 Chỉ số sản xuất (PN), chỉ số kinh tế (EN) 84
4.3.6 Khả năng cho thịt 85
4.3.7 Thành phần hoá học của thịt 86
4.3.8 Năng suất thịt sản xuất ra từ một vịt mái mẹ 87
4.3.9 Kết quả nuôi vịt thịt ngoài sản xuất 89
5 kết luận và đề nghị 88
5.1 Kết luận 88
5.1.1 Trên đàn vịt Super Heavy ông bà 88
5.1.2 Trên đàn vịt bố mẹ 88
5.1.3 Trên đàn vịt thương phẩm nuôi thịt (ABCD) 88
Trang 6Danh mục bảng
Bảng 3.1 Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng theo khuyến cáo của Trung tâm 39
Bảng 3.2 Chế độ dinh dưỡng nuôi vịt sinh sản (tuần tuổi) 39
Bảng 3.3 Chế độ dinh dưỡng nuôi vịt thịt thương phẩm (ngày tuổi) 40
Bảng 4.1 Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn 1 - 24 tuần tuổi (%) 49
Bảng 4.2 Khối lượng cơ thể giai đoạn 1 – 24 tuần tuổi (gam/con/tuần) 52
Bảng 4.3 Lượng thức ăn thu nhận giai đoạn 1 - 24 tuần tuổi 54
Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu trong giai đoạn thành thục sinh dục 57
Bảng 4.5 Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tỷ lệ trứng chọn giống 59
Bảng 4.6 Tỷ lệ nuôi sống và tiêu tốn thức ăn để sản xuất 10 quả trứng 61
Bảng 4.7 Khảo sát chất lượng trứng ở 38 tuần tuổi (n=30 quả) 62
Bảng 4.8 Kết quả ấp nở trên đàn vịt ông bà Super Heavy 64
Bảng 4.9 Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn từ 1 – 24 tuần tuổi (%) 66
Bảng 4.10 Khối lượng cơ thể giai đoạn 1 – 24 tuần tuổi 68
Bảng 4.11 Lượng thức ăn thu nhận giai đoạn 1 -24 tuần tuổi 70
Bảng 4.12 Một số chỉ tiêu trong giai đoạn thành thục sinh dục 71
Bảng 4.13 Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng, tiêu tốn thức ăn/10 trứng 73
Bảng 4.14 Khảo sát chất lượng trứng vịt mái CD ở 38 tuần tuổi 75
Bảng 4.15 Kết quả ấp nở vịt Super Heavy bố mẹ 76
Bảng 4.16 Tỷ lệ nuôi sống vịt Super Heavy thương phẩm (ABCD) 77
Bảng 4.17 Khối lượng cơ thể, sinh trưởng tuyệt đối (n = 50 con) 79
Bảng 4.18: Sinh trưởng tương đối 81
Bảng 4.19 Tiêu tốn và chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể 83
Bảng 4.20 Chỉ số sản suất, chỉ số kinh tế 84
Bảng 4.21 Năng suất thịt của vịt thương phẩm ở 8 tuần tuổi 85
Bảng 4.22 Thành phần hóa học của thịt ở 8 tuần tuổi 87
Bảng 4.23 Năng suất thịt sản xuất ra từ một vịt mái mẹ 87
Bảng 4.24 Kết quả nuôi vịt thịt trong nông hộ 87
Trang 7Danh mục biểu đồ và đồ thị
Biểu đồ 4.1 Năng suất trứng qua các tuần đẻ 59
Biểu đồ 4.2 Năng suất trứng từ 1 – 50 tuần tuổi 74
Đồ thị 4.1 Tỷ lệ đẻ qua các tuần đẻ 59
Đồ thị 4.2 Tỷ lệ đẻ từ 1 - 50 tuần tuổi 74
Đồ thị 4.3 Khối lương cơ thể từ sơ sinh đến 8 tuần tuổi 79
Đồ thị 4.4 Sinh trưởng tuyệt đối 79
Đồ thị 4.5 Sinh trưởng tương đối 82
Trang 8Danh môc ch÷ viÕt t¾t
Trang 91 mở đầu 1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi gia cầm là nghề sản xuất truyền thống lâu đời, chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi nước ta Nếu như năm 2005 tổng đàn gia cầm là 297,5 triệu con thì đến năm 2010 là
360 triệu con (theo cục chăn nuôi, 2007) [4] Trong đó, vịt là loài thủy cầm có
ý nghĩa kinh tế trong tập đoàn các giống vật nuôi, với những đặc điểm nổi bật: lớn nhanh, đẻ nhiều, ít bệnh, tạp ăn, có khả năng tự kiếm sống và tận dụng thức ăn rơi v>i trong mùa thu hoạch, thức ăn tự nhiên trên ruộng nước, ao hồ, sông ngòi, kênh rạch Các sản phẩm của vịt cũng rất đa dạng thịt trứng, và lông, đó là những đặc điểm quý Trước xu thế hội nhập và theo định hướng phát triển chăn nuôi gia cầm giai đoạn 2010 - 2015 phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng đầu con thủy cầm là 5%/năm, tăng trưởng về sản lượng thịt, trứng từ 12%/năm trở lên (theo cục chăn nuôi, 2007) [4] Một trong những giải pháp quan trọng nhằm đạt mục tiêu trên là nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ về lĩnh vực di truyền giống của thế giới, thông qua việc nhập các giống vịt ông bà có năng suất chất lượng cao, dễ nuôi, ít bệnh tật để phát triển ở các vùng sinh thái khác nhau trong cả nước
Đi theo hướng này Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương đ> nghiên cứu và phát triển các giống vịt chuyên thịt hiện có như: Super M, Super M3, Star 67, Star 53 Để tiếp tục nâng cao năng suất, chất lượng giống vịt chuyên thịt gần đây Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thụy Phương đ> nhập về giống vịt Super Heavy ông bà Đây là một tiến bộ mới về di truyền của H>ng Cherry valley Vịt Super Heavy dòng ông có năng suất trứng/mái/48 tuần đẻ:
238 quả, tỷ lệ phôi 85%, tỷ lệ nở 64,2% [69], dòng bà có năng suất trứng/mái/48 tuần đẻ: 252 quả, tỷ lệ phôi 86%, tỷ lệ nở 64% [69] Vịt bố mẹ
có năng suất trứng/mái/50 tuần đẻ 270 quả, tỷ lệ phôi 92%, tỷ lệ nở 78% [69] Vịt nuôi thương phẩm đến 47 ngày tuổi có khối lượng trung bình 3,73 kg, tiêu
Trang 10tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng 2,16 kg, tỷ lệ nuôi sống 98% [69] Vịt có ưu
điểm tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng cho thịt cao, phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới Để có cơ sở khoa học đánh giá đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của vịt Super Heavy chúng tôi tiến hành đề tài:
"Nghiên cứu khả năng sản xuất của vịt Super Heavy nhập nội nuôi tại
Trạm nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình”
1.2 Mục tiêu của đề tài
Đánh giá được khả năng sản xuất của vịt Super Heavy ông bà, bố mẹ và con thương phẩm
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu một cách có hệ thống về một số đặc điểm khả năng sinh trưởng và phát triển, khả năng sinh sản, khả năng chuyển hoá thức ăn, sức đề kháng của cơ thể, phẩm chất thịt và trứng của giống vịt Super Heavy
Trang 112 TổNG QUAN TàI LIệU 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận về đặc điểm ngoại hình của thủy cầm
Màu sắc lông: màu sắc lông của gia cầm là một đặc điểm ngoại hình quan trọng để phân biệt giống, dòng, cơ sở di truyền của màu sắc lông là tính trạng chất lượng do vài gen quy định (oligogene) Brandsch.H, Biichel.H (1978) [2] Đối với thủy cầm màu sắc lông còn liên quan đến kinh tế (lông trắng có giá trị gấp đôi lông màu) Do vậy, Công ty Cherry valley nước Anh
đ> tạo ra những giống vịt chuyên thịt, chuyên trứng đều có lông màu trắng Brandsch.H, Biichel.H (1978) [2] cho rằng: màu lông trắng và màu lông Khaki ở vịt là lặn so với màu đen [2] Chin.D.T.F và Koi.V.Y (1992) [70] đ> thành công trong việc tạo dòng autosex khi lai vịt cái Appleyard với vịt đực Khakicampell Chin D.T.F và Koi V.Y (1992) [70] Ngoài ra màu sắc lông cũng liên quan đến một số chỉ tiêu chất lượng của giống, dòng như là tính kháng bệnh và khả năng sản xuất
Trong sản xuất cho thấy vịt Khakicampbell, vịt Alabio, vịt cỏ là những giống vịt có màu lông khaki, cánh xẻ thường có sức sống cao và hướng sản xuất là trứng ở nước ta đ> có một số công trình nghiên cứu về màu lông của vịt: Lê Xuân Đồng (1994) [9], Nguyễn Thị Bạch Yến (1997) [61], Trần Thanh Vân (1998) [60], nhìn chung các kết quả còn ở mức mô tả, xác định tính chất
đặc trưng của giống, chưa xác định được đặc điểm di truyền của nó
Mỏ và chân: mỏ là sản phẩm của da, được tạo thành từ lớp sừng (stratumcorneum) ở vịt, mỏ có nhiều nhánh thần kinh (ceroma), chứa nhiều thể xúc giác, nhờ thế có thể mò được thức ăn trong nước Mỏ có nhiều màu khác nhau vàng, đen, xám, xanh lục và là đặc trưng cho giống Màng bơi là phần cấu tạo không có lông của da giữa các ngón chân Màu của chân thường phù hợp với màu của mỏ
Trang 12Tính trạng số lượng còn được gọi là tính trạng đo lường (metric character) vì sự nghiên cứu của chúng phụ thuộc vào sự đo lường như mức độ tăng trọng, kích thước các chiều đo, khối lượng trứng… tuy nhiên, có những tính trạng mà giá trị của chúng có được bằng cách đếm như: số lợn con đẻ ra trong một lứa, số lượng trứng gia cầm đẻ ra trong một năm vẫn được coi là các tính trạng số lượng, đó là những tính trạng số lượng đặc biệt
Di truyền học số lượng vẫn lấy các quy luật của di truyền học Mendel làm cơ sở, nhưng do đặc điểm riêng của tính trạng số lượng so với các tính trạng chất lượng (qualitative character) đối tượng nghiên cứu của di truyền học Mendel, nên phương pháp nghiên cứu trong di truyền học số lượng khác với phương pháp nghiên cứu trong di truyền học Mendel về 2 phương diện: thứ nhất là các đối tượng nghiên cứu không thể chỉ dừng lại ở mức độ cá thể
mà đuợc mở rộng tới mức độ quần thể bao gồm các nhóm cá thể khác nhau, thứ hai là sự sai khác nhau giữa các cá thể không thể chỉ là sự phân loại mà nó
đòi hỏi phải có sự đo lường các cá thể
Giá trị đo lường được của tính trạng số lượng trên một cá thể được gọi
là giá trị kiểu hình (phenotypic value) của cá thể đó Các giá trị có liên hệ với kiểu gen là giá trị kiểu gen (genotypic value) và giá trị có liên hệ với môi
Trang 13trường là sai lệch môi trường (environmental deviation) Như vậy có nghĩa là kiểu gen quy định một giá trị nào đó của cá thể và môi trường gây ra một sự sai lệch với giá trị kiểu gen theo hướng này hoặc hướng khác Quan hệ trên có thể biểu thị như sau:
P = G + E Trong đó: P: là giá trị kiểu hình (phenotypic value)
G: là giá trị kiểu gen (genotypic value) E: là sai lệch môi trường (environmental deviation) Nếu trung bình sai lệch môi trường của một quần thể bằng (0), thì trung bình giá trị kiểu hình bằng trung bình giá trị kiểu gen Khi đó, thuật ngữ trung bình quần thể (population mean) là trung bình giá trị kiểu hình hoặc trung bình giá trị kiểu gen của quần thể và trung bình quần thể là tổng các tích số của từng giá trị kiểu gen với tần số của nó khi đề cập đến các thế hệ kế tiếp nhau
Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gene) cấu tạo thành, đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ có ảnh hưởng rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (polygene) Môi trường
có ảnh hưởng rất lớn đến tính trạng số lượng, trong khi đó đối với tính trạng chất lượng là những tính trạng đơn gen thì rất ít bị ảnh hưởng do môi trường Tác động của các nhân tố ngoại cảnh như: nhiệt độ, ánh sáng, thức ăn, nước uống, không khí vv lên tính trạng số lượng rất lớn có thể làm kìm h>m, hoặc phát huy mà làm thay đổi các giá trị của tính trạng Giá trị kiểu gen được phân theo 3 phương thức hoạt động, đó là sự cộng gộp, sai lệch trội lặn và tương tác giữa các gen như sau:
G = A + D + I Trong đó: G: là giá trị kiểu gen (genotypic value)
A: là giá trị cộng gộp (aditive value)
D: là sai lệch do tác động trội lặn (do minance deviation)
Trang 14I: là sai lệch do tương tác giữa các gen (in teraction deviation) Giá trị cộng gộp hay giá trị giống: để đo lường giá trị truyền đạt từ bố
mẹ cho đời con phải có một giá trị đo lường mới có liên hệ với gen chứ không phải có liên hệ với kiểu gen, đó là hiệu ứng trung bình của các gen Tổng các hiệu ứng trung bình của các gen quy định tính trạng (tổng các hiệu ứng được thực hiện với từng cặp gen ở mỗi lô cút và trên tất cả các lô cút) được gọi là giá trị cộng gộp hoặc giá trị giống của cá thể Nó là thành phần quan trọng của kiểu gen vì nó cố định và có thể di truyền cho đời sau
Sai lệch trội lặn: khi xem xét một lô cút duy nhất, sai lệch trội (D) được sinh ra từ tác động qua lại giữa các cặp alen ở trong cùng một lô cút (đặc biệt
là các alen dị hợp tử) rất có ý nghĩa trong lai giống
Sai lệch tương tác giữa các gen: là sai lệch do tương tác của các gen không cùng một lô cút, sai lệch này thường thấy trong di truyền học số lượng hơn là di truyền học Men Del Ngoài ra, các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường E (environmental) và được chia thành hai loại sai lệch do môi trường là Eg và Es
Sai lệch môi trường chung (general environmental deviation): là sai lệch do các yếu tố môi trường có tính chất thường xuyên và không cục bộ tác
động lên toàn bộ các cá thể trong một nhóm vật nuôi
Sai lệch môi trường riêng (Special environmental deviation) là sai lệch
do các nhân tố môi trường có tính chất không thường xuyên và cục bộ tác
động riêng rẽ lên từng cá thể trong cùng một nhóm vật nuôi Tóm lại khi một kiểu hình của một cá thể được cấu tạo bởi từ hai lô cút trở lên thì giá trị kiểu hình của nó được biểu thị như sau:
P = A+ D + I + Eg+ Es Theo Dickenson (1952) (dẫn theo Nguyễn Văn Thiện 1996) [52] thì vấn
đề tương tác giữa kiểu di truyền và môi trường rất quan trọng đối với ngành
Trang 15chăn nuôi gia cầm Qua việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng ở trên, ta thấy rằng: muốn nâng cao năng suất của vật nuôi cần phải:
Tác động về mặt di truyền (G)
Tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc
Tác động vào các hiệu ứng trội (D) và át gen I bằng cách phối giống tạp giao Tác động về môi trường bằng cải tiến điều kiện chăn nuôi như thức ăn, thú y, chuồng trại Trong chăn nuôi, các giống vật nuôi luôn nhận được từ bố
mẹ một số gen quy định tính trạng số lượng nào đó và được xem như là được nhận từ bố mẹ một khả năng di truyền, tuy nhiên khả năng đó có phát huy tốt hay không còn phụ thuộc rất lớn vào điều kiện của vật nuôi
Khi quan sát các tính trạng số lượng (cân, đo, đếm…) người ta thường xác định các tham số sau:
đề kháng suy giảm, dễ nhiễm các bệnh khác, tỷ lệ chết tăng cao Đặc biệt khi
đàn gia cầm mắc bệnh truyền nhiễm sẽ phải tăng thêm chi phí vacxin, tiêm phòng và các biện pháp thú y khác Gavora.J.F, (1990) [73]
Sức sống và khả năng kháng bệnh thường được thể hiện gián tiếp thông qua chỉ tiêu tỷ lệ nuôi sống Theo Brandsch.H, Bilchel.H (1978) [2] tỷ lệ nuôi sống của gia cầm con là chỉ tiêu chủ yếu đánh giá sức sống của gia cầm sau khi
Trang 16nở ra, sự giảm sức sống được thể hiện ở tỷ lệ chết cao qua các giai đoạn sinh trưởng
Tỷ lệ nuôi sống được xác định bằng tỷ lệ phần trăm số cá thể còn sống
ở cuối kỳ so với số cá thể có mặt đầu kỳ
Mac Laury, Nordskog (trích theo Khavecman, 1972) [19] cho rằng cận huyết làm giảm tỷ lệ nuôi sống, ưu thế lai làm tăng tỷ lệ sống Sự giảm sức sống sau khi nở phần lớn là do tác động của môi trường theo Brandsch.H, Biilchel.H, (1978) [2] Có thể nâng cao tỷ lệ nuôi sống bằng các biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng tốt, vệ sinh tiêm phòng kịp thời Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng cao hơn các giống vật nuôi vùng ôn đới Theo Trần Đình Miên và cộng sự (1994) [27] Xét về khả năng thích nghi, khi điều kiện sống bị thay đổi, như thay đổi thức ăn, thời tiết khí hậu, quy trình chăn nuôi, môi trường vi sinh vật xung quanh…của gia súc và gia cầm nói chung thì vịt là loài vật nuôi có khả năng thích ứng rộng r>i hơn đối với môi trường sống nhờ có tiềm năng sinh học đặc biệt Khajarern J and Khajarern S, (1990) [79]
Powell J.C (1984) [90] làm thí nghiệm trên vịt nuôi nhốt đ> đưa ra kết luận: tương tác kiểu gen và môi trường là không lớn vì các giống, dòng vịt ở chính nơi tạo ra chúng và ở các nước nhập nội đều có sức sản xuất tương
đương nhau Theo Khajarern J and Khajarern S, (1990) [79] cho biết vịt có khả năng sử dụng chất thải một cách tuyệt vời và đồng thời cũng là loài vật nuôi có khả năng kỳ diệu về việc tìm kiếm mồi Tiềm năng này giúp vịt dễ thích ứng với các điều kiện chăn nuôi và quy trình nuôi dưỡng ở môi trường mới
Nhờ có tiềm năng này các giống vịt đ> cho năng suất Farrell.D.J (1985) [72] làm thí nghiệm so sánh giữa vịt nuôi nhốt và nuôi chăn thả với gà nuôi nhốt đ> cho kết luận: ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường ở các nước nóng ẩm với vịt có thể nói là không lớn vì vịt có khả năng tự điều chỉnh cơ thể Vịt chỉ bị
ảnh hưởng của Stress khi nuôi nhốt mà sự thông thoáng và trao đổi khí kém
Trang 17Thêm nữa vịt là loài thủy cầm có sức chống chịu rất đặc biệt với bệnh tật, đồng thời vịt có thể sử dụng ốc sên, côn trùng làm thức ăn để sống và cho sản phẩm Với đặc điểm quý giá này giúp vịt có khả năng thích ứng cao với những tác
động của vi sinh vật và sinh vật trong các điều kiện môi trường khác nhau Chính nhờ khả năng thích ứng rộng r>i với các điều kiện thay đổi của môi trường khác nhau Các giống vịt của Anh là CV Super M nuôi trong điều kiện nóng nực ở Mỹ, Singapore vẫn cho năng suất tương đương ở Anh Powell J.C, (1985) [91] ở Thailan, vịt Cherry valley nhập nội từ vương quốc Anh đ> trở thành giống vịt thịt quan trọng nhất, được nuôi phổ biến nhất và cho năng suất cao nhất ở đất nước này Thummabood S, (1992) [95]
Bird R.S (1985) [64] cho biết vịt Cherry valley của Anh nuôi ở úc, Trung Quốc và Singapore đều có tính năng sản xuất tốt như ở bản quốc Theo Yeong.S.W, (1992) [98] thì ở Malaysia việc nhập nội vịt con từ Công ty Cherry valley (Vương quốc Anh), Stegel (úc) và Legarth (Đan Mạch) để sản xuất vịt thịt là công việc thông thường trong sản xuất đại trà 03 giống vịt của Anh nuôi ở Liên Xô cũ vẫn cho năng suất trứng khá cao: 160 - 200 quả/mái/năm tương đương với năng suất ở Anh
Như vậy, dựa trên cơ sở những khả năng thích ứng đặc biệt của vịt đối với các điều kiện môi trường khác nhau cho phép các nhà chăn nuôi phán
đoán kết quả về khả năng tồn tại, phát triển và cho sản phẩm của các giống vịt nhập nội từ nước ngoài
Thật vậy, theo Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên (1998) [32] dù chăn nuôi gia cầm theo phương thức nào thì đàn gia cầm nuôi tập trung đều có số lượng lớn tác nhân truyền nhiễm bệnh là vi khuẩn, cho nên việc phòng dịch bệnh phải trở thành một quan niệm, một biện pháp bảo đảm an toàn sinh học (biology security) Do vậy, ngoài việc chọn lọc những cá thể, những dòng có sức đề kháng cao, người ta còn chú trọng đến các tập tính bẩm sinh của con vật về sinh sản, sinh trưởng,… để cải tiến cách chăm sóc, nuôi dưỡng, khai
Trang 18thác con vật…đảm bảo chất lượng sản phẩm ngày càng tốt hơn Xu hướng đó phù hợp với hướng công nghiệp hoá nói chung, nghành chăn nuôi sản phẩm nói riêng trên toàn cầu
2.1.4 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng và khả năng cho thịt ở gia cầm 2.1.4.1 Khái niệm về sinh trưởng
Sinh trưởng là quá trình tích luỹ hữu cơ do đồng hoá và dị hoá là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở tính chất di truyền của đời trước Sự sinh trưởng chính là tích luỹ dần dần các chất mà chủ yếu là protein, nên tốc độ và khối lượng tích luỹ các chất, tốc độ và sự tổng hợp protein chính cũng là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể Trần Đình Miên và Nguyễn Kim
Đường, (1992) [28]
Theo Driesch (1990) (dẫn theo Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường, 1992) [28] thì sự tăng thể tích và khối lượng cơ thể chính là sự tăng lên về khối lượng và kích thước của các tế bào trong cơ thể Trong tài liệu của Chambers.J.R, (1990) [68] thì Mozan (1977) định nghĩa sinh trưởng là sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương và da
Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng Tuy nhiên có khi tăng trọng mà không phải tăng trưởng (chẳng hạn như béo mỡ, chủ yếu là do tích nước mà không có sự phát triển của mô cơ) Vì vậy sự tăng trưởng từ khi trứng rụng cho đến lúc cơ thể đ> trưởng thành và được chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai, đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành
Như vậy sinh trưởng sẽ thông qua ba quá trình: phân chia tế bào để tăng
số lượng, tăng thể tích của tế bào và tăng thể tích giữa các tế bào Tất cả các
đặc tính của gia súc gia cầm như ngoại hình, thể chất, sức sản xuất đều không phải đ> sẵn có trong tế bào Trong phôi cũng không phải đ> có đầy đủ khi
Trang 19hình thành và hoàn chỉnh suốt quá trình sinh trưởng của cơ thể con vật Các
đặc tính của các bộ phận hình thành quá trình sinh trưởng, tuy khối lượng là một sự tiếp tục thừa hưởng các đặc tính di truyền của bố mẹ nhưng hoạt động mạnh hay yếu còn do tác động của môi trường
Khi nghiên cứu về sinh trưởng không thể không nói đến phát dục Phát dục là quá trình thay đổi về chất tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các bộ phận của cơ thể Phát dục của cơ thể con vật hình thành từ khi trứng thụ tinh, trải qua nhiều giai đoạn phức tạp cho đến khi trưởng thành
Sinh trưởng và phát dục là hai quá trình diễn ra trên cùng một cơ thể gia súc gia cầm Sinh trưởng được coi là quá trình thay đổi cấu tạo chức năng, hình thái, kích thước các bộ phận Phát dục diễn ra từ khi trứng thụ tinh, qua các giai đoạn khác nhau đến khi trưởng thành Hai quá trình này không có danh giới Có phát dục, đồng thời cũng có sinh trưởng và ngược lại ở bộ phận này có phát dục thì ở bộ phận khác có sinh trưởng
2.1.4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng
Có rất nhiều yếu tố về di truyền và ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà như: giống, tính biệt, tốc độ mọc lông, ngoại hình và sự phát triển của cơ lưỡi hái, khối lượng bộ xương, dinh dưỡng, điều kiện chăn nuôi
- ảnh hưởng của giống, dòng đến sinh trưởng: giống, dòng có ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh trưởng của gia súc, gia cầm Nhiều công trình nghiên cứu đ> khẳng định sự sinh trưởng của từng cá thể giữa các giống, các dòng, có sự khác nhau, vịt thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn vịt kiêm dụng
và vịt hướng trứng, giữa các dòng của một số giống cũng có sự khác nhau về sinh trưởng Theo tài liệu của Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [17], sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, thủy cầm có tốc độ sinh trưởng cao trong những tuần lễ đầu tiên, ở tuổi giết thịt 7-8 đối với vịt nhà 9 tuần đối với ngỗng, 10-11 tuần đối với ngan, chúng có thể đạt 70-80% khối lượng trưởng thành trong khi đó ở gà chỉ đạt có 40% Jaap.R.G và Morris.L,
Trang 20(1973) [77] đ> phát hiện những sai khác trong cùng một giống về cường độ sinh trưởng trước 8 tuần tuổi của gà con ở các bố mẹ khác nhau Theo tài liệu tổng hợp của Chambers J.R (1990) [68] có rất nhiều gen ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển cơ thể Có gen ảnh hưởng tới sự phát triển chung, có gen
ảnh hưởng tới sự phát triển nhiều chiều, có gen ảnh hưởng tới nhóm tính trạng,
có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ Những nghiên cứu trước đây
dự báo có hai hoặc bốn gen chính ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng Sau này nhiều tác giả cho rằng có ít nhất 15 cặp gen quy định tính trạng số lượng này
ảnh hưởng của giống dòng, đến tốc độ sinh trưởng, thể hiện qua sự di truyền các đặc điểm của chúng qua đời sau, được đặc trưng bởi hệ số di truyền Đ> có nhiều tác giả nghiên cứu hệ số di truyền về tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể Marco.A.S, (1982) [83] cho biết hệ số di truyền của tốc độ sinh trưởng
từ 0,4 – 0,5 Theo tài liệu của Chambers.J.R, (1990) [68], thì Siegel và Kiney
đ> tổng kết một cách hoàn chỉnh hệ số di truyền về tốc độ sinh trưởng, kết quả qua phân tích phương sai dựa theo con bố từ 0,4 – 0,6 Như vậy các nghiên cứu đ> chứng tỏ được sự khác biệt về tốc độ sinh trưởng do di truyền mà cơ sở
di truyền là do gen, ít nhất có một gen về sinh trưởng liên kết giới tính Phùng
Đức Tiến (1996), [35] ở vịt các giống hướng trứng nhẹ hơn các giống hướng thịt tới hai lần Theo Nguyễn Song Hoan, (1993) [16] vịt Anh Đào ở 75 ngày tuổi đạt khối lượng cơ thể 1417g – 1570g Kết quả này của Hoàng Văn Tiệu (1993) [39] ở 60 ngày tuổi đạt 1,8kg Trong khi đó vịt cỏ ở 75 ngày tuổi đạt 1025,28g – 1042,1g, Lê Xuân Đồng, Nguyễn Trọng Trữ, (1998) [10]
Các loài thủy cầm khác nhau thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau, con
đực lớn nhanh hơn con cái
- ảnh hưởng của tính biệt: Sự khác nhau giữa khối lượng cơ thể còn do giới tính Theo Jull M.A (1923) [78] gà trống nặng cân hơn gà mái khoảng
24 - 32 % Nhưng sai khác này cũng được biểu hiện về cường độ sinh trưởng,
được qui định không phải do hoocmon sinh dục mà do các gen liên kết với
Trang 21giới tính Những gen này ở gà trống (hai thể nhiễm sắc giới tính) hoạt động mạnh hơn ở gà mái (một thể nhiễm sắc giới tính) Sự sai khác về mặt sinh trư-ởng do giới tính còn thể hiện rõ hơn đối với dòng phát triển nhanh so với các dòng phát triển chậm Khavecman, 1963 trích theo Chamber J.R, (1990) [68] North M.O (1990) [85] đ> rút ra kết luận: lúc mới sinh gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn, ở 2 tuần tuổi: hơn 5 %; 3 tuần tuổi hơn 11 %; 5 tuần tuổi hơn 17 %; 6 tuần tuổi hơn 20 %; 7 tuần tuổi hơn 23
%; 8 tuần tuổi hơn 27 %
- ảnh hưởng của tốc độ mọc lông: tốc độ mọc lông của vịt có ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng Những kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đ> xác định trong cùng một giống, cùng tính biệt ở gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh cũng có tốc độ sinh trưởng, phát triển tốt hơn Theo Brandsch.H and Bilchel.H (1978) [2] tốc độ mọc lông là một tính trạng di truyền có liên quan đến đặc điểm trao đổi chất, sinh trưởng và phát triển của gia cầm
Gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh thì sự thành thục về thể trọng sớm hơn, chất lượng thịt tốt hơn gia cầm mọc lông chậm Song dù có tốc độ mọc lông chậm thì từ 8 – 12 tuần tuổi gà cũng mọc lông đủ Warren, 1994 dẫn theo Trần Long, (1994) [23]
Siegel.P.B and Dunington.E.A, (1978) [94] cho rằng tốc độ mọc lông có quan hệ chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng, còn những alen qui định mọc lông nhanh phù hợp với tăng trọng cao
- ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng: dinh dưỡng có mối liên quan chặt chẽ với sự duy trì sự sống, khả năng sản xuất của gia súc, gia cầm Dinh dưỡng là một quá trình sinh học nhằm duy trì cơ thể và không ngừng đổi mới những vật chất tạo lên cơ thể Cơ thể đòi hỏi được cung cấp các chất dinh dưỡng để duy trì sự sống và phát triển Do đó, trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng việc xác định nhu cầu các chất dinh dưỡng hay chế độ dinh dưỡng hợp
lý cho vật nuôi là rất cần thiết và có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng
Trang 22của vật nuôi Sinh trưởng là tổng sự phát triển các phần của cơ thể như thịt, xương, da Tỷ lệ sinh trưởng các phần này khác nhau ở độ tuổi và phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng Theo Chambers.J.R, (1990) [68] thì chế độ dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển các bộ phận khác nhau của cơ thể
mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô này đối với mô khác Hơn thế nữa, dinh dưỡng không những ảnh hưởng tới sinh trưởng mà còn ảnh hưởng
đến biến động di truyền về sinh trưởng
Những kết quả của của Bùi Đức Lũng và cộng sự, (1992) [25] chỉ ra rằng để phát huy được tốc độ sinh trưởng tối đa cần cung cấp thức ăn tối ưu với đầy đủ chất dinh dưỡng được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein và các axit amin với năng lượng Ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp còn được bổ sung hàng loạt các chế phẩm hoá sinh học không mang ý nghĩa dinh dưỡng nhưng
nó kích thích sinh trưởng làm tăng năng suất và chất lượng thịt
Kết quả nghiên cứu của Abdelsamie.R.R and Farrell.D.J, (1985) [62] về
ảnh hưởng của các mức Protein trong khẩu phần tới khả năng tăng khối lượng tuyệt đối của vịt Bắc Kinh cho biết: ở tuần tuổi thứ 2 với khẩu phần ăn 24% Protein thô thì tăng khối lượng cơ thể tuyệt đối của vịt đạt 320 g, ở lô nuôi với khẩu phần 18% Protein thô thì tăng khối lượng cơ thể tuyệt đối của vịt chỉ đạt
309 g
- Các yếu tố môi trường: Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, ẩm độ,
ánh sáng, độ thông thoáng và mật độ nuôi có ảnh hưởng không nhỏ tới sự sinh trưởng của gia cầm nói chung và vịt nói riêng
Nhiệt độ ở từng mùa vụ ảnh hưởng đến lượng thức ăn thu nhận do đó khẩu phần ăn của vịt cần thay đổi thích hợp Nghiên cứu của Knust.U, Pingel.H and Lengerken.G.V, (1996) [80] cho thấy khi nhiệt độ cao (300C)
ảnh hưởng đến sinh trưởng của vịt, làm giảm thức ăn ăn vào, kết quả là khối lượng sống giảm và tỷ lệ mỡ của thịt sẽ thấp Nhiệt độ cao có tác dụng âm tính
Trang 23đến chất lượng thịt (tỷ lệ ăn được giảm, chất lượng cơ kém) Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1995) [25] sau khi nghiên cứu đ> đưa ra khuyến cáo: với vịt nuôi quảng canh mật độ tối đa 300 vịt/ha mặt nước
Các tác giả Lewis.P.D, Perry.G.C and morris.T.R, (1992) [82] cho biết các giống khác nhau thì bị tác động của thời gian chiếu sáng cũng khác nhau, đặc biệt các tuần tuổi 9, 12, 15 Từ 9 tuần tuổi nếu tăng thời gian chiếu sáng sẽ làm phát dục sớm
Ngoài ra ẩm độ môi trường cũng có ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của gia cầm ẩm độ quá thấp sẽ làm tăng lượng bụi trong chuồng nuôi nên gia cầm dễ mắc một số bệnh hô hấp, bệnh về mắt Mặt khác độ ẩm thấp còn làm
da khô, gầy yếu và khó chịu Song nếu ẩm độ cao dễ làm gà mắc bệnh đường ruột, làm giảm khả năng tăng trưởng nhất là trong điều kiện nóng ẩm nước ta
Như vậy, trong chăn nuôi vịt thịt, đặc biệt là những giống cao sản thì ngoài yếu tố giống tốt, dinh dưỡng hợp lý là nhằm mục đích khai thác tối đa tiềm năng sinh học về khả năng tăng khối lượng cơ thể của vịt, đồng thời tốc
độ tăng khối lượng cơ thể khác nhau qua các giai đoạn tuổi cho phép nhà chăn nuôi xác định thời điểm giết thịt cho hiệu quả kinh tế cao nhất
2.1.4.3 Các giai đoạn sinh trưởng và cách đánh giá sức sinh trưởng
Sinh trưởng là một quá trính sinh l ý, sinh hoá phức tạp từ khi phôi thai
được hình thành đến khi con vật thành thục về thể vóc Gia cầm sau khi nở ra, quá trình sinh trưởng được chia làm hai thời kỳ:
Thời kỳ gia cầm con: trong thời kỳ gia cầm con quá trình sinh trưởng rất mạnh do sự phát triển của các tế bào trong giai đoạn này rất lớn chúng tăng nhanh cả về khối lượng, kích thước và khối lượng tế bào, trong khi đó các cơ quan nội tạng nhất là bộ máy tiêu hoá lại chưa hoàn thiện về chức năng, dạ dày chưa tiêu hoá được thức ăn cứng, các men tiêu hoá chưa đầy đủ vì vậy chất lượng thức ăn ảnh rất lớn đến tốc độ tăng trưởng ở gia cầm con còn diễn
Trang 24ra quá trình thay lông, đây là một quá trình sinh l ý quan trọng của gia cầm Vì thế thời kỳ này phải chú ý cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể gia cầm nhất là protein và các axit amin không thay thế được
Trong giai đoạn con, chúng rất nhạy cảm với sự thay đổi điều kiện môi trường, mười ngày đầu thân nhiệt gia cầm con chưa ổn định nên phụ thuộc rất lớn vào nhiệt độ môi trường Vì thế giai đoạn này cần phải cho gia cầm con sống trong môi trường có ẩm độ và nhiệt độ thích hợp thì chúng mới có thể sinh trưởng và phát triển tốt Ngoài ra giai đoạn con rất mẫn cảm với các loại bệnh vì sức đề kháng còn kém
Thời kỳ gia cầm trưởng thành: trong giai đoạn này tất cả các cơ quan, tổ chức trong cơ thể gia cầm dần hoàn thiện Tốc độ sinh trưởng chậm lại do số lượng tế bào tăng chậm, chủ yếu là tăng lên về kích thước và khối lượng Thời
kỳ này gia cầm đ> có khả năng thích nghi tốt hơn với sự thay đổi của điều kiện môi trường Trong cơ thể gà lúc này xẩy ra quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng và năng lượng một phần để duy trì cơ thể, một phần dùng để tích luỹ mỡ do vậy tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn kém hơn so với thời kỳ con
Sinh trưởng là một quá trình sinh học phức tạp, để có được các phép đo chính xác về sinh trưởng ở từng thời kỳ không phải dễ dàng Chambers.J.R, (1990) [68] Để đánh gía tốc độ sinh trưởng, người ta có khuynh hướng sử dụng cách đơn giản hoá và thực tế các phép đo Theo Chambers.J.R, (1990) [68], để đánh giá sức sinh trưởng của gia cầm ngưới ta thường dùng các chỉ tiêu chính như: sinh trưởng tích luỹ (khối lượng cơ thể), sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối và đường cong sinh trưởng
sinh trưởng tích luỹ (khối lượng cơ thể): khối lượng cơ thể ở một thời
điểm nào đó là một chỉ số được sử dụng quen thuộc nhất về sinh trưởng Khối lượng cơ thể là một chỉ số thích hợp nhất về sinh trưởng (tính theo tuổi), song chỉ tiêu này không nói lên được mức độ khác nhau về tốc độ sinh trưởng trong
Trang 25một thời gian Xác định được khối lượng cơ thể ở các khoảng thời gian khác nhau, như ở các tuần tuổi ta có thể biểu thị trên đồ thị gọi là đồ thị sinh trưởng tích luỹ
Đối với gia cầm thịt, đây là tính trạng năng suất quan trọng được tính bằng kg hoặc gam/con và cũng là căn cứ để so sánh được khối lượng cơ thể của các tổ hợp lai, từ đó lựa chọn tổ hợp lai tốt nhất
Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng kích thước, thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát TCVN 2.39, (1977) [42] Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng Parapol, với vịt hướng thịt thường đạt đỉnh cao từ 6 -
7 tuần tuổi Sinh trưởng tuyệt đối thường tính bằng gam/con/ngày
Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm (%) tăng lên của khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát T.C.V.N 2.40, (1997) [43] Đơn vị tính % Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng Hypepol Đối với gia cầm thịt thường có tốc độ tương đối tăng từ tuần tuổi đầu đến tuần tuổi thứ 3-4 sau đó giảm dần qua các tuần tuổi
Đường cong sinh trưởng: đường cong sinh trưởng không chỉ biểu thị tốc độ sinh trưởng của gia súc gia cầm nói chung Theo tài liệu của Chambers.J.R, (1990) [68] đường cong sinh trưởng của gia cầm thịt có 4 đặc
điểm chính, gồm 4 pha:
- Pha sinh trưởng tích luỹ tăng tốc độ nhanh sau khi nở
- Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có tốc độ sinh trưởng cao nhất
- Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn
- Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gia cầm trưởng thành
- Thông thường người ta sử dụng khối lượng cơ thể ở các tuần tuổi thể hiện bằng đồ thị sinh trưởng tích luỹ, cũng cho biết một cách đơn giản nhất
về đường cong sinh trưởng
ở nước ta, Nguyễn Đăng Vang, (1983) [59] khi nghiên cứu về đường cong sinh trưởng của ngỗng Rheiland từ sơ sinh đến 77 ngày tuổi thấy hoàn
Trang 26toàn phù hợp với qui luật sinh trưởng nói chung Xác định phương trình biểu diễn quá trình sinh trưởng từ sơ sinh đến 77 ngày tuổi, đường cong sinh trưởng thể hiện rõ 4 giai đoạn sinh trưởng
2.1.5 Khả năng cho thịt
Sức sản xuất thịt là đặc điểm kinh tế quan trọng nhất trong ngành chăn nuôi gia cầm lấy thịt Thịt gia cầm là một nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, nó có chứa đủ các axit amin không thay thế được đối với con người Hơn nữa, tỷ lệ mỡ ở thịt gia cầm tương đối thấp, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng
Khả năng sản xuất thịt là khả năng tạo nên khối lượng cơ thể khi ở độ tuổi giết thịt cho hiệu quả kinh tế cao nhất Khả năng này của các loài gia cầm liên quan mật thiết với đặc điểm ngoại hình, thể chất, tốc độ sinh trưởng…khả năng cho thịt của gia cầm nói chung và của vịt nói riêng được biểu hiện trên hai góc độ là năng suất thịt và chất lượng thịt
Năng suất thịt: năng suất thịt biểu thị bằng các chỉ tiêu chính như khối lượng sống, khối lượng và tỷ lệ phần ăn được, khối lượng và tỷ lệ thân thịt, khối lượng và tỷ lệ thịt đùi, khối lượng và tỷ lệ thịt ngực
Theo Ricard.F.H, Pouvier (1967) [92], thì hệ số tương quan (r) giữa khối lượng sống và khối lượng thịt xẻ là khá cao, thường là 0,9 còn giữa khối lượng sống và khối lượng mỡ bụng thì thấp hơn chỉ thường từ 0,2 đến 0,5
Các giống, các dòng khác nhau thì năng suất thịt cũng khác nhau Giữa các dòng luôn có sự khác nhau di truyền về năng suất thịt xẻ hay năng suất các phần như thịt đùi, thịt ngực… và từng phần thịt, da, xương Chambers.J.R, (1990) [68]
Thông qua khối lượng cơ thể, Davis và Plymouth cho thấy có tương quan dương giữa khối lượng và năng suất thịt xẻ
Kết quả khảo sát trên vịt đực cỏ của Phạm Văn Trượng và cộng sự (1994) [58], lúc 70 ngày tuổi tỷ lệ thân thịt đạt 69%, tỷ lệ thịt đùi 16% tỷ lệ thịt ức 7,3%
Trang 27Theo Decarville.H, De Croutt.A, (1985) [6], tỷ lệ thịt xẻ phụ thuộc vào tính biệt: vịt đực Bắc kinh là 60,3%, vịt mái 61%
Verei jken.A.L.J, (1992) [96] cho biết mối quan hệ di truyền giữa cấu trúc của cơ thể với khối lượng cơ thể là 0,5%, với tổng số móc hàm là 0,45, tỷ
lệ thịt ngực là 0,6 Khả năng di truyền được ước tính cho cấu trúc cơ thể dao
động từ 0,3 – 0,45
Kosba, et al (1995) [81] cho biết hệ số di truyền tuyệt đối của thịt xẻ như sau: Hệ số di truyền theo bố (h2
s) = 0,19 – 0,22; hệ số di truyền theo mẹ (h2
D) = 1,02 – 1,09 hệ số di truyền theo cả bố và mẹ (h2
s+D) = 0,60 – 0,66 Thành phần của thịt xẻ bị ảnh hưởng của môi trường khá lớn, khi nhiệt
độ môi trường cao thì tỷ lệ mỡ của thịt xẻ thấp, tỷ lệ ăn được giảm, chất lượng cơ kém Knust.U, Pingel.H, (1996) [80]
Thành phần thịt xẻ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền Các giống vịt cao sản (đặc biệt nuôi nhốt) có khối lượng cơ thể, tỷ lệ thịt xẻ cao hơn vịt địa phương nuôi truyền thống Thành phần thịt xẻ có thể được thay đổi nhiều cách khác nhau trong đó có chọn lọc Abdelsamie RE and Farrell D.J, (1985) [62]
Chất lượng thịt: được phản ánh qua thành phần hoá học của thịt Chỉ tiêu đánh giá thường là hàm lượng vật chất khô, tỷ lệ proein, lipit, khoáng tổng số… vật chất khô thể hiện độ chắc của thịt, protein thể hiện giá trị dinh dư-ỡng, mỡ thể hiện độ béo của thịt, khoáng tạo nên độ đậm đà Giá trị dinh dưỡng của thịt còn phụ thuộc vào những yếu tố khác như hàm lượng và tỷ lệ các acidamin, hàm lượng vitamin, khoáng đa vi lượng, các hoạt chất sinh học,…ngoài ra các chất có ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người như cholesterol cũng được xem xét Mặt khác DHA là một loại acid béo có vai trò rất quan trọng trong phát triển n>o bộ của trẻ nhỏ và thần kinh thị giác
Các giống gia cầm khác nhau thì thành phần hoá học của thịt cũng khác nhau Hetzel.D.J.S, (1983) [75] khi so sánh thành phần hóa học thịt xẻ của vịt Bắc Kinh, Alabio, F1(BK x A), F1 (ngan x Alabio) thấy rằng tỷ lệ vật chất khô
Trang 28và mỡ của thịt xẻ cao nhất ở con lai F1 (BK x Alabio = 47,8% và 31,7%) Nhưng tỷ lệ Protein lại cao nhất ở con lai F1 (ngan x Alabio) = 15%
Hezel.D.J.S and Simon.G.S, (1983) [75] khi so sánh 3 giống vịt địa phương Khaki campbell đến 16 tuần tuổi cho thấy: tỷ lệ sinh trưởng khác nhau rất nhỏ, tỷ lệ mỡ khác nhau chút ít Vịt Bali và Tegal có tỷ lệ mỡ thấp hơn Alabio và Khaki campbell, Theo tài liệu của Chambers.J.R, (1990) [68] tốc độ sinh trưởng có tương quan âm với tỷ lệ mỡ (-0,39), và tương quan dương với tỷ
lệ protein (0,53), hàm lượng nước (0,32) và khoáng tổng số (0,14)
2.1.6 Cơ sở khoa học về tiêu tốn thức ăn
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng là tỷ lệ chuyển hoá thức ăn để đạt được tốc độ tăng trọng, vì tăng trọng là một chức năng chính của quá trình chuyển hoá thức ăn, hay nói cách khác tiêu tốn thức ăn là hiệu suất giữa thức ăn trên kilôgam tăng trọng
Trong chăn nuôi thức ăn thường chiếm 70% giá thành sản phẩm, do vậy thức ăn/1 đơn vị sản phẩm càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại
Hệ số tương quan giữa khối lượng cơ thể và tăng trọng với tiêu tốn thức
ăn đ> được Chambers.J.R, (1984) [67] xác định là (0,5 - 0,9) Tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là âm và thấp từ (- 0,2 đến - 0,8)
Box.T.W and Bohren.B, (1954) [65], Willson.S.P, (1969) [97] đ> xác
định hệ số tương quan giữa khả năng tăng khối lượng cơ thể và hiệu quả chuyển hoá thức ăn từ 1 - 4 tuần tuổi là r = + 0,5
Đối với gia cầm sinh sản, thường tính tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng hay 1 kg trứng Hiện nay, nhiều cơ sở chăn nuôi trên thế giới đ> áp dụng phương pháp tính mức tiêu tốn thức ăn bằng lượng chi phí thức ăn cho gia cầm
từ lúc 1 ngày tuổi cho đến kết thúc 1 năm đẻ
Tiêu tốn thức ăn cho tăng trọng có liên quan đến tính biệt, biện pháp nuôi dưỡng và những tác động kỹ thuật Do vậy, để hạ thấp TTTĂ cần thực hiện cho gia cầm ăn theo nhu cầu đặc điểm sinh lý, cải thiện khả năng tăng trọng, giảm thời gian nuôi vỗ béo kết hợp với quy trình chọn lọc
Trang 292.1.7 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm
2.1.7.1 Cơ sở giải phẫu của cơ quan sinh dục
Khác với các loài động vật khác, các nhà phôi thai học cho rằng: trứng của gia cầm nói chung là một tế bào sinh sản khổng lồ, được bao bọc bởi lòng
đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ Buồng trứng có chức năng tạo thành lòng đỏ Các bộ phận khác như lòng trắng, màng vỏ và vỏ do ống dẫn trứng tạo thành Nhiều tài liệu nghiên cứu của Jull (1939 – 1948), (dẫn theo Phạm Thị Minh Thu, 1996) [53], Vương Đống (1968) [12]; OrLov.M V, (1974) [87]; Perdric.J, (1969) [88]; Card L.E and Nesheim.M.C, (1970) [66] đều xác nhận
ở gia cầm mái, trong quá trình phát triển phôi thai bên trái, phải đều có buồng trứng phát triển, nhưng sau khi nở ra thì buồng trứng bên phải mất đi, còn lại buồng trứng bên trái Một số tác giả còn cho rằng: trường hợp cá biệt thấy ở một gia cầm mái đẻ cao sản có buồng trứng ở cả hai bên đều phát triển
Trong thời gian phát triển lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bởi một tầng tế bào, không có liên kết gì với biểu bì phát sinh Tầng tế bào này trở thành nhiều tầng, sự tạo thành tiến tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo này được gọi là Follicun, bên trong Follicun có một khoang hở chứa đầy dịch, bên ngoài Follicun trông giống như một cái túi Trong thời kỳ đẻ trứng nhiều Follicun trở nên chín làm thay đổi hình dạng buồng trứng, lúc này buồng trứng giống như
“chùm nho”, sau thời kỳ đẻ trứng lại trở thành hình dạng ban đầu, các Follicun chín vỡ ra, quả trứng chín ra ngoài cùng với dịch của Follicun và rơi vào phễu ống dẫn trứng Sự rụng trứng đầu tiên báo hiệu sự thành thục sinh dục Nhiều tác giả cho rằng, hầu hết lòng đỏ được tạo thành trước khi đẻ trứng 9 – 10 ngày, từ 1 – 3 ngày tốc độ phát triển của lòng đỏ rất chậm Khi đường kính của lòng đỏ đạt tới 6mm bắt đầu vào thời kỳ sinh sản cực nhanh, và có thể tăng 4mm trong 24 giờ cho tới khi đạt 40 mm Tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ không tương quan đến cường độ đẻ trứng Quá trình hình thành trứng và rụng trứng là một quá trình sinh lý phức tạp do sự điều khiển của hocmon Thời
Trang 30gian từ lúc đẻ trứng cho đến khi rụng quả trứng tiếp theo kéo dài từ 15 – 75 phút Tế bào trứng được giải phóng ra sau khi vỡ Follicun và rơi vào ống dẫn trứng Thời gian lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20 – 24 giờ
Theo các tác giả Perdrix J (1969) [88], Vương Đống (1968) [12], Card
chiếm 10 – 11,6%, lòng trắng 57 – 60%, lòng đỏ 30 – 32% Thành phần hoá học của trứng không vỏ: nước chiếm 73,5 – 74,4%, protein 12,5 – 13%
2.1.7.2 Tuổi đẻ quả trứng đầu:
Tuổi của vịt mái khi đẻ quả trứng đầu tiên là một chỉ tiêu đánh giá
sự thành thục sinh dục Chỉ tiêu này cũng là một yếu tố cấu thành năng suất: tuổi đẻ quả trứng đầu được xác định bằng số ngày tuổi kể từ khi nở
đến khi đẻ quả trứng đầu Trong một đàn, được xác định bằng tuổi đẻ của 5% số cá thể trong đàn
Gudeil, Lerner và một số tác giả khác cho rằng: có các gen trên nhiễm sắc thể giới tính cùng tham gia hình thành tính trạng này (dẫn theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, (1992) [28] có ít nhất 2 cặp gen cùng quy định Tuổi đẻ quả trứng đầu phụ thuộc và chế độ nuôi dưỡng, các yếu tố môi trường
đặc biệt là thời gian chiếu sáng Thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm
đẻ trứng sớm Khavecman, (1972) [19]
Theo Dickerson (1952); Yyob và Merat (1975) (dẫn theo Trần Long, 1994) [23] đ> tính toán hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể chưa trưởng thành với sản lượng trứng thường có giá trị âm (- 0,21 đến – 0,16) Còn Nicola và cộng sự tính được hệ số tương quan di truyền giữa tuổi thành thục với sản lượng trứng là 0,11 Theo Siegel và Dunmington (dẫn theo Bùi Thị Oanh, 1996) [33] thì khối lượng cơ thể và cấu trúc thành phần cơ thể
là những nhân tố ảnh hưởng đến tính thành thục của gia cầm mái Dunmington.E.A và cộng sự, (1985) [71] cho rằng trước đây người ta đề cập
đến chọn lọc khối lượng cơ thể lúc gà còn non để giúp cho quá trình tăng sự
Trang 31phát triển của nang trứng và sức đẻ trứng Nhưng thực tế, gà nặng cân lại đẻ ít trứng HocKing và cộng sự dẫn theo Chambers.J.R, (1990) [68] giải thích rằng nguyên nhân gây nên hiện tượng đẻ trứng ít của gà nặng cân là do tồn tại nhiều bao no>n, chúng thường xuyên lấn át buồng trứng
Theo Brandsch.H and Biilchel.H (1978) [2] hệ số di truyền tính trạng tuổi đẻ quả trứng đầu tiên của gà h2 = 0,15 – 0,14 Giữa tuổi thành thục sinh dục và kích thước cơ thể có mối tương quan nghịch Chọn lọc theo hướng tăng khối lượng quả trứng sẽ dẫn đến sự tăng khối lượng cơ thể và tăng tuổi đẻ quả trứng đầu tiên
Trong cùng một giống, cá thể nào được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, điều kiện thời tiết, khí hậu và chế độ chiếu sáng phù hợp sẽ có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn
2.1.7.3 Sức sản xuất trứng của gia cầm
Sức đẻ trứng của gia cầm là chỉ tiêu chủ yếu của gia cầm hướng trứng và là chỉ tiêu quan trọng của gia cầm hướng thịt hoặc kiêm dụng,
đồng thời nó cũng là đặc điểm sinh vật học quan trọng và là chỉ tiêu kinh
tế, sử dụng trong việc sản xuất trứng thương phẩm và trứng ấp để bổ sung
đàn và sản xuất gia cầm con
Sức đẻ trứng là số lượng trứng một gia cầm mái sinh ra trên một đơn vị thời gian Thông thường người ta tính sản lượng trứng cho một năm, cũng có khi tính sản lượng trứng theo một năm sinh học (số trứng đẻ ra trong 365 ngày
kể từ khi quả trứng đầu tiên hay 500 ngày tuổi kể từ khi gia cầm nở ra) Đối với gia cầm đẻ trứng thì đây là chỉ tiêu năng suất quan trọng, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục
Sức đẻ trứng là một tính trạng số lượng và hệ số di truyền không cao, dao động lớn Theo Hutt.F.F, (1978) [18] cho biết hệ số di truyền năng suất trứng gà Lerghorn
là 0,09 - 0,22; của gà Plymouth là 0,25 – 0,41 Như vậy, sức đẻ trứng không những phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh mà còn phụ thuộc yếu tố di truyền – giống
Trang 32Trong sản xuất, người ta thường đánh giá sức sản xuất trứng qua tỷ lệ
đẻ Tỷ lệ đẻ là chỉ tiêu quan trọng phản ánh cường độ đẻ trứng của toàn đàn, là chỉ tiêu đánh giá chất lượng giống và mức độ ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh đến sức sản xuất của đàn giống
* Những yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng
Theo Đặng Hữu Lanh và cộng sự, (1999) [20] sức sản xuất trứng chịu
sự chi phối của các tập hợp gen khác nhau; các gen quy định tính trạng này nằm trên nhiễm sắc thể thường và bị hạn chế bởi giới tính Năng suất trứng
được truyền lại cho đời sau từ bố mẹ Hayer.J.F và cộng sự, (1994) [74] cho rằng sức dẻ trứng của gà mái chịu sự ảnh hưởng của 5 yếu tố di truyền cá thể là: thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học, cường độ đẻ, tính nghỉ đẻ mùa
đông, tính ấp bóng, tuổi thành thục sinh dục
- Tuổi thành thục sinh dục: Thường tuổi thành thục sinh dục của vịt dao
động trong khoảng 20 – 26 tuần tuổi Tuổi thành thục sinh dục càng sớm thì thời gian gian đẻ trứng càng dài, năng suất trứng càng cao Tuy nhiên nếu tuổi thành thục sinh dục sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc thì sức bền đẻ trứng không cao Vì lúc này cơ thể vịt mái chưa thành thục về thể vóc và vẫn đang sinh trưởng phát dục để hoàn thiện cấu chúc chức năng cơ thể, nhưng chất dinh dưỡng không thể tập trung cho hoàn thiện cấu trúc cơ thể được mà phải cung cấp cho quá trình tạo trứng nên ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng về sau
Sản lượng trứng 3 - 4 tháng đầu tiên có mối tương quan dương với sản lượng trứng của cả năm Vì vậy, để xác định chỉ tiêu về sức đẻ trứng người ta thường tính sản lượng trứng của 3 - 4 tháng đầu để có phán đoán sớm và kịp thời trong công tác giống Brandsch.H và cộng sự, (1978) [2] cho biết hệ số di truyền của tính trạng tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là h2 = 0,14 - 0,15
Tuổi thành thục sinh dục sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, loài, giới tính, thời gian nở trong năm… Cụ thể, giống vịt hướng trứng có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn giống vịt hướng thịt, vịt thành thục sinh dục sớm hơn
Trang 33ngan và ngỗng Vịt con nở vào mùa thu thường có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn các mùa khác trong năm
- Cường độ đẻ: cường độ đẻ trong 3 – 4 tháng đầu có tương quan rất chặt chẽ với sản lượng trứng của gia cầm Nếu cường độ đẻ trứng càng cao thì sản lượng trứng cao và ngược lại
- Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học: chu kỳ đẻ trứng sinh học
được tính từ khi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên đến khi gia cầm nghỉ đẻ để thay lông, đó là chu kỳ thứ nhất và lại tiếp tục chu kỳ thứ hai Sản lượng trứng phụ thuộc vào thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học, thời gian này càng dài càng tốt Chỉ tiêu này có tương quan dương với tuổi thành thục sinh dục, sức bền đẻ trứng, chu kỳ đẻ trứng khác nhau tuỳ từng cá thể Những gia cầm đẻ tốt
có chu kỳ đẻ trứng dài, nhịp độ đẻ trứng đều và thời gian nghỉ đẻ ngắn, còn những gia cầm đẻ kém có dấu hiệu ngược lại Nói chung, thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học có tính di truyền phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau nhất là chế độ chăm sóc, dinh dưỡng, mùa vụ
- Tính nghỉ đẻ mùa đông: vào mùa đông nhiệt độ thấp nên cơ thể phải huy động năng lượng để chống rét, tuy nhiên với những giống gà tốt thì thời gian nghỉ đẻ rất ngắn thậm chí là không có Tính nghỉ đẻ có mối tương quan nghịch với năng suất trứng, tính nghỉ đẻ mùa đông càng dài thì năng suất trứng càng thấp
Ngoài 4 yếu tố di truyền cá thể, sức đẻ trứng còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau như giống, dòng, lứa tuổi, dinh dưỡng, chế độ chăm sóc, tiểu khí hậu chuồng nuôi…
- Giống, dòng ảnh hưởng lớn đến sức sản xuất trứng của gia cầm Giống gia cầm khác nhau sức sản xuất trứng khác nhau Trong cùng một giống các dòng khác nhau cho năng suất trứng khác nhau; những dòng được chọn lọc kỹ thường cho sản lượng trứng cao hơn những dòng chưa được chọn lọc kỹ khoảng 15 – 20%
Trang 34- Tuổi gia cầm cũng có liên quan đến năng suất trứng của nó ở vịt sản lượng trứng giảm dần theo tuổi, thường sản lượng trứng trung bình năm thứ hai giảm 15 – 20% so với năm thứ nhất
- Mùa vụ ảnh hưởng rõ rệt đến sức đẻ trứng của vịt ở nước ta, mùa hè sức đẻ trứng giảm xuống nhiều so với mùa xuân và đến mùa thu sức đẻ trứng lại tăng lên
- Nhiệt độ môi trường xung quanh cũng ảnh hưởng đến sản lượng trứng
ở nước ta nhiệt độ thích hợp đối với gia cầm đẻ trứng là 14 -220C Khi nhiệt
độ thấp hơn nhiệt độ giới hạn thấp gia cầm phải huy động năng lượng để chống rét; nếu nhiệt độ cao hơn nhiệt độ giới hạn trên, gia cầm thải nhiệt nhiều ảnh hưởng đến sản lượng trứng và làm giảm sản lượng trứng
- ánh sáng ảnh hưởng đến sản lượng trứng qua thời gian chiếu sáng và cường độ chiếu sáng Yêu cầu thời gian chiếu sáng với vịt đẻ là 16 – 18 giờ/ngày với cường độ chiếu sáng là 3 – 3,5 W/m2
- Thay lông: sau mỗi chu kỳ đẻ trứng sinh học vịt nghỉ đẻ và thay lông Trong điều kiện bình thường, lúc thay lông lần đầu tiên là thời điểm quan trọng để đánh giá đàn vịt đẻ tốt hay xấu Những đàn vịt thay lông sớm, thời gian thay lông bắt đầu từ tháng 6 – 7 và quá trình thay lông diễn ra chậm kéo dài 3 – 4 tháng là những đàn vịt đẻ kém Ngược lại, có những đàn vịt thay lông muộn thời gian thay lông bắt đầu từ tháng 10 – 11, quá trình thay lông lại diễn
ra nhanh là những đàn vịt đẻ tốt Đặc biệt ở một số đàn cao sản, thời gian nghỉ
đẻ chỉ 4 -5 tuần và đẻ lại ngay khi chưa hình thành xong bộ lông mới, có những con đẻ ngay trong thời gian thay lông Như vậy, thay lông liên quan mật thiết đến sản lượng trứng của gia cầm
Trong chăn nuôi có một yếu tố ảnh hưởng rất quan trọng đến hiệu quả kinh tế suốt cả quá trình chăn nuôi là tác động của con người Ngày nay, mô hình chăn nuôi từng bước đ> thay đổi, dù là cơ sở chăn nuôi lớn hay chăn nuôi
Trang 35nhỏ đều rất quan tâm đến các tiến bộ kỹ thuật về mọi lĩnh vực trong chăn nuôi như: con giống, dinh dưỡng, quy trình chăn nuôi …Dưới ảnh hưởng của công tác giống, điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng đ> không ngừng nâng cao hiệu quả của chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng
tỷ lệ nở, chất lượng và sức sống của vịt con Ranch (1971) dẫn theo Nguyễn Thị Thanh Bình, (1998) [3] đ> cho rằng khối lượng trứng tăng dần đến cuối chu kỳ đẻ Khối lượng trứng và sản lượng trứng thường có hệ số tương quan
âm, theo JanVa (1967) dẫn theo Nguyễn Thị Thanh Bình, (1998) [3] xác định
hệ số này là - 0,11 Phạm Văn Trượng và cộng sự, (1995) [58] cho biết: Khối lượng trứng bình quân của vịt bố mẹ giống CV - Super M dòng trống là 90,2 g; dòng mái là 82,9 g; khối lượng trứng của vịt Anh Đào - Tiệp là 77,4 g; vịt Anh Đào - Hungari là 76,7 gam Lê Viết Ly và cộng sự, (1998) [26] nghiên cứu vịt Cỏ màu cánh sẻ qua 6 thế hệ, cho biết: Khối lượng của trứng vịt Cỏ màu cánh sẻ khá ổn định, biến động từ 64,27 đến 64,51 g/quả Kết quả nghiên cứu của Lương Tất Nhợ và cộng sự, (1993) [31] trên vịt bố mẹ CV - Super M nuôi tại Đại Xuyên cho biết: khối lượng trứng trung bình đạt 72,5 g/quả; khối lượng tăng dần theo tuần tuổi đẻ và đạt cao nhất ở tuần đẻ trứng 21 - 24 (78,3 g/quả) Nguyễn Huy Đạt, (1991) [7] khi nghiên cứu tính trạng năng suất của các dòng gà Leghorn nuôi tại Việt Nam đ> cho biết khối lượng trứng phụ thuộc vào yếu tố môi trường như thức ăn, nhiệt độ Khối lượng trứng cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở Theo OrLov.M.V, (1974) [87] thì trong số trứng của
Trang 36cùng một gà mẹ đẻ ra, những trứng có khối lượng trung bình cho tỷ lệ nở cao hơn những trứng có khối lượng quá lớn hoặc quá nhỏ
2.1.7.5 Hình dạng và chất lượng trứng
Nhiều tác giả cho rằng chất lượng của trứng gồm hai phần:
Chất lượng bên ngoài gồm: khối lượng, hình dạng, màu sắc, độ dày và bền của vỏ trứng
Chất lượng bên trong gồm các thành phần: lòng đỏ, lòng trắng, giá trị dinh dưỡng, màu sắc và mùi vị, các chỉ số hình thái của lòng đỏ và lòng trắng Trứng gia cầm có hình ô van, theo Marble (1943) dẫn theo nguyễn Thị Thanh Bình, (1998) [3] chỉ số hình dạng được xác định bằng tỷ lệ giữa đường kính lớn và đường kính nhỏ Sarenke (1978) dẫn theo Vũ Quang Ninh, (2002) [30], cho rằng chỉ số hình dạng là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá tỷ lệ ấp nở và độ bền vững của vỏ trứng, nếu trứng đồng đều sẽ cho quá trình phát triển của phôi
đồng đều, số gia cầm con nở cùng một thời gian nhiều, nếu kích thước trứng không đều khi đưa vào ấp, những trứng nhỏ phôi phát triển nhanh hơn, nở sớm hơn những trứng có kích thước lớn
Theo OrLov.M.V, (1974) [87] thì điều kiện nuôi dưỡng có ảnh hưởng
đến hình dạng quả trứng Nuôi dưỡng tốt trứng sẽ đều nhau và ngược lại
Độ dày vỏ trứng ảnh hưởng tới độ bền của trứng và có ý nghĩa trong việc vận chuyển, quá trình trao đổi chất và là nguồn gốc cung cấp can xi cho phôi Theo Pedrix.J, (1969) [88] cho biết độ dày vỏ trứng gà từ 0,229 – 0,373mm Jull.M.A, (1976) [78] và một số tác giả khác cho rằng, độ dày vỏ trứng chịu
ảnh hưởng của yếu tố di truyền
Lòng trắng trứng gồm lòng trắng lo>ng và lòng trắng đặc, được cấu tạo chủ yếu là Albumin, một số khoáng chất Nước giúp cho cấu tạo lông da và các nội quan trong quá trình phát triển phôi Chất lượng lòng trắng trứng được xác định bằng đơn vị Haugh (Hu = 100 lg (H-1,7w0,374,76) Theo Xergecva (1977) dẫn theo Nguyễn Thị Thanh Bình (1998) [3] trứng ấp có chất lượng tốt
Trang 37phải đạt 75 – 90 đơn vị Haugh Theo Macro.A.S, (1982) [83] thì hệ số di truyền của khối lượng lòng trắng từ 0,22 – 0,78 Theo Auaas and Wilke.R, (1978) [1] cho biết ở vịt tỷ lệ lòng trắng là 52,1% khối lượng quả trứng
Lòng đỏ là thành phần quan trọng nhất của trứng gồm có nước, protit, lipit, gluxit, các axít amin không thay thế và các vitamin nhóm B và ADE làm nhiệm vụ cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi Chất lượng lòng đỏ được xác
định bằng chỉ số lòng đỏ Theo Card L.E and Nesheim M.C, (1970) [66] thì chỉ số lòng đỏ của trứng tươi là 0,4 – 0,42; trứng có chỉ số lòng đỏ cao sẽ cho
tỷ lệ ấp nở cao
2.1.7.6 Khả năng thụ tinh và ấp nở
* Sự thụ tinh: là quá trình đồng hoá giữa trứng và tinh trùng để tạo ra hợp tử có bản chất hoàn toàn mới, có khả năng phân chia nguyên nhiễm liên tiếp tạo thành phôi Khả năng thụ tinh có ý nghĩa quan trọng, là chỉ tiêu phản
ánh sức sinh sản của đời bố mẹ Thông thường trong sản xuất, tỷ lệ thụ tinh
được tính bằng tỷ lệ % giữa số trứng có phôi với số trứng đem vào ấp ở các trung tâm giống hay các trạm nghiên cứu Di truyền – Giống, người ta tính bằng tỷ lệ % giữa số trứng có phôi với số trứng đẻ ra, để xác định toàn diện chất lượng đàn giống
Kết quả thụ tinh là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng sinh sản của con giống, phụ thuộc vào các yếu tố như tuổi, tỷ lệ trống mái, mùa vụ, dinh dưỡng, chọn đôi giao phối,… Điều này thể hiện rất rõ ở ngan và ngỗng Con trống có tỷ lệ thụ tinh rất cao với con mái này song lại không có tỷ lệ thụ tinh với con mái khác Giao phối cận huyết cũng làm giảm tỷ lệ thụ tinh
Theo Trần Long, (1994) [23] nghiên cứu trên các dòng gà có khối lượng cơ thể lớn, tỷ lệ thụ tinh kém hẳn so với dòng gà có khối lượng cơ thể thấp Sự khác nhau này là do tính năng đạp mái của gà trống dòng nặng cân kém thua 3 lần so với gà trống dòng nhẹ cân
Trang 38* Tỷ lệ ấp nở: Tỷ lệ nở không những đánh giá khả năng tái sản xuất của
đàn giống, mà còn là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức sinh sản của gia cầm
Tỷ lệ ấp nở được xác định bằng nhiều công thức khác nhau tuỳ theo mục đích Trong sản xuất, tỷ lệ ấp nở được xác định bằng tỷ lệ % giữa số vịt con nở ra với số trứng đem ấp Trong thí nghiệm, để so sánh giữa các nhân tố ảnh hưởng
đến tỷ lệ ấp nở hoặc xác định chất lượng của máy ấp, người ta tính bằng tỷ lệ
% giữa số vịt con nở ra với số trứng có phôi ở các trung tâm giống hay ở các trạm nghiên cứu Di truyền – Giống, xác định toàn diện chất lượng đàn giống, người ta tính tỷ lệ ấp nở bằng tỷ lệ % giữa con nở ra với số trứng đẻ ra
Tỷ lệ ấp nở của gia cầm là tính trạng đầu tiên biểu hiện sức sống ở đời con, Đặng Hữu Lanh và cộng sự, (1999) [20] Tỷ lệ nở của trứng không những chứng minh cho đặc tính di truyền về sinh lực của giống mà còn là một xác minh về sự liên quan đến tỷ lệ nở và cấu tạo của trứng Jonhanson (1972) cho biết, các gen gây chết và nửa gây chết làm giảm khả năng nở Trong số 21 gen gây chết đ> biết ở gia cầm, có 16 gen tác động lên khả năng nở gây sự phát triển không bình thường của phôi Theo Đặng Hữu Lanh và cộng sự, (1999) [20]; Trần Long, (1994) [23] hệ số di truyền của tính trạng này là h2=0,26 Các tác giả Nguyễn Song Hoan, (1999) [16]; Lê Thị Thúy và cộng sự, (1994) [54] đều đánh giá cao vai trò của các yếu tố vệ sinh, kỹ thuật thu nhặt và bảo quản trứng có ảnh hưởng đến tỷ lệ nở
Tỷ lệ ấp nở phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: giống, tuổi, tình trạng sức khỏe, tỷ lệ đực cái, chất lượng con đực, khối lượng trứng, cấu trúc vỏ trứng, ngoài ra còn những yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ẩm độ, độ thông thoáng,
đảo trứng trong quá trình ấp… Trứng gia cầm từ tháng tuổi thứ 8 - 9 có tỷ lệ nở cao hơn tháng thứ 5, trứng đẻ năm thứ 2 có tỷ lệ nở cao hơn năm đầu Trong cùng một thời kỳ đẻ trứng, kỳ đầu và kỳ cuối có tỷ lệ nở thấp hơn thời kỳ giữa Khối lượng trứng có sự cân đối giữa các thành phần cấu tạo và cấu trúc vỏ trứng cũng có ảnh hưởng tới tỷ lệ nở Trứng có kích thước trung bình, cân đối thì có
Trang 39tỷ lệ nở cao hơn và ngược lại Qua nghiên cứu nhiều tác giả kết luận rằng: hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng trứng với tỷ lệ ấp nở là cao = 0,66
Trong chăn nuôi gia cầm có năng suất đẻ trứng cao trong điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo thì trứng có tỷ lệ nở cao Do đó chọn giống theo hướng nâng cao năng suất trứng sẽ nâng cao tỷ lệ nở Tỷ lệ ấp nở phụ thuộc rất nhiều vào chế độ dinh dưỡng Shen T.F, (1985) [93]
2.1.8 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.1.8.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển chăn nuôi gia cầm trên thế giới Cùng với những tiến bộ nhanh chóng về di truyền, ngành chăn nuôi gia cầm đ> có nhiều bước tiến vượt bậc và đ> đạt được những thành tựu lớn trong quá trình nghiên cứu chọn lọc tạo dòng, giống mới Các nhà nghiên cứu về di truyền giống tổ chức chọn lọc thúc đẩy nhanh các tiến bộ di truyền qua nhiều thế hệ, từ đó đ> tạo ra được ưu thế lai trên các tính trạng số lượng Theo kết quả điều tra của ngành chăn nuôi gia cầm trong 70 năm qua cho biết thời gian nuôi đ> giảm dần từ 136 ngày xuống còn 47 ngày khối lượng xuất chuồng tăng từ 1,5kg/con lên 3,7kg/con, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng giảm từ 4,7kg xuống còn 2,1kg, tỷ lệ nuôi sống tăng từ 82% lên đến 98% Cùng việc lập ra các chế độ dinh dưỡng hợp l ý đáp ứng đầy đủ theo yêu cầu của cơ thể gia cầm Do vậy mà sản phẩm của nghành chăn nuôi gia cầm trên thế giới không ngừng được tăng lên cả về chất và số lượng
Với những lợi thế so sánh đ> thúc đẩy ngành chăn nuôi gia cầm phát triển nhanh trong thập kỷ qua Năm 2003, tổng đàn gà trên thế giới là 45.986 triệu con, sản lượng thịt đạt 65,016 triệu tấn, sản lượng trứng đạt 55,827 triệu tấn Năm 2003 khu vực ASEAN sản xuất thịt gia cầm đạt 4,32 triệu tấn, chiếm 21% Châu á và 6,6% toàn thế giới, sản lượng trứng đạt 2,65 triệu tấn chiếm 8% so với Châu á và 4,8% tổng sản lượng trứng trên toàn thế giới Trong đó
đàn vịt có khoảng 150 triệu con trong đó hơn 100 triệu con ở Châu á Có được kết quả như vậy là nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trên
Trang 40các lĩnh vực; di truyền chọn giống, chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y phòng bệnh Kể từ năm 1920, vịt Khaki Campbell và vịt chạy nhanh ấn Độ là những giống được chọn lọc cho năng suất trứng cao với năng suất bình quân 232 quả/ năm Các giống vịt cho năng suất thịt cao như Anh Đào của Hungari, Tiệp Khắc cũng được nuôi rộng r>i Hiện nay các giống vịt siêu thịt SM; SM2 và SM3 (do h>ng Cherry Valley của Vương quốc Anh tạo ra) giống vịt Star 42, Star 53, Star 76 (do H>ng Grimaud Frères cộng hoà Pháp tạo ra) và các giống vịt chuyên trứng KhakiCampbell và Super - Layer 2000 của Vương quốc Anh chủ yếu nuôi theo phương thức công nghiệp Nhờ áp dụng các tiến bộ về di truyền chọn giống và các kết quả nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất mà khối lượng thịt xuất chuồng/con và sản lượng thịt ở các nước trên thế giới không ngừng tăng lên
Vịt Super Heavy ông bà có nguồn gốc từ H>ng Cherry Valley Vương Quốc Anh Đây là giống vịt có năng suất thịt, trứng cao hơn hẳn các dòng vịt
mà chúng ta đ> nhập Vịt super Heavy dòng ông có năng suất trứng/mái/48 tuần đẻ: 238 quả, tỷ lệ phôi 85%, tỷ lệ nở 64,2% Dòng bà có năng suất trứng/ mái/ 48 tuần đẻ: 252 quả, tỷ lệ phôi 86%, tỷ lệ nở 64% [69] Vịt bố mẹ có năng suất trứng/ mái/50 tuần đẻ: 270 quả, tỷ lệ phôi 92 %, tỷ lệ nở 78%[69] Vịt nuôi thương phẩm đến 47 ngày tuổi có khối lượng trung bình 3,73 kg, tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng 2,16 kg, tỷ lệ nuôi sống 98% [69]
Nghiên cứu dinh dưỡng thức ăn cho vịt không ngừng hoàn thiện và cải tiến, sản xuất thức ăn cân bằng, đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng cần thiết đáp ứng nhu cầu sinh lý của từng độ tuổi
Kalil 1989 làm thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức nuôi (dinh dưỡng) đến khả năng sản xuất của thuỷ cầm và nhận xét thuỷ cầm
có khả năng tận dụng thức ăn nhiều xơ với khẩu phần thức ăn có mức ME và
CP thấp Trong chăn nuôi thuỷ cầm theo phương thức chăn thả tận dụng, có thể cung cấp cho chúng những thức ăn phế phụ phẩm, thức ăn nghèo dinh